0273.3 872582 | dongthap@nso.gov.vn

Tình hình kinh tế - xã hội Tháng 8 và 8 tháng năm 2025

02/09/2025 13:57

Trong tháng Đảng bộ, chính quyền các cấp trên địa bàn tỉnh tập trung lãnh đạo Đại hội Đảng bộ cấp xã, phường; đồng thời triển khai thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội với mục tiêu phấn đấu năm 2025 đạt mức tăng trưởng kinh tế 8%; kịp thời giải quyết những khó khăn trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp... cùng sự đoàn kết, trách nhiệm, nỗ lực phấn đấu của cả hệ thống chính trị. Tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh tiếp tục phát triển, các hoạt động sản xuất kinh doanh có nhiều khởi sắc, hầu hết các ngành, lĩnh vực đều tăng so cùng kỳ. Kết quả thực hiện trên các lĩnh vực đạt được như sau:

I. SẢN XUẤT NÔNG LÂM NGHIỆP VÀ THỦY SẢN

Trong tháng, lượng mưa đạt mức trung bình, đảm bảo nguồn nước trên các tuyến sông đầu nguồn phục vụ tốt cho sản xuất nông nghiệp. Dịch bệnh trong chăn nuôi gia súc trong tháng có phát sinh, nhưng được kiểm soát chặt chẽ. Hoạt động nuôi trồng thủy sản đạt kết quả khả quan, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế và thu nhập cho người dân.

1. Nông nghiệp

[1] Cây lương thực có hạt:

diện tích gieo trồng từ đầu vụ sản xuất đến ngày 20/8/2025 ước đạt 568.447 ha, giảm 3,0% so cùng kỳ, tương ứng giảm 17.617 ha. Trong đó cây lúa gieo sạ 562.482 ha, giảm 3,0% so cùng kỳ.

- Cây lúa:

+ Vụ Đông xuân 2024 – 2025: chính thức gieo trồng 229.680 ha, giảm 1,7% so cùng kỳ, tương ứng giảm 4.086 ha; Năng suất thu hoạch bình quân đạt 71,9 tạ/ha, tăng 0,3%, tương ứng tăng 0,2 tạ/ha; Sản lượng thu hoạch 1.651.864 tấn, giảm 1,5% so cùng kỳ, tương ứng giảm 24.518 tấn.

+ Vụ Hè thu (gồm Xuân hè và Hè thu): tính đến ngày 20/8, diện tích gieo trồng của vụ sơ bộ đạt 244.284 ha, giảm 2,1% so cùng kỳ, tương ứng giảm 5.340 ha. Thu hoạch 185.955 ha (chiếm 76,1% diện tích gieo trồng của vụ) với năng suất ước đạt 60 tạ/ha.

+ Vụ Thu đông: đến ngày 20/8, diện tích gieo trồng của vụ ước đạt 88.518 ha, giảm 8,3% so cùng kỳ, diện tích xuống giống chủ yếu ở Tháp Mười, Cao Lãnh, Tam Nông, Lấp Vò... trà lúa đang giai đoạn mạ - đẻ nhánh.

- Cây ngô: diện tích gieo trồng từ đầu vụ sản xuất ước đạt 5.965 ha, giảm 3,1%, tương ứng giảm 189 ha. Ngô thuộc loại cây ngắn ngày, dễ trồng, dễ chăm sóc, trồng được nhiều vụ trong năm. Bên cạnh lấy trái bán cho thương lái; lá, thân ngô khi thu hoạch có thể tận dụng làm thức ăn cho gia súc như trâu, bò…

Hình 1. Diện tích gieo trồng lúa và hoa màu tính đến 20/8/2025

Cây rau đậu các loại: từ đầu vụ đến nay, diện tích gieo trồng rau đậu các loại ước đạt 60.340 ha, tăng 4,6% so với cùng kỳ; trong đó rau các loại ước đạt 60.024 ha, tăng 4,7%. Diện tích rau màu trên địa bàn tăng chủ yếu do người dân chuyển đổi từ những diện tích đất trồng cây kém hiệu quả, đặc biệt là diện tích không đáp ứng điều kiện sản xuất lúa. Tận dụng lợi thế đất đai màu mỡ, cùng với thời tiết thuận lợi, nông dân đã đẩy mạnh trồng xen canh, gối vụ nhiều loại rau, củ, quả có giá trị kinh tế cao và dễ tiêu thụ trên thị trường như rau muống, bầu, mướp, bí xanh, khổ qua, dưa leo, các loại cải, hành lá, dưa hấu và nhiều loại rau cải ngắn ngày khác.

Chăn nuôi: ước thời điểm 31/8/2025, tổng đàn gia súc, gia cầm toàn tỉnh như sau: đàn trâu 3,2 nghìn con, tăng 13,3%; đàn bò 153,3 nghìn con, giảm 3,3%; đàn lợn 438,5 nghìn con, tăng 9,9% và đàn gia cầm 23,3 triệu con, giảm 2,1% so với cùng kỳ. Đàn bò tiếp tục giảm do hiệu quả kinh tế chưa cao, thời gian sinh trưởng dài và chu kỳ sản xuất kéo dài, chưa tạo được sức hấp dẫn đối với người chăn nuôi. Ngược lại, đàn lợn có xu hướng phục hồi nhanh và phát triển ổn định nhờ giá cả duy trì ở mức hợp lý; nhiều mô hình chăn nuôi khép kín, áp dụng biện pháp an toàn sinh học được nhân rộng, góp phần kiểm soát dịch bệnh, giảm chi phí đầu vào và nâng cao hiệu quả sản xuất. Đàn gia cầm giảm so với cùng kỳ, nguyên nhân chủ yếu do biến động thời vụ, nhất là vào các dịp lễ lớn khi nhu cầu tiêu thụ tăng cao, nông hộ trong giai đoạn xuất bán nhiều.

*Tình hình dịch bệnh trên vật nuôi (theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đồng Tháp):

Bệnh cúm gia cầm: trong tháng không phát sinh. Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh xảy ra 03 hộ có cầm nhiễm vi rút cúm A/H5N1 với số lượng 6.161 con (tổng đàn 7.200 con) tại 02 xã (Phú Thành và Tân Phước 3). Đã tiêu hủy toàn bộ số gia cầm 7.200 con.

Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: trong tháng không phát sinh. Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh xảy ra 18 hộ nuôi có lợn mắc bệnh tại 12 xã (Vĩnh Bình, Bình Ninh, Vĩnh Hựu, Long Hưng, Tân Phước 3, Hội Cư, Bình Trưng, Long Định, Tân Phú, Kim Sơn, Mỹ Tịnh An và Mỹ Thành) với tổng đàn 463 con và tiêu hủy, khối lượng khoảng 16.980 kg.

Bệnh viêm da nổi cục: trong tháng phát sinh 01 con bò bệnh (tổng đàn 09 con) tại 01 hộ trên địa bàn xã Chợ Gạo. Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh xảy ra 03 hộ tại 03 xã (Hậu Mỹ, Tân Thuận Bình, Chợ Gạo) với 04 con bò có dấu hiệu bệnh (tổng đàn 18 con). Đã tiêu hủy 01 con bò (khối lượng 215 kg).

Bệnh lở mồm long móng: trong tháng không phát sinh. Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh xảy ra 01 con lợn bệnh tại cơ sở giết mổ ở xã Hậu Mỹ. Đã tiêu hủy lợn bệnh (khối lượng 110 kg).

Hình 2. Chăn nuôi tại thời điểm 31/8/2025

2. Lâm nghiệp:

Tổng diện tích rừng trên địa bàn tỉnh là 6.999,6 ha (không bao gồm diện tích rừng thuộc đất an ninh quốc phòng); Cụ thể, diện tích rừng đặc dụng 2.717,6 ha (chiếm 38,8% so tổng diện tích rừng), rừng phòng hộ 2.244,3 ha (chiếm 32,1%) và rừng sản xuất 2.037,7 ha (chiếm 29,1%).

Trong tháng, thực hiện trồng mới ước đạt 41,8 ngàn cây phân tán các loại. Tổng số cây phân tán trồng được từ đầu năm đến nay là 665,4 ngàn cây, giảm 1,2% so cùng kỳ.

3. Thủy hải sản:

Sản lượng thủy sản nuôi trồng trong tháng ước đạt 64.266 tấn. Tính chung 8 tháng năm 2025, thu hoạch ước đạt 579.347 tấn, tăng 7,1% so cùng kỳ, tương ứng tăng 38.355 tấn, bao gồm: sản lượng cá đạt 531.215 tấn (tăng 7,3%); sản lượng tôm đạt 30.412 tấn (tăng 18,1%); các loại thủy sản khác đạt 17.720 tấn (giảm 11,5%). Do thời tiết thuận lợi, thủy sản bệnh ít, năng suất cao.

Sản lượng thủy sản khai thác biển trong tháng ước đạt 10.208 tấn. Tính chung 8 tháng năm 2025, thu hoạch ước đạt 76.156 tấn, tăng 17,4% so cùng kỳ, tương ứng tăng 11.266 tấn, bao gồm: cá đạt 50.761 tấn (tăng 4,3%); tôm đạt 2.097 tấn (tăng 21,7%); thủy sản khác đạt 23.298 tấn (tăng 60,9%) do thời tiết biển ổn định, nhiều đàn thủy sản xuất hiện (cua, ghẹ, mực,…), ngư dân khai thác mạnh hơn nhóm này. Thủy sản biển xuất hiện nhiều hơn ở ngư trường nên ngư dân thu hoạch khá góp phần tăng sản lượng so cùng kỳ.

II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP

Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 8/2025[2] tăng 0,84% so với tháng trước và tăng 13,14% so cùng kỳ (ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 14,06%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 3,58%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,42% và ngành khai khoáng giảm 19,91% so cùng kỳ). Các ngành có chỉ số sản xuất tăng cao so cùng kỳ như: sản xuất trang phục tăng 62,92%; in, sao chép bản ghi các loại tăng 96,62%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 30,45%; sản xuất đồ uống tăng 60,65%; dệt tăng 14,95% ...Tuy nhiên cũng có một số ngành giảm sâu so cùng kỳ như: khai khoáng khác giảm 19,91%; sản xuất sản phẩm thuốc lá giảm 40,03%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất 20,75%; sản xuất xe có động cơ giảm 22,8%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 6,49%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 10,87%;...

Tính chung 8 tháng đầu năm chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 12,92% so cùng kỳ; trong đó: khai khoáng tăng 41,78%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,74%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 2,78%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,10%.

Hình 3. Chỉ số sản xuất công nghiệp - 8 tháng năm 2025

Chỉ số sản xuất sản phẩm trong 8 tháng so cùng kỳ như sau:

- Có 55/80 sản phẩm tăng so cùng kỳ: dịch vụ sản xuất thiết bị điện chiếu sáng tăng 82,5%; giấy vệ sinh tăng 75,8%; quả và hạt ướp lạnh tăng 67%; các bộ phận của bi, bánh răng, hộp số, các bộ phận điều khiển và truyền chuyển động khác tăng 51,3%; cát đen tăng 41,8%; máy thu hoạch khác chưa được phân vào đâu tăng 34,1%; thanh nhôm, que nhôm, nhôm ở dạng hình tăng 33,2%; bóng thể thao khác tăng 29,2%; bánh làm từ bột khác bảo quản được tăng 27,2%; lốp hơi mới bằng cao su, loại dùng cho xe buýt, xe tải hoặc máy bay tăng 22,6%; cáp đồng trục và dây dẫn điện đồng trục khác tăng 21,3%; bia đóng lon tăng 20,2%; dây thép không gỉ tăng 16,3%; nước uống được tăng 9%; túi xách tăng 8,4%; nước tinh khiết tăng 5,9%; áo sơ mi cho người lớn dệt kim hoặc đan móc tăng 5,8%; giày, dép thể thao có đế ngoài và mũ giày bằng cao su và plastic tăng 5,7%; gạo đã xát toàn bộ hoặc sơ bộ, đã hoặc chưa đánh bóng hạt hoặc hồ tăng 5,6%; phi lê đông lạnh tăng 5,2%; ống và ống dẫn bằng đồng tăng 4,3%; bộ com lê, quần áo đồng bộ, áo jacket, quần dài, quần yếm, quần soóc cho người lớn dệt kim hoặc đan móc tăng 3,4%;…

- Có 25/80 sản phẩm giảm so cùng kỳ: các hàng dệt may đã hoàn thiện khác giảm 98%; máy gặt đập liên hợp giảm 83,3%; màn bằng vải khác giảm 64%; phụ tùng khác của xe có động cơ giảm 53%; thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng bột/cốm giảm 47,9%; giày, dép không thấm nước có đế ngoài và mũ bằng cao su hay plastic giảm 42,2%; thuốc lỏ cú đầu lọc giảm 21,5%; dịch vụ tiện các bộ phận kim loại giảm 14,4%; bia đóng chai giảm 13,7%; thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng viên giảm 12,3%; thức ăn cho gia súc giảm 8,6%; giày, dép thể thao có mũ bằng da và có đế ngoài giảm 7,7%; khăn mặt, khăn tắm và khăn khác dùng trong phòng vệ sinh, nhà bếp giảm 4,3%; điện gió giảm 3,1%; dược phẩm chứa hoóc môn nhưng không có kháng sinh dạng viên giảm 2,5%;…

* Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo:

Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 8 năm 2025 so với tháng trước giảm 2,75% và tăng 2,59% so cùng kỳ. Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cộng dồn từ đầu năm đến cuối tháng 8 năm 2025 tăng 10,73%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao: dệt tăng 15,11%; sản xuất trang phục tăng 22,2%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa… tăng 12,22%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 75,74%; sản xuất kim loại tăng 35,95%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 27,71%;…Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm so cùng kỳ là: sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu giảm 20,19%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 4,3%; sản xuất phụ tùng xe có động cơ giảm 34,79%;…

III. ĐẦU TƯ - XÂY DỰNG

Để thực hiện giải ngân tốt kế hoạch đầu tư công năm 2025, Ủy ban nhân dân tỉnh chủ động quản lý, điều hành, phân bổ vốn cho các công trình cấp thiết nhưng chưa có danh mục công trình cụ thể trong Nghị quyết Hội đồng nhân dân tỉnh... theo tình hình thực tế phát sinh; được phép điều chỉnh, điều chuyển vốn giữa các công trình có giá trị khối lượng thực hiện và giải ngân thấp, sang công trình hoàn thành hoặc có giá trị khối lượng thực hiện cao đã được Hội đồng nhân dân tỉnh thông qua. Tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trong tháng là 1.774 tỷ đồng, tăng 63,3% so cùng kỳ. Tám tháng đầu năm 2025 ước thực hiện 9.525 tỷ đồng, đạt 57,9% kế hoạch, tăng 30,2% so cùng kỳ.

Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh thực hiện 9.386 tỷ đồng, tăng 29,9% so cùng kỳ, chiếm 98,5% tổng số; trong đó: vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 3.218 tỷ đồng, tăng 63%, vốn xổ số kiến thiết thực hiện 2.317 tỷ đồng, tăng 3,8% so cùng kỳ... Các ngành các cấp yêu cầu các Ban quản lý dự án, Chủ đầu tư khắc phục khó khăn đẩy nhanh tiến độ đầu tư công, hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng, thúc đẩy phát triển kinh tế của tỉnh.

Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp xã thực hiện 139 tỷ đồng, tăng 48,9% so cùng kỳ; trong đó: vốn cân đối ngân sách cấp xã 27 tỷ đồng, tăng 3,4 lần so cùng kỳ... Các Ban quản lý dự án tập trung điều kiện đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình sớm đưa các công trình vào sử dụng nhằm phát huy hiệu quả công trình. Các địa phương vận động, huy động nguồn vốn nhân dân đóng góp để tiến hành thi công các danh mục công trình đăng ký thuộc nguồn vốn phân cấp phường, xã. Các xã tập trung điều kiện đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình xây dựng nông thôn mới nhằm phục vụ đi lại và vận chuyển hàng hóa của người dân.

IV. THƯƠNG MẠI - GIÁ CẢ - DỊCH VỤ

1. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng:

Nhìn chung, hoạt động thương mại dịch vụ của tỉnh trong tháng tiếp tục giữ được đà tăng trưởng, hàng hoá cung ứng đồi dào, đáp ứng nhu cầu mua sắm của người dân. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trong tháng thực hiện 20.902 tỷ đồng, tăng 1,5% so tháng trước và tăng 9,9% so cùng kỳ. Tám tháng năm 2025, tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thực hiện 164.323 tỷ đồng, tăng 9,6% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 127.607 tỷ đồng, tăng 8,6%; lưu trú 579 tỷ đồng, tăng 16,2%; ăn uống 21.318 tỷ đồng, tăng 14,4%; du lịch lữ hành 291 tỷ đồng, tăng 33,5%; dịch vụ tiêu dùng khác 14.528 tỷ đồng, tăng 11,8% so cùng kỳ.

Hình 4. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng

2. Xuất - Nhập khẩu

(Theo báo cáo Sở Công Thương)

a. Xuất khẩu:

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng ước thực hiện 850 triệu USD, tăng 0,5% so tháng trước và giảm 4,1% so cùng kỳ. Tám tháng ước tính xuất khẩu 6.137 triệu USD, đạt 66,7% kế hoạch, tăng 2,7% so cùng kỳ.

Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của tỉnh như sau:

- Gạo: ước tính tháng 8/2025 xuất 248 ngàn tấn, tăng 4,6% so tháng trước và tăng 49,8% so cùng kỳ; giá trị đạt 115 triệu USD, tăng 4,6% so tháng trước và tăng 11% so cùng kỳ. Tám tháng xuất 1.743 ngàn tấn, đạt 94.8% kế hoạch, tăng 93,1% so cùng kỳ; giá trị xuất 862 triệu USD, đạt 74,9% kế hoạch và tăng 51,4% so cùng kỳ.

- Hàng rau quả: về lượng ước đạt 8,8 ngàn tấn, tăng 36,4% so tháng trước và tăng 8,1% so cùng kỳ; kim ngạch xuất đạt 15 triệu USD, tăng 36,4% so tháng trước và tăng 59,3% so cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng, sản lượng xuất ước đạt 50 ngàn tấn, đạt 85% kế hoạch và bằng 87% so cùng kỳ; giá trị xuất khẩu đạt với 87 triệu USD, bằng 54,6% kế hoạch và bằng 96,4% so cùng kỳ.

- Thuỷ sản chế biến: về lượng ước đạt 38 ngàn tấn, tăng 5,6% so tháng trước và giảm 6,6% so cùng kỳ; kim ngạch xuất đạt 90 triệu USD, tăng 5,9% so tháng trước và giảm 10% so cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng, sản lượng xuất ước đạt 275 ngàn tấn, đạt 63,4% kế hoạch và bằng 95% so cùng kỳ; giá trị xuất khẩu đạt với 674 triệu USD, bằng 61,9% kế hoạch và bằng 99,5% so cùng kỳ.

- Sản phẩm công nghiệp: nhóm hàng công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong xuất khẩu của tỉnh đến cuối tháng 8/2025, như: kim loại thường khác và sản phẩm (kể cả đồng) ước đạt 1.063 triệu USD, đạt 75,9% kế hoạch và tăng 0,2%; sản phẩm ngành may ước đạt 666 triệu USD, đạt 50,9% kế hoạch và bằng 76,6%; giày dép các loại ước đạt 622 triệu USD, đạt 66,9% kế hoạch và bằng 96,2%; Sắt thép và sản phẩm từ sắt thép ước đạt 341 triệu USD, đạt 58,7% kế hoạch và bằng 86,6%;...

b. Nhập khẩu:

Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 8/2025 ước đạt 340 triệu USD, giảm 13,6% so tháng trước và tăng 4,2% so cùng kỳ. Tám tháng ước đạt 3.228 triệu USD, đạt 72,9% kế hoạch và tăng 14,4% so với cùng kỳ.

Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu trong tổng kim ngạch nhập khẩu của tỉnh như: Kim loại thường khác (nguyên liệu đồng) ước đạt 961,9 triệu USD; Sắt thép các loại ước đạt 314,9 triệu USD; Nguyên phụ liệu dệt may, da giày, túi xách ước đạt 240,7 triệu USD; Vải may mặc ước đạt 177 triệu USD; Chất dẻo nguyên liệu ước đạt 119 triệu USD;…

3. Chỉ số giá:

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 8/2025 tăng 0,04% (thành thị tăng 0,06%, nông thôn tăng 0,03%) so tháng 7/2025, tăng 2,27% so tháng 8/2024. Bình quân 8 tháng đầu năm 2025 tăng 2,18% so cùng kỳ năm trước.

So với tháng 7/2025, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 09 nhóm tăng: đồ uống và thuốc lá tăng 0,26%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và VLXD tăng 0,25%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,22%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,22%; may mặc, mũ nón và giầy dép tăng 0,21%; giáo dục tăng 0,07%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,04%; văn hóa giải trí và du lịch tăng 0,02%; giao Thông tăng 0,01%. Có 02 nhóm giảm: bưu chính viễn thông giảm 0,12%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,16%

Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 8 tháng năm 2025 so cùng kỳ tăng 2,18%; Chỉ số giá tiêu dùng 8 tháng đầu năm 2025 tăng chủ yếu ở một số nhóm hàng như: thuốc và dịch vụ y tế tăng 11,91%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 7,32%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,48%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,76%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,79% so với cùng kỳ … Chỉ riêng nhóm giao thông giảm 4,47% so cùng kỳ.

Chỉ số giá vàng 24 kara Ngọc Thẩm trong tháng 8/2025 tăng 0,91% so tháng trước, tăng 33,63% so với tháng 12/2024 và tăng 47,86% so với bình quân cùng kỳ.

Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng 8/2025 tăng 0,10% so tháng trước và tăng 4,49% so với cùng kỳ.

4. Du lịch:

Ngay từ đầu năm du lịch của tỉnh đã tập trung triển khai đồng bộ các giải pháp phát triển du lịch, trọng điểm đẩy mạnh phát triển du lịch nông nghiệp, nông thôn, sản phẩm OCOP trên nền tảng tăng trưởng xanh, gắn với tiềm năng, thế mạnh đặc trưng từng địa phương; tiếp tục thực hiện Chương trình liên kết hợp tác phát triển du lịch giữa TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long. Đồng thời bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, làng nghề với quyết tâm thực hiện mục tiêu phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng, tạo bước đột phá tăng tốc phát triển du lịch, góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Lượng khách du lịch đến tham quan trên địa bàn trong tháng 8/2025 ước tính 327 ngàn lượt khách, tăng 6,8% tháng trước và tăng 6,8% so cùng kỳ, trong đó khách quốc tế 44 ngàn lượt khách, tăng 19% so cùng kỳ. Nhiều khu, điểm du lịch trong tỉnh đã mở rộng quy mô và dịch vụ vui chơi để đón đông đảo lượng khách đến tham quan, trải nghiệm. Doanh thu lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành trong tháng 8 đạt 2.811 tỷ đồng, tăng 0,4% so tháng trước và tăng 15,1% so cùng kỳ.

Tính chung Tám tháng đầu năm 2025, lượt khách du lịch đến tham quan trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp là 2.565 ngàn lượt khách, tăng 5,7% so cùng kỳ; trong đó: khách quốc tế 348,1 ngàn lượt khách, tăng 6,3% so cùng kỳ. Tổng doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, dịch vụ lữ hành và dịch vụ tiêu dùng khác đạt 36.716 tỷ đồng, tăng 13% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu dịch vụ ăn uống chiếm tỷ trọng 58,1%, ước đạt 21.318 tỷ đồng, tăng 14,4% so cùng kỳ; lưu trú đạt 579 tỷ đồng, tăng 16,2% so cùng kỳ...

5. Vận tải:

Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trong tháng thực hiện 648 tỷ đồng, tăng 1,5% so tháng trước và tăng 11,7% so cùng kỳ, do trong tháng đang là thời gian nghỉ hè nhu cầu du lịch tăng; giá nhiên liệu ổn định; hoạt động sản xuất kinh doanh phục hồi... Tám tháng thực hiện 5.037 tỷ đồng, tăng 13,1% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 1.642 tỷ đồng, tăng 13,1%; doanh thu vận tải hàng hóa thực hiện 2.500 tỷ đồng, tăng 13,4% so cùng kỳ. Doanh thu vận tải đường bộ thực hiện 2.324 tỷ đồng, tăng 13,2%; doanh thu vận tải đường thủy thực hiện 1.819 tỷ đồng, tăng 13,4%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 521 tỷ đồng, tăng 14,9% so cùng kỳ.

Vận tải hành khách trong tháng đạt 5.975 ngàn hành khách, tăng 1,7% so tháng trước và tăng 13,8% so cùng kỳ; luân chuyển 226.064 ngàn hành khách.km, tăng 1,1% so tháng trước và tăng 11,2% so cùng kỳ. Tám tháng, vận chuyển 47.158 ngàn hành khách, tăng 13% so cùng kỳ; luân chuyển 1.785.863 ngàn hành khách.km, tăng 13% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 15.348 ngàn hành khách, tăng 12,6% và luân chuyển 1.770.443 ngàn hành khách.km, tăng 13% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 31.810 ngàn hành khách, tăng 13,3% và luân chuyển 15.420 ngàn hành khách.km, tăng 12,4% so cùng kỳ.

Vận tải hàng hóa trong tháng đạt 2.866 ngàn tấn, tăng 1,9% so tháng trước và tăng 13,3% so cùng kỳ; luân chuyển 494.714 ngàn tấn.km, tăng 2,4% so tháng trước và tăng 12,2% so cùng kỳ. Tám tháng, vận tải 19.432 ngàn tấn hàng hóa, tăng 12,6% so cùng kỳ; luân chuyển 3.622.764 ngàn tấn.km, tăng 12,8% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 5.046 ngàn tấn, tăng 13,6% và luân chuyển 695.626 ngàn tấn.km, tăng 13% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 14.386 ngàn tấn, tăng 12,2% và luân chuyển 2.927.138 ngàn tấn.km, tăng 12,7% so cùng kỳ.

6. Bưu chính viễn thông:

Doanh thu trong tháng 8/2025 đạt 523 tỷ đồng, tăng 1,9% so tháng trước; trong đó: doanh thu bưu chính đạt 50,4 tỷ đồng, tăng 1,82% và viễn thông 472,9 tỷ đồng, tăng 1,9% so tháng trước. Tám tháng doanh thu dịch vụ bưu chính, viễn thông đạt 4.086,6 tỷ đồng, tăng 4,86% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính đạt 373,4 tỷ đồng, tăng 8,21% và viễn thông 3.713,3 tỷ đồng, tăng 4,5% so cùng kỳ.

Đến cuối tháng 8 năm 2025 tổng số thuê bao điện thoại có trên mạng (bao gồm: hữu tuyến, vô tuyến, trả trước, trả sau) ước tính 3.874.942 thuê bao. Thuê bao điện thoại bình quân đạt 113,85 thuê bao/100 dân. Số thuê bao điện thoại di động có sử dụng Internet (3G, 4G) đến cuối tháng 8 là: 3.216.678 thuê bao. Tổng số thuê bao Internet trên mạng là 4.224.523 thuê bao (bao gồm: băng rộng di động 3G, 4G; MyTV và Cáp; băng rộng cố định FTTH, xDSL, Leased-line, CATV), mật độ Internet bình quân ước đạt 124,12 thuê bao/100 dân.

V. TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG

1. Tài chính:

Tổng thu ngân sách nhà nước trong tháng thực hiện 3.438 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn 1.818 tỷ đồng; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 276 tỷ đồng. Tám tháng, thu 43.139 tỷ đồng; trong đó, thu ngân sách trên địa bàn thực hiện 16.487 tỷ đồng, đạt 79,7% dự toán và tăng 11,6% so cùng kỳ; thu nội địa 15.889 tỷ đồng, đạt 79,9% dự toán, tăng 11,8% so cùng kỳ (trong thu ngân sách trên địa bàn: thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 2.581 tỷ đồng, đạt 94,7% dự toán, tăng 14,3% so cùng kỳ; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 3.102 tỷ đồng, đạt 106,2% dự toán, tăng 27,6% so cùng kỳ...).

Tổng chi ngân sách nhà nước trong tháng 3.982 tỷ đồng; trong đó: chi đầu tư phát triển 1.400 tỷ đồng; chi hành chính sự nghiệp 2.487 tỷ đồng. Tám tháng, chi 27.916 tỷ đồng, đạt 63,7 dự toán và tăng 52,7% so cùng kỳ; trong đó: chi đầu tư phát triển 9.051 tỷ đồng, đạt 81,7% dự toán, tăng 2,6% so cùng kỳ; chi hành chính sự nghiệp 15.817 tỷ đồng, đạt 71,3% dự toán và tăng 1 lần so cùng kỳ.

2. Ngân hàng:

Từ đầu năm đến nay, lãi suất ổn định tạo điều kiện cho tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn từ Ngân hàng nhà nước (NHNN), tiếp tục khuyến khích TCTD tiết giảm chi phí để giảm mặt bằng lãi suất cho vay. Đến cuối tháng 7/2025, các mức lãi suất trên địa bàn tỉnh như sau:

Đến cuối tháng 7/2025, vốn huy động đạt 190.243 tỷ, tăng 4,46% so với cuối năm 2024, tổng dư nợ cho vay của các tổ chức tín dụng (TCTD) trong tỉnh đạt 231.046 tỷ, tăng  2,46% so với cuối năm 2024.

Ước đến cuối tháng 8/2025, nguồn vốn huy động đạt 191.442 tỷ, tăng 5,12% so với cuối năm 2024; tổng dư nợ đạt 231.900 tỷ, tăng 3,02%.

Nợ xấu: đến cuối tháng 7/2025 nợ xấu đạt 5.324 tỷ đồng, tăng 46,59% so cuối năm 2024; tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là 2,31%, tăng 0,83% so với cuối năm 2024. Ước đến cuối tháng 8/2025 nợ xấu đạt 5.874 tỷ đồng, tăng 61,73% so cuối năm 2024; tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là 2,53%, tăng 1,05% so với cuối năm 2024.

Quỹ tín dụng nhân dân: Tháng 7/2025 dư nợ giảm 1.644 tỷ đồng so với tháng 6/2025 và đạt 231.046 tỷ đồng, tăng 5.943 tỷ, tăng 2,64% so với cuối năm 2024, chiếm 46%. Ước đến cuối tháng 8/2025 dư nợ đạt 231.900 tỷ đồng, tăng 3,02% so với cuối năm 2024.

VI. KHOA HỌC CÔNG NGHỆ

Trong tháng, tham mưu Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh tiếp tục triển khai các nhiệm vụ khoa học và công nghệ được phê duyệt danh mục nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh 2025 - 2026 (theo Quyết định số 2304/QĐ-UBND ngày 30/6/2025 của UBND tỉnh Tiền Giang trước đây). Đã thực hiện tuyển chọn 08 nhiệm vụ cấp tỉnh (thẩm định nội dung); Quyết định phê duyệt triển khai 13 nhiệm vụ cấp tỉnh, 01 nhiệm vụ cấp cơ sở; Thẩm định kinh phí 10 nhiệm vụ cấp tỉnh; Nghiệm thu kết thúc 27 nhiệm vụ (15 cấp tỉnh, 12 cơ sở); Thẩm định các kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ không sử dụng ngân sách nhà nước 01 nhiệm vụ. Trình UBND Tỉnh xử lý, thu hồi kinh phí đối với đề tài đã được đánh giá nghiệm thu xếp loại không đạt (đề tài cấp tỉnh: Nghiên cứu quy trình chế tạo vật liệu đạt tiêu chuẩn sản xuất túi bao trái phục vụ canh tác xoài xuất khẩu tỉnh Đồng Tháp).

VII. CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Lao động việc làm:

Trong tháng, toàn tỉnh đã tạo việc làm cho 3.150 lao động, trong đó có 69 lao động xuất cảnh làm việc ở nước ngoài. Tính từ đầu năm đến nay, tổng số lao động được giải quyết việc làm đạt 46.712 người; riêng lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài là 1.628 người, đạt 63,8% so với kế hoạch (Hàn Quốc: 589 lao động; Nhật Bản: 76 lao động; Đài Loan: 50 lao động; các nước khác 13 lao động).

Về trợ cấp thất nghiệp, trong tháng có 2.659 lao động được hưởng trợ cấp. Lũy kế từ đầu năm, có 17.791 lao động được giải quyết chế độ trợ cấp thất nghiệp, với tổng kinh phí chi trả trên 384 tỷ đồng, góp phần hỗ trợ kịp thời đời sống, giúp người lao động ổn định trong giai đoạn tìm kiếm việc làm mới.

Các hoạt động kết nối cung – cầu lao động tiếp tục được chú trọng. Trong tháng, tổ chức 05 phiên giao dịch việc làm, với sự tham gia của 25 lượt doanh nghiệp, thu hút hơn 2.150 lượt người tham gia. Các phiên giao dịch đã tạo cơ hội thuận lợi để doanh nghiệp tuyển dụng nhân lực, đồng thời mở rộng cơ hội việc làm, học nghề và đi làm việc ở nước ngoài cho người lao động.

2. Chính sách xã hội:

Trong tháng, công tác thực hiện chính sách đối với người có công và các đối tượng xã hội tiếp tục được quan tâm, triển khai kịp thời. Trợ cấp một lần cho thân nhân thờ cúng liệt sĩ và thực hiện chuyển thờ cúng 57 hồ sơ; chi trả trợ cấp hằng tháng cho 03 người hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù đày, 03 người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; trợ cấp một lần cho 01 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng và 01 thương binh mới được công nhận; giải quyết trợ cấp tuất đối với 06 trường hợp và trợ cấp mai táng phí cho 209 trường hợp. Các chế độ, chính sách được thực hiện đúng quy định, bảo đảm kịp thời, góp phần chăm lo tốt hơn đời sống vật chất và tinh thần cho các đối tượng chính sách trên địa bàn tỉnh.

3. Hoạt động y tế:

Trong tháng có 13/44 bệnh truyền nhiễm được ghi nhận. Cộng dồn số ca mắc, có 11 bệnh tăng so cùng kỳ (Rubella, Sốt xuất huyết Dengue, Sởi, Tay - chân - miệng, Ho gà, Thương hàn, Bệnh do vi rút Adeno, Lỵ trực trùng, Quai bị, Thủy đậu, Viêm gan vi rút khác); 12 bệnh giảm so cùng kỳ (Bệnh do liên cầu lợn ở người, Liệt mềm cấp nghi bại liệt, Lao phổi, Uốn ván khác, Viêm gan vi rút A, Viêm gan vi rút B, Viêm gan vi rút C, Viêm não Nhật bản, Cúm, Lỵ amíp, Tiêu chảy, Bệnh viêm đường hô hấp cấp); 21 bệnh tương đương hoặc không xảy ra ca mắc.

Các bệnh truyền nhiễm ghi nhận trong tháng: bệnh Sốt xuất huyết 831 ca. bệnh Tay chân miệng 650 ca. Tính từ đầu năm đến nay, bệnh Sốt xuất huyết ghi nhận 2.540 ca, tăng 49,4% so cùng kỳ; bệnh Tay chân miệng ghi nhận 3.093 ca, tăng 24,2% so cùng kỳ. Phòng chống HIV/AIDS: toàn tỉnh hiện có 15.803 người nhiễm HIV; 5.051 người chuyển sang AIDS; tử vong do AIDS: 3.866 người.

Khám chữa bệnh trong tháng cho 735.448 lượt người; trong đó, số người điều trị nội trú là 45.184 lượt người. Cộng dồn từ đầu năm đến nay, đã khám chữa bệnh cho 5.203.496 lượt người, giảm 1,7%; trong đó, số người điều trị nội trú là 297.188 lượt người, tăng 3,4%.

4. Hoạt động giáo dục:

Trong tháng, ngành Giáo dục và Đào tạo triển khai toàn diện các nhiệm vụ trọng tâm theo kế hoạch năm học, đồng thời chuẩn bị các điều kiện để bước vào năm học mới 2025 - 2026. Ngày 21/8/2025, UBND tỉnh Đồng Tháp ban hành Quyết định số 509/QĐ-UBND về khung Kế hoạch thời gian năm học 2025-2026 đối với giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên. Theo đó, học sinh các khối lớp 1, 9 và 12 tựu trường từ ngày 22-8-2025, các khối lớp còn lại tựu trường từ ngày 29-8-2025. Lễ khai giảng năm học mới diễn ra vào ngày 5-9-2025.

5. Hoạt động văn hóa - thể thao:

Trong tháng, các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao trên địa bàn tỉnh diễn ra phong phú, sôi nổi, gắn liền với những sự kiện lịch sử, chính trị trọng đại của đất nước và địa phương.

a. Hoạt động văn hóa nghệ thuật: kỷ niệm 78 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ; 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công (19/8/1945 - 19/8/2025) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945 - 02/9/2025); 80 năm Ngày truyền thống Công an nhân dân Việt Nam và 20 năm Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc. Đặc biệt, lễ giỗ Anh hùng dân tộc Trương Định, kỷ niệm 161 năm ngày ông tuẫn tiết (20/8/1864 - 20/8/2025) được tổ chức trang nghiêm tại Mộ và đền thờ Trương Định (phường Gò Công), đền thờ Trương Định, Đám lá tối trời (xã Gia Thuận). Sự kiện đã thu hút đông đảo người dân trong và ngoài tỉnh đến dâng hương, tưởng niệm, bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đối với công lao to lớn của vị anh hùng dân tộc trong sự nghiệp chống giặc ngoại xâm. UBND phường Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp long trọng tổ chức lễ giỗ lần thứ 205 ông, bà Đỗ Công Tường – bậc tiền hiền có công khai khẩn đất hoang, lập chợ, đặt nền móng hình thành vùng đất Cao Lãnh ngày nay, diễn ra từ ngày 1 đến 3-8 (nhằm ngày 8, 9 và 10 tháng 6 âm lịch), thu hút đông đảo nhân dân và du khách tham gia. Ngoài ra, vào tối 02/9/2025, tỉnh đã xây dựng kế hoạch tổ chức chương trình nghệ thuật đặc sắc và màn bắn pháo hoa rực rỡ chào mừng 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 02/9 tại Quảng trường Hùng Vương (phường Đạo Thạnh) vào tổi ngày 02/9, mang đến cho người dân một không khí hào hùng, sôi động và đầy tự hào dân tộc.

b. Hoạt động thư viện: trong tháng, các hoạt động của hệ thống thư viện trên địa bàn tỉnh diễn ra sôi nổi, đa dạng, góp phần lan tỏa văn hóa đọc trong cộng đồng. Nổi bật là việc triển khai Cuộc thi “Bác Hồ trong trái tim tôi” (lần thứ 4) năm 2025, chương trình “Hè vui đọc sách” cùng với cuộc thi “Đọc sách cùng Xích Lô” được phát động trên toàn tỉnh, tạo sân chơi bổ ích, khuyến khích thói quen đọc sách, rèn luyện kỹ năng và bồi đắp tri thức cho các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thanh thiếu nhi. Kết quả, trong tháng, hệ thống thư viện đã phục vụ 56.428 lượt bạn đọc, với 166.630 lượt tài liệu được luân chuyển và 39.558 lượt truy cập trực tuyến, cho thấy sức hút và hiệu quả lan tỏa ngày càng rộng rãi của các hoạt động khuyến đọc.

c. Hoạt động bảo tàng: trong tháng, công tác trưng bày và phục vụ khách tham quan tiếp tục được duy trì với nhiều chuyên đề cố định và ngoài trời như: Lịch sử, văn hóa và xã hội Tiền Giang trước năm 1930; Lịch sử Tiền Giang từ khi có Đảng lãnh đạo; Lịch sử Khu 8; Văn hóa Óc Eo, nông nghiệp truyền thống; Thiên nhiên – đất nước – con người Đồng Tháp xưa; các chuyên đề về kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cùng trưng bày chuyên đề “Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo – Giai điệu và cuộc đời”. Ngoài ra, khu trưng bày ngoài trời với nhiều hiện vật lớn như máy bay, tàu chiến, súng thần công tiếp tục thu hút khách tham quan.

d. Hoạt động thể dục, thể thao: thể thao đạt nhiều kết quả ấn tượng. Kết quả, đã cử 22 lượt huấn luyện viên và 197 lượt vận động viên tham gia thi đấu 09 giải quốc gia và 04 giải quốc tế, xuất sắc giành tổng cộng 27 Huy chương Vàng (HCV), 40 Huy chương Bạc (HCB), 40 Huy chương Đồng (HCĐ). Trong đó, các môn thể thao có thành tích nổi bậc trong tháng như: Cờ vua tham dự thi đấu giải Vô địch trẻ các nhóm tuổi Đông Nam Á năm 2025 (đạt 04 HCV); Judo tham dự thi đấu giải Vô địch và Vô địch trẻ Đông Nam Á năm 2025 (đạt 01 HCV, 03 HCB); Cầu mây tham dự thi đấu giải Vô địch thế giới (đạt 01 HCV, 02 HCB); Kurash tham dự thi đấu giải Vô địch và Vô địch trẻ châu Á năm 2025 (đạt 02 HCB, 02 HCĐ).

6. Tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội (theo báo cáo của ngành công an):

Công an tỉnh Đồng Tháp tổ chức Lễ ra quân cao điểm tấn công, trấn áp tội phạm, vi phạm pháp luật, bảo đảm an ninh, trật tự Đại hội Đảng các cấp và các hoạt động kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9, 80 năm Ngày truyền thống Công an nhân dân (CAND), đợt cao điểm diễn ra từ ngày 1/8 đến 15/9.

 Trong tháng xảy ra 123 vụ phạm tội về trật tự xã hội, tăng 17 vụ so với tháng trước, giảm 43 vụ so cùng kỳ. Hậu quả là 03 người chết, 36 người bị thương, tài sản thiệt hại khoảng 6,9 tỷ đồng. Cơ quan chức năng đã điều tra, khám phá 111 vụ (đạt tỷ lệ 90,2%), bắt giữ và xử lý 156 đối tượng, đồng thời thu hồi tài sản trị giá khoảng 1,7 tỷ đồng. Tính từ đầu năm đến nay, tổng số vụ phạm tội là 839, giảm 424 vụ. Vụ việc đã làm 31 người chết, 263 người bị thương, tổng giá trị tài sản thiệt hại lên đến khoảng 511 tỷ đồng. Đã điều tra, khám phá được 687 vụ (đạt tỷ lệ 81,88%), xử lý 1.274 đối tượng.

Về tội phạm ma túy trong tháng, lực lượng chức năng đã phát hiện và xử lý 48 vụ với 76 đối tượng. Ngoài ra, 171 đối tượng có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy cũng đã bị xử lý hành chính.

7. Trật tự an toàn giao thông (theo báo cáo ngành công an tỉnh, số liệu tính từ ngày 15/7/2025 đến 14/8/2025):

Tai nạn giao thông đường bộ: trong tháng, xảy ra 36 vụ, tăng 03 vụ so tháng trước và giảm 21 vụ so cùng kỳ. Hậu quả làm chết 32 người (tăng 06 người so tháng trước, tương đương so cùng kỳ) và 12 người bị thương (tương đương so tháng trước, giảm 28 người so cùng kỳ). Lũy kế từ đầu năm đến kỳ báo cáo, toàn tỉnh đã xảy ra 395 vụ, giảm 35 vụ so với cùng kỳ; làm chết 281 người (giảm 23 người so với cùng kỳ) và làm bị thương 193 người (giảm 24 người). Các nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông chủ yếu vẫn do ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông như: uống rượu say, điều khiển xe khi có rượu bia, phóng nhanh vược ẩu, không làm chủ tốc độ; không đi đúng phần đường, làn đường; không nhường đường, vượt đèn đỏ, thiếu quan sát…

Tai nạn giao thông đường thủy: trong tháng không xảy ra. Lũy kế từ đầu năm đến kỳ báo cáo là 01 vụ (không phát sinh người chết và bị thương).

8. Tình hình cháy nổ, môi trường:

Cháy, nổ: trong tháng, trên địa bàn tỉnh xảy ra 04 vụ cháy, gây thiệt hại tài sản khoảng 661 triệu đồng; nguyên nhân được xác định là do sự cố hệ thống, thiết bị điện. Tính từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh ghi nhận tổng cộng 17 vụ cháy, giảm 07 vụ so với cùng kỳ, số người tử vong do cháy là 04 người và tổng thiệt hại tài sản vượt mức 273 tỷ đồng.

Môi trường: trong tháng đã xảy ra 01 vụ vi phạm. Cộng dồn từ đầu năm, toàn tỉnh xảy ra 42 vụ vi phạm môi trường, tăng 47,1% so với cùng kỳ. Tổng số tiền đã xử phạt hành chính là 639,6 triệu đồng.

Thiên tai: trong tháng, do ảnh hưởng của cơn bão số 5, trên địa bàn tỉnh xuất hiện mưa lớn kèm dông lốc làm 02 người bị thương, 19 căn nhà bị sập, 105 căn nhà tốc mái, đồng thời gây thiệt hại 11,5 ha lúa và 1,3 ha hoa màu với tổng giá trị ước tính khoảng 10,7 tỷ đồng. Sạt lở đất xảy ra 04 vụ, trong đó sông Tiền có 03 vụ tại Phường Cao Lãnh, xã Thường Phước và Tân Long với tổng chiều dài 348 m, diện tích 1.176 m²; sạt lở nội đồng có 01 vụ tại xã Mỹ Hiệp với 05 điểm sạt lở, tổng chiều dài 186 m và diện tích 551 m². Lũy kế từ đầu năm đến nay, hoàn lưu bão cùng 20 cơn mưa giông, lốc, sét đã làm 02 người chết (do sét đánh), 21 người bị thương, 73 căn nhà sập, 653 căn tốc mái; làm hư hỏng 11 phòng học, 6 nhà kho chuồng trại và 34 trụ điện. Sản xuất nông nghiệp bị ảnh hưởng với 5,68 ha cây ăn trái, 26,5 ha lúa, 4,3 ha hoa màu bị thiệt hại. Ngoài ra, trên địa bàn đã xảy ra 19 vụ sạt lở với tổng chiều dài 1.072 m, diện tích 4.597 m², làm sập 01 căn nhà và ảnh hưởng đến đời sống của nhiều hộ dân. Tổng thiệt hại do thiên tai từ đầu năm đến nay ước tính khoảng 34,9 tỷ đồng.

[1] Đầu vụ sản xuất từ ngày 01/10/2024 đến 20/8/2025.

[2]  Chỉ số sản xuất công nghiệp 8 tháng năm 2025: Tiền Giang tăng 15,35%; Đồng Tháp (cũ) tăng 9,69% so cùng kỳ.

File đính kèm