Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Tháp tháng 8 năm 2026
- 07/09/2026 09:02
Trong tháng, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh tiếp tục phát triển, các hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định, hầu hết các ngành, lĩnh vực đều tăng so cùng kỳ. Kết quả thực hiện trên các lĩnh vực đạt được như sau:I. SẢN XUẤT NÔNG LÂM NGHIỆP VÀ THỦY SẢN1. Nông nghiệpCây lương thực có hạt:diện tích gieo trồng từ đầu vụ sản xuất đến ngày 20/8/2026 ước đạt 536.672 ha, giảm 5,6% so với cùng kỳ; sản lượng ước đạt 2.605.038 tấn, giảm 10,0%. Trong đó cây lúa gieo sạ 530.677 ha, giảm 5,6% so với cùng kỳ; sản lượng thu hoạch ước đạt 2.577.720 tấn, giảm 10,1%, cụ thể:- Cây lúa:+ Vụ Đông xuân 2025 – 2026: diện tích gieo trồng chính thức 223.450 ha, đạt 99,6% kế hoạch và giảm 2,7% so với cùng kỳ, tương ứng giảm 6.229 ha. Lúa Đông xuân 2025-2026 đã thu hoạch 100% diện tích gieo trồng của vụ; năng suất thu hoạch bình quân 72,5 tạ/ha, tăng 0,8% so với cùng kỳ với sản lượng thu hoạch 1.620.142 tấn, đạt 98,7% so với kế hoạch, giảm 1,9% so với cùng kỳ.+ Vụ Hè thu 2026: tính đến ngày 20/8, toàn tỉnh gieo sạ ước đạt 231.814 ha, đạt 102,3% so với kế hoạch, giảm 5,1% so với cùng kỳ; diện tích thu hoạch ước đạt 145.418 ha, chiếm 62,7% diện tích gieo trồng của vụ; năng suất thu hoạch ước đạt 65,9 tạ/ha với sản lượng thu hoạch ước đạt 957.578 tấn.+ Vụ Thu đông 2026: tính đến ngày 20/8, toàn tỉnh gieo sạ ước đạt 75.413 ha, đạt 50,4% so với kế hoạch. Vụ lúa Thu đông đã bắt đầu xuống giống ở các xã: xã Thường Phước, xã An Phước, xã Phương Thịnh, xã Trường Xuân, xã Mỹ Quí, xã Tháp Mười, xã Đốc Binh Kiều, xã Thanh Mỹ, xã Phú Cường, xã Mỹ Thọ, xã Ba Sao, xã Phong Mỹ, xã Mỹ Hiệp, xã Bình Hàng Trung, xã Lấp Vò, xã Tân Khánh Trung, phường Mỹ Ngãi.- Cây ngô: tính đến ngày 20/8, diện tích gieo sạ ước đạt 5.995 ha, đạt 64,54% so với kế hoạch, tăng 0,5% so với cùng kỳ. Diện tích thu hoạch ước đạt 3.897 ha, tăng 0,6% so với cùng kỳ. Sản lượng thu hoạch ước đạt 27.318 tấn, đạt 41,39% so với kế hoạch, tăng 1,5% so với cùng kỳ. Năng suất thu hoạch ước đạt 70,10 tạ/ha.Cây rau đậu các loại: tính đến ngày 20/8, diện tích gieo trồng rau đậu các loại ước đạt 54.501 ha, tăng 0,3% so với cùng kỳ; trong đó rau các loại ước đạt 54.183 ha, tăng 0,3%. Sản lượng cây rau đậu các loại ước đạt 985.796 tấn, tăng 0,3% so với cùng kỳ; trong đó rau thu hoạch ước đạt 985.150 tấn, tăng 0,3% so với cùng kỳ.Hình 1. Diện tích gieo trồng một số cây hàng năm tính đến 20/8/2026Chăn nuôi: ước thời điểm 31/8/2026, tổng đàn gia súc, gia cầm toàn tỉnh như sau: đàn trâu 2,1 nghìn con, giảm 25,9%; đàn bò 148,4 nghìn con, giảm 3,2%; đàn lợn 505,9 nghìn con, tăng 4,5% và đàn gia cầm 23,9 triệu con, tăng 0,7% so với cùng kỳ.Hình 2. Chăn nuôi tại thời điểm 31/8/20262. Lâm nghiệpDiện tích rừng trồng mới tập trung: từ đầu năm đến nay có 111,3 ha rừng được trồng mới tập trung, giảm 0,6% tương đương, giảm 0,6 ha so với cùng kỳ.Cây phân tán: trong tháng, toàn tỉnh thực hiện trồng mới được 43 ngàn cây phân tán các loại, tăng 2,9% so với cùng kỳ, tương ứng tăng 1,2 nghìn cây. Cộng dồn từ đầu năm đến nay, số lượng cây phân tán ước đạt 523,8 nghìn cây, tăng 1,4%, tương ứng tăng 7,3 nghìn cây so với cùng kỳ.Sản lượng gỗ khai thác: trong tháng sản lượng gỗ khai thác ước đạt 14.093 m3, tăng 1,0%, tương ứng tăng 142 m3 so với cùng kỳ. Cộng dồn từ đầu năm đến nay, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 116.305 m3 gỗ được khai thác, giảm 0,3%, tương ứng giảm 313,4 m3 so với cùng kỳ.3. Thủy hải sảnDiện tích thả nuôi thâm canh trong tháng ước đạt 698 ha, tăng 2,8% so với cùng kỳ. Tổng diện tích thả nuôi thâm canh 8 tháng năm 2026 ước đạt 9.881 ha, tăng 1,1% so với cùng kỳ, bao gồm: cá tra đạt 2.004 ha (tăng 4,9%), tôm sú 4.046 ha (tăng 0,3%), tôm thẻ chân trắng 3.831 ha (tương đương so với cùng kỳ).Sản lượng thủy sản nuôi và khai thác biển trong tháng ước đạt 150.294 tấn, nâng tổng số sản lượng thủy sản nuôi và khai thác biển từ đầu năm đến tháng báo cáo ước đạt 692.091 tấn, tăng 2,5% so với cùng kỳ, bao gồm:Sản lượng thủy sản nuôi trồng trong tháng ước đạt 132.993 tấn. Tính chung 8 tháng năm 2026, thu hoạch ước đạt 608.542 tấn, tăng 2,7%, tương ứng tăng 15.927 tấn so với cùng kỳ, bao gồm: sản lượng cá đạt 568.122 tấn (tăng 2,7%); sản lượng tôm đạt 36.046 tấn (tăng 2,7%); các loại thủy sản khác đạt 4.374 tấn (tăng 1,1%).Sản lượng thủy sản khai thác biển trong tháng ước đạt 17.301 tấn. Tính chung 8 tháng năm 2026, thu hoạch ước đạt 83.549 tấn, tăng 1,2%, tương ứng tăng 966 tấn so với cùng kỳ, bao gồm: sản lượng cá đạt 56.335 tấn (tăng 1,0%); sản lượng tôm đạt 5.781 tấn (tăng 3,2%); các loại thủy sản khác đạt 21.433 tấn (tăng 1,0%).II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆPChỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 8/2026 ước tính tăng 2,52% so với tháng trước và tăng 15,13% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,61% so với tháng trước và tăng 16,27% so với cùng kỳ; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 2,27% so với tháng trước và tăng 3,59% so với cùng kỳ. Ở chiều ngược lại, ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,73% so với tháng trước và giảm 1,49% so với cùng kỳ; ngành khai khoáng giảm 11,50% so với tháng trước và giảm 18,33% so với cùng kỳ.Tính chung 8 tháng đầu năm 2026, IIP tăng 12,58% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,43%; ngành khai khoáng tăng 14,31%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 3,21%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,86%.Hình 3. Chỉ số sản xuất công nghiệp 8 tháng đầu năm 2026Tình hình sản xuất các sản phẩm chủ lực 8 tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ như sau:Có 74/114 sản phẩm ghi nhận chỉ số sản xuất tăng so cùng kỳ: cát đen tăng 14,3%; phi lê đông lạnh tăng 22,9%; quả và hạt ướp lạnh tăng 73,8%; gạo đã xát toàn bộ hoặc sơ bộ tăng 15,7%; thức ăn chăn nuôi tăng từ 15,2% đến 40,5%; bia đóng lon tăng 18,1%; áo phông, áo may ô và các loại áo lót khác cho người lớn dệt kim hoặc đan móc tăng 43,0%; giày, dép không thấm nước có đế ngoài và mũ bằng cao su hay plastic tăng 37,0%; giày, dép có đế ngoài và mũ bằng cao su hoặc plastic tăng 10,5%; thuốc và dược phẩm các loại tăng cao; bao và túi từ plastic khác tăng 60,4%; bê tông trộn sẵn tăng 11,3%; thanh, que bằng thép hợp kim rỗng tăng 56,9%; ống và ống dẫn bằng đồng tăng 16,2%; điện mặt trời tăng 22,5%;…Ở chiều ngược lại, có 37/114 sản phẩm có chỉ số sản xuất giảm so cùng kỳ: miến, hủ tiếu, bánh tráng và các loại tương tự giảm 0,7%; bia đóng chai giảm 16,5%; thuốc lá có đầu lọc giảm 0,9%; áo khoác cho người lớn dệt kim hoặc đan móc giảm 7,8%; bộ com - lê, quần áo đồng bộ, áo jacket, quần dài, quần yếm, quần soóc cho người lớn không dệt kim hoặc đan móc giảm 25,6%; túi xách giảm 3,1%; giày, dép thể thao có đế ngoài và mũ giày bằng cao su và plastic giảm 6,8%; giày, dép thể thao có mũ bằng da và có đế ngoài giảm 15,6%; thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm giảm 6,2%;…* Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 8 năm 2026 so với tháng trước giảm 0,73%, so với cùng kỳ tăng 10,05%; cộng dồn từ đầu năm đến cuối tháng 8/2026 tăng 10,03%.Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tháng 8 tăng cao so với cùng kỳ năm trước: sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 55,47%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 23,63%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 15,24%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 12,17%;… Ngược lại, một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm so cùng kỳ như: sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 56,04%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 13,04%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất giảm 8,29%; sản xuất kim loại giảm 7,15%;…Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 8 năm 2026 tăng 18,78% so với tháng trước và tăng đến 127,22% so với cùng kỳ.Một số ngành có chỉ số tồn kho tháng 8 tăng cao so cùng kỳ là: sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 65,95%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 63,40%; sản xuất thiết bị điện tăng 48,56%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 30,26%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 29,39%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 10,83%;…* Tình hình thu hút đầu tư và phát triển các khu công nghiệp, khu kinh tế cửa khẩu (KCN, KKTCK):Trong tháng 8/2026, các KCN có 01 dự án đầu tư mới với tổng vốn đầu tư 229 tỷ đồng; 04 dự án thực hiện điều chỉnh, trong đó có 03 lượt dự án điều chỉnh tăng vốn 1.706 tỷ đồng (gồm 02 dự án đầu tư nước ngoài tăng vốn 56,29 triệu USD và 01 dự án đầu tư trong nước tăng vốn 152 tỷ đồng).Lũy kế đến tháng 8/2026: Các KCN thu hút được 185 dự án, trong đó, có 103 dự án đầu tư nước ngoài, 82 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư là 95.058 tỷ đồng (trong đó, vốn đầu tư nước ngoài là 3,5 tỷ USD và vốn đầu tư trong nước là 13.500 tỷ đồng); diện tích đất đã cho thuê là 745,0 ha, tỷ lệ lấp đầy 93,1%. Các KKTCK thu hút được 07 dự án đầu tư trong nước, với tổng số vốn đầu tư 142,9 tỷ đồng, diện tích đất 12,4 ha/32,76 ha, tỷ lệ lấp đầy đạt 37,9%.III. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP (Theo báo cáo của Sở Tài Chính)Thành lập mới:trong tháng 8/2026, có 234 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 10,9% so với tháng trước, với tổng vốn đăng ký là 1.740 tỷ đồng, tăng 70,6% so với tháng trước. Lũy kế 8 tháng đầu năm 2026, có 2.131 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 20,8% so với cùng kỳ năm 2025, đạt 71,03% so kế hoạch phát triển doanh nghiệp năm 2026 (kế hoạch là 3.000 doanh nghiệp), với tổng vốn đăng ký là 10.275 tỷ đồng, giảm 1,4% so với cùng kỳ năm2025.Giải thể, tạm ngừng hoạt động, tái hoạt động: Trong tháng có 105 doanh nghiệp đã giải thể, tăng 59,1% so với tháng trước; 39 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, bằng 60% so với tháng trước; 30 doanh nghiệp hoạt động trở lại, bằng 73,2% so với tháng trước. Lũy kế từ đầu năm 2026, có 448 doanh nghiệp đã giải thể, tăng 85,9%; 694 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, tăng 6,3%; 319 doanh nghiệp hoạt động trở lại, giảm 1,2% so với cùng kỳ năm 2025.IV. ĐẦU TƯ - XÂY DỰNG Vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 8/2026 ước đạt 1.007 tỷ đồng, tăng 11,0% so với tháng trước nhưng giảm 40,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 919 tỷ đồng, tăng 9,4% so với tháng trước nhưng giảm 44,2% so với cùng kỳ; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 87 tỷ đồng, tăng 31,3% so với tháng trước và tăng 151,5% so với cùng kỳ.Lũy kế 8 tháng đầu năm 2026, tổng vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 5.900 tỷ đồng, bằng 51,0% kế hoạch năm và giảm 37,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 5.413 tỷ đồng, bằng 52,7% kế hoạch, giảm 41,8% so cùng kỳ; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 486 tỷ đồng, bằng 37,1% kế hoạch năm, gấp 3,5 lần cùng kỳ năm trước.IV. THƯƠNG MẠI - GIÁ CẢ - DỊCH VỤ1. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng:Hoạt động thương mại dịch vụ của tỉnh trong tháng tiếp tục ổn định, hàng hoá cung ứng đồi dào, đáp ứng nhu cầu mua sắm của người dân. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trong tháng thực hiện 16.200 tỷ đồng, tăng 1,3% so tháng trước và tăng 17,6% so cùng kỳ. Tám tháng đầu năm 2026, tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thực hiện 127.299 tỷ đồng, tăng 15,2% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 95.027 tỷ đồng, tăng 15,1%; lưu trú 466 tỷ đồng, tăng 24,4%; ăn uống 15.801 tỷ đồng, tăng 16,4%; du lịch lữ hành 259 tỷ đồng, tăng 14,1%; dịch vụ tiêu dùng khác 15.746 tỷ đồng, tăng 14,6% so cùng kỳ.Hình 4. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng2. Xuất - Nhập khẩu (Theo báo cáo Sở Công Thương)a. Xuất khẩu:Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng ước thực hiện 850 triệu USD, tăng 4,8% so tháng trước và tăng 0,23% so cùng kỳ. Tám tháng xuất khẩu ước đạt 6.670 triệu USD, đạt 66,7% kế hoạch, tăng 8,8% so cùng kỳ.Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của tỉnh như sau:- Gạo: ước tính tháng 8/2026 xuất 105 ngàn tấn, giảm 4% so tháng trước; giá trị đạt 48 triệu USD, giảm 4% so tháng trước. Tám tháng xuất 1.577 ngàn tấn, đạt 67,1% kế hoạch, bằng 87,7% so cùng kỳ; giá trị xuất 727 triệu USD, đạt 61,6% kế hoạch và giảm 18,6% so cùng kỳ.- Thuỷ sản chế biến: ước tính tháng 8/2026 xuất 45 ngàn tấn, tăng 1,6% so tháng trước và tăng 3,1% so cùng kỳ; giá trị đạt 110 triệu USD, tăng 4,8% so tháng trước và tăng 2,9% so cùng kỳ. Tám tháng xuất 337 ngàn tấn, đạt 64,8% kế hoạch, tăng 1,3% so cùng kỳ; giá trị xuất 820 triệu USD, đạt 68,4% kế hoạch và tăng 2,1% so cùng kỳ.- Hàng rau quả: về lượng ước đạt 19 ngàn tấn, tăng 56,7% so tháng trước và tăng 9,2% so cùng kỳ; kim ngạch xuất đạt 50 triệu USD, tăng 56,7% so tháng trước và tăng 5,2% so cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng, sản lượng xuất ước đạt 80 ngàn tấn, đạt 67% kế hoạch và tăng 29,1% so cùng kỳ; giá trị xuất khẩu đạt với 198 triệu USD, bằng 62% kế hoạch và tăng 28,8% so cùng kỳ.- Sản phẩm công nghiệp: nhóm hàng công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong xuất khẩu của tỉnh đến cuối tháng 8/2026, như: kim loại thường khác và sản phẩm (kể cả đồng) ước đạt 1.306 triệu USD, đạt 84,2% kế hoạch và tăng 26,8%; sản phẩm ngành may ước đạt 597 triệu USD, đạt 59,7% kế hoạch và giảm 7%; giày dép ước đạt 683 triệu USD, đạt 67% kế hoạch và 1,1%; Sắt thép và sản phẩm từ sắt thép ước đạt 351,5 triệu USD, đạt 78,1% kế hoạch và tăng 10,6%; túi xách, ví, vali, mũ và ô dù ước đạt 134,3 triệu USD, đạt 67,2% kế hoạch và tăng 6,9% so với cùng kỳ,...b. Nhập khẩu:Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 8/2026 ước đạt 435 triệu USD, tăng 6,1% so tháng trước và tăng 1,4% so cùng kỳ. Tám tháng ước đạt 3.575 triệu USD, đạt 71,49% kế hoạch và tăng 7,8% so với cùng kỳ.Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu trong tổng kim ngạch nhập khẩu của tỉnh tám tháng như: kim loại thường khác (kể cả nguyên liệu đồng) đạt 1.147 triệu USD tăng 20,7%; nguyên phụ liệu dệt may, gia giày, túi xách (gồm vải) đạt 384 triệu USD, tăng 2,24%; sắt thép các loại đạt 277 triệu USD giảm 5,5%; chất dẻo nguyên liệu 224 triệu USD tăng 29,5% so cùng kỳ;…3. Chỉ số giá: Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 8/2026 tăng 0,79% (thành thị tăng 0,64%, nông thôn tăng 0,83%) so tháng 7/2026, tăng 5,65% so tháng 8/2025.So với tháng 7/2026, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 6 nhóm tăng: giao thông tăng 4,53%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và VLXD tăng 2,06%; giáo dục tăng 0,87%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,18%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,02%; thông tin và truyền thông tăng 0,02%. Có 5 nhóm giảm đồ uống và thuốc lá giảm 0,55%; thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,26%; hàng hoá và dịch vụ khác giảm 0,14%; may mặc, mũ nón và giầy dép giảm 0,05%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,05%.Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 8 tháng năm 2026 so cùng kỳ tăng 4,47%; Một số nhóm hàng có chỉ số tăng như: nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 7,38%, làm CPI chung tăng 1,35 điểm phần trăm do giá nhà ở thuê và giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở đều tăng. Trong đó, chỉ số giá nhà ở thuê và chủ sở hữu tăng 4,65%, chỉ số giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 10,76%, chỉ số giá điện sinh hoạt tăng 6,76%, nước sinh hoạt tăng 2,36%. Chỉ số giá nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 5,97%, làm CPI chung tăng 0,35 điểm phần trăm do giá dịch vụ y tế tăng theo Nghị quyết 126/NQ-HĐND ngày 23/12/2025 về quy định giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp. Chỉ số nhóm giao thông tăng 5,16%, tác động làm CPI chung tăng 0,52 điểm phần trăm, trong đó giá xăng dầu tăng 8,76% do giá xăng, dầu điều chỉnh theo giá nhiên liệu thế giới. Chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,12%, tác động làm CPI chung tăng 1,48 điểm phần trăm, trong đó nhóm lương thực tăng 1,55%, tác động làm CPI chung tăng 0,08 điểm phần trăm; nhóm thực phẩm tăng 4,20%, tác động làm CPI chung tăng 0,94 điểm phần trăm, chủ yếu do giá thịt lợn tăng 6,68%; mỡ ăn tăng 15,09%; nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 5,34% tác động làm CPI chung tăng 0,45 điểm phần trăm.Chỉ số giá vàng trong tháng 8/2026 tăng 1,18% so tháng trước tương ứng tăng 157.720 đồng/chỉ đối với vàng nhẫn trơn 9999, giảm 7,04% so với tháng 12/2025 và tăng 14,06% so với cùng kỳ. Chỉ số giá vàng bình quân 8 tháng năm 2026 tăng 42,05% so cùng kỳ.Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng 8/2026 giảm 0,89% so tháng trước, tương đương giảm 23.504 đồng/100USD và giảm 2,10% so với cùng kỳ. Chỉ số giá Đô la Mỹ bình quân 8 tháng năm 2026 tăng 0,72% so cùng kỳ.4. Vận tải:Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trong tháng thực hiện 795 tỷ đồng, tăng 1,5% so tháng trước và tăng 23% so cùng kỳ. Tám tháng thực hiện 5.997 tỷ đồng, tăng 18,2% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 2.044 tỷ đồng, tăng 23,8%; doanh thu vận tải hàng hóa thực hiện 2.969 tỷ đồng, tăng 18,1% so cùng kỳ. Doanh thu vận tải đường bộ thực hiện 2.937 tỷ đồng, tăng 22,3%; doanh thu vận tải đường thủy thực hiện 2.075 tỷ đồng, tăng 17,7%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 546 tỷ đồng, tăng 3,9% so cùng kỳ.Vận tải hành khách trong tháng đạt 7.781 ngàn hành khách, tăng 0,6% so tháng trước và tăng 24,6% so cùng kỳ; luân chuyển 221.472 ngàn hành khách.km, tăng 0,3% so tháng trước và giảm 2,6% so cùng kỳ. Tám tháng, vận chuyển 57.594 ngàn hành khách, tăng 17,7% so cùng kỳ; luân chuyển 1.981.650 ngàn hành khách.km, tăng 10,9% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 20.498 ngàn hành khách, tăng 19,2% và luân chuyển 1.961.582 ngàn hành khách.km, tăng 10,8% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 37.096 ngàn hành khách, tăng 16,9% và luân chuyển 20.068 ngàn hành khách.km, tăng 30% so cùng kỳVận tải hàng hóa trong tháng đạt 2.980 ngàn tấn, tăng 3,4% so tháng trước và tăng 29,9% so cùng kỳ; luân chuyển 624.988 ngàn tấn.km, tăng 3,5% so tháng trước và tăng 47,4% so cùng kỳ. Tám tháng, vận tải 21.645 ngàn tấn hàng hóa, tăng 20,2% so cùng kỳ; luân chuyển 4.187.587 ngàn tấn.km, tăng 26,1% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 4.086 ngàn tấn, tăng 2,1% và luân chuyển 708.355ngàn tấn.km, tăng 15,5% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 17.559 ngàn tấn, tăng 25,4% và luân chuyển 3.479.232 ngàn tấn.km, tăng 28,5% so cùng kỳ.* Công tác quản lý phương tiện giao thông:Trong tháng đăng ký mới 10.130 chiếc mô tô xe máy và 1.112 chiếc xe ô tô. Tổng số xe đang quản lý trên địa bàn tỉnh là 3.558.124 chiếc, trong đó mô tô xe máy: 3.439.739 chiếc; ô tô 116.981, xe máy chuyên dụng 1.404 chiếc.5. Bưu chính viễn thông:Ngành bưu chính viễn thông tập trung hiện đại hóa hạ tầng mạng, tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI), mở rộng mạng lưới bưu chính để cung cấp dịch vụ hành chính công toàn diện. Nâng cấp mạng lưới chuyển phát, đưa ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý vận tải và thương mại điện tử. Đẩy mạnh phát triển hạ tầng cáp quang, mạng 5G và trung tâm dữ liệu. Phục vụ cho mục tiêu chuyển đổi số.Tổng số thuê bao điện thoại có trên mạng ước đến cuối tháng 8 năm 2026 là 3.558.638 thuê bao (bao gồm: hữu tuyến, vô tuyến, trả trước, trả sau). Thuê bao điện thoại bình quân đạt 104,55 thuê bao/100 dân. Số thuê bao điện thoại di động có sử dụng Internet (3G, 4G) đến cuối tháng 8 là: 3.265.097 thuê bao.Tổng số thuê bao Internet trên mạng ước tính đến cuối tháng 8 năm 2026 là 4.082.740 thuê bao (bao gồm: băng rộng di động 3G, 4G; MyTV và Cáp; băng rộng cố định FTTH, xDSL, Leased-line, CATV). Mật độ Internet bình quân ước đạt 119,95 thuê bao/100 dân.V.T ÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG1. Tài chính:Tổng thu ngân sách nhà nước trong tháng thực hiện 3.882 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn 1.580 tỷ đồng; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 276 tỷ đồng. Tám tháng, thu 29.775 tỷ đồng; trong đó, thu ngân sách trên địa bàn thực hiện 16.850 tỷ đồng, đạt 70,9% dự toán và tăng 4,1% so cùng kỳ; thu nội địa 16.086 tỷ đồng, đạt 69,3% dự toán, tăng 3,4% so cùng kỳ (trong thu ngân sách trên địa bàn: thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 2.916 tỷ đồng, đạt 72% dự toán, tăng 15,4% so cùng kỳ; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 4.134 tỷ đồng, đạt 86,1% dự toán, tăng 28,9% so cùng kỳ...). Tổng chi ngân sách nhà nước trong tháng 4.381 tỷ đồng; trong đó: chi đầu tư phát triển 1.830 tỷ đồng. Tám tháng, chi 26.359 tỷ đồng, đạt 63,6 dự toán và giảm 3,4% so cùng kỳ; trong đó: chi đầu tư phát triển 5.724 tỷ đồng, đạt 47,6% dự toán, giảm 30,3% so cùng kỳ; chi hành chính sự nghiệp 14.978 tỷ đồng, đạt 66,5% dự toán và giảm 6,7% so cùng kỳ. 2. Ngân hàng:Các tổ chức tín dụng (TCTD) hoạt động ổn định, hiệu quả, bảo đảm thanh khoản, điều tiết tín dụng vào sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên,…Đến cuối tháng 7/2026, các mức lãi suất trên địa bàn tỉnh như sau:Lãi suất huy động: Mặt bằng lãi suất của các kỳ hạng như sau: tiền gửi kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng dao động từ 2,48% - 9,2%/năm đối với khách hàng cá nhân và từ 2,5%-9,14%/năm đối với khách hàng pháp nhân; tiền gửi trên 12 tháng, lãi suất dao động từ 3,19%- 9,02%/năm đối với khách hàng cá nhân và từ 2,5%-8,5%/năm đối với khách hàng pháp nhân.Lãi suất cho vay: Các tổ chức tín dụng trên địa bàn chấp hành nghiêm mức trần lãi suất cho vay ngắn hạn đối với các lĩnh vực ưu tiên. Lãi suất cho vay VNĐ bình quân chung trên địa bàn tỉnh 9,09%/năm, tăng 1,33% so với cuối năm 2025.Đến cuối tháng 7/2026, vốn huy động đạt 223.089 tỷ, tăng 7,16% so với cuối năm 2025. Tổng dư nợ cho vay của các tổ chức tín dụng (TCTD) trong tỉnh đạt 248.476 tỷ, tăng 2,08% so với cuối năm 2025. Ước đến cuối tháng 8/2026, nguồn vốn huy động đạt 225.320 tỷ, tăng 8,23% so với cuối năm 2025; tổng dư nợ đạt 250.961 tỷ, tăng 3,10% so với cuối năm 2025.Nợ xấu:đến cuối tháng 6/2026 nợ xấu đạt 6.698 tỷ đồng; tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là 2,72%, so với cuối năm 2025. Ước đến cuối tháng 8/2026 tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ dưới 3%.Quỹ tín dụng nhân dân: đến cuối tháng 7/2026, tổng nguồn vốn hoạt động đạt 2.750 tỷ đồng, giảm 134 tỷ đồng, giảm 4,65% so cuối năm 2025; tổng dư nợ cho vay đạt 2.365 tỷ đồng; tăng 26 tỷ đồng, tăng 1,11% so với cuối năm 2025; Tỷ lệ nợ xấu 0,93%.VI. KHOA HỌC CÔNG NGHỆTrong tháng tập trung thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ như: tuyển chọn, xét duyệt, thẩm định, đánh giá, nghiệm thu… các nhiệm vụ khoa học và công nghệ theo quy định. Tuyển chọn thực hiện 02 nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh, đến nay thực hiện 22 nhiệm vụ; Thẩm định kinh phí thực hiện 02 nhiệm vụ cấp tỉnh, lũy kế thực hiện 15 nhiệm vụ. Phê duyệt tổ chức chủ trì, chủ nhiệm, kinh phí, phương thức khoán chi và thời gian thực hiện 09 nhiệm vụ cấp tỉnh, lũy kế 17 nhiệm vụ. Kiểm tra, đánh giá tiến độ thực hiện 05 nhiệm vụ cấp tỉnh, lũy kế 11 nhiệm vụ; Nghiệm thu kết quả 01 nhiệm vụ cấp cơ sở, lũy kế 08 nhiệm vụ cấp tỉnh, 04 nhiệm vụ cấp cơ sở. Gia hạn thời gian thực hiện 01 nhiệm vụ cấp tỉnh. lũy kế 02 nhiệm vụ; Dừng thực hiện 01 nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Tiền Giang tập 4 giai đoạn 2015-2025”.VII. CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Lao động việc làmTrong tháng, đã giải quyết việc làm cho 3.157 lao động. Nâng tổng số lao động được giải quyết việc làm từ đầu năm đến nay là 33.250 lao động đạt 67% so với kế hoạch. Trong tháng tổ chức 17 phiên giao dịch việc làm với 50 lượt doanh nghiệp, trên 4.100 người tham gia.Lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài trong tháng là 68 lao động. Nâng tổng số lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài từ đầu năm đến nay là 1.803 lao động, đạt 75% kế hoạch, trong đó Hàn Quốc: 782 lao động, Nhật Bản: 805 lao động, Đài Loan: 127 lao động,...Về trợ cấp thất nghiệp, trong tháng có 2.452 lao động được hưởng trợ cấp. Từ đầu năm đến nay, có 20.053 lao động được giải quyết chế độ trợ cấp thất nghiệp, với tổng kinh phí chi trả trên 387,8 tỷ đồng, góp phần hỗ trợ kịp thời đời sống, giúp người lao động ổn định trong giai đoạn tìm kiếm việc làm mới.2. Chính sách xã hộiTrong tháng, các chế độ, chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng được thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định. Trong đó, đã thực hiện trợ cấp một lần cho người thờ cúng liệt sĩ và chuyển đổi người thờ cúng liệt sĩ đối với 105 trường hợp; trợ cấp mai táng phí và trợ cấp một lần bằng 03 tháng trợ cấp đối với 135 trường hợp.Nhân dịp kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), toàn tỉnh đã tổ chức thăm hỏi, tặng quà người có công với cách mạng và thân nhân người có công từ các nguồn kinh phí, với tổng số 125.278 suất quà, tổng kinh phí 52.342,4 triệu đồng. Trong đó, quà của Chủ tịch nước 54.001 suất, kinh phí 16.350,9 triệu đồng; quà từ nguồn ngân sách địa phương theo Nghị quyết số 42/2025/NQ-HĐND ngày 23/12/2025 của Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Tháp 71.277 suất, kinh phí 35.991,5 triệu đồng.3. Hoạt động giáo dụcNgày 31/7/2026, UBND tỉnh Đồng Tháp ban hành Phương án số 1180/PA-UBND về sắp xếp các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, giáo dục thường xuyên và giáo dục nghề nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh. Theo phương án, trước khi sắp xếp, toàn tỉnh có 1.075 cơ sở giáo dục; sau khi sắp xếp, còn 375 cơ sở, giảm 700 cơ sở, tương ứng giảm 65,1% so với thời điểm 01/7/2025. Trong đó, bậc mầm non còn 102 trường (giảm 237 trường); khối giáo dục phổ thông còn 265 trường (giảm 456 trường). Việc tổ chức, sắp xếp mạng lưới cũng được triển khai đối với giáo dục thường xuyên và giáo dục nghề nghiệp.Ngày 17/8/2026, UBND tỉnh Đồng Tháp ban hành Quyết định số 2644/QĐ-UBND về khung Kế hoạch thời gian năm học 2026-2027 đối với giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên. Theo đó, học sinh các khối lớp 1, 9 và 12 tựu trường sớm nhất trước 02 tuần so với ngày tổ chức khai giảng, các khối lớp còn lại tựu trường sớm nhất trước 01 tuần so với ngày khai giảng. Lễ khai giảng năm học mới diễn ra vào ngày 05/9/2026.4. Hoạt động y tếTrong tháng có 15/44 bệnh truyền nhiễm được ghi nhận. Cộng dồn số ca mắc so với cùng kỳ, có 17 bệnh tăng (Bệnh do liên cầu lợn ở người, Rubella, Sốt xuất huyết Dengue, Tay - chân - miệng, Viêm màng não do não mô cầu, Dại, Liệt mềm cấp nghi bại liệt, Lao phổi, Thương hàn, Uốn ván khác, Viêm gan vi rút A, Viêm gan vi rút B, Viêm não Nhật Bản, Xoắn khuẩn vàng da, Lỵ amíp, Quai bị, Covid-19); 10 bệnh giảm (Sởi, Ho gà, Viêm gan vi rút C, Viêm não virus khác, Bệnh do vi rút Adeno, Cúm, Lỵ trực trùng, Thủy đậu, Tiêu chảy, Viêm gan vi rút khác); 17 bệnh tương đương hoặc không xảy ra ca mắc.Các bệnh truyền nhiễm trong tháng ghi nhận như: bệnh sốt xuất huyết 869 ca mắc, không có ca tử vong; bệnh tay - chân - miệng 794 ca, không có ca tử vong. Cộng dồn số ca mắc bệnh sốt xuất huyết: 5.139 ca, tăng 100,7%, 01 ca tử vong (cùng kỳ không có ca tử vong); bệnh tay – chân – miệng: 4.150 ca, tăng 31,3% so với cùng kỳ, 01 ca tử vong (cùng kỳ không có ca tử vong).Phòng chống HIV/AIDS trên địa bàn tỉnh tính đến nay là 16.322 người nhiễm HIV; 5.051 người chuyển sang AIDS; 3.950 người tử vong do AIDS.Khám chữa bệnh trong tháng cho 685,8 nghìn lượt người, giảm 7,4% so với cùng kỳ; trong đó, số người điều trị nội trú 43,5 nghìn lượt người, giảm 5,3%. Cộng dồn từ đầu năm, đã khám chữa bệnh trên 4,5 triệu lượt người, giảm 5,3%; trong đó, số người điều trị nội trú trên 285,6 nghìn lượt người, giảm 3,1%. Công suất sử dụng giường bệnh bình quân trong tháng đạt 85,3%.5. Hoạt động văn hóa - thể thaoa. Hoạt động văn hóa nghệ thuật: trong tháng tập trung công tác truyền thông, tuyên truyền kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026); “Chiến dịch 500 ngày đêm” tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ; Đại hội Đại biểu Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam tỉnh Đồng Tháp lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2029; Lễ Tưởng niệm 162 năm Ngày Anh hùng dân tộc Trương Định tuẫn tiết; kỷ niệm 81 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9. Thiết kế pano, phướn tuyên truyền, trang trí khánh tiết nhà Thuỷ tạ Lễ Tưởng niệm 162 năm Ngày Anh hùng dân tộc Trương Định tuẫn tiết (20/8/1864 - 20/8/2026); tổ chức trưng bày chuyên đề “Di sản văn hóa tỉnh Đồng Tháp” phục vụ Lễ Tưởng niệm 162 năm Ngày Anh hùng dân tộc Trương Định tuẫn tiết tại Đền thờ Trương Định, xã Gia Thuận.b. Hoạt động thư viện: hoạt động thư viện trên địa bàn tỉnh tiếp tục được duy trì ổn định, đáp ứng nhu cầu đọc và khai thác thông tin của người dân cả trực tiếp và trực tuyến. Trong tháng, hệ thống thư viện đã phục vụ 53.612 lượt người, với 160.836 lượt tài liệu; trong đó, phục vụ qua không gian mạng 559.911 lượt truy cập.c. Hoạt động bảo tàng: trong tháng, các cơ sở bảo tàng trên địa bàn tỉnh tiếp tục phục vụ khách tham quan tại các chuyên đề trưng bày cố định; đồng thời tổ chức trưng bày chuyên đề “Di sản văn hóa tỉnh Đồng Tháp” phục vụ Lễ Tưởng niệm 162 năm Ngày Anh hùng dân tộc Trương Định tuẫn tiết tại Đền thờ Trương Định, xã Gia Thuận. Trong tháng, bảo tàng tại 02 cơ sở đón 2.143 lượt khách, trong đó có 19 đoàn khách và 05 lượt khách quốc tế. Cộng dồn từ đầu năm đến nay, bảo tàng đã phục vụ 20.798 lượt khách, gồm 109 đoàn khách và 56 lượt khách quốc tế.d. Hoạt động thể dục, thể thao: trong tháng, thể thao thành tích cao tiếp tục được duy trì đào tạo lực lượng 26 môn thể thao thành tích cao. Trong tháng, các đội tuyển thể thao của tỉnh tham gia 16 giải thể thao quốc gia, quốc tế đạt 25 huy chương Vàng, 29 huy chương Bạc, 34 huy chương Đồng. Nổi bật, tham dự 03 giải quốc tế đạt 02 huy chương vàng, 01 huy chương bạc, 01 huy chương đồng.6. Tình hình trật tự an toàn xã hội (theo báo cáo ngành Công an)Trong tháng xảy ra 84 vụ phạm tội về trật tự xã hội, làm chết 03 người, bị thương 28 người, tài sản thiệt hại khoảng 11,4 tỷ đồng. Tính từ đầu năm đến nay, tổng số vụ phạm tội là 763 vụ, giảm 76 vụ so với cùng kỳ.Về tội phạm ma túy trong tháng, lực lượng chức năng đã phát hiện, xử lý 79 vụ với 130 đối tượng, trong đó, có 17 vụ với 22 đối tượng tàng trữ trái phép chất ma túy, 05 vụ với 09 đối tượng mua bán trái phép chất ma túy, 18 vụ với 60 đối tượng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, 39 vụ với 39 đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy.7. Trật tự an toàn giao thông (theo báo cáo ngành Công an, số liệu tính từ ngày 15/7/2026 đến 14/8/2026)Tai nạn giao thông đường bộ: trong tháng, xảy ra 34 vụ, tăng 04 vụ so tháng trước và giảm 02 vụ so với cùng kỳ. Hậu quả làm chết 29 người (tăng 05 người so tháng trước, giảm 03 người so với cùng kỳ) và 09 người bị thương (giảm 04 người so tháng trước, giảm 03 người so với cùng kỳ). Cộng dồn từ đầu năm đến tháng báo cáo, toàn tỉnh đã xảy ra 344 vụ, giảm 51 vụ so với cùng kỳ; làm chết 283 người (tăng 02 người) và làm bị thương 121 người (giảm 72 người). Các nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông chủ yếu vẫn do ý thức chấp hành Luật Giao thông đường bộ của người tham gia giao thông như: uống rượu say, điều khiển xe khi có rượu bia, phóng nhanh vượt ẩu, không làm chủ tốc độ; không đi đúng phần đường, làn đường; không nhường đường, vượt đèn đỏ, thiếu quan sát…Tai nạn giao thông đường thủy: trong tháng không xảy ra. Cộng dồn từ đầu năm đến nay là 03 vụ làm chết 02 người, tương đương về số vụ và số người chết so với cùng kỳ.8. Tình hình cháy nổ, môi trường và thiên taiCháy, nổ: trong tháng xảy ra 01 vụ cháy, thiệt hại tài sản khoảng 2 tỷ đồng; nguyên nhân chủ yếu do sự cố hệ thống thiết bị điện. Tính từ đầu năm đến nay, xảy ra 27 vụ cháy, tăng 13 vụ; làm chết 02 người, giảm 02 người so với cùng kỳ.Môi trường: trong tháng xảy ra 01 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý 01 vụ, với số tiền xử phạt 1,5 triệu đồng. Tính từ đầu năm, xảy ra 17 vụ vi phạm môi trường, giảm 25 vụ so với cùng kỳ; đã xử lý 18 vụ với tổng số tiền xử phạt trên 1,3 tỷ đồng.Thiên tai: trong tháng trên địa bàn tỉnh xảy ra 10 vụ thiên tai với tổng giá trị tài sản thiệt hại ước tính 973 triệu đồng, trong đó gồm 06 vụ mưa, giông lốc (tại các xã Thanh Bình, Bình Phú, Mỹ An Hưng, Tân Dương, Thanh Mỹ, Cái Bè, Tân Khánh Trung, Phong Mỹ, Tân Phú Đông, Tân Hồng, An Long, Bình Thành và Phường Hồng Ngự) làm sập 01 căn nhà, tốc mái 30 căn (trong đó có 12 căn tốc mái hoàn toàn), ngã đổ 04 gốc sầu riêng 10 - 15 năm tuổi; 04 vụ sạt lở nội đồng (tại các xã Long Hưng, Tân Long, Tân Dương, Hội Cư) với tổng chiều dài 106 m; làm hư hỏng một phần mặt đường, sụp lún nhiều đoạn đường gây ảnh hưởng trực tiếp đến đi lại, sinh hoạt của người dân, không đảm bảo an toàn giao thông trên địa bàn.
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Tháp Tháng 7 năm 2026
- 31/07/2026 16:44
Trong tháng, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh tiếp tục phát triển, các hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định và có nhiều khởi sắc, hầu hết các ngành, lĩnh vực đều tăng so cùng kỳ. Kết quả thực hiện trên các lĩnh vực đạt được như sau:I. SẢN XUẤT NÔNG LÂM NGHIỆP VÀ THỦY SẢN1. Nông nghiệp* Trồng trọt:Cây lương thực có hạt:tính đến ngày 20/7, diện tích gieo trồng cộng dồn từ đầu vụ sản xuất ước đạt 513.434 ha, giảm 6,9% so cùng kỳ; sản lượng ước đạt 2.286.329 tấn, giảm 3,6%. Trong đó cây lúa gieo sạ 507.801 ha, giảm 6,9% so cùng kỳ; sản lượng thu hoạch ước đạt 2.261.455 tấn, giảm 3,7%, cụ thể:- Cây lúa:+ Vụ Đông xuân 2025 - 2026: diện tích gieo trồng chính thức 223.450 ha, đạt 99,6% kế hoạch và giảm 2,7% so cùng kỳ, tương ứng giảm 6.229 ha. Lúa Đông xuân 2025-2026 đã thu hoạch 100% diện tích gieo trồng của vụ; Năng suất thu hoạch bình quân 72,5 tạ/ha, tăng 0,8% so cùng kỳ với sản lượng thu hoạch 1.620.142 tấn, đạt 98,7% so với kế hoạch, giảm 1,9% so với cùng kỳ.+ Vụ Hè thu 2026: tính đến ngày 20/7, toàn tỉnh gieo sạ ước đạt 231.562 ha, đạt 102,2% so với kế hoạch, giảm 5,0% so với cùng kỳ; Diện tích thu hoạch ước đạt 97.390 ha; Năng suất thu hoạch ước đạt 65,9 tạ/ha với sản lượng thu hoạch ước đạt 641.313 tấn.+ Vụ Thu đông 2026: tính đến ngày 20/7, toàn tỉnh gieo sạ ước đạt 52.789 ha, đạt 35,3% so với kế hoạch. Vụ lúa Thu Đông đã bắt đầu xuống giống ở các xã: xã Thường Phước, xã Phương Thịnh, xã Trường Xuân, xã Mỹ Quí, xã Tháp Mười, xã Đốc Binh Kiều và xã Thanh Mỹ.- Cây ngô: tính đến ngày 20/7, diện tích gieo sạ ước đạt 5.633 ha, đạt 60,6% so với kế hoạch, tăng 0,4% so cùng kỳ. Diện tích thu hoạch ước đạt 3.597 ha, tăng 0,1% so với cùng kỳ. Sản lượng thu hoạch ước đạt 24.874 tấn, đạt 37,7% so với kế hoạch, tăng 2,4% so với cùng kỳ. Năng suất thu hoạch ước đạt 69,5 tạ/ha.- Cây rau đậu các loại: tính đến 20/7, diện tích gieo trồng rau đậu các loại ước đạt 49.889 ha, tăng 1,0% so với cùng kỳ; trong đó rau các loại ước đạt 49.609 ha, tăng 1,0%. Sản lượng cây rau đậu các loại ước đạt 969.342 tấn, tăng 0,3% so cùng kỳ; trong đó rau thu hoạch ước đạt 968.714 tấn, tăng 0,3% so với cùng kỳ.Hình 1. Diện tích gieo trồng một số cây hàng năm tính đến 20/7/2026*Chăn nuôi: ước thời điểm 31/7/2026, tổng đàn gia súc, gia cầm toàn tỉnh như sau: đàn trâu 2,1 nghìn con, giảm 26,8%; đàn bò 148,1 nghìn con, giảm 3,7%; đàn lợn 499,7 nghìn con, tăng 0,9% và đàn gia cầm 23,3 triệu con, giảm 0,5% so với cùng kỳ.Hình 2. Chăn nuôi tại thời điểm 31/7/20262. Lâm nghiệp: Diện tích rừng trồng mới tập trung: từ đầu năm đến nay có 111,3 ha rừng được trồng mới tập trung, giảm 0,6% tương đương giảm 0,7 ha so với cùng kỳ.Cây phân tán: trong tháng, toàn tỉnh thực hiện trồng mới được 280 ngàn cây phân tán các loại, tăng 2,9% so cùng kỳ. Cộng dồn từ đầu năm đến nay, số lượng cây phân tán ước đạt 480,8 nghìn cây, tăng 1,3%, tương ứng tăng 6,0 nghìn cây so với cùng kỳ.Sản lượng gỗ khai thác: trong tháng sản lượng gỗ khai thác ước đạt 16.440 m3, tăng 1,7% so với cùng kỳ. Cộng dồn từ đầu năm đến nay, sản lượng cây phân tán ước đạt ước đạt 102.212 m3 gỗ được khai thác, giảm 0,4% so với cùng kỳ.3. Thủy hải sản: Diện tích thả nuôi thâm canh trong tháng ước đạt 396 ha, tăng 1,8% so cùng kỳ. Tổng diện tích thả nuôi thâm canh 7 tháng đầu năm 2026 ước đạt 9.183 ha, tăng 1,5% so cùng kỳ, trong đó: cá tra đạt 1.975 ha (tăng 5,0%), tôm sú 3.746 ha (tăng 0,5%), tôm thẻ chân trắng 3.463 ha (tăng 0,6%).Sản lượng thủy sản nuôi và khai thác biển trong tháng ước đạt 87.725 tấn, nâng tổng số sản lượng thủy sản nuôi và khai thác biển từ đầu năm đến tháng báo cáo ước đạt 541.857 tấn, tăng 3,5% so cùng kỳ, bao gồm:Sản lượng thủy sản nuôi trồng trong tháng ước đạt 74.345 tấn. Tính chung 7 tháng năm 2026, thu hoạch ước đạt 475.549 tấn, tăng 3,5% so cùng kỳ, tương ứng tăng 15.996 tấn, bao gồm: sản lượng cá đạt 439.452 tấn (tăng 3,4%); sản lượng tôm đạt 32.263 tấn (tăng 5,0%); các loại thủy sản khác đạt 3.834 tấn (tăng 1,9%).Sản lượng thủy sản khai thác biển trong tháng ước đạt 13.380 tấn. Tính chung 7 tháng năm 2026, thu hoạch ước đạt 66.308 tấn, tăng 3,6% so cùng kỳ, tương ứng tăng 2.331 tấn, bao gồm: sản lượng cá đạt 43.901 tấn (tăng 4,9%); sản lượng tôm đạt 2.107 tấn (tăng 1,0%); các loại thủy sản khác đạt 20.301 tấn (tăng 1,3%).II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆPChỉ số sản xuất công nghiệp tháng 7/2026 ước tăng 1,52% so với tháng trước và tăng 14,84% so với cùng kỳ. Trong đó, ngành khai khoáng tăng 31,16% so với cùng kỳ; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,74% so với cùng kỳ; ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước, điều hoà không khí tăng 3,85% so với cùng kỳ; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý, xử lý rác thải, nước thải tăng 3,94% so với cùng kỳ.Cộng dồn 7 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 12,36% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành chủ lực công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,17%; các ngành khai khoáng, sản xuất và phân phối điện, cung cấp nước và xử lý rác thải nước thải tăng lần lượt 19,39%, 3,33% và 2,80% so với cùng kỳ.Hình 3. Chỉ số sản xuất công nghiệp 7 tháng đầu năm 2026Tình hình sản xuất các sản phẩm chủ lực 7 tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ như sau:Có 75/114 sản phẩm ghi nhận chỉ số sản xuất tăng so cùng kỳ: cát đen tăng 19,4%; phi lê đông lạnh tăng 21,8%; bột mịn, bột thô và bột viên từ cá tăng 9,2%; quả và hạt ướp lạnh tăng 61,1%; gạo đã xát toàn bộ hoặc sơ bộ tăng 13,4%; thức ăn chăn nuôi tăng từ 15% đến 42%; bia đóng lon tăng 18,6%; áo phông, áo may ô và các loại áo lót khác cho người lớn dệt kim hoặc đan móc tăng 49,0%; giày, dép không thấm nước có đế ngoài và mũ bằng cao su hay plastic tăng 35,4%; giày, dép có đế ngoài và mũ bằng cao su hoặc plastic tăng 10,5%; thuốc và dược phẩm các loại tăng mạnh; bao và túi từ plastic khác tăng 60,7%; bê tông trộn sẵn tăng 6,7%; thanh, que bằng thép hợp kim rỗng tăng 31,9%; ống và ống dẫn bằng đồng tăng 17,1%; điện mặt trời tăng 22,9%;…Ở chiều ngược lại, có 37/114 sản phẩm có chỉ số sản xuất giảm so cùng kỳ: bia đóng chai giảm 18,3%; thuốc lá có đầu lọc giảm 14,0%; áo quần các loại giảm từ 2% đến 19%; túi xách giảm 11,3%; giày, dép thể thao có đế ngoài và mũ giày bằng cao su và plastic giảm 2,6%; giày, dép thể thao có mũ bằng da và có đế ngoài giảm 14,4%; thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng viên giảm 6,7%; thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm giảm 5,0%;…* Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Chỉ số tiêu thụ (CSTT) ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 7 năm 2026 so với tháng trước giảm 1,43% và tăng 6,11% so cùng kỳ. Cộng dồn từ đầu năm đến cuối tháng 7 năm 2026, CSTT tăng 9,72%.Một số ngành có CSTT tháng 7 tăng cao so với cùng kỳ: sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 99,14%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 76,4%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 36,6%; sản xuất xe có động cơ tăng 21,88%;… Bên cạnh đó một số ngành có CSTT giảm so cùng kỳ như: sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 53,53%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất giảm 30,28%; In, sao chép bản ghi các loại giảm 24,68%; Sản xuất sản phẩm thuốc lá giảm 11,71%;…Chỉ số tồn kho (CSTK) ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 7 năm 2026 tăng 21,16% so với tháng trước và tăng 117,44% so với cùng kỳ.Một số ngành có CSTK tháng 7 tăng so cùng kỳ là: sản xuất kim loại tăng 63,49%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 35,96%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế), sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện tăng 32,05%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 21,44%;… Bên cạnh đó, một số ngành có CSTK giảm so với cùng kỳ như: sản xuất thiết bị điện giảm 11,69%; sản xuất trang phục giảm 8,28%…III. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP (Theo báo cáo của Sở Tài Chính)Thành lập mới: Trong tháng có 219 doanh nghiệp thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 997 tỷ đồng. Tính chung 7 tháng đầu năm 2026, có 2.015 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 29,4% so với cùng kỳ năm 2025, đạt 67,2% so với kế hoạch phát triển doanh nghiệp năm 2026, tổng vốn đăng ký là 9.008 tỷ đồng, giảm 4,9% so với cùng kỳ năm 2025.Giải thể, tạm ngừng hoạt động, tái hoạt động: Trong tháng, có 66 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, 83 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, 35 doanh nghiệp hoạt động trở lại. Tính chung 7 tháng đầu năm 2026, có 378 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 79,1%; 693 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, tăng 11,7%; 304 doanh nghiệp hoạt động trở lại, giảm 3,0% so với cùng kỳ năm 2025.IV. ĐẦU TƯ - XÂY DỰNG Vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 7/2026 ước đạt 875 tỷ đồng, tăng 5,4% so với tháng trước nhưng giảm 46,8% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 809 tỷ đồng, tăng 5,7% so với tháng trước nhưng giảm 49,8% so với cùng kỳ; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 66 tỷ đồng, tăng 2,7% so với tháng trước và tăng 91,6% so với cùng kỳ.Tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý 7 tháng đầu năm 2026 ước đạt 4.862 tỷ đồng, bằng 42,0% kế hoạch năm, giảm 37,3% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 4.463 tỷ đồng, bằng 43,5% kế hoạch năm, giảm 41,6% so với cùng kỳ năm 2025; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 398 tỷ đồng, bằng 30,4% kế hoạch năm, tăng 283,3% so với cùng kỳ năm 2025.IV. THƯƠNG MẠI - GIÁ CẢ - DỊCH VỤ1. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng:Hoạt động thương mại dịch vụ của tỉnh trong tháng tiếp tục duy trì và ổn định, hàng hoá cung ứng đồi dào, đáp ứng nhu cầu mua sắm của người dân. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trong tháng thực hiện 16.222 tỷ đồng, tăng 1,1% so tháng trước và tăng 17,8% so cùng kỳ. Bảy tháng đầu năm 2026, tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thực hiện 111.328 tỷ đồng, tăng 15,1% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 82.868 tỷ đồng, tăng 14,9%; lưu trú 413 tỷ đồng, tăng 25,2%; ăn uống 13.861 tỷ đồng, tăng 16,1%; du lịch lữ hành 226 tỷ đồng, tăng 15%; dịch vụ tiêu dùng khác 13.960 tỷ đồng, tăng 15,6% so cùng kỳ.Hình 4. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng2. Xuất - Nhập khẩu (Theo báo cáo Sở Công Thương)a. Xuất khẩu:Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng ước thực hiện 878 triệu USD, tăng 0,9% so tháng trước và tăng 4% so cùng kỳ. Bảy tháng ước xuất khẩu 5.839 triệu USD, đạt 58,4% kế hoạch, tăng 10,5% so cùng kỳ.b. Nhập khẩu:Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 7/2026 ước đạt 415 triệu USD, tăng 1,2% so tháng trước và tăng 5,5% so cùng kỳ. Bảy tháng ước đạt 3.224,6 triệu USD, đạt 64,5% kế hoạch và tăng 11,7% so với cùng kỳ.Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu trong tổng kim ngạch nhập khẩu của tỉnh như: kim loại thường khác (kể cả nguyên liệu đồng) chiếm 35,6%; nguyên phụ liệu dệt may, gia giày, túi xách (gồm vải) chiếm 11,1%; sắt thép các loại chiếm 7,7%; chất dẻo nguyên liệu chiếm 5,6%;…3. Chỉ số giá: Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 7/2026 tăng 0,13% (thành thị giảm 0,09%, nông thôn tăng 0,2%) so tháng 6/2026, tăng 4,87% so tháng 7/2025.So với tháng 6/2025, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 9 nhóm tăng: hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,42%; thông tin và truyền thông tăng 0,81%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,55%; may mặc, mũ nón và giầy dép tăng 0,18%; văn hóa giải trí và du lịch tăng 0,09%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,08%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và VLXD tăng 0,05%: thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,02%; giáo dục tăng 0,01%. Có 2 nhóm giảm: giao thông giảm 2,31%; đồ uống và thuốc lá giảm 1,05%.Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 7 tháng năm 2026 so cùng kỳ tăng 4,31%; Một số nhóm hàng có chỉ số tăng như: nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 7,09%, làm CPI chung tăng 1,30 điểm phần trăm do giá nhà ở thuê và giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở đều tăng. Trong đó, chỉ số giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 11,40%, chỉ số giá điện sinh hoạt tăng 7,43%, nước sinh hoạt tăng 2,55%; giao thông tăng 4,79%, tác động làm CPI chung tăng 0,48 điểm phần trăm, trong đó giá xăng dầu tăng 8,02%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 5,69%, làm CPI chung tăng 0,33 điểm phần trăm do giá dịch vụ y tế tăng theo Nghị quyết 126/NQ-HĐND ngày 23/12/2025 về quy định giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh trên địa bàn tỉnh, trong đó giá dịch vụ khám sức khỏe tăng 7,03%; hàng ăn uống và dịch vụ ăn uống tăng 3,99%, trong đó nhóm thực phẩm tăng 4,23%, nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 4,92%, nhóm lương thực tăng 1,35%;…Chỉ số giá vàng trong tháng 7/2026 giảm 4,07% so tháng trước tương ứng giảm 297.680 đồng/chỉ đối với vàng nhẫn trơn 9999, giảm 7,14% so với tháng 12/2025 và tăng 14,06% so với cùng kỳ. Chỉ số giá vàng bình quân 7 tháng năm 2026 tăng 46,52% so cùng kỳ.Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng 7/2026 tăng 0,15% so tháng trước, tương đương tăng 3.964 đồng/100USD và giảm 0,56% so với cùng kỳ. Chỉ số giá Đô la Mỹ bình quân 7 tháng năm 2026 tăng 1,05% so cùng kỳ.4. Vận tải:Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trong tháng thực hiện 775 tỷ đồng, tăng 2,7% so tháng trước và tăng 20,9% so cùng kỳ. Bảy tháng thực hiện 5.194 tỷ đồng, tăng 17,3% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 1.796 tỷ đồng, tăng 24,7%; doanh thu vận tải hàng hóa thực hiện 2.525 tỷ đồng, tăng 15,1% so cùng kỳ. Doanh thu vận tải đường bộ thực hiện 2.578 tỷ đồng, tăng 23%; doanh thu vận tải đường thủy thực hiện 1.743 tỷ đồng, tăng 13,3%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 485 tỷ đồng, tăng 5,7% so cùng kỳ.Vận tải hành khách trong tháng đạt 7.789 ngàn hành khách, tăng 1% so tháng trước và tăng 25,7% so cùng kỳ; luân chuyển 224.105 ngàn hành khách.km, tăng 2,4% so tháng trước và giảm 0,7% so cùng kỳ. Bảy tháng, vận chuyển 49.869 ngàn hành khách, tăng 16,8% so cùng kỳ; luân chuyển 1.763.382 ngàn hành khách.km, tăng 13,5% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 17.945 ngàn hành khách, tăng 19,6% và luân chuyển 1.745.701 ngàn hành khách.km, tăng 13% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 31.924 ngàn hành khách, tăng 15,3% và luân chuyển 17.681 ngàn hành khách.km, tăng 31,2% so cùng kỳ.Vận tải hàng hóa trong tháng đạt 2.665 ngàn tấn, tăng 1,3% so tháng trước và tăng 17% so cùng kỳ; luân chuyển 550.757 ngàn tấn.km, tăng 2,8% so tháng trước và tăng 30,9% so cùng kỳ. Bảy tháng, vận tải 18.448 ngàn tấn hàng hóa, tăng 17,4% so cùng kỳ; luân chuyển 3.509.361 ngàn tấn.km, tăng 21,1% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 3.590 ngàn tấn, tăng 2,8% và luân chuyển 622.666 ngàn tấn.km, tăng 16,4% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 14.858 ngàn tấn, tăng 21,6% và luân chuyển 2.886.695 ngàn tấn.km, tăng 22,2% so cùng kỳ.* Công tác quản lý phương tiện giao thông: Trong tháng đăng ký mới 8.675 chiếc mô tô xe máy và 1.090 chiếc xe ô tô. Tổng số xe đang quản lý trên địa bàn tỉnh là 3.534.038 chiếc, trong đó mô tô xe máy: 3.534.038 chiếc; 114.838 xe ô tô, 169 xe ba bánh, 666 xe đạp điện và 3.372 xe khác.5. Bưu chính viễn thông:Tổng số thuê bao điện thoại có trên mạng ước đến cuối tháng 7 năm 2026 là 3.547.856 thuê bao (bao gồm: hữu tuyến, vô tuyến, trả trước, trả sau). Thuê bao điện thoại bình quân đạt 104,23 thuê bao/100 dân. Số thuê bao điện thoại di động có sử dụng Internet (3G, 4G) đến cuối tháng 7 là: 3.264.013 thuê bao.Tổng số thuê bao Internet trên mạng ước tính đến cuối tháng 7 năm 2026 là 4.091.936 thuê bao (bao gồm: băng rộng di động 3G, 4G; MyTV và Cáp; băng rộng cố định FTTH, xDSL, Leased-line, CATV). Mật độ Internet bình quân ước đạt 120,22 thuê bao/100 dân.V. TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG1. Tài chính:Tổng thu ngân sách nhà nước trong tháng thực hiện 3.291 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn 1.536 tỷ đồng; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 328 tỷ đồng. Bảy tháng, thu 35.373 tỷ đồng; trong đó, thu ngân sách trên địa bàn thực hiện 14.715 tỷ đồng, đạt 61,9% dự toán và tăng 0,3% so cùng kỳ; thu nội địa 14.071 tỷ đồng, đạt 60,6% dự toán, giảm 0,5% so cùng kỳ (trong thu ngân sách trên địa bàn: thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 2.565 tỷ đồng, đạt 63,3% dự toán, tăng 11,3% so cùng kỳ; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 3.722 tỷ đồng, đạt 77,5% dự toán, tăng 28% so cùng kỳ...). Tổng chi ngân sách nhà nước trong tháng 3.498 tỷ đồng; trong đó: chi đầu tư phát triển 728 tỷ đồng. Bảy tháng, chi 22.615 tỷ đồng, đạt 54,5 dự toán và giảm 5% so cùng kỳ; trong đó: chi đầu tư phát triển 3.992 tỷ đồng, đạt 33,2% dự toán, bằng 52,2% so cùng kỳ; chi hành chính sự nghiệp 13.340 tỷ đồng, đạt 59,2% dự toán và tăng 0,1% so cùng kỳ. 2. Ngân hàng:Từ đầu năm đến nay, lãi suất ổn định tạo điều kiện cho tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn từ Ngân hàng nhà nước (NHNN). Đến cuối tháng 6/2026, các mức lãi suất trên địa bàn tỉnh như sau:Lãi suất huy động: Hệ thống các TCTD trên địa bàn chấp hành tốt các quy định về lãi suất huy động theo quy định của NHNN Việt Nam. Mặt bằng lãi suất của các kỳ hạng như sau: tiền gửi kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng dao động từ 3,5%-8,31%/năm đối với khách hàng cá nhân và từ 2,8%-8,3%/năm đối với khách hàng pháp nhân; tiền gửi trên 12 tháng, lãi suất dao động từ 3,8%- 8,62%/năm đối với khách hàng cá nhân và từ 3,25%-8,59%/năm đối với khách hàng pháp nhân.Lãi suất cho vay: Các tổ chức tín dụng trên địa bàn chấp hành nghiêm mức trần lãi suất cho vay ngắn hạn đối với các lĩnh vực ưu tiên. Lãi suất cho vay VNĐ bình quân chung trên địa bàn tỉnh 8,98%/năm, tăng 1,12% so với cuối năm 2025.Đến cuối tháng 6/2026, vốn huy động đạt 222.557 tỷ, tăng 14.368 tỷ đồng, tăng 6,09% so với cuối năm 2025. Tổng dư nợ cho vay của các tổ chức tín dụng (TCTD) trong tỉnh đạt 249.996 tỷ, tăng 6.582 tỷ đồng, tăng 2,7% so với cuối năm 2025. Ước đến cuối tháng 7/2026, nguồn vốn huy động đạt 224.783 tỷ, tăng 7,97% so với cuối năm 2025; tổng dư nợ đạt 252.496 tỷ, tăng 3,73% so với cuối năm 2025.Nợ xấu: đến cuối tháng 6/2026 nợ xấu đạt 5.817 tỷ đồng; tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là 2,38%, so với cuối năm 2025. Ước đến cuối tháng 7/2026 tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ dưới 3%.Quỹ tín dụng nhân dân: đến cuối tháng 6/2026, tổng nguồn vốn hoạt động đạt 2.776 tỷ đồng, giảm 108 tỷ đồng giảm 3,74% so cuối năm 2025; tổng dư nợ cho vay đạt 2.337 tỷ đồng; giảm 2 tỷ đồng, giảm 0,09% so với cuối năm 2025; nợ xấu 22 tỷ đồng chiếm 0,94/tổng dự nợ.VI. KHOA HỌC CÔNG NGHỆThực hiện các nhiệm vụ tuyển chọn, xét duyệt, thẩm định, đánh giá, nghiệm thu các nhiệm vụ khoa học và công nghệ theo quy định. Hội đồng tư vấn tuyển chọn thực hiện 02 nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh; Thẩm định kinh phí thực hiện 04 nhiệm vụ cấp tỉnh; Phê duyệt tổ chức chủ trì, chủ nhiệm, kinh phí, phương thức khoán chi và thời gian thực hiện 01 nhiệm vụ cấp tỉnh; Kiểm tra, đánh giá tiến độ thực hiện 01 nhiệm vụ cấp tỉnh; Gia hạn thời gian thực hiện 01 nhiệm vụ cấp tỉnh….Cấp, thay đổi nội dung giấy chứng nhận cho 01 doanh nghiệp khoa học; 01 cấp giấy chứng nhận đăng ký gia hạn, sửa đổi, bổ sung nội dung chuyển giao công nghệ.VII. CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Lao động việc làm:Trong tháng, đã giải quyết việc làm cho 1.253 lao động. Nâng tổng số lao động được giải quyết việc làm từ đầu năm đến nay là 30.093 lao động đạt 60,1% so với kế hoạch. Trong tháng tổ chức 8 phiên giao dịch việc làm với 31 lượt doanh nghiệp trên 1.200 người tham gia.Lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài trong tháng là 133 lao động. Nâng tổng số lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài từ đầu năm đến nay là 1.735 lao động, đạt 72,3% kế hoạch, trong đó Hàn Quốc: 782 lao động, Nhật Bản: 755 lao động, Đài Loan: 126 lao động,....Về trợ cấp thất nghiệp, trong tháng có 3.831 lao động được hưởng trợ cấp. Từ đầu năm đến nay, có 17.288 lao động được giải quyết chế độ trợ cấp thất nghiệp, với tổng kinh phí chi trả trên 387,8 tỷ đồng, góp phần hỗ trợ kịp thời đời sống, giúp người lao động ổn định trong giai đoạn tìm kiếm việc làm mới.2. Chính sách xã hội: Trong tháng, các chế độ ưu đãi đối với người có công được thực hiện đầy đủ, kịp thời. Trong đó, đã trợ cấp một lần cho người thờ cúng liệt sĩ và chuyển đổi người thờ cúng liệt sĩ với 52 trường hợp; trợ cấp mai táng phí và trợ cấp 01 lần 03 tháng trợ cấp với 81 trường hợp.3. Hoạt động giáo dục:Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026, tỉnh Đồng Tháp có hơn 37 nghìn thí sinh dự Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026, điểm trung bình tất cả các môn thi của Đồng Tháp đạt 5,817 điểm, xếp thứ 2 khu vực phía Nam và thứ 12 cả nước. Qua đó cho thấy kết quả ở mức tích cực, phản ánh chất lượng dạy và học tiếp tục được duy trì ổn định.Đối với kỳ thi tuyển sinh lớp 10, kết quả xét tuyển chính thức có 41.823 thí sinh trúng tuyển vào lớp 10 THPT năm học 2026 - 2027. Mức điểm cao các trường THPT (không chuyên) tập trung ở một số trường thuộc khu vực trung tâm và có truyền thống chất lượng; trong đó, THPT Nguyễn Đình Chiểu có điểm chuẩn cao nhất (25,60 điểm), tiếp theo là THPT Nguyễn Đình Chiểu (cơ sở 2) (22,15 điểm), THPT Cao Lãnh (21,25 điểm), THPT Chợ Gạo (21,10 điểm), THPT Cái Bè (19,50 điểm), THPT Trương Định (18,80 điểm), và THPT Sa Đéc cùng THPT Tân Hiệp (đều 18,10 điểm). Khối trường THPT chuyên: Điểm chuẩn các lớp chuyên có sự phân hóa theo môn học; trong đó, lớp Chuyên Toán, Trường THPT Chuyên Tiền Giang có điểm chuẩn cao nhất (40,70 điểm), tiếp theo Chuyên Lý, Trường THPT Chuyên Tiền Giang (39,65 điểm) và Chuyên Hóa, Trường THPT Chuyên Nguyễn Quang Diêu (39,35 điểm).4. Hoạt động y tế:Trong tháng có 16/44 bệnh truyền nhiễm được ghi nhận. Cộng dồn số ca mắc so với cùng kỳ, có 17 bệnh tăng (Bệnh do liên cầu lợn ở người, Rubella, Sốt xuất huyết Dengue, Tay - chân - miệng, Viêm màng não do não mô cầu, Dại, Liệt mềm cấp nghi bại liệt, Lao phổi, Sốt rét, Thương hàn, Uốn ván khác, Viêm gan vi rút A, Viêm não Nhật Bản, Xoắn khuẩn vàng da, Quai bị, Thủy đậu, Covid-19); 10 bệnh giảm (Sởi, Ho gà, Viêm gan vi rút B, Viêm gan vi rút C, Viêm não vi rút khác, Bệnh do vi rút Adeno, Cúm, Lỵ trực trùng, Tiêu chảy, Viêm gan vi rút khác); 17 bệnh tương đương hoặc không xảy ra ca mắc.Các bệnh truyền nhiễm trong tháng ghi nhận như: bệnh sốt xuất huyết 633 ca mắc, làm 01 ca tử vong do bệnh sốt xuất huyết; bệnh tay - chân - miệng 649 ca, không có ca tử vong. Cộng dồn số ca mắc bệnh sốt xuất huyết: 4.251 ca, tăng 147,0%, 01 ca tử vong (cùng kỳ không có ca tử vong); bệnh tay – chân – miệng: 3.316 ca, tăng 33,8% so cùng kỳ, 01 ca tử vong (cùng kỳ không có ca tử vong).Phòng chống HIV/AIDS trên địa bàn tỉnh tính đến nay là 16.222 người nhiễm HIV; 5.051 người chuyển sang AIDS; 3.940 người tử vong do AIDS.Khám chữa bệnh trong tháng cho 677,5 nghìn lượt người, giảm 1,1% so cùng kỳ; trong đó, số người điều trị nội trú là 43,3 nghìn lượt người, tăng 5,0%. Cộng dồn từ đầu năm, đã khám chữa bệnh trên 3,9 triệu lượt người, giảm 9,6%; trong đó, số người điều trị nội trú trên 242,5 nghìn lượt người, giảm 1,5%. Cộng dồn từ đầu năm, công suất sử dụng giường bệnh bình quân đạt 79,1%.5. Hoạt động văn hóa - thể thao:a. Hoạt động văn hóa nghệ thuật: trong tháng, hoạt động văn hóa nghệ thuật trên địa bàn tỉnh tập trung công tác truyền thông, tuyên truyền kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh – Liệt sĩ (27/7/1947 – 27/7/2026). Đồng thời, hoạt động tuyên truyền lưu động và chiếu phim phục vụ Nhân dân được duy trì thường xuyên.b. Hoạt động thư viện: công tác phục vụ bạn đọc đạt 54.651 lượt người, 163.953 lượt tài liệu (trong đó 526.134 lượt truy cập qua không gian mạng); tổ chức hiệu quả các hoạt động đọc sách, trải nghiệm từ sách, chương trình Hè vui đọc sách lần thứ XV năm 2026. Tổ chức Cuộc thi “Góc ảnh đẹp Thư viện” lần thứ V năm 2026 với chủ đề “Gia đình đọc sách - Gắn kết yêu thương”, kết quả trao 17 giải tập thể gia đình và 17 giải cá nhân. Cuộc thi Đại sứ Văn hóa đọc năm 2026 tiếp nhận 19.211 bài dự thi từ 237 trường, lựa chọn 1.041 bài vào vòng chung kết cấp tỉnh. Cuộc thi “Bác Hồ trong trái tim tôi” (lần thứ V) năm 2026 tiếp nhận 1.050 bài dự thi, thực hiện sơ loại và gửi tham gia vòng chung kết; tổ chức trưng bày, triển lãm sách, tài liệu về khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và địa chí Đồng Tháp với hơn 200 tài liệu, phục vụ trên 1.200 lượt người tại Ngày hội Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phường Mỹ Ngãi năm 2026.Hoạt động thư viện trên địa bàn tỉnh tiếp tục được duy trì ổn định, đáp ứng nhu cầu bạn đọc cả trực tiếp và trực tuyến. Tổng lượt phục vụ đạt 54.651 lượt người, 163.953 lượt tài liệu, trong đó 526.134 lượt truy cập qua không gian mạng. Các hoạt động thúc đẩy văn hóa đọc được tổ chức hiệu quả, nổi bật là chương trình Hè vui đọc sách lần thứ XV năm 2026. Ngoài ra, hoạt động trưng bày, triển lãm sách, tài liệu về khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và địa chí Đồng Tháp được thực hiện với hơn 200 tài liệu, phục vụ trên 1.200 lượt người tại Ngày hội Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phường Mỹ Ngãi năm 2026.c. Hoạt động bảo tàng: trong tháng, hoạt động bảo tàng trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì trưng bày các chuyên đề cố định; thực hiện bảo quản hiện vật tại các nhà trưng bày, khu trưng bày ngoài trời và các kho hiện vật. Công tác truyền thông qua Fanpage ghi nhận 237.070 lượt xem và 15.572 lượt tương tác. Các nhà trưng bày tại 02 cơ sở đón tiếp 1.394 khách tham quan, trong đó có 03 đoàn khách và 01 khách quốc tế.d. Hoạt động thể dục, thể thao: trong tháng, các đội tuyển thể thao của tỉnh tham gia 17 giải thể thao quốc gia, Đông Nam Á, châu Á đạt 23 huy chương Vàng, 29 huy chương Bạc, 37 huy chương Đồng. Nổi bật, tham dự Giải Karate Đông Nam Á tại Ninh Bình, kết quả đạt 02 huy chương vàng, 04 huy chương bạc, 02 huy chương đồng.6. Tình hình trật tự an toàn xã hội (theo báo cáo ngành Công an):Trong tháng xảy ra 128 vụ phạm tội về trật tự xã hội, làm chết 08 người, bị thương 46 người, tài sản thiệt hại khoảng 33,8 tỷ đồng. Tính từ đầu năm đến nay, tổng số vụ phạm tội là 692 vụ, giảm 22 vụ so cùng kỳ.Về tội phạm ma túy trong tháng, lực lượng chức năng đã phát hiện, xử lý 100 vụ với 132 đối tượng, trong đó, có 21 vụ với 22 đối tượng tàng trữ trái phép chất ma túy, 09 vụ với 13 đối tượng mua bán trái phép chất ma túy, 13 vụ với 40 đối tượng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, 57 vụ với 57 đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy.7. Trật tự an toàn giao thông (theo báo cáo ngành Công an, số liệu tính từ ngày 15/6/2026 đến 14/7/2026):Tai nạn giao thông đường bộ: trong tháng, xảy ra 30 vụ, giảm 17 vụ so tháng trước và giảm 03 vụ so cùng kỳ. Hậu quả làm chết 24 người (giảm 17 người so tháng trước, giảm 02 người so cùng kỳ) và 13 người bị thương (tương đương so tháng trước và so cùng kỳ). Cộng dồn từ đầu năm đến tháng báo cáo, toàn tỉnh đã xảy ra 309 vụ, giảm 50 vụ so với cùng kỳ; làm chết 254 người (tăng 05 người) và làm bị thương 111 người (giảm 70 người). Các nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông chủ yếu vẫn do ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông như: uống rượu say, điều khiển xe khi có rượu bia, phóng nhanh vượt ẩu, không làm chủ tốc độ; không đi đúng phần đường, làn đường; không nhường đường, vượt đèn đỏ, thiếu quan sát…Tai nạn giao thông đường thủy: trong tháng không xảy ra. Cộng dồn từ đầu năm đến nay là 03 vụ làm chết 02 người, tương đương về số vụ và số người chết so với cùng kỳ.8. Tình hình cháy nổ, môi trường và thiên tai:- Cháy, nổ: trong tháng xảy ra 03 vụ cháy, thiệt hại tài sản khoảng 208 triệu đồng; nguyên nhân chủ yếu do sự cố hệ thống thiết bị điện. Tính từ đầu năm đến nay, xảy ra 26 vụ cháy, tăng 13 vụ; làm chết 02 người, giảm 02 người so với cùng kỳ.- Môi trường: Trong tháng xảy ra 05 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý 05 vụ, với số tiền xử phạt 5,25 triệu đồng. Tính từ đầu năm, xảy ra 16 vụ vi phạm môi trường, giảm 25 vụ so với cùng kỳ; đã xử lý 18 vụ với tổng số tiền xử phạt trên 1,3 tỷ đồng.- Thiên tai: trong tháng, trên địa bàn tỉnh xảy ra 25 vụ thiên tai, tổng giá trị tài sản thiệt hại ước tính 18.251 triệu đồng. Trong đó gồm 08 vụ mưa, giông lốc, sét tại các xã Thanh Bình, Long Bình, Mỹ Lợi, Tân Dương, Tân Hương, Gò Công Đông, Bình Phú và phường Bình Xuân; làm chết 01 người (do sét đánh), làm sập 01 căn nhà, tốc mái 77 căn (trong đó 01 căn tốc mái hoàn toàn) và 04 phòng học; gãy, ngã 10 trụ điện; hư hỏng 04 chuồng trại; thiệt hại 0,7 ha hoa màu; ngã đổ 320 cây chuối, 27 gốc sầu riêng cùng nhiều cây xanh. Đồng thời xảy ra 17 vụ sạt lở nội đồng tại các xã Lai Vung, Mỹ Thọ, Hội Cư, Thanh Hưng, Tân Dương, Tân Khánh Trung, Bình Thành, Kim Sơn, Mỹ Đức Tây, Bình Phú, Hiệp Đức và các phường Sa Đéc, Mỹ Ngãi, với tổng chiều dài 515,2m; làm sập 01 căn nhà, 01 căn đổ xuống sông, hư hỏng khoảng 33m bờ kè, sụp lún nhiều đoạn đường gây ảnh hưởng giao thông cục bộ tại các khu vực bị sạt lở.
Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp 6 tháng đầu năm 2026 tăng 7,14%
- 02/07/2026 14:07
Đồng Tháp bước vào thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 trong điều kiện kinh tế của Tỉnh, cả nước và trên thế giới tiếp tục gặp nhiều khó khăn, thách thức: Cạnh tranh giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, gia tăng căng thẳng địa chính trị. Thiên tai, hạn hán, bão lũ, biến đổi khí hậu gây hậu quả nghiêm trọng; nguy cơ về an ninh năng lượng, an ninh lương thực, gia tăng... Lạm phát mặc dù hạ nhiệt nhưng vẫn cao hơn mục tiêu; nhiều nền kinh tế lớn tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ thắt chặt, duy trì mức lãi suất cao; thương mại, tiêu dùng và đầu tư toàn cầu phục hồi chậm... đã làm cho môi trường kinh tế không thuận lợi ảnh hưởng mạnh đến nền kinh tế vốn hướng mạnh về xuất khẩu của Việt Nam. Trên địa bàn tỉnh, với quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu đã đề ra, cả hệ thống chính trị đã vào cuộc, diều hành linh hoạt, đưa ra các giải pháp phù hợp cùng với sự đồng thuận của các doanh nghiệp, nhân dân trên trên địa bàn tỉnh, kinh tế của tỉnh tăng trưởng tích cực, quý sau tăng cao hơn quý trước. Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 120.745 tỷ đồng, (giá so sánh năm 2020) tăng 7,14% so với 6 tháng đầu năm 2025 (quý I tăng 6,66%, quý II tăng 7,67%), tăng cao hơn cùng kỳ 0,13% (cùng kỳ tăng 7,01%). Với tốc độ tăng trưởng 7,14%, Đồng Tháp xếp hạng thứ 2/5 tỉnh khu vực vùng đồng bằng sông Cửu Long (1. An Giang tăng 8,83%; 2. Đồng Tháp tăng 7,14%; 3. TP Cần Thơ tăng 6,70%; 4. Cà Mau tăng 6,60; 5. Vĩnh Long tăng 6,41%). Khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,15%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,52%, khu vực dịch vụ tăng 8,06% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 7,61% so cùng kỳ. Trong 7,14% tăng trưởng, khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản đóng góp 1,34%, khu vực công nghiệp và xây dựng đóng góp 2,44%, khu vực dịch vụ đóng góp 2,88% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đóng góp 0,48%. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản: 6 tháng đầu năm 2026 tăng 4,15% so với 6 tháng đầu năm 2025 (quý I tăng 3,66%, quý II tăngg 4,90%); trong đó nông nghiệp tăng 4,39%. Tình hình sản xuất nông nghiệp 6 tháng đầu năm thuận lợi, không chịu tác động nhiều của hạn mặn như những năm trước. Trên địa bàn tỉnh từng bước được cơ cấu lại theo hướng nâng cao giá trị, hiệu quả và phát triển bền vững; đã hình thành nhiều vùng chuyên canh quy mô lớn, hướng đến nền nông nghiệp công nghệ cao, hiện đại, nông dân đã chuyển đổi giống, mô hình canh tác xen canh, gối vụ với nhiều loại rau, củ, quả có giá trị kinh tế cao, dễ tiêu thụ; ứng dụng tiến bộ của khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất tiết kiệm chi phí, tăng năng suất, chuyển đổi diện tích đất lúa, đất màu kém hiệu quả sang trồng cây ăn quả có giá trị kinh tế cao hơn. Tuy nhiên trong 6 tháng đầu một số sản phẩm chủ lực của tỉnh như: lúa, sầu riêng, mít, thanh long… có giá bán thấp so cùng kỳ, cùng với tác động tăng giá xăng, dầu ảnh hưởng đến thu nhập của người dân. Ngành chăn nuôi tiếp tục duy trì sự ổn định và có nhiều yếu tố thuận lợi. Giá cả các sản phẩm chăn nuôi cơ bản ổn định giúp người dân yên tâm duy trì và phát triển đàn. Dịch bệnh còn xảy ra ở một số địa phương, nhưng do công tác phòng chống dịch bệnh được thực hiện chặt chẽ, tỷ lệ tiêm phòng đạt cao, góp phần giảm rủi ro và tăng khả năng tái đàn. Ngoài ra, việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật, mô hình chăn nuôi an toàn sinh học và sử dụng giống năng suất cao ngày càng phổ biến, giúp cải thiện hiệu quả sản xuất, chất lượng sản phẩm ngày càng nâng cao. Ngành thủy sản tăng trưởng 2,99% so cùng kỳ (quý I tăng 2,89%, quý II tăng 3,09%), nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản đều tăng. Giá cả ổn định, nên ngư dân đã tập trung đầu tư cho nuôi trồng và khai thác; nhu cầu tiêu thụ thủy sản của thị trường trong nước và phục vụ cho xuất khẩu tăng, kích thích ngư dân đầu tư cho sản xuất. Mặt khác, thời tiết thuận lợi, thủy sản bệnh ít, năng suất cao, sản lượng nuôi trồng tăng so cùng kỳ. Tuy nhiên thời điểm tháng 3, tháng 4 giá xăng dầu tăng cao, số lượng tàu đánh nằm bờ nhiều cũng làm chậm tốc độ tăng trưởng của ngành thuỷ sản. Hiện nay giá xăng dầu đã ổn định, ngư dân tiếp tục ra khơi, bám biển. Khu vực công nghiệp - xây dựng: Trong 6 tháng đầu năm 2026, khu vực công nghiệp – xây dựng trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng khá, trong bối cảnh giá năng lượng tăng làm tăng chi phí vận chuyển, giá nguyên liệu đầu vào, … do tác động của tình hình chiến sự ở Trung Đông, tạo áp lực lớn lên hoạt động sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh; 6 tháng đầu năm tăng 9,52% so với 6 tháng đầu năm 2025 (quý I tăng 8,20%, quý II tăngg 10,80%). Công nghiệp tăng 9,88% (quý I tăng 8,34%, quý II tăng 11,40%); động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ công nghiệp chế biến, chế tạo (tăng 10,20%) nhờ đơn hàng phục hồi, nhu cầu thị trường cải thiện và doanh nghiệp duy trì sản xuất ổn định và có một số đơn vị mới đi vào sản xuất kinh doanh. Một số ngành có chỉ số sản xuất tăng cao như: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 18,68%, sản xuất đồ uống tăng 28,89%, dệt tăng 12,98%, sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 52,31%,… Bên cạnh đó cũng có một số ngành có tỷ trọng lớn khó khăn về thị trường tiêu thụ, đơn hàng giảm so cùng kỳ như: Sản xuất trang phục giảm 3,85%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 5,42%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa, sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện giảm 21,24%; sản xuất hoá chất và các sản phẩm từ hoá chất giảm 6,39%, Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 24,0%,... Ngành xây dựng 6 tháng đầu năm 2026 ước tăngg 7,40% so với cùng (quý I tăng 7,23%, quý II ước tăng 7,54% so cùng kỳ). Trong lĩnh vực đầu tư công, trong 6 tháng đầu năm chủ yếu thực hiện các công trình chuyển tiếp từ năm 2025 chuyển sang, công trình mới chưa nhiều; Trong quý II với sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị, các chủ đầu tư tập trung đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình trọng điểm, đồng thời phối hợp với các địa phương đẩy mạnh đầu tư hạ tầng bệnh viện, trường học, giao thông nông thôn, chỉnh trang đô thị. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại các khó khăn mang tính đặc thù như biến động giá vật liệu xây dựng, thiếu nguồn cung cát, đá, vướng mắc giải phóng mặt bằng, ảnh hưởng đến tiến độ và hiệu quả đầu tư, ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng của ngành xây dựng. Khu vực dịch vụ: tăng 8,06% so cùng kỳ (cùng kỳ tăng 7,55%); hầu hết các ngành trong khu vực này đều tăng, nhu cầu tiêu dùng, mua sắm của người dân trong kỳ tăng cao nên hoạt động thương mại và dịch vụ diễn ra khá sôi động và có mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước. Tỉnh đã tổ chức nhiều sự kiện để thu hút du khách đến địa bàn tỉnh như: Festival Hoa – Kiểng Sa Đéc, chợ quê, khánh thành tượng đài Bác Hồ kết hợp với triển lãm, Lễ hội Trái cây tỉnh Đồng Tháp lần I, Lễ hội Sen Đồng Tháp … Một số ngành có tốc độ tăng trưởng khá so cùng kỳ như: Ngành thương mại ước tăng 9,11% so cùng kỳ năm trước; ngành vận tải, kho bãi tăng 9,06%; ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 10,64%; ngành thông tin và truyền thông tăng 6,94%; Hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ tăng 8,5%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 9,97%; … Cơ cấu kinh tế: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 31,0% (cùng kỳ 33,2%); khu vực công nghiệp, xây dựng chiếm 26,6% (cùng kỳ 25,2%); khu vực dịch vụ chiếm 36% (cùng kỳ 35,3%); thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 6,4 %, (cùng kỳ 6,3%). Mục tiêu tăng trưởng trong năm 2026 của tỉnh phấn đấu đạt từ 8,0 – 8,5%, với kết quả ước thực hiện 6 tháng đầu năm tăng 7,14%, để đạt mục tiêu tăng trưởng cả năm, thì 6 tháng cuối năm phải tăng từ 8,76% - 9,70%. Để đạt được mục tiêu tăng trưởng cả năm, trong 6 tháng cuối năm các Sở ngành, địa phương theo nhiệm vụ được phân công cần thực hiện tốt các giải pháp sau: Khu vực Nông - Lâm - Thủy sản: Tiếp tục triển khai thực hiện Chương trình Phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp giai đoạn 2026 - 2030; đề án Phát triển bền vững 01 triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030 nhằm tạo chuyển biến rõ nét về năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng trong sản xuất nông nghiệp. Tiếp tục chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi hợp lý, hiệu quả và thích ứng với thị trường. Tập trung quản lý mã số vùng trồng, an toàn thực phẩm, xây dựng cơ sở chăn nuôi an toàn dịch bệnh, sinh học. Đẩy mạnh phát triển sản phẩm OCOP gắn với thương hiệu nông sản đặc trưng. Phát triển kinh tế tập thể, liên kết sản xuất tiêu thụ góp phần ổn định sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế và phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững, lâu dài. Kêu gọi đầu tư phát triển công nghiệp chế biến nông lâm thủy sản, nâng cao tỷ trọng chế biến các mặt hàng nông sản có giá trị gia tăng cao. Tiếp tục phát huy vai trò cầu nối, giới thiệu, liên kết hợp tác sản xuất, tiêu thụ nông sản; hỗ trợ phát triển chuỗi cung ứng nông sản vào kênh phân phối trong và ngoài nước, nhất là đưa sản phẩm hàng hóa tham gia các sàn thương mại điện tử; chú trọng phát triển chuỗi cung ứng nông sản sạch, an toàn, sản phẩm OCOP, sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu vào kênh phân phối hiện đại. Đẩy mạnh việc hình thành và phát triển thêm các vùng chuyên canh cây ăn trái đặc sản, giá trị kinh tế cao, có lợi thế ngày càng cạnh tranh. Hiện toàn tỉnh có 1.147 vùng trồng cây ăn trái (gần 51.270 ha) được cấp 2.758 mã số được phê duyệt phục vụ xuất khẩu và đã xây dựng được 438 mã số cơ sở đóng gói đủ tiêu chuẩn xuất khẩu sang các thị trường khó tính như Mỹ, Úc, EU, Hàn Quốc và duy trì ưu thế tại Trung Quốc thông qua đường xuất khẩu chính ngạch. Hỗ trợ nông dân trong việc tiêu thụ hàng hoá, xuất khẩu, tránh trường hợp “được mùa mất giá, được giá mất mùa”, tạo động lực để nông dân tập trung đầu tư cho sản xuất. Khu vực Công nghiệp - Xây dựng Tiếp tục mở các Hội nghị gặp gỡ doanh nghiệp, nắm bắt tâm tư nguyện vọng của doanh, giải quyết kịp thời các đề xuất kiến nghị của doanh nghiệp. Hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu tham gia các hoạt động xúc tiến thương mại ở nước ngoài, các hội chợ, triển lãm chuyên ngành và chương trình kết nối giao thương nhằm tìm kiếm đối tác, mở rộng thị trường xuất khẩu. Đồng thời, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thông tin thị trường, cập nhật các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế, các quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật và yêu cầu của thị trường nhập khẩu; nâng cao năng lực tận dụng hiệu quả các Hiệp định thương mại tự do (FTA), đa dạng hóa thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy xuất khẩu bền vững. Đẩy nhanh tiến độ đầu tư hạ tầng, sớm đưa cụm công nghiệp đi vào hoạt động; kịp thời tháo gỡ khó khăn vướng mắc cho doanh nghiệp, nâng cao tỷ lệ lấp đầy cụm công nghiệp. Tạo dộng lực tăng trưởng trong 6 tháng cuối năm và là dư địa để tăng trưởng trong các năm tiếp theo. Tăng cường quản lý, giám sát chặt chẽ công tác đầu tư công; kịp thời tháo gỡ các khó khăn vướng mắc; đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công đã giao trong năm 2026. Tập trung tháo gỡ vướng mắc trong bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư; tạo chuyển biến rõ nét trong tiến độ thực hiện các dự án trọng điểm; bố trí nguồn lực cho hạ tầng kỹ thuật, giao thông, logistics… Tổ chức thực hiện hiệu quả các giải pháp tháo gỡ và thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển an toàn, lành mạnh, bền vững. Đẩy mạnh phát triển nhà ở xã hội, phấn đấu hoàn thành trong năm. Đẩy nhanh tiến độ triển khai các công trình giao thông trọng điểm, đột phá, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Chủ động phối hợp với các Bộ, ngành nhằm sớm triển khai đầu tư các công trình giao thông trọng điểm. Tập trung đẩy nhanh giải quyết thủ tục đất đai, khó khăn, vướng mắc, nhất là công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư; đẩy nhanh tiến độ các dự án đầu tư trên địa bàn do tỉnh quản lý. Tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp hoàn thiện thủ tục đầu tư xây dựng hạ tầng khu, cụm công nghiệp; thu hút dự án thứ cấp; đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án đã được chấp thuận chủ trương đầu tư. Khu vực Thương mại - Dịch vụ Hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng công nghệ thông tin và thương mại điện tử trong hoạt động sản xuất kinh doanh giúp phát triển giao dịch trên các sàn thương mại điện tử uy tín. Kêu gọi đầu tư phát triển hạ tầng logistics, trung tâm thương mại, siêu thị, chợ đầu mối… tại các đô thị trung tâm và khu cửa khẩu. Đổi mới hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại; mở rộng thị trường khách du lịch trong và ngoài nước; tăng cường liên kết phát triển du lịch liên vùng và liên ngành, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, quảng bá và cung cấp dịch vụ du lịch; triển khai các tiện ích số phục vụ khách du lịch và hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng nền tảng số trong hoạt động kinh doanh. Kích cầu tiêu dùng, đẩy mạnh thực hiện hiệu quả cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” góp phần mở rộng thị trường trong nước, hỗ trợ sản xuất, kinh doanh và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến thương mại và hỗ trợ doanh nghiệp thâm nhập thị trường có FTA với Việt Nam, thị trường mới, thị trường tiềm năng và mở rộng thị trường xuất khẩu…nhằm đa dạng hóa thị trường xuất khẩu. Xây dựng hình ảnh du lịch an toàn, thân thiện, hấp dẫn, thu hút du khách trên cơ sở phát huy các tiềm năng về du lịch sinh thái, các khu di tích lịch sử - văn hóa, các đô thị, du lịch văn hóa, cộng đồng, du lịch thể thao và liên kết phát triển với các tỉnh, thành trong khu vực. N.V.Tròn
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Tháp tháng 05 năm 2026
- 01/06/2026 14:22
Trong tháng, kinh tế - xã hội của tỉnh tiếp tục phát triển, các hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh có nhiều khởi sắc, hầu hết các ngành, lĩnh vực đều tăng so cùng kỳ. Kết quả thực hiện trên các lĩnh vực đạt được như sau:I. SẢN XUẤT NÔNG LÂM NGHIỆP VÀ THỦY SẢN1. Nông nghiệp* Trồng trọt:Cây lương thực có hạt:diện tích gieo trồng cộng dồn từ đầu vụ sản xuất ước đạt 382.843 ha, giảm 12,3% so cùng kỳ; trong đó cây lúa gieo sạ 379.654 ha, giảm 12,4%- Cây lúa:+ Vụ Đông xuân 2025 – 2026: diện tích gieo trồng ước tính 223.450 ha, đạt 98,4% kế hoạch và giảm 2,7% so cùng kỳ, tương ứng giảm 6.229 ha; do chậm tiến độ sản xuất nên khoảng 4.022 ha không gieo sạ vụ Đông Xuân, chuyển đổi sang cây lâu năm 1.594 ha, cây hàng năm khác 533 ha, nuôi trồng thủy sản 55 ha, đất phi nông nghiệp là 25 ha. Lúa Đông xuân 2025-2026 đã thu hoạch 221.080 ha, chiếm 98,9% diện tích gieo trồng của vụ; Năng suất thu hoạch bình quân ước đạt 72,5 tạ/ha, tăng 0,8% so cùng kỳ với sản lượng thu hoạch ước đạt 1.602.830 tấn, giảm 3,0% sản lượng so với cùng kỳ. Cơ cấu giống lúa vụ Đông Xuân 2025 - 2026 tập trung vào các giống chất lượng cao, chịu mặn/phèn tốt, thời gian sinh trưởng ngắn (85-95 ngày) như: OM 18 (chiếm 36,0%); Đài Thơm 8 (chiếm 26,2%); OM 5451 (chiếm 4,2%); Nàng Hoa 9 (chiếm 2,3%); OM 380 (chiếm 1,9%); OM 4900 (chiếm 1,9%); các giống ST 24, ST 25 (chiếm 1,4%); IR50404 (chiếm 6,5%); các giống lúa nếp (chiếm 12,2%), giống lúa khác còn lại chiếm 7,4%.+ Vụ Hè thu 2026: tính đến ngày 20/5, toàn tỉnh gieo sạ được 156.203 ha, đạt 69,0% so với kế hoạch, giảm 36,1% so với cùng kỳ. Lịch xuống giống được triển khai theo từng vùng, đảm bảo né rầy, thích ứng điều kiện thời tiết và nguồn nước như: đối với vùng sản xuất 3 vụ, xuống giống đợt 1 từ ngày 17 đến 24-2-2026, đợt 2 từ ngày 18 đến 25-3-2026 và đợt 3 từ ngày 10 đến 20-5-2026. Đối với vùng sản xuất 2 vụ, xuống giống đợt 1 từ ngày 18 đến 25-3-2026 và đợt 2 từ ngày 17 đến 24-4-2026. Riêng khu vực ven biển xuống giống từ ngày 10 đến 25-5-2026 và chỉ thực hiện khi mùa mưa bắt đầu, đảm bảo nguồn nước ngọt. Năm nay, do tình hình nắng nóng kéo dài nên một số khu vực xuống giống chậm hơn kế hoạch. Do lịch xuống giống khác nhau cho từng khu vực nên tình hình thu hoạch lúa cũng không đồng loạt. Vụ lúa Hè thu đã bắt đầu thu hoạch ở các xã, phường như: phường Hồng Ngự, phường An Bình, xã An Hòa, xã Long Khánh, xã Phương Thịnh, xã Trường Xuân, xã Mỹ Quí, xã Tháp Mười, xã Đốc Binh Kiều, xã Thanh Mỹ và xã Hậu Mỹ với diện tích thu hoạch 24.587 ha; Năng suất thu hoạch ước đạt 65,1 tạ/ha với sản lượng thu hoạch ước đạt 162.520 tấn, giảm 55,9% so với cùng kỳ. Hình 1. Diện tích gieo trồng một số cây hàng năm tính đến 20/5/2026- Cây ngô: diện tích gieo trồng tính đến ngày 20/5/2026 ước đạt 3.189 ha, tăng 14,4% so cùng kỳ, tương ứng tăng 400,3 ha.- Cây rau đậu các loại: diện tích gieo trồng tính đến 20/5/2026 ước đạt 39.827 ha, tăng 0,5% so với cùng kỳ; trong đó rau các loại đạt 39.615 ha, chiếm 99,5% so với tổng diện tích cây rau đạu các loại, tăng 0,4%.*Chăn nuôi: ước tổng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh tại thời điểm 31/5/2026 như sau: đàn trâu 2,1 nghìn con, giảm 27,2%; đàn bò 145,8 nghìn con, giảm 4,4% so cùng kỳ; đàn lợn 426,5 nghìn con, giảm 2,5%; đàn gia cầm 22,4 triệu con, tăng 1,5%. Đàn trâu giảm chủ yếu do hiệu quả kinh tế thấp, thời gian nuôi kéo dài trong khi diện tích chăn thả ngày càng thu hẹp. Đàn bò giảm do hiệu quả chăn nuôi chưa tương xứng với chi phí đầu tư nên người chăn nuôi còn thận trọng trong tái đàn. Đàn lợn giảm do giá thức ăn chăn nuôi duy trì ở mức cao. Đàn gia cầm tăng nhờ dịch bệnh được kiểm soát tốt, nhu cầu tiêu dùng tăng; các cơ sở chăn nuôi chủ động tái đàn gắn với kiểm soát con giống, tiêm phòng và áp dụng mô hình chăn nuôi an toàn sinh học.*Tình hình dịch bệnh trên vật nuôi trong tháng (theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đồng Tháp):+ Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: trong tháng xảy ra 03 trường hợp với 38 con lợn bệnh (tổng đàn 134 con) tại 02 xã (xã Tân Hộ Cơ và Bình Ninh). Cộng dồn từ đầu năm đến tháng báo cáo xảy ra 56 trường hợp với số lợn mắc bệnh 967 con (tổng đàn 1.979 con), đã tiêu huỷ 1.822 con với khối lượng tiêu huỷ là 82.349 kg.+ Bệnh Lở mồm long móng: trong tháng không phát sinh. Cộng dồn từ đầu năm đến tháng báo cáo xảy ra 03 trường hợp lợn bệnh tại cơ sở giết mổ xã Mỹ Lợi, đã tiêu hủy 09 con lợn trên với khối lượng 1.190 kg.+ Bệnh viêm da nổi cục: trong tháng không phát sinh. Cộng dồn từ đầu năm đến tháng báo cáo xảy ra 02 hộ với 03 con bò bệnh (tổng đàn 07 con) tại xã Lương Hòa Lạc.Hình 2. Chăn nuôi tại thời điểm 31/5/20262. Lâm nghiệp: Diện tích rừng trồng mới tập trung: trong tháng có 9,0 ha rừng được trồng mới tập trung, giảm 8,2% tương đương giảm 0,8 ha so với cùng kỳ. Cộng dồn đến tháng 5/2026 có 100,4 ha rừng được trồng mới tập trung, giảm 0,5% tương đương giảm 0,5 ha so với cùng kỳ.Cây phân tán: trong tháng, toàn tỉnh thực hiện trồng mới được 37,8 ngàn cây phân tán các loại, tăng 6,0% so cùng kỳ. Cộng dồn đến tháng 5/2026 số lượng cây phân tán ước đạt 145,8 nghìn cây, giảm 3,0%, tương đương giảm 4,5 nghìn cây so với cùng kỳ.Sản lượng gỗ khai thác: trong tháng sản lượng gỗ khai thác ước đạt 13.527 m3; giảm 7,0% so với cùng kỳ. Cộng dồn đến tháng báo cáo ước đạt 61.083 m3 gỗ được khai thác, giảm 3,4% so với cùng kỳ.3. Thủy hải sản: Tổng diện tích thả nuôi thâm canh trong tháng ước đạt 309 ha, tăng 2,5% so cùng kỳ. Tổng diện tích thả nuôi thâm canh 5 tháng đầu năm 2026 ước đạt 6.621 ha, tăng 2,8% so cùng kỳ, trong đó: cá tra đạt 1.634 ha (tăng 4,0%), tôm sú 2.836 ha (tăng 0,6%), tôm thẻ chân trắng 2.150 ha (tăng 4,8%).Sản lượng thủy sản nuôi và khai thác biển trong tháng ước đạt 98.999 tấn, tổng số sản lượng thủy sản nuôi và khai thác biển từ đầu năm đến tháng báo cáo ước đạt 401.167 tấn, tăng 1,4% so cùng kỳ, bao gồm:- Sản lượng thủy sản nuôi trong tháng ước đạt 88.477 tấn, tăng 4,5% so cùng kỳ. Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, thu hoạch ước đạt 350.252 tấn, tăng 1,3% so cùng kỳ, trong đó: sản lượng cá đạt 317.070 tấn (tăng 1,3%); sản lượng tôm đạt 18.220 tấn (tăng 2,0%);…. Sản lượng nuôi cơ bản ổn định nhờ thời tiết tương đối thuận lợi, dịch bệnh được kiểm soát, năng suất nuôi duy trì ở mức khá.- Sản lượng thủy sản khai thác biển trong tháng ước đạt 10.522 tấn, tăng 3,7% so cùng kỳ. Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, thu hoạch ước đạt 50.915 tấn, tăng 1,8% so cùng kỳ, trong đó: cá đạt 34.289 tấn (tăng 1,0%); tôm đạt 3.629 tấn (tăng 1,7%);…. Sản lượng khai thác biển cơ bản ổn định, nguồn lợi thuỷ sản phong phú, đa dạng.II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆPƯớc tính chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 5/2026 tăng 4,19% so với tháng trước và tăng 13,43% so với cùng kỳ. Trong đó, ngành khai khoáng tăng tăng 25,24% so với cùng kỳ; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,69% so với cùng kỳ; ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước, điều hoà không khí tăng 15,08% so với cùng kỳ; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý, xử lý rác thải, nước thải giảm 1,54% so với cùng kỳ. Cộng dồn 5 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 11,49% so với cùng kỳ năm trước. Sự tăng trưởng này được dẫn dắt chủ lực bởi ngành công nghiệp chế biến, chế tạo với tốc độ tăng đạt 12,29%, tiếp theo là ngành khai khoáng tăng 12,75%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 3,43%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,15%.Chỉ số sản xuất sản phẩm 5 tháng đầu năm 2026 so cùng kỳ như sau:Có 70/111 sản phẩm có chỉ số sản xuất tăng so cùng kỳ: cát đen tăng 12,7%; phi lê đông lạnh tăng 23,6%; bột mịn, bột thô và bột viên từ cá tăng 41,7%; quả và hạt ướp lạnh tăng 58,1%; gạo đã xát toàn bộ hoặc sơ bộ tăng 8,5%; thức ăn cho gia súc tăng 17,0%; thức ăn cho gia cầm tăng 44,1%; thức ăn cho thủy sản tăng 13,1%; bia đóng lon tăng 22,8%; bộ com lê, quần áo cho người lớn dệt kim hoặc đan móc tăng 1,4%; áo phông, áo may ô và các loại áo lót khác cho người lớn dệt kim hoặc đan móc tăng 87,3%; giày, dép không thấm nước có đế ngoài và mũ bằng cao su hay plastic tăng 33,8%; thuốc và dược phẩm các loại tăng mạnh; bao và túi từ plastic khác tăng 53,1%; ống và ống dẫn bằng đồng tăng 11,8%; điện mặt trời tăng 29,4%;…Có 39/111 sản phẩm có chỉ số sản xuất giảm so cùng kỳ: bia đóng chai giảm 18,5%; thuốc lá có đầu lọc giảm 28,9%; bộ com-lê, quần áo cho người lớn không dệt kim hoặc đan móc giảm 36,3%; túi xách giảm 17,7%; giày, dép các loại giảm từ 0,4% đến 25,7%; thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm giảm 17,8%; nước uống được giảm 0,5%;…Hình 3. Chỉ số sản xuất công nghiệp 5 tháng đầu năm 2026* Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Trong tháng 5/2026, tình hình tiêu thụ và tồn kho của ngành công nghiệp chế biến chế tạo đều tăng so với cùng kỳ: chỉ số tiêu thụ (CSTT) tăng 2,01% so với tháng trước và tăng 8,37% so cùng kỳ; chỉ số tồn kho (CSTK) tăng 19,89% so với tháng trước và tăng 92,97% so với cùng kỳ; cụ thể như sau:- Các ngành có CSTT tăng, CSTK tăng cao hơn CSTT phản ánh xu hướng nhu cầu tiêu dùng tăng trong thời gian tới, doanh nghiệp gia tăng sản xuất đáp ứng các đơn hàng, tăng hàng tồn kho: sản xuất chế biến thực phẩm (CSTT tăng 13,11%, CSTK tăng 55,47%) nhờ sự phục hồi của các đơn hàng thủy sản và nông sản xuất khẩu; sản xuất đồ uống (CSTT tăng 18,51%, CSTK tăng 95,97%) do tác động tích cực từ yếu tố thời tiết nắng nóng làm sức mua tăng mạnh; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu (CSTT tăng 6,72%, CSTK tăng 55,74%); sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic (CSTT tăng 30,50%, CSTK tăng 30,77%) do Công ty TNHH Lốp Advance Việt Nam đi vào vận hành ổn định. Riêng ngành sản xuất thiết bị điện tăng đột biến (CSTT tăng 298,01%, CSTK tăng 59,42%) chủ yếu do năng lực sản xuất và tiêu thụ tăng cao tại Công ty TNHH Nissei Electric Mỹ Tho.- Các ngành có tình hình sản xuất tốt, tiêu thụ tăng, tồn kho giảm: ngành dệt có sự chuyển biến thuận lợi từ nữa cuối năm trước đến nay (CSTT tăng 2,86% trong khi CSTK giảm mạnh 34,97%); sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất (CSTT tăng 2,59% trong khi CSTK giảm 15,45%).- Các ngành có lượng tiêu thụ giảm, tồn kho tăng so với tháng trước: sản xuất trang phục (CSTT giảm 12,20%, trong khi CSTK tăng 94,44%) và sản xuất da và các sản phẩm có liên quan (CSTT giảm 10,02%, CSTK tăng 11,50%) vì chịu tác động tiêu cực kép từ chi phí đầu vào tăng cùng với rào cản thương mại từ thị trường quốc tế. Ngành sản xuất sản phẩm thuốc lá (CSTT giảm 49,69%, CSTK tăng đến 184,06%) do xu hướng sụt giảm tiêu dùng dài hạn của thị trường; in, sao chép bản ghi các loại (CSTT giảm 13,61%; CSTK tăng 54,31%); sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (CSTT giảm 22,49%; CSTK tăng 39,76%).- Các ngành có CSTT và CSTK đều giảm do tiêu thụ giảm, doanh nghiệp thu hẹp sản xuất: sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy (CSTT giảm 42,73%, CSTK giảm 58,88%); công nghiệp chế biến, chế tạo khác (CSTT giảm 19,82%, CSTK giảm 8,73%).Tính chung 5 tháng đầu năm, chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 9,28% so với cùng kỳ. Trong đó, một số ngành cấp II đóng góp làm tăng chỉ số chung gồm: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 14,98%; dệt tăng 5,01%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 16,05%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 7,94%; sản phẩm từ cao su và plastic tăng 33,89%; sản xuất thiết bị điện tăng 95,90;...* Tình hình thu hút đầu tư và phát triển các khu công nghiệp, khu kinh tế cửa khẩu (KCN, KKTCK):Trong tháng 5/2026, các KCN có 02 dự án đầu tư tư nhân (DDI) mới với vốn đầu tư 108,6 tỷ đồng, có 06 dự án thực hiện điều chỉnh, trong đó điều chỉnh tăng vốn cho 04 lượt dự án với tổng vốn đầu tư tăng thêm là 1,3 nghìn tỷ đồng.Lũy kế đến tháng 5/2026: Các KCN thu hút được 183 dự án (trong đó, có 102 dự án FDI, 81 dự án DDI) với tổng vốn đầu tư là 92,7 nghìn tỷ đồng (trong đó, vốn đầu tư FDI là 3,5 tỷ USD và vốn đầu tư DDI là 13,3 nghìn tỷ đồng); diện tích đất đã cho thuê là 743,6 ha, tỷ lệ lấp đầy 93,0%. Các KKTCK thu hút được 08 dự án DDI, với tổng số vốn đầu tư 198,9 tỷ đồng, diện tích đất 14,2 ha/32,76 ha, tỷ lệ lấp đầy đạt 43,4%.III. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP (Theo báo cáo của Sở Tài Chính)Thành lập mới: trong tháng có 287 doanh nghiệp thành lập mới, giảm 21,4% so với tháng trước; với tổng vốn đăng ký là 1.089 tỷ đồng, giảm 46,2% so với tháng trước. Tính từ đầu năm 2026 đến nay, có 1.468 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 109,4% so với cùng kỳ, đạt 48,9% so với kế hoạch, với tổng vốn đăng ký là 5.678 tỷ đồng, tăng 12,1% so với cùng kỳ.Giải thể, tạm ngừng hoạt động, tái hoạt động: Trong tháng, có 44 doanh nghiệp đã giải thể, giảm 10,2% so với tháng trước; 46 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, giảm 16,4% so với tháng trước; 21 doanh nghiệp hoạt động trở lại, giảm 4,5% so với tháng trước. Tính từ đầu năm đến nay, có 210 doanh nghiệp giải thể, tăng 78,0% so với cùng kỳ; 540 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, tăng 9,8% so với cùng kỳ; 228 doanh nghiệp hoạt động trở lại, bằng 90,1% so với cùng kỳ.IV. ĐẦU TƯ - XÂY DỰNG Tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 5/2026 ước đạt 806 tỷ đồng, tăng 8,4% so với tháng trước và giảm 30,6% so cùng kỳ. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 742 tỷ đồng, tăng 9,0% so tháng trước và giảm 35,5% so cùng kỳ.Tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý 5 tháng đầu năm 2026 ước đạt 3.172 tỷ đồng, bằng 27,9% kế hoạch năm, giảm 30,9% so với cùng kỳ. Trong đó: nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 2.904 tỷ đồng, bằng 28,9% kế hoạch và giảm 36,3% so với cùng kỳ.V. THƯƠNG MẠI - GIÁ CẢ - DỊCH VỤ1. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng:Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trong tháng thực hiện 16.061 tỷ đồng, tăng 2,8% so tháng trước và tăng 14,7% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 11.923 tỷ đồng, tăng 14,3%; lưu trú 62 tỷ đồng, tăng 33%; ăn uống 2.001 tỷ đồng, tăng 14,4%; du lịch lữ hành 28 tỷ đồng, tăng 2,8%; dịch vụ tiêu dùng khác 2.047 tỷ đồng, tăng 17% so cùng kỳ. Năm tháng năm 2026, tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thực hiện 78.780 tỷ đồng, đạt 27,1% kế hoạch, tăng 13,8% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 58.890 tỷ đồng, tăng 14,1%; lưu trú 292 tỷ đồng, tăng 22,4%; ăn uống 9.834 tỷ đồng, tăng 15,1%; du lịch lữ hành 166 tỷ đồng, tăng 29,9%; dịch vụ tiêu dùng khác 9.598 tỷ đồng, tăng 10,5% so cùng kỳ.Hình 4. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng2. Xuất - Nhập khẩu (Theo báo cáo Sở Công Thương)a. Xuất khẩu: Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng ước thực hiện 855 triệu USD, tăng 0,4% so tháng trước và tăng 3,9% so cùng kỳ. Năm tháng xuất khẩu 4.020 triệu USD, đạt 40,2% kế hoạch, tăng 10% so cùng kỳ. Tình hình xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của tỉnh như sau:- Gạo: sản lượng ước tính 274 ngàn tấn, giảm 8,7% so tháng trước và tăng 31,7% so cùng kỳ; giá trị đạt 125 triệu USD, bằng 86,2% so tháng trước và tăng 14,3% so cùng kỳ. Năm tháng xuất 1.222 ngàn tấn, đạt 52% kế hoạch và tăng 10,9%; giá trị xuất đạt 565 triệu USD, đạt 47,9% kế hoạch và tăng 0,8% so cùng kỳ.- Thuỷ sản chế biến: sản lượng xuất đạt 48 ngàn tấn, tăng 14,3% tháng trước và tăng 1,3% so cùng kỳ; giá trị xuất đạt 115 triệu USD, tăng 15% so tháng trước và tăng 0,9% so cùng kỳ. Năm tháng ước tính sản lượng xuất 201 ngàn tấn, đạt 38,7% kế hoạch và tăng 2,3%; giá trị xuất đạt 493 triệu USD, đạt 41,1% kế hoạch và tăng 3,6% so cùng kỳ. - Hàng rau quả: ước đạt 6,8 ngàn tấn, tăng 8,3% so tháng trước và tăng 14,3% so cùng kỳ; kim ngạch xuất đạt 13 triệu USD, tăng 8,3% so tháng trước và tăng 1,8% so cùng kỳ. Năm tháng xuất 28 ngàn tấn, đạt 23,5% kế hoạch và tăng 26,3%; về trị giá đạt 59 triệu USD, đạt 18,6 kế hoạch tăng 42,5% so cùng kỳ.- Sản phẩm công nghiệp: nhóm hàng công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong xuất khẩu của tỉnh ước tính đến cuối tháng 05/2026: kim loại thường khác và sản phẩm (kể cả đồng) đạt 844 triệu USD, tăng 20,7%; sản phẩm từ chất dẻo 449 triệu USD, tăng 12,4%; giày dép 428 triệu USD, tăng 0,1% so cùng kỳ,…b. Nhập khẩu:Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 05/2026 ước đạt 480 triệu USD, tăng 1,6% so tháng trước và tăng 34,1% so cùng kỳ. Năm tháng, kim ngạch nhập khẩu 2.386 triệu USD, đạt 47,7% kế hoạch, tăng 10,8% so cùng kỳ.Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của tỉnh trong tháng 05/2026 như: kim loại thường khác (nguyên liệu đồng) ước đạt 802 triệu USD, tăng 17,7%; nguyên phụ liệu dệt may, da giày, túi xách ước đạt 263 triệu USD, tăng 4,4%; chất dẻo nguyên liêu 129 triệu USD, tăng 27,4%; mặt hàng khác ước đạt 724 triệu USD, giảm 5,5%; sắt thép các loại ước đạt 201 triệu USD, giảm 2,7% so cùng kỳ…3. Chỉ số giá: Thời tiết trong tháng nắng nóng kéo dài nhu cầu sử dụng điện và nước sinh hoạt của người dân tăng nên giá điện sinh hoạt và nước sinh hoạt tăng. Giá xăng dầu, giá gas điều chỉnh theo giá nhiên liệu thế giới; giá nguyên vật liệu đầu vào tăng là nguyên nhân dẫn đến tăng giá các mặt hàng ăn uống ngoài gia đình và nhiều mặt hàng thiết yếu khác đó cũng là những nguyên nhân chính làm cho chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 5/2026 tăng 0,68% (thành thị tăng 0,53%, nông thôn tăng 0,72%) so tháng 4/2026; tăng 5,57% so cùng kỳ.So với tháng 4/2026, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 10 nhóm tăng: nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,41%; Giao thông tăng 1,1%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,78%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,56%; văn hóa, giải trí và du lịch 0,44%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,30%; thông tin và truyền thông tăng 0,28%; may mặc, mũ nón và giầy dép tăng 0,15%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,06%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,12%. Nhóm Giáo dục có chỉ số ổn định.Nguyên nhân do tác động của một số mặt hàng có chỉ số giá tăng so với tháng trước:- Nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,41%; tác động làm tăng CPI chung 0,26 điểm phần trăm, tác động chủ yếu của một số mặt hàng như: Chỉ số giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,89% do điều chỉnh giá xăng dầu tăng nên chi phí vận chuyển tăng theo làm giá các loại VLXD như xi măng, sắt, thép, cát... có giá tăng so với tháng trước; chỉ số giá dịch vụ sửa chữa nhà tăng 0,02% do nhu cầu xây dựng nhà ở đầu năm tăng; chỉ số giá điện tăng 4,84%; nước sinh hoạt tăng 0,03% so với tháng trước do thời tiết nắng nóng oi bức kéo dài nên nhu cầu sử dụng điện, nước sinh hoạt tăng; giá gas petrolimex bình 12kg tăng 4,95% so tháng trước do điều chỉnh theo giá nhiên liệu thế giới.- Nhóm giao thông tăng 1,10%; tác động làm tăng CPI chung 0,11 điểm phần trăm, giá xăng dầu trong nước điều chỉnh theo giá xăng dầu thế giới. Từ 26/4 đến 25/5/2026 có 4 lần điều chỉnh giá xăng dầu cụ thể như: có 2 lần điều chỉnh tăng vào các ngày 29/4 và 21/5; 2 lần điều chỉnh giảm 7/5 và 14/5; trong đó giá xăng tăng 2,06%, giá dầu diezen giảm 16,44%.- Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,78%, tác động làm tăng CPI chung 0,03 điểm phần trăm, chủ yếu ở các nhóm hàng: rượu các loại tăng 0,32%, bia các loại tăng 1,22%, thuốc hút tăng 0,72% so với tháng trước.- Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,56%;+ Chỉ số giá nhóm hàng lương thực tăng 0,43%, góp phần làm CPI chung tăng 0,02 điểm phần trăm. Cụ thể như: giá gạo bán lẻ tăng 0,46%, do chi phí sản xuất tăng, nguồn cung chưa dồi dào nên giá lúa có tăng nhẹ; giá ngô tăng 0,41%; khoai lang tăng 0,06%; sắn tăng 0,43% so với tháng trước.+ Chỉ số giá nhóm hàng thực phẩm tăng 0,69%, góp phần làm CPI chung tăng 0,15 điểm phần trăm.Giá thịt lợn tăng 0,46% do nguồn cung giảm cộng thêm chí phí chăn nuôi tăng; thịt chế biến tăng 0,19%, trong đó thịt quay, giò, chả tăng 0,19%, thịt hợp tăng 0,36%,... Giá rau tươi, khô và chế biến tăng 2,86%, do nguồn cung rau, củ, quả giảm (ảnh hưởng của thời tiết nắng nóng kéo dài), chi phí đầu vào như: hạt giống, phân bón, điện... tăng làm chi phí sản xuất tăng cao. Cụ thể như sau: Bắp cải tăng 0,09%, su hào tăng 1,99%, cà chua tăng 17,74%, giá khoai tây tăng 0,20%, rau muống tăng 2,76%, đỗ quả tươi tăng 7,56%; rau dạng quả, củ tăng 1,22%; rau tươi khác tăng 0,92%...Giá thịt gia cầm tăng 0,32%, trong đó thịt gà tăng 0,24%; thịt gia cầm khác tăng 0,42%, thịt gia cầm đông lạnh tăng 0,52%,... do nhu cầu tiêu thụ của người dân tăng.Giá thủy sản tươi sống tăng 0,44%, trong đó nhóm cá tươi hoặc ướp lạnh tăng 0,52%, tôm tươi hoặc ướp lạnh tăng 0,35%, nhóm thủy hải sản chế chiến khác tăng 0,13%.Chỉ số giá quả tươi và chế biến giảm 0,10% do đang vào vụ thu hoạch của nhiều loại trái cây như xoài, nhãn, táo,.... nên giá bán lẻ tại chợ giảm như sau: xoài giảm 5,22%,...+ Nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 0,35%, do giá gas và giá xăng dầu điều chỉnh theo giá nhiêu liệu thế giới, giá nguyên liệu đầu vào tăng nên nhóm hàng ăn uống ngoài gia đình tăng theo, ăn ngoài gia đình tăng 0,30%, uống ngoài gia đình tăng 0,35%, đồng ăn nhanh mang đi tăng 0,55%.Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 05 tháng năm 2026 tăng 4,09% so với cùng kỳ, Một số chỉ số tăng như: nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,82%, làm CPI chung tăng 1,25 điểm phần trăm do giá nhà ở thuê và giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở đều tăng (chỉ số giá giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 11,90%, chỉ số giá điện sinh hoạt tăng 8,33%); giao thông tăng 5,02%, tác động làm CPI chung tăng 0,50 điểm phần trăm, trong đó giá xăng dầu tăng 8,59%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 4,80%, làm CPI chung tăng 0,28 điểm phần trăm do giá dịch vụ y tế tăng theo Nghị quyết 126/NQ-HĐND ngày 23/12/2025 về quy định giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh trên địa bàn tỉnh; hàng ăn uống và dịch vụ ăn uống tăng 3,71%, tác động làm CPI chung tăng 1,34 điểm phần trăm, trong đó nhóm thực phẩm tăng 4,26%, nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 4,15%, nhóm lương thực tăng 0,79%; giáo dục 3,53%, làm CPI chung tăng 0,15 điểm phần trăm do một số trường đại học, trung học dân lập, mầm non tư thục điều chỉnh học phí;.... chỉ riêng nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,07% tác động không đáng kể đến chỉ số tiêu dùng bình quân chung.Chỉ số giá vàng tháng 5/2026 giảm 3,79% so với tháng 4/2026, tăng 6% so với tháng 12/2025, tăng 60,35% so với bình quân cùng kỳ, tương ứng giảm 602 ngàn đồng/chỉ đối với vàng nhẫn trơn 9999.Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng 5/2026 giảm 0,83% so tháng trước, tương đương giảm 22.195 đồng/100USD và giảm 1,22% so với tháng 12/2025, Bình quân năm tháng tăng 1,65% so cùng kỳ.4. Vận tải:Tình hình vận tải trên địa bàn tỉnh ổn định, đường bộ và đường thủy đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa và đi lại của người dân. Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trong tháng thực hiện 710 tỷ đồng, tăng 1,6% so tháng trước và tăng 11,3% so cùng kỳ. Năm tháng thực hiện 3.622 tỷ đồng, tăng 15,1% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 1.259 tỷ đồng, tăng 23,1%; doanh thu vận tải hàng hóa thực hiện 1.738 tỷ đồng, tăng 11,4%. Doanh thu vận tải đường bộ thực hiện 1.799 tỷ đồng, tăng 20,9%; doanh thu vận tải đường thủy thực hiện 1.198 tỷ đồng, tăng 9,4%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 357 tỷ đồng, tăng 9,4% so cùng kỳ.Vận tải hành khách trong tháng đạt 6.561 ngàn hành khách, tăng 3,1% so tháng trước và tăng 6,6% so cùng kỳ; luân chuyển 216.561 ngàn hành khách.km, tăng 6,4% so tháng trước và giảm 3,7% so cùng kỳ. Năm tháng, vận chuyển 33.502 ngàn hành khách, tăng 10,5%; luân chuyển 1.337.001 ngàn hành khách.km, tăng 20,7% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 13.059 ngàn hành khách, tăng 22,7% và luân chuyển 1.327.164 ngàn hành khách.km, tăng 20,9%; vận tải đường thủy 20.443 ngàn hành khách, tăng 3,9% và luân chuyển 9.837 ngàn hành khách.km, tăng 2,7%.Vận tải hàng hóa trong tháng đạt 2.504 ngàn tấn, tăng 1,7% so tháng trước và tăng 11% so cùng kỳ; luân chuyển 490.891 ngàn tấn.km, tăng 0,9% so tháng trước và tăng 17,6% so cùng kỳ. Năm tháng, vận tải 13.067 ngàn tấn hàng hóa, tăng 16,9%; luân chuyển 2.403.462 ngàn tấn.km, tăng 16,8% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 2.443 ngàn tấn, giảm 1,5% và luân chuyển 414.476 ngàn tấn.km, tăng 9,1% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 10.624 ngàn tấn, tăng 22,2% và luân chuyển 1.988.986 ngàn tấn.km, tăng 18,5% so cùng kỳ.Trong tháng đăng ký mới 10.738 chiếc mô tô xe máy và 1.039 chiếc xe ô tô. Tổng số xe đang quản lý trên địa bàn tỉnh là 3.530.489 chiếc, trong đó mô tô xe máy: 3.524.273 chiếc; 113.748 xe ô tô, 169 xe ba bánh, 666 xe đạp điện và 3.372 xe khác.5. Bưu chính viễn thông:Ngành bưu chính viễn thông đang phát triển mạnh mẽ theo hướng hiện đại hóa, số hóa và tích hợp sâu rộng. Hạ tầng thông tin được nâng cấp, cung cấp các dịch vụ bưu chính số và viễn thông tốc độ cao, đóng vai trò nền tảng cho kinh tế số và xã hội số. Đến cuối tháng 05 năm 2026 tổng số thuê bao điện thoại có trên mạng là 3.629 ngàn thuê bao, thuê bao điện thoại bình quân đạt 106,6 thuê bao/100 dân (bao gồm: hữu tuyến, vô tuyến, trả trước, trả sau). Số thuê bao điện thoại di động có sử dụng Internet (3G, 4G) đến cuối tháng 5 là: 2.905 ngàn thuê bao. Thuê bao internet có trên mạng là 3.723 ngàn thuê bao, mật độ Internet bình quân ước đạt 109,37 thuê bao/100 dân.VI. TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG1. Tài chính:Tổng thu ngân sách nhà nước trong tháng thực hiện 2.941 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn 2.060 tỷ đồng, thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 281 tỷ đồng. Năm tháng, thu 30.468 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn thực hiện 12.254 tỷ đồng, đạt 51,5% dự toán và tăng 7,8% so cùng kỳ; thu nội địa 11.816 tỷ đồng, đạt 50,9% dự toán, tăng 7,5% so cùng kỳ (trong thu ngân sách trên địa bàn: thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 1960 tỷ đồng, đạt 50,9% dự toán, tăng 7,5% so cùng kỳ; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 3.223 tỷ đồng, đạt 67,1% dự toán, tăng 34,5% so cùng kỳ, thu từ hoạt động xổ số kiến thiết 2.868 tỷ đồng, đạt 61,9% dự toán, tăng 19,6% so cùng kỳ...).Tổng chi ngân sách nhà nước trong tháng 2.855 tỷ đồng; trong đó: chi đầu tư phát triển 728 tỷ đồng. Năm tháng, chi 15.304 đồng, đạt 38,1% dự toán, bằng 87.6% so cùng kỳ; trong đó: chi đầu tư phát triển 1.637 tỷ đồng, đạt 18,8% dự toán, bằng 30,9% so cùng kỳ; chi hành chính sự nghiệp 8.651 tỷ đồng, đạt 38,4% dự toán và bằng 91,4% so cùng kỳ.2. Ngân hàng: Mặt bằng lãi suất trên địa bàn tỉnh ổn định tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn vay với chi phí hợp lý.Lãi suất huy động: đến cuối tháng 4/2026, đối với tiền gửi bằng VND có kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng dao động từ 1,85%-8,9%/năm đối với khách hàng cá nhân; từ 2,5%-8,6%/năm đối với khách hàng pháp nhân; tiền gửi trên 12 tháng: dao động từ 2,9%-8,9%/năm đối với khách hàng cá nhân, từ 2,5%-8,2%/năm đối với khách hàng pháp nhân.Lãi suất cho vay: Các tổ chức tín dụng trên địa bàn chấp hành nghiêm mức trần lãi suất cho vay ngắn hạn đối với các lĩnh vực ưu tiên theo quy định của ngân hàng nhà nước. Đến cuối tháng 4/2026 lãi suất cho vay bình quân bằng VND trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp là 8,79%/năm, tăng 1,03%/năm so với cuối năm 2025.Đến cuối tháng 4/2026, vốn huy động ước đạt 215 ngàn tỷ, tăng 7 ngàn tỷ và tăng 3,36% so với cuối năm 2025, tổng dư nợ cho vay của các TCTD trong tỉnh ước đạt 249 ngàn tỷ, tăng 5 ngàn tỷ đồng và tăng 2,24% so với cuối năm 2025. Dự tính đến cuối tháng 5/2026 vốn huy động đạt 217 ngàn tỷ tăng 4,40%; dư nợ cho vay đạt 251 ngàn tỷ tăng 3,26% so với cuối năm 2025.Nợ xấu: đến cuối tháng 04/2026 tỷ lệ nợ xấu/Tổng dư nợ (không bao gồm nợ xấu của các ngân hàng thương mại bị kiểm soát đặc biệt) chiếm 2,5%, giảm 0,01% so cuối năm 2025. Ước thực hiện tháng 05/2026 tỷ lệ nợ xấu/Tổng dư nợ nhỏ hơn 3%.Quỹ tín dụng nhân dân: Đến cuối tháng 4/2026 tổng nguồn vốn huy động 2.778 tỷ đồng, giảm 80 tỷ đồng và giảm 2,80% so với cuối năm 2025. Dư nợ 2.300 tỷ đồng, giảm 39 tỷ đồng, tương đương giảm 1,67% so với cuối năm 2025. Tỷ lệ nợ xấu là 1%.VII. KHOA HỌC CÔNG NGHỆTrong tháng Hội đồng khoa học và công nghệ thực hiện nhiệm vụ tuyển chọn, xét duyệt, thẩm định, đánh giá, nghiệm thu các nhiệm vụ khoa học và công nghệ theo quy định. Tiếp tục quy trình xây dựng Quyết định phân cấp thẩm quyền quản lý nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo sử dụng ngân sách nhà nước, tạo thuận lợi trong công tác quản lý. Họp Hội đồng tư vấn tuyển chọn thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh: 05 nhiệm vụ; lũy kế 17 nhiệm vụ. Thẩm định dự toán kinh phí thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ: 04 nhiệm vụ cấp tỉnh. Hội đồng khoa học và công nghệ chuyên ngành đánh giá, nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ: 01 nhiệm vụ cấp tỉnh, lũy kế: 07 nhiệm vụ cấp tỉnh và 03 nhiệm vụ cấp cơ sở. Góp ý về công nghệ dự án đầu tư: 06 dự án, luỹ kế 31 dự án; Tư vấn 02 hồ sơ thành lập doanh nghiệp khoa học và công nghệ.VIII. CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Lao động việc làm:Trong tháng, đã giải quyết việc làm cho 6.177 lao động; tổng số lao động được giải quyết việc làm từ đầu năm đến nay là 23.517 lao động đạt 47% so với kế hoạch. Tổ chức 12 phiên giao dịch việc làm, ngày hội việc làm và buổi tư vấn cho người lao động thất nghiệp, người đang hưởng bảo hiểm thất nghiệp để kết nối doanh nghiệp đang có nhu cầu tuyển dụng; tổng số phiên từ đầu năm đến nay là 50 phiên, có 99 đơn vị, doanh nghiệp tham gia trực tiếp và trực tuyến, thu hút hơn 22.209 lao động tham dự.Lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài trong tháng là 206 lao động. Tổng số lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài từ đầu năm đến nay là 1.518 lao động, đạt 63,3% kế hoạch, trong đó Hàn Quốc: 779 lao động, Nhật Bản: 559 lao động, Đài Loan: 124 lao động,....Về trợ cấp thất nghiệp, từ đầu năm đến nay có 9.862 lao động được giải quyết chế độ trợ cấp thất nghiệp, với tổng kinh phí chi trả khoảng 227,4 tỷ đồng, góp phần hỗ trợ kịp thời đời sống, giúp người lao động ổn định trong giai đoạn tìm kiếm việc làm mới.2. Chính sách xã hội: Trong tháng, các chế độ ưu đãi đối với người có công được thực hiện đầy đủ, kịp thời. Cụ thể: trợ cấp 1 lần cho người thờ cúng liệt sĩ và chuyển đổi người thờ cúng liệt sĩ, số lượng 28 trường hợp; giải quyết trợ cấp tuất 02 trường hợp; trợ cấp mai táng phí và trợ cấp 01 lần 03 tháng trợ cấp: 72 trường hợp;... Ngoài ra, tổ chức đưa 40 Cựu chiến binh đi tham quan nhà tù Phú Quốc và tổ chức đưa 30 Cựu chiến binh đi tham quan nhà tù Côn Đảo.3. Hoạt động giáo dục:Trong tháng, ngành Giáo dục tiếp tục triển khai đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ giáo dục, bám sát kế hoạch năm học với nhiều hoạt động chuyên môn nổi bật, đặc biệt là công tác chuẩn bị và tổ chức kỳ thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh lớp 10 năm học 2026 – 2027. Kỳ thi tuyển sinh lớp 10 năm học 2026 – 2027 có trên 44,3 nghìn thí sinh đăng ký dự thi, được tổ chức tại 76 Hội đồng coi thi với 1.890 phòng thi, trong đó có 11 điểm thi phụ. Kỳ thi diễn ra trong 2 ngày 27 và 28/5/2026. Đối với các môn không chuyên, thí sinh dự thi 3 môn gồm Ngữ văn, Tiếng Anh và Toán; trong đó môn Tiếng Anh và Toán thi theo hình thức trắc nghiệm khách quan. Công tác chuẩn bị cho kỳ thi được triển khai nghiêm túc, chặt chẽ từ khâu cơ sở vật chất, nhân sự coi thi đến đảm bảo an ninh, an toàn, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho thí sinh tham gia dự thi.4. Hoạt động y tế:Trong tháng có 17/44 bệnh truyền nhiễm được ghi nhận. Cộng dồn số ca mắc so với cùng kỳ, có 15 bệnh tăng (Bệnh do liên cầu lợn ở người, Rubella, Sốt xuất huyết Dengue, Tay - chân - miệng, Viêm màng não do não mô cầu, Dại, Liệt mềm cấp nghi bại liệt, Lao phổi, Thương hàn, Uốn ván khác, Viêm gan vi rút A, Viêm gan vi rút B, Xoắn khuẩn vàng da, Quai bị, Thủy đậu); 7 bệnh giảm (Sởi, Viêm gan vi rút C, Viêm não vi rút khác, Cúm, Lỵ trực trùng, Tiêu chảy, Viêm gan vi rút khác); 22 bệnh tương đương hoặc không xảy ra ca mắc.Các bệnh truyền nhiễm trong tháng ghi nhận: bệnh sốt xuất huyết 925 ca mắc, không có ca tử vong; bệnh tay - chân - miệng 720 ca, không có ca tử vong. Cộng dồn số ca mắc bệnh sốt xuất huyết: 2.996 ca, tăng 1,96 lần so cùng kỳ, 01 ca tử vong (cùng kỳ không có ca tử vong); bệnh tay – chân – miệng: 1.949 ca, tăng 1,24 lần so cùng kỳ.Phòng chống HIV/AIDS trên địa bàn tỉnh tính đến nay là 16.117 người nhiễm HIV; 5.051 người chuyển sang AIDS; 3.928 người tử vong do AIDS.Khám chữa bệnh trong tháng cho 628 nghìn lượt người, giảm 9,9% so cùng kỳ; trong đó, số người điều trị nội trú là 43,4 nghìn lượt người, tăng 3,1%. Cộng dồn từ đầu năm đến tháng báo cáo, đã khám chữa bệnh trên 2,5 triệu lượt người, giảm 10,9%; trong đó, số người điều trị nội trú là 159 nghìn lượt người, giảm 2,3%. Công suất sử dụng giường bệnh bình quân trong tháng đạt 83,9%.5. Hoạt động văn hóa - thể thao:Hoạt động văn hóa nghệ thuật: trong tháng, tổ chức biểu diễn 04 chương trình nghệ thuật phục vụ khoảng 1.600 lượt người xem. Tiêu biểu như chương trình nghệ thuật chào mừng Kỷ niệm 50 năm thành lập Trại giam Phước Hòa năm 2026; chương trình nghệ thuật phục vụ Lễ Giỗ Quốc Tổ Hùng Vương tại Bảo tàng tỉnh; chương trình nghệ thuật phục vụ Kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026) tại Quảng trường Hùng Vương.Hoạt động thư viện: trong tháng, hệ thống thư viện đã phục vụ 73.659 lượt người với 229.395 lượt tài liệu; trong đó phục vụ tại chỗ đạt 53.752 lượt người với 169.674 lượt tài liệu, phục vụ lưu động đạt 19.907 lượt người với 59.721 lượt tài liệu; số lượt truy cập phục vụ qua không gian mạng đạt 493.647 lượt.Hoạt động bảo tàng: trong tháng, tổ chức trưng bày các chuyên đề “Mỹ Tho - Cao Lãnh xưa và nay”, “Sưu tập Đèn dầu (cuối thế kỷ XIX - thế kỷ XX)” phục vụ Kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh; đồng thời tổ chức triển lãm ảnh “Đồng Tháp - Vẻ đẹp di sản” phục vụ Lễ hội vía Bà Chúa Xứ Gò Tháp. Các hoạt động tham quan, trưng bày đã phục vụ 2.875 lượt khách, gồm 25 đoàn khách và 04 lượt khách quốc tế.Hoạt động thể dục, thể thao:Trong tháng, tỉnh phối hợp tổ chức Cuộc đua xe đạp toàn quốc tranh Cúp Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ 38 năm 2026 với các chặng đi qua địa bàn tỉnh; đồng thời phối hợp Hiệp hội Thể thao dưới nước Việt Nam xây dựng kế hoạch tổ chức Giải Bơi và Giải Lặn vô địch các nhóm tuổi quốc gia năm 2026, dự kiến diễn ra từ ngày 20 - 30/5/2026.Công tác đào tạo vận động viên thể thao thành tích cao tiếp tục được duy trì ở 26 môn thể thao. Trong tháng, các đội tuyển thể thao của tỉnh tham dự nhiều giải đấu khu vực, quốc gia và quốc tế, kết quả đạt 119 huy chương các loại, gồm 26 huy chương vàng, 44 huy chương bạc và 49 huy chương đồng.6. Tình hình trật tự an toàn xã hội (theo báo cáo ngành Công an):Trong tháng xảy ra 116 vụ phạm tội về trật tự xã hội, tăng 11,5% vụ so cùng kỳ; Hậu quả là 03 người chết, 45 người bị thương, tài sản thiệt hại khoảng 8,1 tỷ đồng; Cơ quan chức năng đã điều tra, khám phá 108 vụ (đạt tỷ lệ 93,1%), bắt giữ và xử lý 205 đối tượng.Về tội phạm ma túy trong tháng, lực lượng chức năng đã phát hiện và xử lý 76 vụ với 99 đối tượng; trong đó, tàng trữ trái phép chất ma túy 26 vụ với 30 đối tượng; vận chuyển trái phép chất ma túy 01 vụ với 01 đối tượng; mua bán trái phép chất ma túy 04 vụ với 07 đối tượng; tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy 09 vụ với 25 đối tượng; sử dụng trái phép chất ma túy 36 vụ với 36 đối tượng.7. Trật tự an toàn giao thông (theo báo cáo ngành công an tỉnh, số liệu tính từ ngày 15/4/2026 đến 14/5/2026):Tai nạn giao thông đường bộ: trong tháng, xảy ra 42 vụ, giảm 03 vụ so tháng trước và giảm 07 vụ so cùng kỳ. Hậu quả làm chết 35 người (giảm 07 người so tháng trước, giảm 02 người so cùng kỳ) và 12 người bị thương (tương đương so tháng trước, giảm 05 người so cùng kỳ). Cộng dồn từ đầu năm đến tháng báo cáo, toàn tỉnh đã xảy ra 232 vụ, giảm 44 vụ so với cùng kỳ; làm chết 188 người (tăng 06 người) và làm bị thương 85 người (giảm 66 người). Các nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông chủ yếu vẫn do ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông như: Không đi đúng phần đường, làn đường; chuyển hướng, tốc độ, vượt xe khác, thiếu quan sát…Tai nạn giao thông đường thủy: trong tháng xảy ra 01 vụ tai nạn giao thông. Cộng dồn từ đầu năm đến nay là 03 vụ làm chết 02 người, tương đương về số vụ và số người chết so với cùng kỳ.8. Tình hình cháy nổ, môi trường và thiên tai:- Cháy, nổ: trong tháng, xảy ra 03 vụ cháy, tăng 01 vụ so cùng kỳ; thiệt hại về tài sản khoảng 685 triệu đồng. Cộng dồn từ đầu năm đến nay xảy ra 22 vụ cháy, tăng 13 vụ so cùng kỳ; làm 02 người tử vong; thiệt hại tài sản 4,2 tỷ đồng.- Môi trường: trong tháng, 02 vụ vi phạm môi trường (gồm: 01 vụ xả nước thải ra môi trường, 01 vụ khai thác tài nguyên đất trái phép), đã xử lý 02 vụ, tổng số tiền xử phạt là 93,75 triệu đồng. Tính từ đầu năm, xảy ra 06 vụ vi phạm môi trường, giảm 15 vụ so cùng kỳ; đã xử lý 08 vụ với tổng số tiền xử phạt là 912,3 triệu đồng.- Thiên tai: trong tháng trên địa bàn tỉnh xảy ra 03 vụ giông lốc tại các xã Thanh Bình, Trường Xuân, Long Phú Thuận, Tân Long, Ba Sao và Long Định; không gây thiệt hại về người, không ảnh hưởng đến sản xuất, chăn nuôi, nhưng gây thiệt hại về tài sản với tổng giá trị thiệt hại ước tính 1,6 tỷ đồng, cụ thể: sập 06 căn nhà, tốc mái 91 căn; làm gãy, ngã 07 trụ điện cùng nhiều cây xanh trên các tuyến đường chính bị đổ ngã; làm ảnh hưởng khu nhà màng, mái chòi canh và khoảng 200 cây chuối cấy mô của Viện Cây ăn quả Miền Nam.
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Tháp tháng 4 năm 2026
- 13/05/2026 09:01
Tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh trong tháng 4/2026 tiếp tục phát triển. Hoạt động sản xuất kinh doanh các ngành, các lĩnh vực đều tăng so cùng kỳ. Kết quả thực hiện trên các lĩnh vực như sau:I. SẢN XUẤT NÔNG LÂM NGHIỆP VÀ THỦY SẢN1. Nông nghiệp* Trồng trọt:Cây lương thực có hạt: diện tích gieo trồng cộng dồn từ đầu vụ sản xuất ước đạt 320.038 ha, giảm 20,3% so cùng kỳ; trong đó cây lúa gieo sạ 317.250 ha, giảm 20,5%.- Cây lúa:+ Vụ Đông xuân 2025 – 2026: diện tích gieo trồng ước tính 223.450 ha, đạt 98,4% kế hoạch và giảm 2,7% so cùng kỳ, tương ứng giảm 6.230 ha; do chậm tiến độ 4.023 ha, chuyển đổi sang cây lâu năm 1.594 ha, cây hàng năm khác 533 ha, nuôi trồng thủy sản 55 ha, đất phi nông nghiệp là 25 ha. Lúa Đông xuân 2025-2026 đã thu hoạch 197.389 ha, chiếm 88,3% diện tích gieo trồng của vụ; Năng suất thu hoạch bình quân ước đạt 72,5 tạ/ha với sản lượng thu hoạch ước đạt 1.431.070 tấn bằng 86,6% sản lượng so với cùng kỳ.+ Vụ Hè thu 2026: tính đến ngày 20/4, toàn tỉnh gieo sạ được 93.799 ha, đạt 41,4% so với kế hoạch, giảm 44,6% so với cùng kỳ. Lịch xuống giống được triển khai theo từng vùng, đảm bảo né rầy, thích ứng điều kiện thời tiết và nguồn nước như: đối với vùng sản xuất 3 vụ, xuống giống đợt 1 từ ngày 17 đến 24/2/2026, đợt 2 từ ngày 18 đến 25/3/2026 và đợt 3 từ ngày 10 đến 20/5/2026; đối với vùng sản xuất 2 vụ, xuống giống đợt 1 từ ngày 18 đến 25/3/2026 và đợt 2 từ ngày 17 đến 24/4/2026; khu vực ven biển xuống giống từ ngày 10 đến 25-5-2026 và chỉ thực hiện khi mùa mưa bắt đầu, đảm bảo nguồn nước ngọt. Hiện nay, lúa đang trong giai đoạn mạ, đẻ nhánh và làm đòng. Tỉnh đẩy mạnh sử dụng giống ngắn ngày chất lượng cao, thích ứng phèn - mặn, phù hợp từng vùng sinh thái, áp dụng quy trình giảm giống, giảm phân thuốc và cơ giới hóa 100%. Cơ cấu giống lúa vụ Đông Xuân 2025 - 2026 tập trung vào các giống chất lượng cao, chịu mặn/phèn tốt, thời gian sinh trưởng ngắn (85-95 ngày) như: Đài Thơm 8 (chiếm 26,4%); OM 18 (chiếm 35,8%); OM 5451 (chiếm 4,2%); OM 380 (chiếm 1,8%); OM 4900 (chiếm 1,9%); ST 24, ST 25 (chiếm 1,4%); IR50404 (chiếm 6,5%); các giống lúa nếp (chiếm 14,4%), giống lúa khác còn lại chiếm 7,6%. - Cây ngô: diện tích gieo trồng tính đến ngày 20/4/2026 ước đạt 2.789 ha, đạt 38,0% so với kế hoạch, tăng 4,5% so cùng kỳ. Ngô thuộc loại cây ngắn ngày, dễ trồng, dễ chăm sóc. Bên cạnh lấy trái bán cho thương lái; lá, thân ngô khi thu hoạch còn tận dụng làm thức ăn cho gia súc.Hình 1. Diện tích gieo trồng một số cây hàng năm tính đến 20/4/2026- Cây rau đậu các loại: diện tích gieo trồng tính đến 20/4/2026 ước đạt 35.805 ha, tăng 0,7% so cùng kỳ; trong đó: rau các loại 35.615 ha, tăng 0,7% so cùng kỳ.Chăn nuôi: ước tổng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh tại thời điểm 30/4/2026 như sau: đàn trâu 2,0 nghìn con, giảm 2,7%; đàn bò 145,8 nghìn con, giảm 2,7% so cùng kỳ; đàn lợn 403,8 nghìn con, tăng 1,1%; đàn gia cầm 23,4 triệu con, giảm 2,3%. Đàn trâu giảm chủ yếu do hiệu quả kinh tế thấp, thời gian nuôi kéo dài và diện tích chăn thả ngày càng thu hẹp. Đàn bò giảm do chi phí thức ăn ở mức cao. Ngược lại, đàn lợn tăng nhờ công tác phòng, chống dịch bệnh được kiểm soát tốt, tạo điều kiện thuận lợi cho tái đàn, các doanh nghiệp và trang trại quy mô lớn duy trì sản xuất ổn định và từng bước mở rộng quy mô. Đàn gia cầm giảm do chi phí đầu vào cao, thị trường tiêu thụ chưa ổn định, người chăn nuôi còn thận trọng trong tái đàn. Hình 2. Chăn nuôi tại thời điểm 30/4/20262. Lâm nghiệp:Diện tích rừng trồng mới tập trung: trong tháng có 9,5 ha rừng được trồng mới tập trung, giảm 5,9% tương đương giảm 0,6 ha so với cùng kỳ. Cộng dồn đến tháng 4/2026 có 91,4 ha rừng được trồng mới tập trung, tăng 0,3% tương đương tăng 0,3 ha so với cùng kỳ.Cây phân tán: trong tháng, toàn tỉnh thực hiện trồng mới được 18 ngàn cây phân tán các loại, giảm 7,5% so cùng kỳ. Cộng dồn đến tháng 4/2026 số lượng cây phân tán ước đạt 108 nghìn cây, giảm 5,8%, tương đương giảm 6,7 nghìn cây so với cùng kỳ. Số cây trồng phân tán chủ yếu được trồng nhiều vào dịp đầu năm (tháng 01-03/2026), nhằm phát huy phong trào “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026. Ngược lại, vào tháng nắng nóng cao điểm như hiện nay số lượng cây lâm nghiệp trồng phân tán bị thu hẹp do tỷ lệ cây trồng sống thấp, sự phát triển cơ sở hạ tầng ở địa phương làm số lượng trồng cây phân tán ngày càng giảm dần.Sản lượng gỗ khai thác: trong tháng sản lượng gỗ khai thác ước đạt 15.256 m3; giảm 8,9% so với cùng kỳ. Cộng dồn đến tháng báo cáo ước tính có 47.556 m3 gỗ được khai thác, giảm 2,3% so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu do nhiều diện tích rừng chưa đến chu kỳ khai thác, nhu cầu khai thác trong dân giảm; đồng thời công tác quản lý, bảo vệ rừng được tăng cường, định hướng phát triển lâm nghiệp theo hướng bền vững, hạn chế khai thác quá mức.3. Thủy hải sản:Diện tích thả nuôi thâm canh trong tháng ước đạt 1.360 ha, giảm 3,2% so cùng kỳ. Tổng diện tích thả nuôi thâm canh 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 6.117 ha, giảm 1,0% so cùng kỳ, trong đó: cá tra đạt 1.527 ha (tăng 0,9%), tôm sú 2.720 ha (tăng 0,8%), tôm thẻ chân trắng 1.870 ha (giảm 5%). Thời tiết diễn biến chưa thuận lợi, nắng nóng kéo dài làm môi trường ao nuôi biến động, nhiệt độ nước tăng cao, phát sinh nguy cơ dịch bệnh, ảnh hưởng đến tỷ lệ sống và hiệu quả nuôi của tôm thẻ chân trắng. Do đó, người nuôi có xu hướng thận trọng trong thả nuôi.Sản lượng thủy sản nuôi và khai thác biển trong tháng ước đạt 82.213 tấn, nâng tổng số sản lượng thủy sản nuôi và khai thác biển từ đầu năm đến tháng báo cáo ước đạt 301.167, giảm 0,7% so cùng kỳ, bao gồm:- Sản lượng thủy sản nuôi trong tháng ước đạt 72.223 tấn, giảm 1,5% so cùng kỳ. Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, thu hoạch ước đạt 261.775 tấn, tương đương so cùng kỳ, trong đó: sản lượng cá đạt 247.223 tấn (giảm 0,1%); sản lượng tôm đạt 4.096 tấn (tăng 1,1%);…. Sản lượng nuôi cơ bản ổn định nhờ thời tiết tương đối thuận lợi, dịch bệnh được kiểm soát, năng suất nuôi duy trì ở mức khá.- Sản lượng thủy sản khai thác biển trong tháng ước đạt 9.990 tấn, giảm 2,1% so cùng kỳ. Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, thu hoạch ước đạt 39.392 tấn, giảm 4,6% so cùng kỳ, trong đó: cá đạt 26.239 tấn (giảm 4,9%); tôm đạt 2.967 tấn (tăng 3,8%);…. Giá nhiên liệu tăng cao đã làm chi phí khai thác thủy sản tăng đáng kể, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của ngư dân, đặc biệt đối với các tàu khai thác xa bờ. Trong bối cảnh giá đầu vào duy trì ở mức cao, nhiều chủ tàu có xu hướng hạn chế chuyến biển hoặc cầm chừng sản xuất, qua đó tác động đến sản lượng khai thác thủy sản.II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆPSản xuất công nghiệp của tỉnh trong tháng 4/2026 tiếp tục đối mặt với các thách thức, do tác động của xung đột địa chính trị ở Trung Đông làm cho giá năng lượng biến động (tăng chi phí sản xuất, gián đoạn nguồn cung, sụt giảm đơn hàng). Tuy nhiên, các doanh nghiệp vẫn duy trì hoạt động ổn định và kỳ vọng tích cực nhờ các chính sách tài khóa kịp thời của Nhà nước[2].Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 4/2026 ước tăng 1,83% so với tháng trước và tăng 13,24% so với cùng kỳ. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,94% so với tháng trước và tăng 14,03% so với cùng kỳ; ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước, điều hoà không khí tăng 1,33% so với tháng trước và tăng 3,58% so với cùng kỳ; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý, xử lý rác thải, nước thải giảm 1,44% so với tháng trước nhưng tăng 5,99% so với cùng kỳ.Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 11,40% so cùng kỳ, trong đó ngành Công nghiệp chế biến, chế tạo là động lực chính với mức tăng 12,35%, tiếp theo là ngành khai khoáng tăng 8,03%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 0,51%; cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,08%.Hình 3. Chỉ số sản xuất công nghiệp 4 tháng đầu năm 2026Chỉ số sản xuất sản phẩm 4 tháng đầu năm 2026 so cùng kỳ như sau:Có 70/111 sản phẩm có chỉ số sản xuất tăng so cùng kỳ: cát đen tăng 8,0%; gạo đã xát toàn bộ hoặc sơ bộ tăng 4,4%; phi lê đông lạnh tăng 21,4%; bột mịn, bột thô và bột viên từ cá tăng 34,9%; quả và hạt ướp lạnh tăng 45,9%; thức ăn cho gia súc tăng 15,3%; thức ăn cho gia cầm tăng 51,8%; thức ăn cho thủy sản tăng 15,9%; bia đóng lon tăng 19,7%; bộ com lê, quần áo cho người lớn dệt kim hoặc đan móc tăng 0,1%; áo phông, áo may ô và các loại áo lót khác cho người lớn dệt kim hoặc đan móc tăng 59,3%; giày, dép không thấm nước có đế ngoài và mũ bằng cao su hay plastic tăng 34,7%; giày, dép có đế ngoài và mũ bằng cao su, plastic các loại tăng 6,2%; thuốc và dược phẩm các loại tăng mạnh[3]; bao và túi từ plastic khác tăng 49,2%; ống và ống dẫn bằng đồng tăng 11,2%; điện mặt trời tăng 26,0%;…Có 40/111 sản phẩm có chỉ số sản xuất giảm so cùng kỳ: bia đóng chai giảm 23,9%; thuốc lá có đầu lọc giảm 26,1%; túi xách giảm 19,4%; giày, dép thể thao có đế ngoài và mũ giày bằng cao su và plastic giảm 5,8%; giày, dép thể thao có mũ bằng da và có đế ngoài giảm 23,4%; bê tông tươi giảm 3,2%; thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm giảm 1,8%; dịch vụ sản xuất thiết bị điện chiếu sáng giảm 2,8%;…* Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo:Trong tháng 4/2026, tình hình tiêu thụ và tồn kho của ngành công nghiệp chế biến chế tạo đều tăng so với cùng kỳ: chỉ số tiêu thụ tăng 0,89% so với tháng trước và tăng 16,11% so với cùng kỳ; chỉ số tồn kho nhanh hơn gấp đôi chỉ số tiêu thụ (tăng 9,53% so với tháng trước và tăng 32,73% so với cùng kỳ), cụ thể như sau:- Các ngành có chỉ số tiêu thụ (CSTT) tăng, chỉ số tồn kho (CSTK) tăng cao hơn CSTT phản ánh doanh nghiệp gia tăng sản xuất, tăng hàng tồn kho: sản xuất chế biến thực phẩm (CSTT tăng 17,79%, CSTK tăng 47,69%) và sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu (CSTT tăng 17,61%, CSTK tăng 55,33%). Riêng ngành sản xuất thiết bị điện tăng đột biến (CSTT tăng 286,18%, CSTK tăng 50,88%) chủ yếu do sản xuất của Công ty TNHH Nissei Electric Mỹ Tho tăng cao.- Các ngành có tình hình sản xuất tốt, tiêu thụ tăng, tồn kho giảm: ngành dệt (CSTT tăng 33,13% trong khi CSTK giảm mạnh 54,53%); sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic do năng lực sản xuất mới từ dây chuyền mở rộng của Công ty Advance Việt Nam (CSTT tăng 37,84% trong khi CSTK giảm 0,76%); sản xuất kim loại tăng tiêu thụ nhờ nhu cầu nguyên liệu chế tạo pin xe điện và thiết bị năng lượng tái tạo tăng cao, giảm hàng tồn kho (CSTT tăng 14,55% trong khi CSTK giảm 7,24%).- Ngành sản xuất da và các sản phẩm có liên quan gặp khó khăn, sản xuất giảm liên tục từ cuối năm 2025 sau khi Chính phủ Mỹ áp mức thuế quan mới (CSTT giảm 5,53%, trong khi CSTK tăng 20,36%).- Các ngành có CSTT và CSTK đều giảm do tiêu thụ giảm, doanh nghiệp thu hẹp sản xuất: sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy (CSTT giảm 41,84%, CSTK giảm 55,88%); in, sao chép bản ghi các loại (CSTT giảm 40,15%; CSTK giảm 33,28%).Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến chế tạo bốn tháng năm 2026 tăng 11,76% so với cùng kỳ. Trong đó, một số ngành cấp II đóng góp làm tăng chỉ số chung gồm: ngành sản xuất chế biến thực phẩm tăng 15,03%; dệt tăng 13,93%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 27,89%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 13,95%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 37,56%; sản xuất kim loại 13,32%; sản xuất thiết bị điện tăng 92,35%.;...III. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP: (Theo báo cáo của Sở Tài Chính)Thành lập mới: trong tháng có 365 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 62,2% so với tháng trước; với tổng vốn đăng ký là 2.024 tỷ đồng, tăng 69,6% so với tháng trước. Tính từ đầu năm 2026 đến nay, có 1.181 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 121,2% so với cùng kỳ, đạt 39,37% so với kế hoạch, với tổng vốn đăng ký là 5.284 tỷ đồng, tăng 32,4% so với cùng kỳ.Giải thể, tạm ngừng hoạt động, tái hoạt động: Trong tháng, có 49 doanh nghiệp đã giải thể, tăng 75% so với tháng trước; 55 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, tăng 77,4% so với tháng trước; 22 doanh nghiệp hoạt động trở lại, tăng 57,1% so với tháng trước. Tính từ đầu năm đến nay, có 166 doanh nghiệp giải thể, tăng 84,4% so với cùng kỳ; 496 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, tăng 6,7% so với cùng kỳ; 207 doanh nghiệp hoạt động trở lại, bằng 90,4% so với cùng kỳ.IV. ĐẦU TƯ - XÂY DỰNGVới sự quyết liệt trong công tác chỉ đạo, điều hành, tháo gỡ điểm nghẽn của UBND tỉnh, tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện tháng 4/2026 đạt 731 tỷ đồng, tăng 14,8% so với tháng trước. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 672 tỷ đồng, tăng 15,6%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 59 tỷ đồng, tăng 6,8%.So với cùng kỳ năm trước, vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý giảm 23,1%, trong đó vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh giảm 28,7%, vốn ngân sách nhà nước cấp xã tăng 5,8 lần.Tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 2.354 tỷ đồng, bằng 20,7% kế hoạch năm, giảm 31,4% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó:- Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 2.153 tỷ đồng, bằng 21,4% kế hoạch năm, giảm 36,8% so với cùng kỳ năm 2025;- Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp xã 201 tỷ đồng, bằng 15,4% kế hoạch năm, gấp 7,5 lần so với cùng kỳ năm 2025.Thu hút đầu tư: Lũy kế từ đầu năm đến nay, tỉnh thu hút 03 dự án đầu tư ngoài khu công nghiệp, khu kinh tế, trong đó 02 dự án có vốn đầu tư nước ngoài; 01 dự án có vốn đầu tư trong nước, với tổng vốn đăng ký đạt 154,46 tỷ đồng; điều chỉnh tăng vốn 01 dự án với vốn đăng ký tăng thêm hơn 272 tỷ đồng.V. THƯƠNG MẠI - GIÁ CẢ - DỊCH VỤ1. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng:Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trong tháng thực hiện 16.040 tỷ đồng, tăng 1,8% so tháng trước và tăng 14% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 11.907 tỷ đồng, tăng 13%; lưu trú 60 tỷ đồng, tăng 32,8%; ăn uống 1.977 tỷ đồng, tăng 17,1%; du lịch lữ hành 37 tỷ đồng, tăng 36,7%; dịch vụ tiêu dùng khác 2.058 tỷ đồng, tăng 16,1% so cùng kỳ. Bốn tháng năm 2026, tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thực hiện 62.469 tỷ đồng, đạt 21,5% kế hoạch, tăng 13,2% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 46.570 tỷ đồng, tăng 13,1%; lưu trú 230 tỷ đồng, tăng 19,9%; ăn uống 7.832 tỷ đồng, tăng 15,3%; du lịch lữ hành 145 tỷ đồng, tăng 44,8%; dịch vụ tiêu dùng khác 7.692 tỷ đồng, tăng 10,9% so cùng kỳ. Hình 4. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng2. Xuất - Nhập khẩu (Theo báo cáo Sở Công Thương)a. Xuất khẩu:Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng ước thực hiện 880 triệu USD, tăng 0,3% so tháng trước và tăng 7,1% so cùng kỳ. Bốn tháng xuất khẩu 3.194 triệu USD, đạt 31,9% kế hoạch, tăng 12,7% so cùng kỳ. Tình hình xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của tỉnh như sau:b. Nhập khẩu:Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 04/2026 ước đạt 490 triệu USD, tăng 2,1% so tháng trước và tăng 19,8% so cùng kỳ. Bốn tháng, kim ngạch nhập khẩu 1.925 triệu USD, đạt 38,5% kế hoạch, tăng 7,1% so cùng kỳ.Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của tỉnh trong tháng 04/2026 như: kim loại thường khác (nguyên liệu đồng) ước đạt 652,4 triệu USD, tăng 21,9%; nguyên phụ liệu dệt may, da giày, túi xách ước đạt 196 triệu USD, tăng 1,8%; mặt hàng khác ước đạt 582 triệu USD, giảm 16,8%; sắt thép các loại ước đạt 165 triệu USD, giảm 1,9% so cùng kỳ…3. Chỉ số giá:Thời tiết trong tháng nắng nóng kéo dài dẫn đến nhu cầu sử dụng điện sinh hoạt và nước sinh hoạt của người dân tăng nên giá điện sinh hoạt và nước sinh hoạt tăng. Giá xăng dầu, giá gas điều chỉnh theo giá nhiên liệu thế giới cũng là nguyên nhân dẫn đến tăng giá các mặt hàng ăn uống ngoài gia đình, vật liệu xây dựng và nhiều mặt hàng thiết yếu khác đó cũng là những nguyên nhân chính làm cho chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 04/2026 tăng 0,53% (thành thị tăng 0,79%, nông thôn tăng 0,45%) so tháng 03/2026; tăng 4,99% so cùng kỳ.So với tháng 03/2026, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 9 nhóm tăng: nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,75%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,03%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,73%; may mặc, mũ nón và giầy dép tăng 0,55%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,52%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,31%; văn hóa, giải trí và du lịch 0,2%; thông tin và truyền thông tăng 0,1%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,02%. Nhóm giao thông giảm 1,68% và nhóm Giáo dục có chỉ số ổn định.Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 04 tháng năm 2026 tăng 3,72% so với cùng kỳ, Một số chỉ số tăng như: nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,35% (Cụ thể như: giá nhà ở thuê tăng 3,78%; dịch vụ sửa chữa nhà ở tăng 10,91%; giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 13,12%; giá nước sinh hoạt tăng 5,24%; …); thuốc và dịch vụ y tế tăng 4,03%; hàng ăn uống và dịch vụ ăn uống tăng 3,58%; giáo dục 3,53%; giao thông 3,25%;.... chỉ riêng nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,17% tác động không đáng kể đến chỉ số tiêu dùng bình quân chung bốn tháng.Chỉ số giá vàng tháng 04/2026 giảm 7,27% so với tháng 03/2026, tăng 10,17% so với tháng 12/2025, tăng 68,58% so với bình quân cùng kỳ, tương ứng giảm 1.246 ngàn đồng/chỉ đối với vàng nhẫn trơn 9999.Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng 04/2026 giảm 0,35% so tháng trước, tương đương giảm 9.390 đồng/100USD và giảm 0,39% so với tháng 12/2025, Bình quân bốn tháng năm 2026 tăng 2,14% so cùng kỳ.4. Vận tải:Tình hình vận tải trên địa bàn tỉnh ổn định, đường bộ và đường thủy đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa và đi lại của người dân. Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trong tháng thực hiện 734 tỷ đồng, tăng 1,5% so tháng trước và tăng 15,9% so cùng kỳ. Bốn tháng thực hiện 2.920 tỷ đồng, tăng 16,4% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 1.037 tỷ đồng, tăng 27,4%; doanh thu vận tải hàng hóa thực hiện 1.422 tỷ đồng, tăng 14,4%. Doanh thu vận tải đường bộ thực hiện 1.457 tỷ đồng, tăng 23,1%; doanh thu vận tải đường thủy thực hiện 1.457 tỷ đồng, tăng 23,1%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 242 tỷ đồng, giảm 7,2% so cùng kỳ. Vận tải hành khách trong tháng đạt 6.497 ngàn hành khách, tăng 2,1% so tháng trước và tăng 10,8% so cùng kỳ; luân chuyển 171.321 ngàn hành khách.km, giảm 0,7% so tháng trước và giảm 13,8% so cùng kỳ. Bốn tháng, vận chuyển 27.072 ngàn hành khách, tăng 16,7%; luân chuyển 990.614 ngàn hành khách.km, tăng 26,2% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 10.660 ngàn hành khách, tăng 42,1% và luân chuyển 982.681 ngàn hành khách.km, tăng 26,4%; vận tải đường thủy 16.412 ngàn hành khách, tăng 4,5% và luân chuyển 7.933 ngàn hành khách.km, tăng 3,9%.Vận tải hàng hóa trong tháng đạt 2.785 ngàn tấn, tăng 0,7% so tháng trước và tăng 21,7% so cùng kỳ; luân chuyển 494.019 ngàn tấn.km, tăng 0,3% so tháng trước và tăng 19,2% so cùng kỳ. Bốn tháng, vận tải 10.885 ngàn tấn hàng hóa, tăng 19,4%; luân chuyển 1.920.056 ngàn tấn.km, tăng 17% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 2.159 ngàn tấn, giảm 0,6% và luân chuyển 333.591 ngàn tấn.km, tăng 17% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 8.726 ngàn tấn, tăng 25,7% và luân chuyển 1.586.465 ngàn tấn.km, tăng 18,6% so cùng kỳ.Trong tháng đăng ký mới 11.027 chiếc mô tô xe máy và 1.294 chiếc xe ô tô. Tổng số xe đang quản lý trên địa bàn tỉnh là 3.530.489 chiếc, trong đó mô tô xe máy: 3.413.478 chiếc; 113.748 xe ô tô, 169 xe ba bánh, 666 xe đạp điện và 3.372 xe khác.5. Bưu chính viễn thông:Ngành bưu chính viễn thông đang phát triển mạnh mẽ theo hướng hiện đại hóa, số hóa và tích hợp sâu rộng. Hạ tầng thông tin được nâng cấp, cung cấp các dịch vụ bưu chính số và viễn thông tốc độ cao, đóng vai trò nền tảng cho kinh tế số và xã hội số. Đến cuối tháng 04 năm 2026 tổng số thuê bao điện thoại có trên mạng là 3.668 ngàn thuê bao, thuê bao điện thoại bình quân đạt 107,77 thuê bao/100 dân (bao gồm: hữu tuyến, vô tuyến, trả trước, trả sau). Số thuê bao điện thoại di động có sử dụng Internet (3G, 4G) đến cuối tháng 04 là: 2.605 ngàn thuê bao. Thuê bao internet có trên mạng là 3.709 ngàn thuê bao, mật độ Internet bình quân ước đạt 108,96 thuê bao/100 dân.VI. TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG1. Tài chính:Tổng thu ngân sách nhà nước trong tháng thực hiện 4.830 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn 2.560 tỷ đồng, thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 353 tỷ đồng. Bốn tháng, thu 22.171 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn thực hiện 10.507 tỷ đồng, đạt 44,2% dự toán và tăng 7,5% so cùng kỳ; thu nội địa 10.168 tỷ đồng, đạt 43,8% dự toán, tăng 7,3% so cùng kỳ (trong thu ngân sách trên địa bàn: thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 1.649 tỷ đồng, đạt 40,7% dự toán, tăng 5,3% so cùng kỳ; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 3.031 tỷ đồng, đạt 63,2% dự toán, tăng 41,3% so cùng kỳ, thu từ hoạt động xổ số kiến thiết 2.339 tỷ đồng, đạt 50,5% dự toán, tăng 8,5% so cùng kỳ...).Tổng chi ngân sách nhà nước trong tháng 2.797 tỷ đồng; trong đó: chi đầu tư phát triển 728 tỷ đồng. Bốn tháng, chi 13.089 tỷ đồng, đạt 32,6% dự toán, bằng 93,8% so cùng kỳ; trong đó: chi đầu tư phát triển 1.320 tỷ đồng, đạt 15,1% dự toán, bằng 29,2% so cùng kỳ; chi hành chính sự nghiệp 6.859 tỷ đồng, đạt 30,4% dự toán và bằng 99,6% so cùng kỳ.2. Ngân hàng:Đến cuối tháng 03/2026, vốn huy động ước đạt 213 ngàn tỷ, tăng 5 ngàn tỷ và tăng 2,3% so với cuối năm 2025, tổng dư nợ cho vay của các TCTD trong tỉnh ước đạt 246 ngàn tỷ, tăng 3 ngàn tỷ đồng và tăng 1,2% so với cuối năm 2025. Dự tính đến cuối tháng 4/2026 vốn huy động đạt 213 ngàn tỷ tăng 2,42%; dư nợ cho vay đạt 148 ngàn tỷ tăng 1,99% so với cuối năm 2025.Nợ xấu: đến cuối tháng 02/2026 tỷ lệ nợ xấu/Tổng dư nợ (không bao gồm nợ xấu của các ngân hàng thương mại bị kiểm soát đặc biệt) chiếm 2,41%. Ước thực hiện tháng 03/2026 tỷ lệ nợ xấu/Tổng dư nợ nhỏ hơn 3%.Quỹ tín dụng nhân dân: Đến cuối tháng 03/2026 tổng nguồn vốn huy động 2.779 tỷ đồng, giảm 79 tỷ đồng và giảm 2,76% so với cuối năm 2025. Dư nợ 2.300 tỷ đồng, giảm 39 tỷ đồng, tương đương giảm 1,67% so với cuối năm 2025. Tỷ lệ nợ xấu là 1,01%.VII. KHOA HỌC CÔNG NGHỆTrong tháng Hội đồng khoa học và công nghệ tổ chức họp tư vấn tuyển chọn thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh: 09 nhiệm vụ; nghiệm thu 01 nhiệm vụ cấp tỉnh, 01 nhiệm vụ cấp cơ sở; kiểm tra, đánh giá nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh 02 nhiệm vụ; kiểm tra và xác nhận tính hợp lệ của hồ sơ đăng ký tham gia tuyển chọn thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh 01 nhiệm vụ.VIII. CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI1. Lao động việc làm:Trong tháng, đã giải quyết việc làm cho 5.125 lao động. Nâng tổng số lao động được giải quyết việc làm từ đầu năm đến nay là 14.365 lao động đạt 29% so với kế hoạch; Tổ chức 10 cuộc tư vấn tuyển dụng cho người lao động hưởng bảo hiểm thất nghiệp và 01 phiên giao dịch việc làm trực tuyến với 38 lượt doanh nghiệp tham gia, tư vấn trên 3.600 người.Lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài là 340 lao động. Nâng tổng số lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài từ đầu năm đến tháng báo cáo là 1.207 lao động, đạt 55% kế hoạch, trong đó Hàn Quốc: 568 lao động, Nhật Bản: 467 lao động, Đài Loan: 124 lao động,....Về trợ cấp thất nghiệp, trong tháng có 1.348 lao động được hưởng trợ cấp. Từ đầu năm đến nay, có 5.804 lao động được giải quyết chế độ trợ cấp thất nghiệp, với tổng kinh phí chi trả trên 82,9 tỷ đồng, góp phần hỗ trợ kịp thời đời sống, giúp người lao động ổn định trong giai đoạn tìm kiếm việc làm mới.2. Chính sách xã hội:Trong tháng, các chế độ ưu đãi đối với người có công được thực hiện đầy đủ, kịp thời. Cụ thể: đã lập quyết định trợ cấp một lần cho người thờ cúng liệt sĩ và chuyển đổi người thờ cúng liệt sĩ với 35 trường hợp; lập quyết định trợ cấp hàng tháng cho 01 người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; giải quyết trợ cấp tuất cho 02 trường hợp. Đồng thời, đã lập quyết định trợ cấp mai táng phí và trợ cấp một lần (03 tháng trợ cấp) cho 89 trường hợp. Bên cạnh đó, đã cấp lại giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh cho 56 trường hợp.3. Hoạt động giáo dục:Trong tháng, ngành Giáo dục đã triển khai đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ theo kế hoạch quý II. Nhiều hoạt động chuyên môn được thực hiện, trọng tâm là công tác chuẩn bị tuyển sinh lớp 10, tổ chức Kỳ thi tốt nghiệp THPT, khảo sát đánh giá diện rộng. Mạng lưới trường, lớp tiếp tục được củng cố. Tổ chức các hội nghị, tập huấn về tuyển sinh THPT và phần mềm quản lý thi theo hình thức trực tuyến cho các đơn vị; hướng dẫn tổ chức tuyển sinh lớp 10 và Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026. Đồng thời, tham dự hội nghị triển khai quy chế, nghiệp vụ thi do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức; hướng dẫn rà soát, cập nhật cơ sở dữ liệu về khu vực ưu tiên và thông tin học sinh. Bên cạnh đó, đã thực hiện thống kê, rà soát cơ sở vật chất, nhân sự phục vụ kỳ thi; kiểm tra điều kiện cơ sở vật chất tại các điểm thi dự kiến.4. Hoạt động y tế:Trong tháng có 15/44 bệnh truyền nhiễm được ghi nhận. Cộng dồn số ca mắc so với cùng kỳ, có 10 bệnh tăng (Bệnh do liên cầu lợn ở người, Sốt xuất huyết Dengue, Tay - chân - miệng, Viêm màng não do não mô cầu, Liệt mềm cấp nghi bại liệt, Lao phổi, Thương hàn, Viêm gan vi rút A, Viêm gan vi rút B, Thủy đậu); 08 bệnh giảm (Sởi, Viêm gan vi rút C , Viêm não vi rút khác, Cúm, Lỵ trực trùng, Quai bị, Tiêu chảy, Viêm gan vi rút khác ); 26 bệnh tương đương hoặc không xảy ra ca mắc.Các bệnh truyền nhiễm trong tháng ghi nhận: bệnh sốt xuất huyết 782 ca mắc, làm 01 ca tử vong do bệnh sốt xuất huyết; bệnh tay - chân - miệng 454 ca, không có ca tử vong. Cộng dồn số ca mắc bệnh sốt xuất huyết: 2.057 ca, tăng 170,7%, 01 ca tử vong (cùng kỳ không có ca tử vong); bệnh tay – chân – miệng: 1.164 ca, tăng 107,5% so cùng kỳ.Phòng chống HIV/AIDS trên địa bàn tỉnh tính đến nay là 16.079 người nhiễm HIV; 5.051 người chuyển sang AIDS; 3.926 người tử vong do AIDS.Khám chữa bệnh trong tháng cho 643,4 nghìn lượt người, giảm 6,8% so cùng kỳ; trong đó, số người điều trị nội trú là 43,5 nghìn lượt người, tăng 1,6%. Cộng dồn từ đầu năm đến tháng báo cáo, đã khám chữa bệnh cho 1,9 triệu lượt người, giảm 12,7%; trong đó, số người điều trị nội trú là 118,4 nghìn lượt người, giảm 4,0%. Công suất sử dụng giường bệnh bình quân trong tháng đạt 83,5%.5. Hoạt động văn hóa - thể thao:Hoạt động văn hóa nghệ thuật: trong tháng công tác truyền thông, tuyên truyền tập trung vào các ngày lễ lớn của đất nước và các sự kiện chính trị - xã hội quan trọng của tỉnh như: Ngày Quốc tế Hạnh phúc; Giỗ Tổ Hùng Vương (mùng 10 tháng 3 âm lịch); kỷ niệm Ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2026) và Ngày Quốc tế Lao động (01/5). Hoạt động biểu diễn nghệ thuật tiếp tục được duy trì, phục vụ nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần của nhân dân, thu hút đông đảo người xem. Trong tháng đã tổ chức 05 buổi biểu diễn với khoảng 2.150 lượt người tham dự, tiêu biểu như các chương trình phục vụ kỷ niệm 50 năm Ngày truyền thống Bộ đội Biên phòng tỉnh Đồng Tháp (17/3/1976 – 17/3/2026), kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống ngành Thể dục Thể thao (27/3/1946 – 27/3/2026) và Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam lần thứ 5 năm 2026. Đặc biệt, chương trình nghệ thuật “Dạ khúc tri âm” được dàn dựng và biểu diễn tại Rạp Thầy Năm Tú với nhiều tiết mục đặc sắc, mang đậm giá trị nghệ thuật sân khấu cải lương truyền thống, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị di tích văn hóa cấp tỉnh.Hoạt động thư viện: trong tháng, tổ chức Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam lần thứ 5 năm 2026 trên địa bàn tỉnh với chủ đề “Sách - Tri thức - Khát vọng phát triển đất nước”. Các hoạt động hưởng ứng được triển khai đồng bộ, gồm: lễ phát động hưởng ứng Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam năm 2026 tại Trung tâm Văn hóa - Tổ chức sự kiện tỉnh; tổ chức nói chuyện chuyên đề về Ngày Sách và Văn hóa đọc; phát động các cuộc thi như “Đại sứ Văn hóa đọc”, vẽ tranh theo sách; tổ chức sinh hoạt câu lạc bộ đọc sách, các hoạt động tìm hiểu và bổ trợ kiến thức cho thanh thiếu nhi; triển khai các hoạt động phục vụ người khuyết tật và mô hình thư viện lưu động tại vùng sâu, vùng xa, khu vực có điều kiện khó khăn. Trong tháng, Thư viện tỉnh phục vụ trên 50 nghìn lượt người đọc với trên 150 nghìn lượt tài liệu; các kênh thông tin thư viện có trên 472 nghìn lượt truy cập.Hoạt động bảo tàng: trong tháng, công tác trưng bày được duy trì ổn định tại 02 cơ sở với các chuyên đề về lịch sử, văn hóa, kháng chiến và trưng bày ngoài trời; phối hợp phục vụ Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương (mùng 10/3 âm lịch). Trong tháng, các khu di tích và Bảo tàng tỉnh đã đón tiếp trên 84 nghìn lượt khách.Hoạt động thể dục, thể thao:Tổ chức Giải Pickleball tại Phường Đạo Thạnh, tỉnh Đồng Tháp cho đối tượng tham dự là lãnh đạo, công chức, viên chức Ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đồng Tháp; phối hợp Công an tỉnh tổ chức “Ngày chạy Olympic - Vì sức khỏe toàn dân - Vì an ninh Tổ quốc” với hơn 5.000 người tham gia, bao gồm lãnh đạo, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang, công chức, viên chức, học sinh, sinh viên và đông đảo quần chúng nhân dân. Toàn tỉnh tổ chức Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân tại 102/102 phường, xã với hơn 107 nghìn lượt người tham dự.Thể thao thành tích cao tiếp tục được duy trì đào tạo lực lượng 26 môn thể thao thành tích cao. Trong tháng, thể thao Đồng Tháp tham dự 17 giải cấp quốc gia và quốc tế, đạt 15 huy chương Vàng, 16 huy chương Bạc và 35 huy chương Đồng.6. Tình hình trật tự an toàn xã hội(theo báo cáo ngành Công an):Trong tháng xảy ra 118 vụ phạm tội về trật tự xã hội, tăng 08 vụ so cùng kỳ; Hậu quả là 08 người chết, 35 người bị thương, tài sản thiệt hại khoảng 89 tỷ đồng; Cơ quan chức năng đã điều tra, khám phá 91 vụ (đạt tỷ lệ 77,1%), bắt giữ và xử lý 230 đối tượng.Về tội phạm ma túy trong tháng, lực lượng chức năng đã phát hiện và xử lý 74 vụ với 103 đối tượng.7. Trật tự an toàn giao thông (theo báo cáo ngành Công an, số liệu tính từ ngày 15/3/2026 đến 14/4/2026):Tai nạn giao thông đường bộ: trong tháng, xảy ra 45 vụ, giảm 04 vụ so tháng trước và giảm 04 vụ so cùng kỳ. Hậu quả làm chết 42 người (tăng 08 người so tháng trước, tăng 08 người so cùng kỳ) và 12 người bị thương (giảm 12 người so tháng trước, giảm 11 người so cùng kỳ). Cộng dồn từ đầu năm đến tháng báo cáo, toàn tỉnh đã xảy ra 190 vụ, giảm 36 vụ so với cùng kỳ; làm chết 154 người (tăng 09 người) và làm bị thương 73 người (giảm 46 người). Các nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông chủ yếu vẫn do ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông như: uống rượu say, điều khiển xe khi có rượu bia, phóng nhanh vược ẩu, không làm chủ tốc độ; không đi đúng phần đường, làn đường; không nhường đường, vượt đèn đỏ, thiếu quan sát…Tai nạn giao thông đường thủy: trong tháng không xảy ra. Cộng dồn từ đầu năm đến tháng báo cáo là 02 vụ làm chết 01 người, tương đương về số vụ và số người chết so với cùng kỳ.Tình hình trật tự an toàn giao thông dịp nghỉ Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương 2026 (từ ngày 25/4/2026 đến ngày 27/4/2026): xảy ra 04 vụ, giảm 01 vụ so cùng kỳ; làm chết 03 người, giảm 01 người; 01 người bị thương, giảm 01 người; thiệt hại tài sản ước tính 18,5 triệu đồng.8. Tình hình cháy nổ, môi trường và thiên tai:- Cháy, nổ: trong tháng, xảy ra 04 vụ cháy, giảm 01 vụ so cùng kỳ; thiệt hại về tài sản khoảng 246 triệu đồng. Nguyên nhân do sự cố hệ thống điện 03 vụ; do trẻ em nghịch lửa 01 vụ.- Môi trường: trong tháng, có 01 vụ vi phạm môi trường đã xử lý với số tiền xử phạt 50 triệu đồng. Tính từ đầu năm, xảy ra 04 vụ vi phạm môi trường, giảm 06 vụ so cùng kỳ; đã xử lý 06 vụ với tổng số tiền xử phạt là 818,5 triệu đồng.- Thiên tai: trong tháng trên địa bàn tỉnh xảy ra 03 vụ thiên tai (01 vụ do mưa, giông lốc; 02 vụ sạt lở nội đồng). Tuy không gây thiệt hại về người nhưng đã làm tốc mái 49 căn nhà, 01 điểm phụ trường Tiểu học An Phong 1 bị tốc mái 05 phòng học, hư bảng tên trường, một số laphong bị rớt, 02 tivi dùng để dạy học bị ướt...Ước tính giá trị thiệt hại khoảng 818 triệu đồng.