0273.3 872582 | dongthap@nso.gov.vn
Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp 9 tháng đầu năm 2025 đạt 6,98%
  •   05/10/2025 20:07

Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục tiềm ẩn nhiều rủi ro, nhất là biến động giá nguyên, nhiên vật liệu, xung đột địa chính trị và sự suy giảm tăng trưởng của một số nền kinh tế lớn, kinh tế Việt Nam vẫn duy trì ổn định nhờ sự điều hành linh hoạt của Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương. Các giải pháp tập trung vào giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, hỗ trợ sản xuất - kinh doanh và bảo đảm an sinh xã hội đã phát huy hiệu quả, tạo nền tảng quan trọng để các địa phương phục hồi và phát triển.Trên địa bàn tỉnh Đồng tháp, kinh tế 9 tháng đầu năm 2025, tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định trên các lĩnh vực. Việc hợp nhất hai địa phương tỉnh Tiền Giang và tỉnh Đồng Tháp thành tỉnh Đồng Tháp từ ngày 01/7/2025 đã tạo nên một không gian rộng lớn, thúc đẩy liên kết vùng và mở ra nhiều cơ hội phát triển mới cho toàn khu vực. Với quyết tâm cao, lãnh đạo tỉnh và các ngành, các cấp tập trung lãnh đạo, kịp thời giải quyết khó khăn, vướng mắc trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp; đồng thời chủ động ứng phó với chính sách thuế quan của Mỹ; xuất khẩu nông sản ở một số thời điểm gặp khó khăn... giúp doanh nghiệp an tâm sản xuất, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế của tỉnh.Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) 9 tháng đầu năm 2025 ước đạt 108.232 tỷ đồng (giá so sánh năm 2010); quý I tăng 6,85%, quý II tăng 7,33%, quí III tăng 6,81%, tính chung 9 tháng tăng 6,98% so với 9 tháng đầu năm 2024 (Tiền Giang tăng 7,43%, Đồng Tháp cũ tăng 6,50%); khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,19%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,52%, khu vực dịch vụ tăng 7,26% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 5,48% so cùng kỳ. Trong 6,98% tăng trưởng thì khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản đóng góp 1,44%, khu vực công nghiệp và xây dựng đóng góp 2,85%, khu vực dịch vụ đóng góp 2,37% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đóng góp 0,32%.Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản: 9 tháng đầu năm 2025 tăng 4,19% so với 9 tháng đầu năm 2024; trong đó nông nghiệp tăng 4,15%. Sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh trong 9 tháng đầu năm 2025, thuận lợi hơn các năm trước, không chịu tác động nhiều của hạn mặn. Sản lượng các loại rau màu, cây quả đều tăng so với cùng kỳ. Các vườn cây ăn trái bị thiệt hại do hạn mặn năm 2020 gây ra đã được nông dân chăm sóc, trồng mới đến nay đã cho sản phẩm, góp phần làm cho nông nghiệp của tỉnh tăng. Tuy nhiên những tháng đầu năm xuất khẩu nông sản gặp khó khăn, giá một số sản phẩm nông nghiệp như: lúa, mít, sầu riêng … thấp hơn so cùng kỳ, ảnh hưởng đến thu nhập của nông dân.Lĩnh vực chăn nuôi, dịch bệnh còn xảy ra ở một số địa phương, gây tâm lý lo lắng cho người nuôi; giá cả lên xuống thất thường, nông dân khó dự báo trong sản xuất; nhìn chung trong 9 tháng đầu năm giá bán các sản phẩm chăn nuôi bình quân có cao hơn cùng kỳ, giá lợn hơi trong 6 tháng đầu năm tăng mạnh, giao động từ 7 - 8,2 triệu đồng/tạ, sau đó giảm xuống, đến thời điểm tháng 9 giao động ở mức 5,5 -5,8 đồng/tạ, nông dân vẫn có lãi nhưng không nhiều. Do giá tăng cao ở những tháng đầu năm, nông dân mở rộng đầu tư sản xuất nên tổng đàn gia súc, gia cầm ở thời điểm tháng 6 đều tăng so cùng kỳ. Nhưng đến thời điểm hiện tại tổng đàn gia súc, gia cầm giảm, chỉ còn đàn lợn tăng 0,5% so cùng kỳ (ước thời điểm 30/9/2025 đàn trâu hiện 3,2 nghìn con, đàn bò hiện 153,8 nghìn con, đàn lợn 435,7 nghìn con, đàn gia cầm có 23,3 triệu con).Ngành thủy sản tăng 4,42% so cùng kỳ, sản lượng nuôi trồng và khai thác đều tăng. Thời tiết trong 9 tháng đầu năm thuận lợi, ít ảnh hưởng bởi bão và áp thấp nhiệt đới, tạo điều kiện cho tàu cá hoạt động hiệu quả; thủy sản nuôi sinh trưởng tốt, ít dịch bệnh, cho năng suất cao. Mặt khác mô hình nuôi hàu tại vùng ven biển thuộc các xã khu vực Gò Công thả nuôi năm 2023 đến nay đã thu hoạch, góp phần làm cho ngành thuỷ sản của tỉnh tăng.Khu vực công nghiệp - xây dựng: tăng 10,52% so với 9 tháng đầu năm 2024; trong đó công nghiệp tăng 10,23% (cùng kỳ tăng 12,17%). Sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh trong 9 tháng đầu năm có mức tăng thấp hơn cùng kỳ (cùng kỳ tăng 12,17%) nhưng duy trì tốc độ tăng ổn định ở các quý (quý I tăng 11,52%, quí II tăng 9,22%, quý III tăng 10,07%). Theo dự báo có thể trong quý IV tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp sẽ chậm lại, do tác động của chính sách thương mại, áp thuế đối ứng của các nước, đơn hàng giảm, sản xuất hàng xuất khẩu khó khăn hơn, nhu cầu của thế giới giảm. Một số ngành có chỉ số sản xuất tăng cao trong 9 tháng đầu năm như: Sản xuất trang phục tăng 39,85%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 86,23%; sản xuất kim loại tăng 22,2%; sản xuất thiết bị điện tăng 20,82%, …Bên cạnh đó cũng có một số ngành có chỉ số sản xuất giảm so cùng kỳ do gặp khó khăn trong tìm kiếm thị trường tiêu thụ như: sản xuất da và các sản phẩm có liên quan bằng 92,86%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu bằng 84,84%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẳn bằng 78,97%; sản xuất xe có động bằng 54,73…Ngành xây dựng tăng 11,96%, là một trong những ngành có tốc độ tăng trưởng tốt nhất trong 9 tháng đầu năm 2025. Tình hình sản xuất của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh từng bước khôi phục, ổn định trở lại sau dịch covid – 19 nên mở rộng qui mô đầu tư cho sản xuất. Năm 2025 là năm cuối của nhiệm kỳ Đại hội đảng các cấp giai đoạn 2020 - 2025, lãnh các đạo địa phương, các ngành các cấp tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt trong việc đẩy nhanh tiến độ đầu tư công và các công trình chào mừng Đại hội. Việc sáp nhập xã, phường, tỉnh theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đi vào hoạt động từ ngày 01/7/2025, nhu cầu sữa chữa nâng cấp các trụ sở làm việc của các cơ quan cũng góp phần tăng trưởng ngành xây dựng. Hiện tại trên địa bàn tỉnh có nhiều công trình trọng điểm của trung ương đang được triển khai đã góp phần làm cho hoạt động xây dựng trên địa bàn tỉnh tăng khá so cùng kỳ.Khu vực dịch vụ: tăng 7,26% so cùng kỳ. Sau thời gian dài chịu ảnh hưởng của dịch Covid-19, tác động của suy giảm kinh tế thế giới, kinh tế của tỉnh dần hồi phục; công nhân có việc làm ổn định, thu nhập tăng, làm cho hầu hết các ngành trong khu vực này điều tăng so với cùng kỳ. Tuy nhiên tốc độ tăng của khu vực này có xu hướng chậm lại (quý I tăng 7,98%, quý II tăng 7,53%, quý III tăng 6,33%). Việc tăng lương cơ sở từ ngày 01/7/2024, làm cho thu nhập của người lao động tăng, kéo theo tiêu dùng, mua sắm của người dân bắt đầu tăng cao từ quý III/2024, do đó trong 6 tháng đầu năm 2025 tốc độ tăng trưởng của khu vực này tăng cao so cùng kỳ, đến quý III có xu hướng bảo hoà. Nhìn chung các hoạt động thương mại và dịch vụ trên địa bàn tỉnh diễn ra khá sôi động; các hoạt động hội chợ, triển lãm, sự kiện, lễ hội … thường xuyên được tổ chức để kích cầu tiêu dùng. Một số ngành tăng khá như: Dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 8,05%; hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 16,93%; hoạt động của Đảng cộng sản, tổ chức chính trị - xã hội, quản lý nhà nước, an ninh quốc phòng tăng 10,92%; Hoạt động vận tải kho bãi tăng 13,13% so với cùng kỳ... Thực hiện Nghị định 168/2024/NĐ-CP ngày 26/12/2024 quy định xử phạt vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông trong lĩnh vực giao thông đường bộ; trừ điểm, phục hồi điểm giấy phép lái xe; người dân đã ý thức hơn khi tham giao thông, nên nhu cầu sử phương tiện vận tải công cộng tăng, đã thúc đẩy dịch vụ vận tải đường bộ trên địa bàn tỉnh tăng. Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 5,48% so 9 tháng đầu năm 2024.GRDP 9 tháng đầu năm nếu tính theo giá hiện hành đạt 210.027 tỷ đồng. Cơ cấu kinh tế của tỉnh chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, giảm tỷ trọng các ngành nông lâm nghiệp và thuỷ sản. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 34,7% (cùng kỳ 36,6%); khu vực công nghiệp, xây dựng chiếm 25,6% (cùng kỳ 24,1%); khu vực dịch vụ chiếm 34,1% (cùng kỳ 33,6%); thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 5,6%, (cùng kỳ 5,7%).                                                                                     N.V.Tròn

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Tháp 9 tháng đầu năm 2025
  •   06/10/2025 07:54

Tình hình kinh tế - chính trị thế giới diễn biến phức tạp; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gây gắt hơn; xung đột Nga - Ucraina kéo dài, chính sách thắt chặt tiền tệ của các nước; chính sách bảo hộ thương mại của Hoa Kỳ tiếp tục gia tăng… đã làm ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp của Việt Nam nói chung và tỉnh Đồng Tháp nói riêng.Trong những tháng đầu năm 2025 Đảng bộ, chính quyền các cấp trên địa bàn tỉnh tập trung sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống chính trị theo Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban chấp hành Trung ương khóa XII. Đảng bộ, chính quyền các cấp trên địa bàn tỉnh tập trung lãnh đạo Đại hội Đảng bộ cấp xã, phường. Sắp xếp tổ chức bộ máy đơn vị hành chính và tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp hoạt động hiệu lực, hiệu quả phấn đấu thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra trong năm 2025. Với sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị, kinh tế - xã hội của tỉnh tiếp tục phát triển, hầu hết các chỉ tiêu đều tăng so cùng kỳ. Kết quả thực hiện trên các lĩnh vực như sau:I. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊU KINH TẾ1. Tăng trưởng kinh tế (GRDP):Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) 9 tháng đầu năm 2025 ước đạt 108.232 tỷ đồng (giá so sánh năm 2010); quý I tăng 6,85%, quý II tăng 7,33%, quý III tăng 6,81%; tính chung 9 tháng tăng 6,98% (Tiền Giang tăng 7,43%, Đồng Tháp cũ tăng 6,50%); khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,19%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,52%, khu vực dịch vụ tăng 7,26% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 5,48% so cùng kỳ. Trong 6,98% tăng trưởng thì khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản đóng góp 1,44%, khu vực công nghiệp và xây dựng đóng góp 2,85%, khu vực dịch vụ đóng góp 2,37% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đóng góp 0,32%. GRDP nếu tính theo giá hiện hành đạt 210.027 tỷ đồng. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản: 9 tháng đầu năm 2025 tăng 4,19% so với 9 tháng đầu năm 2024; trong đó nông nghiệp tăng 4,15%. Sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh trong 9 tháng đầu năm 2025, thuận lợi hơn các năm trước, không chịu tác động nhiều của hạn mặn. Sản lượng các loại rau màu, cây ăn quả đều tăng so với cùng kỳ. Các vườn cây ăn trái bị thiệt hại do hạn mặn năm 2020 gây ra đã được nông dân chăm sóc, trồng mới đến nay đã cho sản phẩm, góp phần làm cho nông nghiệp của tỉnh tăng. Tuy nhiên những tháng đầu năm xuất khẩu nông sản gặp khó khăn, giá một số sản phẩm nông nghiệp như: lúa, mít, sầu riêng … thấp hơn so cùng kỳ, ảnh hưởng đến thu nhập của nông dân.Lĩnh vực chăn nuôi, dịch bệnh còn xảy ra ở một số địa phương, gây tâm lý lo lắng cho người nuôi; giá cả lên xuống thất thường, nông dân khó dự báo trong sản xuất; nhìn chung trong 9 tháng đầu năm giá bán các sản phẩm chăn nuôi bình quân có cao hơn cùng kỳ, giá lợn hơi trong 6 tháng đầu năm tăng mạnh, giao động từ 7 - 8,2 triệu đồng/tạ, sau đó giảm xuống, đến thời điểm tháng 9 giao động ở mức 5,5 -5,8 đồng/tạ, nông dân vẫn có lãi nhưng không nhiều. Do giá tăng cao ở những tháng đầu năm, nông dân mở rộng đầu tư sản xuất nên tổng đàn gia súc, gia cầm ở thời điểm tháng 6 đều tăng so cùng kỳ. Nhưng đến thời điểm hiện tại tổng đàn gia súc, gia cầm giảm, chỉ còn đàn lợn tăng 0,5% so cùng kỳ.Ngành thủy sản tăng 4,42% so cùng kỳ, sản lượng nuôi trồng và khai thác đều tăng. Thời tiết trong 9 tháng đầu năm thuận lợi, ít ảnh hưởng bởi bão và áp thấp nhiệt đới, tạo điều kiện cho tàu cá hoạt động hiệu quả; thủy sản nuôi sinh trưởng tốt, ít dịch bệnh, cho năng suất cao. Mặt khác mô hình nuôi hàu tại vùng ven biển thuộc các xã khu vực Gò Công thả nuôi năm 2023 đến nay đã thu hoạch, góp phần làm cho ngành thuỷ sản của tỉnh tăng.Khu vực công nghiệp - xây dựng: tăng 10,52% so với 9 tháng đầu năm 2024; trong đó công nghiệp tăng 10,23% (cùng kỳ tăng 12,17%). Sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh trong 9 tháng đầu năm có mức tăng thấp hơn cùng kỳ nhưng duy trì tốc độ tăng ổn định ở các quý (quý I tăng 11,52%, quý II tăng 9,22%, quý III tăng 10,07%). Theo dự báo có thể trong quý IV tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp sẽ chậm lại, do tác động của chính sách thương mại, áp thuế đối ứng của các nước, đơn hàng giảm, sản xuất hàng xuất khẩu khó khăn hơn, nhu cầu của thế giới giảm. Một số ngành có chỉ số sản xuất tăng cao trong 9 tháng đầu năm như: Sản xuất trang phục tăng 39,85%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 86,23%; sản xuất kim loại tăng 22,2%; sản xuất thiết bị điện tăng 20,82%, …Bên cạnh đó cũng có một số ngành có chỉ số sản xuất giảm so cùng kỳ do gặp khó khăn trong tìm kiếm thị trường tiêu thụ như: sản xuất da và các sản phẩm có liên quan bằng 92,86%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu bằng 84,84%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẳn bằng 78,97%; sản xuất xe có động bằng 54,73…Ngành xây dựng tăng 11,96%, là một trong những ngành có tốc độ tăng trưởng tốt nhất trong 9 tháng đầu năm 2025. Tình hình sản xuất của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh từng bước khôi phục, ổn định trở lại sau dịch covid – 19 nên mở rộng qui mô đầu tư cho sản xuất. Năm 2025 là năm cuối của nhiệm kỳ Đại hội đảng các cấp giai đoạn 2020 - 2025, lãnh các đạo địa phương, các ngành các cấp tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt trong việc đẩy nhanh tiến độ đầu tư công và các công trình chào mừng Đại hội. Việc sáp nhập xã, phường, tỉnh theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đi vào hoạt động từ ngày 01/7/2025, nhu cầu sữa chữa nâng cấp các trụ sở làm việc của các cơ quan cũng góp phần tăng trưởng ngành xây dựng. Hiện tại trên địa bàn tỉnh có nhiều công trình trọng điểm của trung ương đang được triển khai đã góp phần làm cho hoạt động xây dựng trên địa bàn tỉnh tăng khá so cùng kỳ.Khu vực dịch vụ: tăng 7,26% so cùng kỳ. Sau thời gian dài chịu ảnh hưởng của dịch Covid-19, tác động của suy giảm kinh tế thế giới, kinh tế của tỉnh dần hồi phục; công nhân có việc làm ổn định, thu nhập tăng, làm cho hầu hết các ngành trong khu vực này tăng so với cùng kỳ. Tuy nhiên tốc độ tăng của khu vực này có xu hướng chậm lại (quý I tăng 7,98%, quý II tăng 7,53%, quý III tăng 6,33%). Việc tăng lương cơ sở từ ngày 01/7/2024, làm cho thu nhập của người lao động tăng, kéo theo tiêu dùng, mua sắm của người dân bắt đầu tăng cao từ quý III/2024, do đó trong 6 tháng đầu năm 2025 tốc độ tăng trưởng của khu vực này tăng cao so cùng kỳ, đến quý III có xu hướng bảo hoà. Nhìn chung các hoạt động thương mại và dịch vụ trên địa bàn tỉnh diễn ra khá sôi động; các hoạt động hội chợ, triển lãm, sự kiện, lễ hội … thường xuyên được tổ chức để kích cầu tiêu dùng. Một số ngành tăng khá như: Dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 8,05%; hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 16,93%; hoạt động của Đảng cộng sản, tổ chức chính trị - xã hội, quản lý nhà nước, an ninh quốc phòng tăng 10,92%; Hoạt động vận tải kho bãi tăng 13,13% so với cùng kỳ... Thực hiện Nghị định 168/2024/NĐ-CP ngày 26/12/2024 quy định xử phạt vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông trong lĩnh vực giao thông đường bộ; trừ điểm, phục hồi điểm giấy phép lái xe; người dân đã ý thức hơn khi tham giao thông, nên nhu cầu sử phương tiện vận tải công cộng tăng, đã thúc đẩy dịch vụ vận tải đường bộ trên địa bàn tỉnh tăng. Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 5,48% so 9 tháng đầu năm 2024.Cơ cấu kinh tế: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 34,7% (cùng kỳ 36,6%); khu vực công nghiệp, xây dựng chiếm 25,6% (cùng kỳ 24,1%); khu vực dịch vụ chiếm 34,1% (cùng kỳ 33,6%); thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 5,6%, (cùng kỳ 5,7%).2. Tài chính - Ngân hàng:a. Tài chính:Thu ngân sách nhà nước: 9 tháng đầu năm 2025 ước thu được 46.551 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn thực hiện 18.393 tỷ đồng, đạt 88,9% dự toán, tăng 15,2% so cùng kỳ; thu nội địa 17.739 tỷ đồng, đạt 89,3% dự toán, tăng 15,8% so cùng kỳ. Các khoản thu chủ yếu như sau:- Thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 2.832 tỷ đồng, đạt 103,9% dự toán, tăng 14,3% so cùng kỳ.- Thu từ hoạt động xổ số kiến thiết 3.836 tỷ đồng, đạt 92,4% dự toán, tăng 22,3% so cùng kỳ.- Thu thuế công thương nghiệp ngoài quốc doanh 3.363 tỷ đồng đạt 115,2% dự toán, tăng 31,2% so cùng kỳ.Chi ngân sách nhà nước: Tổng chi ngân sách 9 tháng đầu năm 2025 là 32.665 tỷ đồng, tăng 29,5% so cùng kỳ, trong đó: chi đầu tư phát triển 10.439 tỷ đồng, đạt 94,2% dự toán, bằng 84,7%; chi hành chính sự nghiệp 21.220 tỷ đồng, đạt 95,7% dự toán và tăng 72,7% so cùng kỳ.b. Ngân hàng:Kinh tế toàn cầu diễn biến phức tạp, rủi ro bất ổn thị trường tài chính tăng cao, nhiều quốc gia tiếp tục tăng lãi suất để kiềm chế lạm phát. Các ngân hàng trên địa bàn tỉnh tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chắc chắn, linh hoạt, chủ động, kịp thời, hiệu quả.Đến cuối tháng 8/2025, vốn huy động đạt 193.844 tỷ đồng, tăng 6,44% so với cuối năm 2024; tổng dư nợ cho vay thực hiện là 234.730 tỷ đồng, tăng 4,28% so với cuối năm 2024. Ước tính đến cuối tháng 9/2025, nguồn vốn huy động đạt 194.708 tỷ đồng, tăng 6,91% so với cuối năm 2024; tổng dư nợ cho vay đạt 236.346 tỷ, tăng 4,99% so với cuối năm 2024.Nợ xấu: đến cuối tháng 8/2025 là 5.692 tỷ đồng, tỷ lệ 2,49%, tăng 1,01% so với cuối năm 2024. Ước đến cuối tháng 9/2025, nợ xấu là 5.542 tỷ, tỷ lệ nợ xấu 2,34%, tăng 0,86% so với cuối năm 2024.Quỹ tín dụng nhân dân:Hệ thống quỹ tín dụng nhân dân trên địa bàn hoạt động ổn định, sát với mục tiêu góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội. Đến cuối 8/2025, tổng nguồn vốn huy động 2.823 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 7,29% so với cuối năm 2024. Dư nợ cho vay đạt 2.340 tỷ đồng, tỷ lệ giảm 1,17% so với cuối năm 2024. Tỷ lệ nợ xấu 0,59% so với cuối năm 2024.3. Giá cả, lạm phát:Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9/2025 tăng 0,29% so tháng 8/2025 (khu vực thành thị tăng 0,41%, nông thôn tăng 0,26%); so cùng kỳ tăng 2,59%.So với tháng 8/2025, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 11 nhóm tăng: hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,17% (lương thực tăng 0,08%, thực phẩm tăng 0,22%, ăn uống ngoài gia đình tăng 0,1%); đồ uống và thuốc lá tăng 0,14%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,3%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,41%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,1%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%; giao thông tăng 0,78%; bưu chính viễn thông tăng 0,1%; giáo dục tăng 0,73%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,01% và nhóm hàng hóa dịch vụ khác tăng 0,45%.Chỉ số giá tiêu dùng bình quân quý III năm 2025 so cùng kỳ tăng 2,27%; một số nhóm hàng có chỉ số giá tăng nhiều trong quý như: thuốc và dịch vụ y tế tăng 11,91%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 4,69%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,33%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,29%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 11,91%;... Chỉ riêng nhóm giao thông giảm 2,04% so cùng kỳ.Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 9 tháng năm 2025 so cùng kỳ tăng 2,22%; Chỉ số giá tiêu dùng 9 tháng đầu năm 2025 tăng chủ yếu ở một số nhóm hàng như: thuốc và dịch vụ y tế tăng 11,91%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 6,85%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,61%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,70%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,72% so với cùng kỳ … Chỉ riêng nhóm giao thông giảm 3,84% so cùng kỳ.Chỉ số giá vàng 24 kara Ngọc Thẩm trong tháng 9/2025 tăng 7,29% so tháng trước, tăng 43,37% so với tháng 12/2024, tăng 55,79% so với cùng kỳ.Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng 09/2025 tăng 0,7% so tháng trước, tăng 3,85% so với tháng 12/2024 và tăng 6,99% so với cùng kỳ.4. Đầu tư và Xây dựng:Vốn đầu tư toàn xã hội quý III/2025, ước thực hiện được 23.531 tỷ đồng, tăng 13,3% so cùng kỳ; trong đó: vốn đầu tư ngoài nhà nước 13.656 tỷ đồng, tăng 7,4% và chiếm 58%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 1.745 tỷ đồng, tăng 31,4% và chiếm 7,4%; vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước 8.130 tỷ đồng, tăng 20,9% và chiếm 34,6%.Chín tháng đầu năm 2025, vốn đầu tư toàn xã hội ước thực hiện 59.469 tỷ đồng, đạt 67% kế hoạch, tăng 12,6% so cùng kỳ; trong đó: vốn đầu tư của dân cư và tư nhân 36.358 tỷ đồng, tăng 11,6%, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 4.496 tỷ đồng, tăng 28,9%, vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước 18.615 tỷ đồng, tăng 11,4% so cùng kỳ.Hình 1. Vốn đầu tư toàn xã hội 9 tháng năm 2025Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý quý III/2025 là 5.065 tỷ đồng, tăng 58,2% so cùng kỳ; gồm có: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 4.960 tỷ đồng, tăng 57% và vốn ngân sách nhà nước cấp xã 105 tỷ đồng, tăng 1,5 lần so cùng kỳ.Ước 9 tháng đầu năm 2025, vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý là 11.171 tỷ đồng, đạt 63,6% kế hoạch, tăng 33,2% so cùng kỳ; gồm có: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 10.997 tỷ đồng, tăng 32,8% và vốn ngân sách nhà nước cấp xã 174 tỷ đồng, tăng 62,4% so cùng kỳ.Kết quả thực hiện một số dự án trọng điểm từ nguồn vốn ngân sách trên địa bàn tỉnh[1].5. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp: (Theo báo cáo của Sở Tài Chính)Tính đến hết tháng 9/2025 trên địa bàn tỉnh có 1.928 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, đạt 107,1% kế hoạch và tăng 72% so với cùng kỳ; tổng vốn đăng ký là 12.516,9 tỷ đồng, tăng 67,4% so với cùng kỳ; vốn đăng ký bình quân một doạnh nghiệp là 6,5 tỷ đồng/doanh nghiệp. Thành lập đơn vị trực thuộc doanh nghiệp có 1.320 đơn vị thành lập mới, tăng 47,3% so với cùng kỳ. Tạm ngừng hoạt động 679 doanh nghiệp tăng 8,3%; có 304 doanh nghiệp hoàn tất giải thể, tăng 28,8% so với cùng kỳ. Bên cạnh đó có 340 doanh nghiệp hoạt động trở lại, tăng 28,3% so với cùng kỳ.6. Sản xuất nông - lâm nghiệp và thủy sản:a. Nông nghiệp [2]Cây lương thực có hạt: diện tích gieo trồng cộng dồn từ đầu vụ sản xuất ước đạt 591.032 ha, giảm 4,0% so cùng kỳ, tương ứng giảm 24.866 ha; sản lượng ước đạt 3.316.832 tấn, tăng 0,1%, tương ứng tăng 3.093 tấn. Trong đó cây lúa gieo sạ ước đạt 584.960 ha, giảm 4,0% so cùng kỳ; sản lượng thu hoạch ước đạt 3.274.775 tấn, tăng 0,1%, cụ thể:- Cây lúa:+ Vụ Đông xuân 2024 - 2025: diện tích gieo trồng chính thức 229.680 ha, giảm 1,7% so cùng kỳ, tương ứng giảm 4.087 ha do chuyển đổi sang cây lâu năm 3.591 ha, không sản xuất 425 ha, cây hàng năm khác 147 ha, đất phi nông nghiệp là 44 ha, nuôi trồng thủy sản 33 ha và tăng 153 ha từ diện tích cây hằng năm khác. Thu hoạch 100% diện tích với năng suất thu hoạch bình quân đạt 71,9 tạ/ha, tăng 0,3% so cùng kỳ, tương ứng tăng 0,2 tạ/ha; sản lượng thu hoạch 1.651.864 tấn, giảm 1,5% so cùng kỳ, tương ứng giảm 24.518 tấn. Nguyên nhân do diện tích gieo trồng giảm.+ Vụ Hè thu: đến ngày 20/9, diện tích gieo trồng của vụ sơ bộ đạt 244.290 ha, giảm 2,1% so cùng kỳ, tương ứng giảm 5.334 ha; thu hoạch 242.303 ha, chiếm 99,2% diện tích gieo trồng; sản lượng thu hoạch ước đạt 1.622.911 tấn, tăng 1,8% so cùng kỳ với năng suất thu hoạch bình quân ước đạt 67 tạ/ha. Diện tích gieo trồng giảm do chuyển đổi sang đất trồng cây lâu năm là 3.232 ha, thời tiết, bỏ vụ là 1.596 ha, nuôi trồng thủy sản là 500 ha, cây hàng năm khác là 369 ha, đất phi nông nghiệp là 123 ha và tăng 486 ha từ diện tích cây hàng năm khác.+ Vụ Thu Đông: đến ngày 20/9, diện tích gieo trồng của vụ ước đạt 110.990 ha, giảm 12% so cùng kỳ, diện tích xuống giống chủ yếu ở Tháp Mười, Cao Lãnh, Tam Nông, Lấp Vò... trà lúa đang giai đoạn mạ - đẻ nhánh.Hình 2. Diện tích gieo trồng lúa và hoa màu tính đến 20/9/2025- Cây ngô: diện tích gieo trồng cộng dồn từ đầu vụ sản xuất là 6.072 ha, giảm 5,5%, tương ứng giảm 350 ha. Sản lượng thu hoạch ước đạt 42.057 tấn, giảm 2,5% so cùng kỳ, tương ứng giảm 1.069 tấn. Ngô là cây trồng ngắn ngày, kỹ thuật canh tác đơn giản, dễ chăm sóc và có thể sản xuất nhiều vụ trong năm. Ngoài giá trị kinh tế từ việc bán trái, cây ngô còn mang lại lợi ích từ phụ phẩm: thân, lá sau thu hoạch là nguồn thức ăn giàu dinh dưỡng cho gia súc (trâu, bò…), góp phần giảm chi phí chăn nuôi và nâng cao hiệu quả kinh tế hộ gia đình.- Cây rau đậu các loại: diện tích gieo trồng cộng dồn từ đầu vụ sản xuất ước đạt 64.269 ha, tăng 2,3% so cùng kỳ; trong đó: rau các loại 63.912 ha, tăng 2,3% so cùng kỳ. Sản lượng thu hoạch ước đạt 996.414 tấn, tăng 10,1% so cùng kỳ; trong đó: rau các loại ước đạt 995.482 tấn, tăng 10,1% so cùng kỳ. Diện tích rau màu tăng chủ yếu do nông dân chuyển đổi từ đất trồng cây kém hiệu quả, đặc biệt là những diện tích không đủ điều kiện sản xuất lúa sang trồng rau màu. Tận dụng lợi thế đất đai màu mỡ, thời tiết thuận lợi, bà con đã linh hoạt áp dụng mô hình xen canh, gối vụ với nhiều loại rau, củ, quả có giá trị kinh tế cao, dễ tiêu thụ như: rau muống, bầu, mướp, bí xanh, khổ qua, dưa leo, các loại cải, hành lá, dưa hấu và các loại rau ngắn ngày khác. Công tác sản xuất và tiêu thụ nông sản ngày càng được chú trọng, sản phẩm chủ yếu được tiêu thụ thông qua thương lái, bên cạnh đó một số hợp tác xã đã liên kết với hệ thống bán lẻ hiện đại (chuỗi Bách Hóa Xanh) để cung ứng rau sạch với giá bán ổn định, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế cho nông dân.Cây lâu năm: trong 9 tháng năm 2025, các loại cây lâu năm trên địa bàn tỉnh tiếp tục phát triển ổn định, xu hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng ngày càng rõ nét. Nhiều địa phương đã thực hiện chuyển đổi diện tích đất lúa, đất màu kém hiệu quả sang trồng cây ăn quả như sầu riêng, mít Thái, thanh long, dừa…, làm cho diện tích cây ăn quả của tỉnh không ngừng gia tăng. Nhiều loại cây ăn quả chủ lực đã được xây dựng thương hiệu và khẳng định vị thế trên thị trường trong nước cũng như xuất khẩu sang nhiều quốc gia, điển hình như sầu riêng, thanh long, vú sữa, xoài cát Hòa Lộc… Đây là hướng đi phù hợp, góp phần nâng cao giá trị kinh tế và cải thiện thu nhập cho nông dân.Tổng diện tích gieo trồng cây lâu năm trên toàn tỉnh ước đạt 160.997 ha, đạt 101,6% kế hoạch năm, tăng 3,7% so với cùng kỳ (tương ứng tăng 5.695 ha). Trong đó, diện tích cây ăn quả ước đạt 134.128 ha, chiếm 83,3% tổng diện tích cây lâu năm, tăng 3,2% so cùng kỳ.Tổng sản lượng thu hoạch cây lâu năm toàn tỉnh ước đạt 2.056.625 tấn, đạt 75,5% kế hoạch năm, tăng 4,8% so với cùng kỳ (tương ứng tăng 93.434 tấn). Trong đó, tổng sản lượng thu hoạch cây ăn quả ước đạt 1.836.487 tấn, tăng 5,0% so cùng kỳ. Sự gia tăng sản lượng này phản ánh hiệu quả của việc mở rộng diện tích, cải thiện kỹ thuật canh tác và đầu tư thâm canh ngày càng cao của người dân.Chăn nuôi: ước thời điểm 30/9/2025 tổng đàn gian súc, gia cầm của tỉnh như sau: đàn trâu hiện có 3,2 nghìn con, giảm 1,2% so cùng kỳ; đàn bò hiện có 153,8 nghìn con, giảm 4,4%; đàn lợn có 435,7 nghìn con, tăng 0,5%; đàn gia cầm có 23,3 triệu con, giảm 5,7%. Đàn trâu tiếp tục giảm do hiệu quả kinh tế thấp, giá bán không ổn định, thời gian nuôi kéo dài, khiến người dân chuyển sang các mô hình chăn nuôi khác có giá trị kinh tế cao hơn. Đàn bò cũng giảm chủ yếu vì chi phí đầu vào tăng trong khi giá bán đầu ra bấp bênh, nhiều hộ phải thu hẹp quy mô hoặc ngừng nuôi để hạn chế rủi ro. Ngược lại, đàn lợn tăng nhẹ nhờ người chăn nuôi đầu tư vào mô hình trang trại quy mô lớn, áp dụng tiến bộ kỹ thuật và quy trình an toàn sinh học, qua đó nâng cao năng suất, hiệu quả sản xuất và kiểm soát dịch bệnh. Tổng đàn gia cầm giảm so với cùng kỳ, chủ yếu do đàn vịt giảm vì đã đến kỳ xuất bán vịt thịt chạy đồng, trong khi người nuôi chưa tái đàn. Tuy nhiên, đàn gà tăng mạnh, góp phần ổn định nguồn cung thịt và trứng gia cầm trên thị trường, không gây biến động lớn về giá cả.*Tình hình dịch bệnh trên vật nuôi (Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đồng Tháp):Gia cầm:Bệnh cúm gia cầm: trong tháng không phát sinh. Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh xảy ra 03 hộ có cầm nhiễm vi rút cúm A/H5N1 với số lượng 6.161 con (tổng đàn 7.200 con) tại 02 xã (Phú Thành và Tân Phước 3). Đã tiêu hủy toàn bộ số gia cầm 7.200 con.Gia súc:Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: trong tháng phát sinh 1 hộ có lợn bệnh trên tổng đàn 72 con. Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh xảy ra 20 hộ nuôi có lợn mắc bệnh tại 13 xã (Vĩnh Bình, Bình Ninh, Vĩnh Hựu, Long Hưng, Tân Phước 3, Hội Cư, Bình Trưng, Long Định, Tân Phú, Kim Sơn, Mỹ Tịnh An, Mỹ Thành và Hậu Mỹ). Đã tiêu hủy 540 con (khối lượng khoảng 17.697 kg).Bệnh viêm da nổi cục: trong tháng không phát sinh. Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh xảy ra 03 hộ tại 03 xã (Hậu Mỹ, Tân Thuận Bình, Chợ Gạo) với 04 con bò có dấu hiệu bệnh (tổng đàn 18 con). Đã tiêu hủy 01 con bò (khối lượng 215 kg).Bệnh Lở mồm long móng: trong tháng không phát sinh. Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh xảy ra 01 con lợn bệnh tại cơ sở giết mổ ở xã Hậu Mỹ. Đã tiêu hủy lợn bệnh (khối lượng 110 kg).Hình 3. Chăn nuôi tại thời điểm 30/9/2025b. Lâm nghiệp:Tổng diện tích đất có rừng trên địa bàn tỉnh hiện đạt 8.006,6 ha. Trong 9 tháng năm 2025, số cây phân tán được trồng mới ước đạt 751 nghìn cây, giảm 2,2% so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu do nhiều tuyến đường đã được trồng cây từ các năm trước, nên nhu cầu bổ sung cây mới không còn nhiều. Sản lượng gỗ khai thác ước đạt 131.160 m³, tăng 0,6% so với cùng kỳ; sản lượng củi khai thác ước đạt 303.089 ste, giảm 5,2% so với cùng kỳ năm trước.c. Thủy hải sản:Sản lượng thủy sản trong quý III/2025 ước đạt 250.072 tấn. Tính chung sản lượng thủy sản 9 tháng năm 2025 ước đạt 699.400 tấn, tăng 14,8% so cùng kỳ; trong đó: sản lượng thu hoạch từ nuôi 603.954 tấn, tăng 14,3%; sản lượng khai thác 95.446 tấn, tăng 17,9%. Kết quả khả quan này nhờ điều kiện thời tiết thuận lợi, ít chịu ảnh hưởng bởi bão và áp thấp nhiệt đới, tạo điều kiện cho tàu cá hoạt động hiệu quả; các ngư trường dồi dào nguồn lợi, thủy sản nuôi sinh trưởng tốt, ít dịch bệnh, năng suất cao.d. Nông thôn mới:Đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận tỉnh hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới năm 2024[3].7. Sản xuất công nghiệp:Chỉ số sản xuất công nghiệp quý III/2025 tăng 14,66% so với cùng kỳ, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,49%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 7,51%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,28%; riêng ngành khai khoáng bằng 54,34% so cùng kỳ.Chỉ số sản xuất công nghiệp 9 tháng đầu năm 2025 tăng 13,29% so cùng kỳ; trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 14,11%; ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 3,8%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,04% so cùng kỳ; chỉ riêng ngành khai khoáng bằng 90,22% so cùng kỳ.Sản phẩm sản xuất công nghiệp 9 tháng năm 2025: Có 76/115 sản phẩm tăng so cùng kỳ: giấy vệ sinh tăng 86,2%; dịch vụ sản xuất thiết bị điện chiếu sáng tăng 77%; thịt cá đông lạnh tăng 72,7%; quả và hạt ướp lạnh tăng 67,5%; bóng thể thao khác tăng 34,8%; thanh nhôm, que nhôm, nhôm ở dạng hình tăng 30,8%; máy thu hoạch khác chưa được phân vào đâu tăng 30,2%; cáp đồng trục và dây dẫn điện đồng trục khác tăng 29%; thức ăn cho gia cầm tăng 28,8%; thùng chứa, bể và các loại đồ chứa tương tự dung tích trên 300 lít bằng plastic tăng 26,9%; bánh làm từ bột khác bảo quản được tăng 23,5%; máy chế biến thịt gia súc hoặc gia cầm tăng 22,2%; bia đóng lon tăng 21,6%; thức ăn cho thủy sản tăng 14,4%; mỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền tăng 12,9%; … Có 39/115 sản phẩm giảm so cùng kỳ: bia hơi giảm 99,7%; máy gặt đập liên hợp giảm 83,3%; màn bằng vải khác giảm 64,5%; giày, dép không thấm nước có đế ngoài và mũ bằng cao su hay plastic giảm 37,8%; máy bừa, máy xới, máy cào, máy làm cỏ, máy cuốc giảm 36,4%; tấm giảm 35,9%; dịch vụ sản xuất giày, dép giảm 31,3%; thuốc cỏ cú đầu lọc giảm 23,5%; bia đóng chai giảm 16,9%; thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng viên giảm 14,6%; dịch vụ tiện các bộ phận kim loại giảm 11,4%; ba lô giảm 11,4%;….Hình 4. Chỉ số sản xuất công nghiệp 9 tháng năm 2025* Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo:- Chỉ số tiêu thụ tháng 9/2025 so với tháng trước tăng 1,54% và tăng 9,05% so cùng kỳ. Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cộng dồn từ đầu năm đến cuối tháng 9 năm 2025 tăng 10,58%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao: sản xuất đồ uống tăng 2,07%, trong đó sản xuất bia tăng 2,11%; dệt tăng 14,31%; sản xuất trang phục tăng 24,63%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ tăng 7,5%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 86,41%; sản xuất kim loại tăng 32,83%; sản xuất thiết bị điện tăng 2,78%, trong đó sản xuất ,ô tơ, máy phát, biến thế điện, thiết bị phân phối và điều khiển điện tăng 11,29%;… Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm so cùng kỳ: sản xuất sản phẩm thuốc lá giảm 24,79%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu giảm 54,27%; sản xuất sản phẩm cao su và plastic giảm 21,03%; sản xuất xe có động cơ giảm 45,7%; …- Chỉ số tồn kho tháng 9/2025 so với tháng trước tăng 4,32% so với tháng trước và tăng 4,37% so với cùng kỳ. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so với cùng kỳ: sản xuất trang phục tăng 18,08%; sản xuất da tăng 42,57%, trong đó sản xuất vali, túi xách… tăng 111,02% và sản xuất giày dép tăng 37,29%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng hơn 2 lần (tăng 212,26%); sản xuất kim loại tăng 28,39%;... Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tồn kho giảm: sản xuất đồ uống giảm 76,06%; dệt giảm 40,4%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 35,58%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẳn giảm 38%; sản xuất thiết bị điện giảm 19,55% so cùng kỳ…8. Thương mại, dịch vụ:a. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng:Hoạt động kinh doanh trên địa bàn tỉnh diễn ra ổn định và tăng hơn so cùng kỳ, lượng hàng hóa dồi dào, các đơn vị kinh doanh chủ động dự trữ hàng hóa để phục vụ nhu cầu mua sắm của người dân trong các dịp lễ, Tết. Nắm bắt nhu cầu, sức mua của người tiêu dùng tăng mạnh vào các dịp lễ, nhiều hệ thống siêu thị và trung tâm thương mại đã tổ chức các chương trình khuyến mãi, giảm giá lớn nhằm tăng doanh số bán hàng cũng như phục vụ người tiêu dùng trong đợt nghỉ dài ngày.Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng quý III/2025 thực hiện 61.781 tỷ đồng, tăng 9,5% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 47.715 tỷ đồng, tăng 8%; lưu trú 250 tỷ đồng, tăng 32,6%; ăn uống 8.172 tỷ đồng, tăng 17%; du lịch lữ hành 144 tỷ đồng, tăng 79,5%; dịch vụ tiêu dùng 5.500 tỷ đồng, tăng 10,4% so cùng kỳ. Hoạt động mua bán trên địa bàn tỉnh tiếp tục diễn ra ổn định, các dịp Lễ Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh mùng 2/9, nhu cầu, sức mua của người tiêu dùng tăng mạnh trong đợt nghỉ dài ngày.Chín tháng đầu năm 2025, tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng 184.849 tỷ đồng, tăng 9,3% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 143.756 tỷ đồng, tăng 8,4%; lưu trú, ăn uống 24.503 tỷ đồng, tăng 13,8%; du lịch lữ hành 326 tỷ đồng, tăng 34%; dịch vụ tiêu dùng khác 16.264 tỷ đồng, tăng 10,2% so cùng kỳ.Hình 5. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùngb. Xuất - Nhập khẩu: (Theo báo cáo Sở Công Thương)Kinh tế và chính trị thế giới diễn biến phức tạp, căng thẳng thương mại Mỹ - Trung và một số quốc gia khác có thể dẫn tới những xáo trộn lớn với thương mại toàn cầu. Hoạt động xuất khẩu của Tỉnh tiếp tục duy trì ổn định, tuy nhiên bức tranh chung vẫn tiềm ẩn nhiều khó khăn do tác động từ các yếu tố bên ngoài. Cụ thể như: Philippines thông báo tạm ngừng nhập khẩu gạo trong 60 ngày kể từ ngày 01/9/2025; chính sách bảo hộ thương mại của Hoa Kỳ, đặc biệt là áp mức thuế 20% đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam, đã làm cho đơn hàng của nhiều doanh nghiệp bị ảnh hưởng, gây áp lực lớn đến kim ngạch xuất khẩu của tỉnh trong những tháng còn lại của năm 2025.a. Xuất khẩu:Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng ước thực hiện 730 triệu USD, giảm 13,9% so tháng trước và giảm 10,8% so cùng kỳ. Chín tháng xuất khẩu ước tính 6.865 triệu USD, đạt 74,6% kế hoạch, tăng 1,1% so cùng kỳ.b. Nhập khẩu:Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 9/2025 ước đạt 360 triệu USD, giảm 15,9% so tháng trước và tăng 1,8% so cùng kỳ. Chín tháng ước đạt 3.676 triệu USD, đạt 82,9% kế hoạch và tăng 15,8% so với cùng kỳ.Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu trong tổng kim ngạch nhập khẩu của tỉnh 9 tháng năm 2025 như: Kim loại thường khác (nguyên liệu đồng) ước đạt 1.012 triệu USD, tăng 2,6%; Sắt thép các loại ước đạt 334 triệu USD, bằng 86,2%; Nguyên phụ liệu dệt may, da giày, túi xách ước đạt 271 triệu USD, bằng 83,7%; Vải may mặc ước đạt 193 triệu USD, bằng 94,6%; Chất dẻo nguyên liệu ước đạt 141 triệu USD, bằng 70,6% so cùng kỳ;…c. Vận tải:Hiện nay tình hình hoạt động của các tuyến xe cố định trên địa bàn tỉnh tiếp tục được duy trì thông thoáng, đặc biệt các chủ cơ sở kinh doanh vận tải tự giác chấp hành tốt nội qui bến bãi, đã tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân đi lại và vận chuyển hàng hoá đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh...Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải quý III/2025 thực hiện 1.929 tỷ đồng, tăng 14% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 635 tỷ đồng, tăng 14,7% so cùng kỳ; vận tải hàng hóa thực hiện 962 tỷ đồng, tăng 13,7% so cùng kỳ. Chín tháng đầu năm 2025, doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải thực hiện 5.723 tỷ đồng, tăng 13,8% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 1.861 tỷ đồng, tăng 13,7% so cùng kỳ; vận tải hàng hóa thực hiện 2.854 tỷ đồng, tăng 13,2% so cùng kỳ. Vận tải đường bộ thực hiện 2.670 tỷ đồng, tăng 14%; vận tải đường thủy thực hiện 2.045 tỷ đồng, tăng 12,6%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 584 tỷ đồng, tăng 14,3% so cùng kỳ.Vận chuyển hành khách quý III/2025 đạt 18.267 ngàn hành khách, tăng 11,6% và luân chuyển 674.810 ngàn hành khách.km, tăng 10,7% so cùng kỳ;trong đó: vận chuyển đường bộ 6.097 ngàn hành khách, tăng 14,5% và luân chuyển 669.031 ngàn hành khách.km, tăng 10,7% so cùng kỳ; vận chuyển đường thủy 12.170 ngàn hành khách, tăng 10,2% và luân chuyển 5.779 ngàn hành khách.km, tăng 7% so cùng kỳ. Chín tháng đầu năm 2025, vận chuyển hành khách đạt 54.012 ngàn hành khách, tăng 11,5% và luân chuyển 2.028.824 ngàn hành khách.km, tăng 27,8% so cùng kỳ, Trong đó: vận chuyển đường bộ 17.714 ngàn hành khách, tăng 26,6% và luân chuyển 2.011.460 ngàn hành khách.km, tăng 28,3% so cùng kỳ; vận chuyển đường thủy 36.298 ngàn hành khách, tăng 5,4% và luân chuyển 17.364 ngàn hành khách.km, bằng 88% so cùng kỳ.Vận tải hàng hóa quý III/2025 đạt 7.052 ngàn tấn, tăng 12% và luân chuyển được 1.322.484 ngàn tấn.km, tăng 9,4% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ thực hiện 1.726 ngàn tấn,tăng 13% và luân chuyển được 237.515 ngàn tấn.km, tăng 2,4% so cùng kỳ; vận tải đường thủy thực hiện 5.326 ngàn tấn, tăng 11,7% và luân chuyển được 1.084.969 ngàn tấn.km, tăng 11,1% so cùng kỳ. Chín tháng đầu năm 2025, vận tải hàng hóa đạt 21.326 ngàn tấn, tăng 9,7% và luân chuyển 3.983.736 ngàn tấn.km, tăng 4,8% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ thực hiện 5.108 ngàn tấn, tăng 24,9% và luân chuyển được 716.357 ngàn tấn.km, bằng 84% so cùng kỳ; vận tải đường thủy thực hiện 16.218 ngàn tấn, tăng 5,6% và luân chuyển 3.267.379 ngàn tấn.km, tăng 10,8% so cùng kỳ.* Phương tiện giao thông: Trong tháng đăng ký mới 4.315 chiếc mô tô xe máy và 455 chiếc xe ô tô. Tổng số xe đang quản lý trên địa bàn tỉnh là 3.079.233 chiếc, trong đó mô tô xe máy: 2.949.145 chiếc, 126.839 xe ô tô, 169 xe ba bánh, 666 xe đạp điện, 1.063 xe khác và 1.309 xe lam.d. Du lịch:Chín tháng đầu năm 2025, lượng khách du lịch đến tỉnh 2.879 ngàn lượt, tăng 5,4% so cùng kỳ; trong đó khách quốc tế 394 ngàn lượt, tăng 7,8% so cùng kỳ. Doanh thu hoạt động lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành 24.829 tỷ đồng, tăng 14% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống chiếm 97,6%.e. Bưu chính - Viễn thông:Doanh thu tháng 9 đạt 516,9 tỷ đồng, giảm 1,2% so tháng trước, do các nhà mạng đang siết chặc các thuê bao Sim rác; mặc khác nhiều nhà mạng cạnh tranh khuyến mãi dịp nghỉ lễ 02/9, dẫn đến doanh thu giảm; trong đó: doanh thu bưu chính 50,4 tỷ đồng, tương đương so tháng trước; viễn thông 466,5 tỷ đồng, giảm 1,35% so tháng trước. Cộng dồn 9 tháng doanh thu 4.603,6 tỷ đồng, tăng 4,9% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính 423,8 tỷ đồng, tăng 8,2% so cùng kỳ, doanh thu viễn thông 4.479,8 tỷ đồng, tăng 4,5% so cùng kỳ.Tổng số thuê bao điện thoại có trên mạng ước tính đến cuối tháng 9 năm 2025 là 3.879.717 thuê bao, mật độ bình quân đạt 113,99 thuê bao/100 dân (chỉ tính hữu tuyến, vô tuyến, trả trước, trả sau). Số thuê bao điện thoại di động có sử dụng Internet (3G, 4G) đến cuối tháng 9 là: 3.213.908 thuê bao. Tổng số thuê bao Internet trên mạng ước tính đến cuối tháng 9 năm 2025 là 4.222.019 thuê bao (bao gồm: băng rộng di động 3G, 4G; MyTV và Cáp; băng rộng cố định FTTH, xDSL, Leased-line, CATV). Mật độ Internet bình quân ước đạt 124,04 thuê bao/100 dân. Các doanh nghiệp bưu chính, viễn thông trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì trên đà phát triển ổn định, không ngừng đầu tư nâng cấp phát triển mạng lưới, cung cấp nhiều loại hình dịch vụ phong phú, đa dạng để duy trì tốc độ phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng của khách hàng.II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI1. Lao động, giải quyết việc làm:a. Tư vấn và giới thiệu việc làm:Trong 9 tháng, giải quyết việc làm cho 47.650 lao động đạt 95,3% kế hoạch (50.000 lao động); tổ chức 63 phiên giao dịch việc làm, ngày hội việc làm với 678 lượt doanh nghiệp tham gia, thu hút trên 15.000 lượt người tham gia, có trên 3.700 lao động được kết nối.Công tác đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo hợp đồng đạt nhiều kết quả tích cực. Trong 9 tháng, có 1.727 lao động đi làm việc ở nước ngoài (Nhật Bản: 1.063 lao động; Hàn Quốc: 597 lao động; Đài Loan: 54 lao động; các nước khác 13 lao động), đạt 67,7% so với kế hoạch năm (2.550 lao động).Về trợ cấp thất nghiệp trong 9 tháng, số người lao động đăng ký hưởng trợ cấp thất nghiệp 19.657 người, giảm 18% so với cùng kỳ. Có 18.685 người được hưởng trợ cấp thất nghiệp với số tiền tương ứng 393,9 tỷ đồng.Cơ quan chức năng cũng đã kịp thời nắm bắt và xử lý các vấn đề liên quan đến quan hệ lao động. Cụ thể, ghi nhận 01 vụ ngừng việc tập thể với sự tham gia của 1.100 công nhân tại Công ty TNHH May mặc Ecotank (ấp Quý Trình, phường Nhị Quý), do phản ánh về chế độ tiền lương và các chính sách an sinh xã hội. Các ngành chức năng đã phối hợp với lãnh đạo công ty tổ chức đối thoại, giải quyết kịp thời các kiến nghị chính đáng, giúp công nhân ổn định tâm lý và trở lại làm việc bình thường.b. Tình hình thiếu việc làm, thất nghiệp:Theo kết quả sơ bộ cuộc điều tra lao động việc làm quý III năm 2025, tình hình lao động thiếu việc làm và thất nghiệp như sau:Trong quý III/2025, tỷ lệ lao động thiếu việc làm toàn tỉnh là 3,56%, giảm 0,51 điểm phần trăm so với quý II và giảm 0,01 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2024 (3,57%). Tỷ lệ thiếu việc làm khu vực nông thôn là 3,19%, giảm 0,28 điểm phần trăm so quý trước và giảm 0,14 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước (3,33%). Trong khi đó, khu vực thành thị có tỷ lệ thiếu việc làm là 4,31%, giảm 0,94 điểm phần trăm so với quý trước, nhưng tăng 0,22 điểm phần trăm so cùng kỳ năm trước (4,09%). Đáng chú ý, lao động thiếu việc làm tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn, chiếm 60,36% tổng số lao động thiếu việc làm toàn tỉnh.Tỷ lệ thất nghiệp quý III/2025 là 0,61%, giảm 0,39 điểm phần trăm so quý II và giảm 0,29 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2024 (0,90%). Xét theo khu vực, khu vực thành thị có tỷ lệ thất nghiệp là 0,87%, giảm 0,75 điểm phần trăm so quý trước và giảm 0,14 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước (1,01%). Khu vực nông thôn có tỷ lệ thất nghiệp 0,47%, giảm 0,21 điểm phần trăm so quý trước và giảm 0,38 điểm phần trăm so với cùng kỳ (0,85%). Lao động thất nghiệp ở khu vực nông thôn chiếm tỷ trọng 52,63% trong tổng số người thất nghiệp của tỉnh.Tính chung 9 tháng năm 2025, tỷ lệ thiếu việc làm toàn tỉnh là 3,87%, tăng 0,26 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước (3,61%). Trong đó, khu vực thành thị là 4,71% (tăng 0,38 điểm phần trăm) và khu vực nông thôn là 3,47% (tăng 0,19 điểm phần trăm). Tỷ lệ thất nghiệp của tỉnh 9 tháng năm 2025 là 0,86%, giảm 0,09 điểm phần trăm so với cùng kỳ (0,95%); riêng khu vực thành thị là 1,36% (tăng 0,01 điểm phần trăm) và khu vực nông thôn là 0,62% (giảm 0,14 điểm phần trăm). Tỷ trọng lao động thất nghiệp ở khu vực thành thị chiếm 51,85% trong tổng số người thất nghiệp toàn tỉnh.2. Đời sống dân cư và an sinh xã hội:a. Đời sống dân cư:Trong 9 tháng năm 2025, đời sống dân cư trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định, thu nhập và mức sống từng bước được cải thiện. Công tác an sinh xã hội và chăm sóc sức khỏe nhân dân tiếp tục được chú trọng; các chương trình y tế cộng đồng, phòng chống dịch bệnh được triển khai hiệu quả, đặc biệt bệnh sốt xuất huyết trong 9 tháng tăng 80,3% so với cùng kỳ nhưng đã được kiểm soát, không ghi nhận ca tử vong.Tình hình biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp, hoàn lưu bão số 03 (WIPHA) đã gây thiệt hại về người và tài sản. Trong mùa khô 2024–2025, nhờ triển khai đồng bộ, kịp thời các giải pháp phòng, chống hạn mặn ngay từ đầu vụ, tỉnh đã bảo vệ hiệu quả diện tích sản xuất nông nghiệp và đảm bảo ổn định đời sống nhân dân. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản nhìn chung duy trì ổn định; các mặt hàng nông sản cơ bản đáp ứng nhu cầu thị trường trong và ngoài tỉnh. Tuy nhiên, trong 9 tháng qua, giá nông sản gặp nhiều khó khăn do nguồn cung dồi dào, đầu ra hạn chế; thời tiết mưa bão kéo dài trong quý III ảnh hưởng đến chất lượng và khâu vận chuyển. Bên cạnh đó, yêu cầu ngày càng khắt khe về tiêu chuẩn chất lượng, sự phụ thuộc vào một số thị trường nhập khẩu lớn (gạo, sầu riêng, mít, thanh long…) cùng với biến động thị trường trong và ngoài nước đã tác động đáng kể đến giá cả nông sản của tỉnh.Hoạt động thương mại – dịch vụ tiếp tục ổn định và phát triển trên nhiều mặt. Chính sách giảm 2% thuế VAT đến hết năm 2026 đã góp phần kích thích tiêu dùng trong nước, thúc đẩy cầu nội địa. Trên địa bàn tỉnh, giao thương, buôn bán diễn ra sôi nổi; nguồn cung hàng hóa dồi dào, giá cả ít biến động, không xảy ra tình trạng khan hiếm. Đây là tín hiệu tích cực, tạo phấn khởi cho tiểu thương, doanh nghiệp bán lẻ và phân phối, đồng thời thúc đẩy tăng trưởng ngành thương mại – dịch vụ, tạo động lực cho những tháng cuối năm 2025.Trong tháng 9 năm 2025, tổng số lao động làm việc tại các doanh nghiệp trong khu công nghiệp (KCN), khu kinh tế (KKT) đạt 107.598 người, trong đó có 1.371 lao động nước ngoài (chiếm 1,3%). Nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp trong khu đạt khoảng 4.296 lao động, tập trung nhiều tại các công ty như: Giày Apache Việt Nam, Freview Industrial (Việt Nam), Hansae TG, Goleader Việt Nam, Bestway Việt Nam, Đồng Iinhong Việt Nam, Topknit, Xuất Nhập Khẩu Cỏ May, Thực phẩm QVD Đồng Tháp, Liên Doanh Nghị Phong… Tuy nhiên, công tác kết nối cung – cầu lao động còn gặp khó khăn. Tại các KCN Long Giang và Tân Hương, nhu cầu tuyển dụng gần 5.000 lao động, chủ yếu là lao động phổ thông trong các ngành may mặc, giày da, điện tử, cơ khí, sản xuất lốp xe… do mở rộng sản xuất, trong khi nguồn cung trong tỉnh tăng không đáng kể, số người có nhu cầu tìm việc thấp, dẫn đến tình trạng thiếu hụt lao động cục bộ.b. An sinh xã hội:- Ngày 29/8/2025, Chính phủ ban hành Nghị quyết 263/NQ-CP năm 2025 về việc tặng quà nhân dân nhân dịp kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9. Theo đó, nội dung chính sách tặng quà cho nhân dân nhân dịp kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9 như sau:+ Đối tượng: Công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam chưa xác định được quốc tịch nhưng đã được cấp giấy chứng nhận căn cước đang cư trú tại Việt Nam và đã được thu thập, cập nhật, cấp số định danh cá nhân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, được xác lập tại thời điểm hết ngày 30/8/2025.+ Mức quà tặng: 100.000 đồng/người, bằng tiền.- Tặng quà gia đình chính sách nhân dịp Tết Nguyên đán 2025 và kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2025). Nhân dịp Tết Nguyên đán Ất Tỵ năm 2025, tỉnh Đồng Tháp đã tổ chức thăm và tặng quà đối với người có công với cách mạng và thân nhân của họ từ các nguồn ngân sách nhà nước và kinh phí địa phương với 148.940 suất, với tổng số tiền trên 56,1 tỷ đồng. Ngày 23/4/2025 Chủ tịch nước ban hành Quyết định số 689/QĐ-CTN về việc tặng quà cho người có công với cách mạng nhân kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và 80 năm Ngày Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Địa phương tặng quà của Chủ tịch nước cho người có công đang hưởng trợ cấp hàng tháng và người thờ cúng liệt sĩ, số lượng 55.096 người, mỗi suất quà tiền mặt 500.000 đồng/người, với số tiền trên 27,5 tỷ đồng.- Thăm, tặng quà gia đình chính sách nhân kỷ niệm 78 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947- 27/7/2025). Đồng Tháp đã tổ chức thăm và tặng quà đối với người có công với cách mạng và thân nhân của họ từ các nguồn ngân sách nhà nước và kinh phí vận động từ cộng đồng với tổng số 54.282 suất, với tổng số tiền trên 16,4 tỷ đồng.- Nhà ở cho người có công:+ Thực hiện Quyết định số 21/2024/QĐ-TTg ngày 22/11/2024 của Thủ tướng Chính phủ về mức hỗ trợ xây dựng mới hoặc cải tạo, sửa chữa nhà ở đối với người có công với cách mạng, thân nhân liệt sĩ và tỷ lệ phân bổ vốn hỗ trợ từ ngân sách trung ương, tỷ lệ đối ứng vốn hỗ trợ từ ngân sách địa phương, vốn xã hội hóa giai đoạn 2023-2025 và triển khai xoá nhà tạm, nhà dột nát trên địa bàn tỉnh đã hoàn thành hỗ trợ 741 căn nhà cho người có công với cách mạng (xây mới 240 căn, sửa chữa 501 căn).+ Thực hiện công tác nhà ở người có công trên cơ sở Kế hoạch số 107/KH-UBND ngày 20/3/2025 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp (cũ) về thực hiện hỗ trợ an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp năm 2025 từ nguồn ngân sách, nguồn thu xổ số kiến thiết và nguồn tài trợ hợp pháp khác, tổng số nhà ở đã phân bổ về địa phương, hoàn thành và đã bàn giao là 605 căn (xây mới 207 căn; sữa chữa 398 căn).+ Thực hiện Nghị quyết số 28/2021/NQ-HĐND ngày 08/12/2021 của Hội đồng nhân dân tỉnh Tiền Giang về việc quy định mức hỗ trợ kinh phí để xây dựng, sửa chữa nhà ở cho Người có công và thân nhân người có công với cách mạng trên địa bàn tỉnh Tiền Giang, giai đoạn 2022-2025, hoàn thành hỗ trợ nhà ở cho người có công và thân nhân người có công với cách mạng 1.206 căn (xây mới 258 căn, sửa chữa 948 căn).3. Hoạt động giáo dục:Trong 9 tháng năm 2025, ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh đã triển khai đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ trọng tâm, từ tổ chức Lễ khai giảng năm học mới, tổ chức các kỳ thi học sinh giỏi đến đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số.Ngày 21/8/2025, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 509/QĐ-UBND về khung kế hoạch thời gian năm học 2025-2026 đối với giáo dục mầm non, phổ thông và thường xuyên. Theo đó, học sinh các khối lớp 1, 9 và 12 tựu trường từ ngày 22/8; các khối lớp còn lại tựu trường từ ngày 29/8; Lễ khai giảng chính thức diễn ra vào ngày 5/9/2025.Tổ chức thành công Kỳ thi chọn đội tuyển học sinh giỏi dự thi cấp quốc gia (16-17/9/2025) tại Trường THPT Chuyên Nguyễn Quang Diêu và Trường THPT Chuyên Tiền Giang. Đồng thời, thành tích nổi bật của em Nguyễn Nhựt Lam, học sinh lớp 12, Trường THPT Cái Bè khi xuất sắc giành vòng nguyệt quế cuộc thi quý II Đường lên đỉnh Olympia năm 2025, qua đó góp mặt tại Chung kết năm (dự kiến diễn ra vào ngày 26/10/2025, phát sóng trực tiếp trên kênh VTV3), đã trở thành niềm tự hào của cá nhân em, nhà trường và tỉnh Đồng Tháp. Đây không chỉ là thành tích giáo dục mà còn là dấu ấn quảng bá hình ảnh “Đất Sen hồng” hiếu học, giàu truyền thống văn hóa – lịch sử đến bạn bè cả nước.Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2025 trên địa bàn tỉnh có 33.666 thí sinh dự thi, trong đó 33.446 thí sinh đỗ tốt nghiệp, đạt tỷ lệ 99,35%.Trường THPT Trương Định (tiền thân là Trường Trung học Gò Công), phường Long Thuận, tỉnh Đồng Tháp, đã long trọng tổ chức lễ kỷ niệm 70 năm thành lập vào ngày 27/9/2025. Buổi lễ thu hút sự tham dự của hàng ngàn thế hệ học sinh từ khắp mọi miền đất nước. Đặc biệt, buổi lễ vinh dự đón tiếp ông Nguyễn Trọng Nghĩa, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương; bà Trương Mỹ Hoa, nguyên Phó Chủ tịch nước; bà Nguyễn Thị Hoài Thu, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội; cùng lãnh đạo tỉnh, các thế hệ cán bộ, giáo viên và học sinh của trường.4. Hoạt động y tế:Hoạt động chăm sóc sức khỏe nhân dân trên địa bàn tỉnh trong 9 tháng năm 2025 được đảm bảo. Mạng lưới cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đủ năng lực cung ứng dịch vụ y tế có chất lượng đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân. Trong 9 tháng, trên địa bàn tỉnh ghi nhận 20 bệnh truyền nhiễm. So với cùng kỳ cộng dồn: có 11 bệnh tăng (Rubella, Sốt xuất huyết Dengue, Sởi, Tay - chân - miệng, Ho gà, Thương hàn, Bệnh do vi rút Adeno, Lỵ trực trùng, Quai bị, Thủy đậu, Viêm gan vi rút khác), có 11 bệnh giảm so cùng kỳ (Bệnh do liên cầu lợn ở người, Liệt mềm cấp nghi bại liệt, Lao phổi, Uốn ván khác, Viêm gan vi rút A, Viêm gan vi rút B, Viêm gan vi rút C, Cúm, Lỵ amíp, Tiêu chảy, Bệnh viêm đường hô hấp cấp) và 22 bệnh tương đương so cùng kỳ.Các bệnh truyền nhiễm ghi nhận trong tháng 9: bệnh Sốt - xuất - huyết ghi nhận 1.143 ca; bệnh Tay - chân - miệng ghi nhận 553 ca. Tính từ đầu năm đến nay, bệnh Sốt - xuất - huyết ghi nhận 3.715 ca, tăng 80,3% so cùng kỳ; bệnh Tay - chân - miệng ghi nhận 3.678 ca, tăng 20,9%.Phòng chống HIV/AIDS: toàn tỉnh có 15.785 người nhiễm HIV; 5.051 người chuyển sang AIDS; tử vong do AIDS: 3.874 người.An toàn vệ sinh thực phẩm trong 9 tháng xảy ra 02 vụ với 56 người mắc ngộ độc thực phẩm, không có ca tử vong.Tình hình khám chữa bệnh trong 9 tháng: tổng số lần khám bệnh 5.988.369 lượt người, giảm 1,1% so cùng kỳ; tổng số người điều trị nội trú 337.741 lượt người, tăng 1,4% so cùng kỳ.5. Hoạt động văn hóa - thể thao:Trong 9 tháng năm 2025, các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao trên địa bàn tỉnh diễn ra phong phú, sôi nổi, gắn liền với những sự kiện lịch sử, chính trị trọng đại của đất nước và địa phương.a. Hoạt động văn hóa nghệ thuật:Kỷ niệm 78 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ; 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công (19/8/1945 - 19/8/2025) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945 - 02/9/2025); 80 năm Ngày truyền thống Công an nhân dân Việt Nam và 20 năm Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc. Lễ giỗ Anh hùng dân tộc Trương Định, kỷ niệm 161 năm ngày ông tuẫn tiết (20/8/1864 - 20/8/2025). UBND phường Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp long trọng tổ chức lễ giỗ lần thứ 205 ông, bà Đỗ Công Tường – bậc tiền hiền có công khai khẩn đất hoang, lập chợ, đặt nền móng hình thành vùng đất Cao Lãnh ngày nay, diễn ra từ ngày 1 đến 3-8 (nhằm ngày 8, 9 và 10 tháng 6 âm lịch). Tổ chức chương trình nghệ thuật đặc sắc và màn bắn pháo hoa rực rỡ chào mừng 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 02/9 tại Quảng trường Hùng Vương (phường Đạo Thạnh) vào tổi ngày 02/9, mang đến cho người dân một không khí hào hùng, sôi động và đầy tự hào dân tộc.b. Hoạt động thư viện:Các hoạt động của hệ thống thư viện trên địa bàn tỉnh diễn ra sôi nổi, đa dạng, góp phần lan tỏa văn hóa đọc trong cộng đồng. Nổi bật là việc triển khai Cuộc thi “Bác Hồ trong trái tim tôi” (lần thứ 4) năm 2025, chương trình “Hè vui đọc sách” cùng với cuộc thi “Đọc sách cùng Xích Lô” được phát động trên toàn tỉnh, tạo sân chơi bổ ích, khuyến khích thói quen đọc sách, rèn luyện kỹ năng và bồi đắp tri thức cho các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thanh thiếu nhi. Các hoạt động thư viện như trưng bày, triển lãm tài liệu nhân kỷ niệm 80 năm Ngày Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thực hiện không gian trưng bày sách, báo, tài liệu và mô hình sách nghệ thuật tại Trung tâm Triển lãm Quốc gia Hà Nội, đồng thời phục vụ tại Thư viện tỉnh và các cơ sở lưu động tại các địa phương.c. Hoạt động bảo tàng:Công tác trưng bày và phục vụ khách tham quan được thực hiện với nhiều chuyên đề cố định và ngoài trời như: Lịch sử, văn hóa và xã hội Tiền Giang trước năm 1930; Lịch sử Tiền Giang từ khi có Đảng lãnh đạo; Lịch sử Khu 8; Văn hóa Óc Eo, nông nghiệp truyền thống; Thiên nhiên – đất nước – con người Đồng Tháp xưa; các chuyên đề về kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cùng trưng bày chuyên đề “Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo – Giai điệu và cuộc đời”; Triển lãm thành tựu kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Tháp tại Thành phố Hà Nội chủ đề “Tự hào truyền thống - Vững bước kiến tạo tương lai”; Triển lãm ảnh chủ đề “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý” tại Bảo tàng tỉnh (phường Cao Lãnh); Trưng bày, triển lãm ảnh các chuyên đề: “Hồ Chí Minh những nét phác họa chân dung”; “Ân tình xứ Nghệ”; “Khu di tích Xẻo Quít - Bảo tồn lịch sử, gìn giữ hồn quê” tại Khu di tích Nguyễn Sinh Sắc, Khu di tích Xẻo Quít; Triển lãm ảnh thành tựu quốc phòng, an ninh, kinh tế - xã hội và xây dựng Đảng kỷ niệm 80 năm Ngày Cách mạng Tháng Tám thành công và Ngày Quốc khánh Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Ngày truyền thống Lực lượng vũ trang tỉnh tại Bảo tàng tỉnh (phường Mỹ Tho).d. Hoạt động thể dục, thể thao:Tổ chức 06 giải cấp quốc gia trong 9 tháng qua: Giải Bơi - Lặn vô địch các nhóm tuổi Quốc gia; Cuộc đua xe đạp toàn quốc tranh Cúp Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ 37 – 2025; Giải vô địch Trẻ Roller Sports; Giải Petanque vô địch quốc gia năm 2025; Giải Vô địch Judo quốc gia năm 2025 và Giải vô địch Cầu mây trẻ quốc gia năm 2025. Thể thao thành tích cao đạt nhiều kết quả ấn tượng trong 9 tháng như: có 64 vận động viên ở các môn Bắn cung, Bơi lội, Canoeing, Cầu mây, Điền kinh, Judo, Karate, Kickboxing, Boxing, Kurash, Taekwondo và Xe đạp được triệu tập vào các đội tuyển quốc gia thi đấu các giải quốc tế; tham dự thi đấu trên 75 giải thể thao quốc gia, quốc tế đạt 507 huy chương quốc gia các loại (109 HCV, 152 HCB, 246 HCĐ); 56 huy chương quốc tế các loại (33 HCV, 13 HCB, 10 HCĐ).6. Tình hình trật tự an toàn xã hội (theo báo cáo của ngành Công an):Tình hình an ninh trật tự trong 9 tháng năm 2025 trên địa bàn tỉnh được đảm bảo. Ghi nhận 939 vụ, giảm 35,7% (giảm 522 vụ) so với cùng kỳ. Hậu quả làm chết 34 người; bị thương 299 người; tài sản thiệt hại khoảng 515,2 tỷ đồng. Cơ quan chức năng điều tra khám phá 773 vụ (đạt 82,3%); xử lý 1.411 đối tượng, đồng thời thu hồi tài sản trị giá khoảng 3,9 tỷ đồng.Về tội phạm ma túy trong 9 tháng, lực lượng chức năng đã phát hiện và xử lý 264 vụ, 479 đối tượng có hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và xử lý hành chính 1.106 đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy.7. Trật tự an toàn giao thông (theo báo cáo ngành công an tỉnh, số liệu tính từ ngày 15/8/2025 đến 14/9/2025):Tai nạn giao thông đường bộ: trong tháng xảy ra 42 vụ, tăng 06 vụ so tháng trước và giảm 27 vụ so cùng kỳ; làm chết 38 người, tăng 06 người so tháng trước và giảm 14 người so cùng kỳ; bị thương 16 người, tăng 04 người so tháng trước và giảm 25 người so cùng kỳ. Nâng tổng số vụ từ đầu năm đến nay, xảy ra 437 vụ, giảm 59 vụ so cùng kỳ; làm 319 người chết, giảm 37 người so cùng kỳ và bị thương 209 người, giảm 49 người so cùng kỳ. Các nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông chủ yếu vẫn do ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông như: điều khiển xe khi có rượu bia, phóng nhanh vược ẩu, không làm chủ tốc độ; không đi đúng phần đường, làn đường; không nhường đường, vượt đèn đỏ, thiếu quan sát…Tai nạn giao thông đường thủy: trong tháng không xảy ra. Tổng số vụ từ đầu năm đến nay là 01 vụ (không phát sinh người chết và bị thương), giảm 02 vụ, làm thiệt hại ước khoảng 0,4 tỷ đồng.Tai nạn giao thông trong dịp Lễ 2/9 (tính từ ngày 30/8/2025 đến ngày 02/9/2025): xảy ra 10 vụ, tương đương so cùng kỳ; làm chết 09 người, tăng 02 người; số người bị thương 05 người, giảm 02 người.8. Tình hình cháy nổ, môi trường và thiên tai:Cháy, nổ: trong tháng, trên địa bàn tỉnh xảy ra 02 vụ cháy, gây thiệt hại tài sản khoảng 1,6 tỷ đồng. Cộng dông từ đầu năm, toàn tỉnh ghi nhận tổng cộng 19 vụ cháy, giảm 06 vụ so với cùng kỳ, số người tử vong do cháy là 05 người và tổng thiệt hại tài sản khoảng 275 tỷ đồng.Môi trường: trong tháng đã xảy ra 04 vụ vi phạm. Cộng dồn từ đầu năm, toàn tỉnh xảy ra 46 vụ vi phạm môi trường, tăng 55,6% so với cùng kỳ. Tổng số tiền đã xử phạt hành chính trên 697 triệu đồng.Thiên tai: tình hình biến đổi khí hậu trong 9 tháng diễn biến phức tạp. Đặc biệt do ảnh hưởng của hoàn lưu bão số 03 WIPHA đã gây thiệt hại lớn về người và tài sản. Cộng dồn từ đầu năm, toàn tỉnh xảy ra 24 cơn mưa giông, lốc xoáy, 11 vụ sạt lỡ, chịu ảnh hưởng của 03 cơn bão, làm chết 02 người, bị thương 21 người, sập 94 căn nhà, tốc mái 671 căn, 26,5 ha lúa bị thiệt hại, 8,3 hoa màu bị hư, hư hỏng 10 phòng học, 6 nhà kho và 34 trụ điện bị ngã đổ; gây thiệt hại 5,7 ha cây ăn trái, khoảng 3 tấn trái cây bị rụng hư. Tổng giá trị thiệt hại ước tính khoảng 42,5 tỷ đồng.III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI QUÝ IV NĂM 2025Trên cơ sở phát huy những kết quả đã đạt được trong những tháng đầu năm 2025 đồng thời khắc phục hạn chế, những việc chưa thực hiện được. Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh trong lãnh và chỉ đạo, các ngành, các cấp, địa phương chủ động đề ra các giải pháp, vượt qua khó khăn, thách thức, khai thác tốt những cơ hội để phục hồi, phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội,… phấn đấu thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra trong năm 2025 tăng trưởng (GRDP) từ 8% trở lên. Trong quý IV năm 2025 cần thực hiện một số giải pháp trọng tâm như sau:Tiếp tục theo dõi tình hình khí tượng thủy văn (mưa, bão, áp thấp nhiệt đới,...); mực nước nội đồng và tình hình vận hành công trình phục vụ sản xuất các vùng dự án. Tình hình sản xuất vụ Hè Thu năm 2025, hướng dẫn lịch thời vụ, cơ cấu giống vụ lúa Đông xuân 2025 – 2026, tình hình sản xuất và thu hoạch các loại cây trồng; tình hình chăn nuôi và kiểm tra, giám sát dịch bệnh trên động vật nuôi và chủ động áp dụng các giải pháp phòng chống an toàn hiệu quả.Hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất, chế biến để tăng khối lượng sản xuất và tiêu thụ. Có thể hướng dẫn, gợi ý cho doanh nghiệp chuyển đổi sản phẩm sang các phân khúc ngách (chế biến sâu, sản phẩm hữu cơ, ít phát thải) và mở rộng kho lạnh, logistics phục vụ xuất khẩu. Tăng cường kết nối giữa ngân hàng với doanh nghiệp, đảm bảo nguồn vốn tín dụng cho sản xuất kinh doanh.Triển khai thực hiện đồng bộ, linh hoạt các chính sách về lãi suất, gói hỗ trợ lãi suất cho vay, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh; tập trung vốn vào các lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên; tiếp tục triển khai chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn. Tăng cường công tác kết nối ngân hàng - doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi trong vay vốn tín dụng ngân hàng cho doanh nghiệp và người dân.Kiểm soát giá cả trên địa bàn thông qua các chương trình bình ổn giá của tỉnh, tăng cường kiểm tra giám sát và xử lý sai phạm pháp luật về giá.Thực hiện có hiệu quả các Chương trình xúc tiến thương mại, thúc đẩy phân phối hàng hóa qua nền tảng số, thương mại điện tử để mở rộng tiêu dùng nội địa; vận động người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam; đẩy mạnh phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, các ngành, lĩnh vực mới nổi, các mô hình kinh doanh mới, hiệu quả.Tăng cường xúc tiến đầu tư, ưu tiên lựa chọn các dự án du lịch có chất lượng cao, thân thiện với môi trường và các điểm đến có tiềm năng phát triển du lịch gắn với quy hoạch phát triển du lịch của tỉnh. Đẩy mạnh chuyên nghiệp hóa hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch; tập trung xúc tiến quảng bá theo trọng điểm, phù hợp với định hướng phát triển sản phẩm, thương hiệu du lịch. Chú trọng chuyển đổi số trong ngành du lịch; số hóa các thông tin, tài liệu về điểm đến, hướng tới hình thành và phát triển hệ sinh thái du lịch thông minh.Đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình trên địa bàn tỉnh; kiểm tra, giám sát trong quá trình thực hiện, nhằm đảm bảo tiến độ và hiệu quả theo kế hoạch đề ra. Tập trung hoàn thành hồ sơ cho các công trình còn lại theo danh mục năm 2025 để sớm triển khai thi công. Đẩy nhanh tiến độ giải ngân kịp thời vốn đầu tư công, kịp thời quyết toán các công trình hoàn thành đảm bảo đúng theo quy định. Tiếp tục phối hợp nhà đầu tư xử lý những khó khăn, vướng mắc, đẩy mạnh các giải pháp bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, hoàn thành công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường xuất khẩu. Tiếp tục phát triển xuất khẩu các mặt hàng có lợi thế; chuyển dần sang xuất khẩu sản phẩm chế biến sâu, phát triển xuất khẩu sản phẩm có chất lượng cao, có sức cạnh tranh và có thương hiệu mạnh.Tăng cường công tác an ninh trật tự, an toàn xã hội, an ninh quốc phòng.[1]- Dự án thành phần 2 thuộc dự án Xây dựng công trình đường bộ cao tốc Cao Lãnh - An Hữu, giai đoạn 1. Tổng mức đầu tư: 3.856 tỷ đồng. Kế hoạch vốn giao năm 2025 là 860 tỷ đồng, giải ngân 9 tháng năm 2025 được 495 tỷ đồng, đạt 57,6% kế hoạch. Lũy kế giao vốn từ đầu dự án 1.976,5 tỷ đồng và giải ngân được 1.612 tỷ đồng đạt 81,5% kế hoạch vốn giao. - Đường giao thông hai bên bờ sông Bảo Định, tổng mức đầu tư 1.999,9 tỷ đồng. Kế hoạch vốn giao năm 2025 là 642,4 tỷ đồng, Giải ngân 9 tháng năm 2025 được 254,2 tỷ đồng, đạt 39,6% kế hoạch năm. Giao vốn từ đầu dự án đến hết tháng 9 năm 2025 là 882,3 tỷ đồng và giải ngân được 494,1 tỷ đồng đạt 56% tổng mức đầu tư đươc giao.- Dự án Trung tâm Văn hóa - Nghệ thuật và Hội chợ - Triển lãm tỉnh, tổng mức đầu tư: 149,9 tỷ đồng. Kế hoạch vốn giao năm 2025 là 139 tỷ đồng,giải ngân chín tháng đầu năm 2025 đươc 89,7 tỷ đồnđạt 64,5% kế hoạch. Lũy kế giao vốn từ đầu dự án đến nay là 141,5 tỷ đồng, giải ngân từ đầu dự án đến nay là 92,2 tỷ đồng, đạt 65% kế hoạch vốn giao từ đầu dự án.[2]Đầu vụ sản xuất từ ngày 01/10/2024 đến 20/9/2025.[3]- Tỉnh Tiền Giang được công nhận tại Quyết định số 1038/QĐ-TTg ngày 30/5/2025 - Tỉnh Đồng Tháp (cũ) được công nhận tại Quyết định số 1360/QĐ-TTg ngày 26/6/2025

Tình hình kinh tế - xã hội Tháng 8 và 8 tháng năm 2025
  •   03/09/2025 14:04

Trong tháng Đảng bộ, chính quyền các cấp trên địa bàn tỉnh tập trung lãnh đạo Đại hội Đảng bộ cấp xã, phường; đồng thời triển khai thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội với mục tiêu phấn đấu năm 2025 đạt mức tăng trưởng kinh tế 8%; kịp thời giải quyết những khó khăn trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp... cùng sự đoàn kết, trách nhiệm, nỗ lực phấn đấu của cả hệ thống chính trị. Tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh tiếp tục phát triển, các hoạt động sản xuất kinh doanh có nhiều khởi sắc, hầu hết các ngành, lĩnh vực đều tăng so cùng kỳ. Kết quả thực hiện trên các lĩnh vực đạt được như sau:I. SẢN XUẤT NÔNG LÂM NGHIỆP VÀ THỦY SẢNTrong tháng, lượng mưa đạt mức trung bình, đảm bảo nguồn nước trên các tuyến sông đầu nguồn phục vụ tốt cho sản xuất nông nghiệp. Dịch bệnh trong chăn nuôi gia súc trong tháng có phát sinh, nhưng được kiểm soát chặt chẽ. Hoạt động nuôi trồng thủy sản đạt kết quả khả quan, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế và thu nhập cho người dân.1. Nông nghiệp[1] Cây lương thực có hạt: diện tích gieo trồng từ đầu vụ sản xuất đến ngày 20/8/2025 ước đạt 568.447 ha, giảm 3,0% so cùng kỳ, tương ứng giảm 17.617 ha. Trong đó cây lúa gieo sạ 562.482 ha, giảm 3,0% so cùng kỳ.- Cây lúa:+ Vụ Đông xuân 2024 – 2025: chính thức gieo trồng 229.680 ha, giảm 1,7% so cùng kỳ, tương ứng giảm 4.086 ha; Năng suất thu hoạch bình quân đạt 71,9 tạ/ha, tăng 0,3%, tương ứng tăng 0,2 tạ/ha; Sản lượng thu hoạch 1.651.864 tấn, giảm 1,5% so cùng kỳ, tương ứng giảm 24.518 tấn.+ Vụ Hè thu (gồm Xuân hè và Hè thu): tính đến ngày 20/8, diện tích gieo trồng của vụ sơ bộ đạt 244.284 ha, giảm 2,1% so cùng kỳ, tương ứng giảm 5.340 ha. Thu hoạch 185.955 ha (chiếm 76,1% diện tích gieo trồng của vụ) với năng suất ước đạt 60 tạ/ha.+ Vụ Thu đông: đến ngày 20/8, diện tích gieo trồng của vụ ước đạt 88.518 ha, giảm 8,3% so cùng kỳ, diện tích xuống giống chủ yếu ở Tháp Mười, Cao Lãnh, Tam Nông, Lấp Vò... trà lúa đang giai đoạn mạ - đẻ nhánh. - Cây ngô: diện tích gieo trồng từ đầu vụ sản xuất ước đạt 5.965 ha, giảm 3,1%, tương ứng giảm 189 ha. Ngô thuộc loại cây ngắn ngày, dễ trồng, dễ chăm sóc, trồng được nhiều vụ trong năm. Bên cạnh lấy trái bán cho thương lái; lá, thân ngô khi thu hoạch có thể tận dụng làm thức ăn cho gia súc như trâu, bò… Hình 1. Diện tích gieo trồng lúa và hoa màu tính đến 20/8/2025 Cây rau đậu các loại: từ đầu vụ đến nay, diện tích gieo trồng rau đậu các loại ước đạt 60.340 ha, tăng 4,6% so với cùng kỳ; trong đó rau các loại ước đạt 60.024 ha, tăng 4,7%. Diện tích rau màu trên địa bàn tăng chủ yếu do người dân chuyển đổi từ những diện tích đất trồng cây kém hiệu quả, đặc biệt là diện tích không đáp ứng điều kiện sản xuất lúa. Tận dụng lợi thế đất đai màu mỡ, cùng với thời tiết thuận lợi, nông dân đã đẩy mạnh trồng xen canh, gối vụ nhiều loại rau, củ, quả có giá trị kinh tế cao và dễ tiêu thụ trên thị trường như rau muống, bầu, mướp, bí xanh, khổ qua, dưa leo, các loại cải, hành lá, dưa hấu và nhiều loại rau cải ngắn ngày khác. Chăn nuôi: ước thời điểm 31/8/2025, tổng đàn gia súc, gia cầm toàn tỉnh như sau: đàn trâu 3,2 nghìn con, tăng 13,3%; đàn bò 153,3 nghìn con, giảm 3,3%; đàn lợn 438,5 nghìn con, tăng 9,9% và đàn gia cầm 23,3 triệu con, giảm 2,1% so với cùng kỳ. Đàn bò tiếp tục giảm do hiệu quả kinh tế chưa cao, thời gian sinh trưởng dài và chu kỳ sản xuất kéo dài, chưa tạo được sức hấp dẫn đối với người chăn nuôi. Ngược lại, đàn lợn có xu hướng phục hồi nhanh và phát triển ổn định nhờ giá cả duy trì ở mức hợp lý; nhiều mô hình chăn nuôi khép kín, áp dụng biện pháp an toàn sinh học được nhân rộng, góp phần kiểm soát dịch bệnh, giảm chi phí đầu vào và nâng cao hiệu quả sản xuất. Đàn gia cầm giảm so với cùng kỳ, nguyên nhân chủ yếu do biến động thời vụ, nhất là vào các dịp lễ lớn khi nhu cầu tiêu thụ tăng cao, nông hộ trong giai đoạn xuất bán nhiều. *Tình hình dịch bệnh trên vật nuôi (theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đồng Tháp): Bệnh cúm gia cầm: trong tháng không phát sinh. Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh xảy ra 03 hộ có cầm nhiễm vi rút cúm A/H5N1 với số lượng 6.161 con (tổng đàn 7.200 con) tại 02 xã (Phú Thành và Tân Phước 3). Đã tiêu hủy toàn bộ số gia cầm 7.200 con. Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: trong tháng không phát sinh. Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh xảy ra 18 hộ nuôi có lợn mắc bệnh tại 12 xã (Vĩnh Bình, Bình Ninh, Vĩnh Hựu, Long Hưng, Tân Phước 3, Hội Cư, Bình Trưng, Long Định, Tân Phú, Kim Sơn, Mỹ Tịnh An và Mỹ Thành) với tổng đàn 463 con và tiêu hủy, khối lượng khoảng 16.980 kg. Bệnh viêm da nổi cục: trong tháng phát sinh 01 con bò bệnh (tổng đàn 09 con) tại 01 hộ trên địa bàn xã Chợ Gạo. Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh xảy ra 03 hộ tại 03 xã (Hậu Mỹ, Tân Thuận Bình, Chợ Gạo) với 04 con bò có dấu hiệu bệnh (tổng đàn 18 con). Đã tiêu hủy 01 con bò (khối lượng 215 kg). Bệnh lở mồm long móng: trong tháng không phát sinh. Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh xảy ra 01 con lợn bệnh tại cơ sở giết mổ ở xã Hậu Mỹ. Đã tiêu hủy lợn bệnh (khối lượng 110 kg). Hình 2. Chăn nuôi tại thời điểm 31/8/2025 2. Lâm nghiệp: Tổng diện tích rừng trên địa bàn tỉnh là 6.999,6 ha (không bao gồm diện tích rừng thuộc đất an ninh quốc phòng); Cụ thể, diện tích rừng đặc dụng 2.717,6 ha (chiếm 38,8% so tổng diện tích rừng), rừng phòng hộ 2.244,3 ha (chiếm 32,1%) và rừng sản xuất 2.037,7 ha (chiếm 29,1%). Trong tháng, thực hiện trồng mới ước đạt 41,8 ngàn cây phân tán các loại. Tổng số cây phân tán trồng được từ đầu năm đến nay là 665,4 ngàn cây, giảm 1,2% so cùng kỳ. 3. Thủy hải sản: Sản lượng thủy sản nuôi trồng trong tháng ước đạt 64.266 tấn. Tính chung 8 tháng năm 2025, thu hoạch ước đạt 579.347 tấn, tăng 7,1% so cùng kỳ, tương ứng tăng 38.355 tấn, bao gồm: sản lượng cá đạt 531.215 tấn (tăng 7,3%); sản lượng tôm đạt 30.412 tấn (tăng 18,1%); các loại thủy sản khác đạt 17.720 tấn (giảm 11,5%). Do thời tiết thuận lợi, thủy sản bệnh ít, năng suất cao.Sản lượng thủy sản khai thác biển trong tháng ước đạt 10.208 tấn. Tính chung 8 tháng năm 2025, thu hoạch ước đạt 76.156 tấn, tăng 17,4% so cùng kỳ, tương ứng tăng 11.266 tấn, bao gồm: cá đạt 50.761 tấn (tăng 4,3%); tôm đạt 2.097 tấn (tăng 21,7%); thủy sản khác đạt 23.298 tấn (tăng 60,9%) do thời tiết biển ổn định, nhiều đàn thủy sản xuất hiện (cua, ghẹ, mực,…), ngư dân khai thác mạnh hơn nhóm này. Thủy sản biển xuất hiện nhiều hơn ở ngư trường nên ngư dân thu hoạch khá góp phần tăng sản lượng so cùng kỳ. II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆPChỉ số sản xuất công nghiệp tháng 8/2025[2] tăng 0,84% so với tháng trước và tăng 13,14% so cùng kỳ (ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 14,06%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 3,58%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,42% và ngành khai khoáng giảm 19,91% so cùng kỳ). Các ngành có chỉ số sản xuất tăng cao so cùng kỳ như: sản xuất trang phục tăng 62,92%; in, sao chép bản ghi các loại tăng 96,62%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 30,45%; sản xuất đồ uống tăng 60,65%; dệt tăng 14,95% ...Tuy nhiên cũng có một số ngành giảm sâu so cùng kỳ như: khai khoáng khác giảm 19,91%; sản xuất sản phẩm thuốc lá giảm 40,03%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất 20,75%; sản xuất xe có động cơ giảm 22,8%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 6,49%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 10,87%;...Tính chung 8 tháng đầu năm chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 12,92% so cùng kỳ; trong đó: khai khoáng tăng 41,78%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,74%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 2,78%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,10%.Hình 3. Chỉ số sản xuất công nghiệp - 8 tháng năm 2025Chỉ số sản xuất sản phẩm trong 8 tháng so cùng kỳ như sau: - Có 55/80 sản phẩm tăng so cùng kỳ: dịch vụ sản xuất thiết bị điện chiếu sáng tăng 82,5%; giấy vệ sinh tăng 75,8%; quả và hạt ướp lạnh tăng 67%; các bộ phận của bi, bánh răng, hộp số, các bộ phận điều khiển và truyền chuyển động khác tăng 51,3%; cát đen tăng 41,8%; máy thu hoạch khác chưa được phân vào đâu tăng 34,1%; thanh nhôm, que nhôm, nhôm ở dạng hình tăng 33,2%; bóng thể thao khác tăng 29,2%; bánh làm từ bột khác bảo quản được tăng 27,2%; lốp hơi mới bằng cao su, loại dùng cho xe buýt, xe tải hoặc máy bay tăng 22,6%; cáp đồng trục và dây dẫn điện đồng trục khác tăng 21,3%; bia đóng lon tăng 20,2%; dây thép không gỉ tăng 16,3%; nước uống được tăng 9%; túi xách tăng 8,4%; nước tinh khiết tăng 5,9%; áo sơ mi cho người lớn dệt kim hoặc đan móc tăng 5,8%; giày, dép thể thao có đế ngoài và mũ giày bằng cao su và plastic tăng 5,7%; gạo đã xát toàn bộ hoặc sơ bộ, đã hoặc chưa đánh bóng hạt hoặc hồ tăng 5,6%; phi lê đông lạnh tăng 5,2%; ống và ống dẫn bằng đồng tăng 4,3%; bộ com lê, quần áo đồng bộ, áo jacket, quần dài, quần yếm, quần soóc cho người lớn dệt kim hoặc đan móc tăng 3,4%;… - Có 25/80 sản phẩm giảm so cùng kỳ: các hàng dệt may đã hoàn thiện khác giảm 98%; máy gặt đập liên hợp giảm 83,3%; màn bằng vải khác giảm 64%; phụ tùng khác của xe có động cơ giảm 53%; thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng bột/cốm giảm 47,9%; giày, dép không thấm nước có đế ngoài và mũ bằng cao su hay plastic giảm 42,2%; thuốc lỏ cú đầu lọc giảm 21,5%; dịch vụ tiện các bộ phận kim loại giảm 14,4%; bia đóng chai giảm 13,7%; thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng viên giảm 12,3%; thức ăn cho gia súc giảm 8,6%; giày, dép thể thao có mũ bằng da và có đế ngoài giảm 7,7%; khăn mặt, khăn tắm và khăn khác dùng trong phòng vệ sinh, nhà bếp giảm 4,3%; điện gió giảm 3,1%; dược phẩm chứa hoóc môn nhưng không có kháng sinh dạng viên giảm 2,5%;…* Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 8 năm 2025 so với tháng trước giảm 2,75% và tăng 2,59% so cùng kỳ. Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cộng dồn từ đầu năm đến cuối tháng 8 năm 2025 tăng 10,73%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao: dệt tăng 15,11%; sản xuất trang phục tăng 22,2%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa… tăng 12,22%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 75,74%; sản xuất kim loại tăng 35,95%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 27,71%;…Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm so cùng kỳ là: sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu giảm 20,19%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 4,3%; sản xuất phụ tùng xe có động cơ giảm 34,79%;… III. ĐẦU TƯ - XÂY DỰNG Để thực hiện giải ngân tốt kế hoạch đầu tư công năm 2025, Ủy ban nhân dân tỉnh chủ động quản lý, điều hành, phân bổ vốn cho các công trình cấp thiết nhưng chưa có danh mục công trình cụ thể trong Nghị quyết Hội đồng nhân dân tỉnh... theo tình hình thực tế phát sinh; được phép điều chỉnh, điều chuyển vốn giữa các công trình có giá trị khối lượng thực hiện và giải ngân thấp, sang công trình hoàn thành hoặc có giá trị khối lượng thực hiện cao đã được Hội đồng nhân dân tỉnh thông qua. Tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trong tháng là 1.774 tỷ đồng, tăng 63,3% so cùng kỳ. Tám tháng đầu năm 2025 ước thực hiện 9.525 tỷ đồng, đạt 57,9% kế hoạch, tăng 30,2% so cùng kỳ. Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh thực hiện 9.386 tỷ đồng, tăng 29,9% so cùng kỳ, chiếm 98,5% tổng số; trong đó: vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 3.218 tỷ đồng, tăng 63%, vốn xổ số kiến thiết thực hiện 2.317 tỷ đồng, tăng 3,8% so cùng kỳ... Các ngành các cấp yêu cầu các Ban quản lý dự án, Chủ đầu tư khắc phục khó khăn đẩy nhanh tiến độ đầu tư công, hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng, thúc đẩy phát triển kinh tế của tỉnh.Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp xã thực hiện 139 tỷ đồng, tăng 48,9% so cùng kỳ; trong đó: vốn cân đối ngân sách cấp xã 27 tỷ đồng, tăng 3,4 lần so cùng kỳ... Các Ban quản lý dự án tập trung điều kiện đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình sớm đưa các công trình vào sử dụng nhằm phát huy hiệu quả công trình. Các địa phương vận động, huy động nguồn vốn nhân dân đóng góp để tiến hành thi công các danh mục công trình đăng ký thuộc nguồn vốn phân cấp phường, xã. Các xã tập trung điều kiện đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình xây dựng nông thôn mới nhằm phục vụ đi lại và vận chuyển hàng hóa của người dân. IV. THƯƠNG MẠI - GIÁ CẢ - DỊCH VỤ1. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng: Nhìn chung, hoạt động thương mại dịch vụ của tỉnh trong tháng tiếp tục giữ được đà tăng trưởng, hàng hoá cung ứng đồi dào, đáp ứng nhu cầu mua sắm của người dân. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trong tháng thực hiện 20.902 tỷ đồng, tăng 1,5% so tháng trước và tăng 9,9% so cùng kỳ. Tám tháng năm 2025, tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thực hiện 164.323 tỷ đồng, tăng 9,6% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 127.607 tỷ đồng, tăng 8,6%; lưu trú 579 tỷ đồng, tăng 16,2%; ăn uống 21.318 tỷ đồng, tăng 14,4%; du lịch lữ hành 291 tỷ đồng, tăng 33,5%; dịch vụ tiêu dùng khác 14.528 tỷ đồng, tăng 11,8% so cùng kỳ. Hình 4. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng2. Xuất - Nhập khẩu (Theo báo cáo Sở Công Thương)a. Xuất khẩu: Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng ước thực hiện 850 triệu USD, tăng 0,5% so tháng trước và giảm 4,1% so cùng kỳ. Tám tháng ước tính xuất khẩu 6.137 triệu USD, đạt 66,7% kế hoạch, tăng 2,7% so cùng kỳ. Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của tỉnh như sau: - Gạo: ước tính tháng 8/2025 xuất 248 ngàn tấn, tăng 4,6% so tháng trước và tăng 49,8% so cùng kỳ; giá trị đạt 115 triệu USD, tăng 4,6% so tháng trước và tăng 11% so cùng kỳ. Tám tháng xuất 1.743 ngàn tấn, đạt 94.8% kế hoạch, tăng 93,1% so cùng kỳ; giá trị xuất 862 triệu USD, đạt 74,9% kế hoạch và tăng 51,4% so cùng kỳ. - Hàng rau quả: về lượng ước đạt 8,8 ngàn tấn, tăng 36,4% so tháng trước và tăng 8,1% so cùng kỳ; kim ngạch xuất đạt 15 triệu USD, tăng 36,4% so tháng trước và tăng 59,3% so cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng, sản lượng xuất ước đạt 50 ngàn tấn, đạt 85% kế hoạch và bằng 87% so cùng kỳ; giá trị xuất khẩu đạt với 87 triệu USD, bằng 54,6% kế hoạch và bằng 96,4% so cùng kỳ. - Thuỷ sản chế biến: về lượng ước đạt 38 ngàn tấn, tăng 5,6% so tháng trước và giảm 6,6% so cùng kỳ; kim ngạch xuất đạt 90 triệu USD, tăng 5,9% so tháng trước và giảm 10% so cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng, sản lượng xuất ước đạt 275 ngàn tấn, đạt 63,4% kế hoạch và bằng 95% so cùng kỳ; giá trị xuất khẩu đạt với 674 triệu USD, bằng 61,9% kế hoạch và bằng 99,5% so cùng kỳ. - Sản phẩm công nghiệp: nhóm hàng công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong xuất khẩu của tỉnh đến cuối tháng 8/2025, như: kim loại thường khác và sản phẩm (kể cả đồng) ước đạt 1.063 triệu USD, đạt 75,9% kế hoạch và tăng 0,2%; sản phẩm ngành may ước đạt 666 triệu USD, đạt 50,9% kế hoạch và bằng 76,6%; giày dép các loại ước đạt 622 triệu USD, đạt 66,9% kế hoạch và bằng 96,2%; Sắt thép và sản phẩm từ sắt thép ước đạt 341 triệu USD, đạt 58,7% kế hoạch và bằng 86,6%;... b. Nhập khẩu: Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 8/2025 ước đạt 340 triệu USD, giảm 13,6% so tháng trước và tăng 4,2% so cùng kỳ. Tám tháng ước đạt 3.228 triệu USD, đạt 72,9% kế hoạch và tăng 14,4% so với cùng kỳ. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu trong tổng kim ngạch nhập khẩu của tỉnh như: Kim loại thường khác (nguyên liệu đồng) ước đạt 961,9 triệu USD; Sắt thép các loại ước đạt 314,9 triệu USD; Nguyên phụ liệu dệt may, da giày, túi xách ước đạt 240,7 triệu USD; Vải may mặc ước đạt 177 triệu USD; Chất dẻo nguyên liệu ước đạt 119 triệu USD;… 3. Chỉ số giá: Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 8/2025 tăng 0,04% (thành thị tăng 0,06%, nông thôn tăng 0,03%) so tháng 7/2025, tăng 2,27% so tháng 8/2024. Bình quân 8 tháng đầu năm 2025 tăng 2,18% so cùng kỳ năm trước. So với tháng 7/2025, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 09 nhóm tăng: đồ uống và thuốc lá tăng 0,26%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và VLXD tăng 0,25%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,22%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,22%; may mặc, mũ nón và giầy dép tăng 0,21%; giáo dục tăng 0,07%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,04%; văn hóa giải trí và du lịch tăng 0,02%; giao Thông tăng 0,01%. Có 02 nhóm giảm: bưu chính viễn thông giảm 0,12%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,16% Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 8 tháng năm 2025 so cùng kỳ tăng 2,18%; Chỉ số giá tiêu dùng 8 tháng đầu năm 2025 tăng chủ yếu ở một số nhóm hàng như: thuốc và dịch vụ y tế tăng 11,91%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 7,32%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,48%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,76%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,79% so với cùng kỳ … Chỉ riêng nhóm giao thông giảm 4,47% so cùng kỳ. Chỉ số giá vàng 24 kara Ngọc Thẩm trong tháng 8/2025 tăng 0,91% so tháng trước, tăng 33,63% so với tháng 12/2024 và tăng 47,86% so với bình quân cùng kỳ. Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng 8/2025 tăng 0,10% so tháng trước và tăng 4,49% so với cùng kỳ. 4. Du lịch: Ngay từ đầu năm du lịch của tỉnh đã tập trung triển khai đồng bộ các giải pháp phát triển du lịch, trọng điểm đẩy mạnh phát triển du lịch nông nghiệp, nông thôn, sản phẩm OCOP trên nền tảng tăng trưởng xanh, gắn với tiềm năng, thế mạnh đặc trưng từng địa phương; tiếp tục thực hiện Chương trình liên kết hợp tác phát triển du lịch giữa TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long. Đồng thời bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, làng nghề với quyết tâm thực hiện mục tiêu phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng, tạo bước đột phá tăng tốc phát triển du lịch, góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Lượng khách du lịch đến tham quan trên địa bàn trong tháng 8/2025 ước tính 327 ngàn lượt khách, tăng 6,8% tháng trước và tăng 6,8% so cùng kỳ, trong đó khách quốc tế 44 ngàn lượt khách, tăng 19% so cùng kỳ. Nhiều khu, điểm du lịch trong tỉnh đã mở rộng quy mô và dịch vụ vui chơi để đón đông đảo lượng khách đến tham quan, trải nghiệm. Doanh thu lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành trong tháng 8 đạt 2.811 tỷ đồng, tăng 0,4% so tháng trước và tăng 15,1% so cùng kỳ.Tính chung Tám tháng đầu năm 2025, lượt khách du lịch đến tham quan trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp là 2.565 ngàn lượt khách, tăng 5,7% so cùng kỳ; trong đó: khách quốc tế 348,1 ngàn lượt khách, tăng 6,3% so cùng kỳ. Tổng doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, dịch vụ lữ hành và dịch vụ tiêu dùng khác đạt 36.716 tỷ đồng, tăng 13% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu dịch vụ ăn uống chiếm tỷ trọng 58,1%, ước đạt 21.318 tỷ đồng, tăng 14,4% so cùng kỳ; lưu trú đạt 579 tỷ đồng, tăng 16,2% so cùng kỳ... 5. Vận tải: Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trong tháng thực hiện 648 tỷ đồng, tăng 1,5% so tháng trước và tăng 11,7% so cùng kỳ, do trong tháng đang là thời gian nghỉ hè nhu cầu du lịch tăng; giá nhiên liệu ổn định; hoạt động sản xuất kinh doanh phục hồi... Tám tháng thực hiện 5.037 tỷ đồng, tăng 13,1% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 1.642 tỷ đồng, tăng 13,1%; doanh thu vận tải hàng hóa thực hiện 2.500 tỷ đồng, tăng 13,4% so cùng kỳ. Doanh thu vận tải đường bộ thực hiện 2.324 tỷ đồng, tăng 13,2%; doanh thu vận tải đường thủy thực hiện 1.819 tỷ đồng, tăng 13,4%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 521 tỷ đồng, tăng 14,9% so cùng kỳ. Vận tải hành khách trong tháng đạt 5.975 ngàn hành khách, tăng 1,7% so tháng trước và tăng 13,8% so cùng kỳ; luân chuyển 226.064 ngàn hành khách.km, tăng 1,1% so tháng trước và tăng 11,2% so cùng kỳ. Tám tháng, vận chuyển 47.158 ngàn hành khách, tăng 13% so cùng kỳ; luân chuyển 1.785.863 ngàn hành khách.km, tăng 13% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 15.348 ngàn hành khách, tăng 12,6% và luân chuyển 1.770.443 ngàn hành khách.km, tăng 13% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 31.810 ngàn hành khách, tăng 13,3% và luân chuyển 15.420 ngàn hành khách.km, tăng 12,4% so cùng kỳ. Vận tải hàng hóa trong tháng đạt 2.866 ngàn tấn, tăng 1,9% so tháng trước và tăng 13,3% so cùng kỳ; luân chuyển 494.714 ngàn tấn.km, tăng 2,4% so tháng trước và tăng 12,2% so cùng kỳ. Tám tháng, vận tải 19.432 ngàn tấn hàng hóa, tăng 12,6% so cùng kỳ; luân chuyển 3.622.764 ngàn tấn.km, tăng 12,8% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 5.046 ngàn tấn, tăng 13,6% và luân chuyển 695.626 ngàn tấn.km, tăng 13% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 14.386 ngàn tấn, tăng 12,2% và luân chuyển 2.927.138 ngàn tấn.km, tăng 12,7% so cùng kỳ. 6. Bưu chính viễn thông: Doanh thu trong tháng 8/2025 đạt 523 tỷ đồng, tăng 1,9% so tháng trước; trong đó: doanh thu bưu chính đạt 50,4 tỷ đồng, tăng 1,82% và viễn thông 472,9 tỷ đồng, tăng 1,9% so tháng trước. Tám tháng doanh thu dịch vụ bưu chính, viễn thông đạt 4.086,6 tỷ đồng, tăng 4,86% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính đạt 373,4 tỷ đồng, tăng 8,21% và viễn thông 3.713,3 tỷ đồng, tăng 4,5% so cùng kỳ. Đến cuối tháng 8 năm 2025 tổng số thuê bao điện thoại có trên mạng (bao gồm: hữu tuyến, vô tuyến, trả trước, trả sau) ước tính 3.874.942 thuê bao. Thuê bao điện thoại bình quân đạt 113,85 thuê bao/100 dân. Số thuê bao điện thoại di động có sử dụng Internet (3G, 4G) đến cuối tháng 8 là: 3.216.678 thuê bao. Tổng số thuê bao Internet trên mạng là 4.224.523 thuê bao (bao gồm: băng rộng di động 3G, 4G; MyTV và Cáp; băng rộng cố định FTTH, xDSL, Leased-line, CATV), mật độ Internet bình quân ước đạt 124,12 thuê bao/100 dân. V. TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG 1. Tài chính: Tổng thu ngân sách nhà nước trong tháng thực hiện 3.438 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn 1.818 tỷ đồng; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 276 tỷ đồng. Tám tháng, thu 43.139 tỷ đồng; trong đó, thu ngân sách trên địa bàn thực hiện 16.487 tỷ đồng, đạt 79,7% dự toán và tăng 11,6% so cùng kỳ; thu nội địa 15.889 tỷ đồng, đạt 79,9% dự toán, tăng 11,8% so cùng kỳ (trong thu ngân sách trên địa bàn: thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 2.581 tỷ đồng, đạt 94,7% dự toán, tăng 14,3% so cùng kỳ; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 3.102 tỷ đồng, đạt 106,2% dự toán, tăng 27,6% so cùng kỳ...). Tổng chi ngân sách nhà nước trong tháng 3.982 tỷ đồng; trong đó: chi đầu tư phát triển 1.400 tỷ đồng; chi hành chính sự nghiệp 2.487 tỷ đồng. Tám tháng, chi 27.916 tỷ đồng, đạt 63,7 dự toán và tăng 52,7% so cùng kỳ; trong đó: chi đầu tư phát triển 9.051 tỷ đồng, đạt 81,7% dự toán, tăng 2,6% so cùng kỳ; chi hành chính sự nghiệp 15.817 tỷ đồng, đạt 71,3% dự toán và tăng 1 lần so cùng kỳ. 2. Ngân hàng: Từ đầu năm đến nay, lãi suất ổn định tạo điều kiện cho tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn từ Ngân hàng nhà nước (NHNN), tiếp tục khuyến khích TCTD tiết giảm chi phí để giảm mặt bằng lãi suất cho vay. Đến cuối tháng 7/2025, các mức lãi suất trên địa bàn tỉnh như sau: Đến cuối tháng 7/2025, vốn huy động đạt 190.243 tỷ, tăng 4,46% so với cuối năm 2024, tổng dư nợ cho vay của các tổ chức tín dụng (TCTD) trong tỉnh đạt 231.046 tỷ, tăng  2,46% so với cuối năm 2024. Ước đến cuối tháng 8/2025, nguồn vốn huy động đạt 191.442 tỷ, tăng 5,12% so với cuối năm 2024; tổng dư nợ đạt 231.900 tỷ, tăng 3,02%.Nợ xấu: đến cuối tháng 7/2025 nợ xấu đạt 5.324 tỷ đồng, tăng 46,59% so cuối năm 2024; tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là 2,31%, tăng 0,83% so với cuối năm 2024. Ước đến cuối tháng 8/2025 nợ xấu đạt 5.874 tỷ đồng, tăng 61,73% so cuối năm 2024; tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là 2,53%, tăng 1,05% so với cuối năm 2024.Quỹ tín dụng nhân dân: Tháng 7/2025 dư nợ giảm 1.644 tỷ đồng so với tháng 6/2025 và đạt 231.046 tỷ đồng, tăng 5.943 tỷ, tăng 2,64% so với cuối năm 2024, chiếm 46%. Ước đến cuối tháng 8/2025 dư nợ đạt 231.900 tỷ đồng, tăng 3,02% so với cuối năm 2024. VI. KHOA HỌC CÔNG NGHỆ Trong tháng, tham mưu Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh tiếp tục triển khai các nhiệm vụ khoa học và công nghệ được phê duyệt danh mục nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh 2025 - 2026 (theo Quyết định số 2304/QĐ-UBND ngày 30/6/2025 của UBND tỉnh Tiền Giang trước đây). Đã thực hiện tuyển chọn 08 nhiệm vụ cấp tỉnh (thẩm định nội dung); Quyết định phê duyệt triển khai 13 nhiệm vụ cấp tỉnh, 01 nhiệm vụ cấp cơ sở; Thẩm định kinh phí 10 nhiệm vụ cấp tỉnh; Nghiệm thu kết thúc 27 nhiệm vụ (15 cấp tỉnh, 12 cơ sở); Thẩm định các kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ không sử dụng ngân sách nhà nước 01 nhiệm vụ. Trình UBND Tỉnh xử lý, thu hồi kinh phí đối với đề tài đã được đánh giá nghiệm thu xếp loại không đạt (đề tài cấp tỉnh: Nghiên cứu quy trình chế tạo vật liệu đạt tiêu chuẩn sản xuất túi bao trái phục vụ canh tác xoài xuất khẩu tỉnh Đồng Tháp). VII. CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Lao động việc làm: Trong tháng, toàn tỉnh đã tạo việc làm cho 3.150 lao động, trong đó có 69 lao động xuất cảnh làm việc ở nước ngoài. Tính từ đầu năm đến nay, tổng số lao động được giải quyết việc làm đạt 46.712 người; riêng lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài là 1.628 người, đạt 63,8% so với kế hoạch (Hàn Quốc: 589 lao động; Nhật Bản: 76 lao động; Đài Loan: 50 lao động; các nước khác 13 lao động). Về trợ cấp thất nghiệp, trong tháng có 2.659 lao động được hưởng trợ cấp. Lũy kế từ đầu năm, có 17.791 lao động được giải quyết chế độ trợ cấp thất nghiệp, với tổng kinh phí chi trả trên 384 tỷ đồng, góp phần hỗ trợ kịp thời đời sống, giúp người lao động ổn định trong giai đoạn tìm kiếm việc làm mới. Các hoạt động kết nối cung – cầu lao động tiếp tục được chú trọng. Trong tháng, tổ chức 05 phiên giao dịch việc làm, với sự tham gia của 25 lượt doanh nghiệp, thu hút hơn 2.150 lượt người tham gia. Các phiên giao dịch đã tạo cơ hội thuận lợi để doanh nghiệp tuyển dụng nhân lực, đồng thời mở rộng cơ hội việc làm, học nghề và đi làm việc ở nước ngoài cho người lao động. 2. Chính sách xã hội: Trong tháng, công tác thực hiện chính sách đối với người có công và các đối tượng xã hội tiếp tục được quan tâm, triển khai kịp thời. Trợ cấp một lần cho thân nhân thờ cúng liệt sĩ và thực hiện chuyển thờ cúng 57 hồ sơ; chi trả trợ cấp hằng tháng cho 03 người hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù đày, 03 người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; trợ cấp một lần cho 01 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng và 01 thương binh mới được công nhận; giải quyết trợ cấp tuất đối với 06 trường hợp và trợ cấp mai táng phí cho 209 trường hợp. Các chế độ, chính sách được thực hiện đúng quy định, bảo đảm kịp thời, góp phần chăm lo tốt hơn đời sống vật chất và tinh thần cho các đối tượng chính sách trên địa bàn tỉnh. 3. Hoạt động y tế: Trong tháng có 13/44 bệnh truyền nhiễm được ghi nhận. Cộng dồn số ca mắc, có 11 bệnh tăng so cùng kỳ (Rubella, Sốt xuất huyết Dengue, Sởi, Tay - chân - miệng, Ho gà, Thương hàn, Bệnh do vi rút Adeno, Lỵ trực trùng, Quai bị, Thủy đậu, Viêm gan vi rút khác); 12 bệnh giảm so cùng kỳ (Bệnh do liên cầu lợn ở người, Liệt mềm cấp nghi bại liệt, Lao phổi, Uốn ván khác, Viêm gan vi rút A, Viêm gan vi rút B, Viêm gan vi rút C, Viêm não Nhật bản, Cúm, Lỵ amíp, Tiêu chảy, Bệnh viêm đường hô hấp cấp); 21 bệnh tương đương hoặc không xảy ra ca mắc. Các bệnh truyền nhiễm ghi nhận trong tháng: bệnh Sốt xuất huyết 831 ca. bệnh Tay chân miệng 650 ca. Tính từ đầu năm đến nay, bệnh Sốt xuất huyết ghi nhận 2.540 ca, tăng 49,4% so cùng kỳ; bệnh Tay chân miệng ghi nhận 3.093 ca, tăng 24,2% so cùng kỳ. Phòng chống HIV/AIDS: toàn tỉnh hiện có 15.803 người nhiễm HIV; 5.051 người chuyển sang AIDS; tử vong do AIDS: 3.866 người.Khám chữa bệnh trong tháng cho 735.448 lượt người; trong đó, số người điều trị nội trú là 45.184 lượt người. Cộng dồn từ đầu năm đến nay, đã khám chữa bệnh cho 5.203.496 lượt người, giảm 1,7%; trong đó, số người điều trị nội trú là 297.188 lượt người, tăng 3,4%.4. Hoạt động giáo dục:Trong tháng, ngành Giáo dục và Đào tạo triển khai toàn diện các nhiệm vụ trọng tâm theo kế hoạch năm học, đồng thời chuẩn bị các điều kiện để bước vào năm học mới 2025 - 2026. Ngày 21/8/2025, UBND tỉnh Đồng Tháp ban hành Quyết định số 509/QĐ-UBND về khung Kế hoạch thời gian năm học 2025-2026 đối với giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên. Theo đó, học sinh các khối lớp 1, 9 và 12 tựu trường từ ngày 22-8-2025, các khối lớp còn lại tựu trường từ ngày 29-8-2025. Lễ khai giảng năm học mới diễn ra vào ngày 5-9-2025. 5. Hoạt động văn hóa - thể thao: Trong tháng, các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao trên địa bàn tỉnh diễn ra phong phú, sôi nổi, gắn liền với những sự kiện lịch sử, chính trị trọng đại của đất nước và địa phương. a. Hoạt động văn hóa nghệ thuật: kỷ niệm 78 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ; 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công (19/8/1945 - 19/8/2025) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945 - 02/9/2025); 80 năm Ngày truyền thống Công an nhân dân Việt Nam và 20 năm Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc. Đặc biệt, lễ giỗ Anh hùng dân tộc Trương Định, kỷ niệm 161 năm ngày ông tuẫn tiết (20/8/1864 - 20/8/2025) được tổ chức trang nghiêm tại Mộ và đền thờ Trương Định (phường Gò Công), đền thờ Trương Định, Đám lá tối trời (xã Gia Thuận). Sự kiện đã thu hút đông đảo người dân trong và ngoài tỉnh đến dâng hương, tưởng niệm, bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đối với công lao to lớn của vị anh hùng dân tộc trong sự nghiệp chống giặc ngoại xâm. UBND phường Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp long trọng tổ chức lễ giỗ lần thứ 205 ông, bà Đỗ Công Tường – bậc tiền hiền có công khai khẩn đất hoang, lập chợ, đặt nền móng hình thành vùng đất Cao Lãnh ngày nay, diễn ra từ ngày 1 đến 3-8 (nhằm ngày 8, 9 và 10 tháng 6 âm lịch), thu hút đông đảo nhân dân và du khách tham gia. Ngoài ra, vào tối 02/9/2025, tỉnh đã xây dựng kế hoạch tổ chức chương trình nghệ thuật đặc sắc và màn bắn pháo hoa rực rỡ chào mừng 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 02/9 tại Quảng trường Hùng Vương (phường Đạo Thạnh) vào tổi ngày 02/9, mang đến cho người dân một không khí hào hùng, sôi động và đầy tự hào dân tộc. b. Hoạt động thư viện: trong tháng, các hoạt động của hệ thống thư viện trên địa bàn tỉnh diễn ra sôi nổi, đa dạng, góp phần lan tỏa văn hóa đọc trong cộng đồng. Nổi bật là việc triển khai Cuộc thi “Bác Hồ trong trái tim tôi” (lần thứ 4) năm 2025, chương trình “Hè vui đọc sách” cùng với cuộc thi “Đọc sách cùng Xích Lô” được phát động trên toàn tỉnh, tạo sân chơi bổ ích, khuyến khích thói quen đọc sách, rèn luyện kỹ năng và bồi đắp tri thức cho các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thanh thiếu nhi. Kết quả, trong tháng, hệ thống thư viện đã phục vụ 56.428 lượt bạn đọc, với 166.630 lượt tài liệu được luân chuyển và 39.558 lượt truy cập trực tuyến, cho thấy sức hút và hiệu quả lan tỏa ngày càng rộng rãi của các hoạt động khuyến đọc. c. Hoạt động bảo tàng: trong tháng, công tác trưng bày và phục vụ khách tham quan tiếp tục được duy trì với nhiều chuyên đề cố định và ngoài trời như: Lịch sử, văn hóa và xã hội Tiền Giang trước năm 1930; Lịch sử Tiền Giang từ khi có Đảng lãnh đạo; Lịch sử Khu 8; Văn hóa Óc Eo, nông nghiệp truyền thống; Thiên nhiên – đất nước – con người Đồng Tháp xưa; các chuyên đề về kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cùng trưng bày chuyên đề “Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo – Giai điệu và cuộc đời”. Ngoài ra, khu trưng bày ngoài trời với nhiều hiện vật lớn như máy bay, tàu chiến, súng thần công tiếp tục thu hút khách tham quan. d. Hoạt động thể dục, thể thao: thể thao đạt nhiều kết quả ấn tượng. Kết quả, đã cử 22 lượt huấn luyện viên và 197 lượt vận động viên tham gia thi đấu 09 giải quốc gia và 04 giải quốc tế, xuất sắc giành tổng cộng 27 Huy chương Vàng (HCV), 40 Huy chương Bạc (HCB), 40 Huy chương Đồng (HCĐ). Trong đó, các môn thể thao có thành tích nổi bậc trong tháng như: Cờ vua tham dự thi đấu giải Vô địch trẻ các nhóm tuổi Đông Nam Á năm 2025 (đạt 04 HCV); Judo tham dự thi đấu giải Vô địch và Vô địch trẻ Đông Nam Á năm 2025 (đạt 01 HCV, 03 HCB); Cầu mây tham dự thi đấu giải Vô địch thế giới (đạt 01 HCV, 02 HCB); Kurash tham dự thi đấu giải Vô địch và Vô địch trẻ châu Á năm 2025 (đạt 02 HCB, 02 HCĐ). 6. Tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội (theo báo cáo của ngành công an): Công an tỉnh Đồng Tháp tổ chức Lễ ra quân cao điểm tấn công, trấn áp tội phạm, vi phạm pháp luật, bảo đảm an ninh, trật tự Đại hội Đảng các cấp và các hoạt động kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9, 80 năm Ngày truyền thống Công an nhân dân (CAND), đợt cao điểm diễn ra từ ngày 1/8 đến 15/9.  Trong tháng xảy ra 123 vụ phạm tội về trật tự xã hội, tăng 17 vụ so với tháng trước, giảm 43 vụ so cùng kỳ. Hậu quả là 03 người chết, 36 người bị thương, tài sản thiệt hại khoảng 6,9 tỷ đồng. Cơ quan chức năng đã điều tra, khám phá 111 vụ (đạt tỷ lệ 90,2%), bắt giữ và xử lý 156 đối tượng, đồng thời thu hồi tài sản trị giá khoảng 1,7 tỷ đồng. Tính từ đầu năm đến nay, tổng số vụ phạm tội là 839, giảm 424 vụ. Vụ việc đã làm 31 người chết, 263 người bị thương, tổng giá trị tài sản thiệt hại lên đến khoảng 511 tỷ đồng. Đã điều tra, khám phá được 687 vụ (đạt tỷ lệ 81,88%), xử lý 1.274 đối tượng. Về tội phạm ma túy trong tháng, lực lượng chức năng đã phát hiện và xử lý 48 vụ với 76 đối tượng. Ngoài ra, 171 đối tượng có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy cũng đã bị xử lý hành chính. 7. Trật tự an toàn giao thông (theo báo cáo ngành công an tỉnh, số liệu tính từ ngày 15/7/2025 đến 14/8/2025): Tai nạn giao thông đường bộ: trong tháng, xảy ra 36 vụ, tăng 03 vụ so tháng trước và giảm 21 vụ so cùng kỳ. Hậu quả làm chết 32 người (tăng 06 người so tháng trước, tương đương so cùng kỳ) và 12 người bị thương (tương đương so tháng trước, giảm 28 người so cùng kỳ). Lũy kế từ đầu năm đến kỳ báo cáo, toàn tỉnh đã xảy ra 395 vụ, giảm 35 vụ so với cùng kỳ; làm chết 281 người (giảm 23 người so với cùng kỳ) và làm bị thương 193 người (giảm 24 người). Các nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông chủ yếu vẫn do ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông như: uống rượu say, điều khiển xe khi có rượu bia, phóng nhanh vược ẩu, không làm chủ tốc độ; không đi đúng phần đường, làn đường; không nhường đường, vượt đèn đỏ, thiếu quan sát… Tai nạn giao thông đường thủy: trong tháng không xảy ra. Lũy kế từ đầu năm đến kỳ báo cáo là 01 vụ (không phát sinh người chết và bị thương). 8. Tình hình cháy nổ, môi trường: Cháy, nổ: trong tháng, trên địa bàn tỉnh xảy ra 04 vụ cháy, gây thiệt hại tài sản khoảng 661 triệu đồng; nguyên nhân được xác định là do sự cố hệ thống, thiết bị điện. Tính từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh ghi nhận tổng cộng 17 vụ cháy, giảm 07 vụ so với cùng kỳ, số người tử vong do cháy là 04 người và tổng thiệt hại tài sản vượt mức 273 tỷ đồng. Môi trường: trong tháng đã xảy ra 01 vụ vi phạm. Cộng dồn từ đầu năm, toàn tỉnh xảy ra 42 vụ vi phạm môi trường, tăng 47,1% so với cùng kỳ. Tổng số tiền đã xử phạt hành chính là 639,6 triệu đồng. Thiên tai: trong tháng, do ảnh hưởng của cơn bão số 5, trên địa bàn tỉnh xuất hiện mưa lớn kèm dông lốc làm 02 người bị thương, 19 căn nhà bị sập, 105 căn nhà tốc mái, đồng thời gây thiệt hại 11,5 ha lúa và 1,3 ha hoa màu với tổng giá trị ước tính khoảng 10,7 tỷ đồng. Sạt lở đất xảy ra 04 vụ, trong đó sông Tiền có 03 vụ tại Phường Cao Lãnh, xã Thường Phước và Tân Long với tổng chiều dài 348 m, diện tích 1.176 m²; sạt lở nội đồng có 01 vụ tại xã Mỹ Hiệp với 05 điểm sạt lở, tổng chiều dài 186 m và diện tích 551 m². Lũy kế từ đầu năm đến nay, hoàn lưu bão cùng 20 cơn mưa giông, lốc, sét đã làm 02 người chết (do sét đánh), 21 người bị thương, 73 căn nhà sập, 653 căn tốc mái; làm hư hỏng 11 phòng học, 6 nhà kho chuồng trại và 34 trụ điện. Sản xuất nông nghiệp bị ảnh hưởng với 5,68 ha cây ăn trái, 26,5 ha lúa, 4,3 ha hoa màu bị thiệt hại. Ngoài ra, trên địa bàn đã xảy ra 19 vụ sạt lở với tổng chiều dài 1.072 m, diện tích 4.597 m², làm sập 01 căn nhà và ảnh hưởng đến đời sống của nhiều hộ dân. Tổng thiệt hại do thiên tai từ đầu năm đến nay ước tính khoảng 34,9 tỷ đồng. [1] Đầu vụ sản xuất từ ngày 01/10/2024 đến 20/8/2025. [2]  Chỉ số sản xuất công nghiệp 8 tháng năm 2025: Tiền Giang tăng 15,35%; Đồng Tháp (cũ) tăng 9,69% so cùng kỳ.

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Tháp tháng 7 năm 2025
  •   04/08/2025 10:31

Trong tháng Đảng bộ, chính quyền các cấp trên địa bàn tỉnh tập trung sắp xếp tổ chức bộ máy đơn vị hành chính và tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp hoạt động hiệu lực, hiệu quả nhằm phát huy tinh thần đoàn kết, quyết tâm, phấn đấu thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra. Tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh tiếp tục phát triển, các hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh có nhiều khởi sắc, hầu hết các ngành, lĩnh vực đều tăng so cùng kỳ. Kết quả thực hiện trên các lĩnh vực đạt được như sau:I. SẢN XUẤT NÔNG LÂM NGHIỆP VÀ THỦY SẢN1. Nông nghiệpTrong tháng, tình hình thời tiết trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp nhìn chung tương đối thuận lợi cho hoạt động sản xuất nông nghiệp. Mực nước trên các tuyến sông đầu nguồn đảm bảo cung ứng cho nhu cầu sản xuất, giúp lúa Hè Thu và cây hoa màu sinh trưởng, phát triển tốt; sâu bệnh chỉ xuất hiện rải rác, mức độ nhẹ, không gây thiệt hại đáng kể. Chăn nuôi tiếp tục duy trì ổn định, dịch bệnh được kiểm soát chặt chẽ. Lĩnh vực nuôi trồng thủy sản đạt kết quả tích cực và hiệu quả kinh tế cho người nuôi. Tuy nhiên, vẫn xuất hiện một số diễn biến bất thường do ảnh hưởng hoàn lưu bão số 3 (Wipha), gây ra mưa lớn và dông lốc tại một số địa phương, cơ sở hạ tầng và một phần diện tích cây trồng, đặc biệt là lúa và cây ăn trái… ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân.* Trồng trọt:Cây lương thực có hạt: diện tích gieo trồng từ đầu vụ sản xuất đến ngày 20/7/2025 là 551.278 ha, giảm 4,4% so cùng kỳ, tương ứng giảm 25.658 ha.Trong đó cây lúa gieo sạ 545.664 ha, giảm 4,5% so cùng kỳ.- Cây lúa:+ Vụ Đông xuân 2024 – 2025: diện tích gieo trồng 229.680 ha, đạt 100,7% kế hoạch, nhưng giảm 1,7% so cùng kỳ, tương ứng giảm 4.086 ha; Năng suất thu hoạch bình quân đạt 71,9 tạ/ha, tăng 0,3%, tương ứng tăng 0,2 tạ/ha; Sản lượng thu hoạch 1.651.864 tấn, giảm 1,5% so cùng kỳ, tương ứng giảm 24.518 tấn.+ Vụ Hè thu (gồm Xuân hè và Hè thu): đến ngày 20/7, diện tích gieo trồng của vụ sơ bộ đạt 243.847 ha, giảm 2,3%, tương ứng giảm 5.779 ha. Thu hoạch 106.407 ha với năng suất ước đạt 60 tạ/ha, diện tích còn lại đang trong các giai đoạn sinh trưởng khác nhau như làm đòng, trổ và chín, do lịch thời vụ xuống giống không đồng đều giữa các khu vực. Nhằm đảm bảo năng suất và hiệu quả sản xuất, ngay từ đầu vụ, nông dân đã chủ động áp dụng đồng bộ các tiến bộ kỹ thuật như: mô hình “3 giảm, 3 tăng”, “1 phải, 5 giảm”, bón vùi phân hợp lý, quản lý sức khỏe cây trồng tổng hợp (IPHM), sử dụng phân hữu cơ và điều tiết nước khoa học. Việc ứng dụng các biện pháp này đã góp phần giúp cây lúa sinh trưởng, phát triển tốt, hạn chế sâu bệnh gây hại, tiết giảm chi phí sản xuất và tạo ra sản phẩm nông nghiệp an toàn, bền vững.+ Vụ Thu đông: đến ngày 20/7, diện tích gieo trồng của vụ ước đạt 72.138 ha, giảm 17,9% so cùng kỳ, diện tích xuống giống chủ yếu ở Tháp Mười, Cao Lãnh, Tam Nông, Lấp Vò. Hiện lúa đang giai đoạn mạ, đẻ nhánh.Hình 1. Diện tích gieo trồng lúa và hoa màu tính đến 20/7/2025- Cây ngô: diện tích gieo trồng từ đầu vụ sản xuất ước đạt 5.613 ha, giảm 1,1%, tương ứng giảm 64 ha.- Cây rau đậu các loại: từ đầu vụ đến nay, diện tích gieo trồng rau đậu các loại ước đạt 55.976 ha, tăng 6,0% so với cùng kỳ; riêng rau các loại ước đạt 55.697 ha, tăng 6,1%. Tận dụng lợi thế đất đai màu mỡ và thời tiết thuận lợi, nông dân đẩy mạnh sản xuất rau màu bằng hình thức xen canh, gối vụ các loại rau, củ, quả có giá trị kinh tế cao, dễ tiêu thụ như: rau muống, bầu, mướp, bí xanh, khổ qua, dưa leo, cải các loại, hành lá, dưa hấu và nhiều loại rau cải ngắn ngày khác.*Chăn nuôi: ước thời điểm 31/7/2025, tổng đàn gia súc, gia cầm toàn tỉnh như sau: đàn trâu 2.652 con, tăng 31,7%; đàn bò 152.739 con, tăng 1,7%; đàn lợn 437.195 con, tăng 8,9% và đàn gia cầm 24,6 triệu con, tăng 8,4% so với cùng kỳ. Đàn bò tăng nhẹ nhờ người dân tận dụng diện tích đất nông nghiệp kém hiệu quả để trồng cỏ, phát triển mô hình nuôi bò sinh sản và bò thịt. Đàn lợn phục hồi nhanh và phát triển bền vững nhờ giá cả ổn định, mô hình chăn nuôi quy mô lớn ngày càng phổ biến và công tác phòng chống dịch bệnh được chú trọng nên đàn lợn duy trì tăng trưởng tốt. Đàn gia cầm tiếp tục tăng do thị trường tiêu thụ ổn định, các trang trại, gia trại và doanh nghiệp duy trì, mở rộng quy mô chăn nuôi, mô hình chăn nuôi tập trung, ứng dụng công nghệ cao, thân thiện môi trường và an toàn dịch bệnh ngày càng được nhân rộng.Hình 2. Chăn nuôi tại thời điểm 31/7/2025*Tình hình dịch bệnh trên vật nuôi (theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đồng Tháp):Bệnh cúm gia cầm: trong tháng không phát sinh. Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh xảy ra 03 hộ có cầm nhiễm vi rút cúm A/H5N1 với số lượng 6.161 con (tổng đàn 7.200 con) tại 02 xã (Phú Thành và Tân Phước 3). Đã tiêu hủy toàn bộ số gia cầm 7.200 con.Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: trong tháng xảy ra 04 hộ có lợn mắc bệnh với 56 con (tổng đàn 149 con); đã tiêu hủy 110 con (khối lượng 6.910,5 kg). Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh xảy ra 18 hộ nuôi có lợn mắc bệnh tại 12 xã (Vĩnh Bình, Bình Ninh, Vĩnh Hựu, Long Hưng, Tân Phước 3, Hội Cư, Bình Trưng, Long Định, Tân Phú, Kim Sơn, Mỹ Tịnh An và Mỹ Thành) với 232 con lợn bệnh (tổng đàn 463 con). Đã tiêu hủy là 395 con (khối lượng 13.117,5 kg).Bệnh viêm da nổi cục: trong tháng không phát sinh. Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh xảy ra 02 hộ tại 02 xã (Hậu Mỹ và Tân Thuận Bình) với 03 con bò bệnh có dấu hiệu bệnh (tổng đàn 09 con). Đã tiêu hủy 01 con bò (khối lượng 215 kg).Bệnh lở mồm long móng: trong tháng không phát sinh. Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh xảy ra 01 con lợn bệnh tại cơ sở giết mổ ở xã Hậu Mỹ. Đã tiêu hủy lợn bệnh (khối lượng 110 kg).2. Lâm nghiệp: Tổng diện tích rừng trên địa bàn tỉnh là 6.999,6 ha (không bao gồm diện tích rừng thuộc đất an ninh quốc phòng); Cụ thể, diện tích rừng đặc dụng 2.717,6 ha (chiếm 38,8% so tổng diện tích rừng), rừng phòng hộ 2.244,3 ha (chiếm 32,1%) và rừng sản xuất 2.037,7 ha (chiếm 29,1%).Trong tháng, thực hiện trồng mới ước đạt 323,7 ngàn cây phân tán các loại. Tổng số cây phân tán trồng được từ đầu năm đến nay là 623,6 ngàn cây, giảm 1,1% so cùng kỳ.3. Thủy hải sản: Sản lượng thủy sản nuôi trồng trong tháng ước đạt 103.914 tấn. Tính chung 7 tháng năm 2025, thu hoạch ước đạt 515.081 tấn, tăng 7,5% so cùng kỳ, tương ứng tăng 35.797 tấn, bao gồm: sản lượng cá đạt 471.327 tấn (tăng 7,7%); sản lượng tôm đạt 27.843 tấn (tăng 18,4%); các loại thủy sản khác đạt 15.911 tấn (giảm 11,7%). Do thời tiết thuận lợi, thủy sản bệnh ít, năng suất cao.Sản lượng thủy sản khai thác biển trong tháng ước đạt 10.000 tấn. Tính chung 7 tháng năm 2025, thu hoạch ước đạt 65.089 tấn, tăng 18,1% so cùng kỳ, tương ứng tăng 9.975 tấn, bao gồm: cá đạt 43.399 tấn (tăng 4,0%); tôm đạt 1.743 tấn (tăng 24,2%); thủy sản khác đạt 19.946 tấn (tăng 66,3%). Thủy sản biển xuất hiện nhiều hơn ở ngư trường nên ngư dân thu hoạch khá góp phần tăng sản lượng so cùng kỳ.II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆPChỉ số sản xuất công nghiệp tháng 7/2025 giảm 0,3% so với tháng trước và tăng 14,18% so cùng kỳ (ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,27%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 1,97%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 4,09% và ngành khai khoáng giảm 11,67% so cùng kỳ). Các ngành có chỉ số sản xuất tăng cao so cùng kỳ như: sản xuất trang phục tăng 60,81%; in, sao chép bản ghi các loại tăng 57,79%; sản xuất thiết bị điện tăng 25,93%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 24,9%...Tuy nhiên cũng có một số ngành giảm sâu so cùng kỳ như: khai khoáng khác giảm 11,67%; dệt giảm 0,63%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 11,12%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 7,93%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 6,53%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 7,55%...Tính chung 7 tháng đầu năm chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 12,8% so cùng kỳ; trong đó: khai khoáng tăng 62,15%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,66%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 1,99%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,25%.Hình 3. Chỉ số sản xuất công nghiệp - 7 tháng năm 2025* Tình hình thu hút đầu tư và phát triển các khu - cụm công nghiệp: - Khu công nghiệp: Trong tháng, Ban Quản lý các khu công nghiệp không cấp mới giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 04 lượt dự án; trong đó, có 02 dự án điều chỉnh tăng vốn với tổng vốn đầu tư tăng thêm là 48,5 triệu USD.- Khu kinh tế: Trong tháng, Ban Quản lý Khu kinh tế không cấp mới giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 03 lượt dự án; trong đó, có 01 lượt dự án điều chỉnh tăng vốn đầu tư với tổng vốn đầu tư tăng thêm là 2,5 triệu USD.Đến cuối tháng 7/2025, các khu công nghiệp, khu kinh tế thu hút được 186 dự án; trong đó, có 101 dự án FDI. Tổng vốn đầu tư là 3,1 tỷ USD và 17.384,8 tỷ đồng.- Cụm công nghiệp: trên địa bàn tỉnh có 62 cụm công nghiệp (CCN) được quy hoạch với diện tích 3.009,5 ha được chấp thuận chủ trương đầu tư. Hiện có 23 CCN được thành lập, với tổng diện tích 830 ha, trong đó có 17 CCN đã đi vào hoạt động với diện tích 544,2 ha (diện tích đất công nghiệp là 366,1 ha) đã cho thuê 286,4 ha, tỷ lệ lấp đầy 78,2% diện tích đất công nghiệp. Tổng số dự án đầu tư tại các cụm công nghiệp hiện nay là 126 dự án (trong đó: có 11 dự án đầu tư nước ngoài) với tổng vốn đầu tư 207,9 triệu USD và 14.481 tỷ đồng.III. ĐẦU TƯ - XÂY DỰNG Để thực hiện giải ngân tốt kế hoạch đầu tư công năm 2025,Ủy ban nhân dân tỉnh chủ động quản lý, điều hành, phân bổ vốn cho các công trình cấp thiết nhưng chưa có danh mục công trình cụ thể trong Nghị quyết Hội đồng nhân dân tỉnh... theo tình hình thực tế phát sinh; được phép điều chỉnh, điều chuyển vốn giữa các công trình có giá trị khối lượng thực hiện và giải ngân thấp, sang công trình hoàn thành hoặc có giá trị khối lượng thực hiện cao đã được Hội đồng nhân dân tỉnh thông qua. Tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trong tháng là 1.599 tỷ đồng, tăng 53% so cùng kỳ. Bảy tháng đầu năm 2025 ước thực hiện 7.704 tỷ đồng, đạt 46,8% kế hoạch, tăng 23,7% so cùng kỳ.Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh thực hiện 7.600 tỷ đồng, tăng 23,6% so cùng kỳ, chiếm 98,7% tổng số;trong đó: vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 2.621 tỷ đồng, tăng 58,6%, vốn xổ số kiến thiết thực hiện 1.888 tỷ đồng, tăng 0,2% so cùng kỳ... Các ngành các cấp yêu cầu các Ban quản lý dự án, Chủ đầu tư khắc phục khó khăn đẩy nhanh tiến độ đầu tư công, hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng, thúc đẩy phát triển kinh tế của tỉnh.Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp xã thực hiện 104 tỷ đồng, tăng 31,2% so cùng kỳ; trong đó: vốn cân đối ngân sách cấp xã 18 tỷ đồng, tăng 1,9 lần so cùng kỳ... Các Ban quản lý dự án tập trung điều kiện đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình sớm đưa các công trình vào sử dụng nhằm phát huy hiệu quả công trình. Các địa phương vận động, huy động nguồn vốn nhân dân đóng góp để tiến hành thi công các danh mục công trình đăng ký thuộc nguồn vốn phân cấp phường, xã. Các xã tập trung điều kiện đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình xây dựng nông thôn mới nhằm phục vụ đi lại và vận chuyển hàng hóa của người dân.IV. THƯƠNG MẠI - GIÁ CẢ - DỊCH VỤ1. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng:Nhìn chung, hoạt động thương mại dịch vụ của tỉnh trong tháng tiếp tục giữ được đà tăng trưởng, hàng hoá cung ứng đồi dào, đáp ứng nhu cầu mua sắm của người dân. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trong tháng thực hiện 20.593 tỷ đồng, tăng 0,7% so tháng trước và tăng 8,1% so cùng kỳ. Bảy tháng đầu năm 2025, tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thực hiện 143.414 tỷ đồng,tăng 9,6% so cùng kỳ.Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 111.174 tỷ đồng, tăng 8,4%; lưu trú 502 tỷ đồng, tăng 15,4%; ăn uống 18.703 tỷ đồng, tăng 14,8%; du lịch lữ hành 237 tỷ đồng, tăng 25,2%; dịch vụ tiêu dùng khác 12.799 tỷ đồng, tăng 12,5% so cùng kỳ.Hình 4. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng – 7 tháng năm 20252. Xuất - Nhập khẩu (Theo báo cáo Sở Công Thương)a. Xuất khẩu:Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng ước thực hiện 790 triệu USD, tăng 0,6% so tháng trước và giảm 6,6% so cùng kỳ. Bảy tháng ước xuất khẩu 5.232 triệu USD, đạt 56,87% kế hoạch, tăng 2,8% so cùng kỳ.b. Nhập khẩu:Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 7/2025 ước đạt 320 triệu USD, giảm 5,8% so tháng trước và giảm 11,1% so cùng kỳ. Bảy tháng ước đạt 2.814 triệu USD, đạt 63,5% kế hoạch và tăng 12,8% so với cùng kỳ; trong đó, doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước chiếm 6,2%, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 93,8% trên tổng kim ngạch nhập khẩu.Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu trong tổng kim ngạch nhập khẩu của tỉnh như: kim loại thường khác (kể cả nguyên liệu đồng) chiếm 31,2%; sắt thép các loại chiếm 9,6%; nguyên phụ liệu dệt may, da giày, túi xách chiếm 7,2%; vải nguyên liệu chiếm 5,5%; chất dẻo nguyên liệu chiếm 3,4%; còn lại nguyên vật liệu khác (thức ăn gia súc, nguyên liệu dược phẩm và máy móc thiết bị…).3. Chỉ số giá: Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 7/2025 tăng 0,13% (thành thị tăng 0,06%, nông thôn tăng 0,14%) so tháng 6/2025, tăng 1,96% so tháng 7/2024. Bình quân 7 tháng đầu năm 2025 tăng 2,24% so cùng kỳ năm trước.So với tháng 6/2025, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 08 nhóm tăng: nhà ở, điện, nước, chất đốt và VLXD tăng 0,52%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,25%; may mặc, mũ nón và giầy dép tăng 0,24%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,11%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,08%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,05%; văn hóa giải trí và du lịch tăng 0,03%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%. Có 02 nhóm giảm: bưu chính viễn thông giảm 0,01%; giao thông giảm 0,38%. Riêng nhóm giáo dục chỉ số giá ổn định.Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 7 tháng năm 2025 so cùng kỳ tăng 2,24%; Chỉ số giá tiêu dùng 7 tháng đầu năm 2025 tăng chủ yếu ở một số nhóm hàng như: thuốc và dịch vụ y tế tăng 11,9%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 7,95%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,29%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,81%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,86% so với cùng kỳ … Chỉ riêng nhóm giao thông giảm 4,75% so cùng kỳ.Chỉ số giá vàng 24 kara Ngọc Thẩm trong tháng 7/2025 tăng 0,85% so tháng trước, tăng 32,42% so với tháng 12/2024 và tăng 49,25% so với bình quân cùng kỳ. Giá vàng bình quân 11.241 ngàn đồng/chỉ, tăng 3.709 ngàn đồng/chỉ so cùng kỳ.Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng 7/2025 tăng 0,42% so tháng trước và tăng 3,51% so với cùng kỳ. Hiện nay giá bình quân Đô la Mỹ duy trì ở mức 26.384 đồng/USD, tăng 895 đồng/USD so cùng kỳ.4. Du lịch:Khách du lịch đến trong tháng 7/2025 ước tính 316 ngàn lượt khách, tương đương tháng trước và tăng 13,3% so cùng kỳ, trong đó khách quốc tế 39 ngàn lượt khách, tăng 56,1%.Hiện nay du lịch đang bước vào mùa cao điểm trong khoảng thời gian nghỉ hè, các doanh nghiệp lữ hành chào bán hàng loạt sản phẩm mới cho mùa hè 2025. Nhiều khu, điểm du lịch trong tỉnh đã mở rộng quy mô và dịch vụ vui chơi để đón đông đảo lượng khách đến tham quan, trải nghiệm. Doanh thu lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành trong tháng 7 đạt 2.865 tỷ đồng, tăng 0,2% so tháng trước và tăng 17,9% so cùng kỳ.Tính chung bảy tháng đầu năm 2025, lượt khách du lịch đến Đồng Tháp là 2.248 ngàn lượt khách, tăng 6% so cùng kỳ; trong đó: khách quốc tế 308 ngàn lượt khách, tăng 6,1% so cùng kỳ. Tổng doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, dịch vụ lữ hành và dịch vụ tiêu dùng khác đạt 32.240 tỷ đồng, tăng 14% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu dịch vụ ăn uống chiếm tỷ trọng 58%, ước đạt 18.702 tỷ đồng, tăng 14,8% so cùng kỳ; lưu trú đạt 502 tỷ đồng, tăng 15,4% so cùng kỳ... 5. Vận tải:Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trong tháng thực hiện 662 tỷ đồng, tăng 1,8% so tháng trước và tăng 13,5% so cùng kỳ, do hiện nay đang thời gian nghỉ hè nhu cầu du lịch tăng; giá nhiên liệu ổn định; hoạt động sản xuất kinh doanh phục hồi... Bảy tháng thực hiện 4.424 tỷ đồng, tăng 13,8% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 1.438 tỷ đồng, tăng 13,4%; doanh thu vận tải hàng hóa thực hiện 2.181 tỷ đồng, tăng 13,1% so cùng kỳ. Doanh thu vận tải đường bộ thực hiện 2.030 tỷ đồng, tăng 12,3%; doanh thu vận tải đường thủy thực hiện 1.588 tỷ đồng, tăng 14,3%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 469 tỷ đồng, tăng 18,9% so cùng kỳ.Vận tải hành khách trong tháng đạt 6.008 ngàn hành khách, tăng 1,9% so tháng trước và tăng 14,6% so cùng kỳ; luân chuyển 229.945 ngàn hành khách.km, tăng 1,7% so tháng trước và tăng 13,2% so cùng kỳ. Bảy tháng, vận chuyển 41.317 ngàn hành khách, tăng 15,6% so cùng kỳ; luân chuyển 1.566.084 ngàn hành khách.km, tăng 12,5% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 13.466 ngàn hành khách, tăng 13,5% và luân chuyển 1.552.432 ngàn hành khách.km, tăng 12,5% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 27.851 ngàn hành khách, tăng 16,6% và luân chuyển 13.652 ngàn hành khách.km, tăng 15,3% so cùng kỳ.Vận tải hàng hóa trong tháng đạt 2.506 ngàn tấn, tăng 2,8% so tháng trước và tăng 11,5% so cùng kỳ; luân chuyển 463.740 ngàn tấn.km, tăng 1,4% so tháng trước và tăng 11,7% so cùng kỳ (trong đó: sản lượng vận chuyển ngoài nước là 166,24 ngàn tấn, là do công ty xăng dầu Đồng Tháp tỉnh chở bán hàng qua Camphuchia). Bảy tháng, vận tải 16.259 ngàn tấn hàng hóa, tăng 11,5% so cùng kỳ; luân chuyển 3.108.455 ngàn tấn.km, tăng 12,4% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 3.600 ngàn tấn, tăng 13% và luân chuyển 531.565 ngàn tấn.km, tăng 10,7% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 12.659 ngàn tấn, tăng 11% (trong đó sản lượng xăng dầu vận chuyển ngoài nước là 1.048 ngàn tấn) và luân chuyển 2.576.890 ngàn tấn.km, tăng 12,8% so cùng kỳ.* Công tác quản lý phương tiện giao thông: Trong tháng đăng ký mới 179 chiếc mô tô xe máy. Tổng số xe đang quản lý trên địa bàn tỉnh 3.055.926 chiếc, trong đó mô tô xe máy: 2.928.882 chiếc, 123.837 xe ô tô, 169 xe ba bánh, 666 xe đạp điện và 1.063 xe khác và 1.309 xe lam.6. Bưu chính viễn thông:Doanh thu trong tháng 7/2025 đạt 676,9 tỷ đồng, tăng 0,52% so tháng trước; trong đó: doanh thu bưu chính đạt 54,5 tỷ đồng, tăng 0,93% và viễn thông 622,4 tỷ đồng, tăng 0,48% so tháng trước. Bảy tháng doanh thu dịch vụ bưu chính, viễn thông đạt 4.713 tỷ đồng, tăng 3,5% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính đạt 368,3 tỷ đồng, tăng 7,7% và viễn thông 4.344,3 tỷ đồng, tăng 3,14% so cùng kỳ.Tổng số thuê bao điện thoại có 4.178 vị trí trạm BTS; có 3.878.066 thuê bao điện thoại (trong đó: 56.832 thuê bao điện thoại cố định và 3.821.234 thuê bao điện thoại di động); có 4.022.490 thuê bao internet băng rộng (trong đó: 821.224 thuê bao băng rộng cố định và 3.201.266 thuê bao băng rộng di động). có 100% khóm, ấp trên địa bàn tỉnh đã phủ sóng thông tin di động 3G, 4G và có đường truyền internet cáp quang FTTxV. TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG1. Tài chính:Tổng thu ngân sách nhà nước trong tháng thực hiện 4.516 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn 1.901 tỷ đồng; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 327 tỷ đồng. Bảy tháng, thu 40.887 tỷ đồng; trong đó, thu ngân sách trên địa bàn thực hiện 14.882 tỷ đồng, đạt 71,9% dự toán và tăng 26,5% so cùng kỳ; thu nội địa 14.369 tỷ đồng, đạt 72,3% dự toán, tăng 26,3% so cùng kỳ (trong thu ngân sách trên địa bàn: thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 2.360 tỷ đồng, đạt 86,6% dự toán, tăng 14% so cùng kỳ; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 2.886 tỷ đồng, đạt 98,85% dự toán, tăng 71,8% so cùng kỳ...). Tổng chi ngân sách nhà nước trong tháng 3.721 tỷ đồng; trong đó: chi đầu tư phát triển 1.143 tỷ đồng. Bảy tháng, chi 26.975 tỷ đồng, đạt 61,5 dự toán và tăng 89,3% so cùng kỳ; trong đó: chi đầu tư phát triển 8.427 tỷ đồng, đạt 76,1% dự toán, tăng 15,5% so cùng kỳ; chi hành chính sự nghiệp 15.505 tỷ đồng, đạt 69,9% dự toán và tăng 1,8 lần so cùng kỳ. 2. Ngân hàng: Từ đầu năm đến nay, lãi suất ổn định tạo điều kiện cho tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn từ Ngân hàng nhà nước (NHNN) với chi phí thấp, tiếp tục khuyến khích TCTD tiết giảm chi phí để giảm mặt bằng lãi suất cho vay. Đến cuối tháng 6/2025, các mức lãi suất trên địa bàn tỉnh như sau:Lãi suất huy động: Hệ thống các TCTD trên địa bàn chấp hành tốt các quy định về lãi suất huy động theo quy định của NHNN Việt Nam.Lãi suất cho vay: Các tổ chức tín dụng trên địa bàn chấp hành nghiêm mức trần lãi suất cho vay ngắn hạn đối với các lĩnh vực ưu tiên (hiện là 4%/năm áp dụng tại các chi nhánh ngân hàng và 5% áp dụng tại Quỹ tín dụng nhân dân, Tổ chức tài chính vi mô). Mặt bằng lãi suất cho vay VNĐ tiếp tục có xu hướng giảm, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận vốn vay với chi phí hợp lý. Đến cuối tháng 5/2025, lãi suất cho vay bình quân trên địa bàn là 7,78%/năm, giảm 0,56%/năm so với cuối năm 2024.Đến cuối tháng 6/2025, vốn huy động đạt 193.216 tỷ, tăng 6,09% so với cuối năm 2024, tổng dư nợ cho vay của các tổ chức tín dụng (TCTD) trong tỉnh đạt 232.690 tỷ, tăng 3,37% so với cuối năm 2024. Ước đến cuối tháng 7/2025, nguồn vốn huy động đạt 194.646 tỷ, tăng 6,88% so với cuối năm 2024; tổng dư nợ đạt 235.147 tỷ, tăng 4,47%.Nợ xấu: đến cuối tháng 6/2025 nợ xấu đạt 5.816 tỷ đồng, tăng 60,14% so cuối năm 2024; tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là 2,54%, tăng 0,91% so với cuối năm 2024. Ước đến cuối tháng 7/2025 nợ xấu đạt 5.874 tỷ đồng, tăng 61,73% so cuối năm 2024; tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là 2,5%, tăng 0,87% so với cuối năm 2024.Quỹ tín dụng nhân dân: đến cuối tháng 6/2025, tổng nguồn vốn hoạt động đạt 2.794 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 6,15% so tháng 12/2024; Tổng dư nợ cho vay đạt 2.360 tỷ đồng, giảm 0,36% so cuối năm 2024. Tỷ lệ nợ xấu tăng 0,57% so tháng 12/2024.VI. KHOA HỌC CÔNG NGHỆ- Quản lý công nghệ: Góp ý 10 hồ sơ về công nghệ các dự án đầu tư.- Sở hữu trí tuệ: + Tổ chức hội thảo với chủ đề “Giải pháp tăng đơn sáng chế và thương mại hóa sáng chế thành công”. Tập huấn chuyên đề “Các quy định pháp luật về đăng ký sáng chế - Hướng dẫn hồ sơ đăng ký sáng chế”+ Ban hành Quyết định phê duyệt danh sách tổ chức, cá nhân được hỗ trợ kinh phí đăng ký bảo hộ tài sản trí tuệ năm 2025 trên địa bàn tỉnh Tiền Giang (Đợt 2) (01 Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu, 01 Quyết định chấp nhận đơn hợp lệ sáng chế với tổng số tiền 45 triệu đồng).+ Tiếp nhận 07 hồ sơ đề nghị hỗ trợ về thiết kế và bảo hộ nhãn hiệu của các tổ chức kinh tế theo Nghị quyết số 44/2021/NQ-HĐND ngày 17/8/2021 của Hội đồng nhân dân Tỉnh Đồng Tháp về ban hành quy định một số chính sách khuyến khích các tổ chức kinh tế đầu tư vào hoạt động khoa học và công nghệ.+ Xác lập thành công Chỉ dẫn địa lý “Đồng Tháp” cho sản phẩm sen: ngày 25/6/2025 Cục Sở hữu trí tuệ ban hành Quyết định số 442/QĐ-SHTT về việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý số 00145 cho sản phẩm sen “Đồng Tháp”.- Hoạt động sáng kiến: Thành lập Hội đồng xét công nhận hiệu quả áp dụng và phạm vi ảnh hưởng của sáng kiến lĩnh vực Giáo dục và Đào tạo năm 2025; đã tiếp nhận 1.258 sáng kiến đề nghị xét công nhận hiệu quả áp dụng và phạm vi ảnh hưởng của sáng kiến lĩnh vực Giáo dục và Đào tạo năm 2025 (đang rà soát thẩm định trước khi Hội đồng đánh giá). Đồng thời trình UBND Tỉnh sửa đổi, bổ sung Quyết định số 28/2023/QĐ-UBND ngày 20/6/2023 ban hành Quy định xét, công nhận sáng kiến và các biện pháp thúc đẩy hoạt động sáng kiến trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp.- An toàn bức xạ và hạt nhân: Cấp giấy phép mới 03 hồ sơ; cấp gia hạn giấy phép: 02 hồ sơ; Cấp sửa đổi, bổ sung giấy phép: 01 giấy phép; Cấp chứng chỉ nhân viên bức xạ: 02; Tiếp nhận chưa giải quyết: 05 hồ sơ lĩnh vực an toàn bức xạ, trong đó 03 hồ sơ đề nghị 3 cấp giấy phép tiến hành công việc bức xạ - Sử dụng thiết bị X-quang chẩn đoán trong y tế và 02 hồ sơ đề nghị cấp chứng chỉ nhân viên bức xạ cho người phụ trách an toàn.VII. CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Lao động việc làm:Trong tháng, toàn tỉnh đã tạo việc làm cho 7.509 lao động, trong đó có 113 lao động xuất cảnh làm việc tại các thị trường nước ngoài. Tính từ đầu năm đến nay, tổng số lao động được giải quyết việc làm đạt 43.562 người; riêng lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài là 1.555 người, một tín hiệu tích cực trong nỗ lực mở rộng thị trường lao động.Các hoạt động giao dịch việc làm, ngày hội việc làm được tổ chức, đóng vai trò quan trọng trong kết nối cung – cầu lao động, đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp và tạo cơ hội việc làm cho người lao động. Trong tháng, đã tổ chức 6 phiên giao dịch việc làm với sự tham gia của 61 lượt doanh nghiệp, thu hút hơn 1.570 lượt người, chủ yếu là học sinh, sinh viên và người lao động. Tính chung từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh đã tổ chức 43 phiên giao dịch việc làm với 167 lượt doanh nghiệp tham gia, thu hút trên 18.000 lượt người quan tâm tham gia, góp phần giảm áp lực giải quyết việc làm tại địa phương.2. Chính sách xã hội: Trong tháng, tỉnh tiếp tục triển khai hiệu quả các chính sách đối với người có công, góp phần chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho các đối tượng chính sách trên địa bàn sau khi chính quyền địa phương 2 cấp đi vào hoạt động:- Các chế độ ưu đãi dành cho người có công với cách mạng tiếp tục được giải quyết đầy đủ, đúng đối tượng và kịp thời. trong đó: lập quyết định trợ cấp một lần cho thân nhân và chuyển thờ cúng liệt sĩ: 132 hồ sơ; giải quyết chế độ cho người tham gia kháng chiến, dân giúp cách mạng: 4 trường hợp; trợ cấp tuất: 5 trường hợp; giải quyết chế độ cho vợ liệt sĩ tái giá, con liệt sĩ tàn tật: 4 trường hợp; nạn nhân chất độc hóa học mới được công nhận: 6 trường hợp;...- Nhân dịp kỷ niệm 78 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 – 27/7/2025), nhiều hoạt động tri ân được tổ chức trang trọng và ý nghĩa. Tiêu biểu như: tổ chức Lễ đặt tràng hoa, viếng mộ liệt sĩ tại Nghĩa trang liệt sĩ tỉnh; tổ chức đoàn thăm các đồng chí nguyên lãnh đạo Bộ đội Biên phòng tỉnh và cán bộ chiến sĩ Đoàn 217 Quảng Ninh từng tăng cường Công an vũ trang tỉnh Gò Công năm 1975, nhân kỷ niệm 50 năm Ngày truyền thống Bộ đội Biên phòng tỉnh Tiền Giang (16/6/1975 – 16/6/2025).- Tỉnh đã tổ chức các chuyến đi cho 30 cựu chiến binh tham quan Nhà tù Phú Quốc và 30 cựu chiến binh tham quan Nhà tù Côn Đảo; tổ chức 3 đợt đưa 210 người có công và cựu thanh niên xung phong đi viếng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, tham quan Thủ đô Hà Nội; đồng thời triển khai 5 đợt điều dưỡng tập trung cho người có công trong năm 2025.3. Hoạt động giáo dục:Hệ thống giáo dục trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp (mô hình chính quyền hai cấp vận hành) được tổ chức lại một cách khoa học nhằm phát huy tối đa nguồn lực sẵn có, triển khai đồng bộ từ tỉnh đến cơ sở. Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2025, tỉnh Đồng Tháp có 33.666 thí sinh dự Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2025, kết quả có 33.446 thí sinh tốt nghiệp (đạt 99,35%). Thí sinh đăng ký nguyện vọng trực tuyến: Từ 16/7 đến 28/7 và đây là giai đoạn quyết định cơ hội trúng tuyển đại học của thí sinh. Tất cả thí sinh (bao gồm cả thí sinh được xét tuyển thẳng) phải thực hiện đăng ký nguyện vọng xét tuyển trực tuyến trên Hệ thống hỗ trợ tuyển sinh chung của Bộ GD&ĐT tại địa chỉ http://thisinh.thitotnghiepthpt.edu.vn hoặc gián tiếp thông qua Cổng dịch vụ công quốc gia.4. Hoạt động y tế:Mô hình chính quyền hai cấp tỉnh và xã được triển khai đồng bộ từ ngày 1/7, hệ thống y tế tỉnh Đồng Tháp tiếp tục được củng cố và hoạt động ổn định, thông suốt, đảm bảo đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân. Các hoạt động giám sát dịch bệnh, phòng chống dịch tiếp tục được duy trì hiệu quả, góp phần giữ vững tình hình y tế trên địa bàn tỉnh.Trong tháng có 12/44 bệnh truyền nhiễm được ghi nhận. So với cùng kỳ cộng dồn, có 13 bệnh tăng (Bệnh do vi rút Adeno, Cúm, Ho gà, Lỵ trực trùng, Quai bị, Sởi, Sốt xuất huyết Dengue, Tay - chân - miệng, Thương hàn, Thủy đậu, Tiêu chảy, Viêm gan vi rút khác, Viêm não vi rút khác,); 09 bệnh giảm (Bệnh do liên cầu lợn ở người, Lao phổi, Lỵ amíp, Uốn ván khác, Viêm gan vi rút A, Viêm gan vi rút B, Viêm gan vi rút C, Viêm não Nhật bản, Bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Covid-19 gây ra); 22 không xảy ra ca mắc.Các bệnh truyền nhiễm trong tháng ghi nhận: bệnh sốt xuất huyết 385 ca mắc; bệnh tay - chân - miệng 853 ca. Cộng dồn số ca mắc bệnh sốt xuất huyết: 1.905 ca, tăng 21,8% so cùng kỳ; bệnh tay – chân – miệng: 2.798 ca, tăng 0,2% so cùng kỳ. Phòng chống HIV/AIDS trên địa bàn tỉnh tính đến nay là 15.758 người nhiễm HIV; 5.051 người chuyển sang AIDS; 3.866 người tử vong do AIDS.An toàn vệ sinh thực phẩm, trong tháng ghi nhận 01 vụ ngộ độc thực phẩm với 23 người mắc, không có ca tử vong; tổng số cộng dồn: 02 vụ (tăng 01 vụ so cùng kỳ), số người bị ngộ độc 56 người (tăng 47 người), không có ca tử vong.Khám chữa bệnh trong tháng cho 749.410 lượt người; trong đó, số người điều trị nội trú là 42.264 lượt người. Cộng dồn từ đầu năm đến nay, đã khám chữa bệnh cho 4.650.614 lượt người, tăng 1,5%; trong đó, số người điều trị nội trú là 266.247 lượt người, tăng 2,6%.5. Hoạt động văn hóa - thể thao:Trong tháng, các hoạt động văn hóa nghệ thuật diễn ra sôi nổi, góp phần tạo không khí phấn khởi, vui tươi trong nhân dân. Cụ thể:a. Hoạt động văn hóa nghệ thuật: tổ chức 6 buổi biểu diễn nghệ thuật với khoảng 1.700 lượt người xem, các sự kiện lớn như: kỷ niệm 50 năm Ngày truyền thống Bộ đội Biên phòng Tiền Giang, 100 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam, Đại hội Đảng các cấp,… Đặc biệt, chương trình “Dạ khúc tri âm” quý II được tổ chức tại Rạp hát Thầy Năm Tú tạo điểm nhấn văn hóa độc đáo. Ngoài ra, tổ chức 15 buổi tuyên truyền lưu động – chiếu phim đã thu hút trên 13.700 lượt người xem, góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng về các vấn đề xã hội.b. Hoạt động thư viện: tổ chức chương trình “Hè vui đọc sách” và phát động cuộc thi “Đọc sách cùng Xích Lô” năm 2025 trên toàn tỉnh. Trong tháng, thư viện phục vụ 57.830 lượt bạn đọc với 154.355 lượt tài liệu, đồng thời tổ chức nhiều hoạt động ngoại khóa, tương tác trực tuyến, phục vụ sách cho người khuyết tật, tạo điều kiện tiếp cận tri thức đa dạng cho mọi đối tượng.c. Hoạt động bảo tàng: trưng bày chuyên đề tại các nhà trưng bày lịch sử, khu di tích và hiện vật ngoài trời. Đặc biệt, hai lễ hội truyền thống tại huyện Tháp Mười đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.d. Hoạt động thể dục, thể thao: trong 7 tháng đầu năm, 64 vận động viên của tỉnh ở các môn thể thao trọng điểm như: Bắn cung, Bơi lội, Cầu mây, Canoeing, Karate, Judo, Taekwondo, Xe đạp... đã được triệu tập vào các đội tuyển quốc gia, tham gia thi đấu tại các giải quốc tế. Tỉnh cũng đăng cai tổ chức 6 giải đấu cấp quốc gia tiêu biểu như: Giải Bơi – Lặn vô địch các nhóm tuổi, Giải Judo vô địch quốc gia, Cuộc đua xe đạp toàn quốc tranh Cúp Truyền hình TP. Hồ Chí Minh, Giải Petanque, Giải Cầu mây trẻ và Giải Roller Sports trẻ.6. Tình hình trật tự an toàn xã hội (theo báo cáo ngành Công an):Sau khi tỉnh Đồng Tháp chính thức vận hành mô hình chính quyền hai cấp, công tác bảo đảm trật tự an toàn xã hội tiếp tục được triển khai đồng bộ từ tỉnh đến cơ sở. Lực lượng chức năng tăng cường tuần tra, kiểm soát địa bàn, kịp thời phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường ổn định phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Trong tháng xảy ra 87 vụ phạm tội về trật tự xã hội, giảm 17 vụ so với tháng trước. Hậu quả là 03 người chết, 34 người bị thương, tài sản thiệt hại khoảng 24 triệu đồng. Cơ quan chức năng đã điều tra, khám phá 62 vụ (đạt tỷ lệ 71,3%), bắt giữ và xử lý 130 đối tượng, đồng thời thu hồi tài sản trị giá khoảng 224 triệu đồng. Tính từ đầu năm đến nay, tổng số vụ phạm tội là 716. Vụ việc đã làm 28 người chết, 227 người bị thương, tổng giá trị tài sản thiệt hại lên đến khoảng 504,8 tỷ đồng. Đã điều tra, khám phá được 576 vụ (đạt tỷ lệ 80,4%), xử lý 1.119 đối tượng.Về tội phạm ma túy trong tháng, lực lượng chức năng đã phát hiện và xử lý 17 vụ với 25 đối tượng. Ngoài ra, 197 đối tượng có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy cũng đã bị xử lý hành chính.7. Trật tự an toàn giao thông (theo báo cáo ngành Công an, số liệu tính từ ngày 15/6/2025 đến 14/7/2025):Tai nạn giao thông đường bộ: trong tháng, xảy ra 33 vụ, giảm 17 vụ so tháng trước và giảm 23 vụ so cùng kỳ. Hậu quả làm chết 26 người (giảm 15 người so tháng trước, giảm 13 người so cùng kỳ) và 12 người bị thương (giảm 06 người so tháng trước, giảm 24 người so cùng kỳ). Lũy kế từ đầu năm đến kỳ báo cáo, toàn tỉnh đã xảy ra 359 vụ, giảm 01 vụ so với cùng kỳ; làm chết 249 người (giảm 18 người so với cùng kỳ) và làm bị thương 181 người (tăng 19 người). Các nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông chủ yếu vẫn do ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông như: uống rượu say, điều khiển xe khi có rượu bia, phóng nhanh vược ẩu, không làm chủ tốc độ; không đi đúng phần đường, làn đường; không nhường đường, vượt đèn đỏ, thiếu quan sát…Tai nạn giao thông đường thủy: trong tháng không xảy ra. Lũy kế từ đầu năm đến kỳ báo cáo là 01 vụ (không phát sinh người chết và bị thương).8. Tình hình cháy nổ, môi trường và thiên tai:Cháy, nổ: trong tháng, trên địa bàn tỉnh xảy ra 01 vụ cháy, gây thiệt hại tài sản khoảng 497 triệu đồng; nguyên nhân được xác định là do sự cố hệ thống, thiết bị điện. Tính từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh ghi nhận tổng cộng 13 vụ cháy, giảm 08 vụ so với cùng kỳ, số người tử vong do cháy là 04 người, và tổng thiệt hại tài sản đã vượt mức 272,7 tỷ đồng.Môi trường: trong tháng đã xảy ra 3 vụ vi phạm (khai thác cát trái phép). Cộng dồn từ đầu năm, toàn tỉnh xảy ra 41 vụ vi phạm môi trường, tăng 73,3% so với cùng kỳ. Tổng số tiền xử phạt hành chính là 622,1 triệu đồng.Thiên tai: trong tháng, do ảnh hưởng từ hoàn lưu bão 3 Wipha, xảy ra mưa lớn kèm theo dông lốc trên địa bàn tỉnh; đã làm 19 người bị thương (xã Ba Sao 10 người, phường Mỹ Ngãi 9 người), sập 52 căn nhà, tốc mái 458 căn, hư hỏng 10 phòng học, 6 nhà kho và 34 trụ điện bị ngã đổ; gây thiệt hại 5,68 ha cây ăn trái, 15 ha lúa, 3 ha đậu đũa, ngã đổ 2.369 cây ăn trái các loại, 600 bụi môn, 363 cây xanh bị ngã, tét nhánh. Thiệt hại ước tính khoảng 21,2 tỷ đồng. Lũy kế từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh xả ra 20 cơn mưa giông, lốc, sét làm 02 người chết (do bị sét đánh); 19 người bị thương; sập 54 căn nhà, tốc mái 548 căn, hư hỏng 10 phòng học, 6 nhà kho; 34 trụ điện bị ngã đổ; thiệt hại 5,68 ha cây ăn trái, 15 ha lúa, sập 3 ha đậu đũa, 600 bụi môn; ngã đổ 350 cây chuối, 363 cây xanh và 3,035 cây ăn trái các loại, khoảng 3,04 tấn trái cây bị rụng hư (phần lớn là sầu riêng). Thiệt hại ước tính khoảng 22,9 tỷ đồng. Sạt lở xảy ra 15 vụ với tổng chiều dài 538m, diện tích 2,870 m2, làm sập 01 căn nhà. Thiệt hại ước tính khoảng 1,248 tỷ đồng. Như vậy, tổng thiệt hại do thiên tai gây ra trong 7 tháng năm 2025 vượt mức 24 tỷ đồng.

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Tiền Giang 6 tháng đầu năm 2025
  •   03/07/2025 15:12

Tình hình kinh tế - chính trị thế giới trong những tháng đầu năm 2025 diễn biến phức tạp; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gây gắt hơn; xung đột Nga - Ucraina tiếp tục kéo dài, đặc biệt là xung đột tại Biển Đỏ, dải Gaza leo thang đã gia tăng rủi ro với an toàn hàng hải, chuỗi cung ứng hàng hóa đã làm ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Ngoài ra chính sách thắt chặt tiền tệ của các nước ảnh hưởng đến xuất khẩu của các doanh nghiệp của Việt Nam nói chung và Tiền Giang nói riêng.Trong những tháng đầu năm 2025 Đảng bộ, chính quyền các cấp trên địa bàn tỉnh tập trung sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống chính trị theo Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban chấp hành Trung ương khóa XII hoạt động hiệu lực, hiệu quả nhằm phát huy tinh thần đoàn kết, quyết tâm, phấn đấu thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra trong năm 2025; tăng trưởng từ 8% trở lên, hướng tới kế hoạch tăng trưởng hai con số trong những năm tiếp theo… Ngay từ đầu năm 2025 Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã triển khai kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh, giao nhiệm vụ cụ thể cho từng ngành, từng địa phương; chỉ đạo, điều hành sâu sát, tập trung và có hiệu quả hơn, cùng sự nỗ lực phấn đấu của các ngành các cấp; tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2025 tiếp tục phát triển ổn định, có nhiều chuyển biến tích cực; một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội có tăng trưởng hơn cùng kỳ năm trước. Kết quả thực hiện trên các lĩnh vực như sau:I. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊU KINH TẾ1. Tăng trưởng kinh tế (GRDP):Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) 6 tháng đầu năm 2025 ước đạt 36.129 tỷ đồng (giá so sánh năm 2010); quý I tăng 7,47%, quý II tăng 8,13%, tính chung 6 tháng tăng 7,81% so với 6 tháng đầu năm 2024; khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,17 %, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 12,27%, khu vực dịch vụ tăng 8,12 % và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 4,96% so cùng kỳ. Trong 7,81% tăng trưởng thì khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản đóng góp 1,44%, khu vực công nghiệp và xây dựng đóng góp 3,69%, khu vực dịch vụ đóng góp 2,38% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đóng góp 0,3%. GRDP nếu tính theo giá hiện hành GRDP đạt 71.776 tỷ đồng. Cơ cấu kinh tế: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 35,7% (cùng kỳ 37,4%); khu vực công nghiệp, xây dựng chiếm 29,1% (cùng kỳ 27,5%); khu vực dịch vụ chiếm 29,4% (cùng kỳ 29,1%); thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 5,8%, (cùng kỳ 6%).2. Tài chính - Ngân hàng:a. Tài chính:Thu ngân sách nhà nước: Ước thực hiện 6 tháng đầu năm 2025 thu được 17.670 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn thực hiện 7.650 tỷ đồng, đạt 72,2% dự toán và tăng 29,9% so cùng kỳ; thu nội địa 7.450 tỷ đồng, đạt 72,5% dự toán, tăng 30,7% so cùng kỳ (thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 1.945 tỷ đồng, đạt 73,3% dự toán năm và tăng 14,3% so với cùng kỳ; khu vực công thương nghiệp - ngoài quốc doanh là 1.621 tỷ đồng, đạt 118,29% dự toán, tăng 70,4% so với cùng kỳ; thu từ hoạt động xổ số kiến thiết 1.473 tỷ đồng, đạt 71,8% dự toán, tăng 25,2% so cùng kỳ).Chi ngân sách nhà nước: Tổng chi ngân sách 6 tháng đầu năm 2025 là 10.750 tỷ đồng; trong đó: chi đầu tư phát triển 2.674 tỷ đồng, đạt 41% dự toán, giảm 33,2%; chi hành chính sự nghiệp 5.699 tỷ đồng, đạt 57,8% dự toán và tăng 1,8 lần so cùng kỳ.b. Ngân hàng:Đến cuối tháng 5/2025, vốn huy động đạt 110.961 tỷ đồng, tăng 3.829 tỷ, tăng 3,57% so với cuối năm 2024. Tổng dư nợ toàn tỉnh đạt 110.525 tỷ đồng, tăng 4.086 tỷ, tăng 3,84% so với cuối năm 2024. Ước tính đến cuối tháng 6/2025 vốn huy động đạt 113.088 tỷ đồng, tăng 5,56% so với cuối năm 2024; tổng dư nợ toàn tỉnh đạt 112.477 tỷ đồng, tăng 5,67% so với cuối năm 2024.Nợ xấu: cuối tháng 5/2025, tỷ lệ nợ xấu 1,97%, tăng 0,18% so với cuối năm 2024.Quỹ tín dụng nhân dân: đến cuối 5/2025, tổng nguồn vốn huy động đạt 1.608 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 6,58 % so với cuối năm 2024; Tổng dư nợ cho vay đạt 1.294 tỷ đồng, giảm 0,01%, tỷ lệ nợ xấu 0,45% so với cuối năm 2024.3. Giá cả, lạm phát:Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6/2025 tăng 0,54% (khu vực thành thị tăng 0,61%; khu vực nông thôn tăng 0,53%) so tháng 5/2025, tăng 2,79% so tháng 6/2024. Bình quân 6 tháng đầu năm 2025 tăng 2,93% so cùng kỳ năm trước.Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 11 nhóm tăng so tháng 5/2025: hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,2% (trong đó: thực phẩm tăng 0,26%, ăn uống ngoài gia đình tăng 0,52% và lương thực giảm 0,6%); đồ uống và thuốc lá tăng 0,25%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,14%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,38%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,08%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%; giao thông tăng 1,85%; bưu chính viễn thông tăng 0,02%; giáo dục tăng 0,01%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,18% và hàng hóa dịch vụ khác tăng 0,15%.Một số nhóm hàng có chỉ số giá tăng trong 6 tháng năm 2025 so cùng kỳ :Chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,26%, tác động làm CPI chung tăng 1,11 điểm phần trăm, trong đó chỉ số giá nhóm thịt lợn tăng 12,37% do nguồn cung hạn chế trong khi nhu cầu tiêu dùng tăng cao trong các dịp Lễ, Tết, tác động làm CPI chung tăng 0,37 điểm phần trăm; chỉ số giá thực phẩm tăng 3,38%, tác động làm CPI chung tăng 0,71 điểm phần trăm.Chỉ số giá nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,53%, làm CPI chung tăng 0,67 điểm phần trăm. Trong đó, giá nhà ở thuê tăng 3,97%, tác động làm CPI chung tăng 0,35 điểm phần trăm; giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 2,31%, tác động tăng 0,09 điểm phần trăm; giá nhóm sửa chữa nhà ở tăng 2%, tác động tăng 0,02 điểm phần trăm; giá nhóm điện sinh hoạt tăng 4,65%, tác động tăng 0,13 điểm phần trăm; giá nhóm nước sinh hoạt tăng 4,31%, tác động tăng 0,04 điểm phần trăm.Chỉ số giá nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 10,77%, làm CPI chung tăng 0,6 điểm phần trăm do giá dịch vụ y tế được điều chỉnh theo Thông tư số 21/2024/TT-BYT ngày 17/10/2024 của Bộ Y tế.Một số nhóm hàng có chỉ số giá giảm trong 6 tháng năm 2025 so cùng kỳChỉ số nhóm giao thông giảm 4,71%, góp phần làm CPI chung giảm 0,43 điểm phần trăm, trong đó giá xăng giảm 12,59%, giá dầu giảm 10,53%. Bên cạnh đó, cũng có một số mặt hàng tăng giá như: bảo dưỡng phương tiện đi lại tăng 6,24%; dịch vụ rửa, bơm xe tăng 4,07%...Chỉ số giá vàng 24 kara Ngọc Thẩm trong tháng 6/2025 giảm 0,87% so tháng trước, giá vàng bình quân 11.487 ngàn đồng/chỉ, tăng 3.939 ngàn đồng/chỉ so cùng kỳ.Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng 6/2025 giảm 0,54% so tháng trước, giá bình quân 26.342 đồng/USD, tăng 876 đồng/USD so cùng kỳ.4. Đầu tư và Xây dựng:Ước 6 tháng đầu năm 2025, vốn đầu tư toàn xã hội ước thực hiện 22.261 tỷ đồng, đạt 41% kế hoạch, tăng 12,6% so cùng kỳ; trong đó: vốn đầu tư của dân cư và tư nhân 14.086 tỷ đồng, tăng 17,9%, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 2.371 tỷ đồng, tăng 11,9%, vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước 5.804 tỷ đồng, tăng 1,6% so cùng kỳ.Ước 6 tháng đầu năm 2025, vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý là 2.567 tỷ đồng, đạt 44,7% kế hoạch, tăng 18,3% so cùng kỳ; gồm có: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 2.184 tỷ đồng, tăng 31,7%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện 338 tỷ đồng, bằng 75,9%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 45 tỷ đồng, bằng 68,7% so cùng kỳ.Kết quả thực hiện một số dự án trọng điểm từ nguồn vốn ngân sách trên địa bàn tỉnh.Hình 1. Vốn đầu tư toàn xã hội 6 tháng đầu năm 20255. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp:Theo số liệu báo cáo của sở Tài Chính, trong 6 tháng đầu năm 2025 dự tính có 528 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 16,1% so cùng kỳ và đạt 58% kế hoạch. Tổng vốn đăng ký mới 3.219,6 tỷ đồng, tăng 7,7% so cùng kỳ. Vốn đăng ký bình quân một doạnh nghiệp trong 6 tháng đầu năm 2025 là 6,1 tỷ đồng/doanh nghiệp. Có 565 đơn vị trực thuộc của doanh nghiệp (chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh) thành lập mới, tăng 37,8% so cùng kỳ. Ngoài ra, còn có 157 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động. Có 63 doanh nghiệp hoàn tất giải thể, giảm 10% so cùng kỳ và có 266 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn. Như vậy, trong 6 tháng đầu năm 2025, số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động tăng 2,1 lần so với số doanh nghiệp giải thể và tạm ngừng kinh doanh. Đến cuối tháng 6/2025, toàn tỉnh có khoảng 6.653 doanh nghiệp đang hoạt động.6. Sản xuất nông - lâm nghiệp và thủy sản:a. Nông nghiệp:Mùa khô năm 2024–2025, xâm nhập mặn trên địa bàn tỉnh xuất hiện sớm hơn trung bình nhiều năm khoảng 10 ngày, bắt đầu ảnh hưởng từ cuối tháng 12/2024 và kết thúc vào cuối tháng 5/2025. Tuy nhiên, mức độ xâm nhập mặn được đánh giá thấp hơn so cùng kỳ của các năm. Nhờ chủ động triển khai đồng bộ các giải pháp phòng, chống hạn mặn từ sớm, tỉnh đã kịp thời bảo vệ sản xuất nông nghiệp và ổn định đời sống người dân. Nhìn chung, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trong 6 tháng đầu năm vẫn duy trì ổn định và có bước phát triển tích cực. Cây trồng sinh trưởng tốt, các loại sâu bệnh gây hại xuất hiện ở mức thấp đến trung bình nhờ người dân chủ động theo dõi thông tin dự báo dịch hại và thực hiện các biện pháp phòng trừ kịp thời. Trong chăn nuôi, một số địa phương vẫn phát sinh dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm (như viêm da nổi cục, dịch tả lợn châu Phi…), song đã được ngành chức năng kiểm soát hiệu quả, không để lây lan diện rộng. Hoạt động nuôi trồng và khai thác thủy sản tiếp tục đạt được kết quả khả quan so với cùng kỳ năm trước, góp phần quan trọng vào tăng trưởng ngành nông nghiệp của tỉnh.* Trồng trọt:Cây lương thực có hạt: diện tích gieo trồng cộng dồn từ đầu vụ sản xuất là 100.461 ha, giảm 4,1% so cùng kỳ, tương ứng giảm 4.291 ha; sản lượng ước đạt 291.653 tấn, giảm 8,6%, tương ứng giảm 27.472 tấn. Trong đó cây lúa gieo sạ 98.870 ha, giảm 4,3% so cùng kỳ; sản lượng thu hoạch ước đạt 287.369, giảm 8,8%, cụ thể:- Cây lúa:+ Vụ Đông xuân 2024 – 2025: diện tích gieo trồng chính thức 42.513 ha, đạt 103,7% kế hoạch (kế hoạch 41.000 ha) và giảm 5,3% so cùng kỳ, tương ứng giảm 2.369 ha do chuyển đổi sang cây lâu năm 2.286 ha, cây hàng năm khác 116 ha, đất phi nông nghiệp là 44 ha, nuôi trồng thủy sản 33 ha, không sản xuất 15 ha và tăng 125 ha từ diện tích cây hằng năm khác.Thu hoạch 100% diện tích với năng suất thu hoạch bình quân cả vụ ước đạt 67,6 tạ/ha, tương ứng giảm 2,6 tạ/ha so cùng kỳ; Sản lượng thu hoạch ước cả vụ đạt 287.369 tấn, giảm 8,8% so cùng kỳ, tương ứng giảm 27.662 tấn. Nguyên nhân do diện tích gieo trồng và năng suất bình quân đều giảm.+ Vụ Hè thu (gồm vụ Xuân hè + Hè thu): trong tháng, gieo sạ được 29.778 ha lúa Hè Thu tính đến ngày 20/6, nâng tổng diện tích gieo sạ của vụ lên 56.357 ha. Diện tích chủ yếu tập trung tại các huyện như: Cai Lậy 11.051 ha, Tân Phước 10.215 ha, Gò Công Đông 8.869 ha, Cái Bè 8.592 ha, Gò Công Tây 7.800 ha,… mùa mưa năm nay bắt đầu từ trung tuần tháng 5, người dân được khuyến cáo thận trọng trong việc xuống giống, nhất là những khu vực chưa đảm bảo điều kiện sản xuất. Việc bố trí thời điểm gieo sạ phù hợp, đặc biệt ở các khu vực cuối nguồn hoặc vùng trũng thấp, sẽ góp phần giảm thiểu rủi ro, bảo vệ năng suất và hiệu quả sản xuất của cả vụ.Hình 2. Diện tích gieo trồng lúa và hoa màu tính đến 20/6/2025- Cây ngô: diện tích gieo trồng cộng dồn từ đầu vụ sản xuất là 1.591 ha, tăng 12,9%, tương ứng tăng 181 ha. Ước tính sản lượng thu hoạch ước đạt 4.284 tấn, tăng 4,6% so cùng kỳ, tương ứng tăng 190 tấn. Ngô là cây trồng ngắn ngày, kỹ thuật canh tác đơn giản, dễ chăm sóc và có thể trồng nhiều vụ trong năm. Bên cạnh giá trị kinh tế từ việc thu trái bán cho thương lái, cây ngô còn có lợi thế tận dụng tối đa phụ phẩm: thân, lá ngô sau thu hoạch là nguồn thức ăn giàu dinh dưỡng cho gia súc như trâu, bò…, góp phần giảm chi phí chăn nuôi và nâng cao hiệu quả kinh tế hộ gia đình.Cây rau đậu các loại: diện tích gieo trồng cộng dồn từ đầu vụ sản xuất là 40.178 ha, tăng 12,1% so cùng kỳ; trong đó: rau các loại 40.007 ha, tăng 12,2% so cùng kỳ. Sản lượng thu hoạch ước đạt 494.832 tấn, tăng 9,3% so cùng kỳ; trong đó: rau các loại ước đạt 494.446 tấn, tăng 9,3% so cùng kỳ. Diện tích rau màu trên địa bàn tỉnh tiếp tục tăng, chủ yếu do nông dân chuyển đổi từ những diện tích đất trồng cây kém hiệu quả, đặc biệt là các vùng không đủ điều kiện sản xuất lúa. Nhờ lợi thế đất đai màu mỡ và thời tiết thuận lợi, nông dân đã tích cực ứng dụng mô hình trồng xen canh, gối vụ nhằm tối ưu hóa hiệu quả sử dụng đất, tập trung vào các loại rau, củ, quả có giá trị kinh tế cao, dễ tiêu thụ như: rau muống, bầu, mướp, bí xanh, mướp đắng, dưa leo, cải các loại, hành lá, dưa hấu và một số loại rau ngắn ngày khác. Rau màu cơ bản phát triển tốt, ít sâu bệnh hơn cùng kỳ năm trước. Thời gian sinh trưởng ngắn (30–40 ngày), kết hợp với thị trường tiêu thụ thuận lợi, dù giá bán có giảm nhẹ so với cùng kỳ nhưng nông dân vẫn đảm bảo thu lãi từ 25–40 triệu đồng/ha tùy thời điểm, góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống. Tình hình sâu, bệnh gây hại trên rau màu được kiểm soát hiệu quả, diện tích bị ảnh hưởng không đáng kể, cây trồng sinh trưởng bình thường, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất rau màu phát triển ổn định.Cây lâu năm:Tổng diện tích gieo trồng cây lâu năm trên toàn tỉnh ước đạt 113.370 ha, đạt 101,3% kế hoạch năm, tăng 3,9% so với cùng kỳ năm trước (tương ứng tăng 4.263 ha). Trong đó, diện tích cây ăn quả chiếm tỷ trọng lớn với 88.475 ha, tương đương 78% tổng diện tích cây lâu năm, tăng 3,5% so cùng kỳ.Tổng sản lượng thu hoạch cây lâu năm toàn tỉnh ước đạt 1.194.678 tấn, đạt 54% kế hoạch năm, tăng 9% so với cùng kỳ (tăng 98.827 tấn). Trong đó, tổng sản lượng thu hoạch cây ăn quả ước đạt 990.444 tấn, tăng 7,7% so cùng kỳ, tương ứng tăng 70.542 tấn. Sự gia tăng sản lượng này phản ánh hiệu quả của việc mở rộng diện tích, cải thiện kỹ thuật canh tác, và đầu tư thâm canh ngày càng cao của người dân.*Chăn nuôi: ước thời điểm 30/6/2025 tổng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh như sau: đàn bò 120,5 ngàn con, tăng 0,4% so cùng kỳ; đàn lợn 340 ngàn con, tăng 17,2%; đàn gia cầm 16,9 triệu con, tăng 8,3%.Hình 3. Chăn nuôi tại thời điểm 30/6/2025*Tình hình dịch bệnh trên vật nuôi: theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Tiền Giang:Bệnh cúm gia cầm: trong tháng không phát sinh. Sáu tháng đầu năm 2025, phát hiện 3 hộ chăn nuôi tại 2 xã thuộc huyện Tân Phước và Gò Công Tây có gà nhiễm vi rút cúm A/H5N1 với tổng số 6.161 con mắc bệnh trên tổng đàn 7.200 con. Toàn bộ số gia cầm đã được tiêu hủy theo đúng quy định nhằm ngăn chặn nguy cơ lây lan.Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: trong tháng, phát hiện 5 hộ tại 5 xã thuộc 2 huyện với tổng số 211 con lợn mắc bệnh. Sáu tháng đầu năm 2025, toàn tỉnh có 331 con lợn bệnh/14 hộ tại 11 xã thuộc 6 địa phương gồm Gò Công Tây, Chợ Gạo, Tân Phước, Châu Thành, Cái Bè và TX. Cai Lậy; tổng số lợn bị tiêu hủy là 331 con, tương đương 11.433 kg.Bệnh viêm da nổi cục: trong tháng không phát sinh. Sáu tháng đầu năm 2025, có 2 hộ nuôi bò với tổng đàn 9 con (trong đó có 3 con mắc bệnh) tại 2 xã thuộc huyện Cái Bè và Chợ Gạo. Đã tiêu hủy 1 con bò bị bệnh (215 kg) tại huyện Cái Bè.Bệnh lở mồm long móng: trong tháng không phát sinh, toàn tỉnh có 01 con lợn bệnh tại cơ sở giết mổ ở xã Hậu Mỹ Bắc A, huyện Cái Bè. Đã tiêu hủy lợn bệnh với khối lượng 110 kg.b. Lâm nghiệp:Tổng diện tích đất có rừng trên địa bàn tỉnh là 1.549,6 ha (không bao gồm diện tích rừng thuộc đất an ninh quốc phòng), trong đó rừng phòng hộ 1.317,4 ha (huyện Gò Công Đông 379,6 ha; huyện Tân Phú Đông 884,2 ha và huyện Tân Phước 53,6 ha), rừng sản xuất 232,2 ha.Cây phân tán: ước 6 tháng đầu năm thực hiện trồng mới 104,4 ngàn cây, giảm 18,6% so cùng kỳ, tương ứng giảm 23,2 ngàn cây, được trồng cặp ranh, kênh, trồng trên những tuyến đường đi, đường giao thông mới mở, nâng cấp ở huyện Cai Lậy, Chợ Gạo và Gò Công Tây.Khai thác gỗ: sản lượng gỗ khai thác trong 6 tháng đầu năm ước đạt 17.484,7 m3, tăng 14,4% so cùng kỳ, tương ứng tăng 2.202,2 m3; sản lượng gỗ khai thác chủ yếu từ các loại cây như: bạch đàn cao sản, dầu gió, tràm lanh. Khai thác củi: sản lượng củi khai thác 6 tháng đầu năm 2025 ước đạt 29.692 ste củi các loại, giảm 54,6% so cùng kỳ; khai thác chủ yếu một số cây ăn quả đã già, cỗi không cho trái, cho trái ít.c. Thủy hải sản:Những năm gần đây, ngành thủy sản tỉnh Tiền Giang có bước phát triển mạnh mẽ, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm và nâng cao đời sống người dân, đặc biệt là khu vực ven biển. Diện tích nuôi trồng không ngừng mở rộng, sản lượng tăng cao. Trong đó, mô hình nuôi hàu tại vùng ven biển huyện Gò Công Đông tiếp tục được duy trì và mở rộng. Hiện có khoảng 597,8 ha mặt nước với 73 hộ tham gia nuôi. Sản lượng thu hoạch lũy kế ước đạt 170 tấn trên diện tích 34 ha, giá bán bình quân đạt 27.500 đồng/kg. Khi toàn bộ diện tích vào thời điểm thu hoạch, sản lượng dự kiến đạt từ 1.500–2.000 tấn/năm. Tuy nhiên, do chưa được cấp phép chính thức, công tác quản lý còn gặp nhiều khó khăn, nhất là việc tiếp cận thông tin và hộ nuôi. Địa phương đã triển khai Kế hoạch số 310/KH-UBND ngày 21/8/2024 về phát triển nuôi biển đến năm 2030 nhằm định hướng phát triển lâu dài, hiệu quả và đúng quy định.Sản lượng thủy sản trong quý II/2025 ước đạt 106.180 tấn, tăng 8,2% so cùng kỳ; trong đó: sản lượng thu hoạch từ nuôi 65.501 tấn, tăng 10,4%; sản lượng khai thác 40.679 tấn, tăng 4,8%. Tính chung sản lượng thủy sản 6 tháng đầu năm 2025 ước đạt 168.617 tấn, tăng 7,5% so cùng kỳ; trong đó: sản lượng thu hoạch từ nuôi 105.391 tấn, tăng 7,0%; sản lượng khai thác 63.226 tấn, tăng 8,3%. Kết quả khả quan này nhờ điều kiện thời tiết thuận lợi, ít ảnh hưởng bởi bão và áp thấp nhiệt đới, tạo điều kiện cho tàu cá hoạt động hiệu quả; các ngư trường dồi dào nguồn lợi, thủy sản nuôi sinh trưởng tốt, ít dịch bệnh, năng suất cao.d. Nông thôn mới:Trong 6 tháng đầu năm 2025, dự kiến có thêm 05 xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao và 05 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu; Ngày 13/6, UBND tỉnh Tiền Giang tổ chức lễ công bố Quyết định của Thủ tướng Chính phủ công nhận tỉnh Tiền Giang hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới năm 2024 (Theo Quyết định số 1038/QĐ-TTg ngày 30/5/2025). Toàn tỉnh có 135/135 xã (đạt 100%) số xã trên địa bàn tỉnh được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới; trong đó, có 73 xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao (đạt 54,1%); 19 xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu (đạt 14,1%); 03/03 đô thị hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới; 08/08 huyện đạt chuẩn huyện nông thôn mới và 02/08 huyện đạt chuẩn huyện nông thôn mới nâng cao. Tất cả các xã, huyện, thị, thành đã được công nhận đều đảm bảo đạt chuẩn theo Bộ Tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới các cấp giai đoạn 2021 – 2025.7. Sản xuất công nghiệp:Chỉ số công nghiệp 6 tháng đầu năm 2025 tăng 16,13% so cùng kỳ; trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 17,29%; ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 2,61%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 14,22% so cùng kỳ.Hình 4. Chỉ số sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm 2025Sản phẩm sản xuất công nghiệp 6 tháng năm 2025: Có 38/54 sản phẩm tăng so cùng kỳ: ống và ống dẫn bằng đồng tăng 18,7%; giày, dép thể thao có mũ bằng da và có đế ngoài tăng 18,4%; dây thép không gỉ tăng 17,5%; nước uống được tăng 15,5%; giày, dép thể thao có đế ngoài và mũ giày bằng cao su và plastic tăng 10,9%; các sản phẩm bằng vật liệu tết bện khác tăng 9,7%; bia đóng lon tăng 9%; dịch vụ sửa chữa, bảo dưỡng tàu, thuyền tăng 8,7%; cấu kiện làm sẵn cho xây dựng hoặc kỹ thuật dân dụng, bằng xi măng, bê tông hoặc đá nhân tạo tăng 8,6%; điện thương phẩm tăng 5,4%;… Có 16/54 sản phẩm giảm so cùng kỳ: các hàng dệt may đã hoàn thiện khác giảm 96,5%; máy gặt đập liên hợp giảm 83,3%; thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng viên giảm 62,9%; màn bằng vải khác giảm 53,5%; dịch vụ tiện các bộ phận kim loại giảm 14,4%; điện gió giảm 14,1%; thức ăn cho thủy sản giảm 10,6%; bia đóng chai giảm 8,6%; phi lê đông lạnh giảm 6%; thức ăn cho gia súc tăng 5,8%; cửa ra vào, cửa sổ bằng sắt, thép giảm 2,3%; bộ com lê, quần áo đồng bộ, áo jacket, quần dài, quần yếm, quần soóc cho người lớn dệt kim hoặc đan móc giảm 0,7%;…* Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo:- Chỉ số tiêu thụ tháng 6/2025 so với tháng trước tăng 2,33% và tăng 15,99% so cùng kỳ. Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cộng dồn từ đầu năm đến cuối tháng 6 năm 2025 tăng 19,65%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao: sản xuất đồ uống tăng 2,54%, trong đó sản xuất bia tăng 2,54%; dệt tăng 11,7%; sản xuất trang phục tăng 28,77%; sản xuất da tăng 12,95%, trong đó sản xuất vali, túi xách… tăng 22,57%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ tăng 11,07%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 40,52%; sản xuất kim loại tăng 47,26%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 4,03%; sản xuất thiết bị điện tăng 15,6%, trong đó sản xuất dây cáp, dây điện và điện tử khác tăng 13,48%;… Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm so cùng kỳ là: sản xuất chế biến thực phẩm giảm 10,59%, trong đó sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thuỷ sản giảm 14,6%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu giảm 54,27%; sản xuất sản phẩm cao su và plastic giảm 4,04%;…- Chỉ số tồn kho tháng 6/2025 so với tháng trước tăng 26,89% và giảm 8,56% so với cùng kỳ. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so với cùng kỳ là: sản xuất trang phục tăng 3,56%; sản xuất da tăng 45,33%, trong đó sản xuất giày dép tăng 39%; sản xuất kim loại tăng 15,14%; sản xuất thiết bị điện tăng 58,68%, trong đó sản xuất mô tơ điện tăng 58,77%;…. Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tồn kho giảm so cùng kỳ là: sản xuất chế biến thực phẩm giảm 28,51%, trong đó chế biến, bảo quản thuỷ sản và các sản phẩm từ thuỷ sản giảm 49,69%; dệt giảm 39,36%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu giảm 58,31%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 0,31%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẳn giảm 58,98%;…8. Thương mại, dịch vụ:a. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng:Hoạt động thương mại trên địa bàn tỉnh diễn ra ổn định, lượng hàng hóa cung ứng cho thị trường dồi dào, các đơn vị phân phối lớn đã chủ động dự trữ hàng hóa thiết yếu và hàng hóa khác phục vụ nhu cầu mua sắm của người dân trong dịp lễ, Tết. Giá cả thị trường được kiểm soát, mặc dù một vài mặt hàng có tăng hoặc giảm giá nhưng ở mức biến độ không lớn.Sáu tháng đầu năm 2025, tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng 47.422 tỷ đồng, đạt 49,1% kế hoạch, tăng 10,5% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 36.312 tỷ đồng, tăng 8,8%; lưu trú, ăn uống 4.769 tỷ đồng, tăng 19,4%; du lịch lữ hành 122 tỷ đồng, tăng 16,8%; dịch vụ tiêu dùng 6.219 tỷ đồng, tăng 14,3% so cùng kỳ.Hình 5. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùngb. Xuất - Nhập khẩu: (Theo báo cáo Sở Công Thương)Tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gây gắt hơn; xung đột Nga - Ucraina tiếp tục kéo dài, đặc biệt là xung đột tại Biển Đỏ, dải Gaza leo thang gia tăng rủi ro với an toàn hàng hải. Các hãng vận tải biển tăng giá cước vận tải nhằm đắp chi phí gia tăng do chuyển hướng tàu khỏi Biển Đỏ đã ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng hàng hóa xuất khẩu của doanh nghiệp. Do đó xuất khẩu đối mặt với các thách thức, nhưng nhờ các biện pháp tích cực và đồng bộ nhằm tháo gỡ khó khăn để hỗ trợ sản xuất trong nước, xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường trong nước và xuất khẩu được triển khai mạnh mẽ nên hoạt động xuất, nhập khẩu trên địa bàn tỉnh đạt được kết quả như sau:* Xuất khẩu:Giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng hóa có nhiều khởi sắc và đạt được nhiều kết quả tích cực. Hoạt động xuất khẩu của tỉnh trong quý I/2025 đạt 1,42 tỷ USD, tăng 3% so với cùng kỳ, Đầu quý II/2025, tình hình xuất khẩu gặp nhiều khó khăn khi Hoa Kỳ công bố áp thuế đối ứng với hàng hóa Việt Nam ở mức 46%. Tuy nhiên, hiện Hoa Kỳ hoãn áp dụng thuế đối ứng trong vòng 90 ngày đối với nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, cho nên tình hình xuất khẩu có nhiều khả quan hơn, do doanh nghiệp tranh thủ xuất trong thời gian này, dự tính quý II/2025 xuất đạt 1,9 tỷ USD tăng 14,9% so cùng kỳ. Hoạt động xuất khẩu trong 6 tháng đầu năm 2025 ước đạt 3,4 triệu USD, đạt 47,9% kế hoạch, tăng 9,5% so cùng kỳ, tăng chủ yếu các nhóm hàng công nghiệp chế biến chế tạo như: giày dép các loại; túi xách, ví, vali, mũ và ô dù; sản phẩm từ chất dẻo; xơ sợi dệt các loại,...; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 84,2%, tổng kim ngạch xuất khẩu.* Nhập khẩu:Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa 6 tháng đầu năm 2025 ước đạt 1,8 tỷ USD, đạt 50% kế hoạch, tăng 6,4% so cùng kỳ; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 93,8%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước chiếm 6,2%, trong tổng kim ngạch nhập khẩu.Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu như: kim loại thường khác (kể cả nguyên liệu đồng) chiếm 50,96%; sắt thép các loại chiếm 14,47%; vải nguyên liệu chiếm 7,06%; nguyên phụ liệu dệt may, da giày, túi chiếm 7,45%; còn lại nguyên vật liệu (thức ăn gia súc, nguyên liệu dược phẩm, hạt nhựa…).c. Vận tải:Tiếp tục duy trì hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về vận tải trên địa bàn tỉnh. Thường xuyên tổ chức kiểm tra, giám sát các bến xe, các doanh nghiệp kinh doanh vận tải trong việc chấp hành các quy định của pháp luật về điều kiện kinh doanh vận tải và dịch vụ vận tải. Tình hình hoạt động các tuyến xe cố định trên địa bàn tỉnh tiếp tục được duy trì thông thoáng, đặc biệt các chủ cơ sở kinh doanh vận tải tự giác chấp hành tốt nội qui bến bãi, đã tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân đi lại và vận chuyển hàng hoá đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh, đồng thời góp phần hạn chế chống ùn tắc giao thông trong dịp lễ tết.Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải 6 tháng đầu năm 2025 thực hiện 1.689 tỷ đồng, tăng 14,3% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 382 tỷ đồng, tăng 15,3 % so cùng kỳ; vận tải hàng hóa thực hiện 1.020 tỷ đồng, tăng 15,4% so cùng kỳ. Vận tải đường bộ thực hiện 605 tỷ đồng, tăng 14,8%; vận tải đường thủy thực hiện 798 tỷ đồng, tăng 15,9%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 135 tỷ đồng, tăng 10% so cùng kỳ.Vận chuyển hành khách 6 tháng đầu năm 2025 đạt 11.141 ngàn hành khách, tăng 15,5% và luân chuyển 529.926 ngàn hành khách.km, tăng 15,1% so cùng kỳ; trong đó: vận chuyển đường bộ 5.612 ngàn hành khách, tăng 14,9% và luân chuyển 524.799 ngàn hành khách.km, tăng 15,1% so cùng kỳ; vận chuyển đường thủy 5.529 ngàn hành khách, tăng16,1% và luân chuyển 5.127 ngàn hành khách.km, tăng 15,7% so cùng kỳ.Vận tải hàng hóa 6 tháng đầu năm 2025 đạt 9.706 ngàn tấn, tăng 16,7% và luân chuyển 1.821.959 ngàn tấn.km, tăng 16,6% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ thực hiện 1.469 ngàn tấn, tăng 14,6% và luân chuyển được 162.681 ngàn tấn.km, tăng 11,8% so cùng kỳ; vận tải đường thủy thực hiện 8.237 ngàn tấn, tăng 17,1% và luân chuyển 1.659.278 ngàn tấn.km, tăng 17,1% so cùng kỳ.d. Du lịch:Trong những tháng đầu năm là thời điểm Tết Nguyên đán và nhiều ngày lễ như: Giỗ Tổ mùng 10/3, dịp Lễ kỷ niệm chiến thắng giải phóng miền Nam 30/4 và ngày Quốc tế lao động 1/5… nhiều hoạt động được tổ chức để phục vụ nhân dân trong các dịp lễ, tết và các sự kiện trọng đại của đất nước, địa phương, bên cạnh đó năm nay số ngày nghĩ dài nên hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Tiền Giang tăng so với cùng kỳ.Ước tính 6 tháng đầu năm 2025, ước lượng khách du lịch đến tỉnh 851 ngàn lượt, đạt 40,5% kế hoạch, tăng 5,3% so cùng kỳ; trong đó khách quốc tế 275 ngàn lượt, tăng 4,3%. Doanh thu hoạt động lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành 4.891tỷ đồng, tăng 19,3% so cùng kỳ; trong đó doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống chiếm 97,5%.e. Bưu chính viễn thông:Doanh thu bưu chính, viễn thông 6 tháng đầu năm 2025, đạt 1.807 tỷ đồng, tăng 7,5% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính 151 tỷ đồng, tăng 8,1%; doanh thu viễn thông 1.655 tỷ đồng, tăng 7,5%; Các doanh nghiệp bưu chính, viễn thông trên địa bàn tỉnh tiếp tục phát triển, không ngừng đầu tư nâng cấp phát triển mạng lưới, cung cấp nhiều loại hình dịch vụ phong phú, đa dạng … nhằm thu hút khách hàng tham gia sử dụng.Tổng số thuê bao điện thoại có trên mạng đến cuối tháng 6 năm 2025 là 130.256 thuê bao; thuê bao điện thoại bình quân đạt 7,25 thuê bao/100 dân (chỉ tính thuê bao cố định và di động trả sau). Tổng số thuê bao Internet trên mạng ước tính đến tháng 6 năm 2025 là 445.438 thuê bao; mật độ Internet bình quân ước đạt 24,8 thuê bao/100 dân.II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI1. Lao động, giải quyết việc làm:Tư vấn và giới thiệu việc làm:Tư vấn, giới thiệu việc làm 6 tháng đầu năm 2025: thực hiện tư vấn nghề, việc làm, pháp luật lao động và tư vấn khác cho 9.476 lượt lao động, giảm 16,3% so với cùng kỳ. Giới thiệu việc làm cho 1.762 lượt lao động, tăng 24,4% so với cùng kỳ, trong đó có 616 lao động có việc làm ổn định.Trong 6 tháng, tư vấn đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài cho 511 lượt lao động, tăng 7,4% so với cùng kỳ (có 02 lao động đăng ký tham gia đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài); có 232 lao động xuất cảnh đi làm việc ở nước ngoài, giảm 6,4% so cùng kỳ, đạt 42,2% kế hoạch năm. Trong đó: thị trường Nhật Bản chiếm đa số 181 lao động, tiếp đến là Đài Loan 33 lao động, Hàn Quốc 08 lao động và các thị trường khác.Đối với trợ cấp thất nghiệp, 6 tháng đầu năm có 7.585 hồ sơ lao động đăng ký hưởng trợ cấp, giảm 26,9% so với cùng kỳ; trong đó có 6.512 lao động đã được giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp, giảm 23% so cùng kỳ với tổng số tiền chi trả trên 146 tỷ đồng, giảm 29% so với cùng kỳ.Tính từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 01 vụ ngừng việc tập thể tại 01 doanh nghiệp (giảm 50% so với cùng kỳ) với 240 lao động. Được sự hướng dẫn của các sở, ngành, địa phương, doanh nghiệp đã tổ chức cuộc đối thoại với người lao động nên các vụ ngừng việc đã được giải quyết ổn thỏa và tình hình sản xuất đã hoạt động bình thường.Tình hình lao động thiếu việc làm và thất nghiệp:Tính chung 6 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ thiếu việc làm toàn tỉnh là 5,07%, giảm 2,12 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước (7,19%). Trong đó, khu vực thành thị là 6,38% (giảm 2,64 điểm phần trăm) và khu vực nông thôn là 4,42% (giảm 1,94 điểm phần trăm). Tỷ lệ thất nghiệp của tỉnh 6 tháng đầu năm là 1,05%, giảm 0,31 điểm phần trăm so với cùng kỳ (1,36%); riêng khu vực thành thị là 1,90% (giảm 0,64 điểm phần trăm) và khu vực nông thôn là 0,62% (giảm 0,19 điểm phần trăm). Tỷ trọng lao động thất nghiệp ở khu vực thành thị chiếm 41,77% trong tổng số người thất nghiệp toàn tỉnh.2. Đời sống dân cư và an sinh xã hội:a. Đời sống dân cư:Trong 6 tháng đầu năm 2025, tình hình xâm nhập mặn mùa khô tuy vẫn xuất hiện nhưng mức độ xâm nhập mặn thấp hơn năm 2016 và năm 2024, nhờ vào sự chủ động, quyết liệt của tỉnh trong công tác phòng, chống hạn mặn từ sớm, từ xa, các giải pháp như điều tiết nước hợp lý, đóng mở cống linh hoạt, trữ ngọt trong nội đồng và vận hành hệ thống thủy lợi đã phát huy hiệu quả, góp phần bảo vệ sản xuất nông nghiệp, duy trì ổn định đời sống người dân. Giá cả các mặt hàng thiết yếu cơ bản ổn định, đảm bảo nhu cầu tiêu dùng của người dân, các chương trình bình ổn thị trường, hỗ trợ tiêu dùng, nhất là dịp Tết Nguyên đán, đã phát huy hiệu quả, góp phần giữ ổn định mức sống người dân, nhất là nhóm hộ thu nhập trung bình và thấp. Chất lượng dịch vụ y tế và giáo dục tiếp tục được nâng cao. Các cơ sở y tế chú trọng nâng cao năng lực khám – chữa bệnh, cải thiện điều kiện cơ sở vật chất, triển khai các biện pháp phòng ngừa dịch bệnh theo mùa. Công tác tuyên truyền phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm như sốt xuất huyết, tay chân miệng được đẩy mạnh, đặc biệt trong mùa cao điểm, tạo sự an tâm cho người dân trong sinh hoạt, học tập và sản xuất.Bên cạnh đó, tình hình đời sống người lao động tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Tiền Giang tiếp tục có nhiều chuyển biến tích cực, phản ánh qua mức thu nhập tăng, thưởng Tết cải thiện và nhu cầu lao động tăng cao. Cụ thể, theo báo cáo từ 113 doanh nghiệp đang hoạt động với tổng số 104.641 lao động, trong đó lao động tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) chiếm tỷ lệ 84,67% (tương ứng 88.609 người), mức lương thực nhận bình quân của người lao động trong năm 2024 đạt 9,026 triệu đồng/người/tháng, bao gồm lương, phụ cấp và các khoản bổ sung khác theo quy định. So với năm 2023, mức lương bình quân đã tăng 5,06%, cho thấy xu hướng cải thiện thu nhập ổn định. Trong đó, mức lương cơ bản (chưa bao gồm phụ cấp, thưởng…) đạt 6,847 triệu đồng/người/tháng, tăng 6,26% so với năm trước.Mức thưởng Tết cũng ghi nhận nhiều điểm sáng:+ Thưởng Tết Dương lịch năm 2025 (thống kê từ 48 doanh nghiệp, 22.401 lao động) đạt bình quân 1,818 triệu đồng/người.+ Thưởng Tết Nguyên đán Ất Tỵ (thống kê từ 105 doanh nghiệp, 102.696 lao động) đạt bình quân 8,160 triệu đồng/người, tương đương 1 tháng thu nhập, tăng 9,15% so với Tết Giáp Thìn năm trước. Điều này thể hiện nỗ lực của doanh nghiệp trong việc chăm lo đời sống tinh thần cho người lao động, dù vẫn còn không ít khó khăn trong sản xuất, kinh doanh.Tính đến ngày 10/6/2025, lực lượng lao động tại các khu công nghiệp (KCN) trong tỉnh đạt 91.555 người (trong đó 1.299 lao động người nước ngoài), tăng thêm 4.813 lao động so với cùng kỳ năm trước. Phân bố cụ thể như: KCN Mỹ Tho: 5.447 lao động (23 người nước ngoài); KCN Tân Hương: 54.724 lao động (383 người nước ngoài); KCN Long Giang: 31.147 lao động (893 người nước ngoài); KCN Dầu khí Soài Rạp: 237 lao động.Hiện nay, nhiều doanh nghiệp đang tăng tốc sản xuất để đáp ứng đơn hàng xuất khẩu, kéo theo nhu cầu tuyển dụng lao động lớn trong 6 tháng cuối năm 2025. Ước tính có khoảng 4.831 vị trí cần tuyển, tập trung ở các ngành như may mặc, giày da, điện tử, cơ khí, sản xuất lốp xe… Các doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng lớn gồm: Công ty TNHH Giày Apache Việt Nam, Công ty TNHH Lốp Advance Việt Nam, Công ty TNHH Túi xách Simone Việt Nam TG, Công ty TNHH Hansae TG,...b. An sinh xã hội:Chính sách an sinh xã hội tiếp tục được thực hiện tốt, tạo điều kiện cho xã hội được phát triển bền vững trong 6 tháng đầu năm 2025. Đặc biệt, dịp Tết Nguyên đán Ất Tỵ, tỉnh đã triển khai đồng loạt các hoạt động chăm lo đời sống người có công, hộ nghèo, người cao tuổi, gia đình chính sách với quy mô rộng khắp:Tổ chức tặng quà Tết Nguyên đán Ất Tỵ năm 2025: - Thăm, tặng quà, trợ cấp người có công với cách mạng: trợ cấp của tỉnh cho 70.973 người có công với tổng số tiền trên 28,1 tỷ đồng (kinh phí địa phương) và tặng quà của Chủ tịch nước cho 37.299 người có công với tổng số tiền 11,3 tỷ đồng (kinh phí Trung ương). - Thăm, tặng quà, trợ cấp người cao tuổi, hộ nghèo và thăm các đơn vị tập trung (kinh phí địa phương):+ Tặng quà người cao tuổi: 172 người (100 tuổi) với số tiền 357,8 triệu đồng; 1.591 người (90 tuổi) với số tiền 1,9 tỷ đồng.+ Trợ cấp hộ nghèo cho 4.035 hộ nghèo với tổng số tiền 2 tỷ đồng.+ Thăm hộ gia đình chính sách và đơn vị với tổng số tiền 811,8 triệu đồng.+ Riêng 19 suất quà cho gia đình quân nhân đang làm nhiệm vụ tại Trường Sa, mức 2 triệu đồng/hộ, kèm túi quà 1triệu đồng/phần.+ Tổ chức bữa ăn cho trại viên, học viên các đơn vị (Cơ sở Cai nghiện ma túy, Trung tâm Công tác Xã hội, Hội Người mù) cho 2.030 người với tổng số tiền 246 triệu đồng.Bên cạnh đó, tỉnh đã triển khai hỗ trợ xây mới, sửa chữa nhà tạm, nhà dột nát cho 608 hộ gia đình đủ điều kiện (trong đó: xây mới 370 căn, sửa chữa 238 căn), hoàn thành trong tháng 6; bao gồm: 136 căn cho hộ gia đình người có công, thân nhân liệt sĩ; 472 căn cho hộ gia đình nghèo, cận nghèo, góp phần ổn định chỗ ở, nâng cao chất lượng sống cho người dân.3. Hoạt động giáo dục:Trong 6 tháng đầu năm 2025, công tác giáo dục và đào tạo trên địa bàn tỉnh tiếp tục được triển khai nghiêm túc, hiệu quả, bám sát kế hoạch năm học và các mục tiêu phát triển toàn diện học sinh. Ngay sau khi tổ chức thành công Kỳ thi tuyển sinh lớp 10 vào các ngày 04, 05 và 06/6/2025, các trường trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh đã nhanh chóng chuyển trọng tâm sang công tác chuẩn bị cho Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2025, diễn ra từ ngày 25 đến 28/6/2025. Bên cạnh việc chuẩn bị đầy đủ cơ sở vật chất, các trường đặc biệt chú trọng công tác ôn tập, hỗ trợ học sinh lớp 12, nhất là những em có học lực yếu, nhằm nâng cao chất lượng tốt nghiệp và tạo đà thuận lợi cho học sinh bước vào giai đoạn tiếp theo.Trong kỳ thi tuyển sinh lớp 10 năm học 2025–2026, toàn tỉnh có hơn 15.000 thí sinh tham gia tại 33 Hội đồng thi. Kết quả bước đầu cho thấy chất lượng bài thi tương đối cao, phản ánh tốt năng lực học sinh theo định hướng Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Trong đó, Môn Ngữ văn: 12.969 thí sinh đạt điểm trên trung bình (chiếm 86,06%), có 01 điểm 10. Môn Tiếng Anh: 9.588 thí sinh trên trung bình (chiếm 63,64%), có 221 điểm 10. Môn Toán: 10.530 thí sinh trên trung bình (chiếm 69,89%), có 224 điểm 10.Tại Kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia trung học phổ thông năm học 2024 - 2025, Tiền Giang có 44/90 thí sinh đạt giải trên tất cả 9/9 dự môn thi, trong đó: giải Nhì 06 thí sinh (tăng 02 giải so với năm học 2023-2024), giải Ba 13 thí sinh (tăng 01 giải), giải Khuyến khích 25 thí sinh (giảm 05 giải). Với kết quả này, tỉnh xếp thứ 3/13 tỉnh, thành phố khu vực Đồng bằng sông Cửu Long về số lượng giải đạt được, cho thấy sự ổn định về chất lượng đào tạo trong khu vực.Tổ chức kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh THPT năm học 2024 – 2025 khóa ngày 11/02/2025 với 1.727 thí sinh dự thi của 37 đơn vị dự thi. Kết quả có 607 thí sinh đạt giải, tỷ lệ 35,15%. Trong đó, đạt giải Nhất: 23 thí sinh (tỷ lệ 1,33%); giải Nhì: 146 thí sinh (tỷ lệ 8,45%); giải Ba: 185 thí sinh (tỷ lệ 10,71%); Khuyến khích: 253 thí sinh (tỷ lệ 14,65%). Các trường có nhiều học sinh đạt giải gồm: THPT Chuyên 133 giải, THPT Nguyễn Đình Chiểu 56 giải, THPT Chợ Gạo 51 giải, THPT Cái Bè 40 giải.Bên cạnh các kỳ thi học thuật, Cuộc thi Khoa học kỹ thuật cấp tỉnh dành cho học sinh trung học năm học 2024 – 2025 được tổ chức từ ngày 03 đến 15/01/2025, thu hút 86 dự án dự thi. Ban tổ chức đã trao 42 giải, gồm: 04 giải nhất; 08 giải nhì; 12 giải ba và 18 giải khuyến khích. Đồng thời, tuyển chọn 03 dự án tiêu biểu tham gia Cuộc thi Khoa học kỹ thuật cấp quốc gia, tổ chức tại TP. Hồ Chí Minh từ ngày 19 đến 21/3/2025.4. Hoạt động y tế:Hoạt động chăm sóc sức khỏe nhân dân trên địa bàn tỉnh trong 6 tháng đầu năm 2025 tiếp tục được duy trì ổn định. Mạng lưới y tế cơ sở được đầu tư mở rộng, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận dịch vụ y tế chất lượng. Hệ thống trang thiết bị, máy móc y tế cơ bản đáp ứng yêu cầu khám, chữa bệnh và được khai thác hiệu quả. Công tác giám sát, phát hiện và xử lý dịch bệnh được triển khai chủ động, kịp thời, góp phần khống chế không để dịch lây lan trong cộng đồng. Hoạt động truyền thông, tuyên truyền phòng, chống dịch tiếp tục được đẩy mạnh. Đến nay, tình hình dịch bệnh được kiểm soát tốt; các biện pháp ứng phó với dịch sốt xuất huyết được triển khai quyết liệt trong bối cảnh dịch có xu hướng gia tăng.Sáu tháng đầu năm 2025, có 11/44 bệnh truyền nhiễm được ghi nhận. So với cùng kỳ có 06 bệnh tăng (Sởi, Sốt xuất huyết Dengue, Thương hàn, Thủy đậu, Tiêu chảy, Viêm gan vi rút C); 08 bệnh giảm (Bệnh do liên cầu lợn ở người, Ho gà, Lao phổi, Quai bị, Tay - chân - miệng, Uốn ván khác, Viêm gan vi rút B, Bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona); 30 bệnh tương đương hoặc không xảy ra ca mắc.Các bệnh truyền nhiễm trong 6 tháng đầu năm như: bệnh sốt xuất huyết 859 ca mắc, tăng 11,4%; bệnh tay - chân - miệng 1.097 ca, giảm 26,2%.Phòng chống HIV/AIDS trên địa bàn tỉnh tính đến nay là 7.214 người nhiễm HIV; 1.819 người chuyển sang AIDS; 1.387 người tử vong do AIDS. Khám chữa bệnh trong 6 tháng đầu năm 2025 cho 2.231.877 lượt người, giảm 3,9% so cùng kỳ; trong đó, số người điều trị nội trú là 110.978 lượt người, giảm 0,6%. Công suất sử dụng giường bệnh bình quân trong tháng đạt 89,1%.5. Hoạt động văn hóa - thể thao:Trong 6 tháng đầu năm 2025, các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao được tổ chức phong phú, thiết thực, góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho người dân, nhất là vào các dịp lễ, tết. Toàn tỉnh có 462.854/486.976 hộ đạt danh hiệu Gia đình văn hóa (95,04%); 1.004/1.005 ấp, khu phố đạt danh hiệu văn hóa (99,9%); 08/164 xã, phường, thị trấn được công nhận “xã, phường, thị trấn tiêu biểu” (4,88%) và 20/29 phường, thị trấn đạt chuẩn đô thị văn minh (68,97%). Về xây dựng nếp sống văn hóa nơi công cộng, toàn tỉnh có 71 chợ văn hóa, 18 công viên văn hóa, 967 con đường văn hóa và 575 cơ sở thờ tự văn hóa.a. Hoạt động văn hóa nghệ thuật: trong 6 tháng đầu năm, hoạt động văn hóa nghệ thuật diễn ra rộng khắp, sôi nổi với 40 buổi biểu diễn nghệ thuật, thu hút khoảng 57.550 lượt người xem; 4 buổi tuyên truyền lưu động (1.050 lượt người xem) và 37 buổi chiếu phim lưu động (4.550 lượt người xem). Hoạt động tuyên truyền cổ động trực quan được tăng cường với 790 cờ phướn, 15 pano, 45 ụ cờ và 6 lượt xe loa cổ động. Đặc biệt, chương trình nhạc nước tại Quảng trường Hùng Vương tổ chức 79 suất, phục vụ khoảng 88.910 lượt người. Trong dịp Tết Nguyên đán Ất Tỵ, Tiền Giang có 8 địa phương trong tỉnh đăng ký tổ chức bắn pháo hoa đêm giao thừa Tết Nguyên đán Ất Tỵ năm 2025, gồm có: thành phố Mỹ Tho, thành phố Gò Công, Thị xã Cai Lậy, huyện Cái Bè, huyện Chợ Gạo, huyện Gò Công Tây, huyện Gò Công Đông và huyện Tân Phú Đông.b. Hoạt động thư viện: trong 6 tháng đầu năm, hoạt động thư viện tiếp tục được duy trì hiệu quả. Hội Báo Xuân Ất Tỵ được tổ chức tại Thư viện tỉnh và các trại giam Phước Hòa, Mỹ Phước. Nhiều hoạt động trưng bày sách theo chủ đề gắn với các ngày lễ lớn được triển khai. Mô hình “Cà phê sách” trong khuôn viên Thư viện thu hút 2.425 lượt bạn đọc. Tổng lượt bạn đọc tại Thư viện tỉnh trong 6 tháng đầu năm đạt 282.978 lượt, tăng 64% so với cùng kỳ; với 372.084 lượt sách báo lưu hành.c. Hoạt động bảo tàng: trong 6 tháng đầu năm, hoạt động bảo tàng tiếp tục có nhiều đổi mới về nội dung trưng bày, với 13 chuyên đề mới, như: Đảng Cộng sản Việt Nam - Những mùa xuân lịch sử, Tiền Giang - Nơi cuối nguồn Mekong, Kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước… Tổng lượt khách tham quan tại Bảo tàng và các di tích trực thuộc trong 6 tháng đạt 270.947 lượt người.d. Hoạt động thể dục, thể thao: trong 6 tháng đầu năm, đạt được nhiều kết quả nổi bật. Tỉnh đăng cai tổ chức 2 giải thể thao cấp tỉnh và quốc gia; tham gia 26 giải đấu cấp quốc tế, quốc gia và khu vực, giành tổng cộng 74 huy chương (14 Vàng, 23 Bạc, 37 Đồng). Đáng chú ý, vận động viên Trần Dương Thiện Huy phá kỷ lục quốc gia lứa tuổi 14–15 ở nội dung 200m và 400m chân vịt đôi. Có 61 vận động viên được phong đẳng cấp, trong đó 27 vận động viên Kiện tướng, 34 Cấp 1 và 24 Cấp 2 quốc gia.6. Tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội (theo báo cáo của ngành Công an):Tình hình an ninh trật tự trên địa bàn tỉnh trong 6 tháng đầu năm 2025 được đảm bảo nhất là trong dịp Tết Nguyên đán 2025, Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương, Lễ 30/4 và 01/5 năm 2025. Tội phạm về trật tự xã hội xảy ra 320 vụ, giảm 129 vụ so với cùng kỳ. Hậu quả làm chết 13 người, bị thương 74 người, tài sản thiệt hại khoảng 451,7 tỷ đồng. Cơ quan chức năng đã điều tra, khám phá 240 vụ (đạt 75%), bắt xử lý 508 đối tượng, đồng thời thu hồi tài sản trị giá khoảng 1,4 tỷ đồng.Về tội phạm ma túy, lực lượng chức năng đã phát hiện và xử lý 55 vụ (giảm 39 vụ so cùng kỳ) với 74 đối tượng (giảm 48 đối tượng) tàng trữ, vận chuyển, mua bán, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Ngoài ra, 776 đối tượng có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy cũng đã bị xử lý hành chính.7. Trật tự an toàn giao thông (theo báo cáo ngành công an tỉnh, số liệu tính từ ngày 15/12/2024 đến 14/6/2025):Giao thông đường bộ: tai nạn giao thông trong tháng xảy ra 27 vụ tương đương so với tháng trước và tăng 05 vụ so cùng kỳ. Hậu quả làm chết 21 người (tương đương so với tháng trước và tăng 05 người so cùng kỳ) và bị thương 15 người (tăng 09 người so tháng trước và tăng 07 người so cùng kỳ). Cộng dồn đến tháng báo cáo, xảy ra 147 vụ (giảm 06 vụ so cùng kỳ); làm 112 người chết (tăng 05 người so cùng kỳ) và bị thương 60 người (giảm 17 người so cùng kỳ). Các nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông chủ yếu vẫn do ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông như: chuyển hướng không đúng quy định 5 vụ; đi không đúng phần đường, làn đường 4 vụ; đang điều tra 3 vụ; lỗi do người đi bộ 01 vụ; vượt không đảm bảo an toàn 01 vụ và nguyên khác 13 vụ.8. Tình hình cháy nổ, môi trường và thiên tai:Cháy, nổ: trong 6 tháng đầu năm 2025, tình hình cháy, nổ trên địa bàn tỉnh được kiểm soát tốt hơn so với cùng kỳ. Toàn tỉnh ghi nhận 09 vụ cháy, giảm 03 vụ so với cùng kỳ. Tuy nhiên, số vụ cháy tuy giảm nhưng thiệt hại về người tăng, với 04 người tử vong (tăng 04 người). Tổng thiệt hại về tài sản ước tính trên 270 tỷ đồng.Lĩnh vực môi trường: trong tháng, cơ quan chức năng đã phát hiện và xử lý 10 vụ vi phạm môi trường, xử phạt với tổng số tiền trên 38,3 triệu đồng. Tính từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh ghi nhận 35 vụ vi phạm, giảm 27 vụ so với cùng kỳ, với tổng số tiền xử phạt trên 465 triệu đồng.Tình hình thiên tai: 6 tháng đầu năm 2025, trên địa bàn tỉnh xảy ra 02 cơn mưa giông, 02 cơn lốc xoáy; làm tốc mái 24 căn nhà (tăng 05 căn, tương đương tăng 29,4% so cùng kỳ), ngã đổ 26 cây ăn trái (giảm 235 cây, tương đương giảm 90,0%), khoảng 3,04 tấn trái cây bị rụng hư (giảm 139,2 tấn, tương đương giảm 97,9%). Tổng giá trị thiệt hại ước tính khoảng 282,1 triệu đồng so với cùng kỳ (giảm 62.967,9 triệu đồng, tương đương giảm 99,6%). Mức giảm sâu này phản ánh rõ rệt sự hiệu quả của công tác dự báo, phòng ngừa và ứng phó thiên tai, đồng thời cho thấy 6 tháng đầu năm nay thiên tai ít gay gắt hơn về quy mô và mức độ ảnh hưởng.

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Tiền Giang Tháng 5 và 5 tháng năm 2025
  •   02/06/2025 16:11

Tình hình kinh tế - xã hội trong tháng tiếp tục phát triển, các hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh có nhiều khởi sắc, hầu hết các ngành, lĩnh vực đều tăng so cùng kỳ. Kết quả thực hiện trên các lĩnh vực đạt được như sau:I. SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP VÀ THỦY SẢN1. Nông nghiệpTrong tháng, mưa nhiều, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất nông nghiệp. Các địa phương tập trung gieo trồng lúa Hè thu và hoa màu; nhờ thời tiết ổn định, cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt, sâu bệnh xuất hiện rải rác, không đáng kể. Ngành chăn nuôi tiếp tục phát triển ổn định, dịch bệnh được kiểm soát hiệu quả, giá đầu ra duy trì ở mức cao, góp phần nâng cao thu nhập và tạo sự yên tâm cho người dân trong việc mở rộng tổng đàn. Lĩnh vực nuôi trồng thủy sản cũng đạt kết quả tích cực nhờ áp dụng các mô hình thâm canh hiệu quả, mang lại giá trị kinh tế cao.Tình hình xâm nhập mặn đang có xu hướng giảm; dự báo đến ngày 20/5, ranh mặn 1,0 g/l xâm nhập đến xã Bình Ninh (huyện Chợ Gạo), sau đó sẽ tiếp tục rút dần và kết thúc mùa mặn vào cuối tháng.* Trồng trọt:Cây lương thực có hạt:diện tích gieo trồng cộng dồn từ đầu vụ sản xuất là 70.467 ha, giảm 3,9% so cùng kỳ, tương ứng giảm 2.840 ha. Trong đó cây lúa gieo sạ 69.092 ha, giảm 4,1% so cùng kỳ.- Cây lúa:+ Vụ Đông xuân 2024 – 2025: diện tích gieo trồng chính thức 42.513 ha, đạt 103,7% kế hoạch (kế hoạch 41.000 ha), nhưng giảm 5,3% so cùng kỳ, tương ứng giảm 2.369 ha. Trong đó, diện tích chuyển đổi sang cây lâu năm là 2.286 ha, cây hàng năm khác 116 ha, đất phi nông nghiệp là 44 ha, nuôi trồng thủy sản 33 ha, không sản xuất 15 ha và tăng 125 ha từ diện tích cây hằng năm khác. Đây là vụ sản xuất chính trong năm của tỉnh chủ yếu trồng lúa thơm, đặc sản, các giống lúa chất lượng cao đạt tiêu chuẩn xuất khẩu. Hiện tại, 100% diện tích gieo trồng đã được thu hoạch.+ Vụ Hè thu (gồm Xuân hè và Hè thu): trong tháng, gieo sạ 7.890 ha lúa Hè thu tính đến ngày 20/5, nâng tổng diện tích gieo trồng của cả vụ lên 26.579 ha. Diện tích gieo trồng tập trung chủ yếu tại các địa phương: huyện Cai Lậy 5.351 ha, Tân Phước 4.798 ha, Cái Bè 4.389 ha, Gò Công Đông 3.578 ha, thị xã Cai Lậy 2.946 ha, Gò Công Tây 2.812 ha, thành phố Gò Công 1.500 ha và Châu Thành 1.205 ha. Sau thu hoạch lúa Đông xuân, bà con nông dân đã khẩn trương xuống giống vụ Hè thu. Dự kiến, hoạt động gieo sạ sẽ hoàn tất vào cuối tháng.Hình 1. Diện tích gieo trồng lúa và hoa màu tính đến 20/5/2025- Cây ngô: diện tích gieo trồng cộng dồn từ đầu vụ sản xuất là 1.375 ha, tăng 10,5%, tương ứng tăng 130 ha. Ngô là cây trồng ngắn ngày, dễ canh tác, phù hợp với nhiều thời vụ trong năm. Ngoài việc thu hoạch trái bán cho thương lái, phần lá và thân cây sau thu hoạch còn được tận dụng làm thức ăn cho gia súc như trâu, bò, góp phần tăng hiệu quả sử dụng đất và giá trị kinh tế cho người nông dân.- Cây rau đậu các loại: từ đầu vụ đến nay, diện tích gieo trồng rau đậu đạt 34.236 ha, tăng 13,3% so với cùng kỳ; riêng rau các loại đạt 34.073 ha, tăng 13,4%. Diện tích rau màu tăng do chuyển đổi từ đất trồng kém hiệu quả, nhất là các khu vực không đủ điều kiện canh tác lúa. Nhờ tận dụng đất đai màu mỡ và thời tiết thuận lợi, nông dân đẩy mạnh trồng xen canh, gối vụ các loại rau, củ, quả có giá trị kinh tế cao, dễ tiêu thụ như rau muống, bầu, mướp, bí xanh, khổ qua, dưa leo, các loại cải, hành lá, dưa hấu,…*Chăn nuôi: ước đến ngày 31/5/2025, tổng đàn gia súc, gia cầm toàn tỉnh như sau: đàn bò 119.000 con, tăng 0,9%; đàn lợn 350.000 con, tăng 24,1% và đàn gia cầm 17,0 triệu con, tăng 3,7% so với cùng kỳ. Đàn bò tăng nhẹ nhờ chuyển đổi đất kém hiệu quả sang trồng cỏ nuôi bò, hình thành các hộ nuôi quy mô lớn tại Chợ Gạo và Gò Công Tây. Đàn lợn tăng mạnh do giá thịt hơi cao, khuyến khích tái đàn, nhất là ở các huyện Chợ Gạo, Gò Công Tây, Châu Thành, Tân Phước; mô hình nuôi trên 100 con và chăn nuôi gia công, trang trại tăng nhanh. Gia cầm phát triển ổn định nhờ mô hình tập trung, an toàn sinh học và tiêu thụ thuận lợi; ứng dụng công nghệ cao, chăn nuôi hữu cơ bước đầu mang lại hiệu quả tích cực.*Tình hình dịch bệnh trên vật nuôi (theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Tiền Giang):Trong tháng, không ghi nhận trường hợp phát sinh mới của các loại dịch bệnh trên vật nuôi. Cộng dồn từ đầu năm đến nay, tình hình cụ thể như sau:Bệnh cúm gia cầm: toàn tỉnh ghi nhận 3 hộ chăn nuôi tại 2 xã thuộc 2 huyện (Tân Phước và Gò Công Tây) có gia cầm nhiễm virus cúm A/H5N1. Tổng số gia cầm nhiễm bệnh là 6.161 con trên tổng đàn 7.200 con. Toàn bộ đàn gia cầm đã được tiêu hủy theo quy định.Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: có 6 hộ tại 6 xã thuộc 4 huyện (Châu Thành, Gò Công Tây, Chợ Gạo và Tân Phước) ghi nhận lợn nhiễm bệnh, với tổng số 105 con trong tổng đàn 120 con. Tất cả 120 con lợn đã được tiêu hủy, với tổng khối lượng 2.684 kg.Bệnh viêm da nổi cục: ghi nhận tại 2 hộ chăn nuôi ở 2 xã thuộc 2 huyện (Cái Bè và Chợ Gạo) với 3 con bò nhiễm bệnh trong tổng đàn 9 con. Đã tiêu hủy 1 con bò bị bệnh tại huyện Cái Bè, với khối lượng 215 kg.Bệnh lở mồm long móng: phát hiện 1 trường hợp lợn nhiễm bệnh tại cơ sở giết mổ thuộc xã Hậu Mỹ Bắc A, huyện Cái Bè. Con lợn bệnh đã được tiêu hủy với khối lượng 110 kg.Hình 2. Chăn nuôi tại thời điểm 31/5/20252. Lâm nghiệp: Tổng diện tích rừng hiện có là 1.556,6 ha (không bao gồm diện tích rừng thuộc đất an ninh quốc phòng). Trong đó rừng phòng hộ: 1.317,4 ha (huyện Gò Công Đông 379,6 ha; huyện Tân Phú Đông 884,2 ha và huyện Tân Phước 53,6 ha). Rừng sản xuất: 239,2 ha.Trong tháng, thực hiện trồng mới được 19,1 ngàn cây phân tán các loại. Tổng số cây phân tán trồng được từ đầu năm đến nay là 23,2 ngàn cây, giảm 1,7% so cùng kỳ.3. Thủy hải sản: Sản lượng thủy sản nuôi trồng trong tháng ước đạt 23.256 tấn. Tính chung 5 tháng đầu năm, thu hoạch được 80.809 tấn, tăng 9,4% so cùng kỳ, tương ứng tăng 6.945 tấn, bao gồm: sản lượng cá đạt 53.390 tấn (tăng 3,8%); sản lượng tôm đạt 17.527 tấn (tăng 20,4%); các loại thủy sản khác đạt 9.892 tấn (tăng 26,2%). Nguyên nhân chủ yếu do điều kiện thời tiết thuận lợi, ít phát sinh dịch bệnh, giúp năng suất nuôi trồng đạt cao.Sản lượng thủy sản khai thác biển trong tháng ước đạt 10.224 tấn. Tính chung 5 tháng đầu năm, thu hoạch được 44.872 tấn, tăng 25,3% so cùng kỳ, tương ứng tăng 9.072 tấn, bao gồm: cá đạt 29.542 tấn (tăng 5,0%); tôm đạt 1.159 tấn (tăng 46,4%); thủy sản khác đạt 14.171 tấn (tăng 106%). Kết quả này có được nhờ điều kiện thời tiết ổn định, ít chịu ảnh hưởng của bão và áp thấp nhiệt đới, tạo thuận lợi cho tàu cá vươn khơi bám biển. Nguồn lợi thủy sản biển xuất hiện nhiều tại các ngư trường trọng điểm, giúp ngư dân khai thác hiệu quả, góp phần nâng cao sản lượng so với cùng kỳ năm trước.II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆPChỉ số sản xuất công nghiệp tháng 5/2025 giảm 4,28% so với tháng trước, các ngành chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh có giá trị sản xuất giảm so tháng trước; trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 4,39% (sản xuất kim loại giảm 20,52%; sản xuất đồ uống giảm 14,21%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 11,92%; sản xuất trang phục giảm 4,42%...); ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 4,04%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,92% so với tháng trước và tăng 15,72% so cùng kỳ, trong đó; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 17,1%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 2,56% và cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,03%.Chỉ số sản xuất công nghiệp 5 tháng năm 2025 tăng 16,44% so cùng kỳ; trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 17,74%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 1,87%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 13,91%.Chỉ số sản xuất sản phẩm trong 5 tháng so cùng kỳ như sau:- Có 34/52 sản phẩm tăng so cùng kỳ: cáp đồng trục và dây dẫn điện đồng trục tăng 87,5%; quả và hạt ướp lạnh tăng 80,3%; gạo đã xát toàn bộ hoặc sơ bộ, đã hoặc chưa đánh bóng hạt hoặc hồ tăng 65,2%; dịch vụ sản xuất thiết bị điện chiếu sáng tăng 63,1%; Bánh làm từ bột khác bảo quản được tăng 34,1%; Giấy vệ sinh tăng 33,3%; Bóng thể thao khác tăng 32,3%; Các sản phẩm bằng vật liệu tết bệt khác tăng 27,2%; Lốp hơi mới bằng cao su, loại dùng cho xe buýt, xe tải hoặc máy bay tăng 25,7%; Dây thép không gỉ tăng 25,2%; Thanh nhôm, que nhôm, nhôm ở dạng hình tăng 16,8%; Nước uống được tăng 15,2%; Giày, dép thể thao có đế ngoài và mũ giày bằng cao su và plastic tăng 11,6%; Thuốc diệt cỏ, thuốc chống nảy mầm và thuốc điều hòa sinh trưởng cây trồng tăng 6,5%; Bia đóng lon tăng 6%; Phân vi sinh tăng 6%; Điện thương phẩm tăng 4,6%; Bao và túi (kể cả loại hình nón) từ plastic khác tăng 1%; Dịch vụ thu gom rác thải không độc hại có thể tái chế tăng 0,7%;- Có 18/52 sản phẩm giảm so cùng kỳ: hàng dệt may đã hoàn thiện khác giảm 98,1%; Thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng viên giảm 59,7%; Màn bằng vải khác giảm 51,8%; Thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng bột/cốm giảm 49,9%; Giày, dép không thấm nước có đế ngoài và mũ giày bằng cao su hay plastic giảm 32,2%; Dịch vụ tiện các bộ phận kim loại giảm 20%; Bia đóng chai giảm 13,6%; Điện gió giảm 13%; Thức ăn cho thủy sản giảm 11,3%; Đồ chơi hình con vật hoặc sinh vật không phải hình người giảm 7,6 %; Thức ăn cho gia súc giảm 7%; Bộ com lê, quần áo đồng bộ, áo jacket, quần dài, quần yếm, quần soóc cho người lớn dệt kim hoặc đan móc giảm 4,5%; Tàu thuyền lớn chuyên chở người và hàng hóa có động cơ đẩy giảm 2,8%; Cấu kiện làm sẵn cho xây dựng hoặc kỹ thuật dân dụng, bằng xi măng, bê tông hoặc đá nhân tạo giảm 2,6%; Cửa ra vào, cửa sổ bằng sắt, thép giảm 2%; Phi lê đông lạnh giảm 1,9%;Hình 3. Chỉ số sản xuất công nghiệp - 5 tháng đầu năm 2025* Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: - Chỉ số tiêu thụ tháng 5/2025 so với tháng trước giảm 3,63% và tăng 4,73% so cùng kỳ. Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cộng dồn từ đầu năm đến cuối tháng 5/2025 tăng 19,64%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao: dệt tăng 9,99%; sản xuất trang phục tăng 20,2%; sản xuất da tăng 11,27%, trong đó sản xuất vali, túi xách… tăng 12%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ tăng 28,82%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 33,29%; sản xuất kim loại tăng 51,51%; sản xuất thiết bị điện tăng 25,08%, trong đó sản xuất dây cáp, dây điện và điện tử khác tăng 23,73%;… Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm so cùng kỳ là: sản xuất chế biến thực phẩm giảm 9,85%, trong đó sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thuỷ sản giảm 15,44%; sản xuất đồ uống giảm 0,54%, trong đó sản xuất bia giảm 0,54%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu giảm 57,13%; sản xuất sản phẩm cao su và plastic giảm 6,84%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 1,07%;...- Chỉ số tồn kho tháng 5/2025 giảm 12,93% so với tháng trước và tăng 3,36% so với cùng kỳ. Một số ngành có chỉ số tăng cao so với cùng kỳ: sản xuất trang phục tăng 42,6%; sản xuất da tăng 34,87%, trong đó sản xuất giày dép tăng 23,22%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 12,23%; sản xuất kim loại tăng 94,09%; sản xuất thiết bị điện giảm 46,94%, trong đó sản xuất mô tơ điện giảm 52,02%. Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tồn kho giảm so cùng kỳ: sản xuất chế biến thực phẩm giảm 30,89%, trong đó chế biến, bảo quản thuỷ sản và các sản phẩm từ thuỷ sản giảm 46%; dệt giảm 39,69%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu giảm 38,35%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẳn giảm 1,9%; chế biến, chế tạo khác giảm 49,08%, trong đó sản xuất đồ chơi, trò chơi giảm 49,08%;…III. ĐẦU TƯ - XÂY DỰNG Tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý thực hiện trong tháng là 504 tỷ đồng, tăng 8,8% so cùng kỳ. Năm tháng đầu năm 2025 thực hiện 2.055 tỷ đồng, đạt 29,3% kế hoạch, tăng 21% so cùng kỳ.Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh thực hiện 1.754 tỷ đồng, đạt 29,3% kế hoạch, tăng 35,6% so cùng kỳ, chiếm 85,4% tổng số; trong đó: vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 657 tỷ đồng, tăng 84,9%, vốn xổ số kiến thiết thực hiện 690 tỷ đồng, tăng 19,4% so cùng kỳ,... Các ngành các cấp yêu cầu các ban quản lý chủ đầu tư tập trung với cường độ cao hơn trong tổ chức thực hiện, ưu tiên đẩy nhanh tiến độ đầu tư công, kể cả tiến độ giải ngân. Ngoài ra thời tiết thuận lợi, nguyên vật liệu trong xây dựng biến động không nhiều, nên khối lượng thực hiện tăng hơn so cùng kỳ, nhiều công trình đã hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng, các công trình còn lại thi công đúng theo tiến độ đề ra...Hình 4. Cơ cấu vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý - 5 tháng đầu năm 2025Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp huyện thực hiện 265 tỷ đồng, đạt 29,2% kế hoạch, bằng 75,1% so cùng kỳ, chiếm 12,9% tổng số; trong đó: vốn tỉnh hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 11 tỷ đồng, bằng 16,8% so cùng kỳ... Các ban quản lý dự án huyện hoàn thành hồ sơ, khẩn trương triển khai thi công các công trình xây dựng cơ bản năm 2025; ngoài ra đẩy nhanh tiến độ thi công, công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho các công trình hạ tầng giao thông phục vụ ra mắt huyện nông thôn mới,...Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp xã thực hiện 36 tỷ đồng, đạt 26,3% kế hoạch, bằng 69,8% so cùng kỳ, chiếm 1,7% tổng số. Ngay từ đầu năm các địa phương huy động nguồn vốn đóng góp để tiến hành thi công các danh mục công trình đăng ký thuộc nguồn vốn phân cấp xã, phường. Đồng thời tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình xây dựng nông thôn mới và nông thôn mới nâng cao nhằm phục vụ đi lại và vận chuyển hàng hóa của người dân. Trong đó, ưu tiên bố trí các dự án khởi công mới thuộc lĩnh vực giao thông, phòng chống thiên tai, xử lý sạt lở, biến đổi khí hậu, giáo dục, y tế, …IV. THƯƠNG MẠI - GIÁ CẢ - DỊCH VỤ1. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng:Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trong tháng thực hiện 7.955 tỷ đồng, giảm 0,2% so tháng trước và 10,6% so cùng kỳ. Năm tháng đầu năm 2025, tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thực hiện 39.162 tỷ đồng, đạt 40,6% kế hoạch, tăng 9,7% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 30.019 tỷ đồng, tăng 8,2%; lưu trú 175 tỷ đồng, tăng 18,3%; ăn uống 3.801 tỷ đồng, tăng 19%; du lịch lữ hành 87 tỷ đồng, tăng 4,5%; dịch vụ tiêu dùng khác 5.080 tỷ đồng, tăng 12% so cùng kỳ.Hình 5. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng2. Xuất - Nhập khẩu: (Theo báo cáo Sở Công Thương)a. Xuất khẩu:Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng ước thực hiện 585 triệu USD, tăng 0,6% so tháng trước. Năm tháng ước xuất khẩu 2,59 tỷ USD, đạt 36,9% kế hoạch, tăng 4,1% so cùng kỳ;Tình hình xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của tỉnh như sau:- Thủy sản: ước tính tháng 5/2025 xuất 14.269 tấn, giảm 8,7%; giá trị xuất 35 triệu USD, giảm 3,4% so cùng kỳ. Năm tháng xuất 59.841 tấn, giảm 8,2%; giá trị xuất 155.189 triệu USD, đạt 36,9% kế hoạch, giảm 0,3% so cùng kỳ.- Gạo: ước tính tháng 5/2025 xuất 31,1 tấn, tăng 68,6%; trị giá 15 triệu USD, lượng tăng 30,1% so cùng kỳ. Năm tháng xuất 156,6 tấn, tăng 1,2 lần; trị giá xuất 77,5 triệu USD, đạt 64,6% kế hoạch, tăng 73,8% so cùng kỳ.Hàng rau quả: ước tính tháng 5/2025 đạt 4.000 tấn, giảm 29,4% và kim ngạch xuất khẩu đạt 8 triệu USD, giảm 34,6% so cùng kỳ. Năm tháng xuất 18.412 tấn, giảm 9,9% và giá trị xuất đạt 36,8 triệu USD, giảm 16,6% so cùng kỳ.Ngoài các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của tỉnh còn có các sản phẩm công nghiệp 5 tháng đầu năm 2025 như: kim loại thường khác và sản phẩm (kể cả ống đồng) 719 triệu USD, tăng 14,2%; sản phẩm từ chất dẻo 394 triệu USD, tăng 29,8%; sắt thép và sản phẩm từ sắt thép 243 triệu USD, tăng 10,5%; xơ, sợi dệt các loại 57 triệu USD, tăng 23,3%... so cùng kỳ. Bên cạnh đó một số sản phẩm công nghiệp xuất khẩu giảm như: hàng dệt, may 289 triệu USD, giảm 26,2%; túi xách, ví, vali, mũ và ô dù 69 triệu USD, giảm 0,9%; giày và nguyên phụ liệu 378 triệu USD, giảm 2,7% … so cùng kỳ.b. Nhập khẩu:Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa trong tháng 5/2025 ước đạt 305 triệu USD, giảm 12,7% so cùng kỳ năm trước. Năm tháng, kim ngạch nhập khẩu 1.505 triệu USD, đạt 43% kế hoạch, tăng 6,2% so cùng kỳ; trong đó: doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước chiếm 6,2%, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 93,8% trên tổng kim ngạch nhập khẩu. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu trong tổng kim ngạch nhập khẩu của tỉnh: kim loại thường khác (kể cả nguyên liệu đồng) chiếm 52,46%; sắt thép các loại chiếm 16,39%; nguyên phụ liệu dệt may, da giày, túi chiếm 6,56%; vải nguyên liệu chiếm 6,56%; còn lại là nguyên vật liệu (thức ăn gia súc, nguyên liệu dược phẩm, hạt nhựa…).3. Chỉ số giá:Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 5/2025 tăng 0,18% (thành thị tăng 0,2%, nông thôn tăng 0,17%) so tháng 4/2025, tăng 2,46% so tháng 5/2024. Bình quân 5 tháng đầu năm 2025 tăng 2,96% so cùng kỳ năm trước.So với tháng 4/2025, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 07 nhóm tăng: hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,74%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,55%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,27%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,17%, trong đó: thực phẩm tăng 0,33%; ăn uống ngoài gia đình tăng 0,03% và thực phẩm giảm 0,24%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,15%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,13%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,01%; Có 03 nhóm chỉ số giá ổn định: thuốc và dịch vụ y tế; bưu chính viễn thông; giáo dục. Riêng nhóm giao thông chỉ số gía giảm 0,53%.Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 5 tháng năm 2025 tăng 2,96% so cùng kỳ; thuốc và dịch vụ y tế tăng 10,79%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 9,29%; đồ uống và thuốc lá tăng 4,59%; giáo dục tăng 4,27%... Riêng nhóm giao thông giảm 5,1% so cùng kỳ năm trước.Chỉ số giá vàng 24 kara Ngọc Thẩm trong tháng 5/2025 tăng 112,33% so tháng trước, giá vàng bình quân 11.588 ngàn đồng/chỉ, tăng 1.272 ngàn đồng/chỉ so cùng kỳ.Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng 5/2025 tăng 1,44% so tháng trước, giá bình quân 26.486 đồng/USD, tăng 376 đồng/USD so cùng kỳ;4. Du lịch:Trật tự tại các khu du lịch được đảm bảo, việc mua bán kinh doanh được sắp xếp ổn định tạo thuận lợi cho du khách đến vui chơi, giải trí. Duy trì thường xuyên công tác kiểm tra, xử lý các trường hợp chèo kéo khách du lịch, nhắc nhở và hướng dẫn các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch triển khai các biện pháp nhằm đảm bảo an ninh trật tự, phòng chống dịch bệnh, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và an toàn cho khách du lịch. Trong dịp lễ 30/4 và 01/5 các sở ban ngành liên quan khảo sát thực tế tại các khu, điểm du lịch, di tích lịch sử - văn hóa, cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch, để nắm bắt thực trạng hoạt động du lịch, kịp thời chấn chỉnh những hạn chế, thiếu sót; hỗ trợ giải quyết những khó khăn, kiến nghị của các cơ sở, nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ phục vụ du lịch, đảm bảo các điều kiện chuẩn bị đón khách trong dịp nghỉ lễ.Khách du lịch đến trong tháng 5/2025 được 146 ngàn lượt khách, tăng 2,9% so tháng trước và giảm 10,6% so cùng kỳ; trong đó: khách du lịch quốc tế 49 ngàn lượt khách, tăng 4,9% so cùng kỳ. Doanh thu lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ tiêu dùng khác trong tháng 5 đạt 1.806 tỷ đồng, giảm 2,1% so tháng trước và tăng 16,1% so cùng kỳ.Tính chung năm tháng đầu năm 2025, lượt khách du lịch đến Tiền Giang là 679 ngàn lượt khách, đạt 32,3% kế hoạch và tăng 4% so cùng kỳ; trong đó: khách quốc tế 234 ngàn lượt khách, đạt 33,4% kế hoạch, tăng 8,2% so cùng kỳ. Tổng doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, dịch vụ lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch, dịch vụ tiêu dùng khác đạt 9.143 tỷ đồng, tăng 14,9% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu dịch vụ ăn uống chiếm tỷ trọng 41,6%, ước đạt 3.801 tỷ đồng, tăng 19%, lưu trú đạt 175 tỷ đồng, tăng 18,3% so cùng kỳ...5. Vận tải:Tình hình giao thông trước, trong dịp nghỉ Lễ 30/4 - 01/5/2025 trên địa bàn tỉnh bảo đảm an toàn, ổn định đáp ứng nhu cầu đi lại của nhân dân. Trong những ngày Lễ, do lượng người và phương tiện tham gia giao thông tăng cao nên phương tiện lưu thông chậm tại khu vực cầu Rạch Miễu (Quốc lộ 60)…Tuy nhiên do chủ động triển khai phương án phòng chống ùn tắc giao thông như: điều tiết, phân luồng giao thông kịp thời, các phương tiện lưu thông chậm, an toàn, không xảy ra ùn tắc giao thông.Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trong tháng thực hiện 298 tỷ đồng, tăng 8,3% so tháng trước và tăng 13,9% so cùng kỳ. Năm tháng thực hiện 1.399 tỷ đồng, tăng 15,7% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 328 tỷ đồng, tăng 16,3%; doanh thu vận tải hàng hóa thực hiện 737 tỷ đồng, tăng 17,6% so cùng kỳ. Doanh thu vận tải đường bộ thực hiện 504 tỷ đồng, tăng 16,6%; doanh thu vận tải đường thủy thực hiện 660 tỷ đồng, tăng 17,7%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 110 tỷ đồng, tăng 9% so cùng kỳ.Vận tải hành khách trong tháng đạt 2.306 ngàn hành khách, tăng 25% so tháng trước và tăng 14,9% so cùng kỳ; luân chuyển 113.206 ngàn hành khách.km, tăng 26,8% so tháng trước và tăng 13,2% so cùng kỳ. Năm tháng, vận chuyển 9.365 ngàn hành khách, tăng 16,6% so cùng kỳ; luân chuyển 419.068 ngàn hành khách.km, tăng14% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 4.542 ngàn hành khách, tăng 15,5% và luân chuyển 413.876 ngàn hành khách.km, tăng 13,9% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 4.823 ngàn hành khách, tăng 17,6% và luân chuyển 5.192 ngàn hành khách.km, tăng 20,1% so cùng kỳ.Vận tải hàng hóa trong tháng đạt 1.646 ngàn tấn, tăng 1,9% so tháng trước và tăng 12,9% so cùng kỳ; luân chuyển 300.664 ngàn tấn.km, tăng 1,7% so tháng trước và tăng 11,9% so cùng kỳ. Năm tháng, vận tải 8.233 ngàn tấn hàng hóa, tăng 17,2% so cùng kỳ; luân chuyển 1.504.647 ngàn tấn.km, tăng 16,6% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 1.198 ngàn tấn, tăng 15,1% và luân chuyển 139.124 ngàn tấn.km, tăng 14,1% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 7.035 ngàn tấn, tăng 17,6% và luân chuyển 1.365.523 ngàn tấn.km, tăng 16,9% so cùng kỳ.6. Bưu chính viễn thông:Doanh thu trong tháng 5/2025 đạt 305 tỷ đồng, tăng 0,83% so tháng trước; trong đó: doanh thu bưu chính đạt 27 tỷ đồng, tăng 1,9% và viễn thông 287 tỷ đồng, tăng 0,72% so tháng trước. Năm tháng doanh thu dịch vụ bưu chính, viễn thông đạt 1.505 tỷ đồng, tăng 7,6% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính đạt 125 tỷ đồng, tăng 8,1% và viễn thông 1.380 tỷ đồng, tăng 7,6% so cùng kỳ.Tổng số thuê bao điện thoại có trên mạng đến cuối tháng 5/2025 là 130.288 thuê bao, mật độ bình quân đạt 7,25 thuê bao/100 dân (chỉ tính thuê bao cố định và di động trả sau). Thuê bao internet có trên mạng cuối tháng 5/2025 là 444.318 thuê bao, mật độ internet bình quân đạt 24,7 thuê bao/100 dân. Các doanh nghiệp bưu chính, viễn thông trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì trên đà phát triển ổn định, không ngừng đầu tư nâng cấp phát triển mạng lưới, cung cấp nhiều loại hình dịch vụ phong phú, đa dạng để duy trì tốc độ phát triển. Thuê bao Internet tháng 5 năm 2025 tăng, chủ yếu tăng thuê bao internet FTTH. Số thuê bao điện thoại di động có sử dụng internet (3G, 4G) đến cuối tháng 5 năm 2025 là 1.695.075 thuê bao.V. TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG1. Tài chính:Tổng thu ngân sách nhà nước trong tháng thực hiện 1.551 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn 891 tỷ đồng, thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 290 tỷ đồng. Năm tháng, thu 16.738 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn thực hiện 6.988 tỷ đồng, đạt 65,9% dự toán và tăng 42,5% so cùng kỳ; thu nội địa 6.829 tỷ đồng, đạt 66,5% dự toán, tăng 43,7% so cùng kỳ (trong thu ngân sách trên địa bàn: thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 1.784 tỷ đồng, đạt 67,2% dự toán, tăng 19,7% so cùng kỳ; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 1.611 tỷ đồng, đạt 117,6% dự toán, tăng 79,7% so cùng kỳ...). Tổng chi ngân sách nhà nước trong tháng 1.551 tỷ đồng; trong đó: chi đầu tư phát triển 550 tỷ đồng. Năm tháng, chi 8.333 tỷ đồng, đạt 47,8% dự toán, tăng 97% so cùng kỳ; trong đó: chi đầu tư phát triển 3.829 tỷ đồng, đạt 58,8% dự toán, tăng 64,8% so cùng kỳ; chi hành chính sự nghiệp 4.268 tỷ đồng, đạt 43,3% dự toán và tăng 1,5 lần so cùng kỳ. 2. Ngân hàng: Mặt bằng lãi suất trên địa bàn ổn định, tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng (TCTD) tiếp cận nguồn vốn với chi phí hợp lý. Đến cuối tháng 4/2025, mặt bằng lãi suất cho vay (LSCV) bình quân trên địa bàn Tiền Giang là 7,78%, giảm 0,4% so với cuối năm 2024. Phân theo loại khách hàng: LSCV bình quân khách hàng pháp nhân là 6,54%/năm (giảm 0,07%/năm so với cuối năm 2024), đối với khách hàng thể nhân là 8,41%/năm (giảm 0,43%/năm). Về thời hạn, LSCV ngắn hạn bình quân là 7,07%/năm, trung hạn là 9,83%/năm, dài hạn là 9,35%/năm.Đến cuối tháng 4/2025, vốn huy động đạt 110.851 tỷ đồng, tăng 3.723 tỷ, tăng 3,47% so cuối năm 2024 và tăng 2,03% so cùng kỳ năm trước. Tổng dư nợ cho vay đạt 111.473 tỷ, tăng 5.034 tỷ, tỷ lệ tăng 4,73% so với cuối năm 2024 và tăng 2,94% so cùng kỳ năm trước. Ước đến cuối tháng 5/2025, vốn huy động đạt 112.422 tỷ đồng, tăng 5.291 tỷ, tăng 4,94%; tổng dư nợ đạt 111.532 tỷ, tăng 5.094 tỷ đồng, tăng 4,79% so với cuối năm 2024Nợ xấu: cuối tháng 4/2025, nợ xấu nội bản là 2.521 tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu 2,26%, tăng 0,19% so cuối năm 2024. Ước đến cuối tháng 5/2025, nợ xấu là 2.419 tỷ đồng, tỷ lệ 2,17%, tăng 0,1% so với cuối năm 2024.Quỹ tín dụng nhân dân: đến cuối tháng 4/2025, tổng nguồn vốn hoạt động đạt 1.621 tỷ đồng, tăng 112 tỷ đồng, tăng 7,43% so tháng 12/2024. Tỷ lệ nợ xấu 0,56%, tăng 0,32% so với cuối năm 2024.Kết quả thực hiện cho vay các lĩnh vực ưu tiên: dự tính đến hết tháng 5/2025 đạt 87.623 tỷ đồng, chiếm 78,56% tổng dư nợ cho vay và tăng 6,93% so với cuối năm 2024. Trong đó: tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp nông thôn đạt 64.248 tỷ đồng, tăng 6,65% so với cuối năm 2024; tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt 15.156 tỷ đồng, giảm 4,31%; tín dụng lĩnh vực xuất khẩu đạt 7.252 tỷ đồng, tăng 43,15%; tín dụng lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ đạt 933 tỷ đồng, tăng 17,55%VI. KHOA HỌC CÔNG NGHỆ Trong tháng, ra quyết định triển khai 03 nhiệm vụ khoa học và công nghệ (KH&CN) cấp tỉnh; kiểm tra tiến độ thực hiện 05 nhiệm vụ KH&CN, trong đó: 03 cấp tỉnh, 02 cấp cơ sở; nghiệm thu kết thúc 02 nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh; điều chỉnh thông tin 02 nhiệm vụ KH&CN, trong đó: 01 cấp tỉnh và 01 cấp cơ sở. Chuyển giao kết quả nghiên cứu nhiệm vụ khoa học và công nghệ để ứng dụng vào thực tế 14 nhiệm vụ cho 29 đơn vị, tổ chức ứng dụng. Trình Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 880/QĐ-UBND ngày 17/4/2025 về công bố thủ tục hành chính lĩnh vực hoạt động khoa học và công nghệ thuộc phạm vi chức năng quản lý của ngành Khoa học và Công nghệ tỉnh Tiền Giang.Đến hết tháng 5/2025, tổ chức họp Hội đồng tư vấn tuyển chọn/giao trực tiếp tổ chức, cá nhân thực hiện 04 nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh; quyết định triển khai 04 nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh; kiểm tra tiến độ thực hiện 20 nhiệm vụ KH&CN (15 cấp tỉnh, 05 cấp cơ sở); nghiệm thu kết thúc 13 nhiệm vụ KH&CN (08 cấp tỉnh, 05 cấp cơ sở); quyết định công nhận 08 nhiệm vụ KH&CN (05 cấp tỉnh, 03 cấp cơ sở); gia hạn thời gian thực hiện 02 nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh.VII. CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Lao động việc làm:Trong tháng, công tác tư vấn nghề nghiệp, việc làm, pháp luật lao động và các nội dung liên quan khác được thực hiện cho 1.890 lượt lao động. Tính từ đầu năm đến nay, đã tư vấn cho 7.092 lượt lao động, giảm 18,5% so với cùng kỳ.Hoạt động giới thiệu việc làm tiếp tục được đẩy mạnh. Trong tháng, đã giới thiệu việc làm cho 337 lượt lao động. Lũy kế từ đầu năm đến nay, tổng số lượt lao động được giới thiệu việc làm là 1.251 lượt, tăng 5,2% so với cùng kỳ. Trong đó, có 415 lao động đã có việc làm ổn định, tăng mạnh 75% so với cùng kỳ.Về lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, có 185 lao động xuất cảnh, giảm 9,4% so với cùng kỳ, đạt 34% kế hoạch năm. Trong đó: thị trường Nhật Bản chiếm đa số với 148 lao động, tiếp đến là Đài Loan 25 lao động, Hàn Quốc 06 lao động, và các thị trường khác.Đối với trợ cấp thất nghiệp, trong tháng có 1.576 lao động đăng ký hưởng trợ cấp, giảm 41% so với cùng kỳ. Cộng dồn từ đầu năm đến nay, có 5.836 lao động nộp hồ sơ đăng ký, giảm 30,3%; trong đó có 4.843 trường hợp đã được giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp với tổng số tiền chi trả trên 110 tỷ đồng, giảm 29,3% so với cùng kỳ.2. Chính sách xã hội: Trong tháng, các chế độ ưu đãi đối với người có công với cách mạng tiếp tục được triển khai đầy đủ, kịp thời, đảm bảo đúng đối tượng. Cụ thể: đã ban hành quyết định trợ cấp một lần cho thân nhân thờ cúng liệt sĩ và chuyển thờ cúng liệt sĩ đối với 50 hồ sơ; giải quyết trợ cấp cho 01 trường hợp người hoạt động kháng chiến và dân có công giúp đỡ cách mạng; trợ cấp tuất thương binh cho 01 trường hợp; quyết định trợ cấp tuất thương binh, bệnh binh cho 02 trường hợp; giảm trợ cấp hằng tháng đối với 02 trường hợp; chi trả trợ cấp cho 01 trường hợp người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học mới được công nhận. Việc thực hiện các chính sách thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước đối với người có công, góp phần đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn.3. Hoạt động giáo dục:Trong tháng, hoạt động giáo dục tại tỉnh Tiền Giang diễn ra sôi nổi với nhiều sự kiện quan trọng. Đặc biệt, Trường Đại học Tiền Giang đã tổ chức Lễ tốt nghiệp cho 897 sinh viên hệ chính quy vào ngày 25/5 (51 sinh viên tốt nghiệp loại xuất sắc, 269 sinh viên loại giỏi, 521 sinh viên loại khá và 56 sinh viên loại trung bình). Đây cũng là thời điểm các trường học trên địa bàn tỉnh tổng kết năm học 2024 – 2025 theo Quyết định số 1720/QĐ-UBND ngày 13 tháng 8 năm 2024 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang về kế hoạch thời gian năm học đối với các cấp học: mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên. Năm 2025 là năm đầu tiên kỳ thi tốt nghiệp THPT và kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 được tổ chức theo Chương trình Giáo dục phổ thông năm 2018. Điều này đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với các cơ sở giáo dục, đội ngũ giáo viên và học sinh. Trước tình hình đó, các trường trên địa bàn tỉnh đã chủ động, nghiêm túc triển khai công tác ôn tập, tăng cường đổi mới phương pháp giảng dạy, chú trọng phát triển năng lực tư duy, khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho học sinh, phù hợp với định hướng và tinh thần của chương trình giáo dục mới.4. Hoạt động y tế:Trước diễn biến phức tạp của dịch COVID-19 và xu hướng gia tăng nhẹ số ca mắc tại Việt Nam, ngành Y tế tỉnh Tiền Giang đã chủ động triển khai đồng bộ các biện pháp phòng, chống dịch. Các cơ sở y tế trên địa bàn đã được chuẩn bị sẵn sàng về cơ sở vật chất, trang thiết bị, vật tư y tế và khu vực cách ly, sẵn sàng ứng phó kịp thời với mọi tình huống phát sinh.Trong tháng có 10/44 bệnh truyền nhiễm được ghi nhận, tăng 03 bệnh so tháng trước. So với cùng kỳ cộng dồn, có 06 bệnh tăng (Sởi, Sốt xuất huyết Dengue, Thương hàn, Thủy đậu, Tiêu chảy, Viêm gan vi rút C); 07 bệnh giảm (Bệnh do liên cầu lợn ở người, Lao phổi, Quai bị, Tay - chân - miệng, Uốn ván khác, Viêm gan vi rút B, Bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona); 31 không xảy ra ca mắc.Các bệnh truyền nhiễm trong tháng ghi nhận: bệnh sốt xuất huyết 116 ca mắc; bệnh tay - chân - miệng 120 ca. Cộng dồn số ca mắc bệnh sốt xuất huyết: 736 ca, tăng 7,0%; bệnh tay – chân – miệng: 729 ca, giảm 41,4% so cùng kỳ.Phòng chống HIV/AIDS trên địa bàn tỉnh tính đến nay là 7.204 người nhiễm HIV; 1.819 người chuyển sang AIDS; 1.387 người tử vong do AIDS. Khám chữa bệnh trong tháng cho 367.809 lượt người, giảm 1,6% so cùng kỳ; trong đó, số người điều trị nội trú là 18.224 lượt người, giảm 3,1%. Lũy kế từ đầu năm, đã khám chữa bệnh cho 1.872.299 lượt người, giảm 2,5%; trong đó, số người điều trị nội trú là 93.055 lượt người, tăng 1,5%. Công suất sử dụng giường bệnh bình quân trong tháng đạt 86,1%.5. Hoạt động văn hóa - thể thao:Trong tháng, các hoạt động văn hóa nghệ thuật diễn ra sôi nổi, góp phần tạo không khí phấn khởi, vui tươi trong nhân dân. Cụ thể:Hoạt động văn hóa nghệ thuật: biểu diễn nghệ thuật 08 buổi, thu hút khoảng 11.450 người xem; tuyên truyền lưu động, chiếu phim 21 buổi, thu hút khoảng 3.150 người xem; cổ động trực quan, triển lãm 410 cờ phướn khẩu hiệu, 10 pano, 50 ụ cờ phục vụ kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2025), Lễ hội Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Tiền Giang lần thứ 2 năm 2025; Lễ tưởng niệm 150 năm Ngày Anh hùng dân tộc Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân hy sinh….. hoạt động nhạc nước phục vụ 08 suất tại Quảng trường Hùng Vương phục vụ người dân đến vui chơi và giải trí.Hoạt động thư viện: tổ chức trưng bày, giới thiệu sách tại đơn vị theo chủ đề Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam 21/4; Ngày bản quyền thế giới 23/4; Kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2025); 139 năm ngày Quốc tế Lao động (01/5/1886 - 01/5/2025). Thư viện đã phục vụ khoảng 54.832 lượt bạn đọc, với 69.121 lượt sách báo lưu hành gồm các thể loại: Khoa học xã hội, Khoa học kỹ thuật, Văn học nghệ thuật, sách báo thiếu nhi và báo, tạp chí...Hoạt động bảo tàng: trưng bày hình ảnh, hiện vật phục vụ kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2025), Lễ hội Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Tiền Giang lần thứ 2 năm 2025; Lễ tưởng niệm 150 năm Ngày Anh hùng dân tộc Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân hy sinh. Trong tháng, có 20.713 lượt khách tham quan Bảo tàng tỉnh và các di tích.Hoạt động thể dục, thể thao: các vận động viên tỉnh nhà tích cực tham gia thi đấu và đạt thành tích ấn tượng, tham gia thi đấu 07 giải thể thao thành tích cao, đạt 12 huy huy chương các loại (05 huy chương Bạc, 07 huy chương Đồng). Tham gia Giải vô địch Bóng đá U13 - U15 mở rộng Cúp Kiên Phan lần thứ 1 năm 2025 tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết quả, xếp hạng 2/8 đội, đạt huy chương Bạc và vận động viên Triệu Chí Khiêm đoạt giải thủ môn xuất sắc nhất.6. Tình hình trật tự an toàn xã hội (theo báo cáo ngành Công an):Tình hình trật tự an toàn xã hội trong tháng trên địa bàn tỉnh được duy trì ổn định. Tổng cộng có 44 vụ phạm tội về trật tự xã hội, giảm 15 vụ so cùng kỳ và giảm 07 vụ so với tháng trước. Hậu quả là 05 người chết, 06 người bị thương, tài sản thiệt hại khoảng 931,7 triệu đồng. Cơ quan chức năng đã điều tra, khám phá 33 vụ (đạt tỷ lệ 75%), bắt giữ và xử lý 45 đối tượng, đồng thời thu hồi tài sản trị giá khoảng 93,7 triệu đồng.Tính từ đầu năm, tổng số vụ phạm tội là 273, giảm 103 vụ so cùng kỳ. Vụ việc đã làm 12 người chết, 66 người bị thương, tổng giá trị tài sản thiệt hại lên đến khoảng 14,8 tỷ đồng. Đã điều tra, khám phá được 200 vụ (đạt tỷ lệ 73,3%), xử lý 426 đối tượng.Về tội phạm ma túy trong tháng, lực lượng chức năng đã phát hiện và xử lý 08 vụ với 09 đối tượng, thu giữ 55,607 gram ma túy tổng hợp. Ngoài ra, 247 đối tượng có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy cũng đã bị xử lý hành chính.7. Trật tự an toàn giao thông (theo báo cáo ngành Công an, số liệu tính từ ngày 15/4/2025 đến 14/5/2025):Tai nạn giao thông đường bộ: trong tháng, toàn tỉnh xảy ra 27 vụ tai nạn giao thông đường bộ, tăng 9 vụ so với tháng trước và tăng 8 vụ so với cùng kỳ năm trước. Hậu quả làm 21 người chết (tăng 9 người so tháng trước, tăng 7 người so cùng kỳ) và 6 người bị thương (giảm 2 người so tháng trước, giảm 5 người so cùng kỳ). Lũy kế từ đầu năm đến kỳ báo cáo, toàn tỉnh đã xảy ra 120 vụ tai nạn giao thông, giảm 11 vụ so với cùng kỳ; làm chết 91 người (tương đương so với cùng kỳ) và làm bị thương 44 người (giảm 25 người). Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tai nạn giao thông vẫn xuất phát từ ý thức chấp hành Luật Giao thông đường bộ của người tham gia giao thông còn hạn chế, như: điều khiển phương tiện khi đã sử dụng rượu bia; chạy quá tốc độ, vượt ẩu; đi không đúng phần đường, làn đường; vượt đèn đỏ; không chú ý quan sát; không nhường đường…Tai nạn giao thông đường thủy: trong tháng không xảy ra.Tình hình tai nạn giao thông trong dịp lễ 30/4 và 01/5/2025: xảy ra 02 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm 02 người chết, không có người bị thương. So với cùng kỳ năm trước, tăng 01 vụ tai nạn, tăng 01 người chết, số người bị thương không thay đổi.8. Tình hình cháy nổ, môi trường và thiên tai:- Cháy, nổ: trong tháng, trên địa bàn tỉnh Tiền Giang xảy ra 2 vụ cháy, gây thiệt hại tài sản khoảng 1,6 tỷ đồng. Nguyên nhân được xác định là do sự cố hệ thống, thiết bị điện ở 1 vụ, vụ còn lại đang trong quá trình điều tra. Tính từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh ghi nhận tổng cộng 9 vụ cháy, giảm 10 vụ so với cùng kỳ. Tuy nhiên, số người tử vong do cháy lại tăng 4 người, và tổng thiệt hại tài sản đã vượt mức 8 tỷ đồng.- Môi trường: trong tháng đã phát hiện và xử lý 17 vụ vi phạm, với tổng số tiền xử phạt là 196,9 triệu đồng. Cộng dồn từ đầu năm, toàn tỉnh xảy ra 25 vụ vi phạm môi trường, tăng 216,7% so với cùng kỳ. Tổng số tiền xử phạt hành chính về lĩnh vực này đạt 427,3 triệu đồng, phản ánh mức độ vi phạm có chiều hướng gia tăng.- Thiên tai: trong tháng xảy ra 02 vụ mưa giông trên địa bàn của 02 huyện Cái Bè và thị xã Cai Lậy; làm tốc mái 13 căn nhà, ngã đổ 24 cây ăn trái (sầu riêng, mít, nhãn); tổng thiệt hại ước tính khoảng 60,5 triệu đồng.