Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Tiền Giang 6 tháng đầu năm 2021
- 18/06/2024 16:12
I. TÌNH HÌNH CHUNG Sáu tháng đầu năm 2021, triển vọng kinh tế toàn cầu đã được cải thiện rõ rệt sau khi các quốc gia triển khai vắc-xin hiệu quả và đối phó tốt hơn với dịch COVID-19. Tuy nhiên, sự khác biệt giữa tỷ lệ tiêm chủng của các nền kinh tế phát triển với các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi đã làm kinh tế thế giới phục hồi không đồng đều và mong manh. Ngân hàng Thế giới và Liên minh châu Âu đều dự báo tăng trưởng toàn cầu năm 2021 đạt 5,6%, tốc độ tăng mạnh nhất sau suy thoái. Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế dự báo GDP toàn cầu tăng 5,8% trong năm 2021. Theo Fitch Ratings, dự báo GDP toàn cầu sẽ tăng 6,3% trong năm 2021, cao hơn mức dự báo trong tháng 3/2021 (6,1%). Liên hợp quốc nhận định sau khi giảm 3,6% trong năm 2020, nền kinh tế toàn cầu dự báo tăng trưởng 5,4% năm 2021, tăng 0,7 điểm phần trăm so với mức dự báo 4,7% đưa ra trong báo cáo phát hành vào tháng 1/2021. Ngân hàng Thế giới nhận định GDP của Hoa Kỳ, khu vực đồng Euro, Nhật Bản và Trung Quốc trong năm 2021 tăng lần lượt là 6,8%, 4,2%, 2,9% và 8,5%. Đối với khu vực Đông Nam Á, Ngân hàng Thế giới dự báo Việt Nam và Ma-lai-xi-a là động lực tăng trưởng của khu vực khi đạt mức tăng trưởng lần lượt là 6,6% và 6,0% trong năm 2021. Phi-li-pin, Thái Lan và In-đô-nê-xi-a được dự báo tăng trưởng tương ứng là 4,7%, 2,2% và 4,4% trong năm 2021. Theo Báo cáo Cập nhật kinh tế vĩ mô Việt Nam tháng 6/2021, WB nhận định đợt bùng phát dịch COVID-19 thứ tư bắt đầu từ cuối tháng 4/2021 đã làm số ca nhiễm tăng mạnh. Hoạt động sản xuất công nghiệp trong tháng 5 cho thấy khả năng chống chịu cao với tốc độ tăng trưởng 1,6% (so với tháng trước), nhưng doanh số bán lẻ giảm 3,1% do tác động của giãn cách xã hội. Vị thế kinh tế đối ngoại của Việt Nam giảm nhẹ trong tháng 5 do kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và cam kết vốn FDI giảm lần lượt 6,7% và 20% so với tháng 4. Giá cả trong nước tăng 0,3% (so với tháng trước) do giá hàng hóa toàn cầu tăng. Trong thời gian tới, cần đặc biệt quan tâm đến sự phát triển của sản xuất công nghiệp và bán lẻ vì cả hai ngành này đều có thể tiếp tục bị ảnh hưởng bởi đợt bùng phát dịch COVID-19 thứ tư. II. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊU KINH TẾ Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã tổ chức thành công cuộc bầu cử Quốc Hội và Hội Đồng Nhân Dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2016 trong điều kiện dịch Covid-19 bùng phát mạnh. Đầu tháng 6 trên địa bàn tinh có ca mắc Covid-19 trong công đồng. Lãnh đạo địa phương cùng các cấp, các ngành của tỉnh tập trung thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả các chỉ đạo của Trung ương, của tỉnh. Quán triệt quan điểm “chống dịch như chống giặc” và phương châm “4 tại chỗ”, không lơ là, mất cảnh giác, đồng thời không hoang mang, lúng túng, bị động, quyết tâm, quyết liệt trong công tác phòng, chống dịch, huy động mạnh mẽ sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và mọi người dân, đề cao kỷ luật, kỷ cương, trách nhiệm của người đứng đầu; quyết tâm giữ vững thành quả chống dịch của địa phương. Với tinh thần vượt qua khó khăn, thách thức, để phấn đấu đạt mục tiêu kép sáu tháng đầu năm kết quả đạt được trên các lĩnh vực như sau: 1. Tăng trưởng kinh tế (GRDP): Kinh tế của tỉnh sáu tháng đầu năm 2021, đang trên đà phục hồi và tăng trưởng tích cực, thời tiết những tháng đầu năm tương đối thuận lợi, dịch tả lợn châu Phi được kiểm soát tốt là những điều kiện thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, dịch Covid - 19 bùng phát, trên địa bàn tỉnh có ca mắc trong cộng đồng đã đặt ra không ít khó khăn, thách thức trong công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội. Trước những thuận lợi và khó khăn đan xen, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh ngay từ đầu năm đã chỉ đạo các các sở, ngành tỉnh, các huyện, thành, thị thực hiện đồng bộ, linh hoạt, hiệu quả “mục tiêu kép” vừa phòng, chống dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe nhân dân, vừa phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, nỗ lực phấn đấu cao nhất thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2021. Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) 6 tháng đầu năm 2021 ước đạt 28.956 tỷ đồng, (giá so sánh năm 2010) tăng 3,31% so với cùng kỳ, khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,25%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 3,22% và khu vực dịch vụ tăng 4,56% (bao gồm thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm); Nếu tách riêng thuế sản phẩm thì khu vực dịch vụ giảm 5,20% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 1,70% so cùng kỳ. Trong 3,31% tăng trưởng khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản đóng góp 25,40%, công nghiệp xây dựng đóng góp 27,57%, dịch vụ đóng góp 43,81% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đóng góp 3,22%. GRDP tính theo giá hiện hành đạt 49.197 tỷ đồng. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản: 6 tháng đầu năm 2021 tăng 2,25% so với 6 tháng đầu năm 2020; trong đó nông nghiệp tăng 2,13% (cùng kỳ giảm 6,10%). Trồng trọt có nhiều thuận lợi hơn 6 tháng đầu năm 2020, công tác phòng chống hạn mặn được triển khai sớm, diện tích bị thiệt hại không nhiều. Trà lúa Đông Xuân năm nay phát triển tốt, năng suất bình quân 71,1 tạ/ha, tăng 7,8% so cùng kỳ tương ứng tăng 5,1 tạ/ha; Giá lúa bình quân cao hơn so cùng kỳ nên bà con nông dân có lãi (cao hơn từ 1.900 đồng đến 2.500 đồng/kg tùy loại). Tuy nhiên có một số khu vực do chịu tác động của hạn mặn năm 2020 nên sản xuất còn khó khăn, ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng sản phẩm. Các vườn cây ăn trái ở các huyện phía Tây được nông dân chăm sóc, từng bước được phục hồi, đưỡng cây là chủ yếu, nông dân chưa đồng loạt xử lý cho ra hoa trái vụ. Trong lĩnh vực chăn nuôi, dịch tả lợn châu Phi tuy được kiểm soát tốt nhưng còn xảy ra ở một số địa phương, người dân chưa mạnh dạn tái đàn do còn tiềm ẩn nhiều rủi ro, giá thức ăn tăng, giá bán sản phẩm chăn nuôi thấp so cùng kỳ … Giá cả các sản phẩm nông nghiệp trong kỳ lên xuống thất thường, có những thời điểm khó tiêu thụ sản phẩm, các loại cây ăn quả có giá bình quân thấp so cùng kỳ, nhất là xoài, bưởi, mít, thanh long ... Ngành thủy sản tăng 3,15% so cùng kỳ, sản lượng nuôi trồng và khai thác đều tăng. Do tác động của dịch Covid - 19, một số mặt hàng thủy sản tiêu thụ chậm. Khu vực công nghiệp - xây dựng: tăng 3,22% so với 6 tháng đầu năm 2020; trong đó công nghiệp tăng 2,42%. Do tác động của dịch bệnh, các doanh nghiệp gặp khó khăn trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, nguyên vật liệu đầu vào phục vụ sản xuất … nhất là các doanh nghiệp chế biến thủy sản, chế biến thức ăn gia súc. Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực may mặc, sản xuất giày da từng bước được phục hồi, ổn định sản xuất. Các ngành chức năng thường xuyên theo dõi nắm tình hình hoạt động của các doanh nghiệp, kịp thời tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ doanh nghiệp yên tâm sản xuất. Ngành xây dựng tăng 8,54%, trong kỳ chủ yếu thực hiện các công trình chuyển tiếp từ năm 2020 chuyển sang và các công trình chống hạn, mặn. Trên địa bàn tỉnh có nhiều công trình trọng điểm của địa phương và trung ương; trong đó có dự án cao tốc Trung Lương - Mỹ Thuận, cầu Mỹ Thuận 2, bệnh viện Đa khoa tỉnh Tiền Giang ...tuy nhiên, vật liệu xây dựng, nhiên liệu trong 6 tháng đầu năm tăng cao, ảnh hưởng đến tiến độ xây dựng của các công trình. Khu vực dịch vụ: tăng 5,20% so cùng kỳ. Hầu hết các ngành trong khu vực này điều tăng so cùng kỳ. Tuy nhiên cũng có một số ngành gặp nhiều khó khăn như: vận tải kho bãi, du lịch, ... Số khách du lịch đến địa bàn tỉnh 6 tháng đầu năm đạt 270.255 lượt khách, chỉ bằng 60,6% so cùng kỳ. Trong tháng 6/2021 lần đầu tiên trên địa bàn Tiền Giang có ca mắc Covid -19 trong cộng đồng, Tỉnh đã chủ động, kiểm soát được tình hình nhưng đến thời điểm hiện tại còn diễn biến rất phức tạp, toàn tỉnh thực hiện giản cách xã hội theo Chỉ thị 15/CT-TTg ngày 27/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ từ ngày 12/6 đến ngày 13/6/2021 huyện Cái Bè, Thị xã Cai Lậy và một số xã huyện Cai Lậy cách ly theo Chỉ thị 16/CT-TTG. Một số ngành trong khu vực này tạm dừng hoạt động nếu dịch bệnh kéo dài sẽ ảnh hưởng lớn đến tốc độ tăng trưởng trong những tháng cuối năm. Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm 6 tháng đầu năm tăng 1,70% so cùng kỳ. Cơ cấu kinh tế: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 39,3% (cùng kỳ 39,4%); khu vực công nghiệp, xây dựng chiếm 26,2% (cùng kỳ 26,3%); khu vực dịch vụ chiếm 28,4% (cùng kỳ 28,1%); thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 6,1% (cùng kỳ 6,2%). 2. Sản xuất nông - thủy sản: 2.1. Nông nghiệp: * Trồng trọt: Cây lương thực có hạt: 6 tháng đầu năm 2021, gieo trồng được 113.138 ha, đạt 84,5% kế hoạch, giảm 8,7% so cùng kỳ, sản lượng thu hoạch 524.692 tấn, tăng 0,2 so cùng kỳ; trong đó: cây lúa gieo sạ 111.504 ha, thu hoạch 76.552 ha, sản lượng 519.904 tấn, đạt 65,7% kế hoạch. - Cây lúa: + Vụ Đông Xuân 2020-2021: chính thức xuống giống 51.647 ha, đạt 100% kế hoạch gieo trồng của vụ, giảm 10,3% so cùng kỳ. Nguyên nhân giảm thực hiện đề án cắt vụ để tránh hạn, mặn. + Vụ Hè Thu: Diện tích gieo trồng trong tháng đạt 26.364 ha lũy kế 6 tháng đầu năm diện tích gieo trồng là 59.857 ha, đạt 78,1% kế hoạch gieo trồng. Diện tích thu hoạch chủ yếu là vụ lúa Xuân hè 24.905 ha (ở các huyện phía tây: thị xã Cai Lậy, Tân Phước, Cái Bè, Cai Lậy và Châu Thành), năng suất đạt 61,3 tạ/ha, giảm 1,1% so cùng kỳ; sản lượng đạt 152.715 tấn, tăng 7,5% so cùng kỳ. Cây ngô: trong tháng gieo trồng 172 ha, thu hoạch 62 ha với sản lượng 203 tấn. Đến nay gieo trồng được 1.634 ha, đạt 46,7% kế hoạch, giảm 37,7% so cùng kỳ, thu hoạch 1.384 ha, năng suất quy thóc 35,5 tạ/ha với sản lượng quy thóc 4.788 tấn, đạt 37,7% kế hoạch, giảm 37,1% so cùng kỳ do chịu ảnh hưởng một phần hạn mặn kéo dài nên người dân chuyển đổi sang trồng cây thanh long và một số cây ăn quả khác. Cây rau đậu các loại: Đến nay gieo trồng được 41.881 ha, đạt 67,1% kế hoạch, tăng 10% so cùng kỳ, thu hoạch 35.217 ha với sản lượng 695.044 tấn, đạt 57,5% kế hoạch, tăng 4,9% so cùng kỳ (trong đó: rau các loại 41.678 ha, thu hoạch 35.086 ha với sản lượng 694.639 tấn). * Chăn nuôi: ước thời điểm 01/06/2021 tổng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh như sau: đàn bò 121,6 ngàn con, tăng 2,3%; đàn lợn 295,8 ngàn con, giảm 15,9%; đàn gia cầm (không kể chim cút) 18 triệu con, giảm 3% so cùng kỳ. Chăn nuôi gia cầm giảm so cùng kỳ là do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 dẫn đến việc tiêu thụ giảm, chăn nuôi lợn giảm so cùng kỳ do dịch bệnh còn nhiều nguy cơ tiềm ẩn, dịch tả lợn châu phi còn xảy ra trên địa bàn tỉnh, giá thức ăn tăng cao trong khi giá lợn hơi giảm từ 0,8 đến 1 triệu đồng/ tạ so đầu năm người nuôi lo sợ khi tái đàn; một số hộ chuyển sang nuôi vật nuôi khác; giá cả thịt lợn hơi thường xuyên liên tục biến động, người chăn nuôi không dự đoán được thị trường nên rất lo lắng khi tái đàn; giá thức ăn chăn nuôi từ đầu năm đến nay liên tục tăng mạnh (giá hiện nay tăng khoảng 30% so đầu năm). Tình hình dịch bệnh trên vật nuôi 6 tháng đầu năm 2021: Dịch bệnh trên gia cầm: Ghi nhận 03 trường hợp/03 xã/03 huyện có gà bệnh cúm với tổng đàn 15.437 con; trong đó, gà bệnh và chết được tiêu hủy dưới sự giám sát của chính quyền địa phương là 3.830 con. Tình hình dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP): Từ ngày 15/12/2020, đến nay trên địa bàn toàn tỉnh ghi nhận 16 hộ có heo mắc bệnh DTLCP với tổng đàn 374 con tại 10 xã/06 huyện (Châu Thành: 01 xã; Gò Công Tây: 03 xã; Gò Công Đông: 03 xã; Tân Phú Đông: 01 xã; Cái Bè: 01 xã; Chợ Gạo: 01 xã). Tổng số heo được tiêu hủy dưới sự giám sát của chính quyền địa phương là 317 con, khối lượng 7.720 kg trên 16 hộ. Ngoài ra, địa phương tiêu hủy heo bệnh chết tại 02 hộ cũ (năm 2020), với số lượng 105 con/2.973 kg. Tình hình dịch bệnh lở mồm long móng (LMLM): Ghi nhận 01 trường hợp heo mắc bệnh LMLM tại huyện Cái Bè, tổng đàn 35 con. Chính quyền địa phương tổ chức tiêu hủy 35 con heo bệnh với khối lượng 3,917 tấn; đồng thời triển khai thực hiện công tác tiêu độc khử trùng tại cơ sở thu gom heo và vùng bị uy hiếp. 2.2. Thủy hải sản: Sáu tháng đầu năm 2021 toàn tỉnh thả nuôi được 13.213 ha, đạt 87% kế hoạch, tăng 3,7% so cùng kỳ, trong đó: + Nuôi thủy sản nước ngọt: Trong sáu tháng đầu năm tỉnh thả nuôi được 3.859 ha, so cùng kỳ tăng 12,4%. Nguyên nhân ít bị ảnh hưởng hạn mặn kết hợp với mực nước nội đồng đủ nước nên các hộ tiến hành thả nuôi. Ngoài việc nuôi theo truyền thống ở hộ gia đình thì phong trào nuôi cá da trơn dọc bờ sông Tiền với hình thức nuôi công nghiệp cũng duy trì. + Nuôi thủy sản mặn, lợ: Trong sáu tháng đầu năm toàn tỉnh nuôi được 9.354 ha, tăng 0,5% so cùng kỳ, diện tích tăng chủ yếu là nuôi tôm sú nuôi quảng canh và nuôi tôm thẻ chân trắng do độ mặn và thời tiết thích hợp, các hộ nuôi tôm thâm canh và quảng canh cải tiến rất thận trọng trong việc chọn mua giống. Tình hình nuôi nghêu ổn định, các sân nuôi tiếp tục thu hoạch và thả nuôi nghêu trở lại, ngành chức năng tăng cường thực hiện quan trắc môi trường tại vùng nuôi nghêu tập trung. Sản lượng thu hoạch 146.237 tấn, đạt 49,8% kế hoạch, tăng 2,6% so cùng kỳ; trong đó: trong đó: sản lượng thu hoạch từ nuôi 73.593 tấn, tăng 1,7% so cùng kỳ; sản lượng khai thác 72.644 tấn, tăng 3,6% so cùng kỳ, chủ yếu là khai thác biển được đầu tư đóng mới, nâng cấp năng lực khai thác biển. Thời tiết thuận lợi cho hoạt động đánh bắt, hiện nay các phương tiện không còn đánh bắt nhỏ lẻ như trước đây mà ngư dân đã tự nguyện gia nhập vào các tổ hợp tác hoặc hợp tác xã để thuận lợi hơn trong đánh bắt hải sản nhất là khi khai thác xa bờ dễ dàng tương trợ, phối hợp cùng nhau để đạt hiệu quả được cao hơn và an toàn hơn, nên ngư dân khai thác trúng mùa đạt sản lượng. Tỉnh tiếp tục theo dõi tình hình triển khai thực hiện Chỉ thị 45/CT-TTg ngày 13/12/2017 về một số nhiệm vụ, giải pháp cấp bách để khắc phục cảnh báo của Ủy ban Châu Âu về chống khai thác hải sản bất hợp pháp và vi phạm lãnh hải, theo quy định không báo cáo đồng thời thiết thực triển khai công điện 732 của Thủ tướng Chính phủ về việc ngăn chặn, chấm dứt tình trạng ngư dân, tàu cá Việt Nam đánh bắt trên lãnh hải nước bạn. 3. Sản xuất công nghiệp: Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 6 tháng đầu năm 2021 tăng 3,1% so cùng kỳ; trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 3,1%; ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 5,3%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 3,4%. Sản phẩm sản xuất công nghiệp 6 tháng năm 2021: Có 19/39 sản phẩm tăng so cùng kỳ: Bộ com lê, quần áo đồng bộ, áo jacket, quần dài, quần yếm, quần soóc cho người lớn dệt kim hoặc đan móc tăng 57,1%; Cáp đồng trục và dây dẫn điện đồng trục tăng 51%; Cấu kiện làm sẵn cho xây dựng hoặc kỹ thuật dân dụng, bằng xi măng, bê tông hoặc đá nhân tạo tăng 45,9%;... Có 20/39 sản phẩm giảm so cùng kỳ: Phi lê đông lạnh giảm 24,1%; Giày, dép thể thao có mũ bằng da và có đế ngoài giảm 14,1%; Áo khoác dài, áo khoác không tay, áo khoác có mũ, áo gió cho người lớn dệt kim hoặc đan móc giảm 13,9%; … 4. Chỉ số giá tiêu dùng: Trước tình diễn biến phức tạp của Covid-19, toàn tỉnh cách ly theo Chỉ thi 15/CT-TTg, huyện Cái Bè và Cai Lậy thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị số 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ kể từ ngày16/6/2021; Ngày 28/5/2021, Sở Giao thông vận tải tỉnh Tiền Giang ban hành Thông báo số 992/TB-SGTVT về việc tạm dừng hoạt động vận tải hành khách đến tỉnh Long An và Thành phố Hồ Chí Minh, đến ngày 3/6/2021 dừng toàn bộ hoạt động vận chuyển hành khách trên địa bàn tỉnh.....tác động đến chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6/2021 tăng 0,04% so tháng 5/2021; so cùng kỳ tăng 3,34%. CPI bình quân sáu tháng đầu năm 2021 so cùng kỳ tăng 2,51%. So với tháng 5/2021, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có 6 nhóm tăng: May mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,18%; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,61%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,2%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%; Giao thông tăng 1,31% và Hàng hóa dịch vụ khác tăng 0,11%. Có 4 nhóm giảm: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,63%; Đồ uống và thuốc lá giảm 0,03%; Bưu chính viễn thông giảm 0,15% Văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,01%. Riêng nhóm Giáo dục chỉ số giá ổn định. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6/2021 tăng so tháng 5/2021 do: Giá rau tươi, khô và chế biến tăng 3,66% nguyên nhân là do cuối vụ thu hoạch, sản lượng cung cấp ra các chợ giảm, dẫn đến giá tăng; Cùng với đó, tại địa phương thực hiện nghiêm túc giãn cách xã hội (tạm dừng buôn bán các quán ăn, uống bên ngoài) trong mùa dịch bệnh Covid, để tiện lợi ăn uống trong gia đình nên nhu cầu tiêu dùng một số mặt hàng tăng như: trứng gia cầm các loại tăng 5,26%, thuỷ hải sản chế biến tăng 0,71%, nước mắm nước chấm tăng 0,55% so với tháng trước. Giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 1,13% và dịch vụ sửa chữa nhà ở tăng 0,55%. Nguyên nhân do nhu cầu xây dựng trong mùa nắng tăng. Hiện đang vào mùa hè, thực hiện giản cách xã hội nhu cầu sử dụng điện tăng, dẫn đến giá tăng 0,2%. Giá gas tăng 4,51%, tương ứng tăng 14.000 đồng/bình 12kg vào ngày 1/6/2021. Cùng với đó, giá dầu hoả tăng 4,38%, tương ứng tăng 590 đồng/lít vào ngày 11/6/2021, tác động đến nhóm gas và các loại chất đốt khác tăng 4,22%, góp phần làm CPI chung tháng này tăng 0,05%. Giá xăng dầu tăng 2,8% so với tháng trước, góp phần làm CPI chung tăng khoảng 0,12%. Bên cạnh đó, một số mặt hàng có chỉ số giá giảm nhưng tỷ trọng quyền số nhỏ nên tác động chưa đủ lớn đến chỉ số giá tiêu dùng chung như: Do tình hình dịch bệnh Covid diễn biến phức tạp, tình hình giao thương hàng hoá nông sản qua biên giới gặp khó khăn, dẫn đến giá gạo bán lẻ tại địa phương tháng này giảm 0,6% so với tháng trước. Giá thịt lợn giảm 4,02%, thịt bò giảm 1,19%, nội tạng động vật giảm 5,75%, thịt gà giảm 1,04% so với tháng trước. Nguyên nhân do lượng cung trong nước dồi dào, trong khi đó mức tiêu dùng trong nước có giới hạn (do ngành du lịch, các quán ăn, bếp ăn tập thể tạm ngừng hoạt động). Giá quả tươi và chế biến giảm 9,42% do ảnh hưởng bùng phát dịch bệnh, hàng nông sản xuất khẩu gặp nhiều khó khăn, sản lượng trong nước dồi dào, giá bán lẻ giảm mạnh. Chỉ số giá vàng 24 kara Ngọc Thẩm bình quân trong tháng giảm 0,08%. Hiện nay giá vàng bình quân duy trì ở mức 5.275.000 đồng/chỉ tăng 483.000 đồng/chỉ so với cùng kỳ. Chỉ số giá đô la Mỹ trong nước bình quân trong tháng giảm 0,17%. Hiện nay giá bình quân Đô la Mỹ duy trì ở mức 23.110 đồng/USD giảm 228 đồng/USD so với cùng kỳ. 5. Thương mại, dịch vụ: Năm tháng đầu năm hoạt động kinh doanh trên địa bàn tỉnh diễn ra ổn định, lượng hàng hóa cung ứng cho thị trường dồi dào, các đơn vị phân phối lớn đã chủ động dự trữ hàng hóa thiết yếu và hàng hóa khác phục vụ nhu cầu mua sắm của người dân đầy đủ. Sang tháng 6 do ảnh hưởng dịch bệnh bùng phát trên địa bàn tỉnh, để phòng chống dịch toàn tỉnh thực hiện giãn cách theo Chỉ thị 15/CT-TTG từ ngày 12/6/2021, từ ngày 13/6/2021 huyện Cái Bè, Thị xã Cai Lậy và một số xã huyện Cai Lậy giản cách theo Chỉ thị 16/CT-TTG nên một số thời điểm, nhu cầu mua dự trữ nhóm lương thực thực phẩm có tăng so với bình thường. 5.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng sáu tháng đầu năm 2021 đạt 32.970 tỷ đồng, đạt 46,9% kế hoạch, tăng 14,7% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 26.752 tỷ đồng, tăng 14,2%; lưu trú, ăn uống 2.857 tỷ đồng, tăng 11,7%; du lịch lữ hành 6 tỷ đồng, giảm 70,4%; dịch vụ tiêu dùng 3.356 tỷ đồng, tăng 21,9% so cùng kỳ. Nếu loại trừ yếu tố giá, tổng mức bán lẻ hàng hóa dịch vụ tiêu dùng 6 tháng đầu năm 2021dự kiến tăng 12,5% so cùng kỳ. 5.2. Xuất nhập khẩu Giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng hóa 6 tháng đầu năm 2021 ước đạt 1.707 triệu USD, đạt 52,5% kế hoạch, tăng 28,3% so cùng kỳ; trong đó: kinh tế nhà nước 3,4 triệu USD, giảm 78,3%; kinh tế ngoài nhà nước 263,3 triệu USD, giảm 9,9%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 1.440,3 triệu USD, tăng 40,9% so cùng kỳ. Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa 6 tháng đầu năm 2021 thực hiện 994 triệu USD, đạt 55,2% kế hoạch, tăng 35,1% so cùng kỳ; trong đó: kinh tế ngoài nhà nước 50,7 triệu USD, tăng 5,8%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 943,3 triệu USD, tăng 37,1% so cùng kỳ. 5.3. Vận tải, kho bãi Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải 6 tháng đầu năm 2021 thực hiện 993 tỷ đồng, giảm 1% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 282 tỷ đồng, giảm 0,1% so cùng kỳ; vận tải hàng hóa thực hiện 610,8 tỷ đồng, giảm 0,7% so cùng kỳ. Vận tải đường bộ thực hiện 255,7 tỷ đồng, tăng 6,2%; vận tải đường thủy thực hiện 335 tỷ đồng, giảm 5,2%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 100 tỷ đồng, giảm 5,4% so cùng kỳ. Vận chuyển hành khách 6 tháng đầu năm 2021 đạt 16.032 ngàn hành khách, giảm 4% và luân chuyển 305.072 ngàn hành khách.km, tăng 4,3% so cùng kỳ; trong đó: vận chuyển đường bộ 7.678 ngàn hành khách, tăng 7,2% và luân chuyển 293.383 ngàn hành khách.km, tăng 5,9% so cùng kỳ; vận chuyển đường thủy 8.354 ngàn hành khách, giảm 12,4% và luân chuyển 11.689 ngàn hành khách.km, giảm 24.8% so cùng kỳ. Vận tải hàng hóa 6 tháng đầu năm 2021 đạt 5.744 ngàn tấn, giảm 0,3% và luân chuyển 727.305 ngàn tấn.km, giảm 2,8% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ thực hiện 1.449 ngàn tấn, tăng 16,5% và luân chuyển được 151.374 ngàn tấn.km, giảm 2,2% so cùng kỳ; vận tải đường thủy thực hiện 4.295 ngàn tấn, giảm 5% và luân chuyển 575.931 ngàn tấn.km, giảm 2,9% so cùng kỳ. 5.4 Du lịch. Trước tình hình dịch Covid-19 có những diễn biến phức tạp trên cả nước. Một số doanh nghiệp du lịch tiếp tục thu hẹp hoặc dừng hoạt động kinh doanh, lượng khách du lịch đến tỉnh giảm mạnh so với cùng kỳ. Ước lượng khách du lịch đến tỉnh 6 tháng đầu năm 2021 được 270 ngàn lượt, đạt 24,6% kế hoạch, giảm 39,4% so cùng kỳ; trong đó khách quốc tế 3,8 ngàn lượt, bằng 4%. Doanh thu hoạt động lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành 2.862 tỷ đồng, tăng 11,1% so cùng kỳ; trong đó doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống chiếm 99,8%. 6. Tài chính - Ngân hàng: Thu ngân sách nhà nước: 6 tháng đầu năm 2021 thu được 11.764 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn thực hiện 5.309 tỷ đồng, đạt 50% dự toán và tăng 0,2% so cùng kỳ; thu nội địa 5.179 tỷ đồng, đạt 50,1% dự toán, đạt tương đương so cùng kỳ. Nếu loại trừ số thu tiền sử dụng đất thì có 06/11 địa phương ước thu đạt trên 50% dự toán năm cụ thể như: huyện Châu Thành; huyện Tân Phước; huyện Chợ Gạo; huyện Gò Công Đông; thị xã Gò Công; huyện Tân Phú Đông. Các khoản thu chủ yếu như sau: + Thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 1.740 tỷ đồng, đạt 50,4% dự toán, tăng 2,1% so cùng kỳ, do do những tháng đầu năm 2021 tình hình dịch bệnh Covid-19 trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định, hoạt động sản xuất kinh doanh và dịch vụ ăn uống diễn ra bình thường nên các doanh nghiệp đẩy mạnh sản suất và người dân gia tăng tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa. + Thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 595 tỷ đồng, đạt 42,5% dự toán, giảm 6,1% so cùng kỳ do tác động của dịch Covid-19 trong quý II năm 2021. Hiện nay, do yêu cầu của địa phương tiếp tục chống dịch Covid-19, một số ngành nghề chưa được phép hoạt động trở lại... Đồng thời, giảm 30% số thuế thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp năm 2020 đối với doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp và tổ chức khác theo Nghị định số 114/2020/NĐ-CP ngày 25/9/2020 của Chính phủ. Đối với doanh nghiệp vận tải hoạt động giảm sút, vận tải hàng hóa ít, cước vận tải giảm, hạn chế xuất nhập khẩu ở biên giới, phương tiện vận tải hàng hóa đường dài Bắc - Nam giảm sút đáng kể dẫn đến lượng xăng dầu sử dụng giảm nên số thuế bảo vệ môi trường giảm. Năm 2020 Chính phủ ban hành Nghị định số 70/2020/NĐ-CP ngày 28/6/2020 quy định mức thu lệ phí trước bạ đối với ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước giảm 50%, thời gian thực hiện hết năm 2020 nên người dân đã thực hiện giao dịch trong năm 2020. Năm 2021, quy định này đã hết thời gian ưu đãi nên các giao dịch mua bán giảm mạnh. + Thu từ hoạt động xổ số kiến thiết 860 tỷ đồng, đạt 52,1% dự toán, tăng 4,2% so cùng kỳ do Công ty TNHH MTV Xổ số Kiến thiết Tiền Giang tăng số lượng vé phát hành và đạt tỷ lệ tiêu thụ bình quân trên 99%. Chi ngân sách nhà nước: Tổng chi ngân sách 6 tháng đầu năm 2021 là 6.804 tỷ đồng, đạt 55,5% kế hoạch và giảm 28,5% so cùng kỳ; trong đó: chi đầu tư phát triển 1.804 tỷ đồng, đạt 48,7% dự toán, giảm 39,9%; chi hành chính sự nghiệp 3.330 tỷ đồng, đạt 48,5% dự toán và giảm 1,1% so cùng kỳ. Trong đó: bố trí kinh phí phòng, chống dịch Covid-19 khoảng 42 tỷ đồng; kinh phí tổ chức tiêm vắc xin phòng Covid-19 giai đoạn 2021-2022 là 89,6 tỷ đồng, dự kiến huy động từ nguồn sự nghiệp y tế, kinh phí tiết kiệm chi ngân sách cấp tỉnh năm 2020 và đóng góp của các cá nhân, tổ chức. Ngân hàng: Đến cuối tháng 5/2021, vốn huy động đạt 76.931 tỷ đồng, tăng 1,4% so với cuối năm 2020, giảm 2,5% so với cùng kỳ năm trước. Tổng dư nợ toàn tỉnh đạt 68.903 tỷ đồng, tăng 7,2% so với cuối năm 2020, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước. Ước tính đến cuối tháng 6/2021 vốn huy động đạt 77.002 tỷ đồng, tăng 1.153 tỷ, tăng 1,5%; tổng dư nợ 69.138 tỷ đồng, tăng 4.836 tỷ đồng, tăng 7,5% so với cuối năm 2020. Mặt bằng lãi suất tiếp tục được duy trì phù hợp, ổn định ở mức thấp nhằm tạo điều kiện cho các đối tượng khách hàng duy trì sản xuất kinh doanh do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19. Lãi suất huy động tối đa bằng VND đối với tiền gửi có kỳ hạn dưới 6 tháng như sau: 0,5%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và kỳ hạn dưới 1 tháng; 4,75%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng. Kết quả thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho khách hàng bị thiệt hại do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19: Ngân hàng nhà nước tỉnh có văn bản triển khai Thông tư 03/2021/TT-NHNN ngày 02/4/2021sửa đổi, bổ sung Thông tư số 01/2020/TT-NHNN đến các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn. Đồng thời chỉ đạo các TCTD trên địa bàn tỉnh tiếp tục thực hiện các giải pháp hỗ trợ khách hàng tại công văn số 3947/NHNN-TD ngày 03/6/2021 về việc triển khai các biện pháp tăng cường phòng, chống và tháo gỡ khó khăn do tác động của dịch Covid-19. Đến cuối tháng 4/2021, tổng dư nợ bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19 là 9.910 tỷ đồng. Trong đó, doanh nghiệp bị ảnh hưởng chiếm 56,7%, cá nhân chiếm 42,4%. Một số ngành có tỷ lệ dư nợ bị ảnh hưởng lớn như: Công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm 37,6% tổng dư nợ; bán buôn và bán lẻ 23,5%; hoạt động dịch vụ 15,2% tổng dư nợ. Các TCTD đã triển khai có hiệu quả các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho 3.421 khách hàng như: Cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ cho 268 khách hàng với dư nợ được cơ cấu là 139 tỷ đồng; Miễn giảm lãi cho 131 khách hàng với dư nợ 30 tỷ đồng; Cho vay mới với lãi suất ưu đãi thấp hơn so với lãi suất cho vay trước khi có dịch 3.022 khách hàng với doanh số cho vay mới lũy kế từ ngày 23/01/2020 đạt 24.680 tỷ đồng. Thực hiện Nghị quyết số 42/NQ-CP ngày 09/4/2020 của Chính phủ về các biện pháp hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19 và Nghị quyết số 154/NQ-CP ngày 19/10/2020 sửa đổi, bổ sung NQ42: Đến cuối tháng 5/2021, Ngân hàng Chính Sách Xã Hội tỉnh đã giải ngân cho vay đối với 6 đơn vị với dư nợ đạt 978 triệu đồng. Thời gian vay là 12 tháng, lãi suất là 0%/năm. 7. Đầu tư và Xây dựng: Vốn đầu tư toàn xã hội quý II/2021, ước thực hiện được 8.775 tỷ đồng, đạt 22,1% kế hoạch, tăng 2,2% so cùng kỳ; trong đó: vốn đầu tư của dân cư và tư nhân 6.434 tỷ đồng, chiếm 73,3%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 785 tỷ đồng, chiếm 8,9%; vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước 925 tỷ đồng, chiếm 10,5%. Ước 6 tháng đầu năm 2021, vốn đầu tư toàn xã hội ước thực hiện 15.443 tỷ đồng, đạt 38,8% kế hoạch, tăng 2,4% so cùng kỳ; trong đó: vốn đầu tư của dân cư và tư nhân 11.473 tỷ đồng, tăng 7,9%, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 1.565 tỷ đồng, giảm 23,7%, vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước 1.541 tỷ đồng, giảm 5,8% so cùng kỳ. 8. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp: Trong 6 tháng đầu năm 2021, tỉnh tiếp tục triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt xây dựng dự thảo Nghị quyết của Tỉnh ủy và Kế hoạch hành động của UBND tỉnh về tiếp tục lãnh đạo nâng cao hiệu quả công tác hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đến năm 2025. Tuy nhiên, bên cạnh thuận lợi, do tình hình dịch Covid-19 bùng phát trở lại làm ảnh hưởng đến tình hình phát triển doanh nghiệp, đặc biệt trong tháng 5, tháng 6 số lượng doanh nghiệp đăng ký giảm mạnh. Ước thực hiện 6 tháng năm 2021 có 364 doanh nghiệp thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 2.900 tỷ đồng, đạt 51,3% so với kế hoạch phát triển doanh nghiệp năm 2021, giảm 3,2% về số doanh nghiệp và tăng 25,3% về vốn đăng ký so cùng kỳ. Vốn đăng ký bình quân là 8 tỷ đồng/doanh nghiệp. Có 427 đơn vị trực thuộc đăng ký hoạt động (gồm 83 chi nhánh, 330 địa điểm kinh doanh, 13 văn phòng đại diện); 75 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 36%; 35 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh, tăng 130% cùng kỳ. Tính đến cuối tháng 6/2021, toàn tỉnh hiện có khoảng 6.510 doanh nghiệp đăng ký hoạt động. III. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Lao động, giải quyết việc làm: Ước tính sáu tháng đầu năm 2021, giải quyết việc làm cho 7.278 lao động đạt 45,5% so với kế hoạch năm, tăng 109,7% so với cùng kỳ; trong đó: 5.525 lao động được tạo việc làm thông qua chính sách thu hút đầu tư phát triển kinh tế xã hội của tỉnh; 1.616 lao động được tạo việc làm thông qua chính sách vay vốn từ Quỹ Quốc gia về việc làm, vốn ủy thác qua Ngân hàng Chính sách xã hội cho vay giải quyết việc làm; đưa 137 lao động làm việc ở nước ngoài đạt 45,7% so với kế hoạch năm, giảm 19,4% so với cùng kỳ năm 2020. Hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19: Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, ban hành quyết định phê duyệt danh sách và kinh phí hỗ trợ cho 3.704 người lao động, trong đó người lao động không có giao kết hợp đồng lao động bị mất việc làm thuộc đối tượng theo quy định tại Quyết định số 15/2020/QĐ-TTg ngày 24/4/2020 là 775 người, người lao động thuộc đối tượng theo quy định tại Quyết định số 3639/QĐ-UBND ngày 08/12/2020 của UBND tỉnh là 2.793 người và người lao động làm việc theo chế độ hợp đồng lao động phải thỏa thuận tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương theo quy định tại Nghị quyết số 154/NQ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ là 136 người, với tổng số tiền hỗ trợ trên 3,8 tỷ đồng. 2. Đời sống dân cư và an sinh xã hội: Quỹ đền ơn đáp nghĩa vận động được gần 3,8 tỷ đồng, đạt 38% kế hoạch năm tương đương cùng kỳ năm 2020, xây dựng 15 căn nhà tình nghĩa với tổng kinh phí 600 triệu đồng đạt 12% kế hoạch năm giảm 25% so với cùng kỳ năm 2020; sửa chữa 16 căn nhà tình nghĩa với tổng kinh phí 320 triệu đồng đạt 32% kế hoạch năm giảm 22% so với cùng kỳ năm 2020. 3. Hoạt động y tế: Theo báo cáo của Sở Y tế tỉnh Tiền Giang: kể từ ngày 05/6/2021, khi có trường hợp mắc COVID-19 đầu tiên ngoài cộng đồng, đến ngày 23/6/2021 tỉnh đã có 10 ổ dịch với tổng cộng 61 bệnh nhân, ghi nhận 01 trường hợp bệnh nhân COVID-19 tử vong ngày 21/06/2021. Hoàn thành công tác tiêm vắc xin ngừa COVID-19 đợt 1 và đợt 1 bổ sung năm 2021 với tổng số đã tiêm được 13.299 người, đạt 107,25%. Kế hoạch số 2682/KH-SYT ngày 17/6/2021 về việc tiêm vắc xin ngừa COVID-19 trên địa bàn tỉnh đợt 2 năm 2021(giai đoạn 2021-2022) được Bộ y tế phân bổ đợt 2 là 20.000 liều, triển khai từ ngày 21/6/2021 đến trước ngày 30/6/2021. Trong sáu tháng đầu năm 2021, trên địa bàn tỉnh ghi nhận 12/44 bệnh truyền nhiễm, 08 bệnh tăng so với cùng kỳ (sốt xuất huyết, tay chân miệng, tiêu chảy, uốn ván khác, viêm gan siêu vi A, viêm gan siêu vi B, viêm não vi rút khác, covid-19); 07 bệnh giảm so với cùng kỳ (ho gà, lao phổi, lỵ a míp, quai bị, sởi, thủy đậu, viêm gan siêu vi C); 29 bệnh tương đương và hoặc không xảy ra ca mắc; 1 trường hợp tử vong do bệnh tay chân miệng; Ghi nhận 1.274 ca mắc sốt xuất huyết Dengue, 01 trường hợp tử vong; 5.885 người nhiễm HIV, 1.803 người chuyển sang AIDS, 993 người tử vong do AIDS; Ghi nhận 05 vụ ngộ độc thực phẩm với số 64 trường hợp, tử vong 01 trường hợp. Hoạt động khám chữa bệnh so với cùng kỳ năm 2020, tổng số lần khám bệnh giảm 0,8% và tổng số người điều trị nội trú tăng 2,3%. Công suất sử dụng giường bệnh bình quân trong tháng đạt 75%. 4. Hoạt động văn hóa - thể thao: Hoạt động bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021- 2026: trong tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp, nhằm đảm bảo không tập trung đông người để phòng tránh dịch bệnh, công tác tuyên truyền, vận động trong Nhân dân về cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021- 2026 trên địa bàn tỉnh Tiền Giang được thực hiện như: thông tin, tuyên truyền thông qua các kênh truyền thông đại chúng, tuyên truyền lưu động, các pa - nô, áp-phích, băng rôn, phát hành 32.000 tài liệu sinh hoạt về Ngày Pháp luật, tuyên truyền trên báo chí, trên sóng truyền thanh, truyền hình, trên hệ thống văn phòng điện tử của các cơ quan, đơn vị hoặc qua hệ thống loa truyền thanh tại các ấp, khu phố để mọi người dân đều được nhận thông tin về cuộc bầu cử. Ngoài ra, Mặt trận Tổ quốc đã tổ chức tuyên truyền về bầu cử gồm 40 cuộc cho chức sắc, chức việc, tín đồ tôn giáo với hơn 3.200 người. Các cấp Hội nông dân tuyên truyền trong cán bộ hội cơ sở và hội viên với 2.161 cuộc, 64.827 lượt người dự. Liên đoàn lao động đã tổ chức 08 cuộc tuyên truyền về bầu cử cho gần 500 công nhân, lao động tại 05 doanh nghiệp ở khu Công nghiệp Tân Hương và LongGiang, 03 khu nhà trọ công nhân tự quản; 17 công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở tổ chức 67 cuộc tuyên truyền cho công nhân, lao động ở các đơn vị, doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước với 2.837 người. Hoạt động thể dục- thể thao: Trong sáu tháng đầu năm 2021, tổ chức 06 giải thể thao. Trong đó, giải Bóng đá Hạng Nhì quốc gia, giải Bóng bàn tỉnh Tiền Giang mở rộng lần VII – Tranh Cúp Sài Gòn Pingpong, giải Bóng chuyền hơi nữ CĐVC tỉnh Tiền Giang, giải Bóng đá mini trẻ tỉnh Tiền Giang, giải Bóng đá VĐ tỉnh Tiền Giang Giải thể thao kỷ niệm 75 năm Ngày Thể thao Việt Nam. Tham dự 11 giải Quốc gia và khu vực, đạt 33 huy chương các loại (12 HCV, 8 HCB, 13 HCĐ). 5. Trật tự an toàn giao thông: (Theo báo cáo của ngành Công an). Giao thông đường bộ: Tổng số vụ từ đầu năm đến nay 324 vụ, giảm 163 vụ so cùng kỳ, làm chết 150 người, tăng 52 người so cùng kỳ, bị thương 227 người, tăng 141 người so cùng kỳ. Ước thiệt hại tài sản chung trị giá khoảng 3.053 triệu đồng. Giao thông đường thủy: Từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh xảy ra 03 vụ tai nạn, giảm 01 vụ so cùng kỳ, không phát sinh số người chết và bị thương. Ước thiệt hại về tài sản là 1.187 triệu đồng. Tình hình tai nạn giao thông đường bộ sáu tháng đầu năm 2021 so với cùng kỳ còn diễn biến phức tạp (tăng cả 02 tiêu chí: số người chết và số người bị thương). Nguyên nhân chủ yếu là do ý thức chấp hành của người tham gia giao thông như: đi không đúng phần đường, làn đường; lỗi do người đi bộ; vượt không đảm bảo an toàn và chuyển hướng không đúng quy định... Ý thức tự giác chấp hành pháp luật giao thông của người tham gia giao thông tuy có chuyển biến nhưng số vụ vi phạm các lỗi khi tham gia giao thông 6 tháng đầu năm 2021 vẫn còn ở mức cao (18.517 vụ), đối tượng vi phạm chủ yếu từ 27 tuổi đến 55 tuổi chiếm tỷ lệ cao. 6. Tình hình cháy nổ, môi trường: Trong tháng 6/2021, trên địa bàn tỉnh xảy ra 03 vụ cháy với tổng số tiền thiệt hại ước tính 150 triệu đồng, gồm cháy 02 nhà doanh nghiệp nguyên nhân cháy do chập điện 01 vụ, 01 vụ không xác định nguyên nhân do chủ cơ sở không yêu cầu khám nghiệm hiện trường, điều tra nguyên nhân cháy và đang điều tra 01 vụ cháy phương tiện. Nâng tổng số vụ cháy từ đầu năm đến nay là 20 vụ, tổng giá trị tài sản thiệt hại trên 5,3 tỷ đồng. Lĩnh vực môi trường trong sáu tháng đầu năm 2021, đã ban hành 15 quyết định xử phạt vi phạm gồm 03 tổ chức và 12 cá nhân giảm 13 trường hợp so với cùng kỳ năm 2020, với tổng số tiền trên 286 triệu đồng. Nội dung vi phạm chủ yếu là thực hiện không đúng một trong các nội dung báo cáo đánh giá tác động môi trường và các yêu cầu trong Quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường; khai thác sử dụng nước dưới đất không có giấy phép và thăm dò nước dưới đất không có giấy phép; khai thác cát làm vật liệu xây dựng thông thường không giấy phép. IV. MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 2021 Dự báo dịch Covid-19 sẽ kéo dài và diễn biến phức tạp cần theo dõi chặt chẽ những ca bệnh tại cộng đồng, cần tăng cường hơn các nỗ lực kiểm soát dịch bệnh dài hạn như: đánh giá hệ thống y tế để tìm ra điểm yếu, hạn chế từ đó đầu tư kịp thời, đảm bảo luôn chủ động phòng, chống dịch; ngăn chặn kịp thời nguồn bệnh lây lan ngoài cộng đồng. Một là: Tiếp tục triển khai thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp như: môi trường đầu tư, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tiếp tục rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính liên quan đến nhà đầu tư, doanh nghiệp, thúc đẩy khởi nghiệp, tổ chức Ngày hội khởi nghiệp tỉnh, xây dựng Đề án hỗ trợ khởi nghiệp của tỉnh; phát triển hộ kinh doanh hoạt động theo hình thức doanh nghiệp.... Cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, hạ lãi suất các khoản vay hiện hữu, tiết kiệm chi phí để giảm lãi suất cho vay phù hợp, hỗ trợ, đồng hành cùng doanh nghiệp vượt qua khó khăn trên cơ sở của Thông tư 01/2020/TT-NHNN ngày 13/3/2020, Chỉ thị số 02/CT-NHNN ngày 31/3/2020 và Thông tư 03/2021/TT-NHNN ngày 02/4/2021. Hai là: Tiếp tục theo dõi tình hình sản xuất cây lúa và các loại cây trồng, phối hợp với địa phương kiểm tra, theo dõi tình hình sâu, bệnh trên các loại cây trồng. Đồng thời thực hiện Đề án Tái cơ cấu Ngành Nông nghiệp gắn với thực hiện Nghị quyết 10-NQ/TU; theo dõi thực hiện Đề án “Cắt vụ, chuyển đổi mùa vụ và cơ cấu cây trồng các huyện phía Đông, tỉnh Tiền Giang đến năm 2025”. Ba là: Các ngành liên quan kiểm tra và đôn đốc các huyện, thành, thị triển khai thực hiện vốn xây dựng cơ bản cho các công trình trọng điểm, công trình giao thông nông thôn…nhằm thúc đẩy kinh tế - xã hội của địa phương. Đồng thời đẩy nhanh công tác giải ngân, thanh quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản. Bốn là: Triển khai thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 01/01/2021 của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và Dự toán NSNN năm 2021 và Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 01/01/2021 của Chính phủ về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2021 và các Nghị quyết, Quyết định của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh về công tác thu ngân sách trên địa bàn.
Tổng sản phầm trên địa bàn tỉnh Tiền Giang 6 tháng đầu năm 2021 tăng 3,31% so cùng kỳ
- 18/06/2024 16:14
Kinh tế của tỉnh sáu tháng đầu năm 2021, đang trên đà phục hồi và tăng trưởng tích cực, thời tiết những tháng đầu năm tương đối thuận lợi, dịch tả lợn châu Phi được kiểm soát tốt là những điều kiện thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, dịch Covid-19 bùng phát, lần đầu tiên trên địa bàn tỉnh có ca mắc trong cộng đồng đã đặt ra không ít khó khăn, thách thức trong công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội. Trước những thuận lợi và khó khăn đan xen, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh ngay từ đầu năm đã chỉ đạo các các sở, ngành tỉnh, các huyện, thành, thị thực hiện đồng bộ, linh hoạt, hiệu quả “mục tiêu kép” vừa phòng, chống dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe nhân dân, vừa phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, nỗ lực phấn đấu cao nhất thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2021. Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) 6 tháng đầu năm 2021 ước đạt 28.956 tỷ đồng, (giá so sánh năm 2010) tăng 3,31% so với cùng kỳ, khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,25%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 3,22% và khu vực dịch vụ tăng 4,56 % (bao gồm thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm); Nếu tách riêng thuế sản phẩm thì khu vực dịch vụ giảm 5,20 % và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 1,70% so cùng kỳ. Trong 3,31% tăng trưởng khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản đóng góp 25,40%, công nghiệp xây dựng đóng góp 27,57%, dịch vụ đóng góp 43,81% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đóng góp 3,22%. Tuy tốc độ tăng trưởng còn thấp so với kế hoạch cả năm, nhưng đạt được kết quả trên là quyết tâm rất lớn của lãnh đạo địa phương, các ngành, các cấp trong chỉ đạo điều hành, cộng với sự đồng lòng, phấn đấu vượt qua khó khăn của các cơ sở kinh tế và nhân dân trong tỉnh. GRDP nếu tính theo giá hiện hành đạt 49.197 tỷ đồng. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản: 6 tháng đầu năm 2021 tăng 2,25% so với 6 tháng đầu năm 2020; trong đó nông nghiệp tăng 2,13% (cùng kỳ giảm 6,10%). Trồng trọt có nhiều thuận lợi hơn 6 tháng đầu năm 2020, công tác phòng chống hạn mặn được triển khai sớm, diện tích bị thiệt hại không nhiều. Trà lúa Đông Xuân năm nay phát triển tốt, năng suất bình quân 71,1 tạ/ha, tăng 7,8% so cùng kỳ tương ứng tăng 5,1 tạ/ha; Giá lúa bình quân cao hơn so cùng kỳ nên bà con nông dân có lãi (cao hơn từ 1.900 đồng đến 2.500 đồng/kg tùy loại). Tuy nhiên có một số khu vực do chịu tác động của hạn mặn năm 2020 nên sản xuất còn khó khăn, ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng sản phẩm. Các vườn cây ăn trái ở các huyện phía Tây được nông dân chăm sóc, từng bước được phục hồi, nhưng cây còn yếu, nông dân chưa dám xử lý cho ra hoa trái vụ. Trong lĩnh vực chăn nuôi, dịch tả lợn châu Phi tuy được kiểm soát tốt nhưng còn xảy ra ở một số địa phương, người dân chưa mạnh dạn tái đàn do còn tiềm ẩn nhiều rủi ro, giá thức ăn tăng, giá bán sản phẩm chăn nuôi thấp so cùng kỳ … Ước tính đến thời điểm 01/6/2021 tổng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh như sau: đàn bò 121 ngàn con, tăng 2,3%; đàn lợn 295,8 ngàn con, giảm 15,9%; đàn gia cầm (không kể chim cút) 18 triệu con, giảm 3% so cùng kỳ. Giá cả các sản phẩm nông nghiệp trong kỳ lên xuống thất thường, có những thời điểm khó tiêu thụ sản phẩm, các loại cây ăn quả có giá bình quân thấp so cùng kỳ, nhất là xoài, bưởi, mít, thanh long ... Ngành thủy sản tăng 3,15% so cùng kỳ, sản lượng nuôi trồng và khai thác đều tăng. Do tác động của dịch Covid 19, một số mặt hàng thủy sản tiêu thụ chậm . Khu vực công nghiệp - xây dựng: tăng 3,22% so với 6 tháng đầu năm 2020; trong đó công nghiệp tăng 2,42%. Do tác động của dịch bệnh, các doanh nghiệp gặp khó khăn trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, nguyên vật liệu đầu vào phục vụ sản xuất … nhất là các doanh nghiệp chế biến thủy sản, chế biến thức ăn gia súc. Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực may mặc, sản xuất giày da từng bước được phục hồi, ổn định sản xuất. Các ngành chức năng thường xuyên theo dõi nắm tình hình hoạt động của các doanh nghiệp, kịp thời tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ doanh nghiệp yên tâm sản xuất. Tính đến thời điểm hiện tại các Khu công nghiệp của tỉnh thu hút được 107 dự án, diện tích đất thuê là 570,29 ha/769,34 ha chiếm tỷ lệ 74,13% diện tích đất công nghiệp cho thuê; Các cụm công nghiệp thu hút 79 dự án, diện tích thuê đất là 89,78 ha/120,56 ha, đạt 74,47% diện tích đất công nghiệp cho thuê. Ngành xây dựng tăng 8,54%, trong kỳ chủ yếu thực hiện các công trình chuyển tiếp từ năm 2020 chuyển sang và các công trình chống hạn, mặn. Trên địa bàn tỉnh có nhiều công trình trọng điểm của địa phương và trung ương; Trong đó có dự án cao tốc Trung lương – Mỹ Thuận, cầu Mỹ Thuận 2, bệnh viện Đa khoa tỉnh Tiền Giang, Điện gió Tân Phú Đông ... Giá sắt thép, vật liệu xây dựng, nhiên liệu trong 6 tháng đầu năm tăng cao, ảnh hưởng đến tiến độ xây dựng của các công trình. Khu vực dịch vụ: tăng 5,20 % so cùng kỳ. Hầu hết các ngành trong khu vực này điều tăng so cùng kỳ. Tuy nhiên cũng có một số ngành gặp nhiều khó khăn như: vận tải kho bãi, du lịch, ... Số khách du lịch đến địa bàn tỉnh 6 tháng đầu năm đạt 270.255 lượt khách, chỉ bằng 60,6% so cùng kỳ. Ngày 5/6/2021 lần đầu tiên trên địa bàn Tiền Giang có ca mắc Covid 19 trong cộng đồng, Tỉnh đã chủ động, kiểm soát được tình hình nhưng đến thời điểm hiện tại còn diễn biến rất phức tạp, toàn tỉnh thực hiện giản cách xã hội theo Chỉ thị 15/CT-TTg ngày 27/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ. Một số ngành trong khu vực này tạm dừng hoạt động, nếu dịch bệnh kéo dài sẽ ảnh hưởng lớn đến tốc độ tăng trưởng trong những tháng cuối năm. Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm 6 tháng đầu năm tăng 1,70% so cùng kỳ. Cơ cấu kinh tế: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 39,3% (cùng kỳ 39,4%); khu vực công nghiệp, xây dựng chiếm 26,2% (cùng kỳ 26,3%); khu vực dịch vụ chiếm 28,4% (cùng kỳ 28,1%); thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 6,1% (cùng kỳ 6,2%). NV.Tròn
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Tiền Giang Tháng 5 năm 2021
- 18/06/2024 16:18
Tháng 5/2021, tình hình dịch bệnh Covid-19 trong nước diễn biến phức tạp, tại Tiền Giang được kiểm soát tốt và không có ca mắc nào trong cộng đồng, trong tháng qua các ngành các cấp tập trung quyết liệt thực hiện theo chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh, thường xuyên tổ chức các đoàn kiểm tra tình hình phòng, chống dịch bệnh Covid-19 trước trong thời gian báo cáo. Đồng thời để đảm bảo kinh tế - xã hội phát triển các Sở ban ngành chủ động thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp vừa sản xuất kinh doanh vừa phòng chống dịch, kinh tế của tỉnh tiếp tục phát triển. Kết quả thực hiện trên các lĩnh vực đạt được như sau: I. SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP VÀ THỦY SẢN 1. Nông nghiệp Cây lương thực có hạt: trong tháng gieo trồng 10.842 ha, thu hoạch 2.300 ha với sản lượng 11.774 tấn; ước tính đến cuối tháng 5/2021, gieo trồng được 86.603 ha, đạt 64,7% kế hoạch, giảm 5,6% so cùng kỳ, sản lượng thu hoạch 382.885 tấn; trong đó: cây lúa gieo sạ 85.140 ha, thu hoạch 53.761 ha, sản lượng 378.300 tấn. - Cây lúa: + Vụ Đông Xuân 2020-2021: chính thức xuống giống 51.647 ha, đạt 100% kế hoạch gieo trồng của vụ, giảm 10,3% so cùng kỳ. Nguyên nhân giảm do chuyển từ diện tích trồng lúa sang trồng cây ăn quả cho giá trị kinh tế cao hơn như: sầu riêng, mít, thanh long,… Mặt khác, do hạn, mặn kéo dài ở khu vực phía Đông chưa xả sổ kịp độ mặn nên một số diện chuyển sang trồng rau, màu các loại. + Vụ Hè Thu: Diện tích gieo trồng trong tháng đạt 10.673 ha lũy kế diện tích gieo trồng là 33.493 ha, đạt 43,7% kế hoạch gieo trồng, chủ yếu là lúa Xuân hè ở các huyện phía Tây, trà lúa đang giai đoạn đứng cái, làm đồng và trổ chín. - Cây ngô: trong tháng gieo trồng 169 ha, thu hoạch 186 ha với sản lượng 663 tấn. Đến nay gieo trồng được 1.463 ha, đạt 41,8% kế hoạch, bằng 61,3% so cùng kỳ, thu hoạch 1.286 ha, năng suất quy thóc 35,7 tạ/ha với sản lượng quy thóc 4.585 tấn, đạt 36,1% kế hoạch, bằng 66,4% so cùng kỳ do chịu ảnh hưởng một phần hạn mặn kéo dài và do những xã hệ Bảo định chuyển đổi sang trồng cây thanh long và một số cây ăn quả khác. Cây rau đậu các loại: trong tháng gieo trồng 3.316 ha, thu hoạch 2.469 ha với sản lượng 31.638 tấn. Đến nay gieo trồng được 35.437 ha, đạt 56,8% kế hoạch, tăng 7,7% so cùng kỳ, thu hoạch 30.695 ha với sản lượng 603.141 tấn, đạt 49,9% kế hoạch, tăng 6,5% so cùng kỳ (trong đó: rau các loại 35.259 ha, thu hoạch 30.575 ha với sản lượng 602.779 tấn). Chăn nuôi: ước thời điểm 01/05/2021 tổng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh như sau: đàn bò 121,3 ngàn con, tăng 2,7%; đàn lợn 271,2 ngàn con, giảm 16%; đàn gia cầm (không kể chim cút) 17,5 triệu con, tăng 9,8% so cùng kỳ. 2. Lâm nghiệp: Tổng diện tích rừng hiện có trên địa bàn tỉnh Tiền Giang là 1.941,1 ha (không bao gồm diện tích rừng thuộc đất an ninh quốc phòng), cụ thể: 1.337,4 ha rừng phòng hộ và 603,8 ha rừng sản xuất. Ước đến hết tháng 5/2021 toàn tỉnh thực hiện trồng mới được 7 ngàn cây nâng tổng số cây trồng 14,15 ngàn cây, so với cùng kỳ giảm 27,99 %. Hiện nay đang vào mùa mưa thuận lợi cho trồng cây phân tán, trồng mới tập trung các xã chuẩn bị cho việc ra mắt nông thôn mới của huyện. Các loại cây được trồng xung quanh trên các bờ kênh, bờ ao, trên những tuyến đê. 3. Thủy hải sản: Diện tích nuôi thủy sản các loại trong tháng 344 ha tương đương so cùng kỳ; ước đến tháng 5/2021 toàn tỉnh thả nuôi được 12.197 ha, đạt 80,3% kế hoạch và tăng 1,5% so cùng kỳ, trong đó: + Nuôi thủy sản nước ngọt: Trong năm tháng đầu năm tỉnh thả nuôi được 3.408 ha, so cùng kỳ tăng 4,9%. Nguyên nhân nuôi trồng thủy sản nước ngọt tăng là do ít bị ảnh hưởng hạn mặn kết hợp với mực nước nội đồng đủ nước nên các hộ tiến hành thả nuôi. Ngoài việc nuôi theo truyền thống ở hộ gia đình thì phong trào nuôi cá da trơn dọc bờ sông Tiền với hình thức nuôi công nghiệp cũng duy trì. + Nuôi thủy sản mặn, lợ: Ước tính đến tháng 5 toàn tỉnh nuôi được 8.789 ha, tăng 0,2% so cùng kỳ, diện tích tăng chủ yếu là nuôi tôm sú nuôi quảng canh và nuôi tôm thẻ chân trắng, do độ mặn và thời tiết thích hợp, các hộ nuôi tôm thâm canh và quảng canh cải tiến rất thận trọng trong việc chọn mua giống. Tình hình nuôi nghêu ổn định, các sân nuôi tiếp tục thu hoạch và thả nuôi nghêu trở lại, ngành chức năng tăng cường thực hiện quan trắc môi trường tại vùng nuôi nghêu tập trung. Sản lượng thủy sản trong tháng ước tính thu hoạch 42.742 tấn, tăng 3,9% so cùng kỳ. Năm tháng đầu năm thu hoạch 130.305 tấn, đạt 44,4% kế hoạch, tăng 2,9% so cùng kỳ; trong đó: sản lượng thu hoạch từ nuôi 70.728 tấn, đạt 43,5% kế hoạch, tăng 5,3% so cùng kỳ; sản lượng khai thác 59.577 tấn, đạt 45,6% kế hoạch, tăng 0,1% so cùng kỳ chủ yếu là khai thác biển được đầu tư đóng mới, nâng cấp năng lực khai thác biển. Tỉnh tiếp tục theo dõi tình hình triển khai thực hiện Chỉ thị 45/CT-TTg ngày 13/12/2017 về một số nhiệm vụ, giải pháp cấp bách để khắc phục cảnh báo của Ủy ban Châu Âu về chống khai thác hải sản bất hợp pháp và vi phạm lãnh hải, theo quy định không báo cáo đồng thời thiết thực triển khai công điện 732 của Thủ tướng Chính phủ về việc ngăn chặn, chấm dứt tình trạng ngư dân, tàu cá Việt Nam đánh bắt trên lãnh hải nước bạn. II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 5/2021 giảm 1,5% so với tháng trước, do ảnh hưởng của dịch Covid-19 làm cho một số ngành sản xuất công nghiệp chủ yếu của tỉnh như: sản xuất thực phẩm, đồ uống, dệt, sản xuất da, sản xuất sản phẩm từ cao su plastic, sản xuất kim loại... giảm so với tháng trước (ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,98%, sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 8,7%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 1,5%) và tăng 5,4% so cùng kỳ do các ngành chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh sản xuất tăng, trong đó: sản xuất trang phục tăng 28,8%; đồ uống tăng 18,1%, sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 43,1%… (ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,3%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 12,9%; riêng ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 6,4%). Chỉ số sản xuất công nghiệp 5 tháng năm 2021 tăng 2,4% so cùng kỳ; trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 2,3%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 4,6%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 2,2%. Chỉ số sản xuất sản phẩm trong 5 tháng so cùng kỳ như sau: - Có 17/38 sản phẩm tăng so cùng kỳ: Bộ com lê, quần áo đồng bộ, áo jacket, quần dài, quần yếm, quần soóc cho người lớn dệt kim hoặc đan móc tăng 55,4%; Thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng viên tăng 37%; Cáp đồng trục và dây dẫn điện đồng trục tăng 32,7%; Giày, dép thể thao có đế ngoài và mũ giày bằng cao su và plastic tăng 26%; Tàu thuyền lớn chuyên chở người và hàng hóa có động cơ đẩy tăng 25,8%; Túi xách tăng 22%; Thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng bột/cốm tăng 21,7%;… - Có 21/38 sản phẩm giảm so cùng kỳ: Đồ chơi hình con vật hoặc sinh vật không phải hình người giảm 57,8%; Dịch vụ tiện các bộ phận kim loại giảm 35,1%; Dịch vụ sửa chữa, bảo dưỡng tàu, thuyền giảm 34,6%; Các bộ phận của bi, bánh răng, hộp số, các bộ phận điều khiển và truyền chuyển động khác giảm 27%; Phi lê đông lạnh giảm 21,2%; Áo khoác dài, áo khoác không tay, áo khoác có mũ, áo gió cho người lớn dệt kim hoặc đan móc giảm 16,9%; Giày, dép thể thao có mũ bằng da và có đế ngoài giảm 15,3%; … Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 5/2021 so với tháng trước tăng 1,1%, trong đó doanh nghiệp nhà nước bằng 100%, doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 2,9%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 0,6%. Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 5/2021 so với cùng kỳ giảm 7,1%, trong đó doanh nghiệp nhà nước giảm 1,1%, doanh nghiệp ngoài quốc doanh giảm 2,9%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm 8,5%. Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp cộng dồn từ đầu năm đến cuối tháng 5 năm 2021 giảm 9,7%, trong đó doanh nghiệp nhà nước giảm 1,5%, doanh nghiệp ngoài quốc doanh giảm 7,2%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm 10,6%. Chia theo ngành công nghiệp: Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 5 năm 2021 giảm 9,7%, trong đó ngành công nghiệp chế biến chế tạo giảm 9,9%; Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 0,1%; Cung cấp nước, hoạt động quản lý rác thải, nước thải giảm 3,9%. * Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: - Chỉ số tiêu thụ tháng 5/2021 so với tháng trước tăng 0,03% và tăng 1,2% so cùng kỳ. Chỉ số tiêu thụ cộng dồn từ đầu năm đến cuối tháng 5/2021 giảm 6,6%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao: Sản xuất đồ uống tăng 6,8%, trong đó sản xuất bia tăng 6,8%; Dệt tăng 6,4%, trong đó sản xuất hàng may sẳn tăng 46,2%; Sản xuất trang phục tăng 25,2%; Sản xuất da tăng 16,2%, trong đó sản xuất giày dép tăng 6,7%; Sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 16,5%; Sản xuất thiết bị điện tăng 30,6%, trong đó sản xuất dây cáp, dây điện tăng 23%;… Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm so cùng kỳ là: Sản xuất chế biến thực phẩm giảm 17%, trong đó chế biến, bảo quản thủy sản và các sản phẩm từ thủy sản giảm 32,8%; Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ giảm 11,63%; Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 6,64%; Sản xuất sản phẩm cao su và plastic giảm 13,15%; Sản xuất kim loại giảm 12,58%;… - Chỉ số tồn kho tháng 5/2021 so với tháng trước tăng 2,7% và so với cùng kỳ giảm 12,7%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so với cùng kỳ là: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 43,2%, trong đó sản xuất thức ăn cho gia súc, gia cầm và thuỷ sản tăng 62,7%; Sản xuất đồ uống tăng 3,4%, Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 36,7%;... Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tồn kho giảm so cùng kỳ là: Dệt giảm 10,1%, trong đó sản xuất sợi giảm 56,6%; Sản xuất trang phục giảm 5,9%; Sản xuất da giảm 20,9%, trong đó sản xuất giày dép giảm 17,5%; Sản xuất kim loại giảm 79,9%; Sản xuất thiết bị điện giảm 10,8%, trong đó sản xuất mô tơ điện giảm 12,3%; … * Tình hình thu hút đầu tư và phát triển các khu - cụm công nghiệp: - Khu công nghiệp: đến nay tỉnh đã được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương quy hoạch 7 khu công nghiệp với tổng diện tích 2.083,5 ha; trong đó có 4 khu công nghiệp đi vào hoạt động. Trong tháng, Ban Quản lý các khu công nghiệp đã điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho dự án Nhà máy công nghiệp đồng Jinhong Việt Nam (Khu công nghiệp Long Giang) về tiến độ góp vốn và tiến độ thực hiện dự án đầu tư. Năm tháng, điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 08 lượt dự án, trong đó có 03 lượt dự án điều chỉnh tăng vốn đầu tư với tổng số vốn tăng là 173,1 triệu USD. Đến cuối tháng 5/2021, tổng số dự án đầu tư tại các khu công nghiệp là 107 dự án (trong đó có 78 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài) với tổng vốn đầu tư là 4.576 tỷ đồng và 2.534 triệu USD. Diện tích cho thuê của các doanh nghiệp đạt 570,3 ha/769,3 ha, chiếm tỷ lệ 74,1% diện tích các khu công nghiệp. - Cụm công nghiệp: trên địa bàn tỉnh có 27 cụm công nghiệp được quy hoạch; trong đó có 4 cụm công nghiệp đang hoạt động. Trong tháng không thu hút dự án đầu tư mới. Tổng số dự án đầu tư tại các cụm công nghiệp hiện nay là 79 dự án (trong đó: có 6 dự án đầu tư nước ngoài) với tổng vốn đầu tư 2.306,2 tỷ đồng và 150,3 triệu USD, diện tích thuê đất là 89,8/120,6 ha, tỷ lệ lắp đầy đạt 74,5%. III. ĐẦU TƯ - XÂY DỰNG Trong tháng tình hình thực hiện vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn nhà nước do địa phương quản lý tăng do, các Ban quả lý dự án, Chủ đầu tư tập trung điều kiện đẩy nhanh tiến độ thi công đối với các công trình chuyển tiếp để bàn giao và đưa vào sử dụng. Tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý thực hiện trong tháng là 428 tỷ đồng, tăng 17,5% so cùng kỳ. Năm tháng đầu năm 2021 thực hiện 1.297 tỷ đồng, đạt 35,4% kế hoạch, tăng 19,5% so cùng kỳ. Các ngành các cấp yêu cầu Ban quản lý dự án, chủ đầu tư tập điều kiện đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình, ngoài ra lãnh đạo các cấp thường xuyên tổ chức các đoàn kiểm tra nhằm tháo gỡ khó khăn trong công tác thi công, phối hợp với các chủ đầu tư khắc phục khó khăn đẩy nhanh tiến độ thực hiện công trình nên khối lượng thực hiện tăng hơn so cùng kỳ, nhiều công trình hiện đã hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng, các công trình còn lại thực hiện đúng tiến độ đề ra. Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh thực hiện 986 tỷ đồng, đạt 33,2% kế hoạch, tăng 17,6% so cùng kỳ, chiếm 75,9% tổng số; trong đó: vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 173 tỷ đồng, tăng 22,8%, vốn xổ số kiến thiết thực hiện 466 tỷ đồng, tăng 13,3% so cùng kỳ... Các ngành các cấp yêu cầu các ban quản lý chủ đầu tư tập trung với cường độ cao hơn trong tổ chức thực hiện, ưu tiên đẩy nhanh tiến độ đầu tư công, kể cả tiến độ giải ngân nhằm phát triển kinh tế xã hội do ảnh hưởng của dịch Covid-19. Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp huyện thực hiện 245 tỷ đồng, đạt 62,6% kế hoạch, tăng 26,8% so cùng kỳ, chiếm 18,9% tổng số; trong đó: vốn tỉnh hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 115 tỷ đồng, tăng 18,5% so cùng kỳ... Các ban quản lý dự án huyện hoàn thành hồ sơ, khẩn trương thi công các công trình xây dựng cơ bản năm 2021, dự án giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới nên khối lượng thực hiện tăng hơn so cùng kỳ. Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp xã thực hiện 67 tỷ đồng, đạt 21,9% kế hoạch, tăng 23,1% so cùng kỳ, chiếm 5,2% tổng số; trong đó: vốn huyện hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 42 tỷ đồng, tăng 18% so cùng kỳ... Các xã tập trung điều kiện đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình xây dựng nông thôn mới năm 2021 nhằm phục vụ đi lại và vận chuyển hàng hóa của người dân đồng thời phục vụ ra mắt xã nông thôn mới. Trong đó, ưu tiên bố trí các dự án khởi công mới thuộc lĩnh vực giao thông, phòng chống thiên tai, xử lý sạt lở, biến đổi khí hậu, giáo dục, y tế, … IV. THƯƠNG MẠI - GIÁ CẢ - DỊCH VỤ 1. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng: Tháng 5/2021, tình hình dịch bệnh Covid-19 lại diễn biến phức tạp trong nước. Tại Tiền Giang, thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh các Sở ngành liên quan triển khai kiểm tra tình hình phòng, chống dịch tại các chợ, siêu thị trên địa bàn tỉnh để đảm bảo việc hoạt động kinh doanh an toàn trong phòng, chống dịch bệnh Covid-19. Hầu hết các hoạt động mua bán trao đổi hàng hóa trên địa bàn tỉnh diễn ra bình thường, một số nhóm hàng hóa đồ dùng, giáo dục, xăng dầu do nhu cầu và giá tăng trở lại. Hiện tại, hàng hóa tại siêu thị cung ứng đầy đủ và dồi dào nên tâm lý người dân đến mua sắm cũng an tâm, không có tâm lý mua hàng hóa để dự trữ mà chỉ mua dùng hằng ngày. Các mặt hàng thiết yếu, thực phẩm tươi sống tại siêu thị khá dồi dào, hàng được nhập về liên tục để đáp ứng nhu cầu của người dân. Tại các chợ truyền thống trên các loại rau, củ, quả, thịt, hải sản… rất phong phú. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trong tháng thực hiện 5.456 tỷ đồng, giảm 2,1% so tháng trước và tăng 15% so cùng kỳ. Năm tháng đầu năm 2021, tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thực hiện 28.410 tỷ đồng, đạt 40,4% kế hoạch, tăng 18,7% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 22.631 tỷ đồng, tăng 15,2%; lưu trú 16 tỷ đồng, giảm 39,3%; ăn uống 2.732 tỷ đồng, tăng 35%; du lịch lữ hành 6 tỷ đồng, giảm 64,8%; dịch vụ tiêu dùng khác 3.024 tỷ đồng, tăng 36,2% so cùng kỳ. 2. Xuất - Nhập khẩu: a. Xuất khẩu: Hoạt động xuất khẩu bị ảnh hưởng rất lớn từ dịch Covid - 19 như: việc vận chuyển hàng hóa gặp khó khăn, vấn đề thiếu container rỗng; nhiều chuỗi cung ứng bị gián đoạn, nhu cầu thị trường chưa hồi phục đồng đều; chi phí đầu vào như logistics, nguyên liệu nhập khẩu tăng cao; các thị trường xuất khẩu nông, thủy sản liên tục đưa ra những thay đổi trong quy định chứng nhận an toàn thực phẩm… Tuy nhiên hoạt động xuất khẩu của tỉnh trong những tháng đầu năm đạt ở mức cao so với cùng kỳ. Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 5 thực hiện 287 triệu USD; trong đó: kinh tế ngoài nhà nước 42 triệu USD, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 245 triệu USD. Năm tháng xuất khẩu 1.364 triệu USD, đạt 42% kế hoạch, tăng 30,9% so cùng kỳ; trong đó: kinh tế nhà nước 4 triệu USD, giảm 65,6%; kinh tế ngoài nhà nước 200 triệu USD, giảm 15,1%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 1.160 triệu USD, tăng 45,8% so cùng kỳ. Một số mặt hàng có giá trị xuất khẩu tăng cao so cùng kỳ như: Hàng rau quả tăng 25,2%; sản phẩm từ chất dẻo tăng 35,1%; máy móc thiết bị và dụng cụ phụ tùng gấp 3 lần; hàng hóa khác gấp 2,9 lần… Tình hình xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của tỉnh như sau: - Thủy sản: ước tính tháng 5/2021 xuất 10.532 tấn, về trị giá đạt 23 triệu USD. Năm tháng xuất 43.335 tấn, tăng 8,1%; về trị giá đạt 94,5 triệu USD, giảm 3,9% so cùng kỳ. Hiên nay dịch Covid-19 diễn biến phức tạp ở các nước ảnh hưởng không nhỏ đến thị trường xuất khẩu truyền thống của Việt Nam, nhu cầu một số sản phẩm thủy sản chủ lực có xu hướng giảm nhưng đây cũng là cơ hội cho các dòng sản phẩm có thời hạn bảo quản lâu, giá cả phải chăng, phù hợp với xu hướng thu nhập giảm do ảnh hưởng của dịch Covid-19. Do vậy, xuất khẩu các sản phẩm thủy sản thuộc phân khúc hàng khô, đồ hộp... có chiều hướng gia tăng, góp phần đưa xuất khẩu thủy sản lạc quan hơn. - Gạo: ước tính tháng 5/2021 xuất 10.696 tấn, về giá trị đạt 6 triệu USD. Năm tháng xuất 47,8 tấn, giảm 53,8%, về trị giá đạt 26,7 triệu USD, giảm 48,3% so cùng kỳ. Hiện nay, tình hình dịch bệnh Covid-19 và thời tiết, biến đổi khí hậu đang diễn ra hết sức phức tạp, khó lường; dự báo ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất nông nghiệp và nguồn cung lúa gạo trong nước; một số quốc gia đã phong tỏa và tăng cường dự trữ lương thực… Để đảm bảo an ninh lương quốc gia, tuyệt đối không để xảy ra thiếu gạo trong mọi tình huống, nhất là trong bối cảnh biến đổi khí hậu và dịch bệnh Covid-19 còn ảnh hưởng. Theo các chuyên gia, sở dĩ giá trị xuất khẩu giảm do gần đây do gạo Việt luôn được chào bán ở mức cao, thậm chí có thời điểm lên tới 522 USD/tấn. Thêm vào đó, từ đầu năm tới nay việc tìm được container đóng hàng đi châu Âu rất khó khăn. Khi có container thì giá lại rất cao nên dẫn tới số lượng gạo xuất khẩu giảm mạnh bởi đối tác tìm đến các nhà xuất khẩu có vị trí vận chuyển thuận lợi hơn (Ấn Độ) nhằm tránh việc giao hàng với thời gian quá dài. Gần đây nhiều hãng tàu thông báo cắt dịch vụ trên một số chặng và chưa có kế hoạch cho năm nay, càng làm gia tăng áp lực, gây hoang mang trong ngành vận tải biển, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động thương mại trên toàn thế giới. - May mặc: ước tính tháng 5/2021 xuất 13.783 ngàn sản phẩm, về giá trị xuất đạt 40 triệu USD. Năm tháng xuất 64.803 ngàn sản phẩm, giảm 23,4%, về giá trị đạt 197 triệu USD, tăng 9,3% so cùng kỳ. Các doanh nghiệp Việt hoạt động trong lĩnh vực dệt, may chưa chủ động được nguồn nguyên liệu, nguồn cung sợi trong nước còn rất hạn chế, chủ yếu nhập khẩu từ Trung Quốc. Trong giai đoạn dịch Covid-19 vẫn đang diễn biến khó lường trên thế giới, Hiệp hội Dệt may Việt Nam - VITAS đề nghị các cơ quan có thẩm quyền cho phép sử dụng các gói hỗ trợ để doanh nghiệp và người lao động có điều kiện dễ tiếp cận hơn và kéo dài thời hạn hỗ trợ ít nhất đến hết năm 2021. Cụ thể, tiếp tục giảm tiền thuê đất, tiền điện, nước, giãn nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, khoanh nợ, giãn nợ, cơ cấu lại nợ, kéo dài thời gian dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất cho các doanh nghiệp khó khăn đến hết năm 2021… Ngoài các mặt hàng chủ yếu chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng kim ngạch tăng đáng kể góp phần làm tăng kim ngạch trong tháng như: hàng rau quả xuất 11,2 triệu USD, tăng 25,2%; sắt thép 23 triệu USD, gấp 2,9 lần; xơ, sợi dệt các loại 32,8 triệu USD, tăng 11,2%... so cùng kỳ. b. Nhập khẩu: Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa trong tháng 5/2021 đạt 156 triệu USD. Năm tháng, kim ngạch nhập khẩu 888.8 triệu USD, đạt 49,4% kế hoạch, tăng 44,7% so cùng kỳ; trong đó: kinh tế ngoài nhà nước nhập 45 triệu USD, tăng 7,6%, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài nhập 844 triệu USD, tăng 47,4% so cùng kỳ. Nguyên liệu nhập khẩu 5 tháng chủ yếu các mặt hàng như vải các loại 83,4 triệu USD, tăng 10,1%; nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày 156,3 triệu USD, tăng 78,3%; kim loại thường khác 395,1 triệu USD, tăng 44,3%... so cùng kỳ. 3. Chỉ số giá: Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 5/2021 tăng 0,53% so tháng 4/2021 (thành thị tăng 0,66%, nông thôn tăng 0,49%); so cùng kỳ tăng 3,71%. So với tháng 4/2021, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có 8 nhóm tăng: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,57%; Đồ uống và thuốc lá tăng 0,11%; May mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,22%; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,1%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,12%; Giao thông tăng 1,07%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,01% và Hàng hóa dịch vụ khác tăng 0,01%. Có 1 nhóm giảm: Bưu chính viễn thông giảm 0,02%. Riêng nhóm Thuốc và dịch vụ y tế; nhóm Giáo dục chỉ số giá ổn định. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 5/2021 tăng so tháng 4/2021 do: Tháng 05/2021 do trùng vào những ngày nghỉ lễ 30/4 và 01/5 nên nhu cầu tiêu dùng một số loại thực phẩm tươi sống tăng, dẫn đến sức mua tăng giá tăng lên: thịt bò tăng 0,14%, thuỷ hải sản tăng 0,15%, rau tươi khô chế biến tăng 6,28%... tác động đến nhóm hàng thực phẩm tăng 0,9%, góp phần làm tăng CPI chung khoảng 0,19%. - Do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 và xu hướng tăng bảo hộ thương mại của các nước lớn ở Châu âu, đặc biệt Trung Quốc là nước lớn sản xuất thép đang cắt giảm sản lượng thép thành phẩm...dẫn đến nguồn cung sắt thép trên thị trường bị hạn chế, tác động giá bán lẻ tăng bình quân từ 10% - 18% so tháng trước; Mặc khác, do thời tiết đang vào mùa khô thuận lợi cho ngành xây dựng hoạt động và giá xăng dầu đang đứng ở mức cao kéo dài, dẫn đến giá cát vàng, cát đen, đá xây dựng...tăng lên. Tác động nhóm vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 4,98%, góp phần làm tăng CPI chung khoảng 0,19%. - Hiện nay đang vào mùa hè, thời tiết nóng kéo dài, dẫn đến nhu cầu sử dụng điện làm mát của người dân tăng, tác động đến giá điện sinh hoạt bình quân trong tháng tăng 3,41%, nước sinh hoạt tăng 0,09%. Cùng với đó, giá dịch vụ sửa chữa thiết bị gia đình cũng tăng như: sửa máy điều hoà nhiệt độ tăng 1,67%, sửa thiết bị có động cơ tăng 2,16%. - Chỉ số giá nhóm giao thông tháng 5/2021 tăng 1,07% so với tháng trước làm CPI chung tăng khoảng 0,1%, chủ yếu do: Giá xăng tăng 2,13%, dầu diezel tăng 2,05% do ảnh hưởng của đợt điều chỉnh giá vào ngày 27/4/2021, 12/5/2021. Giá dịch vụ giao thông công cộng tăng 0,38%, trong đó, giá vận tải hành khách bằng đường bộ tăng 0,64%. Riêng giá vé xe buýt, taxi ổn định. Bên cạnh đó, một số mặt hàng có chỉ số giá tăng nhưng tỷ trọng quyền số nhỏ nên tác động chưa đủ lớn đến chỉ số giá tiêu dùng chung như: Giá thịt lợn giảm 0,15% so tháng trước là do dịch tả lợn Châu Phi được kiểm soát tốt, việc tái đàn diễn ra thuận lợi; mặc khác nguồn thịt lợn đông lạnh nhập khẩu vẫn còn lớn, cạnh tranh trực tiếp với nguồn thịt lợn chăn nuôi trong nước dẫn đến giá giảm nhẹ. Cùng với đó, giá trứng gia cầm các loại giảm 0,04% do nguồn cung dồi dào, mức tiêu thụ trong nước có giới hạn. - Ngày 01/5/2021 giá gas trong nước giảm 19.000 đồng/bình 12 kg, giảm 5,77%, tác động nhóm gas và các loại chất đốt khác giảm 5,33%, góp phần kềm chế CPI chung của tháng 5/2021 giảm ở mức 0,07%. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 5 tháng năm 2021 so cùng kỳ tăng 2,34%; một số nhóm hàng có giá tăng nhiều trong 5 tháng năm 2021 so cùng kỳ như: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,52%; nhóm giáo dục tăng 4,7%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,65%; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 2,31%; Chỉ số giá vàng 24 kara Ngọc Thẩm trong tháng 5/2021 tăng 0,23% so tháng trước. Hiện nay giá vàng bình quân duy trì ở mức 5.279.000 đồng/chỉ Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng 5/2021 giảm 0,08% so tháng trước. Hiện nay giá bình quân Đô la Mỹ duy trì ở mức 23.149 đồng/USD. Ước chỉ số giá tiêu dùng tháng 6/2021 tăng từ 0,1% đến 0,25% so tháng 5/2021 do tình hình xuất khẩu đang thuận lợi; Giá rau xanh sẽ còn đứng ở mức cao như: hành lá, cà chua, đỗ quả tươi, dưa leo, rau cải xanh... do nắng nóng kéo dài, diện tích gieo trồng hoa màu bị thu hẹp lại; Giá thủy hải sản tươi sống sẽ tăng, do chi phí đánh bắt như xăng dầu, tiền thuê nhân công tăng lên. 4. Du lịch: Thực hiện các biện pháp phòng chống dịch Covid-19, đảm bảo an toàn tại các doanh nghiệp lữ hành, khu, điểm, cơ sở lưu trú du lịch và kinh doanh dịch vụ du lịch theo Công văn số 2037/UBND-KGVX của UBND tỉnh Tiền Giang về việc tạm dừng các hoạt động vui chơi, giải trí, thể thao có tập trung đông người và thực hiện giãn cách tại các điểm kinh doanh ăn, uống, cơ sở lưu trú phòng, chống dịch Covid-19 đến các cơ sở lưu trú du lịch; khu, điểm du lịch trên địa bàn tỉnh Tiền Giang. Khách du lịch đến trong tháng 5/2021 được 43,9 ngàn lượt khách, giảm 9,6% so tháng trước và tăng 7,4% so cùng kỳ; trong đó: khách du lịch quốc tế 0,7 ngàn lượt khách, gấp 6,5 lần so cùng kỳ. Doanh thu lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ tiêu dùng khác trong tháng 5 đạt 1.124,2 tỷ đồng, giảm 3,1% so tháng trước và tăng 22% so cùng kỳ. Tính chung năm tháng đầu năm 2021, lượt khách du lịch đến Tiền Giang là 243,5 ngàn lượt khách, đạt 22,1% kế hoạch và giảm 36,4% so cùng kỳ; trong đó: khách quốc tế 4 ngàn lượt khách, đạt 0,9% kế hoạch, giảm 95,8% so cùng kỳ. Tổng doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, dịch vụ lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch, dịch vụ tiêu dùng khác đạt 5.778 tỷ đồng, tăng 34,8% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu dịch vụ ăn uống chiếm tỷ trọng 47,6%, ước đạt 2.748 tỷ đồng, tăng 34%, lưu trú đạt 16 tỷ đồng, giảm 39,3% so cùng kỳ... 5. Vận tải: Hoạt động giao thông vận tải trên địa bàn tỉnh hoạt động bình thường tiếp tục thực hiện các biện pháp đảm bảo phòng chống dịch Covid-19 theo công văn số 767/SGTVT-VTPTNL ngày 28/4/2021 tiếp tục tăng cường phòng, chống dịch bệnh Covid-19; Công văn số 770/SGTVT-VTPTNL ngày 29/4/2021 tiếp tục tăng cường các giải pháp phòng, chống dịch bệnh Covid-19; Công văn số 788/SGTVT-VTPTNL ngày 03/5/2021 triển khai thực hiện; Công văn số 1919/UBND-KGVX ngày 02/5/2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh. Các phương tiện vận tải hành khách thược hiện đúng quy định như: thực hiện khai báo y tế; thường xuyên rửa tay bằng xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn có ít nhất 60% nồng độ cồn; kiểm tra thân nhiệt; hạn chế giao tiếp, ăn uống trên phương tiện vận tải khách; khử khuẩn các bề mặt trên phương tiện vận tải hành khách trước và ngay sau khi kết thúc chuyến đi. Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trong tháng thực hiện 175 tỷ đồng, tăng 1,8% so tháng trước và tăng10,4% so cùng kỳ. Năm tháng thực hiện 850 tỷ đồng, tăng 0,9% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 247 tỷ đồng, tăng 4,7%; doanh thu vận tải hàng hóa thực hiện 520 tỷ đồng, tăng 0,8% so cùng kỳ. Doanh thu vận tải đường bộ thực hiện 434 tỷ đồng, tăng 9,2%; doanh thu vận tải đường thủy thực hiện 332 tỷ đồng, giảm 6%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 84 tỷ đồng, giảm 8,1% so cùng kỳ. Vận tải hành khách trong tháng đạt 2.775 ngàn hành khách, giảm 1,3% so tháng trước và giảm 3,9% so cùng kỳ; luân chuyển 53.731 ngàn hành khách.km, tăng 0,3% so tháng trước và tăng 20,6% so cùng kỳ. Năm tháng, vận chuyển 13.911 ngàn hành khách, tăng 1,8% so cùng kỳ; luân chuyển 268.696 ngàn hành khách.km, tăng 11,5% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 6.679 ngàn hành khách, tăng 12,8% và luân chuyển 258.614 ngàn hành khách.km, tăng 13,6% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 7.232 ngàn hành khách, giảm 6,5% và luân chuyển 10.082 ngàn hành khách.km, giảm 24,3% so cùng kỳ. Vận tải hàng hóa trong tháng đạt 1.025 ngàn tấn, tăng 1,7% so tháng trước và tăng 5,1% so cùng kỳ; luân chuyển 130.993 ngàn tấn.km, tăng 2,8% so tháng trước và tăng 4,9% so cùng kỳ. Năm tháng, vận tải 4.874 ngàn tấn hàng hóa, tăng 0,9% so cùng kỳ; luân chuyển 613.552 ngàn tấn.km, giảm 2,4% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 1.236 ngàn tấn, tăng 18,8% và luân chuyển 128.147 ngàn tấn.km, giảm 1,8% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 3.638 ngàn tấn, giảm 4% và luân chuyển 485.405 ngàn tấn.km, giảm 2,6% so cùng kỳ. * Công tác quản lý phương tiện giao thông: Trong tháng đăng ký mới 5.729 chiếc xe mô tô xe máy, 311 chiếc xe ô tô, 08 chiếc xe đạp điện và 08 chiếc xe khác. Tổng số xe đang quản lý trên địa bàn tỉnh 1.344.219 chiếc, trong đó: mô tô xe máy 1.302.908 chiếc, 40.559 chiếc xe ô tô, 153 chiếc xe ba bánh, 174 chiếc xe đạp điện và 425 chiếc xe khác. 6. Bưu chính viễn thông: Doanh thu trong tháng 5/2021 đạt 267 tỷ đồng, tăng 0,7% so tháng trước và tăng 4,7% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính đạt 24 tỷ đồng, tăng 3,7% và viễn thông 243 tỷ đồng, tăng 0,4% so tháng trước. Năm tháng doanh thu dịch vụ bưu chính, viễn thông đạt 1.311 tỷ đồng, tăng 5,7% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính đạt 114 tỷ đồng, tăng 13,8% và viễn thông 1.197,8 tỷ đồng, tăng 5% so cùng kỳ. Tổng số thuê bao điện thoại có trên mạng đến cuối tháng 5/2021 là 100.797 thuê bao, mật độ bình quân đạt 5,7 thuê bao/100 dân (chỉ tính thuê bao cố định và di động trả sau). Thuê bao internet có trên mạng cuối tháng 5/2021 là 273.915 thuê bao, mật độ internet bình quân đạt 15,5 thuê bao/100 dân. Số lượng điện thoại cố định có dây, không dây tiếp tục giảm, do thị trường phát triển thuê bao dần bảo hòa dẫn đến khách hàng dần chuyển sang sử dụng điện thoại di động, trong đó chủ yếu là điện thoại di động trả trước. Số thuê bao điện thoại di động có sử dụng internet (3G, 4G) đến cuối tháng 4 năm 2021 là 1.359.341 thuê bao. V. TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG 1. Tài chính: Tổng thu ngân sách nhà nước trong tháng thực hiện 892 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn 738 tỷ đồng, thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 280 tỷ đồng. Năm tháng, thu 8.017 tỷ đồng, đạt 59,7% dự toán; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn thực hiện 4.496 tỷ đồng, đạt 42,4% dự toán và tăng 0,3% so cùng kỳ; thu nội địa 4.406 tỷ đồng, đạt 42,6% dự toán, tăng 1% so cùng kỳ (trong thu ngân sách trên địa bàn: thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 1.496 tỷ đồng, đạt 43,4% dự toán, tăng 2,2% so cùng kỳ; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 529 tỷ đồng, đạt 37,8% dự toán, giảm 6,5% so cùng kỳ...). Tổng chi ngân sách nhà nước trong tháng 920 tỷ đồng; trong đó: chi đầu tư phát triển 305 tỷ đồng. Năm tháng, chi 5.633 tỷ đồng, đạt 46% dự toán, giảm 33,7% so cùng kỳ; trong đó: chi đầu tư phát triển 1.583 tỷ đồng, đạt 42,7% dự toán, giảm 29,3% so cùng kỳ; chi hành chính sự nghiệp 2.556 tỷ đồng, đạt 37,2% dự toán và giảm 11,4% so cùng kỳ. 2. Ngân hàng: Nhiệm vụ trọng tâm hoạt động ngân hàng tiếp tục triển khai thực hiện các nhiệm vụ tại Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 01/01/2021, Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 01/01/2021 của Chính phủ; Chỉ thị 01/CT-NHNN ngày 07/01/2021 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNNVN), đồng thời tiếp tục thực hiện Thông tư 01/2020/TT-NHNN ngày 13/3/2020 và Chỉ thị số 02/CT-NHNN ngày 31/3/2020 của NHNNVN. Ngoài ra các TCTD chấp hành nghiêm mức trần lãi suất theo quy định trên địa bàn tỉnh, đến cuối tháng 4/2021, lãi suất cho vay như sau: Lãi suất cho vay VND phổ biến ở mức trên 4,5%-9%/năm đối với ngắn hạn, chiếm 43,89% tổng dư nợ cho vay trên 11%-13%/năm đối với trung dài hạn. Lãi suất cho vay USD phổ biến ở mức 3%-5,5%/năm. Đến cuối tháng 4/2021, vốn huy động đạt 76.388 tỷ đồng, tăng 0,7% so cuối năm 2020 (thấp hơn so với cùng kỳ năm trước 0,12%). Cơ cấu vốn huy động theo loại hình như sau: Tiền gửi từ tổ chức kinh tế thực hiện 10.130 tỷ đồng, tăng 7,22% so với cuối năm 2020, chiếm tỷ trọng 13,26%; Tiền gửi tiết kiệm từ dân cư: đạt 65.231 tỷ đồng, giảm 0,57% so với cuối năm 2020, chiếm tỷ trọng 85,39%; Phát hành giấy tờ có giá: đạt 1.026 tỷ đồng, tăng 28,50%, chiếm tỷ trọng 1,34%. Ước đến cuối tháng 5/2021, vốn huy động đạt 76.471 tỷ đồng, tăng 622 tỷ, tỷ lệ tăng 0,82% so với cuối năm 2020. Nợ xấu: cuối tháng 4/2021, số dư là 833,8 tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu 1,2%, giảm 0,04% so cuối năm 2020, Trong đó NHTM nhà nước là 1,02%; khối còn lại là 1,31%.Tỷ lệ nợ xấu ở mức thấp, nằm trong sự kiểm soát, có chuyển biến tích cực theo chiều hướng giảm. Trong đó, nợ nhóm 3 chiếm 7,05%, nhóm 4 chiếm 28,34%, nhóm 5 chiếm 63,89%. Ước đến cuối tháng 5/2021, nợ xấu là 844 tỷ đồng, tỷ lệ 1,21%, giảm 0,04% so với cuối năm 2020. Quỹ tín dụng nhân dân: đến cuối tháng 4/2021, tổng nguồn vốn hoạt động đạt 1.230 tỷ đồng, tăng 98 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 8,7% so tháng 12/2020, trong đó: vốn điều lệ chiếm 2,7%, vốn huy động chiếm 88,8%; tổng dư nợ cho vay đạt 873 tỷ đồng, tăng 22,4 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 2,6% so tháng 12/2020, trong đó dư nợ ngắn hạn chiếm tỷ trọng 43,1%. Nợ xấu: số dư 6 tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu 0,69%, tăng 0,3% so tháng 12/2020. * Kết quả thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho khách hàng bị ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19: Đến cuối tháng 4/2021, tổng dư nợ bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19 là 9.910 tỷ đồng. Trong đó, khách hàng doanh nghiệp bị ảnh hưởng chiếm 56,7%, khách hàng cá nhân chiếm 42,4%. Một số ngành có tỷ lệ dư nợ bị ảnh hưởng lớn là: Công nghiệp chế biến, chế tạo (chiếm 37,6% tổng dư nợ bị ảnh hưởng và 5,4% dư nợ của ngành); bán buôn và bán lẻ (23,5% và 3,4%); hoạt động dịch vụ (15,2% và 2,2%);.....Các TCTD đã triển khai có hiệu quả các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho 3.421 khách hàng: Cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ cho 268 khách hàng với dư nợ được cơ cấu là 139 tỷ đồng; Miễn giảm lãi cho 131 khách hàng với dư nợ 30 tỷ đồng; Cho vay mới với lãi suất ưu đãi thấp hơn so với lãi suất cho vay trước khi có dịch 3.022 khách hàng với doanh số cho vay mới lũy kế từ ngày 23/01/2020 đạt 24.680 tỷ đồng. Thực hiện Nghị quyết số 42/NQ-CP ngày 09/4/2020 của Chính phủ về các biện pháp hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19 và Nghị quyết số 154/NQ-CP ngày 19/10/2020 sửa đổi, bổ sung NQ42: Đến cuối tháng 03/2021, NHCSXH tỉnh đã giải ngân cho vay đối với 6 đơn vị với dư nợ đạt 978 triệu đồng. Thời gian vay là 12 tháng, lãi suất là 0%/năm. VI. CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Lao động việc làm: Trong tháng tư vấn cho 3.291 lượt lao động, giới thiệu việc làm cho 340 lượt lao động, tăng 276 lượt lao động so với cùng kỳ năm 2020, đã giới thiệu cho 173 lao động có được việc làm ổn định, tăng 140 lao động so với cùng kỳ năm 2020. Có 07 lao động xuất cảnh chính thức theo hợp đồng, trong đó xuất cảnh qua Nhật Bản là 02 lao động, Đài Loan là 05 lao động. Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh Tiền Giang tiếp nhận được 1.784 người đăng ký thất nghiệp, quyết định 1.706 trường hợp hưởng trợ cấp thất nghiệp với tổng số tiền chi trả tương đương 30.532 triệu đồng, tăng 3.394 triệu đồng; thực hiện tư vấn, giới thiệu việc làm cho 1.784 lượt lao động thất nghiệp và có 05 lao động thất nghiệp đăng ký học nghề, tăng 5% so với cùng kỳ năm 2020. 2. Chính sách xã hội: Quỹ đền ơn đáp nghĩa đã vận động được 1,39 tỷ đồng đạt 14% kế hoạch; xây dựng 07 căn nhà tình nghĩa với kinh phí 280 triệu đồng đạt 6% kế hoạch; sửa chữa 12 căn nhà tình nghĩa với số tiền 240 triệu đồng đạt 24% kế hoạch. 3. Hoạt động y tế: Trong tháng 5 có 9/44 bệnh truyền nhiễm được ghi nhận 8 bệnh tăng so với cùng kỳ (Lao phổi, tay chân miệng, tiêu chảy, uốn ván khác, viêm gan siêu vi A, viêm gan siêu vi B, viêm não vi rút khác, covid-19); 7 bệnh giảm so với cùng kỳ (ho gà, lỵ a míp, quai bị, sởi, sốt xuát huyết, thủy đậu, viêm gan siêu vi C); 29 bệnh tương đương và hoặc không xảy ra ca mắc; không ghi nhận tử vong do bệnh truyền nhiễm. Phòng chống bệnh Sốt xuất huyết: Trong tháng ghi nhận 193 ca mắc SXHD, cộng dồn số ca mắc 1.075 ca giảm 5,5% so với cùng kỳ năm 2020. Phòng chống HIV/AIDS: Tính đến thời điểm hiện tại toàn tỉnh có 5.842 người nhiễm HIV; 1.802 người chuyển sang AIDS; tử vong do AIDS: 991 người. Không ghi nhận ngộ độc thực phẩm xãy ra trên địa bàn. Hoạt động khám chữa bệnh so với cùng kỳ năm 2020: Tổng số lần khám bệnh tăng 13,9%, tổng số người điều trị nội trú tăng 28,6%, tổng số ngày điều trị nội trú tăng 36,2%. Công suất sử dụng giường bệnh bình quân trong tháng đạt 76%. 4. Hoạt động giáo dục: Trong bối cảnh dịch bệnh Covid -19 diễn biến phức tạp, ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Tiền Giang đã điều chỉnh lịch học theo công văn số 2171/UBND-KGVX của UBND tỉnh Tiền Giang nhằm đảm bảo phòng, chống dịch bệnh xâm nhập, lây lan trong môi trường học đường, trong đó các cơ sở giáo dục mầm non cho trẻ nghỉ hè từ ngày 17/5/2021; lớp 9 và lớp 12 tiếp tục thực hiện việc dạy, học tập trung trực tiếp tại trường học kết hợp dạy, học trực tuyến để đảm bảo chương trình năm học theo quy định; các khối, lớp còn lại từ ngày 17/5/2021 chuyển đổi hình thức từ dạy và học tập trung, trực tiếp trên lớp sang hình thức dạy, học trực tuyến hoặc các hình thức khác phù hợp với điều kiện của các đơn vị để đảm bảo hoàn thành chương trình giáo dục theo quy định... Bên cạnh đó, ngành Giáo dục và Đào tạo đã tập trung thực hiện các hoạt động chuyên môn, hoàn thành nhiệm vụ năm học năm học 2020-2021; tập trung chuẩn bị cho công tác tuyển sinh lớp 6 và lớp 10 năm 2021, kỳ thi THPT năm 2021. 5. Hoạt động văn hóa - thể thao: Thư viện tỉnh Tiền Giang đã phục vụ được 5.690 lượt bạn đọc (tại Thư viện tỉnh và phục vụ tại các trường học), với 27.691 lượt sách báo được đưa ra lưu hành. Trong tháng 5/2021, hệ thống thư viện huyện, thư viện xã đã tiếp được 13.547 lượt bạn đọc, với 23.423 lượt sách báo lưu hành. Ngoài ra, Thư viện Tiền Giang cũng đã tổ chức những hoạt động như: ngày hội đọc sách tại huyện Chợ Gạo; chuyến xe tri thức tại huyện Cai Lậy và tổ chức Ngày Hội đọc sách và vẽ tranh cho thiếu nhi tại huyện Châu Thành và phục vụ thư viện lưu động thông minh ở 05 Trường Tiểu học, THCS trên địa bàn Thành phố Mỹ Tho. Hoạt động thể dục – thể thao trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì và đạt được nhiều thành tích nổi bật, trong đó: Đội Muay tham dự giải vô địch Muay quốc gia năm 2021, từ ngày 08/4 – 20/4/2021 tại Thanh Hóa với kết quả đạt 01 Huy chương Vàng và 03 Huy chương Đồng; Đội Vovinam tham dự giải vô địch các đội mạnh Vovinam toàn quốc, từ ngày 14/4 – 23/4/2021 tại Bà Rịa – Vũng Tàu với kết quả đạt 01 Huy chương Vàng, 02 Huy chương Bạc, 06 Huy chương Đồng; Đội Điền kinh tham dự giải Điền kinh Cúp tốc độ thống nhất TP. Hồ Chí Minh, từ ngày 20/4 – 25/4/2021 tại TP. Hồ Chí Minh với kết quả đạt 07 Huy chương Vàng, 04 Huy chương Bạc, 03 Huy chương Đồng; Đội Bóng đá tuyển tham dự giải Bóng đá hạng Nhì quốc gia năm 2021: Ngày 04/5/2021, thi đấu giữa Tiền Giang và Vĩnh Long, trên sân Tiền Giang, kết quả thắng tỉ số 1 – 0. 6. Tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội: (Theo báo cáo của ngành công an) Tội phạm về trật tự xã hội trong tháng 5/2021 trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 138 vụ (giảm 01 vụ so với tháng 4/2021), làm chết 02 người, bị thương 18 người, tài sản thiệt hại trị giá khoảng 3,6 tỷ đồng; điều tra khám phá bước đầu đạt tỷ lệ 49,3% (68 vụ), bắt xử lý 93 đổi tượng, thu hồi tài sản trị giá khoảng 126 triệu đồng. Phát hiện, xử lý 55 tụ điểm cờ bạc với 406 đối tượng liên quan (khởi tố 04 vụ, 06 bị can về hành vi đánh bạc và tổ chức đánh bạc); 21 vụ, 23 đối tượng phạm tội về ma túy và xử lý vi phạm hành chính 149 đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy; 09 vụ, 06 đối tượng vi phạm pháp luật về trật tự quản lý kinh tế và xử lý phạt tiền 13 vụ, 17 đối tượng vi phạm pháp luật về môi trường, vệ sinh an toàn thực pham, tài nguyên. 7. Trật tự an toàn giao thông: Theo báo cáo của ngành công an. Đường bộ: Tai nạn giao thông trong tháng xảy ra 53 vụ, giảm 03 vụ so tháng trước và tăng 05 vụ so cùng kỳ, làm chết 23 người, giảm 03 người so tháng trước và tăng 01 người so cùng kỳ, bị thương 37 người, giảm 07 người so tháng trước và tăng 09 người so cùng kỳ. Vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ trong tháng xảy ra 4.499 vụ, tăng 1.642 vụ so tháng trước và giảm 1.438 vụ so cùng kỳ. Đã xử lý tạm giữ giấy tờ và phương tiện 3.747 vụ, tước giấy phép lái xe 285 vụ, phạt tiền 752 vụ với số tiền phạt 4.097 triệu đồng. Đường thủy: Trong tháng không xảy ra, tương đương so tháng trước và giảm 02 vụ so cùng kỳ. Từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh xảy ra 01 vụ tai nạn, giảm 02 vụ so với cùng kỳ (không phát sinh số người chết và bị thương). Vi phạm trật tự an toàn giao thông đường thủy trong tháng xảy ra 1.982 vụ, tăng 695 vụ so tháng trước và tăng 304 vụ so cùng kỳ; trong đó không bằng cấp chuyên môn 09 vụ, chở quá vạch mớn nước an toàn 1.731 vụ, thiếu trang thiết bị an toàn 31 vụ và vi phạm khác 211 vụ. Đã xử lý vi phạm: Lập biên bản tạm giữ giấy tờ 368 vụ và phạt tiền tại chỗ 1.614 vụ với số tiền phạt: 457 triệu đồng. 8. Tình hình cháy nổ, môi trường: Trong tháng 5 năm 2021 trên địa bàn tỉnh xảy ra 04 vụ cháy với tổng số tiền thiệt hại là 82 triệu đồng, gồm cháy 02 căn nhà dân (tự đốt 01 vụ, 01 vụ không yêu cầu điều tra) và 02 vụ lốc, cháy 01 doanh nghiệp và 01 phương tiện giao thông (đang điều tra nguyên nhân). Vi phạm môi trường: đã ban hành 04 quyết định xử phạt vi phạm hành chính về lĩnh vực môi trường đối với 02 tổ chức và 02 cá nhân với số tiền xử phạt vi phạm hành chính trên 97 triệu đồng (02 tổ chức với số tiền 72 triệu đồng, 02 cá nhân với số tiền trên 25 triệu đồng).
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Tiền Giang Tháng 4 năm 2021
- 18/06/2024 16:21
I. SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP VÀ THỦY SẢN 1. Nông nghiệp Cây lương thực có hạt: trong tháng gieo trồng 102 ha, thu hoạch 137 ha với sản lượng 487 tấn; ước tính đến cuối tháng 04/2021, gieo trồng được 75.761 ha, đạt 56,6% kế hoạch, giảm 8.4% so cùng kỳ, sản lượng thu hoạch 371.681 tấn; trong đó: cây lúa gieo sạ 74.467 ha, thu hoạch 51.647 ha, sản lượng 367.759 tấn. - Cây lúa: + Vụ Đông Xuân 2020-2021: chính thức xuống giống 51.647 ha, đạt 100% kế hoạch gieo trồng của vụ, giảm 10,3% so cùng kỳ. Nguyên nhân giảm do chuyển từ diện tích trồng lúa sang trồng cây ăn quả cho giá trị kinh tế cao hơn như: sầu riêng, mít, thanh long,… Mặt khác, do hạn, mặn kéo dài ở khu vực phía đông chưa xả sổ kịp độ mặn nên một số diện tích không dám gieo trồng đã chuyển sang trồng rau, màu các loại. + Vụ Hè Thu: ước tính đến cuối tháng 04/2021 gieo trồng 22.820 ha, đạt 29,8% kế hoạch gieo trồng, vụ lúa này gieo trồng chủ yếu ở các huyện phía tây. - Cây ngô: trong tháng gieo trồng 102 ha, thu hoạch 137 ha với sản lượng 487 tấn. Đến nay gieo trồng được 1.294 ha, đạt 37% kế hoạch, bằng 59,5% so cùng kỳ, thu hoạch 1.100 ha, năng suất quy thóc 35,7 tạ/ha với sản lượng quy thóc 3.992 tấn, đạt 30,9% kế hoạch, bằng 63,9% so cùng kỳ do chịu ảnh hưởng một phần hạn mặn kéo dài và do những xã hệ Bảo định chuyển đổi sang trồng cây thanh long, một số cây ăn quả khác. Cây rau đậu các loại: trong tháng gieo trồng 2.434 ha, thu hoạch 2.290 ha với sản lượng 43.212 tấn. Đến nay gieo trồng được 32.121 ha, đạt 51,4% kế hoạch, tăng 6,5% so cùng kỳ, thu hoạch 28.226 ha với sản lượng 571.502 tấn, đạt 47,2% kế hoạch, tăng 6,5% so cùng kỳ (trong đó: rau các loại 31.957 ha, thu hoạch 28.163 ha với sản lượng 571.314 tấn). Chăn nuôi: ước thời điểm 01/04/2021 tổng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh như sau: đàn bò 120,7 ngàn con, tăng 1,9%; đàn lợn 273 ngàn con, giảm 14%; đàn gia cầm (không kể chim cút) 17,5 triệu con, tăng 11% so cùng kỳ. Chăn nuôi lợn giảm so cùng kỳ do dịch bệnh còn nhiều nguy cơ tiềm ẩn, dịch tả lợn châu phi còn xảy ra trên địa bàn tỉnh, đàn lợn giống cũng không bảo đảm, người nuôi lo sợ khi tái đàn. Đa số các hộ nuôi nhỏ lẻ thua lỗ dẫn đến việc không còn vốn để tái đàn, một số hộ chuyển sang nuôi vật nuôi khác; Giá cả thịt lợn hơi thường xuyên liên tục biến động, người chăn nuôi không dự đoán được thị trường nên rất lo lắng khi tái đàn (thời điểm báo cáo: Giá lợn hơi dao động từ 70.000 - 75.000 đồng/kg). 2. Lâm nghiệp: Theo Quyết định số 466/QĐ-UBND ngày 01/3/2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang về công bố hiện trạng rừng đến 31/12/2020 thì trên địa bàn tỉnh: Tổng diện tích rừng hiện có là 1.948,1 ha (không bao gồm diện tích rừng thuộc đất an ninh quốc phòng) bao gồm: rừng phòng hộ: 1.337,4 ha, rừng sản xuất: 610,8 ha. Ước đến hết tháng 04/2021 toàn tỉnh thực hiện trồng mới được 5,4 ngàn cây nâng phân tán tổng số cây trồng 7,15 ngàn cây các loại, giảm 10,96% so với cùng kỳ do Nam Bộ đang vào mùa khô, nắng nóng và không có mưa nên chưa thuận lợi cho việc trồng cây phân tán. Các loại cây trồng chủ yếu là bạch đàn, xà cừ, tràm được trồng trên các bờ kênh, tuyến đê, ven sông. 3. Thủy hải sản: Diện tích nuôi thủy sản các loại trong tháng 1.446 ha, giảm 1% so cùng kỳ; ước đến tháng 04/2021 toàn tỉnh thả nuôi được 11.923 ha, đạt 78,5% kế hoạch và tăng 1,5% so cùng kỳ. Thủy sản nước ngọt nuôi 3.365 ha, tăng 5,3% so cùng kỳ. Nguyên nhân nuôi trồng thủy sản nước ngọt tăng là do ít bị ảnh hưởng hạn mặn kết hợp với mực nước nội đồng đủ nước nên các hộ tiến hành thả nuôi. Thủy sản nước mặn, lợ nuôi 8.558 ha, tăng 0,1% so cùng kỳ, diện tích tăng chủ yếu là nuôi tôm sú nuôi quảng canh và nuôi tôm thẻ chân trắng do độ mặn và thời tiết thích hợp thì tiến hành thả giống, các hộ nuôi tôm thâm canh và quảng canh cải tiến rất thận trọng trong việc chọn mua giống. Tình hình nuôi nghêu ổn định, các sân nuôi tiếp tục thu hoạch và thả nuôi nghêu trở lại, ngành chức năng tăng cường thực hiện quan trắc môi trường tại vùng nuôi nghêu tập trung. Sản lượng thủy sản trong tháng ước tính thu hoạch 29.060 tấn, tăng 1,7% so cùng kỳ. Bốn tháng thu hoạch 103.639 tấn, đạt 35,3% kế hoạch, tăng 17,9% so cùng kỳ; trong đó: sản lượng thu hoạch từ nuôi 49.880 tấn, đạt 30,7% kế hoạch, tăng 15,1% so cùng kỳ; sản lượng khai thác 53.759 tấn, chủ yếu là khai thác biển, đạt 41,1% kế hoạch, tăng 20,6% so cùng kỳ. Thời tiết thuận lợi cho hoạt động đánh bắt, hiện nay các phương tiện không còn đánh bắt nhỏ lẻ như trước đây mà đã tự nguyện gia nhập vào các tổ hợp tác hoặc hợp tác xã để thuận lợi hơn trong đánh bắt hải sản nhất là khi khai thác xa bờ dễ dàng tương trợ, phối hợp cùng nhau để đạt hiệu quả được cao hơn và an toàn hơn, nên ngư dân khai thác trúng mùa đạt sản lượng. II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 4/2021 giảm 13,3% so với tháng trước, do ảnh hưởng của dịch Covid-19 làm cho một số ngành sản xuất công nghiệp chủ yếu của tỉnh giảm như: Sản xuất chế biến thực phẩm, sản xuất trang phục, sản xuất kim loại... Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 4 năm 2021 tăng 4,4% so cùng kỳ, do một số ngành chiếm tỷ trọng lớn tăng như: sản xuất đồ uống tăng 15,5%; sản xuất trang phục tăng 20,5%; sản xuất da tăng 63,3%... Sản xuất công nghiệp còn nhiều khó khăn, thiếu nguyên liệu đầu vào và tiêu thụ sản phẩm ở đầu ra do ảnh hưởng của dịch Covid – 19. Hoạt động sản xuất chế biến xuất khẩu thủy sản do các chi phí sản xuất tăng và tình trạng thiếu tàu, thiếu container và cước phí vận tải lên cao, đặc biệt là cước tàu đi Mỹ và EU. Thị trường Trung Quốc vấn đề logistics khó khăn làm tắc nghẽn tại các cảng nhập khẩu chính, thị trường này siết chặt kiểm tra, kiểm soát virut corona đối với hàng thủy sản nhập khẩu càng khiến cho xuất khẩu thủy sản thêm khó khăn. Các doanh nghiệp sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ chưa ký được nhiều hợp đồng so cùng kỳ. Chỉ số sản xuất công nghiệp 4 tháng năm 2021 tăng 1,8% so cùng kỳ năm trước; trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,9%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 1%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 2,4%. Chỉ số sản xuất sản phẩm trong 4 tháng so cùng kỳ như sau: - Có 17/38 sản phẩm tăng so cùng kỳ: Cấu kiện làm sẵn cho xây dựng hoặc kỹ thuật dân dụng, bằng xi măng, bê tông hoặc đá nhân tạo tăng 51,8%; Bộ com lê, quần áo đồng bộ, áo jacket, quần dài, quần yếm, quần soóc cho người lớn dệt kim hoặc đan móc tăng 49,5%; Giày, dép thể thao có đế ngoài và mũ giày bằng cao su và plastic tăng 31,1%; Thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng viên tăng 30,9%;… - Có 21/38 sản phẩm giảm so cùng kỳ: Tàu chở khách trọng tải > 26 tấn nhưng ≤ 500 tấn giảm 87,1%; Đồ chơi hình con vật hoặc sinh vật không phải hình người giảm 50,2%; Các bộ phận của bi, bánh răng, hộp số, các bộ phận điều khiển và truyền chuyển động khác giảm 45,6%; Dịch vụ sửa chữa, bảo dưỡng tàu, thuyền giảm 31,4%; Dịch vụ tiện các bộ phận kim loại giảm 29,8%; Áo khoác dài, áo khoác không tay, áo khoác có mũ, áo gió cho người lớn dệt kim hoặc đan móc giảm 21,2%;…. * Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: - Chỉ số tiêu thụ tháng 4/2021 so với tháng trước giảm 6,4% và tăng 3% so cùng kỳ. Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cộng dồn từ đầu năm đến cuối tháng 4/2021 giảm 7,9%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao: Sản xuất đồ uống tăng 4,2%, trong đó sản xuất bia tăng 4,2%; Dệt tăng 14,1%, trong đó sản xuất hàng may sẳn tăng 95,3%; Sản xuất trang phục tăng 31,3%;…... Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm so cùng kỳ là: Sản xuất chế biến thực phẩm giảm 19,5%, trong đó chế biến, bảo quản thủy sản và các sản phẩm từ thủy sản giảm 36,1%; Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ giảm 13,5%; Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 7,7%; Sản xuất sản phẩm cao su và plastic giảm 11,%; Sản xuất kim loại giảm 14,4%; … - Chỉ số tồn kho tháng 4/2021 so với tháng trước tăng 5,9% và so với cùng kỳ tăng 24,5%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so với cùng kỳ là: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 69,2%, trong đó sản xuất thức ăn cho gia súc, gia cầm và thuỷ sản tăng 60,4%; Sản xuất đồ uống tăng 3,2%, trong đó sản xuất bia tăng 3,2%; Sản xuất trang phục tăng 90,3%;…Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tồn kho giảm so cùng kỳ là: Dệt giảm 2,7%, trong đó sản xuất sợi giảm 35,3%; Sản xuất da giảm 16,9%, trong đó sản xuất giày dép giảm 18,1%; Sản xuất kim loại giảm 36,5%;… III. ĐẦU TƯ - XÂY DỰNG Tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý thực hiện trong tháng là 299,6 tỷ đồng, tăng 14,5% so cùng kỳ. Bốn tháng đầu năm 2021 thực hiện 861,3 tỷ đồng, đạt 23,5% kế hoạch, tăng 19,4% so cùng kỳ. Các ngành các cấp yêu cầu Ban quản lý dự án, chủ đầu tư tập trung điều kiện đẩy nhanh tiến thi công đối với các công trình chuyển tiếp, đồng thời hoàn chỉnh hồ sơ, đấu thầu đưa vào chuẩn bị khởi động xây dựng các công trình mới theo nghị quyết 39/NQ-HĐND ngày 10/12/2020 của Hội Đồng Nhân Dân tỉnh về kế hoạch đầu tư công năm 2021. Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh thực hiện 681 tỷ đồng, đạt 22,9% kế hoạch, tăng 19,3% so cùng kỳ, chiếm 79,1% tổng số; trong đó: vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 113 tỷ đồng, tăng 18,5%, vốn xổ số kiến thiết thực hiện 309,8 tỷ đồng, tăng 15% so cùng kỳ... Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp huyện thực hiện 158 tỷ đồng, đạt 40,3% kế hoạch, tăng 20,6% so cùng kỳ, chiếm 18,2% tổng số; trong đó: vốn tỉnh hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 68 tỷ đồng, tăng 12% so cùng kỳ... Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp xã thực hiện 22 tỷ đồng, đạt 7,3% kế hoạch, tăng 15,2% so cùng kỳ, chiếm 2,5% tổng số; trong đó: vốn huyện hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 7,9 tỷ đồng, tăng 4% so cùng kỳ... IV. THƯƠNG MẠI - GIÁ CẢ - DỊCH VỤ 1. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng: Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trong tháng thực hiện 5.600 tỷ đồng, tăng 1% so tháng trước và tăng 44,1% so cùng kỳ do trong tháng có các ngày nghỉ như: Giỗ Tổ Hùng vương, 30/4 nên nhu cầu một số nhóm hàng chiếm tỉ trọng dự kiến tăng tác động đến doanh thu. Bốn tháng đầu năm 2021, tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thực hiện 22.981 tỷ đồng, đạt 32,7% kế hoạch, tăng 19,8% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 18.312 tỷ đồng, tăng 15,7%; lưu trú 13 tỷ đồng, giảm 45,9%; ăn uống 2.206 tỷ đồng, tăng 33,3%; du lịch lữ hành 5 tỷ đồng, giảm 65,7%; dịch vụ tiêu dùng khác 2.444 tỷ đồng, tăng 46,1% so cùng kỳ. 2. Xuất - Nhập khẩu: a. Xuất khẩu: Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng thực hiện 348 triệu USD; trong đó: kinh tế ngoài nhà nước 36 triệu USD, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 311 triệu USD. Bốn tháng xuất khẩu 1.099,9 triệu USD, đạt 33,8% kế hoạch, tăng 29% so cùng kỳ; trong đó: kinh tế nhà nước 4 triệu USD, tăng 2,5 lần; kinh tế ngoài nhà nước 148 triệu USD, giảm 22,1%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 948 triệu USD, tăng 43,8% so cùng kỳ. Tình hình xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của tỉnh như sau: - Thủy sản: ước tính tháng 4/2021 xuất 8.958 tấn, với trị giá 17,8 triệu USD. Bốn tháng xuất 31.674 tấn, giảm 3,2%; giá trị xuất 66,9 triệu USD, đạt 20,9% kế hoạch, giảm 18,6% so cùng kỳ. - Gạo: ước tính tháng 4/2021 xuất 9.890 tấn, với giá trị 5,5 triệu USD. Bốn tháng xuất 38.814 tấn, giảm 37,5%; giá trị xuất 21,6 triệu USD, đạt 15,4% kế hoạch, giảm 25,7% so cùng kỳ. - Hàng dệt, may: ước tính tháng 4/2021 xuất 14.332 ngàn sản phẩm, với giá trị 36,4 triệu USD. Bốn tháng xuất 49.837 ngàn sản phẩm, giảm 29%; giá trị xuất 138 triệu USD, đạt 23% kế hoạch, giảm 6,1% so cùng kỳ. - Kim loại thường và sản phẩm (kể cả đồng): ước tính tháng 4/2021 xuất 11.217 tấn, với giá trị 100,6 triệu USD. Bốn tháng xuất 36.868 tấn, tăng 10,4%; giá trị xuất 319 triệu USD, tăng 45,7% so cùng kỳ. - Giày dép các loại: ước tính tháng 4/2021 xuất 17.900 tấn, với giá trị 72,2triệu USD. Bốn tháng xuất 27.959 tấn, tăng 3,3 lần; giá trị xuất 212,9 triệu USD, tăng 57,4% so cùng kỳ. Ngoài các mặt hàng chủ yếu, trị giá xuất khẩu một số mặt hàng trong 4 tháng năm 2021 như: túi xách, vali, mũ và ô dù 76,6 triệu USD, giảm 20,6%; giày dép các loại 212,9 triệu USD, tăng 57,4%; xơ, sợi dệt các loại 34,9 triệu USD, tăng 36,6%... so cùng kỳ. b. Nhập khẩu: Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa trong tháng 4/2021 đạt 215,7 triệu USD. Bốn tháng, kim ngạch nhập khẩu 778,4 triệu USD, đạt 43,2% kế hoạch, tăng 41,9% so cùng kỳ; trong đó: kinh tế ngoài nhà nước nhập khẩu 37,1 triệu USD, tăng 2,2%, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài nhập 741,3 triệu USD, tăng 44,7% so cùng kỳ. Nguyên liệu nhập khẩu 4 tháng chủ yếu các mặt hàng như kim loại thường khác 368,7 triệu USD, tăng 40%; nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày 126,9 triệu USD, tăng 76,2%; vải các loại 51,7 triệu USD, giảm 20,9%... so cùng kỳ. 3. Chỉ số giá: Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4/2021 tăng 0,16% so tháng 3/2021 (thành thị tăng 0,1%, nông thôn tăng 0,17%); so cùng kỳ tăng 3,73%. So với tháng 3/2021, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có 06 nhóm tăng: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,39%; May mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,03%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,16%; Giao thông tăng 0,96%; Giáo dục tăng 0,01% và nhóm văn hoá, giải trí, du lịch tăng 0,02%. Có 03 nhóm giảm: Đồ uống và thuốc lá giảm 0,26%; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,34% và nhóm hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,05%. Các nhóm hàng hóa còn lại chỉ số giá ổn định. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4/2021 tăng so tháng 3/2021 do: - Hiện nay tình hình dịch bệnh COVID-19 được kiểm soát tốt, một số lĩnh vực dịch vụ bắt đầu phục hồi và hoạt động trở lại như: công ty, cơ sở sản xuất kinh doanh và các khu vui chơi giải trí... Bênh cạnh đó một số bếp ăn tập thể hoạt động trở lại, tác động giá thực phẩm tươi sống tăng nhẹ so với tháng trước như: thịt gia cầm tươi sống tăng 1,93%, trứng các loại tăng 2,05%, thuỷ sản tươi sản sống tăng 0,6%; rau tươi, khô và chế biến tăng 1,79%; quả tươi, chế biến tăng 2,71%... tác động đến nhóm thực phẩm tăng 0,65%, làm cho CPI chung tăng 0,14%. - Mùa khô thuận lợi cho ngành xây dựng hoạt động, nên giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở chính (sắt, thép) tăng 0,53%. Cùng với đó, giá dịch vụ sửa nhà ở tăng 0,69% so với tháng trước. - Do ảnh hưởng giá xăng dầu thế giới, ngày 27/3 và ngày 12/4/2021 giá xăng, dầu trong nước điều chỉnh biến động 02 đợt, tính chung: giá xăng A95-III tăng 90 đồng/lít, xăng E5 sinh học tăng 80 đồng/lít, riêng dầu Diezen 0,05S giảm 260 đồng/lít, tác động chỉ số giá nhóm nhiên liệu tăng 1,99%, góp phần làm tăng CPI chung khoảng 0,09%. Bên cạnh đó, một số mặt hàng có chỉ số giá giảm nhưng tỷ trọng quyền số nhỏ nên tác động chưa đủ lớn đến chỉ số giá tiêu dùng chung như: - Giá gạo giảm 0,85% so tháng trước, nguyên nhân do vụ thu hoạch lúa Đông xuân của tỉnh năng suất thu hoạch đạt 71,2 tạ/ha, tăng 7,9% so cùng kỳ, sản lượng dồi dào, giá bán lẻ giảm nhẹ so với tháng trước. - Giá thịt lợn giảm 0,77% so với tháng trước (làm CPI chung giảm 0,02%), trong đó khu vực thành thị giảm 1,73%; khu vực nông thôn giảm 0,64%. Giá thịt lợn giảm do dịch tả lợn châu Phi được kiểm soát, nguồn cung thịt lợn trong nước được đảm bảo, đủ đáp ứng cho người tiêu dùng. - Giá điện sinh hoạt giảm 0,88% so với tháng trước, nguyên nhân do trong tháng ngành Điện lực thường xuyên (cúp điện) để sửa chữa bảo trì mạng lưới điện trên hệ thống; mặc khác số lượng khách hàng của tỉnh sử dụng điện lưới quốc gia chuyển sang sử dụng điện năng lượng mặt trời đang có xu hướng tăng lên (toàn tỉnh có 1.759 khách hàng sử dụng điện năng lượng mặt trời). - Giá gas giảm 5,86%, tương ứng giảm 20.500 đồng/bình 12 kg vào ngày 01/4/2021, giá dầu hoả giảm 0,3% tương ứng giảm 350 đồng/lít vào ngày 27/3 và ngày 12/4/2021, tác động chỉ số giá nhóm gas và các loại chất đốt khác giảm 5,46%, góp phần làm giảm CPI chung khoảng 0,07%. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 4 tháng năm 2021 so cùng kỳ tăng 2%; một số nhóm hàng có giá tăng nhiều trong 4 tháng năm 2021 so cùng kỳ như: nhóm giáo dục tăng 4,7%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,89%; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 2,72%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,64%; may mặc, mũ nón, giầy dép 2,05%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,53%... Chỉ số giá vàng 24 kara Ngọc Thẩm trong tháng 4/2021 giảm 0,96% so tháng trước, giá bình quân tháng 4/2021 là 5.267 ngàn đồng/chỉ, tăng 727 ngàn đồng/chỉ so cùng kỳ. Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng 4/2021 tăng 0,15% so tháng trước, giá bình quân 23.176 đồng/USD, tăng 417 đồng/USD so cùng kỳ. 4. Du lịch: Khách du lịch đến trong tháng 4/2021 được 49,5 ngàn lượt khách, giảm 0,2% so tháng trước và tăng 5,6 lần so cùng kỳ; trong đó: khách du lịch quốc tế 0,8 ngàn lượt khách, giảm 3,5% so tháng trước. Doanh thu lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ tiêu dùng khác trong tháng 4 đạt 1.175 tỷ đồng, tăng 2,7% so tháng trước và tăng gắp 3 lần so cùng kỳ. Trong tháng có các ngày nghỉ Lễ như Giỗ Tổ Hùng Vương và ngày Giải phóng miền Nam 30/4 nên hoạt động lưu trú tăng. Tuy nhiên do tình hình Covid-19 ở các nước tiếp giáp với nước ta như: Campuchia và Thái Lan (tiếp giáp biên giới các tỉnh phía Nam) đang bùng phát và diễn biến rất phức tạp, tâm lý người dân e dè tổ chức các chuyến đi du lịch. Tính chung bốn tháng đầu năm 2021, lượt khách du lịch đến Tiền Giang là 200 ngàn lượt khách, đạt 18,2% kế hoạch, giảm 41,4% so cùng kỳ; trong đó: khách quốc tế 3,3 ngàn lượt khách, đạt 0,6% kế hoạch, bằng 3,5% so cùng kỳ. Tổng doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, dịch vụ lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch đạt 4.668,5 tỷ đồng, tăng 38,7% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu dịch vụ ăn uống chiếm tỷ trọng 47,3%, ước đạt 2.206 tỷ đồng, tăng 33,3%, lưu trú đạt 13 tỷ đồng, giảm 45,9% so cùng kỳ... 5. Vận tải: Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trong tháng thực hiện 167 tỷ đồng, tăng 2,4% so tháng trước và tăng 45,2% so cùng kỳ. Bốn tháng thực hiện 669 tỷ đồng, giảm 2% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 196 tỷ đồng, tăng 1,3%; doanh thu vận tải hàng hóa thực hiện 407 tỷ đồng, giảm 1,7% so cùng kỳ. Doanh thu vận tải đường bộ thực hiện 345 tỷ đồng, tăng 6,4%; doanh thu vận tải đường thủy thực hiện 259 tỷ đồng, giảm 8.8%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 66 tỷ đồng, giảm 12,3% so cùng kỳ. Vận tải hành khách trong tháng đạt 2.762 ngàn hành khách, tăng 3% so tháng trước và tăng 91% so cùng kỳ; luân chuyển 53.156 ngàn hành khách.km, tăng 3,4% so tháng trước và tăng 2,2 lần so cùng kỳ. Bốn tháng, vận chuyển 11.073 ngàn hành khách, tăng 2,8% so cùng kỳ; luân chuyển 214.558 ngàn hành khách.km, tăng 9,3% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 5.302 ngàn hành khách, tăng 11% và luân chuyển 206.494 ngàn hành khách.km, tăng 11,5% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 5.771 ngàn hành khách, giảm 3,7% và luân chuyển 8.064 ngàn hành khách.km, giảm 27,5% so cùng kỳ. Vận tải hàng hóa trong tháng đạt 962 ngàn tấn, tăng 1,9% so tháng trước và tăng 19,5% so cùng kỳ; luân chuyển 118.194 ngàn tấn.km, tăng 1,9% so tháng trước và tăng 15,6% so cùng kỳ. Bốn tháng, vận tải 3.803 ngàn tấn hàng hóa, giảm 1,4% so cùng kỳ; luân chuyển 473.308 ngàn tấn.km, giảm 6,1% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 968 ngàn tấn, tăng 14,4% và luân chuyển 101.168 ngàn tấn.km, giảm 5% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 2.835 ngàn tấn, giảm 5,8% và luân chuyển 372.140 ngàn tấn.km, giảm 6,4% so cùng kỳ. 6. Bưu chính viễn thông: Doanh thu trong tháng 4/2021 đạt 260 tỷ đồng,tăng 1,1% so với tháng trước và tăng 5,6% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính đạt 22 tỷ đồng, tăng 1% và viễn thông 238 tỷ đồng, tăng 1,1% so tháng trước. Bốn tháng doanh thu dịch vụ bưu chính, viễn thông đạt 1.017 tỷ đồng, tăng 3,5% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính đạt 86 tỷ đồng, tăng 12,6% và viễn thông 931 tỷ đồng, tăng 2,8% so cùng kỳ. V. TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG 1. Tài chính: Tổng thu ngân sách nhà nước trong tháng thực hiện 980,7 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn 817,7 tỷ đồng, thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 262 tỷ đồng. Bốn tháng, thu 6.893,3 tỷ đồng, đạt 51,3% kế hoạch, giảm 31,1% so cùng kỳ; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn thực hiện 3.752 tỷ đồng, đạt 35,4% dự toán và giảm 3,1% so cùng kỳ; thu nội địa 3.692 tỷ đồng, đạt 35,7% dự toán, giảm 2,9% so cùng kỳ (trong thu ngân sách trên địa bàn: thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 1.202 tỷ đồng, đạt 34,8% dự toán, giảm 4,2% so cùng kỳ; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 465 tỷ đồng, đạt 33,2% dự toán, giảm 5,6% so cùng kỳ, thu từ hoạt động xổ số kiến thiết 643 tỷ đồng, đạt 39% dự toán, giảm 4,3% so cùng kỳ... Tổng chi ngân sách nhà nước trong tháng 870 tỷ đồng; trong đó: chi đầu tư phát triển 305 tỷ đồng. Bốn tháng, chi 4.755,1 tỷ đồng, đạt 38,8% dự toán, giảm 35,1% so cùng kỳ; trong đó: chi đầu tư phát triển 1.312,4 tỷ đồng, đạt 35,4% dự toán, giảm 28,5% so cùng kỳ; chi hành chính sự nghiệp 1.970,7 tỷ đồng, đạt 28,7% dự toán và giảm 9,8% so cùng kỳ. 2. Ngân hàng: Mặt bằng lãi suất cho vay trên địa bàn ổn định, góp phần hỗ trợ tích cực cho các doanh nghiệp tiết kiệm chi phí khi vay vốn ngân hàng để sản xuất kinh doanh. Lãi suất cho vay VND phổ biến ở mức trên 4,5%-9%/năm đối với ngắn hạn, đối với trung dài hạn trên 11%-13%/năm. Lãi suất cho vay USD phổ biến ở mức 3%-5,5%/năm. Đặc biệt thực hiện chỉ đạo của NHNN về tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, một số chi nhánh đã triển khai chính sách về miễn, giảm lãi vay, cho vay mới. Đến cuối tháng 3/2021, vốn huy động đạt 75.978 tỷ đồng, giảm 0,22% so với cuối năm 2020. Ước đến cuối tháng 4/2021, vốn huy động đạt 76.174 tỷ đồng, tăng 30 tỷ, tỷ lệ tăng 0,1% so với cuối năm 2020. Tổng dư nợ toàn tỉnh đến cuối tháng 3 đạt 68.296 tỷ đồng, tăng 6,21% so với cuối năm 2020 (ngắn hạn chiếm 61,8%, trung dài hạn chiếm 38,2%). Ước đến cuối tháng 4/2021, dư nợ toàn tỉnh thực hiện 68.462 tỷ đồng, tăng 4.160 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 6,47% so với cuối năm 2020. Nhìn chung hoạt động cho vay 3 tháng đầu năm đạt mức tăng trưởng khá tốt, điều này có ý nghĩa rất lớn trong việc hỗ trợ phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh. Cơ cấu tín dụng chuyển dịch theo hướng tích cực tập trung vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh nhất là lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ. Kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, tăng cường quản lý rủi ro đối với cho vay phục vụ nhu cầu đời sống, tín dụng tiêu dùng. Tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng, góp phần hạn chế tín dụng đen. Nợ xấu: cuối tháng 3/2021, số dư là 829 tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu 1,21%, giảm 0,04% so với cuối năm 2020. Ước đến cuối tháng 4/2021, nợ xấu là 822 tỷ đồng, tỷ lệ 1,2%, giảm 0,1% so với cuối năm 2020.Tỷ lệ nợ xấu ở mức thấp, nằm trong sự kiểm soát, có chuyển biến tích cực theo chiều hướng giảm. VII. CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Lao động việc làm: Hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm: Trong tháng, tư vấn cho 2.724 lượt lao động, tăng 32,5% so với cùng kỳ năm 2020, trong đó: tư vấn nghề cho 796 lượt lao động, tư vấn việc làm 255 lượt lao động, tư vấn việc làm cho 1.530 lượt lao động thất nghiệp, tư vấn pháp luật lao động và tư vấn khác cho 143 lượt lao động; giới thiệu việc làm cho 207 lượt lao động, tăng 15% so với cùng kỳ năm 2020; đã giới thiệu cho 71 lao động có được việc làm ổn định, giảm 19,3% so với cùng kỳ năm 2020. Công tác đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng: Trong tháng, tư vấn cho 95 lượt lao động có nguyện vọng đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, tăng 46,5% so với cùng kỳ năm 2020, có 04 lượt lao động đăng ký tham gia, giảm 66,7% so với cùng kỳ năm 2020; có 05 lao động xuất cảnh chính thức, tăng 16% so với cùng kỳ năm 2020, trong đó xuất cảnh qua Nhật Bản là 01 lao động, Đài Loan là 04 lao động. Bảo hiểm thất nghiệp: Tiếp nhận được 1.695 người đăng ký thất nghiệp, tăng 22,5% so với cùng kỳ năm 2020, giải quyết 794 trường hợp hưởng trợ cấp thất nghiệp, giảm 17,1% so với cùng kỳ năm 2020, với tổng số tiền chi trả tương đương 15.758 triệu đồng, giảm 1.278 triệu đồng, tương đương giảm 7,5% so với cùng kỳ năm 2020; thực hiện tư vấn, giới thiệu việc làm cho 1.672 lượt lao động thất nghiệp và có 14 lao động thất nghiệp đăng ký học nghề, tăng 21,8% so với cùng kỳ năm 2020. 2. Chính sách xã hội: Trong tháng 04/2021 Sở Lao động - Thương binh và Xã hội thực hiện các chính sách dành cho người cho công, cụ thể: Lập danh sách, hồ sơ khám sức khỏe đối tượng Người có công đi viếng Lăng Bác Hồ, tham quan Thủ đô Hà Nội, thăm nhà tù Phú Quốc; đưa Cựu chiến binh đi tham quan nhà tù Côn Đảo năm 2021; Tổ chức xác minh, đối thoại 05 hồ sơ đề nghị trao tặng, truy tặng danh hiệu Bà mẹ VNAH tại các huyện: Châu Thành, Tân Phú Đông, Chợ Gạo, Gò Công Đông vàThị xã Cai Lậy; 01 hồ sơ bổ sung tình hình thân nhân liệt sĩ tại huyện Chợ Gạo; Theo dõi công tác đưa 206 người có công đi điều dưỡng tập trung tại Trung tâm điều dưỡng miền Trung (Đà Nẵng), thời gian từ 03/4-11/04/2021 của các huyện: Cái Bè, Cai Lậy, Gò Công Đông, thị xã Cai Lậy và thành phố Mỹ Tho. 3. Hoạt động y tế: Công tác quản lý bệnh truyền nhiễm: Trong tháng có 12/44 bệnh truyền nhiễm được ghi nhận. So với cùng kỳ: Về số mắc, có 7 bệnh tăng (tay chân miệng, tiêu chảy, uốn ván khác, viêm gan siêu vi A, viêm gan siêu vi B, viêm não vi rút khác, covid-19); 9 bệnh giảm (ho gà, lao phổi, lỵ a míp, quai bị, sởi, sốt xuất huyết, thương hàn, thủy đậu, viêm gan siêu vi C); 28 bệnh tương đương hoặc không xảy ra ca mắc; không ghi nhận tử vong do bệnh truyền nhiễm Phòng chống bệnh Sốt xuất huyết: Trong tháng ghi nhận 185 ca mắc, cộng dồn số ca mắc 880 ca giảm 14,3% so với cùng kỳ năm 2020, không xảy ra tử vong do mắc sốt xuất huyết. Tay chân miệng: Trong tháng 04/2021 ghi nhận 239 cas mắc, nâng tổng số cas mắc từ đầu năm đến nay là 789 cas, tăng 82,2% so với cùng kỳ. Phòng chống HIV/AIDS: Tính đến thời điểm hiện tại toàn tỉnh có 5.813 người nhiễm HIV; 1.798 người chuyển sang AIDS; 987 người tử vong do AIDS. An toàn thực phẩm: Xảy ra 01 vụ ngộ độc thực phẩm tại Công ty TNHH SUNGJIN Tiền Giang; địa chỉ ấp Hòa Lợi Tiểu xã Bình Ninh, huyện Chợ Gạo với số người mắc là 18 người; không có trường hợp tử vong do ngộ độc thực phẩm. Về hoạt động khám chữa bệnh: Tổng số lần khám bệnh tăng 10,8% và tổng số người điều trị nội trú tăng 12,7% so với cùng kỳ 2020. Công suất sử dụng giường bệnh bình quân trong tháng đạt 74,3%, cụ thể: Các Bệnh Viện Đa khoa tuyến tỉnh (bệnh viện đa khoa trung tâm tỉnh, bệnh viện đa khoa khu vực cai lậy, Bv đa khoa khu vực Gò Công) đạt 92,6%; 05 BV chuyên khoa (BV Mắt, BV Phụ Sản, BV Y học Cổ Truyền, BV Lao và Bệnh Phổi, BV Tâm Thần) đạt 67,7%; Trung tâm Y tế huyện: 41,6%. Covid-19: Hoàn thành cách ly cho 219 người tại Trường Quân sự địa phương; Cách ly tập trung: tính đến ngày 15/04/2021 số đợt cách ly tập trung 15 đợt, tổng số người cách ly tập trung: tại Tiểu đoán Ấp Bắc, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh và cách ly tại các cơ sở y tế trong tỉnh là 3.558 người, hoàn thành cách ly 3.557 người, 01 công dân còn lại đang cách ly sau điều trị tại Bệnh viện Dã chiến Long Định; Cách ly tại khách sạn: tổng cộng 65 người (đã hoàn thành cách ly 63 người; đang cách ly 07 người), 01 chuyên gia nhập cảnh từ Đài Loan làm việc tại các công ty TNHH Giày Apache Việt Nam; 01 Công ty TNHH May mặc Eco Tank, kết quả xét nghiệm lần 01 âm tính và 05 chuyên gia thuộc Công ty Công ty TNHH YMUV (Nhập cảnh ngày 15/04/2021), hiện tại tất cả sức khỏe ổn định; Công tác điều trị tại Bệnh viện Dã chiến: Có 06 ca dương tính với SARS-CoV-2 đã điều trị khỏi và xuất viện 06 ca. 4. Hoạt động giáo dục: Trong tháng 04 năm 2021, Ngành Giáo dục và Đào tạo có các hoạt động khảo thí và quản lý chất lượng giáo dục, cụ thể: Tổ chức chấm thi học sinh giỏi cấp tỉnh THCS năm học 2020-2021; Tổ chức Hội nghị tập huấn nghiệp vụ tổ chức thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học, cao đẳng năm 2021 dự kiến vào ngày 23/4/2021; Tổ chức Hội nghị tập huấn nghiệp vụ tổ chức tuyển sinh lớp 6 trung học cơ sở và lớp 10 trung học phổ thông năm học 2021-2022 dự kiến vào ngày 29/4/2021; Hướng dẫn kiểm tra học kỳ 2 năm học 2020-2021; Hướng dẫn các điểm tiếp nhận thu nhận hồ sơ đăng ký dự thi tốt nghiệp THPT năm 2021; Thông báo các đơn vị có liên quan đề xuất nhân sự thành lập Ban Chỉ đạo thi cấp tỉnh; Tổ chức đánh giá ngoài các trường Mầm non Mỹ Hạnh Trung (thị xã Cai Lậy), Mầm non Mỹ Tịnh An (huyện Chợ Gạo); Tổ chức khảo sát cơ sở vật chất tại các điểm trường dự kiến làm điểm thi tốt nghiệp THPT năm 2021; Tổ chức cho các trường biên soạn đề thi và tổ chức cho học sinh thi thử trực tuyến tốt nghiệp THPT năm 2021. 5. Hoạt động văn hóa – thể thao: Hoạt động bảo tàng Tiền Giang: Trong tháng 04 năm 2021, tại Bảo tàng và 04 di tích (Chiến thắng Ấp Bắc, Chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút, Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Khu khảo cổ Óc Eo Gò Thành) thu hút được 7.159 lượt khách; bán được 1.249 vé các loại; Diễn ra các hoạt động trưng bày, phục vụ khách tham quan nhân ngày lễ Giỗ Tổ Hùng Vương năm 2021. Hoạt động văn hóa nghệ thuật: Diễn ra các chương trình dạ khúc tri âm kỷ niệm 103 năm sân khấu cải lương ra đời tại rạp Thầy Năm Tú; họp mặt kỷ niệm 75 năm ngày Thể thao Việt Nam và giao lưu với đoàn cải lương nam bộ và nghệ sĩ nhà hát Trần Hữu Trang tại trung tâm Văn hóa – Nghệ thuật; 08 suất nhạc nước/buổi vào thứ Sáu, thứ Bảy hàng tuần (thu hút khoảng 1.200 lượt khách xem) Hoạt động thư viện tỉnh: đã phục vụ được 5.810 lượt bạn đọc (tại Thư viện tỉnh và phục vụ tại các trường học), với 30.508 lượt sách báo được đưa ra lưu hành. Trong tháng 4/2021, hệ thống thư viện huyện, thư viện xã đã tiếp được 12.805 lượt bạn đọc, với 22.034 lượt sách báo lưu hành. Hoạt động Thể dục - Thể thao đã diễn ra sôi nổi với đa dạng các môn thi đấu, cụ thể: Giải vô địch Bóng đá tỉnh Tiền Giang năm 2021 diễn ra từ ngày 08/03/2021 đến 18/03/2021; Giải Bóng bàn tỉnh Tiền Giang mở rộng lần thứ VII năm 2021diễn ra từ ngày 19/03 – 21/03/2021; Giải Bóng đá mini trẻ tỉnh Tiền Giang diễn ra từ ngày 19/03 – 24/03/2021; Hội thao kỷ niệm 75 năm Ngày thể thao Việt Nam; Đội PencakSilat tham dự giải vô địch PencakSilat toàn quốc năm 2021 diễn ra từ ngày 18/03 – 30/03/2021 tại Đà Nẵng (kết quả đạt 01 Huy chương Vàng); Đội Taekwondo tham dự giải vô địch Cúp các CLB Taekwondo toàn quốc năm 2021 diễn ra từ ngày 06/04 - 13/04/2021 tại Quảng Nam (Kết quả đạt 01 Huy chương Vàng, 02 Huy chương Bạc, 01 Huy chương Đồng); Đội Bóng đá tham dự giải Bóng đá Vĩnh Long mở rộng năm 2021, từ ngày 12/04 – 18/04/2021 tại Vĩnh Long; Đội Muay tham dự giải vô địch Muay quốc gia năm 2021 diễn ra từ ngày 08/04 – 20/04/2021 tại Thanh Hóa; Đội Vovinam tham dự giải vô địch các đội mạnh Vovinam toàn quốc, từ ngày 14/04 – 23/04/2021 tại Bà Rịa – Vũng Tàu. 6. Tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội:(Theo báo cáo của Ngành công an) Tội phạm về trật tự xã hội xảy ra 139 vụ (tăng 42 vụ so với tháng 03/2021), làm chết 02 người, bị thương 17 người, tài sản thiệt hại trị giá khoảng 4,5 tỷ đồng; điều tra khám phá bước đầu đạt tỷ lệ 46% (64 vụ), bắt xử lý 84 đối tượng. thu hồi tài sản trị giá khoảng 230 triệu đồng. Phát hiện, xử lý 29 tụ điểm, 215 đối tượng cờ bạc, 01 tụ điểm, 06 đối tượng mua bán dâm; 08 vụ, 09 đối tượng phạm tội về ma túy và xử lý vi phạm hành chính 145 đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy; 05 vụ, 03 đối tượng vi phạm pháp luật về trật tự quản lý kinh tế và 03 trường hợp vi phạm pháp luật về môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm, tài nguyên. 7. Trật tự an toàn giao thông: Theo báo cáo của Ngành công an Giao thông đường bộ: Tai nạn giao thông trong tháng xảy ra 56 vụ giảm 13 vụ so tháng trước và tăng 31 vụ so cùng kỳ, làm chết 26 người giảm 02 người so tháng trước và tăng 09 người so cùng kỳ, bị thương 44 người giảm 09 người so tháng trước và tăng 32 người so cùng kỳ. Từ đầu năm đến nay, vi phạm 214 vụ tăng 133 vụ so cùng kỳ, làm chết 97 người tăng 38 người so cùng kỳ, bị thương 156 người tăng 117 người so cùng kỳ. Các nguyên nhân gây nên tai nạn giao thông chủ yếu vẫn do ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông như: Tốc độ 06 vụ; Sai làn đường, phần đường 09 vụ; Sử dụng rượu bia 02 vụ; Vượt xe 02 vụ; Không nhường đường 01 vụ; Thiếu chú ý quan sát 07 vụ; Không giữ khoảng cách an toàn 02 vụ; Bộ hành 04 vụ; Nguyên nhân khác 02 vụ và đang điều tra 21 vụ. Vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ trong tháng xảy ra 2.857 vụ giảm 518 vụ so tháng trước và giảm 5.074 vụ so cùng kỳ; trong đó không giấy phép lái xe 351 vụ, giấy phép không hợp lệ 04 vụ, chạy quá tốc độ qui định 83 vụ, không đội mũ bảo hiểm 790 vụ, đi sai làn đường 82 vụ, uống rượu điều khiển phương tiện 73 vụ, thiết bị an toàn không đảm bảo 678 vụ... Đã xử lý tạm giữ giấy tờ và phương tiện 2.139 vụ, tước giấy phép lái xe 90 vụ, phạt tiền 718 vụ với số tiền phạt 1.776 triệu đồng. Từ đầu năm đến nay, vi phạm 10.490 vụ giảm 10.348 vụ so cùng kỳ; trong đó không giấy phép lái xe 1.352 vụ, giấy phép không hợp lệ 16 vụ, chạy quá tốc độ qui định 326 vụ, không đội mũ bảo hiểm 2.902 vụ, đi sai làn đường 287 vụ, uống rượu điều khiển phương tiện 477 vụ, thiết bị an toàn không đảm bảo 2.101 vụ... Đã xử lý tạm giữ giấy tờ và phương tiện 8.172 vụ, tước giấy phép lái xe 491 vụ, phạt tiền 2.318 vụ với số tiền phạt 7.865 triệu đồng. Giao thông đường thủy: Trong tháng không xảy ra tại nạn. Tính từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh xảy ra 01 vụ, tương đương so cùng kỳ (không phát sinh số người chết và bị thương). Vi phạm trật tự an toàn giao thông đường thủy trong tháng xảy ra 1.287 vụ tăng 331 vụ so tháng trước và giảm 681 vụ so cùng kỳ; trong đó không bằng cấp chuyên môn 02 vụ, chở quá vạch mớn nước an toàn 1.156 vụ, thiếu trang thiết bị an toàn 22 vụ và vi phạm khác 107 vụ. Đã xử lý vi phạm: lập biên bản tạm giữ giấy tờ 225 vụ và phạt tiền 1.062 vụ với số tiền phạt: 303 triệu đồng. Từ đầu năm đến nay, vi phạm 4.131 vụ giảm 612 vụ so cùng kỳ. Trong đó không bằng cấp chuyên môn 06 vụ, chở quá vạch mớn nước an toàn 3.717 vụ, thiếu trang thiết bị an toàn 93 vụ và vi phạm khác 315 vụ. Đã xử lý vi phạm: lập biên bản tại giữ giấy tờ 625 vụ và phạt tiền 3.506 vụ với số tiền phạt: 1.144,5 triệu đồng. 8. Tình hình cháy nổ, môi trường Trong tháng 04 trên địa bàn tỉnh xảy ra 06 vụ cháy và 01 vụ sạt lở : trên địa bàn Thành phố Mỹ Tho 01 vụ, Thị xã Gò Công 01 vụ, Huyện Châu Thành 02 vụ và Huyện Chợ Gạo 03 vụ ( Trong đó 01 vụ sạt lỡ đê thủy lợi); ước tính tổng thiệt hại khoảng 8.250 triệu đồng. Nguyên nhân các vụ cháy đang trong quá trình điều tra. Ngoài ra, trong tháng 04/2021, ban hành 07 quyết định xử phạt vi phạm hành chính (bao gồm 02 trường hợp vi phạm trong quý I) đối với 01 tổ chức và 06 cá nhân với số tiền xử phạt vi phạm hành chính là 119,5 triệu đồng (01 tổ chức với số tiền: 11,4 triệu đồng đồng, 06 cá nhân với số tiền: 108,1 triệu đồng), buộc bơm trả 16,7m3 cát đã khai thác trái phép và tịch thu 01 ghe gỗ trị giá 48,3 triệu đồng, đã thực hiện 05 quyết định (01 tổ chức, 04 cá nhân) với số tiền nộp vào ngân sách nhà nước là: 89 triệu đồng (01 tổ chức với số tiền: 11,4 triệu đồng, 04 cá nhân với số tiền: 77,6 triệu đồng), còn lại 02 quyết định (02 cá nhân) chưa thực hiện với số tiền là: 30,5 triệu đồng. 02 quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền là: 40 triệu đồng, hiện các đối tượng này chưa thực hiện quyết định.
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Tiền Giang Quý I năm 2021
- 18/06/2024 16:25
Quý I/2021 đóng vai trò quan trọng, là thời điểm khởi đầu cho quá trình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Tiền Giang 5 năm 2021-2025. Trong nước và trên địa bàn tỉnh, tình hình dịch bệnh cơ bản được kiểm soát tốt, công tác phòng chống dịch bệnh được toàn dân chấp hành nghiêm túc nên tạo điều kiện thuận lợi trong việc thực hiện mục tiêu kép vừa chống dịch vừa phát triển kinh tế - xã hội. Đồng thời quý I cũng là thời điểm Tết Nguyên đán Tân Sửu nên hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh khá sôi nổi, tuy nhiên tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh đối mặt nhiều khó khăn, thách thức do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 tác động đến hầu hết các hoạt động của xã hội nhất là về thương mại, đầu tư, du lịch, giao thông… UBND tỉnh chỉ đạo ngành Y tế phối họp các sở, ngành chủ động phòng ngừa dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của dịch bệnh Covid-19 gây ra. Phát hiện sớm trường hợp nghi ngờ mắc bệnh. Xử lý kịp thời không để dịch lây lan, hạn chế đến mức thấp nhất. Kết quả thực hiện trên các lĩnh vực như sau: I. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊU KINH TẾ 1. Tài chính - Ngân hàng: a. Tài chính: Tổng thu ngân sách nhà nước quý I được 7.094,9 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn thực hiện 3.171,3 tỷ đồng, đạt 29,9% dự toán và tăng 4,1% so cùng kỳ; thu nội địa 3.101,3 tỷ đồng, đạt 30% dự toán, tăng 3,6% so cùng kỳ (trong thu ngân sách trên địa bàn: thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 1.027,7 tỷ đồng, đạt 29,8% dự toán, tăng 10,3% so cùng kỳ; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 408,3 tỷ đồng, đạt 29,2% dự toán, giảm 1,7% so cùng kỳ, thu từ hoạt động xổ số kiến thiết 522 tỷ đồng, đạt 31,6% dự toán, giảm 9,2% so cùng kỳ...). Tổng chi ngân sách nhà nước quý I là 4.390,7 tỷ đồng; trong đó: chi cân đối ngân sách 3.075 tỷ đồng, đạt 25,1% dự toán, tăng 2,1% so cùng kỳ; trong đó: chi đầu tư phát triển 1.350 tỷ đồng, đạt 36,5% dự toán; chi hành chính sự nghiệp 1.590 tỷ đồng, đạt 23,1% dự toán và tăng 7,9% so cùng kỳ. b. Ngân hàng: Trong quý, bám sát các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Ngành Ngân hàng đã triển khai nhiều nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu đặc biệt tiếp tục thực hiện các giải pháp hỗ trợ khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19 và các chương trình tín dụng đặc thù. Các tổ chức tín dụng chấp hành nghiêm mức lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 01 tháng là 0,2%/năm. Mức lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 01 tháng đến dưới 6 tháng là 4,0%/năm. Ước tính đến cuối tháng 03/2021, tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn đạt 75.992 tỷ, giảm 152 tỷ, tỷ lệ giảm 0,2% so với cuối năm 2020. Trong quý, dư nợ có sự biến động tăng giảm đan xen do nhu cầu vốn để sản xuất phục vụ Tết nguyên đán. Ước tính đến cuối tháng 03/2021, dư nợ trên địa bàn đạt 66.276 tỷ, tăng 1.974 tỷ, tỷ lệ tăng 3,07% so với cuối năm 2020. Nợ xấu: đến cuối tháng 02/2021, số dư là 827 tỷ đồng, chiếm 1,26%/ tổng dư nợ, tăng 24 tỷ, tỷ lệ tăng 0,01% so với cuối năm 2020. Nhìn chung các ngân hàng phát sinh nợ xấu trong giới hạn an toàn với tỷ lệ thấp. Cho vay bình ổn hàng Tết Nguyên đán Tân Sửu 2021: Thực hiện kế hoạch số 325/KH-UBND ngày 24/11/2020 của UBND tỉnh Tiền Giang về dự trữ, cung ứng hàng hóa thiết yếu phục vụ tết Nguyên đán Tân Sửu 2021. Đến cuối tháng 02/2021 có 02 ngân hàng tham gia đã giải ngân với dư nợ 23 tỷ đồng. Kết quả thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho khách hàng bị thiệt hại do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19: Đến cuối tháng 01/2021, tổng dư nợ bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19 là 9.253 tỷ đồng. Trong đó, khách hàng doanh nghiệp bị ảnh hưởng chiếm 48,25%, khách hàng cá nhân bị ảnh hưởng chiếm 51,55%. Ngành bị ảnh hưởng chủ yếu là Công nghiệp chế biến, chế tạo và bán buôn, bán lẻ..... Có 3.328 khách hàng được hỗ trợ thông qua các biện pháp như: Cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ; miễn giảm lãi; Cho vay mới với lãi suất ưu đãi thấp hơn so với lãi suất cho vay trước khi có dịch. Các ngân hàng và tổ chức tín dụng đang tiếp tục triển khai các giải pháp theo kế hoạch hành động, kịch bản hỗ trợ khách hàng. Quỹ tín dụng nhân dân: quỹ tín dụng nhân dân hoạt động ổn định, các chỉ tiêu đều đạt mức tăng trưởng. Một số kết quả đạt được trong tháng 02/2021 so với cuối năm 2020 như sau: Nguồn vốn hoạt động đạt 1.159 tỷ đồng, tăng 27,7 tỷ, tỷ lệ tăng 2,45%, trong đó vốn huy động chiếm 87,32%. Dư nợ cho vay đạt 847 tỷ, giảm 4,1 tỷ, tỷ lệ giảm 0,49%. Nợ xấu số dư 3,2 tỷ, tăng 599 triệu, tỷ lệ nợ xấu 0,38%, tăng 0,07%. 2. Giá cả, lạm phát: Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 03/2021 giảm 0,34% so tháng 02/2021 (thành thị giảm 0,04%, nông thôn giảm 0,41%); so cùng kỳ tăng 1,99%. So với tháng 02/2021, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có 3 nhóm hàng tăng: Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,17%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,12%; Giao thông tăng 3%. Có 05 nhóm giảm: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 1,85% (trong đó: lương thực giảm 0,05%, thực phẩm giảm 2,95% và ăn uống ngoài gia đình giảm 0,05%); Đồ uống và thuốc lá giảm 0,01%; May mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,14%; Bưu chính viễn thông giảm 0,14% và nhóm Hàng hoá và dịch vụ khác giảm 0,03%. Có 03 nhóm chỉ số giá ổn định: Thuốc, dịch vụ y tế; Giáo dục và nhóm Văn hoá, giải trí và du lịch. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 03/2021 giảm so tháng 02/2021 do ảnh hưởng COVID-19, kinh tế khó khăn người dân sử dụng điện, nước tiết kiệm làm cho giá điện sinh hoạt tháng 03/2021 giảm 0,42%, giá nước sinh hoạt giảm 0,16%. Bên cạnh đó, một số mặt hàng có chỉ số giá tăng làm kìm hãm tốc độ tác động đến chỉ số giá tiêu dùng chung như: Giá gas tăng 1,45%, do giá gas trong nước điều chỉnh tăng giá từ ngày 01/3/2021 với mức tăng 5.000 đồng/bình 12 kg, cùng với đó, giá dầu hoả trong tháng tăng 8,16% tương ứng tăng 1.430 đồng/lít. Tác động nhóm giá gas và các loại chất đốt khác tăng 1,41%. Trong tháng, giá xăng dầu điều chỉnh tăng 02 đợt vào ngày 25/2/2021 và ngày 12/03/2021, tính chung: giá xăng A95 tăng 1.610 đồng/lít, xăng E5 tăng 1.520 đồng/lít, dầu diezel 0,05S tăng 1.470 đồng/lít so với tháng trước, tác động chỉ số giá nhóm nhiên liệu tăng 6,44%. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân quý I/2021 so cùng kỳ tăng 1,43%; một số nhóm hàng có giá tăng nhiều trong quý I/2021 so cùng kỳ như: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,17%; nhóm giáo dục tăng 4,69; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,56%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,28%; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 3,32%;... Chỉ số giá vàng 24 kara Ngọc Thẩm trong tháng 3/2021 giảm 3,01% so tháng trước, giá bình quân tháng 03/2021 là 5.318 ngàn đồng/chỉ, tăng 712 ngàn đồng/chỉ so cùng kỳ. Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng 03/2020 tăng 0,08% so tháng trước, giá bình quân 23.133 đồng/USD, tăng giảm 184 đồng/USD so cùng kỳ. 3. Đầu tư và Xây dựng: Vốn đầu tư toàn xã hội quý I/2021, ước thực hiện được 6.640,7 tỷ đồng, đạt 16,9% kế hoạch, tăng 2,2% so cùng kỳ (trong đó: vốn đầu tư xây dựng cơ bản 4.228,8 tỷ đồng, chiếm 63,7% vốn đầu tư toàn xã hội, tăng 0,7% so cùng kỳ; vốn đầu tư bổ sung vốn lưu động 750,4 tỷ đồng, chiếm 11,3%, tăng 2%...); bao gồm: vốn Nhà nước 835,4 tỷ đồng, tăng 14,7%; vốn ngoài Nhà nước 5.025,3 tỷ đồng, tăng 6,5%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 780 tỷ đồng, giảm 25,6% so cùng kỳ. Tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý quý I/2021 là 548,3 tỷ đồng, đạt 15% kế hoạch, tăng 19,3% so cùng kỳ; gồm có: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 437,8 tỷ đồng, tăng 19,7%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện 97 tỷ đồng, tăng 17,9%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 13,6 tỷ đồng, tăng 18,7% so cùng kỳ. Giá trị sản xuất ngành xây dựng quý I/2021 thực hiện 2.906,6 tỷ đồng, tăng 8,5% so cùng kỳ; trong đó: doanh nghiệp nhà nước thực hiện 35,1 tỷ đồng, tăng 2,5%, doanh nghiệp ngoài nhà nước thực hiện 1.026,3 tỷ đồng, tăng 5,8%, loại hình khác thực hiện 1.845,1 tỷ đồng, tăng 10,2%. Giá trị sản xuất ngành xây dựng tăng hơn so cùng kỳ, tuy nhiên vẫn còn tồn tại một số khó khăn thách thức như: công tác giải phóng mặt bằng, ảnh hưởng của dịch covit -19 đã ảnh hưởng đến giá trị của ngành xây dựng. Giá trị sản xuất ngành xây dựng quý I/2021 đạt 2.003,6 tỷ đồng (giá so sánh 2010), tăng 7,8% so cùng kỳ. 4. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp: Tổng số doanh nghiệp thành lập mới từ 01/01/2021 đến 16/3/2021 là 131 doanh nghệp, với tổng vốn đăng ký là 815,9 tỷ đồng, bao gồm vùng Trung tâm: 72 doanh nghiệp, tổng vốn đăng ký 545,7 tỷ đồng; vùng phía Tây: 39 doanh nghiệp, tổng vốn đăng ký 218,3 tỷ đồng; vùng phía Đông: 20 doanh nghiệp, tổng vốn đăng ký 51,8 tỷ đồng. Đăng ký 132 đơn vị trực thuộc (30 chi nhánh, 177 địa điểm kinh doanh, 05 văn phòng đại diện); đăng ký giải thể 26 doanh nghiệp. Tính đến cuối tháng 3/2021, toàn tỉnh hiện có khoảng 6.400 doanh nghiệp hoạt động doanh nghiệp hoạt động. Trong Quý I/2021, tiếp tục triển khai các giải pháp hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp như: tổ chức các Đoàn để Lãnh đạo tỉnh đi thăm doanh nghiệp trước Tết nguyên đán Tân Sửu 2021; dự thảo Nghị quyết của Tỉnh ủy về tiếp tục lãnh đạo nâng cao hiệu quả công tác hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đến năm 2025; triển khai thực hiện Luật Doanh nghiệp năm 2020 và Nghị định 01/2021/NĐ-CP ngày 04/1/2021 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp; chuẩn bị tổ chức Ngày hội khởi nghiệp tỉnh Tiền Giang... 5. Sản xuất nông - lâm nghiệp và thủy sản: a. Nông nghiệp: Diễn biến xâm nhập mặn năm 2020-2021 đến trễ hơn mùa mặn năm 2019-2020 khoảng 30 ngày. Nguồn nước phục vụ dân sinh và sản xuất vụ Đông Xuân 2020-2021 đến nay được đảm bảo. Công tác phòng chống hạn mặn được chủ động, triển khai thực hiện ngay từ rất sớm và có sự quyết tâm, phối hợp chặt chẽ của cả hệ thống chính trị trong công tác chỉ đạo, điều hành ứng phó với hạn, mặn. Các chính sách hỗ trợ nông dân trong công tác phòng chống dịch bệnh; quản lý và sử dụng đất trồng lúa; hỗ trợ chuyển đổi cơ cấu cây trồng tại các huyện phía Đông; khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản; hỗ trợ khai thác, nuôi trồng hải sản và dịch vụ khai thác hải sản trên các vùng biển xa… tiếp tục giúp cho nông, ngư dân ổn định sản xuất. Đến thời điểm hiện tại, các loại cây trồng trên địa bàn tỉnh sinh trưởng và phát triển tốt.Trồng trọt: Cây lương thực có hạt: ước tính đến cuối quý I/2021, gieo trồng được 76.138 ha, đạt 56,8% kế hoạch, giảm 12,2% so cùng kỳ; sản lượng thu hoạch 368.524 tấn, đạt 45,9% kế hoạch, giảm 2,7% so cùng kỳ chủ yếu là do diện tích gieo trồng lúa vụ Đông Xuân 2020 - 2021 giảm 10,3%, trong đó: cây lúa gieo sạ 74.947 ha, thu hoạch 51.647 ha với sản lượng 365.089 tấn. - Cây lúa: * Vụ Đông Xuân 2020-2021: chính thức xuống giống 51.647 đạt 100% kế hoạch gieo trồng của vụ, giảm 10,3% so cùng kỳ, do chuyển từ diện tích trồng lúa sang trồng cây ăn quả cho giá trị kinh tế cao hơn như: sầu riêng, mít, thanh long,… Mặc khác, do hạn, mặn kéo dài ở khu vực phía đông chưa xả sổ kịp độ mặn nên một số diện tích không chuyển sang trồng rau, màu các loại. Cơ cấu giống lúa: Giống lúa đặc sản, chất lượng cao như: Nàng hoa 9, OM 4900, OM 5451, OM VD 20, Đài thơm 8... chiếm tỉ lệ 73,19%; giống lúa thường như IR 50404, C10: chiếm tỉ lệ 17,66%; các giống lúa khác: chiếm 9,15%. Ước tính đến cuối tháng 3 thu hoạch dứt điểm, năng suất bình quân ước đạt 70,7 tạ/ha, tăng 7,2% so cùng kỳ tương ứng tăng 4,7 tạ/ha, vùng lúa phía đông năng suất bình quân 65,6 tạ/ha; phía tây là 74,7 tạ/ha: cao nhất là 78,5 tạ/ha, thấp nhất là 70 tạ/ha. Sản lượng ước 365.089 tấn, giảm 2,4% so cùng kỳ tương ứng giảm 8.881 tấn, do diện tích gieo trồng giảm như. Giá lúa tươi bán tại ruộng hiện nay từ 6.500- 7.500 đ/kg cao hơn so với cùng kỳ năm trước từ 1.900 - 2.500đ/kg, vụ Đông Xuân bà con nông dân có lãi khá, được mùa được giá. * Vụ Hè Thu (gồm Xuân Hè và Hè Thu): vụ Xuân Hè ước trong quý I gieo sạ 23.300 ha giảm 14,1% so cùng kỳ, diện tích dự kiến gieo trồng khoảng 26.300 ha, trà lúa đang giai đoạn mạ.Vụ Hè Thu chưa xuống giống. - Cây ngô: vụ Đông Xuân gieo trồng 1.191 ha, đạt 34% kế hoạch, giảm 39,3% so cùng kỳ, thu hoạch 963 ha, năng suất quy thóc 35,7 tạ/ha với sản lượng quy thóc 3.435 tấn, đạt 27% kế hoạch, giảm 25,5% so cùng kỳ. Do ảnh hưởng một phần hạn mặn kéo dài và chuyển đổi sang trồng cây thanh long và một số cây ăn quả khác. Trong đó, huyện Chợ Gạo nằm trong vùng ngọt hóa Gò Công phía đông tỉnh Tiền Giang có diện tích trồng ngô lớn nhất tỉnh với 521 ha chiếm 43,7% diện tích ngô toàn tỉnh. Đây cũng là địa phương có tốc độ chuyển dịch cơ cấu sản xuất từ trồng lúa sang các cây trồng khác mạnh nhất tỉnh. Cây rau đậu các loại: vụ Đông Xuân gieo trồng 29.687 ha, thu hoạch 25.935 ha với sản lượng 528.291 tấn, đạt 47,5% kế hoạch, tăng 3,9% so cùng kỳ; trong đó: rau các loại 29.559 ha, thu hoạch 25.896 ha với sản lượng 528.175 tấn, tăng 3,4% so cùng kỳ. Cây ăn quả: Hiện toàn tỉnh có 81.785 ha trồng cây ăn quả, tăng gần 4% tương ứng tăng 3.110 ha so cùng kỳ, do chuyển đổi diện tích từ đất lúa sang trồng cây ăn quả. Sản lượng thu hoạch ước đạt 1.528.481 tấn, tăng 2,9% tương ứng tăng 42.769 tấn so cùng kỳ, do diện tích một số cây trồng tăng đã làm cho sản lượng tăng lên như: thanh long, mít, ổi, mận... Bên cạnh đó có một số cây ăn quả có sản lượng thu hoạch giảm như: xoài, hồng xiêm, chuối …do diện tích gieo trồn giảm. Riêng sản lượng sầu riêng giảm 48.617 tấn so cùng kỳ là do ảnh hưởng xâm nhập mặn kéo dài, lấn sâu vào đất liền làm giảm năng suất. Chăn nuôi: ước thời điểm 01/3/2021 tổng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh như sau: đàn bò 120 ngàn con, tăng 0,2%; đàn lợn 261,4 ngàn con, giảm 19,1%; đàn gia cầm (không kể chim cút) 17,7 triệu con, tăng 15,6% so cùng kỳ b. Lâm nghiệp: Quý I/2021, thực hiện trồng mới được 0,8 ngàn cây, tổng số cây trồng đến nay 1,75 ngàn cây tăng 45,83% so với cùng kỳ. Cây trồng mới chủ yếu ở những xã Nông thôn mới trồng trên các bờ kênh, ven sông, các loại cây trồng chủ yếu là bạch đàn, xà cừ, tràm. Tổng diện tích rừng trên địa bàn tỉnh hiện có 1956,2 ha (không gồm diện tích rừng thuộc đất an ninh quốc phòng); gồm: diện tích rừng phòng hộ 1.337,4 ha và rừng sản xuất 618,8 ha; đã giao khoán quản lý bảo vệ rừng phòng hộ ven biển năm 2021 với diện tích giao khoán là 1.282 ha. Trong quý không xảy ra cháy rừng. Khai thác gỗ: ước quý I/2021, sản lượng gỗ khai thác đạt 8.205 m3 so cùng kỳ giảm 8,1%, do diện tích khai thác từ rừng và cây trồng giảm. Các loại gỗ được khai thác chủ yếu từ các loại cây như: bạch đàn, bạch đàn cao sản, dầu gió, tràm lanh. Khai thác củi: ước quý I/2021, sản lượng củi khai thác được 22.719 Ste củi các loại so cùng kỳ giảm 5,9%, các hộ dân ở huyện Cái Bè, Cai Lậy, Tân Phước khai thác những cây ăn quả đã già không cho trái, cho trái ít để chuyển đổi sang trồng cây ăn quả khác như: mít, thanh long, chanh, sầu riêng. c. Thủy hải sản: Diện tích nuôi thủy sản các loại trong quý I là 10.377 ha, đạt 65,5% kế hoạch, tăng 0,9% so cùng kỳ. Thủy sản nước ngọt nuôi 3.186,5 ha, tăng 1,8% so cùng kỳ. Thủy sản nước mặn, lợ nuôi 7.190,3 ha, tăng 0,6% so cùng kỳ, chủ yếu là nuôi tôm sú nuôi quảng canh và nuôi tôm thẻ chân trắng. Sản lượng thủy sản thu hoạch trong quý I là 66.836 tấn, đạt 22,7% kế hoạch, tăng 12,5% so cùng kỳ; trong đó: sản lượng thu hoạch từ nuôi 34.412 tấn, đạt 22,1% kế hoạch, tăng 21,7% so cùng kỳ; sản lượng khai thác 32.424 tấn, đạt 24,8% kế hoạch, tăng 4,2% so cùng kỳ, do thời tiết thuận lợi cho hoạt động khai thác, ngư dân sau khi nghỉ tết âm lịch tiến hành ra khơi. Tình hình dịch bệnh trên cây trồng và vật nuôi quý I/2021: - Tình hình dịch tả lợn Châu Phi Từ ngày 15/12/2020 đến nay, trên địa bàn tỉnh có 15 hộ của các huyện như: Châu Thành, Gò Công Tây, Gò Công Đông, Tân Phú Đông và Cái Bè có heo mắc bệnh. Tổng đàn 309 con, đã tiêu hủy 270 con với khối lượng 7,1 tấn. Ngoài ra, địa phương tiêu hủy heo bệnh chết tại 02 hộ cũ (năm 2020) với số lượng 105 con/2,973 tấn. - Tình hình dịch bệnh lở mồm long móng Có 01 trường hợp heo mắc bệnh lở mồm long móng tại huyện Cái Bè. Tổng đàn 35 con, đã tiêu hủy 35 con với khối lượng 3,9 tấn; đồng thời triển khai thực hiện công tác tiêu độc khử trùng tại cơ sở thu gom heo và vùng bị uy hiếp. - Bệnh cúm gia cầm: Đến nay, có 02 trường hợp gà bệnh cúm gia cầm ở xã Bình Phục Nhứt, huyện Chợ Gạo và thị trấn Mỹ Phước, huyện Tân Phước. Tổng đàn 4.000 con, trong đó, gà bệnh và chết được tiêu hủy dưới sự giám sát của chính quyền địa phương là 3.830 con. 6. Sản xuất công nghiệp: Giá trị sản xuất công nghiệp địa phương quý I/2021 theo giá so sánh 2010 thực hiện 20.709 tỷ đồng, tăng 1,1% so cùng kỳ. Trong đó: khu vực kinh tế nhà nước 262,3 tỷ đồng, tăng 5,7%; khu vực kinh tế ngoài nhà nước 7.993,3 tỷ đồng, tăng 0,4%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 12.454,2 tỷ đồng, tăng 1,4%. Phân theo ngành công nghiệp: chế biến chế tạo thực hiện 20.403 tỷ đồng, tăng 0,9%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí thực hiện 174,6 tỷ đồng, tăng 7,9%; cung cấp nước, hoạt động quản lý rác thải, nước thải thực hiện 131,9 tỷ đồng, tăng 8,7% so cùng kỳ. Chỉ số sản xuất công nghiệp quý I/2021 tăng 1,1% so với cùng kỳ do các ngành chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh sản xuất tiếp tục ổn định và tăng so cùng kỳ; trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,3% (tập trung ở một số ngành chủ yếu sau: sản xuất trang phục tăng 45,4%, sản xuất thiết bị điện 60,5%, sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác 50%...); ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 1,8%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 3,9%. Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 3/2021 tăng 1,06% so với tháng trước, (trong đó doanh nghiệp nhà nước bằng 100%, doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 1,81%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 0,88%). Giảm 11,8% so cùng kỳ, (trong đó doanh nghiệp nhà nước giảm 0,97%, doanh nghiệp ngoài quốc doanh giảm 7,54%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm 13,35%). Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp quý I/2021 giảm 11,62%, (trong đó doanh nghiệp nhà nước giảm 1,57%, doanh nghiệp ngoài quốc doanh giảm 10,3%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm 12,32%). Chỉ số sử dụng lao động quý I/2021 chia theo ngành công nghiệp: ngành công nghiệp chế biến chế tạo giảm 11,86%; Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 0,08%; Cung cấp nước, hoạt động quản lý rác thải, nước thải giảm 4,39%. Sản phẩm sản xuất công nghiệp quý I/2021: Có 15/38 sản phẩm tăng so cùng kỳ: Cáp đồng trục và dây dẫn điện đồng trục tăng 111,3%; Bộ com lê, quần áo đồng bộ, áo jacket, quần dài, quần yếm, quần soóc cho người lớn dệt kim hoặc đan móc tăng 54,3%; Cấu kiện làm sẵn cho xây dựng hoặc kỹ thuật dân dụng, bằng xi măng, bê tông hoặc đá nhân tạo tăng 50%; Thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng viên tăng 32,9%; Dịch vụ thu gom rác thải không độc hại có thể tái chế tăng 21,8%;… Có 23/38 sản phẩm giảm so cùng kỳ: túi xách giảm 17,8%; thức ăn cho gia súc giảm 7,3%; dịch vụ thu gom rác thải không độc hại có thể tái chế giảm 2,6%; cửa ra vào, cửa sổ bằng sắt, thép giảm 1,3%; thức ăn cho thủy sản giảm 1%... Chỉ số tiêu thụ tháng 3/2021 so với tháng trước tăng 16,83% và giảm 6,3% so cùng kỳ. Chỉ số tiêu thụ cộng dồn từ đầu năm đến cuối tháng 3 năm 2021 giảm 9,73%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao: Sản xuất đồ uống tăng 0,87%, trong đó sản xuất bia tăng 0,87%; Dệt tăng 39,99%, trong đó sản xuất hàng may sẳn tăng 159,41%; Sản xuất trang phục tăng 33,9%; Sản xuất thiết bị điện tăng 86,84%, trong đó sản xuất dây cáp, dây điện bằng gấp 2,1 lần; Sản xuất máy móc thiết bị chưa phân vào đâu tăng 0,01%;… Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm so cùng kỳ là: Sản xuất chế biến thực phẩm giảm 22,78%, trong đó chế biến, bảo quản thủy sản và các sản phẩm từ thủy sản giảm 40,38%; Sản xuất da giảm 14,86%, trong đó sản xuất giày dép giảm 14,44%; Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ giảm 16,93%; Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 14,36%; Sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu giảm 0,5%; Sản xuất sản phẩm cao su và plastic giảm 12,7%; Sản xuất kim loại giảm 11,78%… Chỉ số tồn kho tháng 3/2021 so với tháng trước tăng 20,6% và so với cùng kỳ tăng 45,71%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so với cùng kỳ là: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 41%, trong đó sản xuất thức ăn cho gia súc, gia cầm và thuỷ sản tăng 35,99%; Sản xuất đồ uống tăng 6,66%, trong đó sản xuất bia tăng 6,66%; Sản xuất trang phục tăng 92,85%; Sản xuất da tăng 2,39%, trong đó sản xuất giày dép tăng 8,79%... Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tồn kho giảm so cùng kỳ là: Dệt giảm 23,35%, trong đó sản xuất sợi giảm 44,26%; Công nghiệp chế biến chế tạo khác giảm 11%%, trong đó sản xuất đồ chơi giảm 11%;… Tình hình thu hút đầu tư và phát triển các khu - cụm công nghiệp: - Khu công nghiệp:đến nay tỉnh đã được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương quy hoạch 7 khu công nghiệp với tổng diện tích 2.083,5 ha; trong đó có 4 khu công nghiệp được thành lập và đi vào hoạt động. Quý I/2021, điều chỉnh 4 dự án tăng thêm vốn đầu tư là 1,5 triệu USD. Đến cuối tháng 3/2021, tổng số dự án tại các khu công nghiệp là 107 dự án (trong đó: có 78 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài) với tổng vốn đầu tư đăng ký là 2,4 tỷ USD và 4.575,9 tỷ đồng:đầu tư trực tiếp nước ngoài 2.361,7 triệu USD. Diện tích đất đã cho thuê 561,4/758,3 ha, đạt 74% diện tích đất của 4 khu công nghiệp đang hoạt động. - Cụm công nghiệp: trên địa bàn tỉnh có 27 cụm công nghiệp được quy hoạch; trong đó có 4 cụm công nghiệp đang hoạt động. Trong quý I/2021 không thu hút dự án đầu tư mới. Tổng số dự án đầu tư tại các cụm công nghiệp đến nay là 79 dự án (trong đó: có 6 dự án đầu tư nước ngoài) với tổng vốn đầu tư 150 triệu USD và 2.306,2 tỷ đồng, diện tích thuê đất là 89,8 ha, tỷ lệ lắp đầy đạt 74,5%. 7. Thương mại, dịch vụ: a. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng: Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng quý I/2021 thực hiện 17.549,9 tỷ đồng, đạt 25% kế hoạch, tăng 14,7% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 14.065,3 tỷ đồng, tăng 14,1%; lưu trú 9,8 tỷ đồng, giảm 57,6%; ăn uống 1.652,3 tỷ đồng, tăng 21,2%; du lịch lữ hành 3,7 tỷ đồng, giảm 74,2%; dịch vụ 1.818,7 tỷ đồng, tăng 15,7% so cùng kỳ. Tình hình hàng hóa phục vụ Tết Nguyên đán Tân Sửu 2021: Nhu cầu mua sắm của người dân tăng cao trong những ngày đầu tháng, thị trường hàng hóa trên địa bàn tỉnh cũng vì thế sôi động. Tại hầu hết các chợ, siêu thị, cửa hàng tiện ích, cơ sở kinh doanh, hàng hóa đã tăng đáng kể với sự đa dạng trong chủng loại, mẫu mã, nhãn hiệu, nguồn gốc xuất xứ, đảm bảo phục vụ cho nhu cầu mua sắm của người dân. Tình hình lưu chuyển hàng hóa trên địa bàn tỉnh tiếp tục được ổn định. Một số hoạt động và tình hình hàng hóa trên địa bàn tỉnh như sau: b. Xuất - Nhập khẩu: * Xuất khẩu: Giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng hóa quý I/2021 ước đạt 716,6 triệu USD, đạt 22% kế hoạch, tăng 10,6% so cùng kỳ; trong đó: kinh tế nhà nước 2,2 triệu USD, tăng 47%; kinh tế ngoài nhà nước 121 triệu USD, giảm 1,7%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 593,4 triệu USD, tăng 13,4% so cùng kỳ. Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của tỉnh trong quý I/2021 như sau: - Thủy sản: ước xuất 20.808 tấn, tăng 2,1% so cùng kỳ, về giá trị đạt 48,4 triệu USD, tăng 1% so cùng kỳ. Bên cạnh những thuận lợi, ngành thủy sản sẽ phải đối mặt với các rào cản như: giá bán buôn cá tra tại đồng bằng sông Cửu Long thấp nhất trong 10 năm qua (hiện giá cá loại1 từ 18.000 - 18.500 đồng/kg); thuế chống bán phá giá tôm và cá tra tại thị trường Mỹ chưa có dấu hiệu chấm dứt trong 5 năm tới Ngoài ra, thẻ vàng IUU chưa được gỡ cũng ít nhiều ảnh hưởng tới xuất khẩu thủy sản. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu sang những thị trường có hiệp định thương mại tự do (FTA) để hưởng ưu đãi thuế, tăng tính cạnh tranh và mở rộng xuất khẩu vào những thị trường mới cũng phần nào giúp kim ngạch cá tra phục hồi. Cụ thể, xuất khẩu cá tra vào các nước trong khối Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) có kim ngạch vượt qua thị trường Trung Quốc, Hồng Kông. Đây là dấu hiệu đáng mừng khi các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra giảm dần việc phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc, tạo sự cân bằng trong hoạt động xuất khẩu vào các thị trường lớn. - Gạo: ước xuất 34.871 tấn, giảm 12,3% so cùng kỳ, về giá trị đạt 18,9 triệu USD, tăng 3,9% so cùng kỳ; Quý I/2021, dù gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 nhưng ngành gạo tỉnh đã có những bước phát triển vượt bậc. Nhiều công ty thuộc Hiệp hội Lương thực Việt Nam đã ký được nhiều hợp đồng xuất khẩu, đặc biệt là với thị trường châu Âu và một số thị trường thuộc Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) mà Việt Nam vừa ký kết vào ngày 15/11/2020. Theo đó, Malaysia và Singapore là hai thị trường thuộc nhóm 10 nước có kim ngạch lớn nhất trong tổng xuất khẩu gạo của Việt Nam. Đây cũng là sự kiện có ý nghĩa tích cực ngay sau khi chúng ta ký kết Hiệp định RCEP bao gồm 10 nước thành viên ASEAN và 5 quốc gia mà ASEAN đã ký hiệp định thương mại tự do. Thời gian tới, các sản phẩm gạo cần tập trung vào những loại chất lượng cao, đang có kết quả xuất khẩu tốt; đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm để có thể gia nhập những thị trường khó tính như: Mỹ, Canada… - Hàng dệt, may: ước xuất 34.457 ngàn sản phẩm, giảm 28,8%, trị giá đạt 109,8 triệu USD, giảm 4,3% so cùng kỳ; Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) giúp ngành dệt may sẽ được mở ra một thị trường lớn với mức độ cam kết ít khắt khe hơn, yêu cầu dễ chịu hơn so với Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA), Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương. Hơn nữa, trong khối RCEP có một số nước là thành viên của CPTPP sẽ giúp chúng ta những khó khăn, thách thức đến từ nguyên liệu "đầu vào", phần nguyên liệu bị thiếu hụt trong nước hiện nay, sẽ giải quyết được một số vấn đề lớn cho doanh nghiệp ngành dệt may khi Trung Quốc bắt đầu nhập khẩu sản phẩm dệt may của Việt Nam, cơ hội rộng mở với thị trường tỷ dân này. Bên cạnh đó, Nhật Bản cũng là một thị trường tiềm năng, hàng may mặc vào thị trường này buộc phải chứng minh được nguyên liệu có nguồn gốc xuất xứ từ ASEAN và Nhật Bản với RCEP, hàng may mặc Việt Nam được sản xuất từ nguyên phụ liệu phần lớn được nhập khẩu từ Trung Quốc được hưởng ưu đãi về thuế quan khi xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản. * Nhập khẩu: Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa quý I/2021 thực hiện 545 triệu USD, đạt 30,3% kế hoạch, tăng 31,6% so cùng kỳ; trong đó: kinh tế ngoài nhà nước 23,2 triệu USD, tăng 4,1%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 521,7 triệu USD, tăng 33,1% so cùng kỳ. Nguyên liệu nhập khẩu chủ yếu các mặt hàng như kim loại thường khác 309,4 triệu USD, tăng 51,2%; nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày 66,2 triệu USD, tăng 10,3%; vải các loại 39,4 triệu USD, giảm 28,7%... so cùng kỳ. c. Vận tải: Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải quý I/2021 thực hiện 509,3 tỷ đồng, giảm 10,3% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 147 tỷ đồng, giảm 16,3% so cùng kỳ; vận tải hàng hóa thực hiện 309,5 tỷ đồng, giảm 6,7% so cùng kỳ. Vận tải đường bộ thực hiện 260,9 tỷ đồng, giảm 6,1%; vận tải đường thủy thực hiện 195,7 tỷ đồng, giảm 13,9%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 52,7 tỷ đồng, giảm 12,5% so cùng kỳ. Nguyên nhân doanh thu vận tải giảm so cùng kỳ do: Tình hình dịch Covit-19 diễn biến phức tạp kéo dài, ảnh hưởng đến tình hình sản xuất và đi lại của người dân, học sinh, sinh viên; tình hình hạn mặn nên các cống, đập tạm đóng lại để trữ nước ngọt, cộng với mực nước các tuyến kênh thấp, lồng kênh một số đoạn bị sạt lở ảnh hưởng đến các tuyến giao thương hàng hoá đường thuỷ. Vận chuyển hành khách đạt 8.330 ngàn hành khách, giảm 10,7% và luân chuyển được 160,9 ngàn hành khách.km, giảm 10,5% so cùng kỳ; trong đó: vận chuyển đường bộ 3.956 ngàn hành khách, giảm 5,6% và luân chuyển 154.833 ngàn hành khách.km, giảm 8,6% so cùng kỳ; vận chuyển đường thủy 4.374 ngàn hành khách, giảm 14,8% so cùng kỳ. Vận tải hàng hóa đạt 2.873 ngàn tấn, giảm 5,8% và luân chuyển được 361.569 ngàn tấn.km, giảm 10% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ thực hiện 729 ngàn tấn, tăng 6% và luân chuyển được 77.170 ngàn tấn.km, giảm 12,5% so cùng kỳ; vận tải đường thủy thực hiện 2.144 ngàn tấn, giảm 9,2% và luân chuyển được 284.399 ngàn tấn.km, giảm 9,3% so cùng kỳ. * Phương tiện giao thông: tổng số xe đang quản lý trên địa bàn tỉnh đến cuối quý I/2021 là 1.332.820 chiếc; trong đó: mô tô xe máy 1.291.965 chiếc, 40.138 xe ô tô, 153 xe ba bánh, 159 chiếc xe đạp điện và 405 xe khác. d. Du lịch: Ước lượng khách du lịch đến tỉnh trong quý I/2021 đạt 151,5 ngàn lượt, đạt 17,4% kế hoạch, giảm 54,5% so cùng kỳ; trong đó khách quốc tế đạt 2,5 ngàn lượt, bằng 2,6% so cùng kỳ. Doanh thu hoạt động lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành đạt 1.665,9 tỷ đồng, tăng 18,9 %; trong đó doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống chiếm 99,8%. Trước tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp trên cả nước; thực hiện kết luận của Ban Thường vụ Tỉnh ủy tại Thông báo số 13-TB/TU ngày 03/02/2021, UBND tỉnh chỉ đạo chợ hoa Xuân Tân Sửu năm 2021 vẫn được tổ chức, nhưng không tổ chức Lễ khai mạc Chợ hoa Xuân và tăng cường công tác tuyên truyền, thực hiện nghiêm túc các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19 tại khu vực Chợ hoa Xuân. Bên cạnh đó, trên địa bàn tỉnh dừng tổ chức bắn pháo hoa tầm thấp đêm giao thừa tại các địa phương dự kiến trước đó. Một số doanh nghiệp du lịch tiếp tục thu hẹp hoạt động kinh doanh, lượng khách du lịch đến tỉnh giảm mạnh so với cùng kỳ. e. Bưu chính viễn thông: Quý I/2021, doanh thu dịch vụ bưu chính, viễn thông đạt 752 tỷ đồng, tăng 2,2% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính 63,8 tỷ đồng, tăng 11,5%;doanh thu viễn thông 688,3 tỷ đồng, tăng 1,4%; doanh thu tăng tập trung vào tháng 01 do tháng 01 là tháng có Tết Dương lịch, Nguyên Đán, cộng với tình hình dịch Covid-19 bùng phát, nên người dân hạn chế đi lại giao thương hàng hóa, chủ yếu sử dụng dịch vụ mua bán qua mạng, dẫn đến doanh thu tăng. Tổng số thuê bao điện thoại có trên mạng đến cuối tháng 3/2021 là 101.460 thuê bao (chỉ tính thuê bao cố định và di động trả sau); thuê bao điện thoại bình quân đạt 5,75 thuê bao/100 dân. Tổng số thuê bao Internet trên mạng phát triển mới trong quý I/2021 là 17.810 thuê bao; số thuê bao Internet trên mạng có đến tháng 3/2021 là 268.400 thuê bao; mật độ Internet bình quân ước đạt 15,2 thuê bao/100 dân. Số thuê bao điện thoại di động sử dụng Internet (3G, 4G) đến cuối tháng 02/2020 là 1.359.341 thuê bao. Trong quý I/2021, các doanh nghiệp bưu chính, viễn thông tổ chức kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ hoạt động khai thác các dịch vụ bưu chính, chuyển phát; đảm bảo an toàn việc tiếp nhận, chuyển phát các loại bưu phẩm, ấn phẩm, văn bản của các cơ quan Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang ở Trung ương và địa phương. Sắp xếp hợp lý mạng lưới, đảm bảo cho mạng lưới hoạt động tốt; xây dựng các phương án tối ưu dự phòng phân tải, ứng cứu tình huống, sự cố bất thường gây gián đoạn, tắt nghẽn hoạt động của các mạng viễn thông; đảm bảo an toàn, an ninh mạng Internet phục vụ tốt công tác chỉ đạo, điều hành của các cơ quan Đảng, Nhà nước, chính quyền các cấp và đáp ứng tối đa nhu cầu thông tin liên lạc của người dân trên địa bàn tỉnh. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Lao động, giải quyết việc làm Công tác tư vấn, giới thiệu việc làm trong quý I/2021 tư vấn cho 4.400 lượt lao động, tăng 11,1% so với cùng kỳ năm 2020, đạt 22% kế hoạch năm, trong đó: Tư vấn nghề cho 859 lượt lao động, tư vấn việc làm 633 lượt lao động, tư vấn việc làm cho 2.652 lượt lao động thất nghiệp, tư vấn pháp luật lao động và tư vấn khác cho 256 lượt lao động; giới thiệu việc làm cho 409 lượt lao động, giảm 2,9% so với cùng kỳ năm 2020, đạt 10,2% kế hoạch năm; đã giới thiệu cho 208 lao động có được việc làm ổn định, giảm 4,6% so với cùng kỳ năm 2020. Công tác đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài quý I/2021 (hợp đồng có thời hạn): Tư vấn cho 206 lượt lao động có nguyện vọng đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, tăng 23,4% so với cùng kỳ năm 2020, có 12 lượt lao động đăng ký tham gia xuất khẩu lao động giảm 25% so với cùng kỳ năm 2020; đã có 117 lao động xuất cảnh, giảm 2,5% so với cùng kỳ năm 2020, đạt 39% so với kế hoạch năm, trong đó xuất cảnh qua Nhật Bản là 100 lao động, Đài Loan là 16 lao động và thị trường khác là 01 lao động. Giải quyết chế độ bảo hiểm thất nghiệp quý I/2021: Đã tiếp nhận được 2.842 người đăng ký thất nghiệp, giảm 1,4% so với cùng kỳ năm 2020, quyết định 3.098 trường hợp hưởng trợ cấp thất nghiệp, tăng 5,8% so với cùng kỳ năm 2020, với tổng số tiền chi trả tương đương 53 tỷ 426 triệu đồng, tăng 7 tỷ 942 triệu đồng, tương đương tăng 17,5% so với cùng kỳ năm 2020; thực hiện tư vấn, giới thiệu việc làm và tư vấn học nghề cho 2.832 lượt lao động thất nghiệp, giảm 2,1% so với cùng kỳ năm 2020, đã có 03 người lao động thất nghiệp đăng ký học nghề. Tình hình tiền lương thực hiện năm 2020, tình hình thưởng Tết Dương lịch, Âm lịch năm 2021: Trong bối cảnh tình hình dịch bệnh Covid- 19 diễn biến phức tạp, tình hình sản xuất kinh doanh của đa số doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh gặp nhiều khó khăn nhưng vẫn đảm bảo việc làm, tiền lương, thu nhập cho người lao động. Tiền lương thực hiện bình quân chung của các doanh nghiệp trong năm 2020 cơ bản ổn định, với mức tương đương năm 2019. Riêng đối với mức lương cơ bản của tất cả các loại hình doanh nghiệp giảm khoảng 4% so năm trước. Mức thưởng Tết Dương lịch năm 2021 bình quân là 489 nghìn đồng/người; mức thưởng Tết Nguyên đán Tân Sửu năm 2021 bình quân khoảng 6,63 triệu đồng/người (mức thưởng Tết Nguyên đán Canh Tý năm 2020 qua thống kê 53 doanh nghiệp thì mức tiền thưởng bình quân là 6,72 triệu đồng/người). Trong quý I/2021, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 03 vụ ngừng việc tập thể tại 03 doanh nghiệp, tương đương so với cùng kỳ năm 2020, với 9.567/10.367 người lao động tham gia. Nguyên nhân ngừng việc đều liên quan đến tiền lương của người lao động, trong đó 01 doanh nghiệp chậm chi trả lương, trả thưởng trước Tết Nguyên đán, 01 doanh nghiệp thực hiện nâng lương không đồng bộ (người lao động làm việc từ 1-3 năm được nâng lương 2 lần: 1 lần vào tháng 01 hàng năm và 1 lần khi xét đánh giá hợp đồng; còn người lao động làm việc từ 4 năm trở lên chỉ chỉ xét nâng lương 1 lần vào tháng 1 hàng năm), 01 doanh nghiệp chưa chi trả 02 tháng lương (tháng 01, 02/2021) và không ký kết hợp đồng lao động cũng như không tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động. Tuy nhiên, các vụ ngừng việc đã được giải quyết và hiện tại tình hình lao động các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh ổn định với sự tiếp cận tình hình kịp thời của các ngành và sự phối hợp giải quyết của doanh nghiệp. 2. Đời sống dân cư và an sinh xã hội Trong quý I/2021, Sở Lao động, Thương binh và Xã hội đã tổ chức thăm, tặng quà, trợ cấp cho người có công, người cao tuổi, hộ nghèo, thăm các đơn vị tập trung và doanh nghiệp trong dịp tết Nguyên đán Tân Sửu năm 2021, cụ thể một số công tác phong trào tiêu biểu sau: Nguồn kinh phí Trung ương tặng cho 37.925 người có công với cách mạng với số tiền 11.557,4 triệu đồng; Nguồn kinh phí địa phương tặng cho 69.109 người với số tiền 27,064 triệu đồng; Có 13 Đoàn Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã thăm 80 hộ gia đình chính sách tiêu biểu và 47 đơn vị tập trung, kết hợp với thăm người cao tuổi và trao quà cho hộ nghèo từ ngày 26/01/2021 đến ngày 09/02/2021, với số tiền 546 triệu đồng. Điều dưỡng người có công: Điều dưỡng tại gia đình cho 8.080 người có công, với số tiền 7.968,8 triệu đồng; Điều dưỡng tập trung: 07 đợt với số lượng 847 người có công, với số tiền 2.236 triệu đồng, tại 05 địa điểm: Trung tâm Điều dưỡng người có công Lâm Đồng, Đoàn An dưỡng 198 Đà Lạt (Bộ Quốc phòng), Trung tâm điều dưỡng Miền Trung (Đà Nẵng), Trung tâm Điều dưỡng người có công Khánh Hòa, Trung tâm Điều dưỡng Thương binh và Người có công Long Đất. Bảo trợ xã hội: Đoàn lãnh đạo tỉnh đã thăm và tặng quà cho 2.157 người cao tuổi, với tổng kinh phí 2,597 tỷ đồng (trong đó có 2.030 người 90 tuổi, 127 người 100 tuổi) và bữa cơm dành cho 1.180 đối tượng được tổ chức tại 03 cơ sở xã hội của tỉnh, với tổng số tiền là 139,5 triệu đồng trong dịp Tết nguyên đán Tân Sửu năm 2021. Công tác giảm nghèo: Nhân dịp Tết nguyên đán 2021, Sở Lao động, Thương binh và Xã hội phối hợp cùng đoàn lãnh đạo tỉnh, huyện tổ chức thăm và tặng quà cho 9.429 hộ nghèo, tổng kinh phí 3,772 tỷ đồng (với mức 400.000đ/hộ); Ủy ban MTTQ các cấp và các tổ chức thành viên trong tỉnh đã vận động giúp đỡ hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn, gia đình chính sách khó khăn, người tàn tật, người nhiễm chất độc da cam... với 201.399 phần quà, trị giá 100,862 tỷ đồng; Tặng quà Tết (Quỹ Thiện Tâm) cho 1.000 hộ nghèo (600.000 đồng/hộ) ở các huyện, thành, thị. 3. Hoạt động giáo dục: Trong quý I/2021, Ngành Giáo dục và Đào tạo hoàn thành nhiệm vụ theo kế hoạch đề ra, tổ chức Hội nghị sơ kết học kỳ 1 và triển khai phương hướng nhiệm vụ trọng tâm học kỳ 2 năm học 2020-2021. Sau thời gian nghỉ tết Nguyên đán các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh đã tổ chức cho học sinh toàn tỉnh đi học trở lại từ ngày 17 tháng 02 năm 2021 theo kế hoạch cùng với các biện pháp phòng chống dịch bệnh Covid- 19. Ngoài ra, từ ngày 25/12/2020 đến ngày 27/12/2020 tại trường THPT Chuyên Tiền Giang đã diễn ra kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia THPT năm học 2020-2021 với 54 thí sinh dự thi ở 09 môn Ngữ văn, Toán, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Lịch sử, Địa lý, Tin học, Tiếng Anh. Có 06/54 học sinh dự thi đạt giải, trong đó có 01 giải nhì (Tiếng Anh), 05 giải khuyến khích (Sinh học, Toán, Ngữ văn, Vật lý) đều là học sinh trường THPT Chuyên. Xếp hạng 61/69 đơn vị dự thi toàn quốc; xếp hạng 9/13 tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long, sau Cần Thơ (30 giải), Đồng Tháp (14 giải), An Giang (12 giải), Bến Tre (11 giải), Kiên Giang (11 giải), Long An (09 giải), Bạc Liêu (07 giải), Vĩnh Long (07 giải). 4. Hoạt động y tế Công tác phòng chống dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do SARS-CoV-2: Tính đến ngày 15/3/2021 số đợt cách ly tập trung 14 đợt, với 3.318 người cách ly tập trung (Tiểu đoàn Ấp Bắc, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, các cơ sở y tế trong tỉnh). Hoàn thành cách ly 3.098 người, đang cách ly: 220 người về từ Malaysia, ghi nhận 01 trường hợp dương tính với vi rút SARS-CoV-2 còn lại 219 trường hợp âm tính. Tình hình nhiễm Covid-19 tại tỉnh: Có 06 ca dương tính với SARS-CoV-2, 05 ca điều trị khỏi đã xuất viện, 01 ca đang điều trị tại Bệnh viện dã chiến Long Định. Kết quả xét nghiệm lần 2 ngày 13/3/2021 vẫn còn dương tính. Ngoài ra, Ngành Y tế đã thực hiện phun hóa chất Cloramin B xử lý môi trường trong trường học kể cả các điểm trường mầm non tư nhân và các cơ quan, đơn vị. Tính đến ngày 15/3/2021, ngành Y tế đã tổ chức phun hóa chất Cloramin B xử lý môi trường trong trường học kể cả các điểm trường mầm non tư nhân và các cơ quan, đơn vị đóng trên địa bàn của các huyện có đề nghị là 2.170 đơn vị trong toàn tỉnh, sử dụng hết 2065.7 kg Cloramin B và Clorin. Trong quý I/2021 trên địa bàn tỉnh ghi nhận 13/44 bệnh truyền nhiễm. So với cùng kỳ: Về số mắc, có 7 bệnh tăng (tay chân miệng, tiêu chảy, uốn ván khác, viêm gan siêu vi A, viêm gan siêu vi B, viêm não vi rút khác, bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona); 10 bệnh giảm (ho gà, lao phổi, lỵ a míp, quai bị, Rubella, sởi, sốt xuất huyết, thương hàn, thủy đậu, viêm gan siêu vi C); 27 bệnh tương đương và hoặc không xảy ra ca mắc. Phòng chống bệnh Sốt xuất huyết: Trên địa bàn tỉnh đã ghi nhận 685 ca mắc SXHD, giảm 22,8% so với cùng kỳ năm 2020 và 01 ca tử vong do sốt xuất huyết Dengue tại thành phố Mỹ Tho (cùng kỳ không có ca tử vong). Phòng chống HIV/AIDS: Tính đến thời điểm hiện tại toàn tỉnh có 5.785 người nhiễm HIV; 1,794 người chuyển sang AIDS; tử vong do AIDS 983 người. An toàn vệ sinh thực phẩm: Xảy ra 03 vụ ngộ độc thực phẩm với 43 người và không có ca tử vong. Hoạt động khám chữa bệnh so với cùng kỳ năm 2020: Tổng số lần khám bệnh giảm 8,3% và tổng số người điều trị nội trú giảm 6,3%. 5. Hoạt động văn hóa – Thể Thao Ủy ban nhân tỉnh ra Quyết định công nhận đơn vị thành phố Mỹ Tho hoàn thành Đề án “Nâng chất thành phố Mỹ Tho đạt chuẩn văn minh đô thị giai đoạn 2018 - 2020”. Toàn tỉnh hiện có: 424.893/459.435 hộ đạt 3 tiêu chuẩn Gia đình văn hóa, đạt 92.8%; 998/1005 ấp, khu phố văn hóa, đạt tỷ lệ 99,3%; 152/172 xã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới; phường, thị trấn đạt chuẩn văn minh đô thị; 59 chợ văn hóa; 17 công viên văn hóa; 729 con đường văn hóa, 537 cơ sở thờ tự văn hóa. Hoạt động nghệ thuật: Tổ chức chương trình vui xuân đón tết cùng công nhân ở 3 khu công nghiệp Tân Hương, Long Giang và Trung An. Thực hiện chương trình nghệ thuật chào đón giao thừa xuân Tân Sửu năm 2021 tại Nhà thi đấu đa môn tỉnh. Hoạt động thư viện: Hội báo xuân Tân Sửu năm 2021 đã diễn ra tại Thư viện tỉnh từ ngày 04/02/2021 đến hết ngày 09/02/2021 (nhằm ngày 23 đến hết ngày 28 tháng Chạp), với 1.024 lượt bạn đọc. Trong quý I năm 2021, Thư viện tỉnh đã phục vụ được 24.844 lượt bạn đọc tăng 5,7% so cùng kỳ năm trước, với 103.549 lượt sách báo được lưu hành tăng 57% so cùng kỳ năm 2020. Bảo tàng tỉnh đã tổ chức triển lãm trưng bày chuyên đề “Đảng Cộng sản Việt Nam - 91 năm mùa xuân lịch sử” từ ngày 01/2/2021 đến 31/3/2021 kỷ niệm 91 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930 – 3/2/2021) và phục vụ Tết Nguyên đán Tân Sửu tại Khu trưng bày ngoài trời ở Bảo tàng. Trong quý I/2021, Bảo tàng tỉnh và các di tích quốc gia trên địa bàn tỉnh đã đón hơn 9.6074 33.930 lượt khách tham quan, giảm 76,2% so với cùng kỳ năm 2020. Hoạt động Thể dục - Thể thao: Giải Bóng chuyền hơi nữ công đoàn viên chức tỉnh Tiền Giang năm 2021, từ ngày 08/3 – 09/3/2021 với 15 đội tham dự; Giải vô địch Bóng đá tỉnh Tiền Giang năm 2021, từ ngày 08/3 – 18/3/2021; Đội PencakSilat tham dự giải vô địch PencakSilat mở rộng, từ ngày 23/12 – 29/12/2020 tại Thanh Hóa. Kết quả đạt 01 Huy chương Vàng; Đội Bóng đá U17 tham dự giải vô địch Bóng đá U19 quốc gia năm 2021 vòng bảng, từ ngày 10/1 – 02/2/2021. Kết quả đội Tiền Giang thi đấu 09 trận: thắng 02 trận, hòa 03 trận, bại 04 trận, xếp hạng 5/6. 6. Trật tự an toàn giao thông: Theo báo cáo của Ngành Công an Giao thông đường bộ: tai nạn giao thông xảy ra 69 vụ, làm chết 28 người, bị thường 53 người; so với tháng trước số vụ giảm 20 vụ, số người chết giảm 15 người, số người bị thương giảm 06 người; so với cùng kỳ số vụ tăng 41 vụ, số người chết tăng 06 người, số người bị thương tăng 41 người. Nâng tổng số vụ từ đầu năm đến nay xảy ra 158 vụ, làm chết 71 người, bị thương 112 người; so với cùng kỳ số vụ tăng 102 vụ, số người chết tăng 30 người, số người bị thương tăng 83 người.Vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ xảy ra 3.375 vụ, giảm 583 vụ so tháng trước và giảm 2.061 vụ so cùng kỳ (giảm do địa phương tăng cường công tác tuyên truyền và ý thức chấp hành luật giao thông của người dân ngày càng được nâng lên, nhất là từ khi Nghị Định 100/NĐ-CP có hiệu lực). Đã xử lý tạm giữ giấy tờ và phương tiện 2.754 vụ, tước giấy phép lái xe 175 vụ, phạt tiền 921 vụ với số tiền phạt 3.009 triệu đồng. Nâng tổng số vụ vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ từ đầu năm đến nay 7.633 vụ, giảm 5.274 vụ so cùng kỳ. Đã xử lý tạm giữ giấy tờ và phương tiện 6.033 vụ, tước giấy phép lái xe 401vụ, phạt tiền 1.600 vụ, với số tiền phạt 6.089 triệu đồng. Giao thông đường thủy: Số vụ tai nạn giao thông trong tháng không phát sinh, tương đương so với tháng trước và cùng kỳ (không phát sinh số vụ, người chết và bị thương). Từ đầu năm đến nay giao thông đường thuỷ 01 vụ tai nạn, tương đương so cùng kỳ. Vi phạm trật tự an toàn giao thông đường thủy trong tháng xảy ra 956 vụ giảm 932 vụ so tháng trước và tăng 139 vụ so cùng kỳ; đã xử lý vi phạm: lập biên bản tạm giữ giấy tờ 85 vụ và phạt tiền 871 vụ với số tiền phạt: 335,5 triệu đồng. Nâng tổng số vụ vi phạm trật tự an toàn giao thông đường thủy từ đầu năm đến nay 2.844 vụ, tăng 69 vụ so cùng kỳ; đã xử lý vi phạm: lập biên bản tạm giữ giấy tờ 400 vụ và phạt tiền 2.444 vụ với số tiền phạt: 841,5 triệu đồng. * Tai nạn giao thông nghỉ Tết Dương lịch năm 2021: Tai nạn giao thông đường bộ xảy ra 04 vụ, tăng 02 vụ so cùng kỳ; làm chết 04 người, tăng 03 người so cùng kỳ; bị thương 01 người tăng 01 người so cùng kỳ. * Tai nạn giao thông Tết Nguyên đán 2021 (từ ngày 10/02/2021 đến 16/02/2021 – nhằm ngày 29/12 năm Canh Tý đến Mùng 5 Tết Tân Sửu 2021): Giao thông đường bộ: tai nạn giao thông đường bộ xảy ra 08 vụ, làm chết 08 người, bị thương 07 người. So với Tết nguyên đán Canh Tý năm 2020: số vụ tai nạn tăng 01 vụ, số người chết tương đương và số người bị thương tăng 04 người. Nguyên nhân chủ yếu người điều khiển xe mô tô chuyển hướng thiếu chú ý quan sát, đi không đúng phần đường quy định và điều khiển xe mô tô không đi bên phải theo chiều đi của mình…địa bàn xảy ra vụ tai nạn: Huyện Tân Phước 02 vụ, huyện Cái Bè 01 vụ, huyện Cai Lậy 01 vụ, TX Cai Lậy 02 vụ, Gò Công Đông 01 vụ, TX Gò Công 01 vụ. 7. Tình hình an ninh trật tự an toàn xã hội: Theo báo cáo quý I/2021 của ngành Công an. Tội phạm và vi phạm pháp luật về trật tự xã hội xảy ra 351/247 vụ, tăng 104 vụ so với quý I/2020), làm chết 02 người, bị thương 41 người, tài sản thiệt hại trị giá khoảng 9,1 tỷ đồng); tội phạm chủ yếu là tội phạm trộm, cướp, cướp giật, hủy hoại tài sản và tội phạm tăng chủ yếu là tội phạm cố ý gây thương tích; tội phạm giết người giảm 60% so với cùng kỳ năm 2020. Điều tra khám phá ban đầu đạt 43,3% (152/351 vụ), bắt xử lý 181 đối tượng, thu hồi tài sản trị giá khoảng 229 triệu đồng, trong đó đã triệt xóa 02 nhóm, bắt 06 đối tượng chuyên thực hiện hành vi cướp, cướp giật tài sản liên tỉnh, điều tra mở rộng 07 vụ cướp và 21 vụ cướp giật tài sản trên địa bàn tỉnh và các tỉnh giáp ranh. Tăng cường các biện pháp xử lý tội phạm và vi phạm pháp luật về tệ nạn xã hội, ma túy, kinh tế, môi trường: Đã phát hiện, xử lý 117 tụ điểm, xử lý 889 đối tượng cờ bạc (trong đó, đã phát hiện, xử lý nhiều tụ điểm có quy mô lớn, hoạt động thời gian dài; khởi tố 06 vụ, 41 bị can); 48 vụ, 65 đối tượng tàn trữ, mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy; đồng thời, qua công tác quản lý đối tượng đã phát hiện, xử lý hành chính 450 đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Phát hiện, khởi tố 03 vụ, 04 bị can phạm tội về kinh tế, 01 vụ, 01 bị can phạm tội về tham nhũng và xử lý vi phạm hành chính 11 trường hợp vi phạm pháp luật trên lĩnh vực trật tự quản lý kinh tế, 49 trường hợp vi phạm pháp luật về môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm, khai thác cát trái phép. 8. Tình hình cháy nổ, môi trường Trong quý I/2021 trên địa bàn tỉnh xảy ra 07 vụ cháy: trên địa bàn thành phố Mỹ Tho 02 vụ, Thị xã Cai Lậy 02 vụ, huyện Cái Bè 02 và huyện Châu Thành 01 vụ, với tổng thiệt hại là 4.859 triệu đồng. Nguyên nhân chủ yếu do chập điện và bất cẩn trong sử dụng lửa. Tổng số quyết định xử phạt vi phạm hành chính về lĩnh vực môi trường được ban hành trong quý là: 02 (02 cá nhân) với số tiền xử phạt vi phạm hành chính là 30.292.740 đồng buộc bơm trả 24,2m3 cát đã khai thác trái phép và tịch thu 02 ghe gỗ trị giá 62.350.000 đồng, hiện các đối tượng chưa thực hiện các quyết định. Còn 02 đối tượng vi phạm đang được củng cố hồ sơ xử phạt theo quy định.
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Tiền Giang tháng 02 năm 2021
- 18/06/2024 16:28
Trong tháng 02 hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh khá sôi nổi, tuy nhiên không bằng cùng kỳ các năm trước do tình hình dịch bệnh Covid-19 trong nước bùng phát trở lại từ cuối tháng 01/2021 (đợt 3) đã tác động nhất định đến phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh. Uỷ Ban nhân dân tỉnh đã ban hành Chỉ thị số 12/CT-UBND ngày 24/12/2020 về việc tổ chức Tết Nguyên đán Tân Sửu năm 2021, phân công rõ nhiệm vụ cho từng sở, ngành, UBND cấp huyện cùng phối hợp tổ chức cho nhân dân vui xuân, đón Tết gắn với công tác phòng, chống dịch Covid-19; đồng thời, ngày 05/02/2021, UBND tỉnh cũng đã tổ chức Phiên họp thành viên UBND tỉnh tháng 01, chỉ đạo chặt chẽ các công việc liên quan chuẩn bị cho nhân dân vui Tết trong bối cảnh dịch Covid-19 liên tục diễn biến phức tạp. UBND tỉnh chỉ đạo ngành Y tế phối họp các sở, ngành phải chủ động phòng ngừa không để dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona xảy ra. Phát hiện sớm trường hợp nghi ngờ mắc phải. Xử lý kịp thời không để dịch lây lan, hạn chế đến mức thấp nhất tỷ lệ mắc và tử vong. Kết quả thực hiện trên các lĩnh vực như sau: I. SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP VÀ THỦY SẢN 1. Nông nghiệp Trước diễn biến xâm nhập mặn phức tạp, ngay từ những tháng cuối năm 2020, UBND tỉnh đã triển khai công tác ứng phó; chỉ đạo các sở, ngành và địa phương theo dõi tình hình hạn, mặn, quan trắc và vận hành các công trình, tổ chức lấy gạn nước ngọt qua cống Xuân Hòa vào trữ nước trên các kênh trục chính trong vùng ngọt hóa Gò Công để đảm bảo đủ nguồn nước phục vụ cho sản xuất lúa Đông Xuân 2020-2021. Cây lương thực có hạt: trong tháng gieo trồng 16.454 ha, thu hoạch 36.708 ha với sản lượng 258.357 tấn; ước tính đến cuối tháng 02/2020, gieo trồng được 68.898 ha, đạt 51,4% kế hoạch, giảm 0.6% so cùng kỳ, sản lượng thu hoạch 259.995 tấn; trong đó: cây lúa gieo sạ 67.927 ha, thu hoạch 36.510 ha, sản lượng 257.667 tấn. - Cây lúa: + Vụ Đông Xuân 2020-2021: chính thức xuống giống 51.647 ha, đạt 100% kế hoạch gieo trồng của vụ, giảm 10,3% so cùng kỳ do chuyển từ diện tích trồng lúa sang trồng cây ăn quả cho giá trị kinh tế cao hơn như: sầu riêng, mít, thanh long,… Mặc khác, do hạn, mặn kéo dài ở khu vực phía đông chưa xả sổ kịp độ mặn nên một số diện tích không gieo trồng. Ngoài ra, vụ 3 tại vùng Dự án Thủy lợi ngọt hóa Gò Công: Diện tích xuống giống 1.467,85 ha. Trà lúa đang giai đoạn đẻ nhánh: 1.195,65 ha, làm đòng: 272,2 ha. Nếu diễn biến mặn như hiện nay hoặc tốt hơn thì lúa không bị ảnh hưởng, nhưng nếu mặn phải đóng cống Xuân Hòa thì diện tích lúa đang đẻ nhánh có khả năng bị ảnh hưởng. + Vụ Hè Thu: Ước trong tháng 2 gieo trồng 16.280 ha, vụ lúa này gieo trồng chủ yếu ở các huyện phía tây. - Cây ngô: trong tháng gieo trồng 174 ha, thu hoạch 198 ha với sản lượng 690 tấn. Đến nay gieo trồng được 971 ha, đạt 27,7% kế hoạch, bằng 58,5% so cùng kỳ, thu hoạch 653 ha, năng suất quy thóc 35,7 tạ/ha với sản lượng quy thóc 2.328 tấn, đạt 18,3% kế hoạch, bằng 59,2% so cùng kỳ do ảnh hưởng một phần hạn mặn kéo dài và chuyển đổi sang trồng cây thanh long, một số cây ăn quả khác. Cây rau đậu các loại: trong tháng gieo trồng 8.274 ha, thu hoạch 7.360 ha với sản lượng 152.464 tấn; vụ Đông Xuân gieo trồng 25.202 ha, đạt 40,4% kế hoạch, giảm 2% so cùng kỳ, thu hoạch 20.827 ha với sản lượng 430.702 tấn, đạt 35,6% kế hoạch, tăng 2,1% so cùng kỳ (trong đó: rau các loại 25.158 ha, thu hoạch 20.803 ha với sản lượng 430.630 tấn). Chăn nuôi: ước thời điểm 01/02/2020 tổng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh như sau: đàn bò 119,3 ngàn con, giảm 0,2%; đàn lợn 262,5 ngàn con, giảm 27%; đàn gia cầm (không kể chim cút) 17,7 triệu con, tăng 15,7% so cùng kỳ. Chăn nuôi gia súc giảm đáng kể so cùng kỳ do dịch bệnh còn nhiều nguy cơ tiềm ẩn, dịch tả lợn châu phi còn xảy ra trên trên địa bàn tỉnh, con giống không đảm bảo; một số hộ nuôi thua lỗ trước đây chuyển sang vật nuôi khác… Bệnh trên đàn vật nuôi trong những ngày Tết không phát sinh 2. Lâm nghiệp: Tổng diện tích đất có rừng trên địa bàn tỉnh đến 31/01/2021 là 1.896,01 ha (không bao gồm diện tích rừng thuộc đất an ninh quốc phòng), bao gồm: rừng phòng hộ 1.326,51 ha, rừng sản xuất 569,5 ha. 3. Thủy hải sản: Diện tích nuôi thủy sản các loại trong tháng 2.472 ha, tăng 0,1% so cùng kỳ; hai tháng thả nuôi 8.672 ha, đạt 57,1% kế hoạch và tăng 2,7% so cùng kỳ. Thủy sản nước ngọt nuôi 2.949,1 ha, giảm 1,5% so cùng kỳ do thời tiết bất thường kết hợp với mực nước nội đồng thấp nên các hộ nuôi nhỏ lẻ chưa tiến hành thả nuôi. Thủy sản nước mặn, lợ nuôi 5.723 ha, tăng 5% so cùng kỳ. Sản lượng thủy sản trong tháng ước tính thu hoạch 18.061 tấn, giảm 10% so cùng kỳ. Hai tháng thu hoạch 35.931 tấn, đạt 12,2% kế hoạch, tăng 4,6% so cùng kỳ; trong đó: sản lượng thu hoạch từ nuôi 22.255 tấn, đạt 13,7% kế hoạch, tăng 0,7% so cùng kỳ do các hộ nuôi thu hoạch sớm để phục vụ cho Tết Nguyên đán, sản lượng cá thu hoạch tiêu thụ chủ yếu nội địa; sản lượng khai thác 13.676 tấn, chủ yếu là khai thác biển, đạt 10,5% kế hoạch, tăng 11,7% so cùng kỳ. II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 02/2021 giảm 8,5% so với tháng 01/2021 do tháng 02 trùng vào dịp Tết Nguyên đán 2021, vì vậy số ngày hoạt động sản xuất của doanh nghiệp ít hơn. Ngoài ra do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 nên tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp giảm đáng kể so với tháng trước. Một số ngành sản xuất chủ yếu chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh sản xuất giảm mạnh so cùng kỳ do đơn đặt hàng giảm nên sản xuất và tiêu thụ các mặt hàng chủ lực của tỉnh như: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 8,9%, sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 3,8%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 7,2%, so với cùng kỳ chỉ số công nghiệp tháng 2 giảm 3,5% (ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 3,3%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 4,7%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 5,8%). Chỉ số sản xuất công nghiệp 2 tháng năm 2021 bằng 100,3% so cùng kỳ năm trước trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo bằng 100,4%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 1,3%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,7%. Chỉ số sản xuất sản phẩm hai tháng so cùng kỳ như sau: - Có 15/38 sản phẩm tăng so cùng kỳ: cáp đồng trục và dây dẫn điện đồng trục tăng 183,3%; cấu kiện làm sẵn cho xây dựng hoặc kỹ thuật dân dụng, bằng xi măng, bê tông hoặc đá nhân tạo tăng 39%; ống và ống dẫn bằng đồng tăng 34,9%; giày, dép thể thao có đế ngoài và mũ giày bằng cao su và plastic tăng 27,8%; bộ com lê, quần áo đồng bộ, áo jacket, quần dài, quần yếm, quần soóc cho người lớn dệt kim hoặc đan móc tăng 27%; Túi xách tăng 19,8%.... - Có 23/38 sản phẩm giảm so cùng kỳ: tàu chở khách trọng tải > 26 tấn nhưng ≤ 500 tấn giảm 92,6%; đồ chơi hình con vật hoặc sinh vật không phải hình người giảm 74,4%; dịch vụ sửa chữa, bảo dưỡng tàu, thuyền giảm 41,5%; Phân vi sinh giảm 40,1%; các bộ phận của bi, bánh răng, hộp số, các bộ phận điều khiển và truyền chuyển động khác giảm 32,1%; màn bằng vải khác giảm 29,3%; áo khoác dài, áo khoác không tay, áo khoác có mũ, áo gió cho người lớn dệt kim hoặc đan móc giảm 24,2%; phanh và trợ lực phanh giảm 23,7%; Các sản phẩm bằng vật liệu tết bện khác giảm 21,9%... * Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: - Chỉ số tiêu thụ tháng 02/2021 so với tháng trước giảm 8,14% và giảm 9,54% so cùng kỳ. Chỉ số tiêu thụ cộng dồn từ đầu năm đến cuối tháng 02/2020 giảm 10,27%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm so cùng kỳ là: Sản xuất chế biến thực phẩm giảm 27,57%, trong đó chế biến, bảo quản thủy sản và các sản phẩm từ thủy sản giảm 46,23%; Sản xuất da giảm 1,9%; Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ giảm 21,41%; Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 23,81%; Sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu giảm 2,74%; Sản xuất sản phẩm cao su và plastic giảm 6,47%;… Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng: Dệt tăng 1,94%, trong đó sản xuất hàng may sẳn tăng 31,88%; Sản xuất trang phục tăng 13,6%; Sản xuất kim loại tăng 11,43%; Sản xuất thiết bị điện tăng 139,41%, trong đó sản xuất dây cáp, dây điện bằng gấp 2,4 lần; Sản xuất máy móc thiết bị chưa phân vào đâu tăng 0,03%;… - Chỉ số tồn kho tháng 02/2021 so với tháng trước tăng 6,31% và so với cùng kỳ tăng 6,3%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so với cùng kỳ là: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 28,49%; Sản xuất đồ uống tăng 6,54%; Dệt tăng 11,45%; Sản xuất trang phục tăng 80,67%; Sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 9,05%; Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 4,93%; Công nghiệp chế biến chế tạo khác tăng 50,87%, trong đó sản xuất đồ chơi tăng 50,87%;...Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tồn kho giảm so cùng kỳ là: Sản xuất da giảm 28,42%; Sản xuất kim loại giảm 35,43%; Sản xuất thiết bị điện giảm 39,97%;… III. ĐẦU TƯ - XÂY DỰNG Tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý thực hiện trong tháng 02/2021 là 140,9 tỷ đồng, tăng 1% so cùng kỳ. Hai tháng đầu năm 2021 thực hiện 302,1 tỷ đồng, đạt 8,2% kế hoạch, tăng 1,4% so cùng kỳ. Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh thực hiện 241,2 tỷ đồng, đạt 8,1% kế hoạch, tăng 1,5% so cùng kỳ, chiếm 79,8% tổng số; trong đó: vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 41,4 tỷ đồng, tăng 2,2%, vốn xổ số kiến thiết thực hiện 102,6 tỷ đồng, tăng 1,7% so cùng kỳ... Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp huyện thực hiện 52,9 tỷ đồng, đạt 13,3% kế hoạch, tăng 1,2% so cùng kỳ, chiếm 17,2% tổng số; trong đó: vốn tỉnh hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 19,7 tỷ đồng, tăng 1,3% so cùng kỳ... Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp xã thực hiện 7,9 tỷ đồng, đạt 2,5% kế hoạch, tăng 0,9% so cùng kỳ, chiếm 3% tổng số; trong đó: vốn huyện hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 2,1 tỷ đồng, tăng 1,5% so cùng kỳ... IV. THƯƠNG MẠI - GIÁ CẢ - DỊCH VỤ 1. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng: Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trong tháng thực hiện 6.064,7 tỷ đồng, giảm 1,4% so tháng trước và tăng 15,5% so cùng kỳ, tháng 02/2021 là tháng Tết Nguyên đán năm 2021 nhưng nhu cầu mua sắm của người dân giảm do ảnh hưởng của dịch Covid-19 hầu hết các nhóm hàng đều giảm cụ thể như: các nhóm có chỉ số doanh thu giảm như nhóm lương thực thực phẩm, nhóm hàng may mặc, đồ dùng trang thiết bị gia đình, vật phẩm văn hóa giáo dục, gỗ và vật liệu xây dựng, ô tô con… đã tác động đến doanh thu trong tháng 02. Hai tháng đầu năm 2021, tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thực hiện 12.213,2 tỷ đồng, đạt 17,4% kế hoạch, tăng 14,1% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 9.865,8 tỷ đồng, tăng 14,2%; lưu trú 6,7 tỷ đồng, giảm 63,8%; ăn uống 1.122,4 tỷ đồng, tăng 14,9%; du lịch lữ hành 2,4 tỷ đồng, giảm 81,2%; dịch vụ tiêu dùng khác 1.215,8 tỷ đồng, tăng 14,7% so cùng kỳ. 2. Xuất - Nhập khẩu: a. Xuất khẩu: Diễn biến dịch bệnh tại các thị trường xuất khẩu của Việt Nam vẫn khó dự đoán. Việc triển khai các gói kích thích kinh tế hậu Covid-19 ở các nước vẫn chưa triển khai nhiều do đợt dịch bùng phát mới đây ở một số quốc gia chưa có dấu hiệu dừng lại. Kỳ vọng trong cuối quý I/2021, các thị trường xuất nhập khẩu của Việt Nam được mở cửa, qua đó có thể thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng và nhập khẩu hàng hóa trong năm 2021. Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng thực hiện 207,3 triệu USD, giảm 7,5% so tháng trước; trong đó: kinh tế ngoài nhà nước 39 triệu USD, giảm 7,2%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 167 triệu USD, giảm 7,5% so tháng trước. Hai tháng xuất khẩu 431 triệu USD, đạt 13,3% kế hoạch, giảm 0,5% so cùng kỳ; trong đó: kinh tế nhà nước 0,9 triệu USD, giảm 3,7%; kinh tế ngoài nhà nước 82,1 triệu USD, tăng 17,2%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 348,3 triệu USD, giảm 4% so cùng kỳ. Tình hình xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của tỉnh như sau: - Thủy sản: ước tính tháng 02/2021 xuất 6.945 tấn, giảm 2,9%, về trị giá đạt 14,9 triệu USD, tăng 1,8% so tháng trước. Hai tháng xuất 14.102 tấn, tăng 22,2 %, về trị giá đạt 30,2 triệu USD, tăng 17,4% so cùng kỳ. - Gạo: ước tính tháng 02/2020 xuất 10.900 tấn, giảm 1,4%, về giá trị đạt 6,4 triệu USD, giảm 1,3% so tháng trước. Hai tháng xuất 21.951 tấn, tăng 18,2%, về trị giá đạt 12,9 triệu USD, tăng 56,3% so cùng kỳ. - May mặc: ước tính tháng 02/2020 xuất 8.363 ngàn sản phẩm, giảm 1,7%, về giá trị xuất đạt 34,5 triệu USD, giảm 7,2% so tháng trước. Hai tháng xuất 16.870 ngàn sản phẩm, giảm 34,2%, về giá trị đạt 71,8 triệu USD, giảm 5,2% so cùng kỳ. Ngoài các mặt hàng chủ yếu, trị giá xuất khẩu một số mặt hàng trong tháng 02/2021 như: hàng rau quả xuất 0,5 triệu USD, giảm 40,9%; sản phẩm mây, tre, cói, thảm xuất 0,6 triệu USD, tăng 1,3%;... so tháng trước. b. Nhập khẩu: Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa trong tháng 02/2021 đạt 151 triệu USD, giảm 22,1% so tháng trước. Hai tháng, kim ngạch nhập khẩu đạt 344,9 triệu USD, đạt 19,2% kế hoạch, tăng 39,6% so cùng kỳ; trong đó: kinh tế ngoài nhà nước nhập 19,7 triệu USD tăng 32,5%, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài nhập 325,2 triệu USD, tăng 40% so cùng kỳ. Nguyên liệu nhập khẩu chủ yếu các mặt hàng như vải các loại 34,8 triệu USD, tăng 90,8%; nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày 64 triệu USD, tăng 78,9%; kim loại thường khác 153,4 triệu USD, tăng 18,8%... so cùng kỳ. 3. Chỉ số giá: Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 02/2021 tăng 1,39% (thành thị tăng 1,44%, nông thôn tăng 1,38%) so tháng 1/2021, tăng 1,94% so tháng 2/2020. Bình quân 2 tháng đầu năm 2021 tăng 1,15% so cùng kỳ năm trước. Tháng 02 là thời điểm trước, trong và sau Tết Nguyên đán Tân Sửu năm 2021. Các ngành các cấp thực hiện theo Kế hoạch số 325/KH-UBND ngày 24/11/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang về dự trữ, cung ứng hàng hóa thiết yếu phục vụ Tết Nguyên đán Tân Sửu 2021, tổng trị giá hàng hóa dự trữ, cung ứng của các doanh nghiệp trên 443 tỷ đồng, vì vậy giá cả hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thiết yếu trên thị trường tháng Tết tương đối ổn định. So với tháng tháng 1/2021, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 09 nhóm tăng: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,73% (trong đó: Lương thực tăng 1,74%, thực phẩm tăng 0,37%, ăn uống ngoài gia đình tăng 1,06%); Đồ uống và thuốc lá tăng 0,4%; May mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,5%; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và VLXD tăng 4,96%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,24%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%; Giao thông tăng 1,26%; Giáo dục tăng 0,02%; Hàng hóa, dịch vụ khác tăng 1,04%. Có hai nhóm Bưu chính viễn thông giảm 0,22%; Văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,21%. Một số mặt hàng có chỉ số giá tăng như sau: - Do nhu cầu và sức mua mặt hàng thịt lợn vào những ngày giáp Tết tăng, làm cho giá thịt lợn tháng 02/2021 tăng 5,68% (Niếu tính những ngày giáp Tết năm 2021 tăng 10,41%), đóng góp làm (CPI) chung tăng 0,17%. Trong tháng, giá thịt bò, thịt gia cầm tươi sống, trứng các loại, thịt chế biến, thủy hải sản tươi sống, thuỷ sản chế biến (tôm khô, mực khô) tăng... dẫn đến nhóm thực phẩm tăng 0,37%, đóng góp vào mức tăng (CPI) chung của tháng 02/2021 là 0,08%. - Giá điện sinh hoạt tăng 32,41% so với tháng trước, nguyên nhân do tháng trước thực hiện công văn số 9764/BCT-ĐTĐL ngày 18/12/2020 của Bộ Công thương về việc hỗ trợ giảm giá điện, giảm tiền điện cho các khách hàng sử dụng điện bị ảnh hưởng của dịch Covid-19 đợt 2 trong 03 tháng: tháng 10, tháng 11 và tháng 12 cho người dân, dẫn đến giá điện bình quân tháng này tăng cao, đóng góp vào mức tăng (CPI) chung của tháng 02/2021 là 0,94%. - Nhu cầu may mặc và mua sắm quần áo vào thời điểm cuối năm tăng, nên giá quần, áo và tiền công may quần áo tăng bình quân từ 3% - 5% và nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,4% so tháng trước. - Giá xăng dầu bình quân trong tháng tăng 2,77%, tác động đến chỉ số giá nhóm nhiên liệu tăng 2,63%; cùng với đó, giá dầu hoả tăng 3,7% vào ngày 26/01/2021, giá gas tăng 5,5% tương ứng tăng 18.000 đồng/bình 12 kg vào ngày 01/02/2021, tác động đến nhóm gas và các loại chất đốt khác tăng 5,13%. - Giá dịch vụ giao thông công cộng tăng 0,67% do giá vé xe ô tô chở khách các tuyến cố định của tỉnh tăng thêm 40% giá cơ bản trong 04 ngày nghỉ tết (từ mùng 3 đến mùng 6 tết) để bù đắp lại chi phí những chuyến xe chạy rỗng; Giá xăng tăng liên tục trong thời gian dài, dẫn đến giá cước xe Taxi Mai Linh 10 km đầu điều chỉnh tăng 3,6%. Bên cạnh đó, có một số mặt hàng chỉ số giá giảm nhưng tỷ trọng quyền số nhỏ nên tác động chưa đủ lớn đến chỉ số giá tiêu dùng chung như: Hiện nay các nông trại đang vào mùa thu hoạch rau xanh vụ Đông xuân nên sản lượng dồi dào, tác động giá rau xanh giảm bình quân từ 10% -15%; cùng với đó, giá quả tươi, chế biến giảm 3,01% so tháng trước. - Một số mặt hàng điện tử giảm giá do các doanh nghiệp giảm giá để kích thích tiêu dùng nhằm thu hồi vốn trong những ngày giáp Tết như giá ti vi giảm 0,18%; máy điều hoà nhiệt độ giảm 0,86%; tủ lạnh giảm 0,01%; điện thoại di động giảm 0,63%... Chỉ số giá vàng 24 kara Ngọc Thẩm trong tháng 02/2021 giảm 0,45% so tháng trước, do các nhà đầu tư trong, ngoài nước bán ra sau tết với số lượng lớn để có vốn kinh doanh (mặc dù trong tháng 02/2021 trùng vào ngày thần tài mùng 10 tháng giêng âm lịch nhưng giá vàng vẫn lao dốc), giá vàng bình quân 5.483. ngàn đồng/chỉ, tăng 1.062 ngàn đồng/chỉ so cùng kỳ. Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng 02/2021 giảm 0,31% so tháng trước, giá bình quân 23.115 đồng/USD, giảm 179 đồng/USD so cùng kỳ. Ước chỉ số giá tiêu dùng tháng 03/2021 tăng từ 0,15% đến 0,25% so tháng 02/2021, do hạn mặn xâm nhập phạm vi rộng, ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng của một số loại cây trồng, dẫn đến giá rau xanh sẽ tăng lên; Riêng nhóm thủy hải sản tươi sống giá tăng nhẹ, do khan hiếm nguồn nước nuôi trồng. 4. Du lịch: Khách du lịch đến trong tháng 02/2021 được 51,9 ngàn lượt khách, tăng 3,6% so tháng trước và giảm 60,2% so cùng kỳ; trong đó: khách du lịch quốc tế 0,9 ngàn lượt khách, tăng 5,6% so tháng trước và giảm 97,7% so cùng kỳ. Doanh thu lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ tiêu dùng khác trong tháng 02 đạt 1.181 tỷ đồng, tăng 1,3% so tháng trước và tăng 18,3% so cùng kỳ. Tính chung hai tháng đầu năm 2021, lượt khách du lịch đến Tiền Giang là 102,1 ngàn lượt khách, đạt 9,3% kế hoạch, giảm 65,5% so cùng kỳ; trong đó: khách quốc tế 1,7 ngàn lượt khách, bằng 1,8% so cùng kỳ. Tổng doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, dịch vụ lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch đạt 2.347,3 tỷ đồng, tăng 13,5% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu dịch vụ ăn uống chiếm tỉ trọng 47,8%, ước đạt 1.122,4 tỷ đồng, tăng 14,9%, dịch vụ lưu trú đạt 6,7 tỷ đồng, giảm 63,8% so cùng kỳ... Từ ngày 10/02 đến ngày 15/02/2021 (nhằm ngày 29 tháng Chạp đến mùng 4 Tết), lượng khách du lịch đến tỉnh Tiền Giang là 5.417 lượt, giảm 95% so Tết 2020, chủ yếu là khách trong nước. 5. Vận tải: Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trong tháng thực hiện 164 tỷ đồng, giảm 5,8% so tháng trước và giảm 12,5% so cùng kỳ. Hai tháng thực hiện 338,4 tỷ đồng, giảm 18,3% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 101,8 tỷ đồng, giảm 24,7%; doanh thu vận tải hàng hóa thực hiện 202,8 tỷ đồng, giảm 14,8% so cùng kỳ. Doanh thu vận tải đường bộ thực hiện 86 tỷ đồng, giảm 13,3%; doanh thu vận tải đường thủy thực hiện 116,5 tỷ đồng, giảm 15,8%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 33,7 tỷ đồng, giảm 17,4% so cùng kỳ. Nguyên nhân doanh thu hành khách giảm là do nhu cầu đi lại của người dân giảm; mặc khác do dịch Covid-19 bùng phát, người dân e ngại đi lại bằng phương tiện công cộng. Vận tải hành khách trong tháng đạt 2.970 ngàn hành khách, tăng 2,3% so tháng trước và tăng 6,4% so cùng kỳ; luân chuyển 57.806 ngàn hành khách.km, tăng 3,2% so tháng trước và giản 3,4% so cùng kỳ. Hai tháng, vận chuyển 5.763 ngàn hành khách, bằng 85,9% so cùng kỳ; luân chuyển 113.815 ngàn hành khách.km, bằng 84,3% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 2.758 ngàn hành khách, bằng 90% và luân chuyển 109.827 ngàn hành khách.km, bằng 86,2% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 3.005 ngàn hành khách, giảm 17,5% và luân chuyển 3.988 ngàn hành khách.km, bằng 53,1% so cùng kỳ. Vận tải hàng hóa trong tháng đạt 884 ngàn tấn, giảm 12,2% so tháng trước và giảm 13,9% so cùng kỳ; luân chuyển 112.101 ngàn tấn.km, giảm 10,9% so tháng trước và giảm 16,7% so cùng kỳ. Hai tháng, vận tải 1.891 ngàn tấn hàng hóa, giảm 12,8% so cùng kỳ; luân chuyển 237.946 ngàn tấn.km, giảm 17,6% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 470 ngàn tấn, giảm 7,9% và luân chuyển 50.042 ngàn tấn.km, giảm 23,8% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 1.421 ngàn tấn, giảm 14,3% và luân chuyển 187.904 ngàn tấn.km, giảm 15,8% so cùng kỳ. * Công tác quản lý phương tiện giao thông: Trong tháng đăng ký mới 7.194 mô tô xe máy, 357 ô tô, xe đạp điện 14 chiếc và xe khác 06 chiếc. Tổng số xe đang quản lý trên địa bàn tỉnh 1.324.536 chiếc, trong đó mô tô xe máy: 1.284.023 chiếc, 39.823 chiếc xe ô tô, 151 chiếc xe ba bánh, 145 chiếc xe đạp điện và 394 xe khác. 6. Bưu chính viễn thông: Doanh thu trong tháng 02/2021 đạt 255 tỷ đồng, tăng 0,8% so tháng trước và tăng 3,9% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính đạt 23 tỷ đồng, tăng 1,1% và viễn thông 232 tỷ đồng, tăng 0,8% so tháng trước. Hai tháng doanh thu dịch vụ bưu chính, viễn thông đạt 508,7 tỷ đồng, tăng 3,9% so cùng kỳ; trong đó:doanh thu bưu chính đạt 46,3 tỷ đồng, tăng 23,3% và viễn thông 462,4 tỷ đồng, tăng 2,2% so cùng kỳ. Tổng số thuê bao điện thoại có trên mạng đến cuối tháng 02/2021 là 102.070 thuê bao, mật độ bình quân đạt 5,7 thuê bao/100 dân (chỉ tính thuê bao cố định và di động trả sau). Thuê bao internet có trên mạng cuối tháng 02/2021 là 265.407 thuê bao, mật độ internet bình quân đạt 15,0 thuê bao/100 dân. V. TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG 1. Tài chính: Tổng thu ngân sách nhà nước trong tháng thực hiện 1.182 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn 984 tỷ đồng, thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 350 tỷ đồng. Hai tháng, thu 2.556 tỷ đồng, đạt 19% kế hoạch; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn thực hiện 2.160,6 tỷ đồng, đạt 20,4% dự toán và tăng 2,8% so cùng kỳ; thu nội địa 2.122,3 tỷ đồng, đạt 20,5% dự toán, tăng 2,5% so cùng kỳ (trong thu ngân sách trên địa bàn: thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 763 tỷ đồng, đạt 22,1% dự toán, tăng 8,8% so cùng kỳ; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 307 tỷ đồng, đạt 22% dự toán, giảm 2.7% so cùng kỳ, thu từ hoạt động xổ số kiến thiết 286 tỷ đồng, đạt 17,4% dự toán, giảm 27,5% so cùng kỳ...). Tổng chi ngân sách nhà nước trong tháng 1.178 tỷ đồng; trong đó: chi đầu tư phát triển 305 tỷ đồng. Hai tháng, chi 1.839,8 tỷ đồng, đạt 15% dự toán, giảm 2,9% so cùng kỳ; trong đó: chi đầu tư phát triển 600 tỷ đồng, đạt 16,2% dự toán, giảm 32,7% so cùng kỳ; chi hành chính sự nghiệp 860 tỷ đồng, đạt 12,5% dự toán và giảm 9,46% so cùng kỳ. 2. Ngân hàng: Trong tháng 02/2021, tình hình dịch bệnh Covid-19 trong nước bùng phát trở lại và đang diễn biến khá phức tạp… đã tác động rất lớn đến mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh nhất là hoạt động của ngành nông nghiệp, du lịch và xuất khẩu, điều này gián tiếp ảnh hưởng đến hoạt động tăng trưởng tín dụng của ngành ngân hàng tỉnh. Mặt bằng lãi suất tiếp tục được duy trì ổn định nên vốn huy động đến cuối tháng 01/2021, đạt 73.793 tỷ đồng, giảm 3,09% so với cuối năm 2020 và so cùng kỳ giảm 4,96%. Ước tính đến cuối tháng 02/2021, nguồn vốn huy động đạt 73.941 tỷ đồng, giảm 2,89% so với cuối năm 2020. Do đặc thù của yếu tố mùa vụ trong những tháng đầu năm cộng với tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn và dịch Covid-19 nên ảnh hưởng rất lớn đến tăng trưởng tín dụng của các tổ chức tín dụng nhất là tín dụng phát triển nông nghiệp nông thôn trong khi đây là lĩnh vực chiếm tỷ trọng lớn. Đến cuối tháng 01/2021, tổng dư nợ cho vay toàn tỉnh đạt 65.172 tỷ đồng, tăng 1,35 so với cuối năm 2020 và tăng 1,83% so cùng kỳ, Cơ cấu dư nợ theo thời hạn như sau: - Dư nợ ngắn hạn: đạt 38.972 tỷ đồng, chiếm 59,8% tổng dư nợ. - Dư nợ trung và dài hạn: đạt 26.200 tỷ đồng, chiếm 40,2% tổng dư nợ. Ước tính đến cuối tháng 02/2021, tổng dư nợ cho vay toàn tỉnh đạt 65.595 tỷ đồng , tăng 2,01% so với cuối năm 2020. Nợ xấu: cuối tháng 01/2021, số dư là 794 tỷ đồng, chiếm 1,22%/ tổng dư nợ, giảm 0,03% so với cuối năm 2020. Quỹ tín dụng nhân dân: đến cuối tháng 01/2021, tổng nguồn vốn hoạt động đạt 1.131 tỷ đồng, giảm 226 tỷ đồng, tỷ lệ giảm 0,02% so 12/2020, trong đó: vốn điều lệ chiếm 2,81%, vốn huy động chiếm 86,72%; tổng dư nợ cho vay đạt 859 tỷ đồng, tăng 7,9 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 0,93% so 12/2020. Nợ xấu: số dư 2,4 tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu 0,29%, giảm 0,02% so 12/2020. VI. KHOA HỌC CÔNG NGHỆ Trong tháng, Hội đồng tư vấn tuyển chọn đánh giá, trình Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định công nhận kết quả 3 nhiệm vụ khoa học và công nghệ (KH&CN) cấp tỉnh, đề tài: nghiên cứu đa dạng hóa các sản phẩm nguồn nguyên liệu cây sả và tinh dầu sả tỉnh Tiền Giang; Nghiên cứu, khảo sát, đo đạc, phân tích, lập cơ sở dữ liệu và bản đồ GIS về phông phóng xạ tỉnh Tiền Giang; Xây dựng quy trình xử lý trái mít, trái sầu riêng chín đồng loạt bằng dung dịch ethephon, bảo đảm chất lượng và an toàn cho người sử dụng; thẩm định nội dung 2 nhiệm vụ khoa học và công nghệ (KH&CN) cấp cơ sở: Đề tài Công nhận vườn đầu dòng xoài cát Hòa Lộc tại huyện Cái Bè và đề tài Nghiên cứu ứng dụng cơ giới hóa khâu đảo trộn trong quy trình sản xuất phân hữu cơ có thành phần chính là rơm và phân chuồng; nghiệm thu giai đoạn 1 nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh, đề tài: Nghiên cứu xây dựng mô hình vườn thanh long kiểu mẫu ứng dụng công nghệ cao tại xã Kiểng Phước, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang; quyết định triển khai 01 nhiệm vụ KH&CN đề tài Nghiên cứu xây dựng mô hình công tác xã hội trong trường học tại tỉnh Tiền Giang. Trong đó, tập trung cho các nội dung công việc như : Tuyển chọn, giao trực tiếp thực hiện nhiệm vụ, nghiệm thu kết thúc các nhiệm vụ KH&CN; hướng dẫn lập hồ sơ sở hữu trí tuệ và cấp giấy phép tiến hành công việc bức xạ; hướng dẫn việc xây dựng, áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng theo Tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2015 tại các cơ quan hành chính; đẩy mạnh các hoạt động dịch vụ KH&CN: Kiểm định phương tiện đo; kiểm nghiệm mẫu môi trường; sản xuất các sản phẩm composite, ... VII. CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Lao động việc làm: Công tác tư vấn, giới thiệu việc làm: Trong tháng tư vấn cho 1.313 lượt lao động, tăng 37,3% so với cùng kỳ năm 2020, trong đó: tư vấn nghề cho 306 lượt lao động, tư vấn việc làm 258 lượt lao động, tư vấn việc làm cho 684 lượt lao động thất nghiệp, tư vấn pháp luật lao động và tư vấn khác cho 65 lượt lao động; giới thiệu việc làm cho 138 lượt lao động, tăng 81,6% so với cùng kỳ năm 2020; đã giới thiệu cho 74 lao động có được việc làm ổn định, tăng 124,2% so với cùng kỳ năm 2020. Tính từ đầu năm đến nay, tư vấn cho 2.953 lượt lao động, giảm 2,4% so với cùng kỳ năm 2020, đạt 14,8% kế hoạch năm, trong đó: tư vấn nghề cho 459 lượt lao động, tư vấn việc làm 434 lượt lao động, tư vấn việc làm cho 1.908 lượt lao động thất nghiệp, tư vấn pháp luật lao động và tư vấn khác cho 152 lượt lao động; giới thiệu việc làm cho 308 lượt lao động, tăng 13,2% so với cùng kỳ năm 2020, đạt 7,7% kế hoạch năm; đã giới thiệu cho 158 lao động có được việc làm ổn định, tăng 20,6% so với cùng kỳ năm 2020. Công tác đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng: tư vấn cho 63 lượt lao động có nguyện vọng đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, tăng 46,5% so với cùng kỳ năm 2020, có 01 lượt lao động đăng ký tham gia, giảm 66,7% so với cùng kỳ năm 2020; có 29 lao động xuất cảnh chính thức, tăng 16% so với cùng kỳ năm 2020, trong đó xuất cảnh qua Nhật Bản là 26 lao động, Đài Loan là 03 lao động. Tính từ đầu năm đến nay, đã tư vấn cho 132 lượt lao động có nguyện vọng đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, tăng 0,8% so với cùng kỳ năm 2020, có 04 lượt lao động đăng ký tham gia, giảm 60% so với cùng kỳ năm 2020; đã có 75 lao động xuất cảnh, tăng 41,5% so với cùng kỳ năm 2020, đạt 25% so với kế hoạch năm, trong đó xuất cảnh qua Nhật Bản là 65 lao động, Đài Loan là 10 lao động. Giải quyết chế độ bảo hiểm thất nghiệp: có 653 người đăng ký thất nghiệp, tăng 9% so với cùng kỳ năm 2020, giải quyết 728 hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp, giảm 22,6% so với cùng kỳ năm 2020, với tổng số tiền chi trả tương đương 12.225 triệu đồng, giảm 2.710 triệu đồng, tương đương giảm 18,1% so với cùng kỳ năm 2020. Tính từ đầu năm đến nay, có 2.033 người đăng ký thất nghiệp, giảm 2,6% so với cùng kỳ năm 2020, đã ban hành 2.329 quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp, giảm 2,8% so với cùng kỳ năm 2020, với tổng số tiền chi trả tương đương 39.549 triệu đồng, tăng 3.652 triệu đồng, tương đương tăng 10,2% so với cùng kỳ năm 2020. Tình hình tiền lương thực hiện năm 2020 và thưởng Tết năm 2021: tiền lương bình quân chung của các doanh nghiệp trong năm 2020 tương đối ổn định. Qua số liệu báo cáo của 97 doanh nghiệp, tiền lương bình quân năm 2020 (bao gồm phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác) là 7,27 triệu đồng/người/tháng. Mức thưởng Tết Nguyên đán Tân Sửu năm 2021, qua số liệu của 86 trong tổng số 97 doanh nghiệp trên thì tiền lương bình quân khoảng 6,63 triệu đồng/người. Tình hình lao động tại các doanh nghiệp tương đối ổn định, chưa có phát sinh doanh nghiệp nợ lương, nợ thưởng Tết người lao động, nhưng cũng đã xảy ra 01 vụ ngừng việc do doanh nghiệp không chi trả lương, thưởng kịp thời trước Tết cho người lao động; người lao động không chủ động nghỉ việc để tìm việc mới vì thời gian gần Tết và hiện nay tình hình sản xuất của các doanh nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn nên rất ít doanh nghiệp có nhu cầu tuyển thêm lao động. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều doanh nghiệp cắt giảm lao động vì gặp khó khăn như không có đơn hàng, đơn hàng ít, không có nguyên phụ liệu sản xuất,… do đó, hầu hết người lao động tìm việc mới và đăng ký hưởng trợ cấp thất nghiệp là do doanh nghiệp cắt giảm lao động. 2. Chính sách xã hội: Công tác chăm lo đời sống từ nguồn kinh phí ngân sách của Trung ương, của tỉnh, từ nguồn kinh phí đã vận động được, đã tổ chức tặng quà tết cho người có công với cách mạng, trợ cấp cho hộ nghèo, cận nghèo, hộ mới thoát nghèo, hộ khó khăn,… là 618.368 suất quà với tổng trị giá tiền là 294.617,518 triệu đồng, cụ thể một số như sau: - Quà của Chủ tịch Nước (nguồn từ Trung ương) + Tặng quà của Chủ tịch nước, số lượng 39.083 người, số tiền 11.910,9 triệu đồng (gồm: 620 người, mức quà 600.000 đồng người; 38.463 người, mức quà 300.000 đồng/người). Các nhóm đối tượng được Chủ tịch Nước tặng quà không thay đổi, nhưng mức quà tặng có tăng lên so với năm 2020 (cụ thể: mức quà 400.000 đồng/người tăng lên 600.000 đồng/người và mức quà 200.000 đồng/người tăng lên 300.000 đồng/người). Song song với quà của Chủ tịch nước, người có công còn nhận được thêm xuất trợ cấp Tết từ nguồn ngân sách địa phương với mức 300.000 đồng/người. Mức trợ cấp Tết được tăng cao hơn so với năm trước (900.000 đồng/người và 600.000 đồng/người), tạo điều kiện cho người có công ăn Tết được chu đáo và đầy đủ hơn. + Ngoài đối tượng được Chủ tịch nước tặng quà, người có công còn lại cũng được Ủy ban nhân dân tỉnh trợ cấp Tết với mức 500.000 đồng/người và mức 1.000.000 đồng/người. - Trợ cấp của địa phương cho đối tượng được Chủ tịch Nước tặng quà và trợ cấp của địa phương cho đối tượng còn lại (nguồn kinh phí địa phương) + Tổng kinh phí trợ cấp Tết từ nguồn ngân sách địa phương là 27.411,900 triệu đồng, với số lượng 70.357 người (gồm: 39.083 người, mức quà 300.000 đồng/người; 31.174 người, mức quà 500.000 đồng/người; 100 người, mức quà 1.000.000 đồng/người). + Ngoài ra, các huyện, thành, thị từ nguồn ngân sách địa phương, vận động xã hội hóa thăm và tặng quà cho 1.745 đối tượng, với số tiền 1.114,700 triệu đồng (do Huyện tổ chức đoàn thăm và tặng quà). + Đã tổ chức 13 đoàn Lãnh đạo tỉnh thăm và tặng quà cho các gia đình, đơn vị tiêu biểu theo kế hoạch đề ra. - Nguồn vận động từ các tổ chức, cá nhân (quà hoặc tiền) Đã tổ chức tặng quà cho trợ cấp cho hộ nghèo, cận nghèo, hộ mới thoát nghèo, hộ khó khăn,… với tổng số suất quà là 201.399, trị giá tiền là 100.861,617 triệu đồng, trong đó: + Quà cho hộ nghèo: 39.138 phần/9.429 hộ nghèo, tổng trị giá 15.946,359 triệu đồng, bình quân mỗi hộ nghèo nhận được là 1,691 triệu đồng. + Quà cho hộ cận nghèo: 69.422 phần/16.736 hộ cận nghèo, tổng trị giá 23.606,727 triệu đồng, bình quân mỗi hộ cận nghèo nhận được là 1,411 triệu đồng. + Quà cho gia đình chính sách khó khăn: 11.613 phần, tổng trị giá 4.546,223 triệu đồng. + Quà cho hộ mới thoát nghèo, hộ khó khăn, người nhiễm chất độc da cam, người tàn tật, người già yếu neo đơn, các đối tượng thuộc diện bảo trợ xã hội: 81.226 phần, tổng trị giá 56.762,309 triệu đồng. 3.Hoạt động y tế: Công tác hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe nhân dân trong tháng 02/2021 được đảm bảo. Trong tháng đã khám chữa bệnh cho 434.798 lượt người, tăng 5,9% so cùng kỳ; trong đó, số người điều trị nội trú là 18.226 người, giảm 1,73%. Công suất sử dụng giường bệnh bình quân trong tháng đạt 76,5%; trong đó: công suất sử dụng giường bệnh của các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh đạt 97,3%, các bệnh viện chuyên khoa đạt 66,7%, các trung tâm y tế huyện đạt 44,6%... Trong tháng thực hiện kiểm tra An toàn vệ sinh thực phẩm các cơ sở sản xuất chế biến, kinh doanh thực phẩm: 1.763 lượt, đạt vệ sinh 1.743 lượt, tỷ lệ 98,86%; So với cùng kỳ năm 2020 (1.655 lượt đạt/1.683 lượt kiểm tra, tỷ lệ 98,33%); xảy ra 01 vụ ngộ độc thực phẩm, với số người mắc: 08 người; không có ca tử vong do ngộ độc thực phẩm. Công tác quản lý bệnh truyền nhiễm: Trong tháng 02/2021: 09/44 bệnh truyền nhiễm được ghi nhận. So với cùng kỳ: Về số mắc, có 6 bệnh tăng (Bệnh Tay chân miệng 11,7%, tiêu chảy 4,2%, Viêm gan siêu vi A 100%, viêm gan siêu vi B 15,4%, viêm não vi rút khác 100%, bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona 100%); 7 bệnh giảm (lao phổi 6,8%, quai bị 55,6%, sởi 38,2%, sốt xuất huyết 24,2%, thủy đậu 31,4%, uốn ván khác 33,3%, viêm gan siêu vi C 50%); 32 bệnh tương đương và hoặc không xảy ra ca mắc; Ghi nhận 01 ca tử vong do sốt xuất huyết Dengue tại thành phố Mỹ Tho. Tính đến thời điểm hiện tại toàn tỉnh có 5.765 người nhiễm HIV; 1,792 người chuyển sang AIDS; tử vong do AIDS 981 người... Dịch Covid - 19: Tính đến ngày 15/02/2021 số đợt cách ly tập trung 13 đợt, Tổng số người cách ly tập trung: tại Tiểu đoán Ấp Bắc, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh và cách ly tại các cơ sở y tế trong tỉnh là 3.098 người, sức khỏe ổn định và về địa phương; chủ yếu công dân Việt Nam về từ các nước: Hàn Quốc, Úc, Campuchia, Ấn Độ, Sinhgapo, Indonesi, Malayxia, Đài Loan, Pháp; tình hình nhiễm Covid-19 tại Tiền Giang: Có 05 ca dương tính với SARS-CoV-2, 03 ca điều trị khỏi đã xuất viện, 02 ca đang tiếp tục theo dõi điều trị tại Bệnh viện dã chiến Long Định (trong đó có 01 ca âm tính lần 03 và 01 ca còn lại đang chờ kết quả lần 06); Cách ly tại cơ sở y tế (các trường hợp F1 và người về từ vùng dịch có triệu chứng nghi ngờ): 06 ca (TTYT Gò Công Đông: 03, BVĐKKVGC: 01, TTYT Cai Lậy: 01, BVĐKTTTG (Sở Y tế củ): 01). Ngoài ra, Ngành Y tế tổ chức phun hóa chất Cloramin B xử lý môi trường trong trường học kể cả các điểm trường mầm non tư nhân và các cơ quan, đơn vị: Tính từ ngày 01/02/2020 đến ngày 15/02/2021, ngành Y tế đã tổ chức phun hóa chất Cloramin B xử lý môi trường trong trường học kể cả các điểm trường mầm non tư nhân và các cơ quan, đơn vị đóng trên địa bàn của các huyện có đề nghị là 2164/2164 trong toàn tỉnh sử dụng hết 2054.6kg Cloramin B và Clorin. 4. Hoạt động giáo dục: Ngành Giáo dục và Đào tạo hoàn thành nhiệm vụ theo kế hoạch đề ra, tổ chức Hội nghị sơ kết học kỳ 1 và triển khai phương hướng nhiệm vụ trọng tâm học kỳ 2 năm học 2020-2021. Ngày 15/02/2021, Sở Giáo dục và Đào tạo đã có Công văn số 146/SGDĐT-TCHC về việc tăng cường các biện pháp phòng, chống dịch bệnh Covid-19 sau kỳ nghỉ tết Nguyên đán năm 2021. Các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh đã tổ chức cho học sinh toàn tỉnh đi học trở lại từ ngày 17 tháng 02 năm 2021 theo kế hoạch. Trong ngày đầu tiên các cơ sở giáo dục đã thực hiện nghiêm túc việc đeo khẩu trang; tổ chức đo thân nhiệt; thường xuyên rửa tay, sát khuẩn trong trường học. Toàn ngành tiếp tục thực hiện nghiêm các biện pháp phòng, chống dịch bệnh Covid-19 như: tạm dừng tổ chức các hoạt động, sự kiện có tập trung đông người; đảm bảo công tác thông tin theo đúng quy định. Các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh đã tăng cường công tác khử khuẩn vệ sinh trường, lớp theo quy định. Tổ chức vệ sinh sạch sẽ các khu vực vui chơi trong sân trường, vệ sinh các thiết bị, đồ chơi ngoài trời, đồ dùng đồ chơi trong lớp, bếp ăn và tất cả các thiết bị dụng cụ trong bếp trước khi tổ chức cho trẻ em, học sinh và học viên đi học trở lại vào ngày 17/02/2021. 5. Hoạt động văn hóa - thể thao: Bảo tàng Tiền Giang trưng bày chuyên đề 91 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và các phong tục đón tết cổ truyền của dân tộc. Trong tháng 2/2021, Bảo tàng tỉnh và các di tích do Sở quản lý đã đón 2.353 lượt khách đến tham quan, nghiên cứu. Trung tâm Văn hóa Nghệ thuật tỉnh tổ chức chương trình vui xuân đón tết cùng công nhân ở 3 khu công nghiệp Tân Hương, Long Giang và Trung An. Tổ chức Hội thi và trưng bày các tác phẩm hoa lan dịp tết. Thực hiện chương trình nghệ thuật chào đón giao thừa xuân Tân Sửu năm 2021 tại Nhà thi đấu đa môn tỉnh. Thư viện tỉnh Tiền Giang tổ chức Hội báo xuân Tân Sửu năm 2021 từ ngày 04/02/2021 đến hết ngày 09/02/2021 (nhằm ngày 23 đến hết ngày 28 tháng Chạp), đã đón được 1.024 lượt bạn đọc. Hỗ trợ và luân chuyển các loại báo, ấn phẩm, tạp chí xuân để các địa phương tổ chức Hội báo xuân, sau đó luân chuyển về phục vụ tại các phòng đọc cơ sở. 6. Tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội:(Theo báo cáo của Ngành công an) Tình hình an ninh được đảm bảo, có 53 lượt người dân đi khiếu kiện; trong đó 12 người dân đi Hà Nội khiếu kiện (nâng tổng số người dân khiếu kiện tại Hà Nội 34 người, đến nay có 34/34 người về nơi cư trú). Xảy ra 01 vụ, có 400 công nhân đình công, phản đối chế độ thưởng tết của công ty; lãnh đạo công ty tổ chức tiếp xúc, đối thoại, giải quyết thỏa đáng các yêu cầu của công nhân, tình hình an ninh, trật tự ổn định... Tội phạm về trật tự xã hội xảy ra 137 vụ (tăng 20 vụ so với tháng 01/2021), bị thương 14 người, tài sản thiệt hại trị giá khoảng 4,2 tỷ đồng; trọng án không xảy ra; thường án nổi lên là tội phạm cố ý gây thương tích là 12/7 vụ, cướp giật tài sản là 27/16 vụ, hủy hoại tài sản là 7/4 vụ và trộm cắp tài sản là 82/71 vụ… Điều tra khám phá bước đầu đạt tỷ lệ 40,1% (56 vụ), bắt xử lý 61 đối tượng, thu hồi tài sản trị giá khoảng 119 triệu đồng. Phát hiện, xử lý 48 tụ điểm, 260 đối tượng tham gia cờ bạc; 16 vụ với 24 đối tượng phạm tội về ma túy và xử lý vi phạm hành chính 260 đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy; 01 vụ với 01 đối tượng có hành vi hối lộ; 06 vụ với 07 đối tượng vi phạm pháp luật về trật tự quản lý kinh tế và 22 trường hợp vi phạm pháp luật về môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm, tài nguyên. 7. Trật tự an toàn giao thông: Theo báo cáo của Ngành công an Giao thông đường bộ: Tai nạn giao thông trong tháng xảy ra 89 vụ, tăng 28 vụ so tháng trước và tăng 61 vụ so cùng kỳ, làm chết 43 người, tăng 06 người so tháng trước và tăng 24 người so cùng kỳ, bị thương 59 người, tăng 29 người so tháng trước và tăng 42 người so cùng kỳ. Vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ trong tháng xảy ra 3.958 vụ giảm 60 vụ so tháng trước và giảm 3.513 vụ so cùng kỳ. Các nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông chủ yếu vẫn do ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông như: điều khiển xe khi có rượu bia, phóng nhanh vượt ẩu, không làm chủ tốc độ; không đi đúng phần đường, làn đường; không nhường đường, vượt đèn đỏ, thiếu quan sát… Giao thông đường thủy: Trong tháng không xảy ra vụ tai nạn, giảm 01 vụ so tháng trước và cùng kỳ, số người chết và bị thương trong tháng không phát sinh, tương đương so tháng trước và cùng kỳ. Vi phạm trật tự an toàn giao thông đường thủy trong tháng xảy ra 3.552 vụ tăng 1.635 vụ so tháng trước và tăng 1.594 vụ so cùng kỳ. Đã xử lý vi phạm: Lập biên bản tạm giữ giấy tờ 315 vụ và phạt tiền 1.573 vụ với số tiền phạt: 506 triệu đồng. Tai nạn giao thông Tết Nguyên đán 2021 (từ ngày 10/02/2021 đến 16/02/2021 – nhằm ngày 29/12 năm Canh Tý đến Mùng 5 Tết Tân Sửu 2021): Giao thông đường bộ: tai nạn giao thông đường bộ xảy ra 08 vụ, làm chết 08 người, bị thương 07 người. So với Tết nguyên đán Canh Tý năm 2020: số vụ tai nạn tăng 01 vụ, số người chết tương đương và số người bị thương tăng 04 người. Nguyên nhân chủ yếu người điều khiển xe mô tô chuyển hướng thiếu chú ý quan sát, đi không đúng phần đường quy định và điều khiển xe mô tô không đi bên phải theo chiều đi của mình…địa bàn xảy ra vụ tai nạn: Huyện Tân Phước 02 vụ, huyện Cái Bè 01 vụ, huyện Cai Lậy 01 vụ, TX Cai Lậy 02 vụ, Gò Công Đông 01 vụ, TX Gò Công 01 vụ. 8. Tình hình cháy nổ, môi trường: Trong tháng trên địa bàn tỉnh xảy ra 03 vụ cháy: trên địa bàn thành phố Mỹ Tho 01 vụ, thị xã Cai Lậy 01 vụ và huyện Châu Thành 01 vụ, tổng thiệt hại là 350 triệu đồng. Nguyên nhân do chập điện 01 vụ, 01 đang điều tra nguyên nhân cháy và 01 vụ chủ nhà không yêu cầu xem xét nguyên nhân cháy. Trong tháng 02 ban hành 02 quyết định xử phạt vi phạm hành chính (bao gồm 01 trường hợp vi phạm trong tháng 01) với số tiền xử phạt vi phạm hành chính là 30.292.740 đồng, tịch thu 02 ghe gỗ, hiện các đối tượng chưa thực hiện các quyết định.
Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội năm 2021
- 18/06/2024 16:29
MỘT SỐ CHỈ TIÊU KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2021(Được Hội đồng nhân dân tỉnh Tiền Giang khóa IX, kỳ họp thứ 14 thông qua ngày 10 tháng 12 năm 2020) 1. Các chỉ tiêu kinh tế: - Tốc độ tăng trưởng kinh tế (theo giá so sánh 2010) tăng từ 6,0 – 7,0% so với năm 2020; - GRDP bình quân đầu người đạt 61,8 triệu đồng; - Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 3,25 tỷ USD; - Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt 39.650 tỷ đồng; - Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 10.612,3 tỷ đồng; - Tổng chi ngân sách địa phương 12.255,56 tỷ đồng; trong đó, chi đầu tư phát triển 3.703,1 tỷ đồng; - Số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới đạt 710 doanh nghiệp. 2. Các chỉ tiêu xã hội: - Giải quyết việc làm cho 16.000 lao động; - Giảm tỷ lệ thất nghiệp thành thị còn dưới 4%; - Tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế đạt 92%; - Tỷ lệ hộ nghèo còn 1,67%; - Xây dựng 11 xã đạt chuẩn nông thôn mới; 10 xã đạt cuẩn nông thôn mới nâng cao và 01 đạt chuẩn huyện nông thôn mới; - Giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng xuống dưới 12,5; - Tỷ lệ tử vong trẻ em dưới 1 tuổi là 9,50/00; trẻ em dưới 5 tuổi là 110/00; - Số giường bệnh/vạn dân đạt 23,32 giường; - Số bác sĩ/vạn dân là 7,2 bác sĩ; - Tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đi học mẫu giáo đạt 85,5%; - Tuyển sinh mới đào tạo bậc cao đẳng và bậc trung cấp 2.815 học sinh. 3. Các chỉ tiêu môi trường: - Tỷ lệ hộ dân nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh 100%; - Tỷ lệ hộ dân đô thị được sử dụng nước sạch đạt 99,6%; - Tỷ lệ chất thải rắn đô thị được thu gom và xử lý đạt 96,6%; - Tỷ lệ chất thải rắn y tế được thu gom và xử lý đạt 100%; - Tỷ lệ nước thải y tế được thu gom và xử lý đạt 100%. N.V.Tròn