0273.3 872582 | dongthap@nso.gov.vn
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Tháp Tháng 01 năm 2026
  •   24/02/2026 10:20

Năm 2026 là năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết đại hội đảng bộ tỉnh giai đoạn 2026-2030. Ngay từ đầu năm Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh tập trung triển khai kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026, giao nhiệm vụ cụ thể cho từng ngành, từng địa phương; chủ động nguồn hàng hóa phục vụ nhu cầu Tết của nhân dân; tăng cường các biện pháp nhằm bình ổn giá cả thị trường; kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm; chăm lo đời sống vật chất; tinh thần cho các đối tượng chính sách và nhân dân vui xuân đón Tết; đảm bảo trật tự an toàn xã hội... Kết quả thực hiện ở các lĩnh vực cụ thể như sau:I. SẢN XUẤT NÔNG LÂM NGHIỆP VÀ THỦY SẢN1. Nông nghiệpCây lương thực có hạt: trong tháng tiếp tục tập trung chăm sóc cây lương thực có hạt vụ Đông xuân 2025 – 2026, diện tích gieo trồng từ đầu vụ tính đến 20/01/2026 ước đạt 215.224 ha, giảm 1,9% so cùng kỳ, tương ứng giảm 4.145 ha, trong đó:- Cây lúa: vụ Đông xuân 2025–2026, diện tích gieo trồng ước đạt 213.253 ha, đạt 93,9% kế hoạch, giảm 1,9% so với cùng kỳ (tương ứng giảm 4.085 ha). Diện tích thu hoạch ước đạt 39.430 ha, chiếm 18,5% diện tích gieo trồng.Hình 1. Diện tích gieo trồng cây hàng năm tính đến 20/01/2026- Cây ngô: diện tích gieo trồng đến ngày 20/01/2026 ước đạt 1.972 ha, giảm 3,0%, tương ứng giảm 60,1 ha.Cây rau đậu các loại: tính đến 20/01/2026, diện tích gieo trồng ước đạt 22.430 ha, giảm 1,9% so cùng kỳ; trong đó: rau các loại 22.308 ha, giảm 1,9% so cùng kỳ. Còn hơn một tháng nữa đến Tết Nguyên đán, nông dân trên địa bàn tỉnh đang tập trung gieo trồng các loại rau ăn lá phổ biến như cải ngọt, cải xanh, xà lách, rau muống; các loại rau gia vị như hành, tỏi, húng quế, cùng một số rau quả ngắn ngày như dưa hấu, dưa leo, bí, bầu, mướp nhằm kịp thu hoạch vào giữa tháng Chạp, góp phần tăng nguồn cung và tăng thu nhập cho người sản xuất trong dịp Tết.Chăn nuôi: ước tổng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh tại thời điểm 31/01/2026 như sau: đàn trâu 2.040, giảm 27,1%; đàn bò 150,1 nghìn con, giảm 3,3% so cùng kỳ; đàn lợn 465,5 nghìn con, tăng 0,6%; đàn gia cầm 23,5 triệu con, giảm 3,7%. Đàn trâu trên địa bàn tỉnh giảm chủ yếu do nhu cầu sử dụng trâu trong sản xuất nông nghiệp ngày càng giảm khi cơ giới hóa được đẩy mạnh; bên cạnh đó, hiệu quả kinh tế của chăn nuôi trâu không cao, thời gian nuôi dài, điều kiện chăn thả ngày càng thu hẹp. Chăn nuôi bò giảm do chi phí thức ăn chăn nuôi vẫn ở mức cao, trong khi hiệu quả kinh tế chưa cải thiện rõ rệt. Đàn lợn tăng do các trang trại và hộ chăn nuôi trên địa bàn tỉnh đẩy mạnh tăng đàn, tái đàn nhằm chủ động nguồn cung phục vụ thị trường Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026. Đàn gia cầm giảm do chi phí chăn nuôi cao, hiệu quả kinh tế chưa ổn định, làm cho người chăn nuôi, đặc biệt là các hộ nhỏ lẻ, thận trọng trong việc tái đàn.Hình 2. Chăn nuôi tại thời điểm 31/01/2026Tình hình dịch bệnh (theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đồng Tháp):Trong tháng, trên địa bàn tỉnh ghi nhận bệnh Dịch tả lợn châu Phi xảy ra tại 33 ổ dịch, với 580 con lợn mắc bệnh trên tổng đàn 1.002 con, thuộc 06 xã gồm: Bình Ninh, Tân Thới, An Thạnh Thủy, Vĩnh Hựu, Thanh Hưng và Tân Hộ Cơ. Cơ quan chức năng đã tổ chức tiêu hủy 907 con lợn, với tổng khối lượng tiêu hủy 34.011 kg, nhằm kiểm soát và ngăn chặn dịch bệnh lây lan.2. Lâm nghiệp:Tổng diện tích rừng của toàn tỉnh là 8.006,6 ha, trong đó diện tích rừng phòng hộ là 2.244,3 ha, diện tích rừng đặc dụng là 2.717,6 ha, diện tích rừng sản xuất là 2.249,2 ha, diện tích rừng sử dụng cho mục đích khác là 795,5 ha.Trong tháng, toàn tỉnh thực hiện trồng mới được 46 ngàn cây phân tán các loại, tăng 5,1% so cùng kỳ. Cây phân tán được trồng tại các khu dân cư, trường học, bệnh viện, khu công nghiệp, đô thị, đường giao thông, bờ sông, kênh mương… nhằm tạo cảnh quan, góp phần giảm ô nhiễm và xây dựng không gian sống xanh.3. Thủy hải sản:Diện tích thả nuôi thâm canh trong tháng ước đạt 2.736 ha, tăng 1,2% so cùng kỳ; bao gồm: cá tra 1.477 ha, tăng 0,2% so cùng kỳ, tôm thẻ chân trắng 834 ha, giảm 4,6% cùng kỳ, tôm sú 425 ha, tăng 1,2%.Sản lượng thủy sản nuôi trồng trong tháng ước đạt 32.681 tấn, tăng 4,7% so cùng kỳ, tương ứng tăng 1.458 tấn, trong đó: cá đạt 29.674 tấn, tăng 5,0%; tôm đạt 793 tấn, tăng 1,4%. Sản lượng thủy sản khai thác biển trong tháng ước đạt 8.989 tấn, tăng 53,6% so cùng kỳ, tương ứng tăng 3.138 tấn, chủ yếu do thời tiết thuận lợi, thủy sản bệnh ít, năng suất cao, trong đó: sản lượng cá khai thác đạt 6.239 tấn, tăng 93,9%; tôm đạt 274 tấn, tăng 80,9% so cùng kỳ.II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆPChỉ số sản xuất công nghiệp tháng 01/2026 giảm nhẹ 1,1% so với tháng 12/2025 (ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 1,12%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 1,00%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,18%; khai khoáng giảm 7,97%) và tăng 12,87% so cùng kỳ (ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,43%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 9,74%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,22%; riêng khai khoáng giảm 8,41%).Hình 3. Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 01 năm 2026Chỉ số sản xuất sản phẩm trong tháng so cùng kỳ như sau:- Có 73/111 sản phẩm có chỉ số sản xuất tăng so cùng kỳ: Phi lê đông lạnh tăng 12,6%; Bột mịn, bột thô và bột viên từ cá tăng 46,0%; Quả và hạt ướp lạnh tăng 82,6%; Miến, hủ tiếu, bánh đa khô và các loại tương tự tăng 22,2%; Thức ăn cho gia súc tăng 9,9%; Thức ăn cho thủy sản tăng 19,5%; Bia đóng lon tăng 32,5%; Túi xách tăng 15,6%; Thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng lỏng tăng 45,0%; Dược phẩm chứa hoóc môn nhưng không có kháng sinh dạng viên tăng 49,1%; Bao và túi từ plastic khác tăng 70,4%; Ống và ống dẫn bằng đồng tăng 17,5%; Điện gió tăng 50,5%; Điện mặt trời tăng 14,0%;…- Có 30/111 sản phẩm có chỉ số sản xuất giảm so cùng kỳ: Cát đen giảm 8,4%; Gạo đã xát toàn bộ hoặc sơ bộ giảm 6,3%; Thuốc lá có đầu lọc giảm 12,4%; Bộ com-lê, quần áo cho người lớn không dệt kim hoặc đan móc giảm 59,2%; Giày, dép thể thao có đế ngoài và mũ giày bằng cao su và plastic giảm 5,1%; Thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng viên giảm 31,2%; Thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm giảm 22,8%; Nước uống được giảm 5,2%;…* Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo:- Chỉ số tiêu thụ tháng 01/2026 so với tháng trước giảm 2,48% và tăng 14,21% so cùng kỳ. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng so cùng kỳ: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 16,37%; sản xuất đồ uống tăng 15,25%; dệt tăng 65,97%; sản xuất trang phục tăng 3,84%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 2,35%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 18,94%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 64,97%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 44,38%; sản xuất kim loại tăng 8,47%; công nghiệp chế biến chế tạo khác tăng 65,29%. Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm so cùng kỳ là: sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 7,79%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 44,96%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 16,14% và sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu giảm 46,22%.- Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 01 năm 2026 tăng 6,02% so với tháng trước và tăng 6,42% so với cùng kỳ. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng so cùng kỳ là: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 13,88%; sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 58,70%; sản xuất trang phục tăng 1,43%; sản xuất da và các sản phẩm liên quan tăng 23,4%, sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 19,59%, sản xuất kim loại tăng 120,69%; sản xuất thiết bị điện tăng 33,99%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 30,19%. Bên cạnh đó, một số ngành có chỉ số tồn kho giảm so với cùng kỳ: dệt giảm 73,32%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 28,97%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 24,29%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 14,07%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẳn giảm 60,85%.* Tình hình thu hút đầu tư và phát triển các khu công nghiệp, khu kinh tế (KCN, KKT):Trong tháng, Ban Quản lý Khu kinh tế điều chỉnh 02 giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho nhà đầu tư, trong đó có điều chỉnh tăng vốn cho 01 dự án; tổng vốn đầu tư tăng thêm là 5 triệu USD.Lũy kế đến cuối tháng 01/2026: Các KCN, KKT thu hút được 187 dự án (trong đó, có 101 dự án FDI, 86 dự án DDI) với tổng vốn đầu tư là 87,4 nghìn tỷ đồng (trong đó, vốn đầu tư FDI là 3,3 tỷ USD và vốn đầu tư DDI là 12,3 nghìn tỷ đồng); diện tích đất đã cho thuê là 754,79 ha, tỷ lệ lấp đầy 94,37%.III. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP: (Theo báo cáo của Sở Tài Chính)Thành lập mới: Tính từ đầu năm đến 22/01/2026, có 304 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 184,1% so với cùng kỳ và đạt 10,1% kế hoạch (kế hoạch năm 2026 3.000 doanh nghiệp) với tổng vốn đăng ký là 898,3 tỷ đồng, tăng 75,2% so với cùng kỳ.Giải thể, tạm ngừng hoạt động, tái hoạt động: Trong tháng, có 31 doanh nghiệp đã giải thể, tăng 121,4% so với cùng kỳ; 369 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, tăng 8,8% so với cùng kỳ; 160 doanh nghiệp hoạt động trở lại, tăng 6,7% so với cùng kỳ năm 2025.IV. ĐẦU TƯ - XÂY DỰNGTổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện trong tháng 1/2026 ước đạt 514 tỷ đồng, đạt 4,5% kế hoạch, bằng 68,6% cùng kỳ. Vốn thực hiện giảm so với cùng kỳ do trong tháng 01/2026 UBND tỉnh mới giao kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026, phần lớn các công trình thực hiện trong tháng là công trình chuyển tiếp của năm 2025, các công trình khởi công mới và công trình chuẩn bị đầu tư chưa triển khai thực hiện.Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước thực hiện 466 tỷ đồng, đạt 4,6% kế hoạch, bằng 62,8% cùng kỳ, chiếm 90,8% tổng số; trong đó: vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 91 tỷ đồng, bằng 37,5%, vốn xổ số kiến thiết thực hiện 236 tỷ đồng, tăng 15,4% so cùng kỳ.Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước thực hiện 47 tỷ đồng, tăng gắp 7,6 lần cùng kỳ. Các Ban quản lý công trình xã, phường, thị trấn làm chủ đầu tư thực hiện chủ yếu từ nguồn vốn phân cấp để thực hiện các công trình giao thông nông thôn, thủy lợi nội đồng phục vụ địa phương.Tình hình thi công một số công trình trọng điểm của tỉnh trong tháng 01/2026: Đầu tư xây dựng hệ thống cống ngăn mặn tại đầu các kênh rạch ra sông Tiền trên Đường tỉnh 864 (giai đoạn 1) đạt 5 tỷ đồng; Xây dựng tuyến ĐT.857 (đoạn QL30 - ĐT.845) đạt 20 tỷ đồng; Hệ thống đèn chiếu sáng Đường tỉnh 862 đoạn từ khu di tích chiến thắng Xóm Gò đến biển Tân Thành 6 tỷ đồng; Dự án thành phần 2: xây dựng Tuyến đường bộ ven biển đoạn qua địa phận tỉnh Tiền Giang kết nối với tỉnh Long An và tỉnh Bến tre (giai đoạn 1) đạt 9 tỷ đồng; Xây dựng công trình đường bộ cao tốc Cao Lãnh - An Hữu, giai đoạn 1 (dự án thành phần 1) đạt 51 tỷ đồng.V. THƯƠNG MẠI - GIÁ CẢ - DỊCH VỤ1. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng:Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trong tháng thực hiện 13.854 tỷ đồng, tăng 2,8% so tháng trước và tăng 10% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 10.177 tỷ đồng, tăng 9,2%; lưu trú 55 tỷ đồng, tăng 13,6%; ăn uống 1.775 tỷ đồng, tăng 17,1%; du lịch lữ hành 26 tỷ đồng, tăng 8%; dịch vụ tiêu dùng khác 1.821 tỷ đồng, tăng 7,4% so cùng kỳ.Hình 4. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùngTháng 01/2026 là thời điểm trước Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026 nên Tỉnh tập trung triển khai các giải pháp của Chỉ thị số 18/CT-BCT ngày 25/11/2025 của Bộ Công Thương về thực hiện các giải pháp bảo đảm cân đối cung cầu, bình ổn thị trường cuối năm 2025 và dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026; Kế hoạch 827/KH-UBND ngày 30/12/2025 về dự trữ, cung ứng hàng hóa thiết yếu phục vụ Tết Nguyên bán Bính Ngọ năm 2026 trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp (Tổng giá trị hàng hoá thiết yếu dự trữ lên đến 604,6 tỷ đồng, trong đó hàng hoá thiết yếu là 228,1 tỷ đồng); cùng với các chương trình khuyến mãi, giảm giá kích cầu tiêu dùng dịp Tết được duy trì tại hệ thống phân phối đã thu hút đông đảo khách tham quan, mua sắm. Nhìn chung, hoạt động thương mại dịch vụ tiếp tục tăng trưởng, hàng hoá cung ứng dồi dào, đáp ứng nhu cầu mua sắm của người dân.2. Xuất - Nhập khẩu (Theo báo cáo Sở Công Thương)a. Xuất khẩu:Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng ước thực hiện 850 triệu USD, đạt 8,5% kế hoạch và tăng 33,6% so cùng kỳ, do Tết Nguyên đán năm nay rơi vào tháng 02/2026 (năm 2025 Tết Nguyên dán trong tháng 01), nên các doanh nghiệp có nhiều đơn hàng xuất khẩu hơn so cùng kỳ.Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của tỉnh như sau:- Gạo: ước tính tháng 01/2026 xuất 225 ngàn tấn, tăng 52,7% so cùng kỳ; giá trị đạt 120 triệu USD, tăng 43,2% so cùng kỳ.- Thuỷ sản chế biến: tháng 01/2026 ước đạt 48 ngàn tấn, tăng 38,5% so cùng kỳ; kim ngạch xuất đạt 110 triệu USD, tăng 35,1% so cùng kỳ. - Hàng rau quả: ước đạt 11,7 ngàn tấn, tăng 2,6 lần so cùng kỳ; kim ngạch xuất đạt 30 triệu USD, tăng 3,3 lần so cùng kỳ, do đầu năm 2025 xuất khẩu hàng rau quả giảm mạnh chủ yếu các doanh nghiệp xuất khẩu sầu riêng phải đối mặt thách thức do phía Trung Quốc siết chặt kiểm soát chất lượng, đặc biệt là kiểm soát dư lượng cadimi (cadmium, một kim loại nặng) và các yêu cầu về an toàn thực phẩm, kiểm nghiệm, cũng như truy xuất nguồn gốc lô hàng, đã làm giảm mạnh.- Sản phẩm công nghiệp: nhóm hàng công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong xuất khẩu của tỉnh đến cuối tháng 01/2026, như: kim loại thường khác và sản phẩm (kể cả đồng) ước đạt 130 triệu USD, tăng 4,8%; sản phẩm ngành may ước đạt 66 triệu USD, tăng 29,2%; giày dép các loại ước đạt 85 triệu USD, tăng 7,5%; sản phẩm từ chất dẻo ước đạt 75 triệu USD, tăng 1,1% so cùng kỳ;...b. Nhập khẩu:Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 01/2026 ước đạt 420 triệu USD, đạt 8,4% kế hoạch và tăng 8,5% so cùng kỳ.Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của tỉnh trong tháng 01/2026 như: kim loại thường khác (nguyên liệu đồng) ước đạt 125 triệu USD, tăng 36,5%; xăng dầu ước đạt 35 triệu USD, tăng 2,9%; chất dẻo nguyên liệu ước đạt 25 triệu USD, tăng 14,7%; nguyên phụ liệu dệt may, da giày, túi xách ước đạt 60 triệu USD, tăng 0,9% so cùng kỳ;…3. Chỉ số giá:Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 01/2026 tăng 0,28% (thành thị tăng 0,39%, nông thôn tăng 0,25%) so tháng 12/2025; tăng 2,47% so tháng 01/2025.So với tháng 12/2025, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 10 nhóm tăng: nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,87%; văn hóa, giải trí và du lịch 0,85%; may mặc, mũ nón và giầy dép tăng 0,83%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,61%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,52%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,39%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,25%; bưu chính viễn thông tăng 0,09%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,03%; giáo dục tăng 0,01%. Có 01 nhóm giảm: giao thông giảm 2,49%.Nguyên nhân một số mặt hàng có chỉ số giá tăng so với tháng trước:- Chỉ số giá nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,87%, tác động làm tăng CPI chung 0,16 điểm phần trăm, do tác động giá chủ yếu của một số mặt hàng như:+ Giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,09%; dịch vụ sữa chữa nhà tăng 0,07% do nhu cầu xây dựng và sữa chữa nhà vào dịp cuối năm, nên giá xi măng, sắt thép, cát đều có giá tăng nhẹ so với tháng trước.+ Giá điện sinh hoạt tăng 2,62%, do nhu cầu sử dụng điện sinh hoạt của người dân tăng vào dịp cuối năm.+ Chỉ số giá gas tăng 4,64% và giá dầu hỏa giảm 3,94%, do điều chỉnh theo giá nhiên liệu thế giới.- Chỉ số giá nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,85%, tăng chủ yếu ở các mặt hàng như: máy ảnh, máy quay video tăng 0,16% (do giá chíp tăng), dịch vụ văn hóa tăng 0,59%, dịch vụ thể thao tăng 1,47%, hoa, cây cảnh, vật cảnh tăng 0,79%...do nhu cầu mua sắm của người dân vào dịp cuối năm.- Chỉ số giá nhóm may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,83%. Trong đó, vải các loại tăng 1,39%, quần áo may sẵn tăng 0,74%, mũ nón tăng 0,67%, giày dép tăng 1,19%, dịch vụ may mặc tăng 0,55%, dịch vụ may giày dép tăng 1,11%, may mặc khác tăng 0,51%... nguyên nhân tăng chủ yếu do nhu cầu mua sắm tăng vào dịp tết Nguyên đán sắp tới.- Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,52%, trong đó;+ Chỉ số giá nhóm hàng lương thực tăng 0,64%, góp phần làm CPI chung tăng 0,03 điểm phần trăm. Do nhu cầu tiêu dùng của các mặt hàng gạo tẻ ngon, gạo nếp tăng cao vào dịp cuối năm đã tác động đến giá bán lẻ thị trường nội địa tháng này tăng 0,63%, đóng góp vào mức tăng CPI chung của tháng 01/2026 khoảng 0,01 điểm phần trăm. Bên cạnh đó giá bột mì tăng 0,32%; ngô (bắp trái) tăng 1,93%, khoai lang tăng 5,98%; sắn tăng 0,26% so với tháng trước đã tác động đến chỉ số giá nhóm hàng lương thực.+ Chỉ số giá nhóm hàng thực phẩm tăng 0,59%, góp phần làm CPI chung tăng 0,13 điểm phần trăm, do nhu cầu tiêu dùng vào dịp cuối năm dẫn đến giá một số mặt hàng tăng như: thịt lợn tăng 3,98%; gia cầm tăng 0,47%; thủy sản tươi sống tăng 0,14%; giá quả tươi và chế biến tăng 1,94%;...+ Chỉ số giá nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,61%, chủ yếu ở nhóm nước khoáng và nước có gas tăng 1,20%, bia rượu tăng 0,13% so với tháng trước.Một mặt hàng có chỉ số giá giảm so với tháng trước:Chỉ số giá nhóm giao thông giảm 2,49%, do ảnh hưởng của giá xăng dầu, trong đó: giá xăng giảm 5,52%; giá dầu diezen giảm 3,42% do ảnh hưởng của các đợt điều chỉnh giá theo Nghị định 80/2023/NĐ-2023, cụ thể các ngày điều chỉnh trong tháng như: ngày 31/12/2025; 08/01; 15/01; 22/01/2026 và ngày 29/01/2026.Chỉ số giá vàng tháng 01/2026 tăng 5,79% so với tháng 12/2025, tương đương tăng từ 14.426 ngàn đồng/chỉ lên 15.261 ngàn đồng/chỉ đối với vàng nhẫn trơn 9999) và tăng 70,58% so với bình quân cùng kỳ. Do giá vàng biến động theo xu hướng thị trường vàng trong nước và thế giới.Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng 01/2026 giảm 0,88% so tháng trước, tương đương giảm 234 đồng/USD và tăng 2,67% so với cùng kỳ.4. Vận tải:Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trong tháng thực hiện 670 tỷ đồng, tăng 2,7% so tháng trước và tăng 14,2% so cùng kỳ. Doanh thu vận tải đường bộ thực hiện 321 tỷ đồng, tăng 18,2%; doanh thu vận tải đường thủy thực hiện 232 tỷ đồng, tăng 10,4%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 67 tỷ đồng, tăng 10,8% so cùng kỳ.Vận tải hành khách trong tháng đạt 6.173 ngàn hành khách, tăng 1,7% so tháng trước và tăng 9,2% so cùng kỳ; luân chuyển 215.407 ngàn hành khách.km, tăng 5,5% so tháng trước và tăng 17,8% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 1.982 ngàn hành khách, tăng 23,6% và luân chuyển 213.416 ngàn hành khách.km, tăng 18% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 4.191 ngàn hành khách, tăng 3,5% và luân chuyển 1.991 ngàn hành khách.km, tăng 0,8% so cùng kỳ.Vận tải hàng hóa trong tháng đạt 2.414 ngàn tấn, tăng 2,7% so tháng trước và tăng 8% so cùng kỳ; luân chuyển 422.599 ngàn tấn.km, tăng 1,1% so tháng trước và tăng 1,9% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 599 ngàn tấn, tăng 27% và luân chuyển 77.642 ngàn tấn.km, tăng 1,5% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 1.815 ngàn tấn, tăng 2,9% và luân chuyển 344.957 ngàn tấn.km, tăng 2% so cùng kỳ. Trong tháng đăng ký mới 1.979 chiếc mô tô xe máy và 414 chiếc xe ô tô. Tổng số xe đang quản lý trên địa bàn tỉnh là 3.107.104 chiếc, trong đó mô tô xe máy: 2.969.500 chiếc, 130.648 xe ô tô, 169 xe ba bánh, 666 xe đạp điện, 1.063 xe khác và 1.309 xe lam.5. Bưu chính viễn thông:Doanh thu trong tháng 01/2026 đạt 528 tỷ đồng, tăng 0,9% so tháng trước. Các doanh nghiệp bưu chính, viễn thông trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì, phát triển ổn định, không ngừng đầu tư nâng cấp phát triển mạng lưới, cung cấp nhiều loại hình dịch vụ phong phú, đa dạng để duy trì tốc độ phát triển.Đến cuối tháng 01 năm 2026 tổng số thuê bao điện thoại có trên mạng là 3.648 ngàn thuê bao, thuê bao điện thoại bình quân đạt 107,17 thuê bao/100 dân (bao gồm: hữu tuyến, vô tuyến, trả trước, trả sau). Số thuê bao điện thoại di động có sử dụng Internet (3G, 4G) đến cuối tháng 01 là: 2.656 ngàn thuê bao. Thuê bao internet có trên mạng là 3.784 ngàn thuê bao, mật độ Internet bình quân ước đạt 111,18 thuê bao/100 dân.VI. TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG1. Tài chính:Tổng thu ngân sách nhà nước trong tháng ước thực hiện 6.368 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn 3.224 tỷ đồng, đạt 13,6% dự toán, giảm 2,5% so cùng kỳ; thu nội địa 3.074 tỷ đồng, đạt 13,2% dự toán, giảm 5,4% so cùng kỳ (trong thu ngân sách trên địa bàn: thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 634 tỷ đồng, đạt 15,7% dự toán, tăng 2,5% so cùng kỳ; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh 909 tỷ đồng, đạt 18,9% dự toán, tăng 6,9% so cùng kỳ, thu từ hoạt động xổ số kiến thiết 650 tỷ đồng, đạt 14% dự toán, giảm 0,3% so cùng kỳ...).Tổng chi ngân sách nhà nước trong tháng 2.782 tỷ đồng, đạt 6,9% dự toán, bằng 71,6% so cùng kỳ; trong đó: chi đầu tư phát triển 728 tỷ đồng, đạt 8,3% dự toán, bằng 58,2% so cùng kỳ; chi hành chính sự nghiệp 1.878 tỷ đồng, đạt 8,3% dự toán và bằng 74,8% so cùng kỳ.2. Ngân hàng: Trong tháng các hoạt động sản xuất kinh doanh và thương mại diễn ra sôi động. Các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh và người dân tập trung chuẩn bị nguồn hàng hóa, dịch vụ phục vụ Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, do đó, nhu cầu tín dụng, tiêu dùng, thanh toán và tín dụng trong nền kinh tế gia tăng ngoài ra lãi suất ổn định tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn. Trong bối cảnh đó, hoạt động ngân hàng giữ vai trò quan trọng trong việc đảm bảo đảm lưu thông tiền tệ thông suốt, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng.Lãi suất huy động: Hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn chấp hành tốt các quy định về lãi suất huy động theo quy định của Ngân hàng nhà nước Việt Nam. Đến cuối tháng 12/2025, lãi suất huy động bằng VND: đối với tiền gửi có kỳ từ 6 tháng đến 12 tháng dao động từ 1,98%-8,1%/năm đối với khách hàng cá nhân, từ 2,8%- 8%/năm đối với khách hàng pháp nhân; đối với tiền gửi trên 12 tháng dao động từ 2,63%-8,42%/năm đối với khách hàng cá nhân, từ 0,2% - 7,8%/năm đối với khách hàng pháp nhân.Lãi suất cho vay: Các tổ chức tín dụng trên địa bàn chấp hành nghiêm mức trần lãi suất cho vay ngắn hạn đối với các lĩnh vực ưu tiên (hiện là 4%/năm áp dụng tại các chi nhánh ngân hàng và 5% áp dụng tại Quỹ tín dụng nhân dân, Tổ chức tài chính vi mô). Lãi suất cho vay bình quân trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp là 7,69%/năm, giảm 0,24%/năm.Đến cuối tháng 01/2026, vốn huy động ước đạt 209.438 tỷ, tăng 0,65% so với cuối năm 2025, tổng dư nợ cho vay của các TCTD trong tỉnh ước đạt 245.239 tỷ, tăng 0,75% so với cuối năm 2025.Nợ xấu: đến cuối tháng 12/2025 nợ xấu đạt 6.470 tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu/Tổng dư nợ (không bao gồm nợ xấu của các ngân hàng thương mại bị kiểm soát đặc biệt) chiếm 2,73% và tăng 1,25% so với cuối năm 2024. Ước thực hiện tháng 01/2026 tỷ lệ nợ xấu/Tổng dư nợ nhỏ hơn 3%.Quỹ tín dụng nhân dân: Đến cuối tháng 12/2024 tổng nguồn vốn huy động 2.632 tỷ đồng, tăng 226 tỷ đồng và tăng 8,59% so với cuối năm 2024. Dư nợ 2.340 tỷ đồng, giảm 1,18% so với cuối năm 2024. Tỷ lệ nợ xấu đến cuối tháng 12/2025 là 0,73%.VII. KHOA HỌC CÔNG NGHỆTrong tháng xây dựng: chương trình nghiên cứu đột phá về phát triển nông nghiệp công nghệ cao tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2026 -2030; quyết định thành lập Hội đồng tư vấn khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tỉnh Đồng Tháp. Tổ chức đánh giá, nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ: 03 nhiệm vụ cấp tỉnh, 02 nhiệm vụ cấp cơ sở. Phê duyệt tổ chức chủ trì, chủ nhiệm, kinh phí, phương thức khoán chi và thời gian thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2025: 02 nhiệm vụ cấp tỉnh. Kiểm tra, đánh giá tiến độ thực hiện 03 nhiệm vụ cấp tỉnh.VIII. CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI1. Lao động việc làm:Trong tháng, toàn tỉnh đã giải quyết việc làm cho 3.240 lao động, trong đó có 359 lao động xuất cảnh làm việc ở nước ngoài, trong đó Nhật Bản: 229 người, Hàn Quốc: 115 người…Về trợ cấp thất nghiệp, trong tháng có 2.350 lao động được hưởng trợ cấp, với tổng kinh phí chi trả trên 48,3 tỷ đồng, góp phần hỗ trợ kịp thời đời sống, giúp người lao động ổn định trong giai đoạn tìm kiếm việc làm mới.Các hoạt động kết nối cung – cầu lao động tiếp tục được chú trọng. Trong tháng, tổ chức 17 phiên giao dịch việc làm, với sự tham gia của 81 lượt doanh nghiệp, thu hút hơn 6.262 lượt người tham gia, có khoảng 1.000 lao động được kết nối. Các phiên giao dịch đã tạo cơ hội thuận lợi để doanh nghiệp tuyển dụng nhân lực, đồng thời mở rộng cơ hội việc làm, học nghề và đi làm việc ở nước ngoài cho người lao động.2. Chính sách xã hội:Trong tháng, thực hiện chế độ trợ cấp tiền mai táng phí đối với các đối tượng theo quy định, gồm: đối tượng theo Quyết định số 290/2005/QĐ-TTg ngày 08/11/2005 (75 người); Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg ngày 09/11/2011 (71 người); Quyết định số 49/2015/QĐ-TTg ngày 14/10/2015 (36 người); Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg ngày 27/10/2008 (01 người). Bên cạnh đó, thực hiện trợ cấp một lần cho người thờ cúng liệt sĩ và chuyển đổi người thờ cúng liệt sĩ đối với 32 trường hợp; thực hiện trợ cấp hàng tháng cho 01 trường hợp người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học và trợ cấp tuất cho 05 trường hợp. Ngoài ra, thực hiện trợ cấp mai táng phí và trợ cấp một lần bằng 03 tháng trợ cấp cho 90 trường hợp, phản ánh kịp thời việc triển khai chính sách an sinh xã hội trên địa bàn.3. Hoạt động y tế:Trong tháng có 15/44 bệnh truyền nhiễm được ghi nhận. Trong đó, bệnh Sốt - xuất - huyết ghi nhận 925 ca; bệnh Tay - chân - miệng ghi nhận 1.024 ca.Phòng chống HIV/AIDS: hiện nay, toàn tỉnh ghi nhận 15.976 người nhiễm HIV; 5.051 người chuyển sang AIDS; tử vong do AIDS: 3.908 người.Tình hình khám chữa bệnh trong tháng: khám chữa bệnh cho trên 694 nghìn lượt người; trong đó, số người điều trị nội trú trên 42 nghìn lượt người.4. Hoạt động giáo dục:Huy động học sinh so độ tuổi như sau: Tỉ lệ huy động nhóm trẻ từ 0 đến 36 tháng tuổi đạt 28,5%; Mẫu giáo đạt tỉ lệ 91,5%; Tiểu học đạt tỉ lệ 100%; Trung học cơ sở đạt tỉ lệ 99,1%; Trung học phổ thông đạt tỉ lệ 84,0%. Xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia: Mầm non đạt tỉ lệ 77,6%; Tiểu học đạt tỉ lệ 76,9%; Trung học cơ sở đạt tỉ lệ 73,2%; Trung học phổ thông đạt tỉ lệ 83,5%. Toàn ngành giáo dục triển khai Đề án Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đáp ứng yêu cầu triển khai thực hiện chương trình giáo dục phổ thông 2018. Nâng cao hiệu quả công tác bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên, cán bộ quản lý đáp ứng yêu cầu thực tiễn đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông.5. Hoạt động văn hóa - thể thao:- Hoạt động văn hóa nghệ thuật: trong tháng, trên địa bàn tỉnh tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật biểu diễn phong phú, thu hút trên 27.900 lượt người xem. Tiêu biểu là công tác biên tập, dàn dựng và biểu diễn vở cải lương “Cánh đồng Ấp Bắc”; các chương trình xiếc, ảo thuật, đờn ca tài tử – cải lương, giao lưu nghệ thuật và biểu diễn phục vụ tại Festival Hoa – Kiểng Sa Đéc và Khu di tích Gò Tháp. Bên cạnh đó, toàn tỉnh dự kiến có 08 địa phương đăng ký tổ chức bắn pháo hoa mừng Xuân Bính Ngọ, gồm: phường Đạo Thạnh, phường Cao Lãnh, phường Sa Đéc, phường Hồng Ngự, phường Long Thuận, phường Mỹ Phước Tây, xã Chợ Gạo và xã Trường Xuân.- Hoạt động thư viện: trong tháng, hệ thống thư viện trên địa bàn tỉnh phục vụ 52.575 lượt bạn đọc, với 131.438 lượt tài liệu; các kênh thông tin của Thư viện đạt 295.520 lượt truy cập. Xe Thư viện lưu động phục vụ 5.100 lượt người, với 10.200 lượt tài liệu; đồng thời tổ chức các hoạt động trưng bày, giới thiệu sách, góp phần nâng cao văn hóa đọc trong cộng đồng.- Hoạt động thể dục – thể thao: thể thao Đồng Tháp tham dự 09 giải thi đấu cấp khu vực và quốc gia, đạt thành tích 04 Huy chương Vàng, 08 Huy chương Bạc và 20 Huy chương Đồng. Ngoài ra, tham dự Đại hội Thể thao Đông Nam Á lần thứ 33 tại Thái Lan, đạt 06 Huy chương Bạc và 04 Huy chương Đồng, tiếp tục khẳng định vị thế của thể thao Đồng Tháp trên đấu trường khu vực.6. Tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội (theo báo cáo của ngành Công an):Trong tháng xảy ra 102 vụ phạm tội về trật tự xã hội, giảm 26,1% vụ so cùng kỳ. Hậu quả là 04 người chết, 24 người bị thương, tài sản thiệt hại khoảng 15,5 tỷ đồng. Cơ quan chức năng đã điều tra, khám phá 82 vụ (đạt tỷ lệ 80,4%), bắt giữ và xử lý 138 đối tượng.Về tội phạm ma túy trong tháng, lực lượng chức năng đã phát hiện và xử lý 114 vụ với 183 đối tượng phạm tội và vi phạm pháp luật về về ma túy.7. Trật tự an toàn giao thông: (theo báo cáo ngành công an tỉnh, số liệu tính từ ngày 15/12/2025 đến 14/01/2026):Tai nạn giao thông đường bộ: trong tháng, xảy ra 35 vụ, giảm 29 vụ so tháng trước và giảm 38 vụ so cùng kỳ. Hậu quả làm chết 26 người (giảm 26 người so tháng trước, giảm 22 người so cùng kỳ) và 15 người bị thương (giảm 11 người so tháng trước, giảm 26 người so cùng kỳ). Các nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông chủ yếu vẫn do ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông như: uống rượu say, điều khiển xe khi có rượu bia, phóng nhanh vược ẩu, không làm chủ tốc độ; không đi đúng phần đường, làn đường; không nhường đường, vượt đèn đỏ, thiếu quan sát…Tai nạn giao thông đường thủy: trong tháng xảy ra 01 vụ (tăng 01 vụ), làm chết 01 người (tăng 01 người so cùng kỳ).Tết Dương lịch năm 2026 (từ ngày 01/01/2026 đến ngày 04/01/2026): xảy ra 08 vụ tai nạn giao thông đường bộ, giảm 05 vụ so cùng kỳ; làm chết 05 người, giảm 03 người so cùng kỳ; làm bị thương 05 người, giảm 03 người so cùng kỳ.8. Tình hình cháy nổ, môi trường và thiên tai:Trong tháng, ghi nhận 02 vụ cháy phương tiện giao thông tăng 01 vụ so với cùng kỳ, làm chết 02 người, tài sản thiệt hại tài sản ước tính khoảng 30 triệu đồng. Trong tháng, không xảy ra vụ thiên tại và vi phạm môi trường nào.

Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp năm 2025 đạt 7,38%
  •   01/01/2026 15:57

Năm 2025 là năm cuối của Kế hoạch 5 năm, giai đoạn 2020 – 2025, Đồng Tháp nói riêng và cả nước nói chung thực hiện nhiệm vụ trong bối cảnh khó khăn, thách thức nhiều hơn thuận lợi, các nhân tố ảnh hưởng biến động khó lường. Tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp; tình trạng bất ổn an ninh, chính trị leo thang tại một số quốc gia, khu vực, tiềm ẩn rủi ro tới sự ổn định và phát triển kinh tế toàn cầu; nền kinh tế vẫn còn chịu áp lực từ chính sách thương mại toàn cầu về thuế quan, rào cản phi thuế quan; biến động thị trường vốn, chuỗi cung ứng quốc tế, tác động đến luồng vốn FDI; kinh tế thế giới bước đầu phục hồi nhưng còn chậm; thiên tai, biến đổi khí hậu tác động tới kinh tế - xã hội của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Trong bối cảnh đó, hệ thống chính trị tỉnh Đồng Tháp đã chủ động vào cuộc với tinh thần trách nhiệm cao, kịp thời nhận diện khó khăn, thách thức và triển khai nhiều giải pháp phù hợp, sát thực tiễn. Các cấp, các ngành phối hợp chặt chẽ, duy trì sự điều hành thông suốt, bảo đảm ổn định kinh tế - xã hội trong giai đoạn chuyển đổi bộ máy. Nhờ đó, tỉnh đã tổ chức thành công nhiều sự kiện chính trị, kinh tế, văn hóa quan trọng; đồng thời tham mưu ban hành và thực thi hiệu quả các chủ trương, chính sách lớn của Trung ương và của tỉnh, góp phần tạo lực đẩy mới cho quá trình phục hồi, tăng trưởng và ổn định đời sống nhân dân. Với sự quyết tâm cao, nỗ lực lớn của cả hệ thống chính trị, kinh tế - xã hội của tỉnh tiếp tục phát triển, hầu hết các chỉ tiêu đều tăng so cùng kỳ, tăng trưởng kinh tế quý sau cao hơn quý trước, quý I tăng 6,76%, quý II tăng 7,30%, quý III tăng 7,23% và quý IV tăng 8,20%, cả năm tăng 7,38%. Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) năm 2025 ước đạt 147.216 tỷ đồng (giá so sánh năm 2010) tăng 7,38% so với năm 2024; khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản tăng 5,01%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,99% và khu vực dịch vụ tăng 6,95 % (bao gồm thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm); Nếu tách riêng thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm thì khu vực dịch vụ tăng 7,26% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 5,15% so cùng kỳ. Với mức tăng 7,38%, tốc độ tăng trưởng năm 2025 tăng cao hơn năm 2024 là 0,63%. Xét về tốc độ tăng trưởng, năm 2025 tỉnh Đồng Tháp xếp thứ 23 cả nước và xếp thứ 2 vùng Đồng bằng sông Cửu Long (sau tỉnh An Giang); tăng cao hơn tốc tốc độ tăng chung của Vùng đồng bằng sông Cửu Long 0,14% (tốc độ tăng chung của vùng là 7,24%)  Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản (Kế hoạch tăng 4,0%) Ước tính năm 2025 tăng 5,01% so cùng kỳ (năm 2024 tăng 4,12%), tăng cao hơn 0,89% so với năm 2024. Ngành nông nghiệp tăng 5,07% so cùng kỳ (năm 2024 tăng 4,08%). Tình hình sản xuất nông nghiệp trong năm thuận lợi, không chịu tác động của hạn mặn như những năm trước; tuy nhiên ở thời điểm tháng 10, tháng 11 lũ đầu nguồn dâng cao đã gây ngập lụt ở một số khu vực, cũng có ảnh hưởng đến sản xuất của nông dân. Với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, nông dân đã ứng dụng vào trong sản xuất lúa, tiết kiệm được chi phí, sản lượng lúa cả năm ước đạt 4.107.556 tấn tăng 0,7% so với năm 2024 (năm 2024 đạt 4.078.106 tấn); năng suất lúa bình quân cả năm 2025 đạt 67,2 tạ/ha, tăng 1,5 tạ/ha so cùng kỳ (năm 2024 tạ 65,7 tạ/ha). Tuy nhiên diện lúa gieo sạ năm nay chỉ đạt 611.653 ha, bằng 99,3% so cùng kỳ (tương đương giảm 4.610 ha) Trên địa bàn tỉnh đã hình thành nên nhiều vùng chuyên canh, nông dân đã chuyển đổi giống, mô hình canh tác xen canh, gối vụ với nhiều loại rau, củ, quả có giá trị kinh tế cao, dễ tiêu thụ; ứng dụng tiến bộ của khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất, tiết kiệm chi phí, cho năng suất cao, chuyển đổi diện tích đất lúa, đất màu kém hiệu quả sang trồng cây ăn quả có giá trị kinh tế cao hơn. Trên địa bàn tỉnh có nhiều loại trái cây đã được xây dựng thương hiệu, xuất khẩu đi các nước như: sầu riêng, thanh long, vú sữa, xoài cát Hòa Lộc… Tổng diện tích trồng cây lâu năm của tỉnh ước tính đến cuối năm 2025 ước đạt 162.341 ha, tăng 2,2% so với năm 2024 (tương ứng tăng 3.570 ha); sản lượng thu hoạch cây lâu năm đạt 2.949.844 tấn, tăng 7,4% so cùng kỳ, tương ứng tăng 202.804 tấn (trong đó sản lượng thu hoạch cây ăn quả đạt 2.503.709 tấn, tăng 6,8% so cùng kỳ, tương ứng tăng 159.344 tấn). Giá bán các sản phẩm trồng trọt trong năm tăng, giảm theo từng thời điểm, nhưng vẫn đảm bảo người sản xuất có lãi, thu nhập ổn định đã kích thích nông dân tập trung đầu tư cho sản xuất, nên ngành nông nghiệp có tốc độ tăng khá cao so cùng kỳ. Tình hình chăn nuôi gia súc-gia cầm trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì sự ổn định và có nhiều yếu tố thuận lợi. Giá cả các sản phẩm chăn nuôi cơ bản ổn định giúp người dân yên tâm duy trì và phát triển đàn. Công tác phòng chống dịch bệnh được thực hiện chặt chẽ, tỷ lệ tiêm phòng đạt cao, góp phần giảm rủi ro và tăng khả năng tái đàn. Ngoài ra, việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật, mô hình chăn nuôi an toàn sinh học và sử dụng giống năng suất cao ngày càng phổ biến, giúp cải thiện hiệu quả sản xuất. Các hộ chăn nuôi tích cực tái đàn trông chờ giá cả tăng những tháng cuối năm và Tết Nguyên đán 2026. Mặc dù dịch bệnh được kiểm soát, chỉ phát sinh một số ổ dịch nhỏ lẻ, tuy nhiên, dịch bệnh vẫn là thách thức lớn nhất của ngành chăn nuôi, đặc biệt là Dịch tả lợn Châu Phi, bệnh cúm gia cầm… làm ảnh hưởng đến tổng đàn nếu không được kiểm soát tốt. Ước tính đến cuối năm 2025: đàn trâu 3,1 nghìn con, tăng 5,8% so cùng kỳ; đàn bò đạt 153,5 nghìn con, giảm 0,1% so cùng kỳ; đàn lợn 374 nghìn con, tăng 0,1%; đàn gia cầm 24,6 triệu con, tương đương so cùng kỳ. Ngành thủy sản tăng 4,82% so cùng kỳ (năm 2024 tăng 4,37%), sản lượng thủy sản năm 2025 ước đạt 1.080.037 tấn, tăng 8,2% so cùng kỳ. Sản lượng nuôi trồng đạt 945.370 tấn, tăng 7,7% so cùng kỳ, sản lượng thủy sản khai thác đạt 134.667 tấn, tăng 11,9% so cùng kỳ. Nhu cầu tiêu thụ thủy sản của thị trường trong nước và phục vụ cho xuất khẩu tăng. Mặt khác, nhờ điều kiện thời tiết thuận lợi, ít chịu ảnh hưởng bởi bão và áp thấp nhiệt đới, tạo điều kiện cho tàu cá hoạt động hiệu quả; các ngư trường dồi dào nguồn lợi, thủy sản nuôi sinh trưởng tốt, ít dịch bệnh, năng suất cao. Khu vực công nghiệp - xây dựng: (Kế hoạch tăng 12,0%) Ước tính năm 2025 tăng 10,99% so cùng kỳ (năm 2024 tăng 9,65%), tăng cao hơn năm 2024 là 1,34% tốc độ tăng trưởng các ngành trong khu vực này như sau: Tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp tăng 10,70% so cùng kỳ (năm 2024 tăng 9,27%) đạt được kết quả trên là nhờ sự tập trung chỉ đạo của lãnh đạo Tỉnh, cùng các ngành, các cấp thường xuyên tổ chức các Hội nghị tiếp xúc doanh nghiệp, nắm bắt những khó khăn của doanh nghiệp, hỗ trợ sản xuất trong nước và xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường trong nước và xuất khẩu được triển khai mạnh mẽ; kịp thời đưa ra các giải pháp hiệu quả giúp công nghiệp của tỉnh nhà tăng cao. Sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh tăng trưởng tốt, tốc độ tăng trưởng quý sau luôn cao hơn quý trước, đóng góp 2,37% trong 7,38% tăng trưởng của tỉnh. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò chủ lực với mức tăng năm 2025 là 10,89% so cùng kỳ (cùng kỳ năm 2024 tăng 9,22%), tương đương 3.106 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng trên 94,74% toàn ngành. Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 6,11% (chiếm 2,89%). Cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 10,25% (chiếm 2,18%); Một số ngành chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị công nghiệp có tốc độ tăng trưởng khá: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 11,79% (chiếm tỷ trọng 46,16% trong tổng giá trị gia tăng của ngành công nghiệp); Sản xuất trang phục tăng 20,75% (chiếm 7,91%); Sản xuất kim loại tăng 23,58% (chiếm 8,32%). Tuy nhiên cũng có một số ngành do khó khăn về thị trường tiêu thụ nên sản xuất trong năm giảm so với cùng kỳ: sản xuất sản phẩm thuốc lá giảm 2,74% (chiếm 0,06%); sản xuất xe có động cơ, rơ móc giảm 22,03% (chiếm 0,07%); sản xuất tủ bàn ghế giảm 1,82% (chiếm 0,61%). Nhìn chung tăng trưởng ngành công nghiệp tích cực, song vẫn chưa đạt như kỳ vọng do đơn hàng xuất khẩu của một số ngành hàng giảm, đặc biệt tại các thị trường chủ lực như Mỹ và EU, người tiêu dùng ưu tiên chi tiêu cho các mặt hàng thiết yếu, ảnh hưởng đến đơn hàng của doanh nghiệp trong ngành. Ngành xây dựng tăng 12,35% (năm 2024 tăng 11,48%) là một trong những ngành có tốc độ tăng trưởng tốt nhất trong năm 2025, chiếm tỷ trọng 5,01% trong cơ cấu GRDP, là ngành trong 03 năm liên tiếp tăng trưởng trên 10% (năm 2023 tăng 10,23%, năm 2024 tăng 11,48%). Đạt được kết quả trên là do lãnh đạo tỉnh chú trọng giao vốn sớm cho các chủ đầu tư và thường xuyên kiểm tra, đôn đốc tiến độ thực hiện của các dự án, nhất là các dự án thuộc chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội. Trên địa bàn tỉnh có nhiều công trình trọng điểm của địa phương và trung ương đang được triển khai thi công, cộng với sự tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt trong việc giải quyết những khó khăn, vướng mắt, đẩy nhanh tiến độ đầu tư công đã góp phần làm cho hoạt động xây dựng trên địa bàn tỉnh tăng khá so cùng kỳ. Khu vực dịch vụ: (Kế hoạch tăng 9,15%) Ước năm 2025 tăng 6,95 % so cùng kỳ (bao gồm thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm); Nếu tách riêng thuế sản phẩm thì khu vực dịch vụ tăng 7,26% so cùng kỳ (năm 2024 tăng 7,33%) hầu hết các ngành trong khu vực này đều tăng so với cùng kỳ, nhưng chưa có sự đột biến, do đó khu vực này chưa đạt kế hoạch đã đề ra. Giá cả hàng hóa trong năm được kiểm soát tốt, không xảy ra tình trạng nâng giá bất hợp lý, hàng hóa dồi dào, đáp nhu cầu tiêu dùng của nhân dân, một số ngành tăng trưởng khá như: Vận tải kho bãi tăng 14,40%, do nhu cầu vận chuyển tăng; ngoài ra để đáp ứng nhu cầu đi lại cho cán bộ công chức di chuyển về trung tâm hành chính tỉnh công tác sau sáp nhập, trong năm nhà xe Quốc Hoàng mở thêm tuyến xe khách từ Cao lãnh đi Mỹ Tho và ngược lại, góp phần làm cho ngành này tăng. Hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 17,35%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 7,49%; nghệ thuật vui chơi và giải trí tăng 8,22%; …Tổng sản phẩm bình quân đầu người GRDP năm 2025 tính theo giá hiện hành đạt: 286.053 tỷ đồng, tăng 9,59% so cùng kỳ (tương đương tăng 25.023 tỷ đồng); GRDP bình quân đầu người năm 2025 đạt 84,04 triệu đồng/người/năm, tăng 7,20 triệu đồng/người/năm so năm 2024 (năm 2024 đạt 76,84 triệu đồng/người/năm). Tính theo giá USD, GRDP bình quân đầu người năm 2025 đạt 3.186 USD/người/năm, tăng 4,42%, tương đương tăng 135 USD so năm 2024 (năm 2024 đạt 3.051 USD/người/năm). Nếu so với các tỉnh trong vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, GRDP bình quân đầu người năm 2025 của Đồng Tháp thấp hơn bình chung của vùng 276 ngàn đồng/người/năm; đứng thứ 02/5 tỉnh trong khu vực. Năng suất lao động Với việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất, năng suất lao động của tỉnh tăng dần qua các năm; năm 2025 năng suất lao động bình quân/người năm 2025 (giá hiện nhành) ước tính đạt 145,96 triệu đồng/người, tăng 9,15% so với năm 2024, gấp 1,56 lần năm 2020. Nếu xem xét năng suất lao động theo ngành kinh tế, có thể thấy khu vực Nông, lâm nghiệp và thủy sản có năng suất lao động cao nhất, đạt 162,63 triệu đồng/người, tăng 3,44% so cùng kỳ (gấp 1,11 lần NSLĐ chung); kế đến là khu vực Thương mại - dịch vụ có năng suất lao động 152,16 triệu đồng/người tăng 13,95% so cùng kỳ (gấp 1,04 lần NSLĐ chung); thấp nhất là khu vực Công nghiệp - xây dựng với 121,32 triệu đồng/người, tăng 10,89% so cùng kỳ (chỉ bằng 0,83 lần NSLĐ chung). Năng suất lao động phân theo khu vực kinh tế (giá hiện hành) Nếu tính theo giá so sánh 2010, năng suất lao động bình quân đầu người năm 2025 ước đạt 75,12 triệu đồng/người, tăng 1,07% so với năm 2024. Trong đó, khu vực Nông, lâm nghiệp và thủy sản là khu vực có năng suất lao động cao nhất - đạt 80,53 triệu đồng/người, tăng 1,04% so cùng kỳ; kế đến là khu vực thương mại - dịch vụ có năng suất lao động 76,14 triệu đồng/người, tăng 1,10% so cùng kỳ; khu vực Công nghiệp - xây dựng có năng suất lao động 68,36 triệu đồng/người, tăng 1,06% so cùng kỳ. Cơ cấu kinh tế Mục tiêu phát triển kinh tế giai đoạn 2020-2025 của tỉnh là đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng dần tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp, thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Năm 2025 khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 34,60%, giảm 1,66% so năm 2024 (cùng kỳ 36,27%); khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm 25,48 %, tăng 1,36% so năm 2024 (cùng kỳ 24,12%); khu vực dịch vụ chiếm 34,44%, tăng 0,43% so năm 2024 ((cùng kỳ 24,01%); thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 5,48%, giảm 0,12 so năm 2024 (cùng kỳ 5,60%). BIỂU ĐỒ CƠ CẤU GRDP NĂM 2024-2025(Theo giá hiện hành) Năm 2025 cơ cấu kinh tế của tỉnh chuyển dịch chậm so với kế hoạch là do khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản của tỉnh tăng trưởng tốt (tăng vượt kế hoạch).Với điều kiện tự nhiên của tỉnh thích hợp cho phát triển kinh tế nông nghiệp. Trong những năm qua nông dân chuyển đổi mạnh cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng sản xuất các loại cây, con có giá trị kinh tế cao; chuyển đổi nhanh diện tích trồng cây hàng năm sang trồng cây lâu năm, nên ngành nông lâm nghiệp và thủy sản vẫn chiếm tỷ trọng cao trong GRDP của tỉnh.                                                                              N.V.Tròn

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Tháp năm 2025
  •   05/01/2026 09:15

Cả nước nói chung, Đồng Tháp nói riêng bước vào thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2025, trong điều kiện tình hình kinh tế - chính trị thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường,… Bên cạnh đó thiên tai, bão lũ,… diễn biến phức tạp làm ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp và người dân. Trong năm Đảng bộ, chính quyền các cấp trên địa bàn tỉnh cùng với cả nước tập trung sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống chính trị theo Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban chấp hành Trung ương khóa XII; sắp xếp tổ chức bộ máy đơn vị hành chính và tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp hoạt động hiệu lực, hiệu quả; lãnh đạo đại hội Đảng cấp tỉnh cấp xã, phường đồng thời xây dựng kế hoạch, chương trình hành động, đưa ra các giải pháp cụ thể phấn đấu thực hiện hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra trong năm 2025.I. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊU KINH TẾ1. Tăng trưởng kinh tếTổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) năm 2025 ước đạt 147.216 tỷ đồng (giá so sánh 2010), tăng 7,38% so với cùng kỳ năm trước (sơ bộ năm 2024 tăng 6,75%); tăng trưởng quý sau cao hơn quý trước: quý I tăng 6,76%, quý II tăng 7,30%, quý III tăng 7,23% và quý IV tăng 8,20%, xếp hạng thứ 2/5 tỉnh khu vực vùng đồng bằng sông Cửu Long (sau tỉnh An Giang) và hạng 23 cả nước. Phân theo khu vực kinh tế: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 5,01% (cùng kỳ tăng 4,12%); khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,99% (cùng kỳ tăng 9,65%), khu vực dịch vụ bao gồm thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 6,95% (cùng kỳ tăng 7,16%), nếu tách riêng thuế sản phẩm thì khu vực dịch vụ tăng 7,26% (cùng kỳ tăng 7,33%), thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 5,15% (cùng kỳ tăng 6,18%). So với cùng kỳ năm 2024 tốc độ tăng trưởng năm 2025 tăng cao hơn 0,63%.Trong 7,38% tăng trưởng, khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản đóng góp 1,70%, khu vực công nghiệp và xây dựng đóng góp 2,97%, khu vực dịch vụ đóng góp 2,41% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đóng góp 0,3%.GRDP tính theo giá hiện hành năm 2025 đạt: 286.053 tỷ đồng, tăng 9,59% so cùng kỳ (tương đương tăng 25.023 tỷ đồng); xét về qui mô GRDP của Đồng Tháp chiếm tỷ trọng 21,4%, đứng thứ 3/5 trong các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.GRDP bình quân đầu người đạt 84,04 triệu đồng/người/năm, tăng 7,2 triệu đồng/người/năm so năm 2024, xếp thứ 2/5 trong tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Tính theo tỷ giá USD, GRDP bình quân đầu người năm 2025 đạt 3.186 USD/người/năm, tăng 4,42%, tương đương tăng 135 USD so năm 2024 (năm 2024 đạt 3.051 USD/người/năm).Cơ cấu kinh tế: chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng nông lâm nghiệp và thuỷ sản, tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ; Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 34,60% (cùng kỳ 36,27%); khu vực công nghiệp, xây dựng chiếm 25,48% (cùng kỳ 24,12%); khu vực dịch vụ chiếm 34,44% (cùng kỳ 34,01%); thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 5,48% (cùng kỳ chiếm 5,60%).2. Tài chính - Ngân hàng2.1. Tài chính: Trong năm 2025, tình hình kinh tế còn nhiều khó khăn thách thức như: thiên tai, biến đổi khí hậu là nguy cơ tiềm ẩn, diễn biến phức tạp, khó lường; các yếu tố chi phí đầu vào tăng; lạm phát, lãi suất ngân hàng và tỷ giá tác động đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và đời sống người dân. Tuy nhiên các ngành, các cấp thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho người dân và doanh nghiệp, nên thu ngân sách của tỉnh tăng so cùng kỳ.- Thu ngân sách nhà nước: năm 2025 ước thu ngân sách nhà nước trên địa bàn được 22.199 tỷ đồng, đạt 107,3% dự toán và tăng 2,6% so cùng kỳ; trong đó: thu nội địa 21.318 tỷ đồng, đạt 107,3% dự toán, tăng 2,6% so cùng kỳ.- Chi ngân sách nhà nước: năm 2025 ước chi 49.226 tỷ đồng, đạt 112,3% dự toán, tăng 44,3% so cùng kỳ.+ Chi đầu tư phát triển: thực hiện giao dự toán vốn đầu tư ngay từ đầu năm và các Chủ đầu tư dự án trên địa bàn tỉnh chủ động triển khai thực hiện. Ước chi đầu tư phát triển năm 2025 là 17.092 tỷ đồng, đạt 101,6% dự toán năm, tăng 26,3% so cùng kỳ.+ Chi thường xuyên là 23.775 tỷ đồng, đạt 101,3% so với dự toán, tăng 15,5% so với cùng kỳ:2.2. Ngân hàng:Ngành Ngân hàng trên địa bàn tỉnh tập trung mọi nguồn lực đồng hành cùng doanh nghiệp, người dân vượt qua khó khăn, mặt bằng lãi suất huy động và lãi suất cho vay ổn định, tỷ giá được điều hành chủ động, linh hoạt, góp phần góp phần tích cực vào phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội.Ước đến cuối tháng 12/2025, nguồn vốn huy động đạt 203.874 tỷ, tăng 11,94% so với cuối năm 2024; tổng dư nợ đạt 247.613 tỷ, tăng 10%.Nợ xấu: Ước đến cuối tháng 12/2025 tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ dưới 3%.Quỹ tín dụng nhân dân: Đến cuối tháng 11/2025, tổng nguồn vốn huy động đạt 2.873 tỷ đồng, tăng 9,17% so với cuối năm 2024. tổng dư nợ đạt 2.332 tỷ đồng giảm 1,52% và tỷ lệ nợ xấu là 0,68%.3. Giá cả, lạm phátChỉ số giá tiêu dùng bình quân 12 tháng năm 2025 so cùng kỳ năm trước tăng 2,42% (khu vực thành thị tăng 2,6% và khu vực nông thôn tăng 2,37%); một số nhóm hàng có chỉ số giá tăng trong năm 2025 so cùng kỳ như: thuốc và dịch vụ y tế tăng 11,9% (trong đó: dịch vụ khám sức khoẻ tăng 14,08%); nhóm hàng hoá dịch vụ khác tăng 6,04%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,99%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,57%; giáo dục tăng 2,1%;... Có hai nhóm giảm: nhóm hàng bưu chính viễn thông giảm 0,05% và nhóm giao thông giảm 2,82% so cùng kỳ đã kiềm hãm tốc độ tăng chung.Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ:- Chỉ số giá vàng tháng 12 tăng 1% so với tháng trước, tăng 62,64% so với tháng 12/2024 và bình quân mười hai tháng so cùng kỳ tăng 49,41%.- Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng giảm 1,87% so với tháng trước, tăng 3,72% so với tháng 12/2024 và bình quân mười hai tháng so cùng kỳ tăng 4,28%.4. Đầu tư và Xây dựnga) Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội Trong năm 2025, hoạt động đầu tư phát triển được đẩy mạnh, các dự án hạ tầng giao thông trọng điểm.Vốn đầu tư toàn xã hội năm 2025 ước thực hiện 85.515 tỷ đồng, tăng 15,1% so cùng kỳ. Phân theo thành phần: vốn đầu tư của dân cư và tư nhân 50.707 tỷ đồng, tăng 11,2%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 6.673 tỷ đồng, tăng 35,4%; vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước 28.135 tỷ đồng, tăng 18,1% so với năm trước. Phân theo khoản mục đầu tư: vốn đầu tư xây dựng cơ bản 49.595 tỷ đồng, chiếm 58,0% và tăng 0,5% so cùng kỳ; vốn đầu tư mua sắm tài sản cố định dùng cho sản xuất không qua xây dựng cơ bản 18.437 tỷ đồng chiếm 21,5% và tăng 36,3% so cùng kỳ; vốn đầu tư sử chữa lớn, nâng cấp tài sản cố định 13.642 tỷ đồng, chiếm 16,0% tổng nguồn vốn và tăng 33,8% so cùng kỳ; còn lại là vốn đầu tư bổ sung vốn lưu động và vốn đầu tư khác, chiếm 4,5% (tương đương 3.841 tỷ đồng).Hình 1. Vốn đầu tư toàn xã hội năm 2025b) Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lýVốn đầu tư từ nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý năm 2025 là 16.367 tỷ đồng, đạt 99,8% kế hoạch, tăng 31,8% so cùng kỳ; gồm có: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 16.080 tỷ đồng, tăng 31,0%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 287 tỷ đồng, tăng 92,1%.c) Tình hình phát triển các khu, cụm công nghiệpNăm 2025 tình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu của các doanh nghiệp trong các khu, cụm công nghiệp đạt kế hoạch đề ra. Các doanh nghiệp duy trì hoạt động và ổn định sản xuất; một số doanh nghiệp bổ sung thêm nguồn vốn đầu tư, điều chỉnh mục tiêu hoạt động để phù hợp với tình hình phát triển sản xuất. Khu công nghiệp (KCN):Trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp hiện nay có 06 KCN đang hoạt động. Trong năm 2025, các KCN thu hút 10 dự án (07 dự án FDI, 03 dự án DDI); điều chỉnh tăng vốn đầu tư cho 29 lượt dự án; chấm dứt hoạt động 01 dự án FDI, 01 dự án DDI. Tổng vốn đầu tư đăng ký đến tháng 12 năm 2025 là 270,2 triệu USD và 629,4 tỷ đồng. Lũy kế đến cuối năm 2025: các KCN và khu kinh tế thu hút được 187 dự án (trong đó, có 101 dự án FDI, 86 dự án DDI) với tổng vốn đầu tư là 87,3 nghìn tỷ đồng (trong đó, vốn đầu tư FDI là 3,3 tỷ USD và vốn đầu tư DDI là 12,3 nghìn tỷ đồng); diện tích đất đã cho thuê là 754,8 ha, tỷ lệ lấp đầy 94,4%.Cụm công nghiệp (CCN): Trên địa bàn tỉnh có 62 CCN được quy hoạch với diện tích 3.009,5 ha được chấp thuận chủ trương đầu tư. Hiện có 23 CCN được thành lập với tổng diện tích 779,9 ha; trong đó: 18 CCN đã đi vào hoạt động với diện tích 511,7 ha, 5 cụm công nghiệp còn lại đang thực hiện thủ tục đầu tư xây dựng hạ tầng.5. Tình hình phát triển của doanh nghiệp (Theo báo cáo của Sở Tài Chính)Phát triển doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh trong năm 2025 đạt nhiều kết quả tích cực. Số doanh nghiệp thành lập mới tăng cao, vượt kế hoạch đề ra; quy mô vốn đăng ký, đơn vị trực thuộc doanh nghiệp và số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tăng hơn so với cùng kỳ đã góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.Theo báo cáo của Sở Tài chính, cả năm 2025 có 2.790 doanh nghiệp thành lập mới, đạt 155% so kế hoạch và tăng 75% so cùng kỳ; Tổng vốn đăng ký 16,2 nghìn tỷ đồng, tăng 68,0% so cùng kỳ, vốn đăng ký thành lặp mới bình quân trong năm 5,8 tỷ đồng/doanh nghiệp. Bên cạnh đó, trong năm 2025 có 420 doanh nghiệp hoạt động trở lại, tăng 15% so cùng kỳ; 830 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn, tăng 14% so cùng kỳ và 470 doanh nghiệp hoàn tất giải thể, tăng 36% so cùng kỳ.6. Sản xuất Nông - Lâm nghiệp và Thủy sản:Trong năm 2025, hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh cơ bản phát triển ổn định; tỉnh đã chủ động triển khai đồng bộ, kịp thời các giải pháp phòng, chống hạn hán và xâm nhập mặn ngay từ đầu năm, qua đó bảo vệ hiệu quả diện tích sản xuất nông nghiệp và đảm bảo ổn định đời sống người dân.6.1. Nông nghiệp:* Trồng trọt: Cây lương thực có hạt: diện tích gieo trồng năm 2025 ước đạt 618.765 ha, đạt 102,7% so kế hoạch và giảm 0,8% so cùng kỳ; sản lượng thu hoạch ước đạt 4.157.113 tấn, đạt 103,1% so kế hoạch, tăng 0,6% so cùng kỳ. Cụ thể:- Cây lúa: gieo trồng ước đạt 611.653 ha, đạt 102,8% kế hoạch, giảm 0,7% so cùng kỳ; năng suất bình quân ước đạt 67,2 tạ/ha, tăng 1,5%; sản lượng thu hoạch ước đạt 4.107.556 tấn, đạt 103,3% so kế hoạch, tăng 0,7% so cùng kỳ;- Cây ngô: diện tích gieo trồng năm 2025 ước đạt 7.100 ha, giảm 1,9% so cùng kỳ, tương ứng giảm 135 ha; thu hoạch 100% diện tích; năng suất bình quân ước đạt 69,7 tạ/ha, giảm 4,5%; sản lượng ước đạt 49.524 tấn, giảm 6,3% so cùng kỳ, chủ yếu do năng suất thu hoạch và diện tích gieo trồng giảm.Hình 2. Diện tích gieo trồng lúa năm 2025Cây rau, đậu các loại: diện tích gieo trồng năm 2025 ước đạt 56.231 ha, tăng 0,2% so cùng kỳ; trong đó: rau các loại 55.848 ha, tăng 0,3% so cùng kỳ. Sản lượng thu hoạch ước đạt 1.597.201 tấn, tăng 22,2% so cùng kỳ; trong đó: rau các loại ước đạt 1.596.044 tấn, tăng 22,2% so cùng kỳ.Cây lâu năm:Diện tích cây lâu năm toàn tỉnh năm 2025 ước đạt 162.341 ha, đạt 102,4% kế hoạch, tăng 2,2% so cùng kỳ, tương ứng tăng 3.570 ha, trong đó: diện tích cây ăn quả là 134.904 ha, chiếm 83,1% trong tổng diện tích cây lâu năm, đạt 100,3% kế hoạch, tăng 2,2% so cùng kỳ, tương ứng tăng 2.943 ha. Tổng sản lượng thu hoạch cây lâu năm đạt 2.949.844 tấn, đạt 108,2% kế hoạch, tăng 7,4% so cùng kỳ, tương ứng tăng 202.804 tấn. Trong đó sản lượng thu hoạch cây ăn quả đạt 2.503.709 tấn, đạt 106% kế hoạch và tăng 6,8% so cùng kỳ, tương ứng tăng 159.344 tấn.* Chăn nuôi: ước thời điểm 31/12/2025 tổng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh như sau: đàn trâu 3,1 nghìn con, tăng 5,8% so cùng kỳ; đàn bò 153,5 nghìn con, giảm 0,1%; đàn lợn 473 nghìn con, tăng 0,1%; đàn gia cầm 24,6 triệu con, tương đương so cùng kỳ.Hình 3. Chăn nuôi tại thời điểm 31/12/2025*Tình hình dịch bệnh trên vật nuôi trong năm 2025 (theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đồng Tháp):- Trên gia cầm: năm 2025, toàn tỉnh xảy ra 04 hộ có gia cầm nhiễm vi rút cúm A/H5N1 với số lượng 9.461 con (tổng đàn 11.200 con) tại 03 xã/phường (xã Phú Thành, xã Tân Phước 3 và phường Sơn Qui). Đã tiêu hủy toàn bộ số gia cầm 11.200 con.- Trên gia súc:+ Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: năm 2025, toàn tỉnh xảy ra 87 hộ có 1.159 con lợn bệnh (tổng đàn 3.349 con) tại 29 xã/phường (Vĩnh Bình, Bình Ninh, Vĩnh Hựu, Tân Phước 3, Hội Cư, Bình Trưng, Long Định, Tân Phú, Kim Sơn, Mỹ Tịnh An, Hậu Mỹ, Mỹ Thành, Lương Hoà Lạc, Tân Hồng, Thạnh Phú, phường Trung An, Thanh Bình, Chợ Gạo, Mỹ Thiện, Hiệp Đức, Long Hưng, Phú Thọ, Tân Thới, Cái Bè, phường Nhị Quý, An Hoà, An Thạnh Thuỷ, Tân Phú Đông và Tân Hộ Cơ). Đã tiêu hủy 2.588 con (khối lượng 113.857 kg).+ Bệnh viêm da nổi cục: năm 2025, toàn tỉnh xảy ra 03 hộ tại 03 xã (Hậu Mỹ, Tân Thuận Bình và Chợ Gạo) với 04 con bò có dấu hiệu bệnh (tổng đàn 18 con). Đã tiêu hủy 01 con bò (khối lượng 215 kg).+ Bệnh Lở mồm long móng: năm 2025, toàn tỉnh xảy ra 01 con lợn bệnh tại cơ sở giết mổ ở xã Hậu Mỹ. Đã tiêu hủy lợn bệnh (khối lượng 110 kg).6.2. Lâm nghiệp:Tổng diện tích rừng trên địa bàn tỉnh là 6.999,6 ha (không bao gồm diện tích rừng thuộc đất an ninh quốc phòng); trong đó, diện tích rừng đặc dụng 2.717,6 ha; rừng phòng hộ 2.244,3 ha và rừng sản xuất 2.037,7 ha. Trong năm, toàn tỉnh thực hiện trồng được 691,1 ngàn cây phân tán các loại, tăng 1,1% so cùng kỳ. Sản lượng gỗ khai thác trong năm ước đạt 155.832 m3, tăng 3,7% so cùng kỳ.6.3. Thủy sản:Diện tích thả nuôi thâm canh trong năm 2025 ước đạt 7.599 ha, giảm 1,6% so cùng kỳ. Trong đó: cá tra 3.161 ha, tăng 0,2% so cùng kỳ, tôm thẻ chân trắng 4.112 ha, giảm 2,1% cùng kỳ do hộ chuyển diện tích đầm nuôi tôm ven đê biển Tân Thành sang đầu tư khu du lịch sinh thái, ẩm thực vườn quê.... Nuôi tôm thẻ chân trắng là ngành kinh tế quan trọng mang lại nguồn thu nhập cao cho bà con nông dân.7. Sản xuất công nghiệpTrong năm 2025, sản xuất công nghiệp vẫn giữ được xu hướng tăng trưởng tích cực, tạo nền tảng thuận lợi để phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch năm. Các doanh nghiệp đã chủ động thích ứng với tình hình, linh hoạt trong điều hành sản xuất, góp phần phát huy tiềm năng thế mạnh vùng nguyên liệu, thúc đẩy công nghiệp phát triển. Qua đó, công nghiệp tiếp tục là khu vực tăng trưởng cao và là động lực quan trọng của kinh tế tỉnh.Chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2025 tăng 13,15% so cùng kỳ; trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 14,11%; ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 2,73%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,98%; ngành khai khoáng giảm 41,69% so cùng kỳ.Hình 4. Chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2025- Nhóm ngành tăng trưởng mạnh gồm: Sản xuất trang phục tăng 29,64% (do các doanh nghiệp may trên địa bàn sản xuất ổn định trở lại, đơn hàng tăng so với năm 2024, đồng thời doanh nghiệp chủ động mở rộng thị trường, tối ưu hóa sản xuất); Sản xuất kim loại tăng 26,86% (do nhu cầu tiêu thụ sản phẩm kim loại tăng cao, đặc biệt các kim loại như đồng, lithium và kẽm là nguồn vật liệu quan trọng trong việc chuyển đổi sang sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo).- Nhóm tăng trưởng ổn định (do sự phục hồi sản xuất, nhu cầu tiêu thụ tăng trong năm 2025), gồm: Sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 7,53%; Dệt tăng 7,67%; Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 2,05%; Sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 1,71%;- Nhóm sụt giảm gồm: Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 5,10% (do Chính phủ Mỹ tạm áp mức thuế quan mới và nhu cầu tiêu dùng giảm); Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 9,61% (chủ yếu do Công ty Dược phẩm Tipharco giảm sản xuất, đặc biệt là đơn hàng các sản phẩm thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng viên giảm mạnh so với cùng kỳ); Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 19,73% (do nhu cầu tiêu thụ giảm so với cùng kỳ).Tình hình sản xuất các sản phẩm công nghiệp năm 2025 như sau:- Có 73/119 sản phẩm tăng so cùng kỳ, trong đó nhóm sản phẩm tăng trên 30% gồm: thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm tăng 215,0%; mỡ và dầu động vật khác và các phân đoạn của chúng tăng 198,6%; bột mịn, bột thô và bột viên từ cá tăng 164,4%; quả và hạt ướp lạnh tăng 64,2%; thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng lỏng tăng 44,2%; áo phông, áo may ô và các loại áo lót khác cho người lớn dệt kim hoặc đan móc tăng 40,4%; bóng thể thao khác tăng 37,2%. Các sản phẩm có mức tăng dưới 30% gồm: gỗ cưa hoặc xẻ tăng 26,9%; thức ăn cho gia cầm tăng 23,8%; bia đóng lon tăng 22,3%; thùng chứa, bể và các loại đồ chứa tương tự dung tích trên 300 lít bằng plastic tăng 19,4%; cấu kiện làm sẵn cho xây dựng hoặc kỹ thuật dân dụng tăng 15,7%; thức ăn cho thủy sản tăng 14,6%; phi lê đông lạnh tăng 7,5%; ống và ống dẫn bằng đồng tăng 6,0%; gạo đã xát toàn bộ hoặc sơ bộ tăng 3,8%; bộ com lê, quần áo cho người lớn dệt kim hoặc đan móc tăng 2,1%;...- Có 43/119 sản phẩm giảm so cùng kỳ, gồm: cát khai thác giảm 41,7%; thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng bột/cốm giảm 31,3%; bia đóng chai giảm 14,4%; giày, dép có đế ngoài và mũ bằng cao su hoặc plastic giảm 13,0%; giày, dép các loại, các bộ phận của giày dép giảm từ 4,1% đến 18,2%; plastic dạng thanh, que giảm 4,4%; miến, hủ tiếu, bánh đa khô và các loại tương tự giảm 2,0%; thức ăn cho gia súc giảm 2,0%;…* Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Chỉ số tiêu thụ tháng 12/2025 so với tháng trước giảm 0,20%, so với cùng kỳ tăng 7,75% (lũy kế cả năm tăng 10,49%); Chỉ số tồn kho so với tháng trước tăng 4,30%, so với cùng kỳ tăng mạnh 20,79%. Cụ thể tình hình tiêu thụ và tồn kho một số ngành cấp II trong tháng 12/2025 so với cùng kỳ như sau:- Nhóm có nhu cầu tiêu thụ tăng, lượng tồn kho giảm gồm:In, sao chép bản ghi các loại: tiêu thụ tăng 48,73%, tồn kho giảm 21,07%; Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị): tiêu thụ tăng 10,04%, tồn kho giảm đến 53,18%; Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic: tiêu thụ tăng 8,61%, tồn kho giảm 10,93%.- Nhóm có chỉ số tiêu thụ và tồn kho tăng(do nhu cầu tiêu thụ tăng, doanh nghiệp tăng tồn kho để chủ động nguồn cung):Chế biến thực phẩm: tiêu thụ tăng nhẹ 0,19%, tồn kho tăng 17,56%; Sản xuất trang phục: tiêu thụ tăng 34,09, tồn kho tăng 46,42%; Sản xuất kim loại: tiêu thụ tăng 41,93%, tồn kho tăng 58,17%.- Nhóm có chỉ số tiêu thụ giảm nhưng tồn kho tăng:Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan: tiêu thụ giảm 12,67%, tồn kho tăng 42,0%; sản xuất thuốc lá: tiêu thụ giảm 32,24%, tồn kho tăng 54,28%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất: tiêu thụ giảm 18,96%, tồn kho tăng 43,71%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu: tiêu thụ giảm 8,16% và tồn kho tăng 27,42%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa: tiêu thụ giảm 30,43%, tồn kho tăng 10,91%.- Nhóm có chỉ số tiêu thụ và tồn kho giảm:+ Dệt: tiêu thụ giảm 24,90%, tồn kho giảm 19,24%; Sản xuất thiết bị điện: tiêu thụ giảm 11,74% và tồn kho giảm 6,57%.8. Thương mại, dịch vụa. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng:Nhằm thúc đẩy các hoạt động thương mại dịch vụ trên địa bàn tỉnh phát triển. Trong thời gian qua tỉnh đã kêu gọi đầu tư xây dựng phát triển hạ tầng thương mại và có những bước tiến đáng kể, đưa Đồng Tháp trở thành điểm giao thương năng động, đáp ứng nhu cầu kinh doanh, sinh hoạt của người dân trên địa bàn và các khu vực lân cận.Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng năm 2025 là 249.227 tỷ đồng, đạt 97,8% kế hoạch, tăng 9,5% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 193.692 tỷ đồng, tăng 8,6%; lưu trú, ăn uống 33.090 tỷ đồng, tăng 14,4%; du lịch lữ hành 402 tỷ đồng, tăng 27,8%; dịch vụ tiêu dùng 22.042 tỷ đồng, tăng 10,1% so cùng kỳ.Hình 5. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùngb. Xuất - Nhập khẩu (Theo báo cáo Sở Công Thương)Kinh tế và chính trị thế giới diễn biến phức tạp, căng thẳng thương mại Mỹ - Trung và một số quốc gia khác dẫn tới những xáo trộn lớn với thương mại toàn cầu. Đối mặt với các thách thức, nhưng nhờ các biện pháp tích cực và đồng bộ nhằm tháo gỡ khó khăn để hỗ trợ sản xuất trong nước, xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường trong nước và xuất khẩu được triển khai mạnh mẽ nên hoạt động xuất, nhập khẩu trên địa bàn tỉnh đạt được kết quả như sau:* Xuất khẩu:Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa năm 2025 ước tính xuất khẩu 9.276 triệu USD, đạt 100,8% kế hoạch, tăng 2% so cùng kỳ.* Nhập khẩu:Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa năm 2025 ước đạt 4.801 triệu USD, đạt 108,4% kế hoạch và tăng 8,4% so với cùng kỳ.c. Vận tải:Ngành vận tải tiếp tục duy trì hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về vận tải trên địa bàn tỉnh. Kết quả đạt được trong năm 2025 như:Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải năm 2025 thực hiện 7.704 tỷ đồng, tăng 13,7% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 2.509 tỷ đồng, tăng 14,6% so cùng kỳ; vận tải hàng hóa thực hiện 3.824 tỷ đồng, tăng 12,7% so cùng kỳ. Vận tải đường bộ thực hiện 3.651 tỷ đồng, tăng 16,4%; vận tải đường thủy thực hiện 2.682 tỷ đồng, tăng 9,6%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 791 tỷ đồng, tăng 14,6% so cùng kỳ.Năm 2025, vận chuyển hành khách 73.364 ngàn hành khách, tăng 11,9% và luân chuyển 2.717.450 ngàn hành khách.km, tăng 26,2% so cùng kỳ; trong đó: vận chuyển đường bộ 23.118 ngàn hành khách, tăng 21,5% và luân chuyển 2.694.103 ngàn hành khách.km, tăng 26,7% so cùng kỳ; vận chuyển đường thủy 50.246 ngàn hành khách, tăng 7,9% và luân chuyển 23.347 ngàn hành khách.km, giảm 13,2% so cùng kỳ.Năm 2025, vận tải hàng hóa 27.895 ngàn tấn, tăng 6,4% và luân chuyển 5.124.689 ngàn tấn.km, tương đương so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ thực hiện 6.693 ngàn tấn, tăng 20,5% và luân chuyển được 924.517 ngàn tấn.km, giảm 19,1% so cùng kỳ; vận tải đường thủy thực hiện 21.202 ngàn tấn, tăng 2,6% và luân chuyển 4.200.172 ngàn tấn.km, tăng 5,6% so cùng kỳ.* Phương tiện giao thông: Trong tháng đăng ký mới 2.784 chiếc mô tô xe máy và 515 chiếc xe ô tô. Tổng số xe đang quản lý trên địa bàn tỉnh là 3.102.409 chiếc, trong đó mô tô xe máy: 2.965.576 chiếc, 129.890 xe ô tô, 169 xe ba bánh, 666 xe đạp điện, 1.063 xe khác và 1.309 xe lam.d. Bưu chính - Viễn thông:Doanh thu bưu chính - viễn thông đến cuối tháng 12/2025 đạt 6.171 tỷ đồng, tăng 4,9% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính 580 tỷ đồng, tăng 8,6% so cùng kỳ, doanh thu viễn thông 5.591 tỷ đồng, tăng 4,54% so cùng kỳ.Tổng số thuê bao điện thoại trên mạng ước đến cuối năm 2025 là 3.908 ngàn thuê bao, mật độ bình quân đạt 114,82 thuê bao/100 dân. Tổng số thuê bao internet trên mạng đến cuối năm 2025 là 4.095 ngàn thuê bao, mật độ internet bình quân ước đạt 120,31 thuê bao/100 dân.II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI1. Dân số, lao động, giải quyết việc làma. Một số chỉ tiêu về dân số:Ước tính năm 2025, dân số trung bình tỉnh Đồng Tháp là 3.403.776 người, tăng 0,2% so cùng kỳ năm trước; dân số nam là 1.693.270 người, tăng 0,4% và chiếm 49,7%; dân số nữ là 1.710.506 người, giảm 0,1% và chiếm 50,3%. Dân số thành thị là 816.080 người, tăng 29,3% và chiếm 24,0%; dân số nông thôn là 2.587.696 người, giảm 6,4% và chiếm 76,0%.b. Tư vấn và giới thiệu việc làm:Năm 2025, toàn tỉnh đã giải quyết việc làm 55.145 người, đạt 110% so với kế hoạch; riêng lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài là 2.610 người, đạt 102% so với kế hoạch, trong đó Nhật Bản: 1.792 người, Hàn Quốc: 598 người, Đài Loan: 211 người,...Về trợ cấp thất nghiệp năm 2025, có 22.726 lao động được giải quyết chế độ trợ cấp thất nghiệp, với tổng kinh phí chi trả trên 409,9 tỷ đồng, hỗ trợ học nghề cho 292 người lao động góp phần hỗ trợ kịp thời đời sống, giúp người lao động ổn định trong giai đoạn tìm kiếm việc làm mới.Các hoạt động kết nối cung – cầu lao động tiếp tục được chú trọng. Trong năm 2025, tổ chức 104 phiên giao dịch việc làm, với sự tham gia của 740 lượt doanh nghiệp, thu hút trên 20.000 lượt người tham gia và 2.860 lao động được kết nối. Các phiên giao dịch đã tạo cơ hội thuận lợi để doanh nghiệp tuyển dụng nhân lực, đồng thời mở rộng cơ hội việc làm, học nghề và đi làm việc ở nước ngoài cho người lao động.c. Tình hình thiếu việc làm, thất nghiệp:Theo kết quả sơ bộ cuộc điều tra lao động việc làm tình hình lao động thiếu việc làm và thất nghiệp như sau:Năm 2025, tỷ lệ thiếu việc làm toàn tỉnh là 3,64%, giảm 0,8 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước (4,44%). Trong đó, khu vực thành thị là 4,50% (giảm 0,74 điểm phần trăm) và khu vực nông thôn là 3,22% (giảm 0,84 điểm phần trăm). Tỷ lệ thất nghiệp của tỉnh năm 2025 là 0,83%, giảm 0,14 điểm phần trăm so với cùng kỳ (0,97%); riêng khu vực thành thị là 1,29% (giảm 0,03 điểm phần trăm) và khu vực nông thôn là 0,60% (giảm 0,21 điểm phần trăm). Tỷ trọng lao động thất nghiệp ở khu vực thành thị chiếm 51,46% trong tổng số người thất nghiệp toàn tỉnh.2. Đời sống dân cư và an sinh xã hội:a. Đời sống dân cư:Năm 2025, đời sống dân cư trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định, thu nhập và mức sống từng bước được cải thiện. Công tác an sinh xã hội và chăm sóc sức khỏe nhân dân tiếp tục được chú trọng; các chương trình y tế cộng đồng, phòng chống dịch bệnh được triển khai hiệu quả như: Sởi, Sốt xuất huyết, Tay - chân - miệng...Trong năm 2025, tổng số lao động làm việc tại các doanh nghiệp trong khu công nghiệp (KCN), khu kinh tế (KKT) có 108.779 người, trong đó có 1.351 lao động nước ngoài (chiếm 1,2%). Dự báo nhu cầu tuyển dụng lao động năm 2026 của các doanh nghiệp trong KCN, KTT khoảng 3.000 lao động. Tuy nhiên, công tác kết nối cung – cầu lao động còn gặp khó khăn, các doanh nghiệp trong KCN Long Giang, KCN Sa Đéc và KCN Tân Hương có nhu cầu tuyển dụng lớn, chủ yếu là lao động phổ thông ở các lĩnh vực may mặc, giày da, điện tử, cơ khí, sản xuất lốp xe, chế biến thủy sản, thức ăn thủy sản, thức ăn chăn nuôi... do mở rộng quy mô sản xuất.b. An sinh xã hội:- Chế độ trợ cấp hưu trí xã hội được áp dụng cho những người từ đủ 75 tuổi trở lên không hưởng lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng, người từ đủ 70 tuổi đến dưới 75 tuổi thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo không hưởng lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng (mức trợ cấp hưu trí xã hội cho các đối tượng được quy định với số tiền là 500.000 đồng/tháng).- Chính sách tặng quà cho nhân dân nhân dịp kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9 trên địa bàn tỉnh như sau:+ Đối tượng: Công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam chưa xác định được quốc tịch nhưng đã được cấp giấy chứng nhận căn cước đang cư trú tại Việt Nam và đã được thu thập, cập nhật, cấp số định danh cá nhân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, được xác lập tại thời điểm hết ngày 30/8/2025.+ Mức quà tặng: 100.000 đồng/người, bằng tiền. - Tặng quà gia đình chính sách nhân dịp Tết Nguyên đán 2025 và kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2025). Nhân dịp Tết Nguyên đán Ất Tỵ năm 2025, tỉnh Đồng Tháp đã tổ chức thăm và tặng quà đối với người có công với cách mạng và thân nhân của họ từ các nguồn ngân sách nhà nước và kinh phí địa phương với 148.940 suất, với tổng số tiền trên 56,1 tỷ đồng.- Ngày 23/4/2025 Chủ tịch nước ban hành Quyết định số 689/QĐ-CTN về việc tặng quà cho người có công với cách mạng nhân kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và 80 năm Ngày Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Địa phương tặng quà của Chủ tịch nước cho người có công đang hưởng trợ cấp hàng tháng và người thờ cúng liệt sĩ, số lượng 55.096 người, mỗi suất quà tiền mặt 500.000 đồng/người, với số tiền trên 27,5 tỷ đồng.- Thăm, tặng quà gia đình chính sách nhân kỷ niệm 78 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947- 27/7/2025). Đồng Tháp đã tổ chức thăm và tặng quà đối với người có công với cách mạng và thân nhân của họ từ các nguồn ngân sách nhà nước và kinh phí vận động từ cộng đồng với tổng số 54.282 suất, với tổng số tiền trên 16,4 tỷ đồng.- Nhà ở cho người có công:+ Thực hiện Quyết định số 21/2024/QĐ-TTg ngày 22/11/2024 của Thủ tướng Chính phủ về mức hỗ trợ xây dựng mới hoặc cải tạo, sửa chữa nhà ở đối với người có công với cách mạng, thân nhân liệt sĩ và tỷ lệ phân bổ vốn hỗ trợ từ ngân sách trung ương, tỷ lệ đối ứng vốn hỗ trợ từ ngân sách địa phương, vốn xã hội hóa giai đoạn 2023-2025 và triển khai xoá nhà tạm, nhà dột nát trên địa bàn tỉnh đã hoàn thành hỗ trợ 741 căn nhà cho người có công với cách mạng (xây mới 240 căn, sửa chữa 501 căn).+ Thực hiện công tác nhà ở người có công trên cơ sở Kế hoạch số 107/KH-UBND ngày 20/3/2025 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp (cũ) về thực hiện hỗ trợ an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp năm 2025 từ nguồn ngân sách, nguồn thu xổ số kiến thiết và nguồn tài trợ hợp pháp khác, tính đến ngày 25/6/2025, tổng số nhà ở đã hoàn thành và đã bàn giao là 605 căn (xây mới 207 căn; sữa chữa 398 căn).+ Thực hiện Nghị quyết số 28/2021/NQ-HĐND ngày 08/12/2021 của Hội đồng nhân dân tỉnh Tiền Giang về việc quy định mức hỗ trợ kinh phí để xây dựng, sửa chữa nhà ở cho Người có công và thân nhân người có công với cách mạng trên địa bàn tỉnh Tiền Giang, giai đoạn 2022-2025. Tính đến ngày 30/6/2025, tỉnh Tiền Giang (trước khi hợp nhất) đã hoàn thành hỗ trợ nhà ở cho người có công và thân nhân người có công với cách mạng 1.206 căn (xây mới 258 căn, sửa chữa 948 căn).3. Hoạt động giáo dụcTrong năm, hoạt động ngành giáo dục thực hiện theo kế hoạch và đạt được nhiều điểm nổi bật như:Hiện nay, toàn tỉnh có 368 trường mầm non (340 trường công lập, 28 trường ngoài công lập) và 273 cơ sở giáo dục mầm non độc lập, tư thục; 386 trường tiểu học (385 trường công lập, 01 trường tư thục), 01 Trung tâm Hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật cấp tỉnh và 01 trường chuyên biệt dạy trẻ khuyết tật; 254 trường trung học cơ sở (gồm 223 trường THCS và 31 trường TH&THCS); 81 trường trung học phổ thông (66 trường THPT, 13 trường THCS&THPT và 02 trường tư thục); 06 trung tâm giáo dục thường xuyên; 14 cơ sở giáo dục nghề nghiệp (05 trường cao đẳng, 06 trường trung cấp và 03 trung tâm giáo dục nghề nghiệp, trong đó có 02 trung tâm tư thục); cùng 02 trường đại học (01 trường thuộc Trung ương quản lý). Mạng lưới cơ sở giáo dục được đầu tư, sắp xếp hợp lý, cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập của Nhân dân trên địa bàn tỉnh.Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia tiếp tục duy trì và tăng trưởng ổn định ở các cấp học, trong đó: mầm non đạt 75,5%; tiểu học đạt 76,6%; trung học cơ sở đạt 73,2%; trung học phổ thông đạt 80,0%. Kết quả này góp phần nâng cao chất lượng cơ sở vật chất, điều kiện dạy và học, từng bước thực hiện mục tiêu chuẩn hóa, hiện đại hóa hệ thống giáo dục của tỉnh.Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2025 trên địa bàn tỉnh được tổ chức nghiêm túc, an toàn, đúng quy chế, với 33.666 thí sinh dự thi; trong đó, có 33.446 thí sinh đỗ tốt nghiệp, đạt tỷ lệ 99,35%.4. Hoạt động y tếTrong năm, công tác y tế và chăm sóc sức khỏe Nhân dân luôn được chú trọng.Các bệnh truyền nhiễm ghi nhận: trong năm, bệnh Sốt - xuất - huyết 7.788 ca, tăng 124,9% so cùng kỳ (01 ca tử vong, tương đương so cùng kỳ); bệnh Tay - chân - miệng 7.569 ca, giảm 7,9%.Bệnh HIV/AIDS: năm 2025, phát hiện 498 trường hợp nhiễm HIV mới, 46 trường hợp tử vong. Đến nay, tổng số nhiễm HIV toàn tỉnh là 15.924 trường hợp, tổng số AIDS là 5.051 trường hợp và tử vong do AIDS là 3.899 trường hợp.Tình hình khám chữa bệnh trong năm 2025: ghi nhận 8.054.620 lượt người khám bệnh, giảm 1,6% và 478.170 lượt người điều trị nội trú, tăng 1,1%.5. Hoạt động văn hóa - thể thaoNăm 2025, các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao trên địa bàn tỉnh diễn ra phong phú, sôi nổi, gắn liền với những sự kiện lịch sử, chính trị trọng đại của đất nước và địa phương.6. Tình hình an ninh trật tự an toàn xã hội (theo báo cáo ngành Công an)Tình hình an ninh trật tự năm 2025 trên địa bàn tỉnh được đảm bảo. Trong năm, xảy ra 1.264 vụ phạm tội về trật tự xã hội trên địa bàn tỉnh, giảm 37,9% so với cùng kỳ. Hậu quả làm chết 43 người; bị thương 415 người; tài sản thiệt hại khoảng 531 tỷ đồng. Cơ quan chức năng điều tra khám phá 1.070 vụ (đạt 84,6%); xử lý 1.824 đối tượng, đồng thời thu hồi tài sản trị giá khoảng 7,1 tỷ đồng.Về tội phạm ma túy trong năm 2025, lực lượng chức năng đã phát hiện và xử lý 469 vụ, 768 đối tượng phạm tội về ma túy.7. Trật tự an toàn giao thông (theo báo cáo ngành công an tỉnh, số liệu tính đến 14/12/2025)a. Tai nạn giao thông đường bộ: Năm 2025, toàn tỉnh đã xảy ra 587 vụ, giảm 79 vụ so với cùng kỳ; làm chết 437 người (giảm 30 người) và làm bị thương 273 người (giảm 73 người). Các nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông chủ yếu vẫn do ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông như: uống rượu say, điều khiển xe khi có rượu bia, phóng nhanh vượt ẩu, không làm chủ tốc độ; không đi đúng phần đường, làn đường; không nhường đường, vượt đèn đỏ, thiếu quan sát…b. Tai nạn giao thông đường thủy: trong tháng, xảy ra 01 vụ làm 01 người chết. Năm 2025, xảy ra 03 vụ làm chết 02 người, tương đương về số vụ và số người chết so với cùng kỳ.8. Tình hình cháy nổ, môi trường và thiên tai a. Về cháy, nổ: năm 2025, ghi nhận 26 vụ, giảm 02 vụ so cùng kỳ; làm chết 05 người; tài sản thiệt hại ước tính khoảng 276,9 tỷ đồng.b. Về môi trường: năm 2025, xảy ra 57 vụ vi phạm, (tăng 38 vụ so cùng kỳ); đã xử lý 55 vụ (tăng 38 vụ) số tiền xử phạt trên 1,8 tỷ đồng.c. Về thiên tai: năm 2025, trên địa bàn tỉnh xảy ra 285 vụ thiên tai, làm 02 người chết, 23 người bị thương; tổng thiệt hại về tài sản ước tính trên 543,2 tỷ đồng. Trong đó, mưa lớn, giông lốc, bão và áp thấp nhiệt đới xảy ra 25 vụ, làm 02 người chết, 23 người bị thương, sập và tốc mái nhiều nhà ở, gây thiệt hại diện tích lúa và hoa màu, với giá trị thiệt hại ước khoảng 34,9 tỷ đồng. Lũ và triều cường xảy ra 04 vụ, gây ngập úng cục bộ tại một số địa phương, làm thiệt hại diện tích lúa, cây kiểng, vườn cây ăn trái và ao nuôi thủy sản, ước thiệt hại khoảng 74 tỷ đồng. Sạt lở, sụt lún xảy ra 256 vụ, chủ yếu là sạt lở nội đồng và bờ sông, gây thiệt hại nghiêm trọng về nhà ở và hạ tầng, với tổng giá trị thiệt hại ước 434,3 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thiệt hại do thiên tai trên địa bàn tỉnh.III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2026Tình hình kinh tế, chính trị thế giới vẫn còn biến động phức tạp, khó lường, nhưng với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự chỉ đạo, điều hành kịp thời, quyết liệt, sát sao của lãnh đạo tỉnh và nỗ lực của các cấp, các ngành, các địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân. Sản xuất kinh doanh của các ngành, lĩnh vực trên địa bàn tỉnh năm 2025 tăng hơn so cùng kỳ, GRDP của tỉnh đạt 7,38%. Bên cạnh đó, các chỉ số thống kê cho thấy kinh tế của tỉnh tiếp tục ổn định, lạm phát được kiểm soát; cung cầu hàng hóa thiết yếu được bảo đảm, hoạt động mua sắm hàng hóa, tiêu dùng nội địa duy trì mức tăng khá. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng ổn định, bảo đảm nguồn cung lương thực, thực phẩm, hàng hóa thiết yếu và gia tăng xuất khẩu. Tiến độ giải ngân vốn đầu tư công được cải thiện rõ rệt, tốc độ tăng vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước đạt mức cao, an sinh xã hội được quan tâm kịp thời, hiệu quả.Tuy nhiên, bước sang năm 2026 dự báo, kinh tế - xã hội của tỉnh tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức; các biến động về kinh tế, chính trị của thế giới, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, thiên tai, biến đổi khí hậu và dịch bệnh khó dự báo. Do đó, các ngành, các cấp tăng cường dự báo, chủ động điều hành linh hoạt, phù hợp với tình hình mới, kịp thời ứng phó với các tình huống phát sinh, tập trung triển khai hiệu quả đồng bộ các chính sách hỗ trợ phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội. Theo kết quả điều tra xu hướng dự báo sản xuất kinh doanh quý I/2026 so với quý IV/2025 như sau: - Dự báo xu hướng sản xuất kinh doanh, có 56% số doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo dự báo tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tốt lên; 30,86% dự báo giữ ổn định và có 13,14% doanh nghiệp dự báo tình hình sản xuất kinh doanh khó khăn hơn.- Về khối lượng sản xuất, có 51,43% doanh nghiệp dự báo tăng; 36,57% doanh nghiệp dự báo ổn định và 12% doanh nghiệp dự báo giảm.- Về đơn đặt hàng mới, có 50% doanh nghiệp dự báo đơn hàng tăng; 38,55% doanh nghiệp dự báo giữ nguyên đơn hàng và 11,45% doanh nghiệp dự báo giảm.- Về biến động lao động, có 18,29% doanh nghiệp dự báo tăng; 74,86% doanh nghiệp dự báo giữ nguyên và 6,86% doanh nghiệp dự báo giảm.Để thực hiện đạt kế hoạch năm 2026 Thống kê Tỉnh đề xuất các giải pháp sau:- Tập trung hoàn thành khối lượng công việc trong thực hiện cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy, sắp xếp lại đơn vị hành chính các cấp và xây dựng tổ chức chính quyền địa phương hai cấp. Tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số.- Phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại, xanh, sạch, sinh thái, tuần hoàn chuỗi giá trị bền vững, ứng dụng công nghệ cao, gắn với xây dựng thương hiệu sản phẩm; đẩy mạnh liên kết sản xuất. Ngoài ra theo dõi diễn biến tình hình khí tượng thủy văn, xâm nhập mặn; chủ động thực hiện các biện pháp đảm bảo nguồn nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt cho Nhân dân vào mùa khô và biện pháp phòng, tránh hạn chế thiệt hại khi thiên tai xảy ra.- Tăng cường giám sát dịch bệnh và kiểm soát hoạt động chăn nuôi, giết mổ, tiêu thụ để bảo đảm an toàn dịch bệnh và thực phẩm. Đồng thời cần chú trọng ứng dụng khoa học công nghệ trong chăn nuôi, phát triển mô hình chăn nuôi an toàn sinh học, mở rộng liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, đẩy mạnh tái đàn có kiểm soát, bảo đảm nguồn cung ổn định và hướng tới phát triển nông nghiệp bền vững, nâng cao giá trị gia tăng.- Tập trung phát triển các ngành, sản phẩm công nghiệp có lợi thế cạnh tranh, có thị trường tiêu thụ sản phẩm; đẩy mạnh phát triển công nghiệp hỗ trợ nguyên liệu phục vụ sản phẩm thức ăn chăn nuôi, cơ khí, điện tử... Thường xuyên rà soát kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, đẩy mạnh hoạt động sản xuất, kinh doanh. Cần có giải pháp hỗ trợ hiệu quả các doanh nghiệp thiếu vốn, giá nguyên liệu đầu vào tăng cao, khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm và một số ngành, lĩnh vực bị tác động bất lợi do nhu cầu của thị trường suy giảm như: da giày, dệt may, sản xuất và chế biến gỗ...- Sớm hoàn thành công tác qui hoạch tình Đồng Tháp Giai đoạn 2021 - 2030 tầm nhìn đến năm 2050; triển khai thực hiện để phát huy hiệu quả, tạo động ực phát triển kinh tế của tỉnh.- Đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình trên địa bàn tỉnh; kiểm tra, giám sát trong quá trình thực hiện, nhằm đảm bảo tiến độ và hiệu quả theo kế hoạch đề ra. Đẩy nhanh tiến độ giải ngân kịp thời vốn đầu tư công, kịp thời quyết toán các công trình hoàn thành đảm bảo đúng theo quy định. Tiếp tục phối hợp nhà đầu tư xử lý những khó khăn, vướng mắc, đẩy mạnh các giải pháp bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, hoàn thành công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.- Đổi mới nội dung, phương thức xúc tiến, quảng bá du lịch; có các giải pháp đột phá, liên tục làm mới sản phẩm, tập trung nghiên cứu kỹ thị trường, đặc biệt là những thị trường mới, có nhiều tiềm năng để đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách du lịch, không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng sản phẩm.- Triển khai thực hiện đồng bộ, chủ động, linh hoạt chính sách về lãi suất, gói hỗ trợ lãi suất cho vay, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh; tập trung vốn vào các lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên; tiếp tục triển khai chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn. Tăng cường công tác kết nối ngân hàng - doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi trong vay vốn tín dụng ngân hàng cho doanh nghiệp và người dân.- Các ngành chức năng đẩy mạnh xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường xuất khẩu. Tiếp tục phát triển xuất khẩu các mặt hàng có lợi thế; chuyển dần sang xuất khẩu sản phẩm chế biến sâu, phát triển xuất khẩu sản phẩm có chất lượng cao, có sức cạnh tranh và có thương hiệu mạnh.- Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền để nhân dân hiểu rõ về tình hình và chính sách của Đảng, Nhà nước; từ đó tạo sự đồng thuận, chung sức chung lòng thực hiện các mục tiêu kế hoạch đã đề ra.- Tăng cường công tác an ninh trật tự, an toàn xã hội, an ninh quốc phòng.

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Tháp tháng 11 năm 2025
  •   03/12/2025 15:54

Trong tháng, tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh tiếp tục tăng trưởng. Hoạt động sản xuất kinh doanh của các ngành, lĩnh vực đạt được nhiều kết quả khả quan tích cực. Kết quả thực hiện trên các lĩnh vực như sau: I. SẢN XUẤT NÔNG LÂM NGHIỆP VÀ THỦY SẢN Trong tháng, thời tiết nhìn chung thuận lợi, cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt. Tình hình sâu bệnh duy trì ở mức thấp đến trung bình nhờ công tác dự báo và hướng dẫn phòng trừ kịp thời, dịch bệnh trên đàn vật nuôi được kiểm soát chặt chẽ. Hoạt động nuôi trồng thủy sản tiếp tục đạt kết quả tích cực. Tuy nhiên thời điểm đầu tháng 11 triều cường dân cao, đỉnh lũ cao hơn các năm trước, gây ngập lụt ở một số nơi của một số địa phương vùng đầu nguồn ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt của người dân. 1. Nông nghiệp Cây lương thực có hạt: diện tích gieo sạ năm 2025 ước đạt 618.752 ha, giảm 0,8% so cùng kỳ; trong đó: cây lúa gieo sạ 611.652 ha, giảm 0,8%. - Cây lúa: + Vụ Đông xuân 2024 - 2025: diện tích gieo trồng chính thức 229.680 ha, giảm 1,7% so cùng kỳ. Thu hoạch 100% diện tích, năng suất thu hoạch bình quân đạt 71,9 tạ/ha với sản lượng thu hoạch 1.651.864 tấn, giảm 1,5% so cùng kỳ. + Vụ Hè thu 2025: diện tích gieo trồng chính thức 244.290 ha, giảm 2,1% so cùng kỳ. Thu hoạch 100% diện tích, năng suất bình quân đạt 65,2 tạ/ha với sản lượng thu hoạch 1.592.801 tấn, giảm 0,1% so cùng kỳ. + Vụ Thu đông 2025: diện tích gieo sạ ước đạt 137.682 ha, tăng 3,6% so cùng kỳ. - Cây ngô: Diện tích gieo trồng cả năm 2025 ước đạt 7.100 ha, giảm 1,9%, tương ứng giảm 135,2 ha. Năng suất thu hoạch bình quân ước đạt 69,8 tạ/ha, giảm 4,7%, tương ứng giảm 3,4 tạ/ha. Sản lượng thu hoạch ước đạt 49.524 tấn, giảm 6,4%, tương ứng giảm 3.405 tấn. Hiện nay nông dân trong tỉnh đã gieo trồng cây ngô vụ Đông xuân 2025-2026, diện tích gieo trồng tính đến 20/11/2025 ước đạt 1.044 ha, giảm 2,5%, tương ứng giảm 26,5 ha (số liệu được tính cho kỳ sản xuất năm 2026). Hình 1. Diện tích gieo trồng lúa gieo trồng qua 2 năm - Cây rau đậu các loại: Diện tích gieo trồng cả năm 2025 ước đạt 56.231 ha, tăng 0,2% so cùng kỳ; Sản lượng thu hoạch 1.570.351 tấn, tăng 20,9% so cùng kỳ. Trong đó, rau các loại gieo trồng ước đạt 55.848 ha, tăng 0,3% so cùng kỳ; sản lượng thu hoạch ước đạt 1.569.223 tấn, tăng 20,9% so cùng kỳ. Hiện nay nông dân đã gieo trồng vụ đông xuân 2025-2026, diện tích gieo trồng tính đến 20/11/2025 ước đạt 8.852 ha, giảm 2,1% so cùng kỳ (số liệu được tính cho kỳ sản xuất năm 2026); trong đó: rau các loại 8.802 ha, giảm 1,9% so cùng kỳ. Tận dụng nguồn đất đai màu mỡ, nông dân tranh thủ thời gian, thời tiết thuận lợi trồng xen canh, trồng gối vụ các loại rau, củ, quả có giá trị kinh tế cao, dễ tiêu thụ như: rau muống, bầu, mướp, bí xanh, mướp đắng, dưa leo, cải các loại, hành lá, dưa hấu và các loại rau cải ngắn ngày khác... - Chăn nuôi: ước thời điểm 30/11/2025 tổng đàn gian súc, gia cầm của tỉnh như sau: đàn trâu 3,1 nghìn con, tăng 4,3% so cùng kỳ; đàn bò 159,1 nghìn con, giảm 0,9%; đàn lợn 450,1 nghìn con, tăng 4,7%; đàn gia cầm 24,5 triệu con, giảm 2,2%. Đàn trâu tăng nhờ nguồn thức ăn tại chỗ dồi dào, giúp giảm chi phí và duy trì đàn ổn định. Ngược lại, chăn nuôi bò giảm do chi phí cao, hiệu quả thấp, làm nhiều hộ cắt giảm số lượng nuôi hoặc chuyển sang trồng trọt. Đàn lợn tiếp tục tăng, chủ yếu ở các gia trại và trang trại, nhờ kiểm soát dịch bệnh tốt, tạo điều kiện cho người dân yên tâm tái đàn. Mặc dù giảm so với năm trước, đàn gia cầm đang phục hồi dần nhờ dịch bệnh được kiểm soát, chi phí thức ăn ổn định, nhu cầu thị trường cải thiện. *Tình hình dịch bệnh trên vật nuôi: theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đồng Tháp Gia cầm: Bệnh cúm gia cầm trong tháng không phát sinh. Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh có 03 hộ có gia cầm nhiễm vi rút cúm A/H5N1 với số lượng 6.161 con (tổng đàn 7.200 con) tại 02 xã (Phú Thành và Tân Phước 3). Đã tiêu hủy toàn bộ số gia cầm 7.200 con. Gia súc: Bệnh dịch tả lợn Châu Phi: trong tháng phát sinh 17 hộ với số lợn bệnh 31 con (tổng đàn 809 con). Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh xảy ra 41 hộ có 658 con lợn bệnh (tổng đàn 1.456 con) tại 24 xã, phường (Vĩnh Bình, Bình Ninh, Vĩnh Hựu, Tân Phước 3, Hội Cư, Bình Trưng, Long Định, Tân Phú, Kim Sơn, Mỹ Tịnh An, Hậu Mỹ, Mỹ Thành, Lương Hoà Lạc, Tân Hồng, Thạnh Phú, Phường Trung An, Thanh Bình, Chợ Gạo, Mỹ Thiện, Hiệp Đức, Long Hưng, Phú Thọ, Tân Thới và Cái Bè). Đã tiêu hủy 1.232 con (khối lượng 52.055,5 kg). Bệnh viêm da nổi cục: trong tháng không phát sinh. Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh xảy ra 03 hộ tại 03 xã (Hậu Mỹ, Tân Thuận Bình, Chợ Gạo) với 04 con bò có dấu hiệu bệnh (tổng đàn 18 con). Đã tiêu hủy 01 con bò (khối lượng 215 kg). Bệnh lở mồm long móng: trong tháng không phát sinh. Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh xảy ra 01 con lợn bệnh tại cơ sở giết mổ ở xã Hậu Mỹ. Đã tiêu hủy lợn bệnh (khối lượng 110 kg). Hình 2. Chăn nuôi tại thời điểm 30/11/2025 2. Lâm nghiệp: Tổng diện tích rừng trên địa bàn tỉnh là 6.999,6 ha (không bao gồm diện tích rừng thuộc đất an ninh quốc phòng); trong đó, diện tích rừng đặc dụng 2.717,6 ha; rừng phòng hộ 2.244,3 ha và rừng sản xuất 2.037,7 ha. Trong tháng, toàn tỉnh thực hiện trồng mới được 47,0 ngàn cây phân tán. Nâng tổng số cây phân tán trồng được 848,0 ngàn cây các loại, giảm 0,1% so cùng kỳ. 3. Thủy hải sản: Diện tích thả nuôi thâm canh trong tháng ước đạt 819 ha. Tổng diện tích thả nuôi thâm canh 11 tháng ước đạt 7.098 ha, tăng 1,8% so cùng kỳ chủ yếu là diện tích nuôi cá tra do giá xuất khẩu cá tra tương đối ổn định nên doanh nghiệp tăng diện tích nuôi (cá tra 2.834 ha tăng 8,1%), ngược lại tôm thẻ chân trắng 3.939 ha (giảm 1,1%). Sản lượng thủy sản nuôi trong tháng ước đạt 132.602 tấn. Tính chung 11 tháng năm 2025, thu hoạch ước đạt 839.943 tấn, tăng 4,4% so cùng kỳ, tương ứng tăng 35.095 tấn, trong đó: sản lượng cá đạt 768.285 tấn (tăng 4,6%); sản lượng tôm đạt 43.048 tấn (tăng 11,7%);…. Sản lượng tăng chủ yếu nhờ thời tiết thuận lợi, tình hình dịch bệnh được kiểm soát, giúp năng suất nuôi đạt cao. Sản lượng thủy sản khai thác biển trong tháng ước đạt 9.826 tấn. Tính chung 11 tháng năm 2025, thu hoạch ước đạt 106.887 tấn, tăng 14,5% so cùng kỳ, tương ứng tăng 13.553 tấn, trong đó: cá đạt 72.155 tấn (tăng 5,0%); tôm đạt 3.034 tấn (tăng 13,2%);…. Sản lượng khai thác tăng nhờ nguồn lợi thủy sản xuất hiện nhiều tại ngư trường, thời tiết thuận lợi, giúp ngư dân khai thác hiệu quả hơn so với cùng kỳ. II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP Trong tháng 11/2025, hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh duy trì đà tăng trưởng ổn định. Các doanh nghiệp công nghiệp chủ động thích ứng thị trường, mở rộng sản xuất và nâng cao năng suất. Một số ngành chế biến, chế tạo, sản xuất (thực phẩm, trang phục, giấy, kim loại) ghi nhận mức tăng khá so với cùng kỳ. Tuy còn khó khăn về tiêu thụ và chi phí đầu vào, nhưng nhìn chung sản xuất công nghiệp vẫn phục hồi tích cực, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương. Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 11/2025 tăng 2,25% so với tháng trước và tăng 16,88% so cùng kỳ (ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 18,61%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 2,46%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng giảm 0,21% và ngành khai khoáng giảm 70,56% so cùng kỳ). Ngành chủ lực là sản xuất chế biến thực phẩm tăng 16,70%. Bên cạnh đó, một số ngành có chỉ số sản xuất tăng cao so cùng kỳ như: sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 33,3%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 53,47%; sản xuất đồ uống tăng 46,81%; sản xuất kim loại tăng 42,08%; sản xuất trang phục tăng 28,35%. Ở chiều ngược lại, một số ngành giảm so cùng kỳ như: khai khoáng khác giảm 70,56%; sản xuất sản phẩm thuốc lá giảm 34,10%; sản xuất xe có động cơ giảm 16,80%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 61,16%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 11,08%;... Tính chung 11 tháng đầu năm chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 13,19% so cùng kỳ; trong đó: khai khoáng giảm 33,73% (do trong 6 tháng cuối năm 2025 nhiều công trình qua giai đoạn sử dụng cát nền, nhu cầu sử dụng cát giảm; một số doanh nghiệp đã hết hạn cấp phép, hiện đang làm thủ tục cấp phép khai thác tiếp, nên số liệu giảm so cùng kỳ); ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 14,15%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 2,66%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,0%. Hình 3. Chỉ số sản xuất công nghiệp 11 tháng năm 2025 Chỉ số sản xuất sản phẩm trong 11 tháng so cùng kỳ như sau: - Có 71/119 sản phẩm tăng: Phi lê đông lạnh tăng 6,3%; Quả và hạt ướp lạnh tăng 66,7%; Gạo đã xát toàn bộ hoặc sơ bộ tăng 5,2%; Bánh làm từ bột khác bảo quản được tăng 23,2%; Thức ăn gia cầm tăng 27,0%; Thức ăn thủy sản tăng 16,2%; Bia đóng lon tăng 23,8%; Bộ com lê, quần áo người lớn dệt kim hoặc đan móc tăng 3,0%; Gỗ cưa xẻ tăng 28,2%; Thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh dạng lỏng tăng 44,3%; Thùng, bể chứa dung tích trên 300 lít bằng plastic tăng 16,3%; Cấu kiện làm sẵn bằng xi măng, bê tông cho xây dựng tăng 15,8%; Bê tông tươi tăng 8,3%; Ống và ống dẫn bằng đồng tăng 5,9%; Dịch vụ sản xuất thiết bị điện chiếu sáng tăng 54,5%; Tàu thuyền lớn chuyên chở người và hàng hóa có động cơ đẩy tăng 15,8%; Điện mặt trời tăng 5,8%; Dịch vụ thu gom rác thải không độc hại có thể tái chế tăng 13,3% so cùng kỳ; ... - Có 47/119 sản phẩm giảm: Cát đen giảm 33,7%; Miến, hủ tiếu, bánh đa khô giảm 2,2%; Thuốc lá có đầu lọc giảm 14,2%; Thức ăn gia súc giảm 1,4%; Bộ com lê, quần áo người lớn không dệt kim hoặc đan móc giảm 25,5%; Giày, dép thể thao có đế ngoài và mũ giày bằng cao su và plastic giảm 1,6%; Thuốc và dược phẩm dạng viên giảm 10,0%; Thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh dạng bột/cốm giảm 34,9%; Tàu chở khách trọng tải 26 đến 500 tấn giảm 21,2%; Điện gió giảm 5,5% so cùng kỳ; ... * Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Hoạt động sản xuất công nghiệp của tỉnh Đồng Tháp tiếp tục duy trì, ổn định nên tình hình sản xuất, tiêu thụ của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh trong tháng 11 năm 2025 tăng so với cùng kỳ: Chỉ số tiêu thụ so với tháng trước giảm 0,16%, so với cùng kỳ tăng 8,61% (lũy kế 11 tháng tăng 10,59%); Chỉ số tồn kho so với tháng trước tăng 8,36%, so với cùng kỳ tăng mạnh 19,59%. Cụ thể tình hình tiêu thụ và tồn kho một số sản phẩm như sau: - Nhóm có nhu cầu tiêu thụ tăng, lượng tồn kho giảm gồm: + Giấy và sản phẩm từ giấy: chỉ số tiêu thụ tăng 21,76%, chỉ số tồn kho giảm mạnh (giảm 28,97%); + Dệt: tiêu thụ tăng 14,20%, tồn kho giảm sâu 66,54% (do doanh nghiệp chủ động đa dạng hóa thị trường, đổi mới công nghệ, cùng với sự phục hồi nhu cầu từ các thị trường lớn); + In, sao chép bản ghi: tiêu thụ tăng 59,91%, tồn kho giảm 31,50%. - Nhóm có chỉ số tiêu thụ giảm nhưng tồn kho tăng: + Thuốc, hoá dược và dược liệu: tiêu thụ giảm 18,63%, nhưng tồn kho lại tăng 18,51%; + Sản phẩm thuốc lá: tiêu thụ giảm 17,14%, tồn kho tăng 9,49%; + Da và các sản phẩm liên quan: tiêu thụ giảm 4,21%, nhưng tồn kho tăng cao 49,56%. - Nhóm có chỉ số tiêu thụ và tồn kho tăng (do nhu cầu tiêu thụ tăng, doanh nghiệp tăng tồn kho để chủ động nguồn cung): + Sản xuất kim loại: tiêu thụ tăng 36,18%, tồn kho tăng đến 120,69%; + Sản xuất trang phục: tiêu thụ tăng 22,04%, tồn kho tăng 47,03%; + Chế biến thực phẩm: tiêu thụ tăng 2,24% và tồn kho tăng ở mức trung bình 10,8%. - Nhóm có chỉ số tiêu thụ và tồn kho giảm: Cao su và plastic: cả tiêu thụ và tồn kho đều giảm (lần lượt giảm 2,91% và 18,79%), cho thấy cầu giảm, doanh nghiệp đang thu hẹp quy mô sản xuất. III. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP: (Theo báo cáo của Sở Tài Chính) Doanh nghiệp (DN) thành lập mới: Trong tháng 11, có 272 DN thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 936,7 tỷ đồng. Lũy kế 11 tháng đầu năm 2025, có 2.413 DN thành lập mới, tăng 69,2% so với cùng kỳ năm 2024 và đạt 134% so kế hoạch phát triển DN năm 2025 (kế hoạch 1.800 DN); với tổng vốn đăng ký là 14.177,2 tỷ đồng, tăng 60,4% so với cùng kỳ năm 2024. Giải thể, tạm ngừng hoạt động, tái hoạt động: Trong tháng, có 44 DN giải thể, 30 DN tạm ngừng hoạt động, 17 DN hoạt động trở lại. Lũy kế từ đầu năm 2025, có 403 DN giải thể (tăng 36,1%), 775 DN tạm ngừng hoạt động (tăng 10,9%), 382 DN hoạt động trở lại (tăng 24,8% so với cùng kỳ năm 2024). IV. ĐẦU TƯ - XÂY DỰNG Tình hình thực hiện vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tiếp tục được lãnh đạo tỉnh quan tâm chỉ đạo quyết liệt. Mặc dù gặp nhiều khó khăn như thời tiết mưa bão, công tác giải phóng mặt bằng còn chậm, khan hiếm nguồn cung vật liệu xây dựng, nhưng các sở, ban, ngành được giao nhiệm vụ đã nỗ lực duy trì tiến độ và đẩy nhanh thực hiện kế hoạch đầu tư công trên địa bàn. Tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trong tháng là 1.630 tỷ đồng, tăng 14,6% so cùng kỳ. Tính chung 11 tháng đầu năm 2025 ước thực hiện 14.406 tỷ đồng, đạt 87,9% kế hoạch, tăng 31,2% so cùng kỳ. Chia ra: - Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh thực hiện 14.161 tỷ đồng, bằng 88,2% kế hoạch và tăng 30,6% so cùng kỳ, chiếm 98,3% tổng số. Trong đó: vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu: 4.774 tỷ đồng, tăng 42,9%; vốn xổ số kiến thiết: 3.347 tỷ đồng, tăng 4,7% so cùng kỳ. Các ngành các cấp phối hợp với các chủ đầu tư khắc phục khó khăn đẩy nhanh tiến độ thực hiện công trình nhằm đạt kế hoạch đề ra, nhiều công trình đã hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng, các công trình còn lại thi công đúng theo tiến độ đề ra. - Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp xã thực hiện 245 tỷ đồng, bằng 74,6% kế hoạch và tăng 81,5% so cùng kỳ; trong đó: vốn cân đối ngân sách cấp xã 54 tỷ đồng, tăng 7,9 lần so cùng kỳ. Nguồn vốn ngân sách cấp xã ưu tiên bố trí các dự án khởi công mới thuộc lĩnh vực giao thông, phòng, chống thiên tai, xử lý sạt lở bờ sông, bờ biển, biến đổi khí hậu, giáo dục, y tế. Tình hình thu hút đầu tư nước ngoài: Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh thu hút 51 dự án đầu tư mới, trong đó có 13 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với vốn đầu tư 171 triệu USD và 38 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư đăng ký là 17 nghìn tỷ đồng. Công tác giải ngân vốn đầu tư công: Theo số liệu của Sở Tài chính, ước tính đến cuối tháng 11/2025, lũy kế giá trị giải ngân nguồn vốn đầu tư công đạt 8.777 tỷ đồng và đạt 53,5% so với kế hoạch (16.393 tỷ đồng). V. THƯƠNG MẠI - GIÁ CẢ - DỊCH VỤ 1. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng: Nhìn chung, hoạt động thương mại dịch vụ tiếp tục tăng trưởng, hàng hoá cung ứng đồi dào, hoạt trao đổi mua bán khá sôi động, nhất là các mặt hàng nhóm lương thực, thực phẩm, hàng may mặc... có mức tăng khá cao đã đáp ứng nhu cầu mua sắm của người dân. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trong tháng thực hiện 21.278 tỷ đồng, tăng 1,3% so tháng trước và tăng 11% so cùng kỳ. Mười một tháng năm 2025, tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thực hiện 227.022 tỷ đồng, tăng 9,2% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 176.280 tỷ đồng, tăng 8,2%; lưu trú 795 tỷ đồng, tăng 14,5%; ăn uống 29.405 tỷ đồng, tăng 14,2%; du lịch lữ hành 387 tỷ đồng, tăng 32,3%; dịch vụ tiêu dùng khác 20.155 tỷ đồng, tăng 11,1% so cùng kỳ. Hình 4. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng 2. Xuất - Nhập khẩu (Theo báo cáo Sở Công Thương) a. Xuất khẩu: Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng ước thực hiện 810 triệu USD, tăng 1,1% so tháng trước và tăng 11% so cùng kỳ. Mười một tháng ước tính xuất khẩu 8.631 triệu USD, đạt 93,8% kế hoạch, tăng 3,9% so cùng kỳ. b. Nhập khẩu: Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 11/2025 ước đạt 400 triệu USD, tăng 0,9% so tháng trước và bằng 85,5% so cùng kỳ. Mười một tháng ước đạt 4.466 triệu USD, đạt 100,8% kế hoạch và tăng 11,1% so với cùng kỳ. 3. Chỉ số giá: Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 11/2025 tăng 0,47% (thành thị tăng 0,62%, nông thôn tăng 0,42%) so tháng 10/2025, tăng 3,05% so tháng 11/2024. Bình quân 11 tháng năm 2025 tăng 2,35% so cùng kỳ năm trước. So với tháng 10/2025, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 07 nhóm tăng: Giao thông tăng 0,86%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,73%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,62%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,27%; may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,07%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,06%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%. Có 03 nhóm giảm: thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,02%; bưu chính viễn thông giảm 0,05%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,07%. Riêng nhóm hàng giáo dục chỉ số ổn định so với tháng trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 11 tháng năm 2025 so cùng kỳ tăng 2,35%; một số nhóm hàng có chỉ số tăng như: thuốc và dịch vụ y tế tăng 11,92%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 6,25%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,94%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,63%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,73% so với cùng kỳ … Có hai nhóm giảm: nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,02% và nhóm giao thông giảm 3,08% so cùng kỳ. Chỉ số giá vàng trong tháng 11/2025 tăng 0,2% so tháng trước, tăng 59,3% so với cùng kỳ. Bình quân 11 tháng đầu năm 2025 so với cùng kỳ tăng 48,26%. Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng 11/2025 tăng 1,33% so tháng trước và tăng 4,87% so với cùng kỳ. Bình quân 11 tháng năm 2025 so với cùng kỳ tăng 4,34%.  4. Vận tải: Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trong tháng thực hiện 654 tỷ đồng, tăng 1,9% so tháng trước và tăng 14,3% so cùng kỳ. Mười một tháng thực hiện 6.990 tỷ đồng, tăng 13,2% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 2.274 tỷ đồng, tăng 14,3%; doanh thu vận tải hàng hóa thực hiện 3.471 tỷ đồng, tăng 12,1% so cùng kỳ. Doanh thu vận tải đường bộ thực hiện 3.301 tỷ đồng, tăng 15,1%; doanh thu vận tải đường thủy thực hiện 2.244 tỷ đồng, tăng 9,5%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 714 tỷ đồng, tăng 14,1% so cùng kỳ. Vận tải hành khách trong tháng đạt 6.006 ngàn hành khách, tăng 3,3% so tháng trước và tăng 4,7% so cùng kỳ; luân chuyển 289.614 ngàn hành khách.km, tăng 1% so tháng trước và tăng 52,8% so cùng kỳ. Mười một tháng, vận chuyển 65.264 ngàn hành khách, tăng 9,3% so cùng kỳ; luân chuyển 2.577.171 ngàn hành khách.km, tăng 31,5% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 21.094 ngàn hành khách, tăng 22,1% và luân chuyển 2.556.663 ngàn hành khách.km, tăng 32,1% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 44.170 ngàn hành khách, tăng 4,1% và luân chuyển 20.508 ngàn hành khách.km, bằng 83,9% so cùng kỳ. Vận tải hàng hóa trong tháng đạt 2.191 ngàn tấn, bằng 99,1% so tháng trước và giảm 3,5% so cùng kỳ; luân chuyển 4.721.014 ngàn tấn.km, tăng 2,1% so tháng trước và bằng 89,3% so cùng kỳ. Mười một tháng, vận tải 25.531 ngàn tấn hàng hóa, tăng 6,8% so cùng kỳ; luân chuyển 4.721.014 ngàn tấn.km, tăng 1,1% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 6.154 ngàn tấn, tăng 21,8% và luân chuyển 859.805 ngàn tấn.km, bằng 82,3% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 19.377 ngàn tấn, tăng 2,8% và luân chuyển 3.861.209 ngàn tấn.km, tăng 6,5% so cùng kỳ. 5. Bưu chính viễn thông: Doanh thu trong tháng 11/2025 đạt 523 tỷ đồng, tăng 1,5% so tháng trước. Mười một tháng doanh thu dịch vụ bưu chính, viễn thông đạt 5.642 tỷ đồng, tăng 10,2% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính đạt 528 tỷ đồng, tăng 11,1% và viễn thông 5.115 tỷ đồng, tăng 10,1% so cùng kỳ. Đến cuối tháng 11 năm 2025 tổng số thuê bao điện thoại có trên mạng (bao gồm: hữu tuyến, vô tuyến, trả trước, trả sau) ước tính 3.907.874 thuê bao. Thuê bao điện thoại bình quân đạt 114,8 thuê bao/100 dân. Số thuê bao điện thoại di động có sử dụng Internet (3G, 4G) đến cuối tháng 11 là: 3.264.599 thuê bao. Tổng số thuê bao Internet trên mạng là 4.095.165 thuê bao (bao gồm: băng rộng di động 3G, 4G; MyTV và Cáp; băng rộng cố định FTTH, xDSL, Leased-line, CATV), mật độ Internet bình quân ước đạt 120,3 thuê bao/100 dân. VI. TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG 1. Tài chính: Tổng thu ngân sách nhà nước tháng 11/2025 thực hiện 2.549 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn 1.618 tỷ đồng; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 262 tỷ đồng. Mười một tháng, thu 57.012 tỷ đồng; trong đó, thu ngân sách trên địa bàn thực hiện 22.133 tỷ đồng, đạt 107% dự toán và tăng 14,1% so cùng kỳ; thu nội địa 21.273 tỷ đồng, đạt 107,1% dự toán, tăng 14,2% so cùng kỳ. (trong thu ngân sách trên địa bàn: thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 3.599 tỷ đồng, tăng 32,1% dự toán, tăng 12,8% so cùng kỳ; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 4.636 tỷ đồng, tăng 58,8% dự toán và tăng 51,5% so cùng kỳ...). Tổng chi ngân sách nhà nước trong tháng 3.628 tỷ đồng; trong đó: chi đầu tư phát triển 1.400 tỷ đồng; chi hành chính sự nghiệp 2.137 tỷ đồng. Mười một tháng, chi 36.974 tỷ đồng, đạt 84,4% dự toán và tăng 22,7% so cùng kỳ; trong đó: chi đầu tư phát triển 11.644 tỷ đồng, đạt 105,1% dự toán và bằng 92,3% so cùng kỳ; chi hành chính sự nghiệp 22.047 tỷ đồng, đạt 99,4% dự toán và tăng 42,2% so cùng kỳ. 2. Ngân hàng: Hoạt động tiền tệ, ngân hàng, ngoại hối thực hiện theo chỉ đạo của Ngân hàng nhà nước (NHNN) đồng thời bám sát định hướng phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại địa phương. Mặt bằng lãi suất ổn định và có xu hướng giảm, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận vốn vay. Lãi suất huy động: Hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn chấp hành tốt các quy định về lãi suất huy động theo quy định của NHNN Việt Nam.Lãi suất cho vay: Bằng Việt Nam đồng đến cuối tháng 9/2025, lãi suất cho vay bình quân chung là 7,41%/năm, giảm 0,53%/năm. Bằng USD lãi suất cho vay bình quân là 3,82%/năm, giảm 0,24%/năm so với cuối năm 2024. Đến cuối tháng 10/2025, vốn huy động đạt 199.493 tỷ, tăng 9,54% so với cuối năm 2024, tổng dư nợ cho vay của các TCTD trong tỉnh đạt 237.743 tỷ, tăng 5,62% so với cuối năm 2024. Ước đến cuối tháng 12/2025, nguồn vốn huy động đạt 203.874tỷ, tăng 11,94% so với cuối năm 2024; tổng dư nợ đạt 247.613 tỷ, tăng 10%. Nợ xấu: đến cuối tháng 9/2025 nợ xấu đạt 6.451 tỷ đồng, tăng 3.159 tỷ đồng; tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là 2,74%, tăng 1,26% so với cuối năm 2024. Ước đến cuối tháng 12/2025 tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ dưới 3%. Quỹ tín dụng nhân dân: Tháng 10/2025 dư nợ đạt 237.743 tỷ đồng, tăng 12.641 tỷ, tăng 5,62% so với cuối năm 2024 và tỷ lệ nợ xấu là 2,74%. Ước thực hiện tháng 12/2025, đạt 247.613 tỷ đồng, tăng 10% so với cuối năm 2024. VII. KHOA HỌC CÔNG NGHỆ Trong tháng, Hội đồng tư vấn tuyển chọn thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ thẩm định kinh phí 01 nhiệm vụ cấp tỉnh; nghiệm thu kết quả thực hiện 03 nhiệm vụ cấp tỉnh; kiểm tra, đánh giá tiến độ thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ: 06 cấp tỉnh, 01 cấp cơ sở. Tuyển chọn thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ đến nay tổng cộng 11 nhiệm vụ cấp tỉnh; Quyết định phê duyệt triển khai 14 nhiệm vụ cấp tỉnh, 01 nhiệm vụ cấp cơ sở; Thẩm định các kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ không sử dụng ngân sách nhà nước 01 nhiệm vụ. Đến hết tháng 11/2025 thẩm định kinh phí 14 nhiệm vụ cấp tỉnh; Nghiệm thu kết quả thực hiện 22 nhiệm vụ cấp tỉnh, 12 nhiệm vụ cấp cơ sở; Kiểm tra, đánh giá tiến độ thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ: 06 cấp tỉnh, 01 cấp cơ sở. Tuyển chọn thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ đến nay tổng cộng 11 nhiệm vụ cấp tỉnh; Quyết định phê duyệt triển khai 14 nhiệm vụ cấp tỉnh, 01 nhiệm vụ cấp cơ sở; Thẩm định các kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ không sử dụng ngân sách nhà nước 01 nhiệm vụ. VIII. CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Lao động việc làm: Trong tháng, toàn tỉnh đã giải quyết việc làm cho 5.965 lao động, trong đó có 325 lao động xuất cảnh làm việc ở nước ngoài. Tính từ đầu năm đến nay, tổng số lao động được giải quyết việc làm đạt 55.125 người, đạt 110% so với kế hoạch; riêng lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài là 2.610 người, đạt 102% so với kế hoạch, trong đó Nhật Bản: 1.792 người, Hàn Quốc: 598 người, Đài Loan: 211 người,.... Về trợ cấp thất nghiệp, trong tháng có 2.034 lao động được hưởng trợ cấp. Từ đầu năm đến nay, có 22.726 lao động được giải quyết chế độ trợ cấp thất nghiệp, với tổng kinh phí chi trả trên 409,9 tỷ đồng, góp phần hỗ trợ kịp thời đời sống, giúp người lao động ổn định trong giai đoạn tìm kiếm việc làm mới. Các hoạt động kết nối cung – cầu lao động tiếp tục được chú trọng. Trong tháng, tổ chức 22 phiên giao dịch việc làm, với sự tham gia của 228 lượt doanh nghiệp, thu hút hơn 6.463 lượt người tham gia và 1.473 lao động được kết nối. Các phiên giao dịch đã tạo cơ hội thuận lợi để doanh nghiệp tuyển dụng nhân lực, đồng thời mở rộng cơ hội việc làm, học nghề và đi làm việc ở nước ngoài cho người lao động. 2. Chính sách xã hội: Trong tháng, các chế độ, chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng được thực hiện kịp thời, đúng quy định. Toàn tỉnh đã giải quyết trợ cấp một lần cho 80 trường hợp thân nhân thờ cúng và chuyển thờ cúng liệt sĩ; trợ cấp hàng tháng cho 04 người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, đồng thời thực hiện trợ cấp tuất cho 05 trường hợp. Bên cạnh đó, chi trả trợ cấp mai táng phí cho 115 trường hợp và cấp lại 22 giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh. 3. Hoạt động giáo dục: Trong tháng, ngành Giáo dục tiếp tục đạt nhiều kết quả tích cực, đặc biệt là các hoạt động chào mừng Ngày Nhà giáo Việt Nam 20 tháng 11. Thực hiện công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, kiểm định chất lượng giáo dục và chuẩn bị cho các kỳ tuyển sinh, kỳ thi quan trọng trong năm 2026. 4. Hoạt động y tế: Trong tháng có 15/44 bệnh truyền nhiễm được ghi nhận. Cộng dồn số ca mắc có 10 bệnh tăng so cùng kỳ (Rubella, Sốt xuất huyết Dengue, Sởi, Ho gà, Thương hàn, Cúm, Lỵ trực trùng, Quai bị, Thủy đậu, Viêm gan vi rút khác); 13 bệnh giảm so cùng kỳ (Bệnh do liên cầu lợn ở người, Tay - chân - miệng, Liệt mềm cấp nghi bại liệt, Lao phổi, Uốn ván khác, Viêm gan vi rút A, Viêm gan vi rút B, Viêm gan vi rút C, Viêm não Nhật Bản, Bệnh do vi rút Adeno, Lỵ amíp, Tiêu chảy, Bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona); 21 bệnh tương đương hoặc không xảy ra ca mắc. Các bệnh truyền nhiễm ghi nhận trong tháng: bệnh Sốt - xuất - huyết ghi nhận 1.598 ca (01 ca tử vong); bệnh Tay - chân - miệng ghi nhận 1.502 ca. Tính từ đầu năm đến nay, bệnh Sốt - xuất - huyết ghi nhận 6.729 ca, tăng 38,0% so cùng kỳ (01 ca tử vong, tương đương so cùng kỳ); bệnh Tay - chân - miệng ghi nhận 5.872 ca, giảm 45,4%. Phòng chống HIV/AIDS: hiện nay, toàn tỉnh ghi nhận 15.876 người nhiễm HIV; 5.051 người chuyển sang AIDS; tử vong do AIDS: 3.896 người. Tình hình khám chữa bệnh: khám chữa bệnh trong tháng cho 773.176 lượt người; trong đó, số người điều trị nội trú là 52.222 lượt người. Cộng dồn từ đầu năm đến nay, đã khám chữa bệnh cho 7.400.451 lượt người, giảm 1,8%; trong đó, số người điều trị nội trú là 435.247 lượt người, tăng 2,4%. Trong tháng xảy ra 01 vụ ngộ độc thực phẩm tại chi nhánh Công ty TNHH may Túi xách Thái Dương Phường An Thạnh với 19 người mắc, không có ca tử vong.5. Hoạt động văn hóa - thể thao:a. Hoạt động văn hóa nghệ thuật: trong tháng, các hoạt động văn hóa, nghệ thuật được tổ chức sôi nổi, góp phần tuyên truyền, giáo dục truyền thống cách mạng và bảo tồn giá trị văn hóa địa phương. Tổ chức chương trình nghệ thuật: Họp mặt 95 năm thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (20/10/1930 – 20/10/2025) và 15 năm ngày Phụ nữ Việt Nam (20/10/2010 – 20/10/2025), biểu dương các tập thể, cá nhân tiêu biểu năm 2025 tại Trường Chính trị tỉnh; Đại hội Thi đua yêu nước tỉnh Đồng Tháp lần thứ 1, giai đoạn 2025 – 2030; Cầu truyền hình “Đường lên đỉnh Olympia” Điểm cầu Đồng Tháp tại Công viên Lạc Hồng.b. Hoạt động thư viện: trong tháng, hệ thống thư viện trong tỉnh phục vụ hiệu quả nhu cầu đọc và tra cứu tài liệu của người dân, thu hút 56.180 lượt người với 177.501 lượt tài liệu được phục vụ, đồng thời có 359.274 lượt truy cập trên các kênh thông tin thư viện. c. Hoạt động bảo tàng: trong tháng, công tác trưng bày, giới thiệu hiện vật và phục vụ khách tham quan được duy trì thường xuyên. Nhiều chuyên đề trưng bày được tổ chức tại Khu di tích Mộ cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, như “Ân tình xứ Nghệ”, “Hồ Chí Minh – những nét phác họa chân dung”... Khu trưng bày ngoài trời với các hiện vật lớn tiếp tục thu hút đông đảo khách tham quan. d. Hoạt động thể dục, thể thao: thể thao Đồng Tháp tham dự tham gia thi đấu 09 giải thể thao đạt 30 huy chương các loại (5 HCV, 13 HCB, 12 HCĐ). Luỹ kế 11 tháng, có 64 vận động viên ở các môn Bắn cung, Bơi lội, Canoeing, Cầu mây, Điền kinh, Judo, Karate, Kickboxing, Boxing, Kurash, Taekwondo và Xe đạp được triệu tập vào các đội tuyển quốc gia thi đấu các giải quốc tế. Tổng thành tích tham gia thi đấu 96 giải thể thao quốc gia, quốc tế đạt 605 huy chương quốc gia các loại (131 HCV, 182 HCB, 292 HCĐ); 58 huy chương quốc tế các loại (35 HCV, 13 HCB, 10 HCĐ). 6. Tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội (Theo báo cáo của ngành công an): Trong tháng xảy ra 99 vụ phạm tội về trật tự xã hội, giảm 19 vụ so cùng kỳ. Hậu quả là 03 người chết, 36 người bị thương, tài sản thiệt hại khoảng 05 tỷ đồng. Cơ quan chức năng đã điều tra, khám phá 89 vụ (đạt tỷ lệ 89,9%), bắt giữ và xử lý 204 đối tượng. Tính từ đầu năm đến nay, tổng số vụ phạm tội là 1.156, giảm 37,7%. Vụ việc đã làm 40 người chết, 381 người bị thương, tổng giá trị tài sản thiệt hại khoảng 522 tỷ đồng. Đã điều tra, khám phá được 975 vụ (đạt tỷ lệ 84,3%), xử lý 1.824 đối tượng. Về tội phạm ma túy trong tháng, lực lượng chức năng đã phát hiện và xử lý 66 vụ với 97 đối tượng. 7. Trật tự an toàn giao thông (theo báo cáo ngành công an tỉnh, số liệu tính từ ngày 15/10/2025 đến 14/11/2025): Tai nạn giao thông đường bộ: trong tháng, xảy ra 38 vụ, giảm 10 vụ so tháng trước và giảm 42 vụ so cùng kỳ. Hậu quả làm chết 28 người (giảm 10 người so tháng trước, giảm 18 người so cùng kỳ) và 22 người bị thương (tăng 06 người so tháng trước, giảm 26 người so cùng kỳ). Lũy kế từ đầu năm đến kỳ báo cáo, toàn tỉnh đã xảy ra 523 vụ, giảm 102 vụ so với cùng kỳ; làm chết 385 người (giảm 54 người) và làm bị thương 247 người (giảm 83 người). Các nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông chủ yếu vẫn do ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông như: uống rượu say, điều khiển xe khi có rượu bia, phóng nhanh vược ẩu, không làm chủ tốc độ; không đi đúng phần đường, làn đường; không nhường đường, vượt đèn đỏ, thiếu quan sát… Tai nạn giao thông đường thủy: trong tháng xảy ra 01 vụ. Lũy kế từ đầu năm đến kỳ báo cáo là 02 vụ (giảm 01 vụ), làm chết 01 người (tương đương so cùng kỳ). 8. Tình hình cháy nổ, môi trường và thiên tai: Cháy, nổ: trong tháng, trên địa bàn tỉnh xảy ra 02 vụ cháy, gây thiệt hại tài sản khoảng 1,2 tỷ đồng. Tính từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh ghi nhận tổng cộng 24 vụ cháy, giảm 02 vụ so với cùng kỳ, số người tử vong do cháy là 05 người và tổng thiệt hại tài sản khoảng 276,4 tỷ đồng. Lĩnh vực môi trường trên địa bàn tỉnh trong tháng xảy ra 05 vụ vi phạm. Từ đầu năm đến nay, xảy ra 55 vụ vi phạm môi trường (tăng 37 vụ), đã xử lý 50 vụ (tăng 33 vụ) với số tiền xử phạt khoảng 1,5 tỷ đồng. Trong tháng, trên địa bàn tỉnh xảy ra 04 vụ thiên tai với tổng thiệt hại ước khoảng 45,8 tỷ đồng. Trong đó, lũ kết hợp triều cường gây thiệt hại 86 ha lúa, 22 ha hoa màu, nhiều diện tích cây lâu năm, cùng nhiều tuyến đường nông thôn, trụ điện và đê bao bị hư hỏng; một số khu dân cư vùng trũng ngập sâu, ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt, thiệt hại ước tính 45,2 tỷ đồng. Thiên tai do mưa giông, lốc làm sập 01 căn nhà, tốc mái 06 căn với thiệt hại ước tính 61 triệu đồng. Ngoài ra, 2 vụ sạt lở – sụt lún bờ sông Tiền với chiều dài khoảng 50m, lấn sâu vào đất liền khoảng 30m, làm 04 căn nhà sụp xuống sông, thiệt hại ban đầu ước tính 510 triệu đồng. Cộng dồn từ đầu năm, toàn tỉnh xảy ra 52 vụ thiệt hại thiên tai, làm chết 02 người, bị thương 22 người, sập 106 căn nhà, tốc mái 738 căn, 428,5 ha lúa bị thiệt hại, 39,8 ha hoa màu bị hư,…. Tổng giá trị thiệt hại ước tính khoảng 131 tỷ đồng.

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Tháp Tháng 10 năm 2025
  •   06/11/2025 08:43

Trong tháng, kinh tế - xã hội của tỉnh tiếp tục phát triển, các hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh có nhiều khởi sắc, hầu hết các ngành, lĩnh vực đều tăng so cùng kỳ. Kết quả thực hiện trên các lĩnh vực đạt được như sau:I. SẢN XUẤT NÔNG LÂM NGHIỆP VÀ THỦY SẢN Trong tháng, thời tiết nhìn chung thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp; cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt. Sâu bệnh xuất hiện ở mức thấp đến trung bình nhờ công tác dự báo và hướng dẫn phòng trừ kịp thời; dịch bệnh trên đàn vật nuôi được kiểm soát chặt chẽ. Tuy nhiên, mưa lớn kết hợp triều cường và lũ từ thượng nguồn làm mực nước sông, kênh rạch dâng cao, gây ngập cục bộ và sạt lở, vỡ đê bao tại một số nơi, ảnh hưởngđến diện tích lúa và cây ăn trái. Nhìn chung, sản xuất nông, lâm, thủy sản trên địa bàn tỉnh vẫn duy trì ổn định; các ngành chức năng và người dân đã chủ động ứng phó, hạn chế thiệt hại, đảm bảo tiến độ sản xuất.1. Nông nghiệpCây lương thực có hạt:diện tích gieo sạ niên vụ 2024 - 2025 ước đạt 614.594 ha, giảm 1,3% so cùng kỳ; trong đó: cây lúa gieo sạ 608.522 ha, giảm 1,3%.- Cây ngô:Hiện nay nông dân trong tỉnh đã bắt đầu gieo trồng cây ngô vụ Đông xuân 2025–2026, diện tích gieo trồng ước đạt 548 ha, giảm 3,6% và đây là vụ sản xuất mở đầu cho chu kỳ sản xuất năm 2026. Ngô thuộc loại cây ngắn ngày, dễ trồng, dễ chăm sóc, trồng được nhiều vụ trong năm. Bên cạnh lấy trái bán cho thương lái; lá, thân ngô khi thu hoạch có thể tận dụng làm thức ăn cho gia súc như trâu, bò…Hình 1. Diện tích gieo trồng lúa gieo trồng qua 2 nămCây rau đậu các loại: Vụ đông xuân 2025-2026 diện tích gieo trồng ước đạt 4.462 ha, tăng 1,2% so cùng kỳ; trong đó: rau các loại 4.437 ha, tăng 1,4% so cùng kỳ. Tận dụng nguồn đất đai màu mỡ, nông dân tranh thủ thời gian, thời tiết thuận lợi trồng xen canh, trồng gối vụ các loại rau, củ, quả có giá trị kinh tế cao, dễ tiêu thụ như: rau muống, bầu, mướp, bí xanh, mướp đắng, dưa leo, cải các loại, hành lá, dưa hấu và các loại rau cải ngắn ngày khác...Chăn nuôi: ước thời điểm 31/10/2025 tổng đàn gian súc, gia cầm của tỉnh như sau: đàn trâu hiện có 3,2 nghìn con, giảm 3,0% so cùng kỳ; đàn bò hiện có 156,5 nghìn con, tăng 1,1%; đàn lợn có 445,2 nghìn con, tăng 5,6%; đàn gia cầm có 23,8 triệu con, giảm 1,5%. Đàn trâu giảm chủ yếu do diện tích chăn thả bị thu hẹp và hiệu quả kinh tế không cao. Giá bò hơi ổn định và nhu cầu tiêu thụ thịt bò tăng đã tạo điều kiện thuận lợi để người chăn nuôi duy trì, tái đàn và phát triển ổn định đàn bò. Chăn nuôi lợn tăng nhờ công tác kiểm soát dịch bệnh được thực hiện tốt, giúp người dân yên tâm tái đàn. Đàn gia cầm giảm so với cùng kỳ do đã đến kỳ xuất bán, người nuôi vệ sinh chuồng trại chuẩn bị tái đàn trở lại.Hình 2. Chăn nuôi tại thời điểm 31/10/20252. Lâm nghiệp:Tổng diện tích rừng trên địa bàn tỉnh là 6.999,6 ha (không bao gồm diện tích rừng thuộc đất an ninh quốc phòng); trong đó, diện tích rừng đặc dụng 2.717,6 ha; rừng phòng hộ 2.244,3 ha và rừng sản xuất 2.037,7 ha.Trong tháng, toàn tỉnh thực hiện trồng mới được 50,0 ngàn cây phân tán. Nâng tổng số cây phân tán trồng được 801,0 ngàn cây các loại, giảm 1,6% so cùng kỳ.3. Thủy hải sản:Tổng diện tích thả nuôi thâm canh 10 tháng ước đạt 6.279 ha, tăng 3,9% so cùng kỳ chủ yếu là diện tích nuôi cá tra do giá xuất khẩu cá tra tương đối ổn định nên doanh nghiệp tăng diện tích nuôi; trong đó: cá tra 2.457 ha, tăng 26,6% so cùng kỳ, tôm thẻ chân trắng 3.497 ha, giảm 6,3% cùng kỳ do hộ chuyển diện tích đầm nuôi tôm ven đê biển Tân Thành sang đầu tư khu du lịch sinh thái, ẩm thực vườn quê....Sản lượng thủy sản nuôi trồng trong tháng ước đạt 69.347 tấn. Tính chung 10 tháng năm 2025, thu hoạch ước đạt 700.342 tấn, tăng 2,6% so cùng kỳ, tương ứng tăng 17.554 tấn, trong đó: sản lượng cá đạt 638.102 tấn (tăng 3,3%); sản lượng tôm đạt 38.376 tấn (tăng 4,6%);…. Sản lượng tăng chủ yếu nhờ thời tiết thuận lợi, tình hình dịch bệnh được kiểm soát, giúp năng suất nuôi trồng đạt cao.Sản lượng thủy sản khai thác biển trong tháng ước đạt 10.002 tấn. Tính chung 10 tháng năm 2025, thu hoạch ước đạt 96.633 tấn, tăng 15,3% so cùng kỳ, tương ứng tăng 12.821 tấn, trong đó: cá đạt 65.732 tấn (tăng 6,0%); tôm đạt 2.739 tấn (tăng 17%);…. Sản lượng khai thác tăng nhờ nguồn lợi thủy sản xuất hiện nhiều tại ngư trường, thời tiết thuận lợi, giúp ngư dân khai thác hiệu quả hơn so với cùng kỳ.II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆPChỉ số sản xuất công nghiệp tháng 10/2025 tăng 2,31% so với tháng trước và tăng 15,08% so cùng kỳ (ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 16,02%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 7,59%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,97% và ngành khai khoáng giảm 60,72% so cùng kỳ). Ngành chủ lực là sản xuất chế biến thực phẩm tăng 10,85%. Bên cạnh đó, một số ngành có chỉ số sản xuất tăng cao trên 30% so cùng kỳ như: sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu 31,38%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu 35,16%; sản xuất đồ uống 32,68%; sản xuất kim loại 46,62%; sản xuất thiết bị điện 36,24%. Ở chiều ngược lại, một số ngành giảm so cùng kỳ như: khai khoáng khác giảm 60,72%; sản xuất xe có động cơ giảm 34,93%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 33,43%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 8,55%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 1,65%;...Sản xuất công nghiệp 10 tháng đầu năm 2025 tăng trưởng khá do nhu cầu tiêu thụ của các ngành chủ lực như chế biến thực phẩm, sản xuất đồ uống, dệt may, sản xuất kim loại, giấy, thiết bị điện. Tuy nhiên, hoạt động sản xuất trong các tháng cuối năm vẫn đối diện với nhiều rủi ro tiềm ẩn như: áp lực lạm phát toàn cầu, xung đột địa chính trị, những ảnh hưởng từ chính sách thuế quan mới của Mỹ đã làm ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp của Việt Nam nói chung và tỉnh Đồng Tháp nói riêng. Tính chung 10 tháng đầu năm chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 13,24% so cùng kỳ; trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 14,12%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 3,33%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,69%...Chỉ số sản xuất sản phẩm trong 10 tháng so cùng kỳ như sau:- Có 72/119 sản phẩm tăng: phi lê đông lạnh tăng 5,7%; quả và hạt ướp lạnh tăng 66,2%; gạo đã xát toàn bộ hoặc sơ bộ tăng 7,3%; bánh làm từ bột khác bảo quản được tăng 24,3%; thức ăn gia cầm tăng 26,9%; thức ăn thủy sản tăng 15,5%; bia đóng lon tăng 21,8%; bộ com lê, quần áo người lớn dệt kim hoặc đan móc tăng 4,0%; gỗ cưa xẻ tăng 29,0%; thuốc và dược phẩm dạng lỏng tăng 35,7%; thùng, bể chứa dung tích trên 300 lít bằng plastic tăng 20,6%; cấu kiện làm sẵn bằng xi măng, bê tông cho xây dựng tăng 15,4%; bê tông tươi tăng 4,4%; ống và ống dẫn bằng đồng tăng 5,4%; dịch vụ sản xuất thiết bị điện chiếu sáng tăng 91,3%; tàu thuyền lớn chuyên chở người và hàng hóa có động cơ đẩy tăng 13,6%; điện mặt trời tăng 4,0%; dịch vụ thu gom rác thải không độc hại có thể tái chế tăng 13,1% so cùng kỳ;...- Có 47/119 sản phẩm giảm: cát đen giảm 24,6%; miến, hủ tiếu, bánh đa khô giảm 2,2%; thuốc lá có đầu lọc giảm 14,2%; thức ăn gia súc giảm 1,4%; bộ com lê, quần áo người lớn không dệt kim hoặc đan móc giảm 24,4%; giày, dép thể thao có đế ngoài và mũ giày bằng cao su và plastic giảm 1%; thuốc và dược phẩm dạng viên giảm 11,3%; thuốc và dược phẩm dạng bột cốm giảm 36,96%; tàu chở khách trọng tải 26 đến 500 tấn giảm 4,6%; điện gió giảm 2,7% so cùng kỳ; ...Hình 3. Chỉ số sản xuất công nghiệp 10 tháng năm 2025* Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo:Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 10 năm 2025 so với tháng trước giảm 0,97% và tăng 10,24% so cùng kỳ. Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cộng dồn từ đầu năm đến cuối tháng 10 năm 2025 tăng 11,04%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 1,87%; sản xuất đồ uống tăng 3,18%; dệt tăng 12,43%; sản xuất trang phục tăng 22,65%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 2,77%; in, sao chép bản ghi các loại tăng 71,96%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 76,31%; sản xuất kim loại tăng 36,38%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 23,59% và công nghiệp chế biến chế tạo khác tăng 6,89%;…. Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm so cùng kỳ: sản xuất sản phẩm thuốc lá giảm 20,33%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 2,09%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu giảm 18,53%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 3,11%; sản xuất phụ tùng xe có động cơ giảm 23,07%;...Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 10/2025 tăng 2,53% so với tháng trước và giảm 2,68% so với cùng kỳ. Một số ngành có chỉ số tồn kho giảm so cùng kỳ: dệt giảm 43,48%; sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện giảm 4,65%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 28,97%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 30,63%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 13,7%; sản xuất kim loại giảm 51,48%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẳn giảm 55,69%; sản xuất thiết bị điện giảm 1,51% và công nghiệp chế biến, chế tạo khác gồm sản xuất đồ chơi, trò chơi giảm 88,67%;…Bên cạnh đó, một số ngành có chỉ số tồn kho tăng so với cùng kỳ là: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 6,31%; sản xuất trang phục tăng 17,61%; sản xuất kim loại tăng 28,39%;...* Tình hình thu hút đầu tư và phát triển các khu - cụm công nghiệp:- Khu công nghiệp, khu kinh tế: Trong tháng, không cấp mới Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư mới, điều chỉnh 06 dự án (trong đó tăng vốn đầu tư cho 01 dự án với tổng vốn đầu tư tăng thêm là 11,4 triệu USD). Lũy kế đến hết tháng 10/2025, các khu Công nghiệp và khu Kinh tế thu hút được 186 dự án (trong đó, có 101 dự án FDI) với tổng vốn đầu tư là 3,2 tỷ USD vốn FDI và 12.229,3 tỷ đồng vốn DDI; diện tích đất đã cho thuê là 748,7 ha, tỷ lệ lấp đầy 93,6%.- Cụm công nghiệp:Trên địa bàn tỉnh có 62 cụm công nghiệp (CCN) được quy hoạch với diện tích 3.009,5 ha được chấp thuận chủ trương đầu tư. Hiện có 23 CCN được thành lập với tổng diện tích 779,9 ha; trong đó: 18 CCN đã đi vào hoạt động với diện tích 511,7 ha, 5 cụm công nghiệp còn lại đang thực hiện thủ tục đầu tư xây dựng hạ tầng.Tổng số dự án đầu tư tại các cụm công nghiệp hiện nay là 126 dự án (trong đó: có 11 dự án đầu tư nước ngoài) với tổng vốn đầu tư 207,9 triệu USD và 14.481 tỷ đồng.III. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP: (Theo báo cáo của Sở Tài Chính)Tính đến ngày 19/10/2025 có 146 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 545,7 tỷ đồng; thành lập mới đơn vị trực thuộc có 143 đơn vị, trong đó; 20 chi nhánh; 119 địa điểm kinh doanh và 4 văn phòng đại diện; giải thể và tạm ngừng hoạt động, có 26 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, 45 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động. Lũy kế đến hết tháng 10/2025 có 2.185 doanh nghiệp thành lập mới, đạt 121,3% kế hoạch và tăng 68,5% so với cùng kỳ; đơn vị trực thuộc có 1.625 đơn vị trực thuộc doanh nghiệp thành lập mới tăng 51,7% so cùng kỳ, trong đó; 265 chi nhánh; 1.319 địa điểm kinh doanh và 41 văn phòng đại diện. Giải thể và tạm ngừng hoạt động có 360 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 34,3% và 744 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, tăng 11,7% so với cùng kỳ.IV. ĐẦU TƯ - XÂY DỰNGTổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trong tháng là 1.798 tỷ đồng, tăng 53,9% so cùng kỳ. Mười tháng đầu năm 2025 ước thực hiện được 12.959 tỷ đồng, đạt 73,8% kế hoạch, tăng 35,6% so cùng kỳ. Chia ra:- Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh thực hiện 12.742 tỷ đồng, đạt 74,1% kế hoạch và tăng 35,0% so cùng kỳ, chiếm 98,3% tổng số. Trong đó: vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu: 4.343 tỷ đồng, tăng 60,8%; vốn xổ số kiến thiết: 3.036 tỷ đồng, tăng 6,2% so cùng kỳ. Lãnh đạo tỉnh chỉ đạo quyết liệt các sở, ngành liên quan chủ đầu tư phải nỗ lực tháo gỡ khó khăn, quyết tâm, thực hiện công tác giải phóng mặt bằng, sớm đưa công trình vào khai thác sử dụng, thúc đẩy phát triển kinh tế của tỉnh.- Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp xã trong tháng thực hiện 43 tỷ đồng, luỹ kế 10 tháng thực hiện 218 tỷ đồng, đạt 61,6% kế hoạch và tăng 79,7% so cùng kỳ; trong đó: vốn cân đối ngân sách cấp xã 48 tỷ đồng, tăng 6,9 lần so cùng kỳ. Nguồn vốn được ưu tiên bố trí các dự án khởi công mới thuộc lĩnh vực giao thông, phòng, chống thiên tai, xử lý sạt lở bờ sông, bờ biển, biến đổi khí hậu, giáo dục, y tế, xây dựng nông thôn mới nhằm phục vụ đời sống người dân.V. THƯƠNG MẠI - GIÁ CẢ - DỊCH VỤ1. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng:Nhìn chung, hoạt động thương mại dịch vụ tiếp tục tăng trưởng, hàng hoá cung ứng đồi dào, đáp ứng nhu cầu mua sắm của người dân. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trong tháng thực hiện 21.125 tỷ đồng, tăng 1,7% so tháng trước và tăng 10% so cùng kỳ. Mười tháng năm 2025, tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thực hiện 205.870 tỷ đồng, tăng 9,3% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 159.932 tỷ đồng, tăng 8,3%; lưu trú 721 tỷ đồng, tăng 14,8%; ăn uống 26.644 tỷ đồng, tăng 14,1%; du lịch lữ hành 347 tỷ đồng, tăng 28,8%; dịch vụ tiêu dùng khác 18.226 tỷ đồng, tăng 10,9% so cùng kỳ.Hình 4. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng2. Xuất - Nhập khẩu (Theo báo cáo Sở Công Thương)Kinh tế và chính trị thế giới diễn biến phức tạp, căng thẳng thương mại Mỹ - Trung và một số quốc gia khác có thể dẫn tới những xáo trộn lớn với thương mại toàn cầu. Tuy nhiên hoạt động xuất khẩu của Tỉnh tiếp tục duy trì ổn định, nhưng bức tranh chung vẫn tiềm ẩn nhiều khó khăn.a. Xuất khẩu:Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng ước thực hiện 870 triệu USD, tăng 1,2% so tháng trước và tăng 10,4% so cùng kỳ. Mười tháng ước tính xuất khẩu 7.873 triệu USD, đạt 85,6% kế hoạch, tăng 3,8% so cùng kỳ.b. Nhập khẩu:Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 10/2025 ước đạt 360 triệu USD, tăng 2,1% so tháng trước và bằng 95,3% so cùng kỳ. Mười tháng ước đạt 4.028,9 triệu USD, đạt 90,9% kế hoạch và tăng 13,4% so với cùng kỳ.3. Chỉ số giá:Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10/2025 tăng 0,23% (thành thị tăng 0,31%, nông thôn tăng 0,21%) so tháng 9/2025, tăng 2,77% so tháng 10/2024. Bình quân 10 tháng năm 2025 tăng 2,28% so cùng kỳ năm trước.So với tháng 9/2025, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 09 nhóm tăng: giáo dục tăng 2,68%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,59%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,3%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,28%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,24%; may mặc, mũ nón và giầy dép tăng 0,20%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,06%; văn hóa giải trí và du lịch tăng 0,01%. Có 02 nhóm giảm: bưu chính viễn thông giảm 0,04%; giao thông giảm 0,90%.Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 10 tháng năm 2025 so cùng kỳ tăng 2,28%; một số nhóm hàng có chỉ số tăng như: thuốc và dịch vụ y tế tăng 11,92%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 6,52%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,82%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,67%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,7% so với cùng kỳ … Chỉ riêng nhóm giao thông giảm 3,47% so cùng kỳ.Chỉ số giá vàng 24 kara Ngọc Thẩm trong tháng 10/2025 tăng 12,09% so tháng trước, tăng 64,17% so với cùng kỳ. Bình quân 10 tháng đầu năm 2025 so với cùng kỳ tăng 47,2%.Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng 10/2025 giảm 0,36% so tháng trước và tăng 5,98% so với cùng kỳ. Bình quân 10 tháng năm 2025 so với cùng kỳ tăng 4,28%. 4. Du lịch:Ngay từ đầu năm du lịch của tỉnh đã tập trung triển khai đồng bộ các giải pháp phát triển du lịch. Đồng thời bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, làng nghề với quyết tâm thực hiện mục tiêu phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng, tạo bước đột phá tăng tốc phát triển du lịch, góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Lượng khách du lịch đến tham quan trên địa bàn trong tháng 10/2025 ước tính 352 ngàn lượt khách, tăng 2% tháng trước và tăng 12,2% so cùng kỳ, trong đó khách quốc tế 54 ngàn lượt khách, tăng 31,9% so cùng kỳ.Nhiều khu, điểm du lịch trong tỉnh đã mở rộng quy mô và dịch vụ vui chơi để đón đông đảo lượng khách đến tham quan, trải nghiệm. Doanh thu lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành trong tháng đạt 2.828 tỷ đồng, tăng 1,4% so tháng trước và tăng 15,1% so cùng kỳ.Tính chung mười tháng năm 2025, lượt khách du lịch đến tham quan trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp là 3.522 ngàn lượt khách, tăng 6,8% so cùng kỳ; trong đó: khách quốc tế 457 ngàn lượt khách, tăng 12,4% so cùng kỳ. Tổng doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, dịch vụ lữ hành và dịch vụ tiêu dùng khác đạt 45.938 tỷ đồng, tăng 12,9% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu dịch vụ ăn uống chiếm tỷ trọng 58%, ước đạt 26.644 tỷ đồng, tăng 14,1% so cùng kỳ; lưu trú đạt 721 tỷ đồng, tăng 14,8% so cùng kỳ...5. Vận tải:Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trong tháng thực hiện 653 tỷ đồng, tăng 1,4% so tháng trước và tăng 14,6% so cùng kỳ. Mười tháng thực hiện 6.347 tỷ đồng, tăng 13,3% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 2.075 tỷ đồng, tăng 14,1%; doanh thu vận tải hàng hóa thực hiện 3.153 tỷ đồng, tăng 12,3% so cùng kỳ. Doanh thu vận tải đường bộ thực hiện 2.994 tỷ đồng, tăng 15%; doanh thu vận tải đường thủy thực hiện 2.234 tỷ đồng, tăng 10,5%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 644 tỷ đồng, tăng 12,9% so cùng kỳ.Vận tải hành khách trong tháng đạt 5.995 ngàn hành khách, tăng 1,6% so tháng trước và tăng 8,2% so cùng kỳ; luân chuyển 213.518 ngàn hành khách.km, tăng 2,7% so tháng trước và tăng 16,9% so cùng kỳ. Mười tháng, vận chuyển 59.438 ngàn hành khách, tăng 10,1% so cùng kỳ; luân chuyển 2.214 ngàn hành khách.km, tăng 25,1% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 19.317 ngàn hành khách, tăng 24% và luân chuyển 2.196 ngàn hành khách.km, tăng 25,6% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 40.121 ngàn hành khách, tăng 4,5% và luân chuyển 18.825 ngàn hành khách.km, bằng 85,3% so cùng kỳ.Vận tải hàng hóa trong tháng đạt 2.236 ngàn tấn, tăng 1,2% so tháng trước và tăng 1,9% so cùng kỳ; luân chuyển 394.598 ngàn tấn.km, tăng 1,8% so tháng trước và bằng 92,1% so cùng kỳ. Mười tháng, vận tải 23.365 ngàn tấn hàng hóa, tăng 8% so cùng kỳ; luân chuyển 4.334.280 ngàn tấn.km, tăng 2,5% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 5.639 ngàn tấn, tăng 23,6% và luân chuyển 786.587 ngàn tấn.km, bằng 82,9% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 17.726 ngàn tấn, tăng 3,8% và luân chuyển 3.547.693 ngàn tấn.km, tăng 8,1% so cùng kỳ.6. Bưu chính viễn thông:Doanh thu trong tháng 10/2025 đạt 518 tỷ đồng, tăng 0,3% so tháng trước. Mười tháng doanh thu dịch vụ bưu chính, viễn thông đạt 5.122 tỷ đồng, tăng 11,3% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính đạt 475,1tỷ đồng, tăng 12,1% và viễn thông 4.647 tỷ đồng, tăng 11,2% so cùng kỳ.Đến cuối tháng 10 năm 2025 tổng số thuê bao điện thoại có trên mạng (bao gồm: hữu tuyến, vô tuyến, trả trước, trả sau) ước tính 3.879.195 thuê bao. Thuê bao điện thoại bình quân đạt 113,97 thuê bao/100 dân. Số thuê bao điện thoại di động có sử dụng Internet (3G, 4G) đến cuối tháng 10 là: 3.218.673 thuê bao. Tổng số thuê bao Internet trên mạng là 4.228.666 thuê bao (bao gồm: băng rộng di động 3G, 4G; MyTV và Cáp; băng rộng cố định FTTH, xDSL, Leased-line, CATV), mật độ Internet bình quân ước đạt 124,44 thuê bao/100 dân.VI. TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG1. Tài chính:Tổng thu ngân sách nhà nước tháng 10/2025 thực hiện 5.014 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn 1.878 tỷ đồng; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 288 tỷ đồng. Mười tháng, thu 52.547 tỷ đồng; trong đó, thu ngân sách trên địa bàn thực hiện 19.809 tỷ đồng, đạt 95,7% dự toán và tăng 15,4% so cùng kỳ; thu nội địa 19.037 tỷ đồng, đạt 95,8% dự toán, tăng 15,5% so cùng kỳ (trong thu ngân sách trên địa bàn: thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 3.129 tỷ đồng, tăng 14,8% dự toán, tăng 6,7% so cùng kỳ; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 4.035 tỷ đồng, tăng 38,2% dự toán và tăng 47,3% so cùng kỳ...).Tổng chi ngân sách nhà nước trong tháng 3.978 tỷ đồng; trong đó: chi đầu tư phát triển 1.400 tỷ đồng; chi hành chính sự nghiệp 2.487 tỷ đồng. Mười tháng, chi 34.252 tỷ đồng, đạt 78,1 dự toán và tăng 23,5% so cùng kỳ; trong đó: chi đầu tư phát triển 10.741 tỷ đồng, đạt 96,9% dự toán và bằng 90,8% so cùng kỳ; chi hành chính sự nghiệp 20.253 tỷ đồng, đạt 91,4% dự toán và tăng 45,2% so cùng kỳ.2. Ngân hàng:Đến cuối tháng 9/2025, vốn huy động đạt 200.842 tỷ, tăng 10,28% so với cuối năm 2024, tổng dư nợ cho vay của các TCTD trong tỉnh đạt 239.665 tỷ, tăng 6,47% so với cuối năm 2024. Ước đến cuối tháng 10/2025, nguồn vốn huy động đạt 203.031 tỷ, tăng 11,48% so với cuối năm 2024; tổng dư nợ đạt 241.343 tỷ, tăng 7,21%.Nợ xấu: đến cuối tháng 9/2025 nợ xấu đạt 6.603 tỷ đồng, tăng 2.971 tỷ đồng; tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là 2,81%, tăng 1,33% so với cuối năm 2024. Ước đến cuối tháng 10/2025 nợ xấu đạt 6.733 tỷ đồng, tăng 3.102 tỷ đồng; tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là 2.79%, tăng 1,31% so với cuối năm 2024.Quỹ tín dụng nhân dân: Tháng 9/2025 tổng nguồn vốn huy động 2.840 tỷ đồng, tăng 7,93% so với cuối năm 2024. Dư nợ 2.328 tỷ đồng, giảm 1,66% so với cuối năm 2024. Tỷ lệ nợ xấu đến cuối tháng 9/2025 là 0,62%.VII. KHOA HỌC CÔNG NGHỆTrong tháng, Hội đồng tư vấn tuyển chọn thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh: 02 nhiệm vụ cấp tỉnh; Quyết định phê duyệt triển khai 01 nhiệm vụ cấp tỉnh; Thẩm định kinh phí 02 nhiệm vụ cấp tỉnh (lũy kế 10 nhiệm vụ cấp tỉnh); Nghiệm thu kết thúc 04 nhiệm vụ cấp tỉnh, 01 nhiệm vụ cấp cơ sở (lũy kế 15 nhiệm vụ cấp tỉnh, 13 nhiệm vụ cấp cơ sở); Thẩm định các kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ không sử dụng ngân sách nhà nước tổng cộng đến nay là 01 nhiệm vụ. Đến hết tháng 10/2025 thực hiện 10 nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh; quyết định phê duyệt triển khai 14 nhiệm vụ cấp tỉnh, 01 nhiệm vụ cấp cơ sở; thẩm định kinh phí 10 nhiệm vụ cấp tỉnh; nghiệm thu kết thúc 15 nhiệm vụ cấp tỉnh, 13 nhiệm vụ cấp cơ sở.VIII. CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI1. Lao động việc làm:Trong tháng, toàn tỉnh đã tạo việc làm cho 1.510 lao động, trong đó có 558 lao động xuất cảnh làm việc ở nước ngoài. Tính từ đầu năm đến nay, tổng số lao động được giải quyết việc làm đạt 49.160 người; riêng lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài là 2.285 người, đạt 89,6% so với kế hoạch, trong đó Nhật Bản: 1.492 người, Hàn Quốc: 598 người, Đài Loan: 175 người,....Về trợ cấp thất nghiệp, trong tháng có 1.460 lao động được hưởng trợ cấp. Từ đầu năm đến nay, có 20.680 lao động được giải quyết chế độ trợ cấp thất nghiệp, với tổng kinh phí chi trả trên 436,4 tỷ đồng, góp phần hỗ trợ kịp thời đời sống, giúp người lao động ổn định trong giai đoạn tìm kiếm việc làm mới.Các hoạt động kết nối cung – cầu lao động tiếp tục được chú trọng. Trong tháng, tổ chức 13 phiên giao dịch việc làm, với sự tham gia của 143 lượt doanh nghiệp, thu hút hơn 4.100 lượt người tham gia và 1.095 lao động được kết nối. Các phiên giao dịch đã tạo cơ hội thuận lợi để doanh nghiệp tuyển dụng nhân lực, đồng thời mở rộng cơ hội việc làm, học nghề và đi làm việc ở nước ngoài cho người lao động.2. Chính sách xã hội:Trong tháng, các chế độ, chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng được thực hiện kịp thời, đúng quy định. Toàn tỉnh đã giải quyết trợ cấp một lần cho 72 trường hợp thân nhân thờ cúng và chuyển thờ cúng liệt sĩ; trợ cấp hàng tháng cho 02 người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, 02 liệt sĩ mới được công nhận và tiếp nhận từ tỉnh khác, đồng thời thực hiện trợ cấp tuất cho 04 trường hợp. Bên cạnh đó, chi trả trợ cấp mai táng phí cho 102 trường hợp và cấp lại 25 giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh.3. Hoạt động giáo dục:Trong tháng, ngành Giáo dục tiếp tục đạt nhiều kết quả tích cực; chất lượng giáo dục toàn diện được nâng cao, mạng lưới trường, lớp được củng cố, cơ sở vật chất được đầu tư theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa. Ngành đã triển khai hiệu quả chương trình giáo dục mầm non và phổ thông, đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và phong trào học tập suốt đời.Đặc biệt, tại Chung kết Đường lên đỉnh Olympia năm thứ 25 diễn ra ngày 26/10, em Nguyễn Nhựt Lam, học sinh Trường THPT Cái Bè, tỉnh Đồng Tháp, đã đạt giải Ba chung cuộc, ghi dấu ấn với phong thái tự tin, kiến thức vững vàng và tinh thần cầu tiến, góp phần quảng bá hình ảnh học sinh Đồng Tháp năng động, hiếu học.4. Hoạt động y tế:Trong tháng có 15/44 bệnh truyền nhiễm được ghi nhận. Cộng dồn số ca mắc có 11 bệnh tăng so cùng kỳ (Rubella, Sốt xuất huyết Dengue, Sởi, Ho gà, Thương hàn, Bệnh do vi rút Adeno, Lỵ amíp, Lỵ trực trùng, Quai bị, Thủy đậu, Viêm gan vi rút khác); 12 bệnh giảm so cùng kỳ (Bệnh do liên cầu lợn ở người, Tay - chân - miệng, Liệt mềm cấp nghi bại liệt, Lao phổi, Uốn ván khác, Viêm gan vi rút A, Viêm gan vi rút B, Viêm gan vi rút C, Viêm não Nhật Bản, Cúm, Tiêu chảy, Bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona); 21 bệnh tương đương hoặc không xảy ra ca mắc.Các bệnh truyền nhiễm ghi nhận trong tháng: bệnh Sốt - xuất - huyết ghi nhận 1.370 ca; bệnh Tay - chân - miệng ghi nhận 651 ca. Tính từ đầu năm đến nay, bệnh Sốt - xuất - huyết ghi nhận 5.118 ca, tăng 95,6% so cùng kỳ; bệnh Tay - chân - miệng ghi nhận 4.348 ca, giảm 14,6%.Phòng chống HIV/AIDS: hiện nay, toàn tỉnh ghi nhận 15.833 người nhiễm HIV; 5.051 người chuyển sang AIDS; tử vong do AIDS: 3.885 người.Tình hình khám chữa bệnh: khám chữa bệnh trong tháng cho 678.482 lượt người; trong đó, số người điều trị nội trú là 44.212 lượt người. Cộng dồn từ đầu năm đến nay, đã khám chữa bệnh cho 6.646.935 lượt người, giảm 1,0%; trong đó, số người điều trị nội trú là 383.802 lượt người, tăng 2,1%.5. Hoạt động văn hóa - thể thao:a. Hoạt động văn hóa nghệ thuật: trong tháng, các hoạt động văn hóa, nghệ thuật được tổ chức sôi nổi, góp phần tuyên truyền, giáo dục truyền thống cách mạng và bảo tồn giá trị văn hóa địa phương. Tổ chức chiếu các phim tài liệu tiêu biểu về lịch sử, cách mạng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; thực hiện chương trình “Dạ khúc tri âm” quý III năm 2025 tại Rạp Thầy Năm Tú với nhiều tiết mục đặc sắc, mang đậm bản sắc nghệ thuật sân khấu Cải lương truyền thống, góp phần phát huy giá trị Di tích văn hóa cấp tỉnh Rạp hát Thầy Năm Tú. Bên cạnh đó, tổ chức 04 chương trình nghệ thuật chào mừng Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ I tại Quảng trường Hùng Vương, gồm: âm nhạc đường phố, xiếc – ảo thuật – ca nhạc – nhảy hiện đại, Đờn ca tài tử và biểu diễn các ban nhạc.b. Hoạt động thư viện: trong tháng, hệ thống thư viện trong tỉnh phục vụ hiệu quả nhu cầu đọc và tra cứu tài liệu của người dân, thu hút 55.480 lượt người với 173.501 lượt tài liệu được phục vụ, đồng thời có 358.988 lượt truy cập trên các kênh thông tin thư viện.c. Hoạt động bảo tàng: trong tháng, công tác trưng bày, giới thiệu hiện vật và phục vụ khách tham quan được duy trì thường xuyên. Nhiều chuyên đề trưng bày được tổ chức tại Khu di tích Mộ cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, như “Ân tình xứ Nghệ”, “Hồ Chí Minh – những nét phác họa chân dung”... Khu trưng bày ngoài trời với các hiện vật lớn tiếp tục thu hút đông đảo khách tham quan.d. Hoạt động thể dục, thể thao: trong tháng, tổ chức thành công Giải Marathon Đất Sen Hồng – Đồng Tháp năm 2025 với hơn 12.000 người tham dự, tạo hiệu ứng lan tỏa rộng rãi trong và ngoài nước, góp phần quảng bá hình ảnh Đồng Tháp năng động, thân thiện và phát triển du lịch xanh.Thể thao Đồng Tháp tham dự 11 giải khu vực, quốc gia, đạt 17 HCV, 17 HCB, 34 HCĐ; tham dự 01 giải quốc tế đạt 02 HCV. Lũy kế 10 tháng năm 2025, tỉnh đã đăng cai tổ chức 06 giải cấp quốc gia và có 64 vận động viên được triệu tập vào các đội tuyển quốc gia. Tổng thành tích đạt được 575 huy chương quốc gia (126 HCV, 169 HCB, 280 HCĐ) và 58 huy chương quốc tế (35 HCV, 13 HCB, 10 HCĐ).6. Tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội (Theo báo cáo của ngành công an):Trong tháng xảy ra 118 vụ phạm tội về trật tự xã hội, giảm 52 vụ so cùng kỳ. Hậu quả là 03 người chết, 46 người bị thương, tài sản thiệt hại khoảng 02 tỷ đồng. Cơ quan chức năng đã điều tra, khám phá 109 vụ (đạt tỷ lệ 92,4%), bắt giữ và xử lý 203 đối tượng, đồng thời thu hồi tài sản trị giá khoảng 378 triệu đồng. Tính từ đầu năm đến nay, tổng số vụ phạm tội là 1.057, giảm 35,2%. Vụ việc đã làm 37 người chết, 345 người bị thương, tổng giá trị tài sản thiệt hại lên đến khoảng 517 tỷ đồng. Đã điều tra, khám phá được 882 vụ (đạt tỷ lệ 83,4%), xử lý 1.613 đối tượng.Về tội phạm ma túy trong tháng, lực lượng chức năng đã phát hiện và xử lý 69 vụ với 97 đối tượng.7. Trật tự an toàn giao thông (theo báo cáo ngành công an tỉnh, số liệu tính từ ngày 15/9/2025 đến 14/10/2025):Tai nạn giao thông đường bộ: trong tháng, xảy ra 48 vụ, tăng 02 vụ so tháng trước và giảm 01 vụ so cùng kỳ. Hậu quả làm chết 36 người (tương đương so tháng trước, tăng 02 người so cùng kỳ) và 16 người bị thương (tương đương so tháng trước, giảm 08 người so cùng kỳ). Lũy kế từ đầu năm đến kỳ báo cáo, toàn tỉnh đã xảy ra 485 vụ, giảm 63 vụ so với cùng kỳ; làm chết 357 người (giảm 36 người) và làm bị thương 225 người (giảm 57 người). Các nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông chủ yếu vẫn do ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông như: uống rượu say, điều khiển xe khi có rượu bia, phóng nhanh vược ẩu, không làm chủ tốc độ; không đi đúng phần đường, làn đường; không nhường đường, vượt đèn đỏ, thiếu quan sát…Tai nạn giao thông đường thủy: trong tháng không xảy ra. Lũy kế từ đầu năm đến kỳ báo cáo là 01 vụ (không phát sinh người chết và bị thương).8. Tình hình cháy nổ, môi trường và thiên tai:Cháy, nổ: trong tháng, trên địa bàn tỉnh xảy ra 03 vụ cháy, gây thiệt hại tài sản khoảng 287 triệu đồng. Tính từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh ghi nhận tổng cộng 22 vụ cháy, giảm 04 vụ so với cùng kỳ, số người tử vong do cháy là 05 người và tổng thiệt hại tài sản vượt mức 275 tỷ đồng.Lĩnh vực môi trường trên địa bàn tỉnh trong tháng xảy ra 04 vụ vi phạm. Từ đầu năm đến nay, xảy ra 50 vụ vi phạm môi trường, tăng 77,8% so cùng kỳ với số tiền xử phạt khoảng 997,1 triệu đồng.Tình hình thiên tai trong tháng, trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp xảy ra 10 vụ thiệt hại thiên tai, làm 01 người bị thương, tổng số tiền thiệt hại tài sản là 42.705 triệu đồng, gồm: - Mưa lớn, lũ, triều cường (03 vụ): mưa lớn kéo dài kết hợp với lũ và triều cường gây ngập úng cục bộ làm nhiều tuyến bờ bao bị tràn tại nhiều địa phương, gây nhiều thiệt hại cho sản xuất kinh doanh. Ước tính tổng số tiền thiệt hại khoảng 23.834 triệu đồng, cụ thể như sau: + Đợt 1: từ ngày 08-10/10/2025 làm tràn khoảng 07 km đê; gây ngập 375,9 ha vườn cây ăn trái; 4,4 ha hoa màu; ảnh hưởng 510 m² ao nuôi cá và 05 phòng học; với tổng thiệt hại ước khoảng 8.355 triệu đồng. + Đợt 2: từ ngày 11-14/10/2025 gây thiệt hại hoàn toàn 3,3 ha hoa màu và 88 ha lúa vừa xuống giống; ảnh hưởng 70,85 ha vườn cây ăn trái; ảnh hưởng 1,6 ha nuôi trồng thủy sản. Ước tổng thiệt hại khoảng 7.284 triệu đồng.  + Đợt 3: từ ngày 20-24/10/2025: điển hình là vỡ đê bao lớn ở khu vực xã Trường Xuân và xã Phương Thịnh, làm thiệt hại hoàn toàn 1,8 ha hoa màu, 124 ha cây ăn trái và 273 ha lúa vừa xuống giống. Ước tổng thiệt hại của đợt 3 khoảng 8.195 triệu đồng. - Mưa kèm theo giông lốc (01 vụ): làm 01 người bị thương, làm sập 07 căn nhà, tốc mái 61 căn nhà, ngoài ra làm 05 cây sầu riêng (cây từ 4 - 6 năm tuổi) bị gãy hoàn toàn; 300 cây mít (từ 2 - 4 năm tuổi) bị gãy hoàn toàn. Ước tính thiệt hại khoảng 681 triệu đồng. - Sạt lở sông Tiền (06 vụ): tổng chiều dài các điểm sạt là 333 m, trong đó có 01 vụ lớn với chiều dài sạt lở khoảng 200 m, làm ảnh hưởng đến khu vực bờ ao nuôi cá của Công ty Thanh Bình (thuộc Tập đoàn Vĩnh Hoàn) và khu đất bãi bồi ven sông với ước tính thiệt hại khoảng 10.000 triệu đồng; bên cạnh đó cùng 04 hộ dân nuôi cá diêu hồng (tổng cộng 49 vèo) với thiệt hại ước tính khoảng 8.190 triệu đồng. Ước tính tổng thiệt hại ban đầu các vụ sạt lở khoảng 18.190 triệu đồng.Cộng dồn từ đầu năm, toàn tỉnh xảy ra 48 vụ thiệt hại thiên tai, làm chết 02 người, bị thương 22 người, sập 101 căn nhà, tốc mái 732 căn, 342,5 ha lúa bị thiệt hại, 17,8 hoa màu bị hư,…. Tổng giá trị thiệt hại ước tính khoảng 85,1 tỷ đồng.