0273.3 872582 | dongthap@nso.gov.vn
Tình hình Kinh tế - Xã hội tỉnh Tiền Giang năm 2024
  •   03/01/2025 15:33

Tình hình kinh tế - chính trị thế giới năm 2024 còn diễn biến phức tạp; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gay gắt hơn. Bên cạnh đó chính sách thắt chặt tiền tệ của các nước ảnh hưởng rõ nét đến sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu. Trong nước ảnh hưởng của thiên tai, hạn hán, bão lũ,… diễn biến phức tạp của cả nước nói chung và của Tiền Giang nói riêng. Nhưng với sự chỉ đạo tập trung của Tỉnh ủy, sự điều hành quyết liệt của Ủy ban nhân dân tỉnh trong việc triển khai thực hiện đầy đủ, kịp thời và đồng bộ các chủ trương, chính sách, các giải pháp chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh ngay từ đầu năm, cùng với sự đồng thuận của cộng đồng doanh nghiệp và các tầng lớp nhân dân, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh tăng trưởng rõ nét hơn qua từng quý, quý sau cao hơn quý trước và đạt được kết quả tốt trên tất cả các lĩnh vực.I. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊU KINH TẾ1. Tăng trưởng kinh tếGiá trị tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) năm 2024 ước đạt 70.946 tỷ đồng (giá so sánh năm 2010), tăng 7,02% so với năm 2023; tăng trưởng quý sau cao hơn quý trước: quý I tăng 4,75%, quý II tăng 6,50%, quý III tăng 7,41% và quý IV tăng 9,12%, xếp hạng thứ 9/13 tỉnh trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long và hạng 43 cả nước. Phân theo khu vực kinh tế: khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản tăng 4% (cùng kỳ tăng 4,44%), khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,37% (cùng kỳ tăng 6,87%) và khu vực dịch vụ tăng 7,28% (bao gồm thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm). Nếu tách riêng thuế sản phẩm thì khu vực dịch vụ tăng 7,58% (cùng kỳ tăng 6,76%) và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 5,67% (cùng kỳ tăng 2,28%). So với cùng kỳ năm 2023 tốc độ tăng trưởng năm 2024 tăng cao hơn 1,32%.GRDP tính theo giá hiện hành đạt 137.272 tỷ đồng, tăng 11,7% so cùng kỳ, tương đương tăng 14.326 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 9,7% và xếp thứ 3/13 trong các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.GRDP bình quân đầu người đạt 76,4 triệu đồng/người/năm, tăng 7,8 triệu đồng/người/năm so năm 2023, xếp thứ 8/13 trong tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Tính theo tỷ giá USD, GRDP bình quân đầu người năm 2024 đạt 3.041 USD/người/năm, tăng 6,3%, tương đương tăng 181 USD so năm 2023 (năm 2023 đạt 2.860 USD/người/năm).Trong 7,02% tăng trưởng thì khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản đóng góp 1,42%, khu vực công nghiệp và xây dựng đóng góp 3,01%, khu vực dịch vụ đóng góp 2,27% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đóng góp 0,32%.a. Phân theo từng khu vực:Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản: (Kế hoạch đề ra năm 2024 tăng 3,5 – 3,8%);Ước tính năm 2024 tăng 4% (quý I tăng 2,37%, quý II tăng 4,66%, quý III tăng 3,85%, quý IV tăng 5,18%); tăng thấp hơn 0,44% so với năm 2023; trong đó:Ngành nông nghiệp tăng 4,31% (năm 2023 tăng 5,46%). Tình hình xâm nhập mặn năm 2024 đến sớm và xâm nhập sâu hơn cùng kỳ, Ủy ban nhân dân tỉnh đã rất quan tâm có chỉ đạo công tác phòng chống từ rất sớm; khuyến cáo nông dân tuân thủ theo lịch thời vụ, nên hầu hết diện tích gieo trồng đã được thu hoạch, tránh được tác động của hạn mặn. Với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, nông dân đã ứng dụng vào trong sản xuất lúa, tiết kiệm được chi phí, năng suất lúa bình quân cả năm 2024 đạt 62,05 tạ/ha, cao hơn cùng kỳ 0,92 tạ/ha (năm 2023 tạ 61,13 tạ/ha). Nhưng diện lúa gieo sạ năm nay chỉ đạt 120.330 ha, bằng 93% so cùng kỳ (tương đương giảm 9.059 ha)[1], làm cho sản lượng lúa cả năm giảm 5,6% so với năm 2023 (sản lượng cả năm đạt 746.880 tấn).Trong những năm qua nông dân tập trung đầu tư chuyển đổi cơ cấu cây trồng và vật nuôi theo hướng nâng cao giá trị sản phẩm. Xu hướng chuyển dịch diện tích trồng cây hàng năm sang trồng cây lâu năm, chủ yếu chuyển sang trồng cây ăn quả có giá trị kinh tế cao, nhiều loại trái cây của tỉnh đã được xây dựng thương hiệu, xuất khẩu đi các nước như: sầu riêng, thanh long, vú sữa, xoài cát Hòa Lộc… Tổng diện tích trồng cây lâu năm của tỉnh ước tính đến cuối năm 2024 đạt 113.235 ha, tăng 5,3% so với năm 2023, (tương ứng tăng 5.671 ha). Giá bán các sản phẩm trồng trọt trong năm tăng khá tốt, thu nhập người dân tăng đã kích thích nông dân tập trung đầu tư cho sản xuất, nên ngành nông nghiệp có tốc độ tăng khá so cùng kỳ.  Tình hình chăn nuôi gia súc-gia cầm trên địa bàn tỉnh Tiền Giang phát triển ổn định và có xu hướng tăng mạnh trong 6 tháng cuối năm; khu vực trang trại-doanh nghiệp phát triển tốt. Các hộ chăn nuôi đang tích cực tái đàn nhằm đảm bảo nguồn cung thực phẩm phục vụ những tháng cuối năm và Tết Nguyên đán 2025. Mặc dù dịch bệnh được kiểm soát, chỉ phát sinh một số ổ dịch nhỏ lẻ, tuy nhiên, dịch bệnh vẫn là thách thức lớn nhất của ngành chăn nuôi, đặc biệt là Dịch tả lợn Châu Phi, bệnh cúm gia cầm… làm ảnh hưởng đến tổng đàn nếu không được kiểm soát tốt. Ước tính đến cuối năm 2024 đàn bò đạt 120 ngàn con, giảm 1,6% so cùng kỳ; đàn lợn 312 ngàn con, tăng 4,0%; đàn gia cầm 16,8 triệu con, tăng 6,2% so cùng kỳ. Tốc độ tăng trưởng ngành thủy sản tăng 2,53% (năm 2023 giảm 0,43%), sản lượng thủy sản năm 2024 ước đạt 318.107 tấn, tăng 3,4% so cùng kỳ. Sản lượng nuôi trồng đạt 214.335 tấn, tăng 0,5% so cùng kỳ, sản lượng thủy sản khai thác đạt 103.772 tấn, tăng 10,2% so cùng kỳ. Nhu cầu tiêu thụ thủy sản của thị trường trong nước và phục vụ cho xuất khẩu tăng, giá cả ổn định, nên ngư dân đã tập trung đầu tư cho nuôi trồng và khai thác. Mặt khác, tại xã Kiểng Phước, Tân Điền và Tân Thành thuộc huyện Gò Công Đông diện tích mặt nước nuôi hàu khoảng 598 ha, của 73 hộ nuôi cho thu hoạch, đã góp phần làm cho ngành thủy sản tăng.Khu vực công nghiệp - xây dựng: (Kế hoạch tăng từ 11,0-11,7%) tăng 10,37% so với năm 2023 (quý I tăng 5,99%, quý II tăng 9,01%, quý III tăng 11,59%, quý IV tăng 14,23); tăng cao hơn năm 2023 là 3,5%. Tốc độ tăng trưởng các ngành trong khu vực này như sau:Tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp tăng 10,01% (cùng kỳ tăng 5,51%); đạt được kết quả trên đó là sự quan tâm chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh cùng các ngành các cấp thường xuyên tổ chức các Hội nghị tiếp xúc doanh nghiệp, nắm bắt tâm nguyện vọng, những khó khăn của doanh nghiệp, kịp thời đưa ra các giải pháp hiệu quả giúp công nghiệp của tỉnh nhà tăng cao. Sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh tăng trưởng tốt, tốc độ tăng trưởng quý sau luôn cao hơn quý trước (quý I tăng 4,99%, quý II tăng 8,57%, quý III tăng 11,73% và quý IV tăng 14,51%), đóng góp 2,36% trong 7,02% tăng trưởng của tỉnh. Một số ngành chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị công nghiệp có tốc độ tăng trưởng khá như: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 14,32% (chiếm tỷ trọng 24,8% trong tổng giá trị gia tăng của ngành công nghiệp); Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 13,30% (chiếm 21%); Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 20,72% (chiếm 9,3%); Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 12,89% (chiếm 4,8%)...Tuy nhiên cũng có một số ngành do khó khăn về thị trường tiêu thụ nên sản xuất trong năm giảm so với cùng kỳ như: sản xuất trang phục giảm 16,91% (chiếm 5,7%); ngành dệt giảm 6,54% (chiếm 1,7%); sản xuất đồ uống giảm 7,63% (chiếm 1%); sản xuất công nghiệp chế biến chế tạo khác giảm 17,21% (chiếm 1,4%)... Ngành xây dựng tăng 11,97%, là một trong những ngành có tốc độ tăng trưởng tốt nhất trong năm 2024 (chiếm tỷ trọng 4,9% trong GRDP), là ngành trong 03 năm liên tiếp tăng trưởng trên 10% (năm 2022 tăng 10,25%, năm 2023 tăng 13,23%). Đạt được kết quả trên là do lãnh đạo tỉnh chú trọng giao vốn sớm cho các chủ đầu tư ngay từ tháng 12 năm 2023 và thường xuyên kiểm tra, đôn đốc tiến độ thực hiện của các dự án, nhất là các dự án thuộc chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội. Trên địa bàn tỉnh có nhiều công trình trọng điểm của địa phương và trung ương đang được triển khai thi công, cộng với sự tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt trong việc giải quyết những khó khăn, vướng mắt, đẩy nhanh tiến độ đầu tư công đã góp phần làm cho hoạt động xây dựng trên địa bàn tỉnh tăng khá so cùng kỳ.Khu vực dịch vụ: (Kế hoạch tăng từ 7,0-7,5%) tăng 7,28% (bao gồm thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm); Nếu tách riêng thuế sản phẩm thì khu vực dịch vụ tăng 7,58%. Kinh tế của tỉnh dần hồi phục sau dịch Covid -19, công nhân có việc làm ổn định, cộng với việc nâng lương cơ sở từ ngày 01/7/2024, thu nhập của người lao động tăng làm cho hoạt động thương mại và dịch trên địa bàn tỉnh tiếp tục tăng trưởng mạnh. Tất cả các ngành trong khu vực này đều tăng so với cùng kỳ, giá cả hàng hóa trong năm được kiểm soát tốt, không xảy ra tình trạng nâng giá bất hợp lý, hàng hóa dồi dào, đáp nhu cầu tiêu dùng của nhân dân. Một số ngành tăng khá như: bán buôn và bán lẽ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy tăng 9,03%; Vận tải kho bãi tăng 15,99%; Dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 15,17%; Hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 12,43%... thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 5,67% so cùng kỳ.b. Cơ cấu kinh tế:Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 37,1% (cùng kỳ 37,2%); khu vực công nghiệp, xây dựng chiếm 27,7% (cùng kỳ 27,5%); khu vực dịch vụ chiếm 29,8%, tương đương so cùng kỳ; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 5,4% (cùng kỳ chiếm 5,5%). 2. Tài chính - Ngân hànga. Tài chính: Từ cuối năm trước tình hình kinh tế còn nhiều khó khăn thách thức như: thiên tai; biến đổi khí hậu; các yếu tố chi phí đầu vào tăng... tác động đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và đời sống người dân; Dự báo được tình hình khó khăn, ngay từ đầu năm 2024 Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Chỉ thị số 01/CT-UBND ngày 22/01/2024 về việc tăng cường công tác thu ngân sách nhà nước năm 2024 và được sự chỉ đạo xuyên suốt của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân tỉnh trong việc tháo gỡ các khó khăn cho doanh nghiệp và Nhân dân, một số khoản thu ngân sách đạt được kết quả tăng hơn so cùng kỳ.- Thu ngân sách nhà nước: năm 2024 ước thu ngân sách nhà nước trên địa bàn được 11.785 tỷ đồng, đạt 133,9% dự toán và tăng 15,2% so cùng kỳ; trong đó: thu nội địa 11.400 tỷ đồng, đạt 133,6% dự toán, tăng 14,7% so cùng kỳ.Có 10/11 huyện, thành thị có tỷ lệ thu cả năm vượt dự toán, các đơn vị có tỷ lệ thu đạt cao hơn so cùng kỳ [2] .Một số khoản thu đạt và vượt so với dự toán năm như: thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 3.322 tỷ đồng, đạt 159,7% dự toán năm, tăng 9,5% so với cùng kỳ; thu từ khu vực công thương nghiệp - ngoài quốc doanh là 1.988 tỷ đồng, đạt 64,3% so với dự toán và tăng 46,4% so cùng kỳ; thu xổ số kiến thiết là 2.004 tỷ đồng, đạt 109,5% dự toán, tăng 4,7% so cùng kỳ năm trước…- Chi ngân sách nhà nước: năm 2024 ước chi 21.990 tỷ đồng, đạt 152,1% dự toán, tăng 28,1% so cùng kỳ. Một số khoản chi cụ thể như: chi đầu tư phát triển là 5.666 tỷ đồng, đạt 116% dự toán năm, giảm 7,8% so cùng kỳ; chi thường xuyên là 9.432 tỷ đồng, đạt 103,1% so với dự toán, tăng 11,6% so với cùng kỳ [3].b. Ngân hàng:Ngân hàng trên địa bàn tỉnh tiếp tục giữ nguyên các mức lãi suất điều hành nhằm tạo điều kiện cho các (TCTD) tiếp cận nguồn vốn góp phần hỗ trợ nền kinh tế. Kết quả một số chỉ tiêu tính đến 31/12/2024 như:- Về huy động vốn: Ước đến 31/12/2024 đạt 104.759 tỷ đồng, tăng 7.877 tỷ, tỷ lệ tăng 8,13% so với cuối năm 2023, đạt 100,12% kế hoạch.- Về dư nợ: Ước đến cuối năm 2024 toàn tỉnh thực hiện 105.847 tỷ đồng, tăng 8.543 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 8,78% so với cuối năm 2023, đạt 87,72% kế hoạch năm 2024.- Nợ xấu: đến cuối tháng 10/2024, nợ xấu là 2.212,4 tỷ đồng, tỷ lệ là 2,16% trên tổng dư nợ, tăng 0,55% so cuối năm 2023. Nợ xấu đang diễn biến theo chiều hướng tăng nhưng nằm trong sự kiểm soát, nguyên nhân chủ yếu do khách hàng hoạt động sản xuất kinh doanh kém hiệu quả.- Quỹ tín dụng nhân dân: Tổng nguồn vốn huy động đến cuối tháng 10/2024 là 1.716,1 tỷ đồng, tăng 11,01% so với cuối năm 2023; đáp ứng nhu cầu cho 9.101 lượt thành viên vay vốn với tổng dư nợ đạt 1.260 tỷ đồng, tăng 10,1% so với cuối năm 2023; chất lượng tín dụng tốt, tỷ lệ nợ xấu ở mức thấp 0,29%, giảm 0,05% so với cuối năm trước.3. Giá cả, lạm phátChỉ số giá tiêu dùng bình quân 12 tháng năm 2024 so cùng kỳ năm trước tăng 4,03% (khu vực thành thị tăng 3,75% và khu vực nông thôn tăng 4,10%); một số nhóm hàng có chỉ số giá tăng trong năm 2024 so cùng kỳ như: nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 8,42%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 5,91% (trong đó, dịch vụ khám sức khỏe tăng 6,85%); hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,62% (trong đó, tăng cao nhất là nhóm hàng lương thực tăng 16,19%; kế đến là ăn uống ngoài gia đình tăng 6,04% và nhóm thực phẩm tăng 3,21%); Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,39%.... Có hai nhóm giảm: nhóm hàng bưu chính viễn thông giảm 0,61% và nhóm giao thông giảm 0,51% so cùng kỳ đã kiềm hãm tốc độ tăng.Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ:- Chỉ số giá vàng 24 kara Ngọc Thẩm trong tháng 12/2024 giảm 1,69% so tháng trước, giá bình quân tháng 12/2024 là 8.471 ngàn đồng/chỉ, tăng 2.293 ngàn đồng/chỉ so cùng kỳ. - Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng 12/2024 giảm 0,01% so tháng trước, giá bình quân 25.730 đồng/USD, so cùng kỳ tăng 1.304 đồng /USD. 4. Đầu tư và Xây dựngTrong năm tập trung điều kiện đẩy nhanh tiến độ thi công đối với các công trình chuyển tiếp, đồng thời hoàn chỉnh hồ sơ, đấu thầu đưa vào chuẩn bị khởi động xây dựng các công trình mới, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công kịp thời, đây là nguồn lực quan trọng để khôi phục kinh tế xã hội, nỗ lực phấn đấu cao nhất thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội năm 2024. Vốn đầu tư toàn xã hội năm 2024 ước thực hiện 51.100 tỷ đồng, đạt 101,4% kế hoạch, tăng 10,9% so cùng kỳ. Phân theo thành phần: vốn đầu tư của dân cư và tư nhân 31.141 tỷ đồng, tăng 19,4%, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 4.820 tỷ đồng, giảm 15,4%, vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước 15.139 tỷ đồng, tăng 6% so cùng kỳ. Phân theo nguồn vốn: vốn nhà nước trên địa bàn 15.139 tỷ đồng, chiếm 39,6% và tăng 6% so cùng kỳ; vốn ngoài nhà nước đạt 35.961 tỷ đồng, chiếm 70,4% tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội. Vốn đầu tư từ nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý năm 2024 là 6.546 tỷ đồng, đạt 96,3% kế hoạch, giảm 4,6% so cùng kỳ; gồm có: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 5.558 tỷ đồng, giảm 5,7%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện 832 tỷ đồng, tăng 51%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 156 tỷ đồng,bằng 37,5% so cùng kỳ. - Tình hình thu hút đầu tư: Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của tỉnh Tiền Giang năm 2023 đạt được 66,8 điểm, xếp hạng 29 tăng 21 bậc so với năm 2022. Chỉ số đã cho thấy cộng đồng doanh nghiệp đánh giá cao những nỗ lực tích cực trong việc cải thiện môi trường kinh doanh so với trước đây. - Tình hình phát triển các khu, cụm công nghiệp:Năm 2024 tình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp trong các khu - cụm công nghiệp đạt kế hoạch đề ra. Các doanh nghiệp trong khu - cụm công nghiệp duy trì hoạt động và ổn định sản xuất; một số doanh nghiệp bổ sung thêm nguồn vốn đầu tư, điều chỉnh mục tiêu hoạt động, tiến độ thực hiện dự án để phù hợp với tình hình phát triển sản xuất.+ Khu công nghiệp: Trong năm 2024, các KCN thu hút 03 dự án doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (FDI), 01 dự án doanh nghiệp đầu tư trong nước tương đương so với cùng kỳ; tổng vốn đầu tư đăng ký là 24 triệu USD và 40 tỷ đồng, tăng 21,3% so với cùng kỳ và cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 01 dự án. Đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng KCN Tân Phước 1 với tổng vốn đầu tư 5.936,5 tỷ đồng. Ngoài ra điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 39 lượt dự án, tăng 39,3% so với cùng kỳ; trong đó, có 08 lượt dự án điều chỉnh tăng vốn đầu tư với tổng vốn đầu tư tăng thêm là 280,58 triệu USD tăng 1,5 lần so với cùng kỳ. Đến nay các KCN thu hút được 111 dự án (trong đó có 83 dự án FDI) với tổng vốn đầu tư trên 2,8 tỷ USD và 4.527 tỷ đồng; diện tích cho thuê 551,93/1.116,03 ha, chiếm 49,5%.+ Về cụm công nghiệp: Trong năm không thu hút dự án đầu tư mới, tổng số dự án đầu tư tại các cụm công nghiệp hiện nay là 68 dự án (trong đó: có 6 dự án đầu tư nước ngoài) với tổng vốn đầu tư 0,2 tỷ USD và 998,2 tỷ đồng, diện tích thuê đất là 45,7/77,6 ha, tỷ lệ lấp đầy đạt 58,9%.5. Tình hình phát triển của doanh nghiệpTheo báo cáo Sở kế hoạch - Đầu tư, đến hết tháng 11 toàn tỉnh có 849 doanh nghiệp mới thành lập mới, tăng 3,8%, với tổng vốn đăng ký 4.812 tỷ đồng, đạt 95,4% kế hoạch; giảm 2,6% so cùng kỳ; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp là 5,7 tỷ đồng/doanh nghiệp. Có 803 đơn vị trực thuộc thành lập mới, tăng 2,9% so cùng kỳ và 166 doanh nghiệp hoạt động trở lại; ngoài ra còn có 247 doanh nghiệp tăng vốn điều lệ, vốn đầu tư với tổng vốn tăng thêm 8.000 tỷ đồng. Bên cạnh đó có 146 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn, tăng 7,3% so cùng kỳ; 119 doanh nghiệp hoàn tất giải thể, tương đương cùng kỳ; 148 đơn vị trực thuộc chấm dứt hoạt động, giảm 40,6% so cùng kỳ. Lũy kế đến cuối tháng 11/2024, toàn tỉnh có 6.246 doanh nghiệp và 5.636 đơn vị trực thuộc doanh nghiệp đang hoạt động. Ước thực hiện năm 2024, có 913 doanh nghiệp mới thành lập mới, đạt 102,6% kế hoạch, tăng 4,3% so cùng kỳ; tổng vốn đăng ký 5.056,9 tỷ đồng; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp là 5,5 tỷ đồng/doanh nghiệp. Chia theo ngành kinh tế: bán buôn và bán lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác là 470 doanh nghiệp, chiếm 51,5% tổng số doanh nghiệp đăng ký; kế đến công nghiệp chế biến chế tạo 119 doanh nghiệp, chiếm 13%.... Bên cạnh đó có 154 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn và 125 doanh nghiệp giải thể. Ước tính đến cuối năm 2024, tổng số doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn khoảng 6.400 doanh nghiệp.6. Sản xuất Nông - Lâm nghiệp và Thủy sảna. Nông nghiệp:Năm 2024 xâm nhập mặn đến sớm và xâm nhập sâu hơn cùng kỳ, nhưng chủ động từ sớm, từ xa trong công tác phòng, chống mặn và khuyến cáo nông dân tuân thủ theo lịch thời vụ, nên hầu hết diện tích gieo trồng đã được thu hoạch, tránh được tác động của hạn mặn. Tình hình dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi và thủy sản được kiểm soát thường xuyên và hiệu quả. Một số kết quả đạt được sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản như sau:* Trồng trọt:Cây lương thực có hạt: gieo trồng 122.609 ha, đạt 107,6% kế hoạch; sản lượng thu hoạch 755.544 tấn, đạt 107,7% kế hoạch và giảm 5,5% so cùng kỳ. Cụ thể:- Cây lúa: gieo sạ 120.330 ha, đạt 107,8% kế hoạch và giảm 7% so cùng kỳ; năng suất bình quân đạt 62,1 tạ/ha, tăng 1,5%; thu hoạch 100% diện tích với sản lượng 746.880 tấn, giảm 5,6% do diện tích gieo sạ giảm 7%; bao gồm các vụ:+ Vụ Đông Xuân 2023 - 2024: chính thức gieo trồng được 44.883 ha, đạt 100,4% kế hoạch, giảm 6,9%, tương đương giảm 3.319 ha so cùng kỳ; năng suất thu hoạch bình quân đạt 70,2 tạ/ha, tăng 0,6% (tăng 0,4 tạ/ha) so cùng kỳ; thu hoạch 100% diện tích với sản lượng 315.030 tấn, giảm 6,3% (giảm 21.287 tấn) do diện tích gieo trồng giảm 6,9% so cùng kỳ. Diện tích gieo trồng giảm do chuyển đổi 2.577,2 ha đất trồng lúa sang đất cây lâu năm, 659,3 ha trồng cây hàng năm khác, 57,9 ha đất phi nông nghiệp (xây dựng, cơ sở hạ tầng,..), 23,8 ha không sản xuất và một ha đất nuôi trồng thủy sản. Diện tích gieo trồng giảm hầu hết ở các huyện + Vụ Hè Thu 2024 (Xuân Hè và Hè Thu): diện tích gieo trồng chính thức 62.885 ha (bao gồm: vụ Xuân Hè 19.980 ha và Hè Thu 42.905 ha), đạt 96,5% kế hoạch, giảm 7,9% so cùng kỳ, tương ứng giảm 5.423 ha; thu hoạch 100% diện tích với sản lượng 361.553 tấn, giảm 5,7% so cùng kỳ; năng suất thu hoạch bình quân đạt 57,5 tạ/ha, tăng 2,5% so cùng kỳ. Diện tích gieo trồng giảm do chuyển đổi sang đất trồng cây lâu năm là 5.133 ha, cây hàng năm khác là 362 ha, nuôi trồng thủy sản là 8 ha và đất phi nông nghiệp là 4,5 ha. Diện tích gieo trồng giảm hầu hết ở các huyện + Vụ Thu Đông 2024: chính thức gieo trồng 12.562 ha, giảm 2,5% so cùng kỳ [6]; thu hoạch 100% diện tích với năng suất thu hoạch bình quân 56,0 tạ/ha, tăng 1,0% so cùng kỳ, tương đương tăng 0,6 tạ/ha; sản lượng 70.297 tấn, giảm 1,5% so cùng kỳ do diện tích gieo trồng giảm 2,5%.- Cây ngô: diện tích gieo trồng đạt 2.270 ha, tăng 0,6% so cùng kỳ; thu hoạch 100% diện tích; năng suất bình quân đạt 38,1 tạ/ha, tăng 2,5%; sản lượng đạt 8.640 tấn, tăng 3,1%.Cây rau đậu các loại: gieo trồng được 41.887 ha, giảm 7,7% so cùng kỳ, tương ứng giảm 3.477 ha; thu hoạch 100% diện tích với sản lượng 1.002.091 tấn, giảm 3,5% so cùng kỳ. Trong đó: rau các loại 41.634 ha, giảm 7,7%; thu hoạch 100% diện tích với sản lượng 1.001.310 tấn, giảm 3,5%. Cây lâu năm: diện tích cây lâu năm toàn tỉnh hiện có là 113.235 ha, đạt 106,2% KH (KH 106.595 ha), tăng 5,3% so cùng kỳ, tương ứng tăng 5.671 ha. Trong đó: diện tích cây ăn quả là 88.375 ha, chiếm 78% trong tổng diện tích cây lâu năm, đạt 103,9% KH (KH 85.030 ha), tăng 5% so cùng kỳ, tương ứng tăng 4.182,8 ha, diện tích cây ăn quả tăng chủ yếu ở các loại cây: đu đủ tăng 18 ha, dứa/khóm tăng 125 ha, sầu riêng tăng 2.795 ha, mít tăng 1.017 ha và cây ổi tăng 269 ha,… Tổng sản lượng thu hoạch cây lâu năm đạt 2.291.247 tấn, đạt 112,5% KH (2.036.960 tấn), tăng 8,9% so cùng kỳ, tương ứng tăng 188.114 tấn. Trong đó sản lượng thu hoạch cây ăn quả đạt 1.895.152 tấn, tăng 7,5% so cùng kỳ, tương ứng tăng 131.459 tấn.* Chăn nuôi: tổng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh có xu hướng tăng, ước thời điểm 01/12/2024: đàn bò 120 ngàn con, giảm 1,6%; đàn lợn 312 ngàn con, tăng 4,0%; đàn gia cầm 16,8 triệu con, tăng 6,2% so cùng kỳ năm trước.b. Lâm nghiệp:Tổng diện tích rừng hiện có 1.606 ha (không bao gồm diện tích rừng thuộc đất an ninh quốc phòng), bao gồm: rừng phòng hộ 1.317 ha trồng ở huyện Gò Công Đông 381 ha; huyện Tân Phú Đông 884 ha và huyện Tân Phước 52 ha và rừng sản xuất là 289 ha. Trong năm, thực hiện trồng mới được 486 ngàn cây phân tán, giảm 13,8% so cùng kỳ. Cây trồng chủ yếu cây bạch đàn, tràm bông vàng trên các tuyến đường đi lấy bóng mát, xung quanh các tuyến đê bao, trồng cặp ven bờ sông chống sạt lở đất ở các huyện Cái Bè, Cai Lậy, Tân Phú Đông. Sản lượng khai thác gỗ đạt 30.726 m3, giảm 6,3% so cùng kỳ. Các loại gỗ được khai thác chủ yếu từ các loại cây như: bạch đàn cao sản, dầu gió, tràm bông vàng (tràm lanh). Nguyên nhân giảm là do người dân chuyển đổi sang trồng các loại cây ăn quả có hiệu quả kinh tế cao hơn như sầu riêng, mít, chanh, thanh long, dừa, khóm (dứa). Sản lượng khai thác củi được 97.597 Ste củi các loại, giảm 5,8% so cùng kỳ. c. Thủy sản: Tổng số diện tích nuôi trồng thủy sản các loại trong năm 2024 đạt 16.739 ha, đạt 113,9% kế hoạch, tăng 11,3% so cùng kỳ; bao gồm: diện tích nuôi tôm đạt 8.963 ha, tăng 6,7%; diện tích nuôi cá đạt 4.540 ha, tăng 26,6%; diện tích nuôi thủy sản khác đạt 3.236 ha, tăng 5,8%. Ngoài ra, diện tích Hàu được nuôi hiện nay ở vùng ven biển huyện Gò Công Đông gồm có 3 xã: Kiểng Phước, Tân Điền và Tân Thành với 4.202 dây hàu nuôi tự phát trên tổng diện tích mặt nước nuôi 598 ha của 73 hộ; số lao động thường xuyên 182 người và 86 phương tiện (ghe....); tổng sản lượng hàu thu hoạch đến cuối năm 2024 ước tính 878 tấn hàu/172 ha mặt nước với giá bình quân 27,8 nghìn đồng/kg. Năm 2024, tổng sản lượng thủy sản đạt 318.107 tấn, tăng 3,4% so cùng kỳ; trong đó: sản lượng từ nuôi 214.335 tấn, tăng 0,5%; sản lượng khai thác 103.772 tấn, tăng 10,2%. d. Nông thôn mới: (Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)Đến cuối năm 2024, toàn tỉnh có 135/135 (100%) xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới; có thêm 16 xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, lũy kế đạt 66/135 xã (48,9%); 08 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu, lũy kế đạt 12 xã (8,9%); 02 huyện đạt chuẩn huyện nông thôn mới, lũy kế đạt 8/8 huyện đạt chuẩn huyện nông thôn mới; 02 huyện đạt chuẩn huyện nông thôn mới nâng cao. 7. Sản xuất công nghiệpTình hình sản xuất công nghiệp của tỉnh tăng hơn so cùng kỳ, Các mặt hàng chủ lực của tỉnh chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh tăng cao, do đơn đặt hàng tăng. Một số ngành công nghiệp có tỷ trọng nhỏ sản xuất ổn định và tăng góp phần vào tăng trưởng chung của toàn ngành.Chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2024 tăng 12,44% so cùng kỳ; trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,55% (một số ngành có chỉ số tăng mạnh như: sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 58,76%; sản xuất thiết bị điện tăng 37,14%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 36,66%;...); ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 12,48%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,33% so cùng kỳ. Sản phẩm sản xuất công nghiệp năm 2024: có 38/54 sản phẩm tăng so cùng kỳ như: dịch vụ sản xuất thiết bị điện chiếu sáng tăng 80,4%; dây thép không gỉ tăng 70,1%; thanh, que bằng thép hợp kim rỗng tăng 57,7%; lốp hơi mới bằng cao su, loại dùng cho xe buýt, xe tải hoặc máy bay tăng 52,4%; phi lê đông lạnh tăng 47,9%; điện thương phẩm tăng 10,4%;... Tuy nhiên vẫn còn một số ngành gặp khó khăn như: sản xuất đồ uống, ngành dệt... do đơn hàng xuất khẩu giảm. Có 16/54 sản phẩm giảm so cùng kỳ: màn bằng vải khác giảm 70,5%; thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng viên giảm 36,7%; bia đóng chai giảm 19,1%; cấu kiện làm sẵn cho xây dựng hoặc kỹ thuật dân dụng, bằng xi măng, bê tông hoặc đá nhân tạo giảm 7,8%; giày, dép thể thao có mũ bằng da và có đế ngoài giảm 7,6%; Thức ăn cho thủy sản giảm 5,6%; các sản phẩm bằng vật liệu tết bện khác giảm 3,6%; cửa ra vào, cửa sổ bằng sắt, thép giảm 2,4%; phân vi sinh giảm 1,7%;… * Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: - Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cộng dồn từ đầu năm đến cuối tháng 12 năm 2024 tăng 14,76%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 23,73%, trong đó sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thuỷ sản tăng 3,29%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 20,64%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 47,41%; sản xuất sản phẩm cao su và plastic tăng 21,59%; sản xuất kim loại tăng 6,92%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 49,59%; sản xuất thiết bị điện tăng 43,92%, trong đó sản xuất dây cáp, dây điện và điện tử khác tăng 59,53%;…Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm so cùng kỳ là: sản xuất đồ uống giảm 4,88%, trong đó sản xuất bia giảm 4,88%; dệt giảm 6,49%; sản xuất trang phục giảm 10,32%; sản xuất da giảm 0,82%, trong đó sản xuất giày dép giảm 2,83%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ giảm 3,93%;... - Chỉ số tồn kho tháng 12/2024 so tháng trước tăng 23,61% và tăng 17,03% so với cùng kỳ. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so với cùng kỳ: sản xuất trang phục tăng 47,66%; sản xuất da tăng 23,52%, trong đó sản xuất giày dép tăng 25,38%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 0,36%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 7,71%; sản xuất kim loại tăng 62,48%; chế biến, chế tạo khác tăng 17,47%, trong đó sản xuất đồ chơi, trò chơi tăng 17,47%;… Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tồn kho giảm so cùng kỳ là: sản xuất chế biến thực phẩm giảm 6,27%, trong đó chế biến, bảo quản thủy sản giảm 38,84%; dệt giảm 6,87%; sản xuất thiết bị điện giảm 68,68%, trong đó sản xuất mô tơ điện giảm 71,67%;…8. Thương mại, dịch vụa. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng:Hoạt động kinh doanh trên địa bàn tỉnh diễn ra ổn định và tăng hơn so cùng kỳ, lượng hàng hóa dồi dào, các đơn vị kinh doanh chủ động dự trữ hàng hóa để phục vụ nhu cầu mua sắm của người dân trong các dịp lễ, Tết. Giá cả hàng hóa ổn định đã đáp ứng tốt nhu cầu của người tiêu dùng.Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng năm 2024 là 89.250 tỷ đồng, đạt 100,3% kế hoạch, tăng 8,8% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 68.375 tỷ đồng, tăng 8%; lưu trú, ăn uống 8.936 tỷ đồng, tăng 22,7%; du lịch lữ hành 215 tỷ đồng, tăng 18,9%; dịch vụ tiêu dùng 11.723 tỷ đồng, tăng 4,4% so cùng kỳ.b. Xuất - Nhập khẩu (Theo báo cáo Sở Công Thương) Nhờ thực hiện tích cực các biện pháp nhằm tháo gỡ khó khăn để hỗ trợ sản xuất trong nước, xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường trong nước và xuất khẩu được triển khai mạnh mẽ, xuất khẩu năm 2024 đạt kết quả rất khả quan.* Xuất khẩu:Giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng hóa năm 2024 ước đạt 6 tỷ USD, đạt 120% kế hoạch, tăng 10% so cùng kỳ. Thị trường xuất khẩu chủ yếu của tỉnh như: Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của tỉnh, chiếm 21,7%; tiếp đến là thị trường Ấn Độ chiếm 11,8%; Nga chiếm 7,5%; Trung Quốc chiếm 5,9%; Hàn Quốc chiếm 4,7%; Đức chiếm 3,6%; Singapore chiếm 3,1%; Anh chiếm 3%; Nhật Bản chiếm 2,7%;,… tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa.* Nhập khẩu:Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa năm 2024 ước đạt hơn 3 tỷ USD, đạt 120% kế hoạch, tăng 11,7% so với cùng kỳ.c. Vận tải:Tiếp tục duy trì hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về vận tải trên địa bàn tỉnh. Tổ chức kiểm tra, giám sát các bến xe, các doanh nghiệp kinh doanh vận tải trong việc chấp hành các quy định của pháp luật về điều kiện kinh doanh vận tải và dịch vụ vận tải. Kết quả đạt được trong năm 2024 như sau:Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải thực hiện 3.005 tỷ đồng, tăng 20% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 775 tỷ đồng, tăng 20% so cùng kỳ; vận tải hàng hóa thực hiện 1.951 tỷ đồng, tăng 21% so cùng kỳ. Vận tải đường bộ thực hiện 672 tỷ đồng, tăng 19,3%; vận tải đường thủy thực hiện 102 tỷ đồng, tăng 21,9%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 278 tỷ đồng, tăng 14,4% so cùng kỳ.Vận chuyển hành khách 20.751 ngàn hành khách, tăng 20,6% và luân chuyển 649.062 ngàn hành khách.km, tăng 22,1% so cùng kỳ; trong đó: vận chuyển đường bộ 8.651 ngàn hành khách, tăng 19,2% và luân chuyển 635.105 ngàn hành khách.km, tăng 22,1% so cùng kỳ; vận chuyển đường thủy 12.100 ngàn hành khách, tăng 21,6% và luân chuyển 13.957 ngàn hành khách.km, tăng 21,1% so cùng kỳ.Vận tải hàng hóa 19.196 ngàn tấn, tăng 21,2% và luân chuyển 3.743.716 ngàn tấn.km, tăng 20,2% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ thực hiện 2.688 ngàn tấn, tăng 20,9% và luân chuyển được 636.188 ngàn tấn.km, tăng 16,4% so cùng kỳ; vận tải đường thủy thực hiện 16.508 ngàn tấn, tăng 21,3% và luân chuyển 3.107.528 ngàn tấn.km, tăng 20,9% so cùng kỳ. d. Du lịch: Nhằm phục hồi và phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh ngành Văn hóa thể thao du lịch tỉnh Tiền Giang tăng cường quảng bá hình ảnh du lịch điểm đến an toàn. Ngoài ra tỉnh có nhiều chính sách mở cửa kịp thời thông thoáng, thực hiện nhiều giải pháp có hiệu quả, quá trình phục hồi ngành du lịch Tiền Giang có những chuyển biến tích cực và đạt nhiều kết quả khả quan.Năm 2024, lượng khách du lịch đến tỉnh 1.640 ngàn lượt, đạt 99,4% kế hoạch, tăng 18,1% so cùng kỳ; trong đó khách quốc tế 504 ngàn lượt, đạt 91,6% kế hoạch, tăng 19,8% so cùng kỳ. Doanh thu hoạt động lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành 9.151 tỷ đồng, tăng 22,6% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống chiếm 97,6%, tương đương 8.936 tỷ đồng.e. Bưu chính - Viễn thông: Doanh thu bưu chính - viễn thông đến cuối tháng 12/2024 đạt 3.766 tỷ đồng, đạt 122,2% kế hoạch và tăng 5,1% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính 332 tỷ đồng, đạt 103,8% kế hoạch, tăng 3,7% so cùng kỳ, doanh thu viễn thông 3.434 tỷ đồng, đạt 146% kế hoạch, tăng 5,24% so cùng kỳ.Tổng số thuê bao điện thoại trên mạng ước đến cuối năm 2024 là 132.606 thuê bao, mật độ bình quân đạt 7,41 thuê bao/100 dân (chỉ tính thuê bao cố định và di động trả sau). Tổng số thuê bao internet trên mạng đến cuối năm 2024 là 419.385 thuê bao, mật độ internet bình quân ước đạt 23,42 thuê bao/100 dân. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI1. Lao động, giải quyết việc làma. Một số chỉ tiêu về dân số:Ước tính năm 2024, dân số trung bình tỉnh Tiền Giang là 1.796.065 người, tăng 0,3% so cùng kỳ năm trước; dân số nam là 884.385 người, tăng 0,3% và chiếm 49,2%; dân số nữ là 911.680 người, tăng 0,3% và chiếm 50,8%.Dân số thành thị là 302.556 người, tăng 10,6% và chiếm 16,8%; dân số nông thôn là 1.493.509 người, giảm 1,5% và chiếm 83,2%.b. Tư vấn và giới thiệu việc làm:Trong năm, thực hiện tư vấn nghề, việc làm, pháp luật lao động và tư vấn khác cho 20.661 lượt lao động, giảm 28,2% so cùng kỳ, đạt 103,3% kế hoạch. Trong đó: tư vấn nghề cho 731 lượt lao động; tư vấn việc làm cho 2.899 lượt lao động; tư vấn việc làm cho 16.513 lượt lao động thất nghiệp; tư vấn pháp luật lao động và tư vấn khác cho 518 lượt lao động. Giới thiệu việc làm cho 3.253 lượt lao động, giảm 5,2% so cùng kỳ, đạt 108,4% kế hoạch, trong đó có 1.463 lao động có được việc làm ổn định, giảm 7,3% so cùng kỳ.Trong năm, ghi nhận 18.426 lao động đăng ký hưởng trợ cấp thất nghiệp, giảm 21,3% so cùng kỳ; có 17.971 lao động được hưởng trợ cấp thất nghiệp, giảm 23,5% so cùng kỳ với tổng số tiền chi trả khoảng 391,2 tỷ đồng, giảm 26,6% so cùng kỳ.Người lao động đi làm việc nước ngoài trong năm, tư vấn đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài cho 908 lượt lao động; có 502 người xuất cảnh đi làm việc ở nước ngoài qua các thị trường như: Nhật Bản 388 lao động; Đài Loan 68 lao động; Canada 14 lao động; Hàn Quốc 09 lao động và Mỹ 09 lao động… giảm 1,2% so cùng kỳ, đạt 125,5% kế hoạch năm.Trong năm, số vụ ngừng việc, đình công tập thể ghi nhận 06 vụ, tại 05 doanh nghiệp, tăng 20% so cùng kỳ. Các sở, ngành, địa phương, doanh nghiệp đã phối hợp tổ chức cuộc đối thoại với người lao động nên các vụ ngừng việc đã được giải quyết ổn thỏa.c. Tình hình thiếu việc làm, thất nghiệp:Năm 2024, tỷ lệ lao động thiếu việc làm là 7,13%, tăng 0,32 điểm phần trăm so cùng kỳ năm trước (từ 6,81% năm 2023 lên 7,13% năm 2024). Tỷ lệ thiếu việc làm khu vực thành thị là 8,60%, giảm 0,77 điểm phần trăm (từ 9,37% năm 2023 xuống 8,60% năm 2024) và tỷ lệ thiếu việc làm khu vực nông thôn là 6,45%, tăng 0,75 điểm phần trăm (từ 5,70% năm 2023 lên 6,45% năm 2024). Năm 2024, tỷ lệ thất nghiệp của tỉnh là 1,18%, giảm 0,09 điểm phần trăm so với cùng kỳ (từ 1,27% năm 2023 xuống 1,18% năm 2024). Tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị là 1,85%, giảm 0,50 điểm phần trăm (từ 2,35% năm 2023 xuống 1,85% năm 2024) và tỷ lệ thất nghiệp khu vực nông thôn là 0,88%, tăng 0,09 điểm phần trăm (từ 0,79% năm 2023 lên 0,88% năm 2024). Tỷ trọng thất nghiệp khu vực thành thị năm 2024 chiếm 49,33% so với tổng số lao động thất nghiệp của toàn tỉnh.2. Đời sống dân cư và an sinh xã hội:a. Đời sống dân cư:Tình hình sản xuất nông nghiệp gặp không ít khó khăn các mặt hàng nông sản luôn biến động, một số sản phẩm chăn nuôi có giá bán không ổn định. Tình hình xâm nhập mặn mùa khô 2023-2024 trên địa bàn tỉnh xuất hiện sớm, duy trì cao và liên tục tác động không nhỏ đến sản xuất và đời sống người dân. Được sự quan tâm của lãnh đạo tỉnh cùng với đoàn thể các cấp đã kịp thời có những chính sách hỗ trợ như tổ chức dạy nghề, giới thiệu, giải quyết việc làm giúp người dân khôi phục sản xuất, ổn định cuộc sống. Tổng số lao động đang làm việc tại các doanh nghiệp trong KCN là 88.664 lao động (1.056 lao động nước ngoài), tăng 4,7% so với cùng kỳ. Dự kiến trong 6 tháng đầu năm 2025, các doanh nghiệp tuyển trên 14.275 lao động để đáp ứng các đơn hàng năm 2025.Việc làm và thu nhập của người làm công ăn lương, người nghỉ hưu ổn định, có tăng hơn so cùng kỳ. Chính phủ ban hành các Nghị định về tiền lương, tiền công được áp dụng từ ngày 01/7/024 gồm: 73/2024/NĐ-CP tăng lương cơ sở từ 1,8 triệu đồng lên 2,34 triệu đồng, tương ứng tăng 30% đối cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang; 74/2024/NĐ-CP tăng lương tối thiểu vùng khoảng 6% đối với người lao động; 75/2024/NĐ-CP điều chỉnh lương hưu, trợ cấp hàng tháng tăng thêm 15%.Ngày 01/7/2024, Chính phủ ban hành Nghị định số 76/2024/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 20/2021/NĐ-CP ngày 15/3/2021 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội; trong đó, quy định điều chỉnh mức chuẩn trợ giúp xã hội từ 360.000 đồng/tháng tăng lên mức 500.000 đồng/tháng kể từ ngày 01/7/2024.Nhìn chung, mức điều chỉnh lương đã có sự chia sẻ, kết hợp hài hòa được lợi ích của người lao động và doanh nghiệp và giúp cho những người được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước đảm bảo được điều kiện cuộc sống, yên tâm công tác, làm việc. Việc cải cách tiền lương kể từ 01/7/2024, vừa cải thiện đời sống cho người lao động, vừa bảo đảm duy trì, phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.b. An sinh xã hội:Công tác an sinh xã hội được quan tâm, chính sách trợ giúp người nghèo về y tế, giáo dục, nhà ở, vay vốn tín dụng ưu đãi, đào tạo nghề lao động nông thôn,… được thực hiện lồng ghép, triển khai đồng bộ, kịp thời. Trong năm, giải quyết việc làm cho 19.000 lao động, đạt 105% kế hoạch.Theo Quyết định số 3451/QĐ-UBND về việc Phê duyệt kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2024 (theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022-2025) của UBND tỉnh Tiền Giang, toàn tỉnh còn 4.035 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 0,79% và 7.592 hộ cận nghèo, chiếm tỷ lệ 1,49%.Vận động quỹ Đền ơn đáp nghĩa trên 13 tỷ đồng (xây dựng nhà tình nghĩa 53 căn, sửa chữa nhà tình nghĩa 121 căn).Tổ chức tặng quà Tết Nguyên đán Giáp Thìn năm 2024: tặng quà của Chủ tịch nước (nguồn kinh phí Trung ương), số lượng 35.866 người với số tiền 10,9 tỷ đồng; trợ cấp của tỉnh (nguồn kinh phí địa phương) là 26,7 tỷ đồng với số lượng 67.696 người; tổ chức 18 Đoàn lãnh đạo Ban Thường vụ Tỉnh ủy thăm 85 hộ gia đình chính sách tiêu biểu và 48 đơn vị tập trung, kết hợp với tham người cao tuổi và trao quà cho hộ nghèo, tổng số tiền là 814,7 triệu đồng. Tổ chức tặng quà nhân dịp kỷ niệm 77 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ 27/7/2024: tặng quà của Chủ tịch nước (nguồn kinh phí Trung ương) số lượng 35.999 người, số tiền 10,9 tỷ đồng; trợ cấp của tỉnh (nguồn kinh phí địa phương) là 14,3 tỷ đồng với số lượng 50.178 người; tổ chức 18 đoàn lãnh đạo tỉnh thăm, tặng quà gia đình chính sách tiêu biểu nhân dịp kỷ niệm 77 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ với số lượng 100 người, số tiền 2 triệu đồng/hộ.3. Hoạt động giáo dụcTrong năm, hoạt động ngành giáo dục thực hiện theo kế hoạch và đạt được nhiều điểm nổi bật như:- Kết quả thi tốt nghiệp THPT năm 2024 của tỉnh Tiền Giang, tổng số thí sinh đỗ tốt nghiệp là 15.795/15.844 thí sinh dự thi (bao gồm thí sinh tự do), tỉ lệ 99,7% (năm 2023 tỉ lệ 99,65%).- Kỳ thi tuyển sinh lớp 10 THPT năm học 2024-2025, kỳ thi tổ chức vào các ngày 05, 06/6/2024 có 21.079 thí sinh đăng ký dự thi, tăng 636 thí sinh so với tuyển sinh lớp 10 năm học trước. Kết quả trúng tuyển là 19.305 thí sinh. - Kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp quốc gia THPT năm học 2023–2024; thi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh THPT năm học 2023 – 2024; thi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh THCS và cuộc thi Khoa học kỹ thuật dành cho học sinh trung học năm học 2023 - 2024 của tỉnh Tiền Giang 4. Hoạt động y tếTrong năm, công tác y tế và chăm sóc sức khỏe Nhân dân luôn được chú trọng. Các cơ sở khám chữa bệnh đã tổ chức thực hiện đầy đủ quy định của Luật Khám bệnh, chữa bệnh, Luật Bảo hiểm y tế và các văn bản hướng dẫn thi hành đảm bảo được quyền lợi cho nhân dân khi đến các cơ sở khám chữa bệnh.Tình hình khám chữa bệnh ghi nhận 4.687.896 lượt người bệnh đến khám, tăng 1,7% và 236.323 người điều trị nội trú, tăng 16,3%. Các bệnh truyền nhiễm ghi nhận trong năm, bệnh Sốt - xuất - huyết 1.930 ca, giảm 44,2% so cùng kỳ; bệnh Tay - chân - miệng 5.507 ca, giảm 29,2%.Bệnh HIV/AIDS năm 2024, phát hiện 304 trường hợp nhiễm HIV mới, 52 trường hợp tử vong. Đến nay, tổng số nhiễm HIV toàn tỉnh là 7.087 trường hợp, tổng số AIDS là 1.819 trường hợp và tử vong do AIDS là 1.380 trường hợp. 5. Hoạt động văn hóa - thể thaoHoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao trên địa bàn tỉnh trong năm 2024 diễn ra đúng theo kế hoạch: thiết thực, hiệu quả, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần của nhân dân nhất là trong dịp lễ, tết. Toàn tỉnh hiện có 462.854/486.976 hộ đạt 03 tiêu chuẩn Gia đình văn hóa, đạt 95%; 1.004/1.005 ấp (khu phố) văn hóa, đạt tỷ lệ 99,9%; 11/164 xã, phường, thị trấn tiêu biểu, đạt tỷ lệ 6,71%; 20/29 phường, thị trấn đạt chuẩn văn minh đô thị, đạt tỷ lệ 68,97%; 71 chợ văn hóa; 18 công viên văn hóa; 967 con đường văn hóa, 576 cơ sở thờ tự văn hóa.Hoạt động bảo tàng; đón tiếp 126.171 lượt khách tham quan, học tập kinh nghiệm và nghiên cứu.Hoạt động văn hóa nghệ thuật; trên địa bàn tỉnh tổ chức Lễ hội như: xuân Giáp Thìn năm 2024; kỷ niệm 160 năm Ngày Anh hùng dân tộc Trương Định tuẫn tiết và đón nhận Bằng công nhận Di tích Quốc gia đặc biệt; kỷ niệm 79 năm Ngày Quốc khánh Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945 - 02/9/2024); .... Hoạt động thư viện; tổ chức Hội báo Xuân Giáp Thìn năm 2024 với hơn 51.100 lượt sách báo lưu hành, phục vụ khoảng 22.250 lượt bạn đọc tại Thư viện tỉnh. Tổ chức mô hình cà phê sách trong khuôn viên Thư viện thu hút được hơn 480 lượt bạn đọc với 1.440 lượt sách báo lưu hành. Trong năm, Thư viện tỉnh đã phục vụ 395.584 lượt bạn đọc tăng 188% so cùng kỳ năm trước, với 439.526 lượt sách báo lưu hành tăng 94% so cùng kỳ năm trước. Hoạt động Thể dục - Thể thao; Trong năm, Đoàn thể thao Tiền Giang tham dự 85 giải quốc tế, quốc gia và khu vực, kết quả đạt 316 huy chương các loại, trong đó có 59 Huy chương Vàng, 106 Huy chương Bạc và 151 Huy chương Đồng. 6. Trật tự an toàn giao thông (theo báo cáo ngành công an tỉnh từ 15/12/2023 đến 14/12/2024)a. Tai nạn giao thông đường bộ: xảy ra 338 vụ, tăng 23 so cùng kỳ; làm 219 người chết, giảm 12 người so cùng kỳ và bị thương 202 người, tăng 54 người so cùng kỳ. Các nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông như: điều khiển xe khi có rượu bia, phóng nhanh vượt ẩu, không làm chủ tốc độ; không đi đúng phần đường, làn đường; không nhường đường, vượt đèn đỏ, thiếu quan sát…b. Tai nạn giao thông đường thủy: ghi nhận 02 vụ tai nạn, giảm 02 vụ so cùng kỳ; làm 01 người chết, tăng 01 người; không ghi nhận số người bị thương.7. Tình hình an ninh trật tự an toàn xã hội (theo báo cáo ngành Công an)Tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh được đảm bảo. Trong năm 2024, ghi nhận 895 vụ, giảm 87 vụ so với năm 2023, làm chết 21 người, bị thương 168 người, tài sản thiệt hại trị giá khoảng 76,4 tỷ đồng. Điều tra khám phá 722 vụ, đạt 80,7%, bắt xử lý 1.267 đối tượng. 8. Tình hình cháy nổ, môi trường và thiên tai năm 2024a. Về cháy, nổ: ghi nhận 16 vụ, tăng 07 vụ so cùng kỳ; tài sản thiệt hại trị giá trên 16 tỷ đồng.b. Về môi trường: xảy ra 17 vụ vi phạm, giảm 05 vụ so với cùng kỳ; số tiền xử phạt 640,7 triệu.c. Về thiên tai: đã xảy ra 107 vụ thiên tai (01 vụ xâm nhập mặn, 18 vụ lốc xoáy và 88 vụ sạt lở đê): 18 vụ lốc xoáy, tăng 01 vụ và 88 vụ sạt lở đê, tăng 53 vụ; tổng giá trị thiệt hại ước tính trên 271 tỷ đồng (không tính xâm nhập mặn), trong đó: 18 vụ lốc xoáy, làm 01 người nam bị thương nhẹ, làm 14 căn nhà sập, 187 căn nhà tốc mái; 88 vụ sạt lở đê với tổng chiều dài là 9.035 mét….III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHỤC HỒI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ, THỰC HIỆN CHỈ TIÊU PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2025Tình hình kinh tế, chính trị thế giới vẫn còn biến động khó lường, không thuận lợi, nhưng với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự chỉ đạo, điều hành kịp thời, quyết liệt, sát sao của lãnh đạo tỉnh và nỗ lực của các cấp, các ngành, các địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân. Sản xuất kinh doanh của các ngành, lĩnh vực trên địa bàn tỉnh năm 2024 tăng hơn so cùng kỳ, tăng trưởng kinh tế của tỉnh đạt 7,02%, đây là mức tăng trưởng tốt kể từ dịch Covid-19 đến nay trong bối cảnh khó khăn. Bên cạnh đó, các chỉ số thống kê cho thấy kinh tế của tỉnh tiếp tục ổn định, lạm phát được kiểm soát ở mức phù hợp; cung cầu hàng hóa thiết yếu được bảo đảm, hoạt động mua sắm hàng hóa, tiêu dùng nội địa duy trì mức tăng khá….Tuy nhiên, bước sang năm 2025 dự báo, kinh tế - xã hội của tỉnh tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức; các biến động về kinh tế, chính trị của thế giới, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, thiên tai, biến đổi khí hậu và dịch bệnh khó dự báo. Do đó, các ngành, các cấp tăng cường dự báo, chủ động điều hành linh hoạt, phù hợp với tình hình mới, kịp thời ứng phó với các tình huống phát sinh, tập trung triển khai hiệu quả đồng bộ các chính sách hỗ trợ phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội. Để thực hiện đạt kế hoạch năm 2025 cần thực hiện tốt các giải pháp sau:Tăng cường kỷ luật, kỷ cương sắp xếp tinh gọn bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả nhằm tăng thu nhập cho cán bộ công chức, viên chức và người lao động trong kỷ nguyên vươn mình theo chỉ đạo của Bộ Chính trị. Thực hiện nghiêm quy chế làm việc, kỷ luật phát ngôn, công khai minh bạch tạo môi trường sản xuất kinh doanh bình đẳng. Tiếp tục tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số. - Tiếp tục triển khai có hiệu quả Kế hoạch số 188/KH-UBND ngày 29/5/2024 về phát triển doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Giang giai đoạn 2024-2025; Kế hoạch số 262/KH-UBND ngày 27/8/2021 triển khai thực hiện Nghị quyết số 07/NQ-TU ngày 26/7/2021 của Tỉnh ủy về tiếp tục lãnh đạo nâng cao hiệu quả công tác hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đến năm 2025. Đồng thời triển khai các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp về tình hình hoạt động, thị trường tiêu thụ, nguyên liệu sản xuất, lao động,... Tập trung rà soát lại tình hình sản xuất ở từng ngành, đặc biệt là các ngành như: dệt may, da giày, chế biến thủy sản, sản xuất kim loại, cơ khí; các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chế biến, chế tạo, công nghiệp hỗ trợ,... Theo dõi diễn biến tình hình khí tượng thủy văn, xâm nhập mặn; tình hình vận hành các công trình phục vụ sản xuất và mực nước nội đồng các vùng dự án. Duy trì thông thoáng lòng sông, kênh, rạch trên địa bàn; tập trung công tác nạo vét các công trình thủy lợi, chủ động thực hiện các biện pháp đảm bảo nguồn nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt cho Nhân dân vào mùa khô. Thường xuyên theo dõi, thông tin kịp thời về tình hình khí tượng, thủy văn, chủ động các biện pháp phòng, tránh hạn chế thiệt hại khi thiên tai xảy ra.Tập trung phát triển các ngành, sản phẩm công nghiệp có lợi thế cạnh tranh, có thị trường tiêu thụ sản phẩm; đẩy mạnh phát triển công nghiệp hỗ trợ nguyên liệu phục vụ sản phẩm thức ăn chăn nuôi, cơ khí, điện tử... Thường xuyên rà soát kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, đẩy mạnh hoạt động sản xuất, kinh doanh. Cần có giải pháp hỗ trợ hiệu quả các doanh nghiệp thiếu vốn, giá nguyên liệu đầu vào tăng cao, khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm và một số ngành, lĩnh vực bị tác động bất lợi do nhu cầu của thị trường suy giảm như: da giày, dệt may, sản xuất và chế biến gỗ...- Triển khai thực hiện đồng bộ, chủ động, linh hoạt chính sách về lãi suất, gói hỗ trợ lãi suất cho vay, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh; tập trung vốn vào các lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên; tiếp tục triển khai chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn. Tăng cường công tác kết nối ngân hàng - doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi trong vay vốn tín dụng ngân hàng cho doanh nghiệp và người dân.- Tăng cường huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn trong và ngoài nước, các thành phần kinh tế cho đầu tư phát triển gắn với xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ bằng các hình thức phù hợp, đặc biệt là hình thức hợp tác công tư (PPP), xã hội hóa… ưu tiên mời gọi đầu tư các dự án quan trọng có vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ như: giao thông vận tải, công nghệ thông tin và truyền thông, đô thị, công nghiệp nông nghiệp, nông thôn... Tiếp tục triển khai các dự án, công trình trọng điểm của tỉnh đã được phê duyệt đảm bảo tiến độ theo kế hoạch; Đầu tư nâng cấp các tuyến đường huyện, đường giao thông nông thôn đạt tiêu chí huyện nông thôn mới, xã nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao trong giai đoạn 2021-2025.- Các ngành chức năng đẩy mạnh xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường xuất khẩu. Tiếp tục phát triển xuất khẩu các mặt hàng có lợi thế; chuyển dần sang xuất khẩu sản phẩm chế biến sâu, phát triển xuất khẩu sản phẩm có chất lượng cao, có sức cạnh tranh và có thương hiệu mạnh.- Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền để nhân dân hiểu rõ về tình hình và chính sách của Đảng, Nhà nước; từ đó tạo sự đồng thuận, chung sức chung lòng thực hiện các mục tiêu kế hoạch đã đề ra. - Tăng cường công tác an ninh trật tự, an toàn xã hội, an ninh quốc phòng.

Tổng sản phẩm trên địa bàn năm 2024 Tiền Giang đạt 7,02%
  •   07/01/2025 08:31

Năm 2024, tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường cạnh tranh chiến lược gay gắt; xung đột leo thang ở Ukraina, Trung Đông và căng thẳng gia tăng ở bán đảo Triều Tiên; các chuỗi cung ứng toàn cầu đứt gãy cục bộ làm giá xăng dầu, hàng hóa thiết yếu, cước vận tải biến động mạnh; kinh tế, thương mại phục hồi chậm, thiếu vững chắc; tỷ giá, lãi suất biến động khó lường; thiên tai, biến đổi khí hậu, an ninh năng lượng, lương thực, an ninh mạng diễn biến phức tạp…Trên địa bàn tỉnh, nhờ sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân trong tỉnh dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh, sự giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh, tình hình kinh tế - xã hội tiếp tục xu hướng phục hồi tích cực, tăng trưởng kinh tế quí sau cao hơn quí trước, quí I tăng 4,75%, quí II tăng 6,50%, quí III tăng 7,41% và quí IV tăng 9,12%, cả năm tăng 7,02%.Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) năm 2024 ước đạt 70.946 tỷ đồng, (giá so sánh năm 2010) tăng 7,02% so với năm 2024; khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản tăng 4%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,37% và khu vực dịch vụ tăng 7,28 % (bao gồm thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm); Nếu tách riêng thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm thì khu vực dịch vụ tăng 7,58% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 5,67% so cùng kỳ. Với mức tăng 7,02%, tốc độ tăng trưởng năm 2024 tăng cao hơn năm 2023 là 1,32%.Xét về tốc độ tăng trưởng, năm 2024 tỉnh Tiền Giang xếp thứ 43 cả nước và xếp thứ 9 trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.GRDP năm 2024 tính theo giá hiện hành đạt: 137.272 tỷ đồng, tăng 11,7% so cùng kỳ (tương đương tăng 14.326 tỷ đồng); GRDP bình quân đầu người năm 2024 đạt 76,4 triệu đồng/người/năm, tăng 7,8 triệu đồng/người/năm so năm 2023 (năm 2023 đạt 68,7 triệu đồng/người/năm). Tính theo giá USD, GRDP bình quân đầu người năm 2024 đạt 3.041 USD/người/năm, tăng 6,3%, tương đương tăng 181 USD so năm 2023 (năm 2023 đạt 2.860 USD/người/năm).Nếu so với các tỉnh trong vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, GRDP bình quân đầu người năm 2024 của Tiền Giang thấp hơn bình chung của vùng 3.906 ngàn đồng/người/ năm; đứng thứ 08/13 trong khu vực.        Với việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất, năng suất lao động của tỉnh tăng dần qua các năm, năm 2024 năm suất lao động đạt 120,8 triệu người, tăng 10,1% so với năm 2023. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản:Kế hoạch đề ra năm 2024 tăng 3,5 – 3,8%; ước tính năm 2024 tăng 4% (quí I tăng 2,37%, quí II tăng 4,66%, quí III tăng 3,85%, quí IV tăng 5,18) ; tăng thấp hơn 0,44% so với năm 2023.Ngành nông nghiệp tăng 4,31% (năm 2023 tăng 5,46%). Tình hình xâm nhập mặn năm 2024 đến sớm và xâm nhập sâu hơn cùng kỳ, Ủy ban nhân dân tỉnh đã rất quan tâm có chỉ đạo công tác phòng chống từ rất sớm; khuyến cáo nông dân tuân thủ theo lịch thời vụ, nên hầu hết diện tích gieo trồng đã được thu hoạch, tránh được tác động của hạn mặn. Với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, nông dân đã ứng dụng vào trong sản xuất lúa, tiết kiệm được chi phí, năng suất lúa bình quân cả năm 2024 đạt 62,05 tạ/ha, cao hơn cùng kỳ 0,92 tạ/ha (năm 2023 tạ 61,13 tạ/ha). Nhưng diện lúa gieo sạ năm nay chỉ đạt 120.330 ha, bằng 93% so cùng kỳ (tương đương giảm 9.059 ha), làm cho sản lượng lúa cả năm giảm 5,6% so với năm 2023 (sản lượng cả năm đạt 746.880 tấn).Trong những năm qua nông dân tập trung đầu tư chuyển đổi cơ cấu cây trồng và vật nuôi theo hướng nâng cao giá trị sản phẩm. Xu hướng chuyển dịch diện tích trồng cây hàng năm sang trồng cây lâu năm, chủ yếu chuyển sang trồng cây ăn quả có giá trị kinh tế cao, nhiều loại trái cây của tỉnh đã được xây dựng thương hiệu, xuất khẩu đi các nước như: sầu riêng, thanh long, vú sữa, xoài cát Hòa Lộc… Tổng diện tích trồng cây lâu năm của tỉnh ước tính đến cuối năm 2024 đạt 113.235 ha, tăng 5,3% so với năm 2023, (tương ứng tăng 5.671 ha). Giá bán các sản phẩm trồng trọt trong năm tăng khá tốt, thu nhập người dân tăng đã kích thích nông dân tập trung đầu tư cho sản xuất, nên ngành nông nghiệp có tốc độ tăng khá so cùng kỳ.Tình hình chăn nuôi gia súc-gia cầm trên địa bàn tỉnh Tiền Giang phát triển ổn định và có xu hướng tăng mạnh trong 6 tháng cuối năm; khu vực trang trại-doanh nghiệp phát triển tốt. Các hộ chăn nuôi đang tích cực tái đàn nhằm đảm bảo nguồn cung thực phẩm phục vụ những tháng cuối năm và Tết Nguyên đán 2025. Mặc dù dịch bệnh được kiểm soát, chỉ phát sinh một số ổ dịch nhỏ lẻ, tuy nhiên, dịch bệnh vẫn là thách thức lớn nhất của ngành chăn nuôi, đặc biệt là Dịch tả lợn Châu Phi, bệnh cúm gia cầm… làm ảnh hưởng đến tổng đàn nếu không được kiểm soát tốt. Ước tính đến cuối năm 2024 đàn bò đạt 120 ngàn con, giảm 1,6% so cùng kỳ; đàn lợn 312 ngàn con, tăng 4,0%; đàn gia cầm 16,8 triệu con, tăng 6,2% so cùng kỳ.Ngành thủy sản tăng 2,53% (năm 2023 giảm 0,43%), sản lượng thủy sản năm 2024 ước đạt 318.107 tấn, tăng 3,4% so cùng kỳ. Sản lượng nuôi trồng đạt 214.335 tấn, tăng 0,5% so cùng kỳ, sản lượng thủy sản khai thác đạt 103.772 tấn, tăng 10,2% so cùng kỳ. Nhu cầu tiêu thụ thủy sản của thị trường trong nước và phục vụ cho xuất khẩu tăng, giá cả ổn định, nên ngư dân đã tập trung đầu tư cho nuôi trồng và khai thác. Mặt khác, tại xã Kiểng Phước, Tân Điền và Tân Thành thuộc huyện Gò Công Đông diện tích mặt nước nuôi hàu khoảng 598 ha, của 73 hộ nuôi cho thu hoạch, đã góp phần làm cho ngành thủy sản tăng. Khu vực công nghiệp - xây dựngTăng 10,37% so với năm 2023 (quí I tăng 5,99%, quí II tăng 9,01%, quí III tăng 11,59%, quí IV tăng 14,23); Tăng cao hơn năm 2023 là 3,5% (Kế hoạch tăng từ 11,0-11,7%).Tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp tăng 10,01% (cùng kỳ tăng 5,51%); đạt được kết quả trên đó là sự quan tâm chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh cùng các ngành các cấp thường xuyên tổ chức các Hội nghị tiếp xúc doanh nghiệp, nắm bắt tâm tư nguyện vọng, những khó khăn của doanh nghiệp, kịp thời đưa ra các giải pháp hiệu quả giúp công nghiệp của tỉnh nhà tăng cao. Sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh tăng trưởng tốt, tốc độ tăng trưởng quý sau luôn cao hơn quý trước (quí I tăng 4,99%, quí II tăng 8,57%, quí III tăng 11,73% và quí IV tăng 14,51%), đóng góp 2,36% trong 7,02% tăng trưởng của tỉnh. Một số ngành chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị công nghiệp có tốc độ tăng trưởng khá như: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 14,32% (chiếm tỷ trọng 24,8% trong tổng giá trị gia tăng của ngành công nghiệp); Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 13,30% (chiếm 21%); Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 20,72% (chiếm 9,3%); Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 12,89% (chiếm 4,8%)...Tuy nhiên cũng có một số ngành do khó khăn về thị trường tiêu thụ nên sản xuất trong năm giảm so với cùng kỳ như: sản xuất trang phục giảm 16,91% (chiếm 5,7%); ngành dệt giảm 6,54% (chiếm 1,7%); sản xuất đồ uống giảm 7,63% (chiếm 1%); sản xuất công nghiệp chế biến chế tạo khác giảm 17,21% (chiếm 1,4%)... Ngành xây dựng tăng 11,97%, là một trong những ngành có tốc độ tăng trưởng tốt nhất trong năm 2024 (chiếm tỷ trọng 4,9% trong GRDP), là ngành trong 03 năm liên tiếp tăng trưởng trên 10% (năm 2022 tăng 10,25%, năm 2023 tăng 13,23%). Đạt được kết quả trên là do lãnh đạo tỉnh chú trọng giao vốn sớm cho các chủ đầu tư ngay từ tháng 12 năm 2023 và thường xuyên kiểm tra, đôn đốc tiến độ thực hiện của các dự án, nhất là các dự án thuộc chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội. Trên địa bàn tỉnh có nhiều công trình trọng điểm của địa phương và trung ương đang được triển khai thi công, cộng với sự tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt trong việc giải quyết những khó khăn, vướng mắt, đẩy nhanh tiến độ đầu tư công đã góp phần làm cho hoạt động xây dựng trên địa bàn tỉnh tăng khá so cùng kỳ.Khu vực dịch vụ: Tăng 7,28 % (bao gồm thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm); Nếu tách riêng thuế sản phẩm thì khu vực dịch vụ tăng 7,58 % (quí I tăng 6,23%, quí II tăng 6,9%, quí III tăng 7,67% và quí IV tăng 9,18%). Kinh tế của tỉnh dần hồi phục sau dịch Covid -19, công nhân có việc làm ổn định, cộng với việc nâng lương cơ sở từ ngày 01/7/2024, thu nhập của người lao động tăng làm cho hoạt động thương mại và dịch trên địa bàn tỉnh tiếp tục tăng trưởng mạnh. Tất cả các ngành trong khu vực này đều tăng so với cùng kỳ, giá cả trong năm được kiểm soát tốt, không xảy ra tình trạng nâng giá bất hợp lý, hàng hóa dồi dào, đáp nhu cầu tiêu dùng của nhân dân. Một số ngành tăng khá như: bán buôn và bán lẽ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy tăng 9,03%; Vận tải kho bãi tăng 15,99%; Dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 15,17%; Hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 12,43 ... thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 5,67% so cùng kỳ.Cơ cấu kinh tế: Mục tiêu phát triển kinh tế giai đoạn 2020-2025 của tỉnh là đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng dần tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp, thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Năm 2024 khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 37,1%, giảm 0,1% so năm 2023(cùng kỳ 37,2%); khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm 27,7 %, tăng 0,2% so năm 2023 (cùng kỳ 27,5%); khu vực dịch vụ chiếm 29,8%, tương đương so cùng kỳ; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 5,4%, giảm 0,1 so cùng kỳ (cùng kỳ 5,5%).Năm 2024 cơ cấu kinh tế của tỉnh chuyển dịch chậm so với kế hoạch là do khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản của tỉnh tăng trưởng tốt (tăng vượt kế hoạch).Với điều kiện tự nhiên của tỉnh thích hợp cho phát triển kinh tế nông nghiệp. Trong những năm qua nông dân chuyển đổi mạnh cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng sản xuất các loại cây con có giá trị kinh tế cao. Mặt khác, trong năm các sản phẩm nông nghiệp như sầu riêng, mít, lúa … giá bán khá cao so cùng kỳ, nên ngành nông lâm nghiệp và thủy sản vẫn chiếm tỷ trọng cao trong GRDP của tỉnh. N.V.Tròn

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Tiền Giang Tháng 11 năm 2024
  •   03/12/2024 09:07

Trong tháng 11, tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh tiếp tục phát triển, hoạt động sản xuất kinh doanh của các ngành, lĩnh vực đạt được nhiều kết quả khả quan. Kết quả thực hiện trên các lĩnh vực như sau: I. SẢN XUẤT NÔNG, LÂM NGHIỆP VÀ THỦY SẢN1. Nông nghiệpCây lương thực có hạt: trong tháng gieo trồng được 21.587 ha, sản lượng thu hoạch 353 tấn. Ước tính đến ngày 15 tháng 11 năm 2024, gieo trồng được 34.315 ha, giảm 5,6% so cùng kỳ; sản lượng thu hoạch 721 tấn, tăng 0,4%; trong đó: cây lúa gieo trồng 33.991 ha, giảm 5,6% so cùng kỳ. * Trong 34.315 ha cây lương thực có hạt được gieo trồng: cây lúa vụ Đông Xuân 2024 – 2025 gieo trồng được 21.429 ha và cây ngô gieo trồng (từ 15/9 – 15/11/2024) là 324 ha sẽ được tính cho diện tích gieo trồng cây lương thực có hạt năm sau. - Cây lúa: Vụ Thu Đông 2024: chính thức gieo trồng 12.562 ha, giảm 2,5% so cùng kỳ, tương ứng giảm 317 ha, diện tích gieo trồng ở các huyện: Gò Công Tây 7.549 ha, TP Gò Công 2.746 ha, Tân Phước 1.176 ha, Châu Thành 653 ha, Gò Công Đông 237 ha, Chợ Gạo 126 ha và Tân Phú Đông 75 ha. Lúa Thu Đông 2024 xuống giống vượt kế hoạch chủ yếu tại huyện Gò Công Tây, Gò Công Đông và TP. Gò Công. Lúa vụ Thu Đông 2024 giảm 2,5% so cùng kỳ do tăng/giảm ở các huyện, trong đó các huyện có diện tích gieo trồng giảm gồm: TP Gò Công 721 ha, Châu Thành 88 ha, Gò Công Đông 20 ha, Chợ Gạo 12 ha và các huyện có diện tích gieo trồng tăng gồm: Gò Công Tây 494 ha, Tân Phú Đông 21 ha, Tân Phước 9 ha. Vụ Đông Xuân 2024 – 2025: Tiến độ gieo trồng của vụ tính đến ngày 15 tháng 11 được 21.429 ha, giảm 7,4% so cùng kỳ. Đây là vụ sản xuất chính trong năm của nông dân, hiện lúa đang giai đoạn mạ. - Cây ngô: trong tháng gieo trồng được 158 ha. Tính đến 15 tháng 11 năm 2024, gieo trồng được 324 ha, tăng 2,3% so cùng kỳ; thu hoạch 196 ha, tăng 0,9%; năng suất bình quân đạt 36,8 tạ/ha, giảm 0,6% với sản lượng đạt 721 tấn, tăng 0,4%. Cây rau đậu các loại: trong tháng gieo trồng 4.319 ha, thu hoạch 3.565 ha với sản lượng 77.768 tấn. Tính đến 15 tháng 11 năm 2024 gieo trồng 8.377 ha, tăng 2,1% so cùng kỳ; thu hoạch 6.446 ha, tăng 3,7% với sản lượng 140.543 tấn, tăng 5,4%; trong đó: rau các loại gieo trồng 8.364 ha, tăng 2,1%; thu hoạch 6.437 ha, tăng 3,7% với sản lượng đạt 140.521 tấn, tăng 5,4%. * Tính đến nay (15/9 đến 15/11/2024), cây rau đậu các loại gieo trồng được 8.377 ha và sẽ được tính cho diện tích gieo trồng năm sau. Chăn nuôi: ước thời điểm 01/11/2024 tổng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh như sau: đàn bò 119,6 nghìn con, giảm 1,0% so cùng kỳ; đàn lợn 310 nghìn con, tăng 3,3%; đàn gia cầm (không kể chim cút) 16,7 triệu con, tăng 4,4%. Hiện nay, tình hình dịch bệnh cơ bản được kiểm soát. Thời gian qua, giá lợn hơi, giá gia cầm đã ổn định trở lại, có xu hướng tăng, người chăn nuôi có lãi, yên tâm mở rộng sản xuất. Trái ngược với tình hình chăn nuôi lợn và gia cầm, nhiều hộ chăn nuôi bò đã điều chỉnh giảm số lượng vật nuôi và chuyển đất trồng cỏ sang cây trồng có hiệu quả kinh tế cao hơn, giá bò giảm do cạnh tranh với sản phẩm nhập khẩu. Hình 1. Chăn nuôi tại thời điểm 01/11/2024 * Tình hình dịch bệnh: theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Tiền Giang  Trong tháng, tình hình dịch bệnh trên gia súc và gia cầm tiếp tục được kiểm soát tốt, không ghi nhận bệnh. Tính từ ngày 15/12/2023 đến nay, ghi nhận: - Bệnh cúm gia cầm: toàn tỉnh có 04 đàn gia cầm tại 03 xã/03 huyện (Gò Công Tây, Châu Thành và Cai Lậy) dương tính với vi rút cúm A/H5N1, đã tiêu hủy 3.355 con, trong đó các địa phương tiêu hủy 3.313 con (98,7%) và hộ tự hủy 42 con (1,3%). - Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: toàn tỉnh có 86 hộ có lợn mắc bệnh với 1.004 con lợn bệnh trên tổng đàn 3.099 con tại 32 xã/08 huyện (Cai Lậy, Cái Bè, Châu Thành, Tân Phước, Chợ Gạo, Gò Công Tây, Tân Phú Đông và thị xã Cai Lậy). Số lợn đã tiêu hủy dưới sự giám sát của địa phương là 2.187 con, khối lượng 95.167 kg. - Bệnh viêm da nổi cục: toàn tỉnh ghi nhận có 09 hộ với 10 con bò bệnh trên tổng đàn 41 con tại 08 xã/ 06 huyện (Cái Bè, Châu Thành, Chợ Gạo, Gò Công Tây, Tân Phú Đông và TP. Mỹ Tho). Đã tiêu hủy 01 bò bệnh chết với khối lượng 153 kg tại xã Mỹ Phong, Thành phố Mỹ Tho. - Bệnh Lở mồm long móng:toàn tỉnh ghi nhận có 05 bò bệnh trên 12 con tổng đàn tại 01 xã/ 01 huyện (Chợ Gạo). 2. Lâm nghiệp: Tổng diện tích rừng hiện có là 1.613,8 ha (không bao gồm diện tích rừng thuộc đất an ninh quốc phòng); trong đó rừng phòng hộ: 1.321,7 ha (huyện Gò Công Đông: 380,3 ha; huyện Tân Phú Đông: 889,8 ha và huyện Tân Phước: 51,6 ha); rừng sản xuất: 292,1 ha. Trong tháng thực hiện trồng mới được 3,0 ngàn cây phân tán. Nâng tổng số cây trồng từ đầu năm đến nay ước đạt 484,5 ngàn cây, giảm 13,8% so cùng kỳ. Những cây trồng mới chủ yếu là cây sao, dầu, bạch đàn, tràm bông vàng trồng trên các tuyến đường đi, xung quanh các tuyến đê bao, trồng cặp ven bờ sông chống sạt lở đất và lấy bóng mát ở các huyện Cai Lậy, Tân Phước, Châu Thành, Tân Phú Đông. 3. Thủy hải sản: Diện tích nuôi thủy sản trong tháng đạt 422 ha. Tính chung 11 tháng năm 2024 đạt 16.032 ha, đạt 109,1% kế hoạch, giảm 0,1% so cùng kỳ; trong đó: diện tích nuôi tôm đạt 8.288 ha, tăng 0,2%, diện tích nuôi cá đạt 4.520 ha, giảm 0,7%, diện tích nuôi thủy sản khác đạt 3.224 ha, tăng 0,1%. Sản lượng thủy sản thu hoạch trong tháng đạt 30.092 tấn. Tính chung 11 tháng năm 2024 đạt 278.170 tấn, đạt 88,1% kế hoạch, tăng 3,9% so cùng kỳ, trong đó: sản lượng thu hoạch từ nuôi 181.935 tấn, tăng 1,1%; sản lượng khai thác 96.235 tấn, tăng 9,6%. II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆPChỉ số sản xuất công nghiệp tháng 11/2024 tăng 0,47% so với tháng trước, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,23%, sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 3,87% và cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,04%; so cùng kỳ tăng 18,05%, một số ngành sản xuất công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh có chỉ số tăng cao so cùng kỳ, như: công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 73,12%; sản xuất phương tiện vận tải khác 67,62%; Sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị tăng 60,2%; sản xuất trang phục tăng 39,52%;... Tính chung 11 tháng, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 12,48% so cùng kỳ; trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,59%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 12,85%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,87%. Hình 2. Chỉ số sản xuất công nghiệpChỉ số sản xuất sản phẩm trong 11 tháng so cùng kỳ như sau: - Có 38/54 sản phẩm tăng so cùng kỳ: quả và hạt ướp lạnh tăng 81,7%; dây thép không gỉ tăng 73%; điện gió tăng 39,3%; giày, dép không thấm nước có đế ngoài và mũ bằng cao su và plastic tăng 37,5%; dịch vụ sản xuất thiết bị điện chiếu sáng tăng 34,3%; bóng thể thao khác tăng 26,3%; điện thương phẩm tăng 9,9%; ống và ống dẫn bằng đồng tăng 8,9%; tàu thuyền lớn chuyên chở người và hàng hóa có động cơ đẩy tăng 8,6%; dịch vụ sửa chữa, bảo dưỡng tàu, thuyền tăng 8%; nước uống được tăng 5,4%; túi xách tăng 5%; dịch vụ tiện các bộ phận kim loại tăng 4,5%; thức ăn cho gia súc tăng 1,8%;… - Có 16/54 sản phẩm giảm so cùng kỳ: màn bằng vải khác giảm 68,6%; máy gặt đập liên hợp giảm 50%; thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng viên giảm 32%; bia đóng chai giảm 19,8%; giày, dép thể thao có mũ bằng da và có đế ngoài giảm 8,4%; bia đóng lon giảm 7%; đồ chơi hình con vật hoặc sinh vật không phải hình người giảm 5,9%; thức ăn cho thủy sản giảm 4,7%; phân vi sinh giảm 3,5%; cửa ra vào, cửa sổ bằng sắt, thép giảm 2%; * Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: - Chỉ số tiêu thụ tháng 11/2024 so với tháng trước tăng 5,09% và tăng 20,81% so cùng kỳ. Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo từ đầu năm đến cuối tháng 11 năm 2024 tăng 16,34%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 25,51%, trong đó sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thuỷ sản tăng 4,37%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 24,31%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 48,67%; sản xuất sản phẩm cao su và plastic tăng 24,86%; sản xuất kim loại tăng 12,94%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 57,69%; sản xuất thiết bị điện tăng 42,01%, trong đó sản xuất dây cáp, dây điện và điện tử khác tăng 55,26%;…Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm so cùng kỳ là: sản xuất đồ uống giảm 3,92%, trong đó sản xuất bia giảm 3,92%; dệt giảm 10,76%; sản xuất trang phục giảm 11,46%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ giảm 21,57%;... - Chỉ số tồn kho tháng 11/2024 so với tháng trước tăng 1,99% so với tháng trước và tăng 1,02% so cùng kỳ. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so với cùng kỳ là: dệt tăng 47,35%; sản xuất trang phục tăng 54,27%; sản xuất da tăng 3,38%, trong đó sản xuất giày dép tăng 5,88%; sản xuất thiết bị điện tăng 62,67%, trong đó sản xuất mô tơ điện tăng 72,73%; chế biến, chế tạo khác tăng 73,54%, trong đó sản xuất đồ chơi, trò chơi tăng 73,54%;… Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tồn kho giảm so cùng kỳ là: sản xuất chế biến thực phẩm giảm 1,2%, trong đó chế biến, bảo quản thủy sản giảm 36,68%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu giảm 12,58%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 13,85%; sản xuất kim loại giảm 3,12%;…III. ĐẦU TƯ - XÂY DỰNG Tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý thực hiện trong tháng là 640 tỷ đồng, giảm 24% so cùng kỳ. Mười một tháng thực hiện 4.869 tỷ đồng, đạt 71,7% kế hoạch, giảm 15,9% so cùng kỳ. Để đạt kế hoạch năm 2024, các ban quản lý dự án, chủ đầu tư và các ngành các cấp tập trung điều kiện đẩy nhanh tiến độ đầu tư công cũng như khối lượng giải ngân của các công trình dự án, sớm hoàn thành, đưa dự án vào hoạt động.  Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh thực hiện 4.067 tỷ đồng, đạt 71,1% kế hoạch, giảm 17,2% so cùng kỳ, chiếm 83,5% tổng số; trong đó: vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 1.334 tỷ đồng, giảm 28,3% so cùng kỳ; vốn xổ số kiến thiết thực hiện 1.683 tỷ đồng, giảm 6,4% so cùng kỳ... Các ngành các cấp phối hợp với các chủ đầu tư khắc phục khó khăn đẩy nhanh tiến độ thực hiện công trình nhằm đạt kế hoạch đề ra, nhiều công trình đã hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng, các công trình còn lại thi công đúng theo tiến độ đề ra. Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp huyện thực hiện 659 tỷ đồng, đạt 71,6% kế hoạch, tăng 31,4% so cùng kỳ, chiếm 13,6% tổng số; trong đó: vốn tỉnh hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 305 tỷ đồng,tăng 43% so cùng kỳ... Hiện nay nguồn vốn đầu tư của huyện, TP, TX thực hiện chủ yếu nguồn vốn phân cấp, tập trung cho các công trình, dự án giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới. Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp xã thực hiện 143 tỷ đồng, đạt 91,8% kế hoạch, bằng 38,1% so cùng kỳ, chiếm 2,9% tổng số; trong đó: vốn huyện hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 73 tỷ đồng, bằng 37% so cùng kỳ... Các xã, phường, thị trấn tập trung điều kiện đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình giao thông nông thôn, thủy lợi nội đồng phục vụ địa phương. Trong đó, ưu tiên bố trí các dự án khởi công mới thuộc lĩnh vực giao thông, phòng, chống thiên tai, xử lý sạt lở bờ sông, bờ biển, biến đổi khí hậu, giáo dục, y tế, xây dựng nông thôn mới. Hình 3. Cơ cấu vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý - 11 tháng năm 2024 IV. THƯƠNG MẠI - GIÁ CẢ - DỊCH VỤ 1. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trong tháng ước thực hiện 7.652 tỷ đồng, tăng 3,1% so tháng trước và tăng 9,8% so cùng kỳ. Mười một tháng, tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thực hiện 81.413 tỷ đồng, đạt 91,5% kế hoạch, tăng 8,8% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 62.526 tỷ đồng, tăng 8%; lưu trú 328 tỷ đồng, tăng 18,9%; ăn uống 7.787 tỷ đồng, tăng 22,4%; du lịch lữ hành 203 tỷ đồng, tăng 26,8%; dịch vụ tiêu dùng khác 10.569 tỷ đồng, tăng 3,3% so cùng kỳ. Hình 4. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng2. Xuất - Nhập khẩu (Theo báo cáo Sở Công Thương) a. Xuất khẩu:Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng ước thực hiện 505 triệu USD, tăng 3,1% so tháng trước. Mười một tháng ước xuất khẩu 5.603 triệu USD, đạt 112,1% kế hoạch, tăng 12,7% so cùng kỳ; trong đó: doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 77% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh. b. Nhập khẩu: Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa trong tháng 11/2024 ước 210 triệu USD, tăng 5% so tháng trước và tăng 0,5% so cùng kỳ. Mười một tháng, ước kim ngạch nhập khẩu 2.810 triệu USD, đạt 112,4% kế hoạch, tăng 15,1% so cùng kỳ; trong đó, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 93,82% trên tổng kim ngạch nhập khẩu. Nguyên liệu nhập khẩu chủ yếu các mặt hàng như: kim loại thường khác (kể cả nguyên liệu đồng) 1.192 triệu USD, tăng 51% so cùng kỳ, chiếm 52,4% tổng kim ngạch; sắt thép các loại 452 triệu USD, tăng 39,4% so cùng kỳ, chiếm 16,7% tổng kim ngạch; vải nguyên liệu 235 triệu USD tăng 3,8% so cùng kỳ và chiếm 7,6% tổng kim ngạch nhập khẩu;…3. Chỉ số giá Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 11/2024 tăng 0,26% so tháng 10/2024 (thành thị tăng 0,29%, nông thôn tăng 0,25%); so cùng kỳ tăng 2,9%. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 11 tháng năm 2024 so cùng kỳ tăng 4,14%; một số nhóm hàng có chỉ số giá tăng trong 11 tháng năm 2024 so cùng kỳ như: nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 8,36%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 6,42% (trong đó, dịch vụ khám sức khỏe tăng 7,49%); hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,77% (trong đó, tăng cao nhất là nhóm hàng lương thực tăng 17,34%; kế đến là ăn uống ngoài gia đình tăng 6% và nhóm thực phẩm tăng 3,24%); Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,51%.... Có hai nhóm giảm: nhóm hàng bưu chính viễn thông giảm 0,68% và nhóm giao thông giảm 0,35% so cùng kỳ đã kiềm hãm tốc độ tăng. Chỉ số giá vàng 24 kara Ngọc Thẩm trong tháng 11/2024 tăng 3,68% so tháng trước, giá bình quân tháng 11/2024 là 8.617 ngàn đồng/chỉ, tăng 2.927 ngàn đồng so cùng kỳ. Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng 11/2024 tăng 3,01% so tháng trước, giá bình quân 25.733 đồng/USD, so cùng kỳ tăng 863 đồng /USD. 4. Du lịchKhách du lịch đến trong tháng 11/2024 ước tính 135 ngàn lượt khách, giảm 3,4% so tháng trước và tăng 18,5% so cùng kỳ. Doanh thu lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ tiêu dùng khác trong tháng 11 đạt 1.776 tỷ đồng, tăng 0,7% so tháng trước và tăng 6,6% so cùng kỳ. Tính chung mười một tháng, lượt khách du lịch đến Tiền Giang là 1.505 ngàn lượt khách, đạt 91,2% kế hoạch và tăng 18,6% so cùng kỳ; trong đó: khách quốc tế 468 ngàn lượt khách, tăng 23,6% so cùng kỳ. Tổng doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, dịch vụ lữ hành và dịch vụ tiêu dùng khác đạt 18.887 tỷ đồng, tăng 11,6% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu dịch vụ ăn uống chiếm tỷ trọng 41,2%, ước đạt 7.787 tỷ đồng, tăng 24,4%; lưu trú đạt 328 tỷ đồng, tăng 18,9% so cùng kỳ... 5. Vận tải 5.1. Kết quả hoạt động vận tải: Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trong tháng thực hiện 260 tỷ đồng, tăng 3,4% so tháng trước và tăng 8,9% so cùng kỳ. Mười một tháng thực hiện 2.742 tỷ đồng, tăng 21% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 709 tỷ đồng, tăng 20,2% so cùng kỳ; doanh thu vận tải hàng hóa thực hiện 1.775 tỷ đồng, tăng 20,5% so cùng kỳ. Doanh thu vận tải đường bộ thực hiện 1.088 tỷ đồng, tăng 20,1%; doanh thu vận tải đường thủy thực hiện 1.396 tỷ đồng, tăng 20,6%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 257 tỷ đồng, tăng 26,7% so cùng kỳ. a) Vận tải hành khách Trong tháng vận chuyển ước tính đạt 1.832 ngàn hành khách, tăng 1,4% so tháng trước và tăng 6,5% so cùng kỳ; luân chuyển 59.130 ngàn hành khách.km, tăng 2,3% so tháng trước và tăng 6,7% so cùng kỳ. Mười một tháng, vận chuyển 18.602 ngàn hành khách, tăng 17,1% so cùng kỳ; luân chuyển 577.412 ngàn hành khách.km, tăng 19,2% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 7.692 ngàn hành khách, tăng 19,1% và luân chuyển 564.825 ngàn hành khách.km, tăng 19,2% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 10.910 ngàn hành khách, tăng 15,7% và luân chuyển 12.587 ngàn hành khách.km, tăng 16,3% so cùng kỳ. b) Vận tải hàng hóa Trong tháng vận tải hàng hóa đạt 1.686 ngàn tấn, tăng 5,7% so tháng trước và tăng 6,2% so cùng kỳ; luân chuyển 330.997 ngàn tấn.km, tăng 6% so tháng trước và tăng 6,3% so cùng kỳ. Mười một tháng, vận tải 17.382 ngàn tấn hàng hóa, tăng 20% so cùng kỳ; luân chuyển 3.391.575 ngàn tấn.km, tăng 20,1% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 2.419 ngàn tấn, tăng 18% và luân chuyển 581.406 ngàn tấn.km, tăng 18,4% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 14.963 ngàn tấn, tăng 20,3% và luân chuyển 2.810.169 ngàn tấn.km, tăng 20,5% so cùng kỳ. 5.2. Công tác quản lý phương tiện giao thông                       Trong tháng đăng ký mới 3.439 chiếc mô tô xe máy, 354 chiếc ô tô, 04 chiếc xe đạp điện và xe khác 01 chiếc. Tổng số xe đang quản lý trên địa bàn tỉnh 1.559.412 chiếc, trong đó mô tô xe máy: 1.496.068 chiếc, 63.329 xe ô tô, 163 xe ba bánh, 541 xe đạp điện và, 999 xe khác và 1.309 xe lam.  6. Bưu chính viễn thông Doanh thu trong tháng 11/2024 đạt 318 tỷ đồng, tăng 1,7% so tháng trước và tăng 5,1% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính đạt 28 tỷ đồng, tăng 0,7% và viễn thông 290 tỷ đồng, tăng 1,8% so tháng trước. Mười một tháng doanh thu dịch vụ bưu chính, viễn thông đạt 3.446 tỷ đồng, tăng 5,2% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính đạt 303 tỷ đồng, tăng 3,8% và viễn thông 3.143 tỷ đồng, tăng 5,3% so cùng kỳ. Tổng số thuê bao điện thoại có trên mạng đến cuối tháng 11/2024 là 129.188 thuê bao, mật độ bình quân đạt 7,21 thuê bao/100 dân (chỉ tính thuê bao cố định và di động trả sau). Thuê bao internet có trên mạng cuối tháng 11/2024 là 413.770 thuê bao, mật độ internet bình quân đạt 23,11 thuê bao/100 dân. Số lượng điện thoại cố định có dây, không dây tiếp tục giảm, do thị trường phát triển thuê bao dần bảo hòa dẫn đến khách hàng dần chuyển sang sử dụng điện thoại di động, trong đó chủ yếu là điện thoại di động trả trước. Số thuê bao điện thoại di động có sử dụng internet (3G, 4G) đến cuối tháng 11 năm 2024 là 1.679.310 thuê bao. V. TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG 1. Tài chính Thu ngân sách nhà nước trong tháng thực hiện 935 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn 720 tỷ đồng, thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 210 tỷ đồng. Mười một tháng, thu ngân sách trên địa bàn 10.740 tỷ đồng, đạt 122% dự toán, tăng 16,4% so cùng kỳ; trong đó: thu nội địa 10.371 tỷ đồng, đạt 121,6% dự toán, tăng 15,7% so cùng kỳ (trong thu ngân sách trên địa bàn: thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 3.053 tỷ đồng, đạt 146,8% dự toán, tăng 10,6% so cùng kỳ; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 1.776 tỷ đồng, đạt 146,8% dự toán, tăng 55,4% so cùng kỳ...). Chi ngân sách nhà nước trong tháng 1.378 tỷ đồng; trong đó: chi đầu tư phát triển 550 tỷ đồng. Mười một tháng, chi 14.923 tỷ đồng, đạt 100,9% dự toán, tăng 14,9% so cùng kỳ; trong đó: chi đầu tư phát triển 6.145 tỷ đồng, đạt 25,8% dự toán, tăng 25,9% so cùng kỳ; chi hành chính sự nghiệp 7.193 tỷ đồng, đạt 86,2% dự toán và tăng 13,7% so cùng kỳ. 2. Ngân hàng Trong tháng 11/2024, Ngành Ngân hàng tiếp tục thực hiện vai trò hỗ trợ vốn cho các thành phần kinh tế phục hồi và phát triển; chấp hành nghiêm các quy định về lãi suất của Ngân hàng nhà nước Việt Nam nhất là các mức trần lãi suất huy động và trần lãi suất cho vay. - Đến cuối tháng 10/2024, vốn huy động đạt 103.437 tỷ đồng, đạt 98,86% kế hoạch, tăng 6.554 tỷ, tăng 6,77% so với cuối năm 2023. Tổng dư nợ cho vay của các tổ chức tín dụng (TCTD) đạt 102.451 tỷ, tăng 5.147 tỷ, tăng 5,29% so với cuối năm 2023. Từ đầu năm đến hết tháng 10/2024, hệ thống TCTD trên địa bàn tỉnh đã đáp ứng nhu cầu vốn cho 1,2 triệu lượt khách hàng vay vốn với doanh số cho vay lũy kế từ đầu năm đạt 172 ngàn tỷ đồng. Ước tính đến cuối tháng 11/2024, nguồn vốn huy động đạt 104.076 tỷ đồng, tăng 7.194 tỷ đồng, tăng 7,43% so với cuối năm 2023; tổng dư nợ đạt 103.152 tỷ, tăng 5.848 tỷ đồng, tăng 6,01% với cuối năm 2023. Từ đầu năm đến hết tháng 10/2023, Ngân hàng nhà nước (NHNN) tiếp tục giữ nguyên các mức lãi suất điều hành nhằm tạo điều kiện cho TCTD tiếp cận nguồn vốn từ NHNN với chi phí thấp để góp phần hỗ trợ nền kinh tế; đồng thời tiếp tục khuyến khích TCTD tiết giảm chi phí để giảm mặt bằng lãi suất cho vay. Nợ xấu: đến cuối tháng 10/2024, nội bảng là 2.212,4 tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu 2,16%, tăng 0,55% so cuối năm 2023. Cơ cấu các nhóm nợ so với cuối năm 2023 như: Nhóm 3: 382 tỷ, chiếm 17,24%; Nhóm 4: 583 tỷ, chiếm 26,33%; Nhóm 5: 1.247 tỷ, chiếm 56,37% tổng nợ xấu. Ước đến cuối tháng 11/2024, nợ xấu là 2.130 tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu 2,07%, tăng 0,45% so cuối năm 2023.Hệ thống Quỹ Tín dụng nhân dân trên địa bàn tỉnh hoạt động ổn định, các chỉ tiêu đều đạt mức tăng trưởng. Một số kết quả đạt được đến cuối tháng 10/2024 như sau: tổng nguồn vốn hoạt động đạt 1.716 tỷ đồng, tăng 170 tỷ, tỷ lệ tăng 11%; trong đó huy động vốn chiếm 88%; dư nợ cho vay đạt 1.260 tỷ (ngắn hạn đạt 567,41 tỷ đồng chiếm 45%), tăng 115,65 tỷ, tỷ lệ tăng 10,10%; tỷ lệ nợ xấu 0,29%, giảm 0,05% so với tỷ lệ nợ xấu cuối năm 2023. VI. KHOA HỌC CÔNG NGHỆ Trong tháng, Hội đồng tư vấn tuyển chọn tổ chức, cá nhân thực hiện 03 nhiệm vụ Khoa học & Công nghệ (KH&CN) cấp tỉnh; nghiệm thu kết thúc 01 nhiệm vụ KH&CN cấp cơ sở. Chuyển giao kết quả nghiên cứu 26 nhiệm vụ KH&CN để ứng dụng vào thực tế năm 2024 cho các cơ quan chủ trì và cơ quan nhân rộng, ứng dụng trong và ngoài tỉnh. Quyết định dừng triển khai 01 nhiệm vụ KH&CN cấp cơ sở (Nghiên cứu ứng dụng công nghệ tạo khí Ozôn (O3) hoặc oxy đơn nguyên tử [O-] để nuôi cá thâm canh khép kín, tuần hoàn nước; tạo ra sản phẩm an toàn vệ sinh thực phẩm, hạn chế ô nhiễm nguồn nước). Đến tháng 11/2024, Hội đồng tư vấn giao trực tiếp tổ chức, cá nhân triển khai 15 nhiệm vụ KH&CN (12 cấp tỉnh, 03 cấp cơ sở); quyết định công nhận 09 nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh (06 cấp tỉnh, 03 cấp cơ sở); tổ chức họp Hội đồng tư vấn tuyển chọn/giao trực tiếp tổ chức, cá nhân thực hiện 17 nhiệm vụ KH&CN (15 cấp tỉnh, 02 cấp cơ sở); nghiệm thu kết thúc 09 nhiệm vụ KH&CN (04 cấp tỉnh, 05 cấp cơ sở); kiểm tra tiến độ thực hiện 05 nhiệm vụ KH&CN (04 cấp tỉnh, 01 cấp cơ sở); nghiệm thu giai đoạn 15 nhiệm vụ KH&CN (11 cấp tỉnh, 04 cấp cơ sở); gia hạn 08 nhiệm vụ KH&CN (06 cấp tỉnh, 02 cấp cơ sở).VII. CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Lao động việc làm: Trong tháng, tư vấn nghề, việc làm, pháp luật lao động và tư vấn khác cho 1.137 lượt lao động, bằng 37,5% so cùng kỳ. Trong đó: tư vấn nghề cho 23 lao động; tư vấn việc làm 222 lao động; tư vấn việc làm cho lao động thất nghiệp cho 865 lao động; tư vấn pháp luật lao động và tư vấn khác cho 27 lao động. Từ đầu năm đến nay, thực hiện tư vấn cho 19.716 lượt lao động, bằng 72,7% so cùng kỳ, đạt 98,6% kế hoạch. Trong đó: tư vấn nghề cho 703 lượt lao động; tư vấn việc làm cho 2.674 lượt lao động; tư vấn việc làm cho 15.845 lượt lao động thất nghiệp; tư vấn pháp luật lao động và tư vấn khác cho 494 lượt lao động. Giới thiệu việc làm cho 246 lượt lao động, tăng 32,3% so cùng kỳ, trong đó có 98 lao động có được việc làm ổn định, bằng 83% so cùng kỳ. Từ đầu năm đến nay, giới thiệu việc làm cho 3.037 lượt lao động, bằng 92% so cùng kỳ, trong đó có 1.089 lao động có được việc làm ổn định, bằng 80% so cùng kỳ. Tư vấn đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài trong tháng cho 58 lượt lao động, bằng 85% so cùng kỳ; có 01 lao động đăng ký tham gia đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, bằng 50% so cùng kỳ; có 35 lao động xuất cảnh đi làm việc ở nước ngoài. Từ đầu năm đến nay, tư vấn đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài cho 849 lượt lao động, bằng 69% so cùng kỳ; có 74 lao động đăng ký tham gia đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, tăng 34,5% so cùng kỳ; có 446 người xuất cảnh đi làm việc ở nước ngoài, bằng 95,9% so cùng kỳ, qua các thị trường, trong đó: Nhật Bản 346 lao động; Đài Loan 60 lao động; Canada 12 lao động; Mỹ 08 lao động; Hàn Quốc 07 lao động.... Trong tháng, ghi nhận 1.038 lao động đăng ký hưởng trợ cấp thất nghiệp, giảm 65,3% so cùng kỳ; có 1.152 lao động được hưởng trợ cấp thất nghiệp, giảm 39,5% với tổng số tiền chi trả khoảng 23,7 tỷ đồng, giảm 46,1%. Từ đầu năm đến nay, ghi nhận 17.846 lao động đăng ký hưởng trợ cấp thất nghiệp, giảm 18,3%; có 17.382 lao động được hưởng trợ cấp thất nghiệp, giảm 16% với tổng số tiền chi trả khoảng 380,1 tỷ đồng, giảm 14% so cùng kỳ. 2. Chính sách xã hội: Trong tháng, các chế độ ưu đãi cho người có công được thực hiện: trợ cấp 1 lần cho thân nhân thờ cúng liệt sĩ; trợ cấp mai táng phí: 75 trường hợp; trợ cấp hàng tháng đối với con liệt sĩ tàn tật: 01 trường hợp; giảm tuất vợ Liệt sĩ tái giá: 10 trường hợp; trợ cấp 01 lần Bằng khen Quyết định 24/TTg-CP: 02 trường hợp; trợ cấp 01 lần người có công giúp đỡ cách mạng: 02 trường hợp. 3. Hoạt động y tế: Trong tháng, ghi nhận 08/44 bệnh truyền nhiễm. So cộng dồn cùng kỳ về số mắc có 08 bệnh tăng (Bệnh do liên cầu lợn ở người, Ho gà, Lao phổi, Liệt mềm cấp nghi bại liệt, Quai bị, Sởi, Viêm gan vi rút C, Viêm não Nhật bản), 10 bệnh giảm (Bệnh do vi rút Adeno, Sốt xuất huyết Dengue, Tay - chân - miệng, Thương hàn, Thủy đậu, Tiêu chảy, Uốn ván khác, Viêm gan vi rút B, Viêm não vi rút khác, Bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona) và 26 bệnh không xảy ra ca mắc. Các bệnh truyền nhiễm ghi nhận trong tháng: bệnh Sốt - xuất - huyết ghi nhận 261 ca; bệnh Tay - chân - miệng ghi nhận 1.463 ca. Từ đầu năm đến nay, bệnh Sốt - xuất - huyết ghi nhận 1.645 ca, giảm 48,6% so cùng kỳ; bệnh Tay - chân - miệng ghi nhận 4.674 ca, giảm 22,9%. Phòng chống HIV/AIDS: trên địa bàn tỉnh hiện có 7.057 người nhiễm HIV; 1.819 người chuyển sang AIDS; tử vong do AIDS: 1.377 người. Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang ban hành kế hoạch tổ chức Tháng hành động quốc gia phòng, chống HIV/AIDS năm 2024 (Tháng hành động) từ ngày 10/11 - 10/12/2024, với chủ đề “Công bằng, bình đẳng trong tiếp cận dịch vụ phòng, chống HIV/AIDS - Hướng tới chấm dứt dịch bệnh AIDS vào năm 2030”. Tháng hành động quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đã chính thức được Ủy ban Quốc gia phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm phát động từ năm 2008 và từ đó đến nay đã trở thành sự kiện quan trọng hàng năm, huy động cả cộng đồng vào cuộc chiến với đại dịch HIV/AIDS. Tình hình khám chữa bệnh trong tháng: số lượt người khám bệnh trong tháng 432.745 lượt người; số người điều trị nội trú 22.371 lượt người. Từ đầu năm đến nay, số người khám bệnh là 4.302.677 lượt người, tăng 2,9% so cùng kỳ; số người điều trị nội trú là 214.979, tăng 21,7% so cùng kỳ. Công suất sử dụng giường bệnh bình quân trong tháng đạt 101,7% . 4. Hoạt động giáo dục Tổ chức Kỷ niệm 42 năm ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 - 20/11/2024). Tổ chức viện trợ phi lợi nhuận FHF tại Việt Nam và Bệnh viện Mắt Tiền Giang phối hợp tổ chức khám chuyên khoa và cấp kính cho 4 đơn vị trường học: Trung học cơ sở Trừ Văn Thố, Thị xã Cai Lậy: ngày 28, 29, 30/10/2024; Tiểu học Đông Hòa Hiệp, huyện Cái Bè: ngày 31/10/2024; Tiểu học Phú Thạnh, huyện Tân Phú Đông: ngày 01/11/2024; Trung học cơ sở Nguyễn Văn Thiều, huyện Gò Công Tây: ngày 04, 05, 06/11/2024. Hoàn thiện văn bằng tốt nghiệp THPT năm 2024 và bàn giao cho các cơ sở giáo dục để phát cho người học. 5. Hoạt động văn hóa - thể thao: Hoạt động bảo tàng: trong tháng, trưng bày hiện vật ngoài trời và trưng bày cố định các chuyên đề theo tiến trình lịch sử tại các di tích tại Bảo tàng Tiền Giang. Trong tháng 11 năm 2024, Bảo tàng tỉnh và các di tích trực thuộc đón tiếp 9.855 lượt khách tham quan. Hoạt động văn hóa nghệ thuật: trong tháng, Trung tâm Văn hóa tỉnh tổ chức 04 buổi biểu diễn nghệ thuật, có khoảng 1.750 lượt người xem. Thực hiện 200 cờ phướn các loại, 20 ụ cờ tuyên truyền hưởng ứng Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2024, tuyên truyền Bình đẳng giới. Hoạt động thư viện: trong tháng, Thư viện tỉnh, Phòng Giáo dục và Đào tạo thị xã Cai Lậy, Trung tâm Văn hóa - Thể thao và Truyền thanh huyện Tân Phước phối hợp tổ chức Chuyến xe Thư viện thông minh lưu động tại các trường học với 1.844 lượt bạn đọc và 6.316 lượt sách, báo lưu hành. Tổ chức nói chuyện chuyên đề với chủ đề “Thanh thiếu niên với văn hóa đọc” với hơn 270 đại biểu và học sinh tham dự tại huyện Cai Lậy. Trong tháng, Thư viện tỉnh đã phục vụ được 59.671 lượt bạn đọc, với 66.171 lượt sách báo lưu hành. Hoạt động thể dục - thể thao: trong tháng, Đoàn thể thao Tiền Giang tham gia 05 giải quốc gia: giải Cầu lông các cây vợt xuất sắc quốc gia; giải Vô địch PencakSilat quốc gia; giải Vô địch Taekwondo quốc gia; giải Bóng bàn các đội mạnh quốc gia; giải Đua thuyền Rowing vô địch quốc gia. Kết quả đạt 07 huy chương các loại, trong đó có: 02 huy chương Vàng, 01 huy chương Bạc và 04 huy chương Đồng. 6. Trật tự an toàn giao thông (theo báo cáo ngành công an tỉnh, số liệu tính từ ngày 15/10/2024 đến 14/11/2024): Giao thông đường bộ: tai nạn giao thông trong tháng xảy ra 36 vụ, tăng 09 vụ so tháng trước và tăng 09 vụ so cùng kỳ; làm chết 21 người, tăng 03 người so tháng trước và giảm 02 người so cùng kỳ; bị thương 21 người, tăng 06 người so tháng trước và tăng 13 người so cùng kỳ. Nâng tổng số vụ từ đầu năm đến nay 300 vụ, tăng 22 vụ so cùng kỳ; làm chết 200 người, giảm 06 người; bị thương 170 người, tăng 41 người. Các nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông như: uống rượu say, điều khiển xe khi có rượu bia, phóng nhanh vược ẩu, không làm chủ tốc độ; không đi đúng phần đường, làn đường; không nhường đường, vượt đèn đỏ, thiếu quan sát… Giao thông đường thủy: trong tháng không xảy ra tai nạn giao thông đường thủy. Tổng số vụ từ đầu năm đến nay là 02 vụ, giảm 01 vụ so cùng kỳ; 01 người chết, tăng 01 người chết và không có người bị thương tương đương so cùng kỳ. 7. Tình hình an ninh trật tự an toàn xã hội (theo báo cáo ngành Công an): Tội phạm về trật tự xã hội trong tháng, ghi nhận 97 vụ, tăng 16 vụ so với tháng trước và tăng 31 vụ so cùng kỳ năm trước, làm chết 02 người, bị thương 29 người, tài sản thiệt hại khoảng 11,3 tỷ đồng; điều tra khám phá 79 vụ (đạt 81,4%), bắt xử lý 128 đối tượng, thu hồi tài sản khoảng 449 triệu đồng. Tính đến tháng 11 năm 2024, ghi nhận 804 vụ, giảm 91 vụ so cùng kỳ, chết 20 người, bị thương 147 người, tài sản thiệt hại khoảng 58,6 tỷ đồng; điều tra khám phá 660 vụ (đạt 82,1%), xử lý 1.170 đối tượng. Phát hiện, xử lý 13 vụ, 18 đối tượng phạm tội về ma túy, tang vật thu giữ: 0,78 gram heroin, 38,35 gram ma túy tổng hợp; xử lý vi phạm hành chính 175 đối tượng có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. 8. Tình hình cháy nổ, môi trường và thiên tai: Trong tháng, cháy không xảy ra. Số vụ cháy 11 tháng năm 2024 là 16 vụ, tăng 07 vụ so cùng kỳ và thiệt hại tài sản 16,2 tỷ đồng. Lĩnh vực môi trường trong tháng không có xảy ra vụ vi phạm. Từ đầu năm đến nay có 17 vụ vi phạm môi trường, giảm 03 vụ với tổng số tiền xử phạt là 640,7 triệu đồng.Thiên tai trong tháng xảy ra 01 vụ lốc xoáy, làm 01 căn nhà bị tốc mái ở thị xã Cai Lậy, giá trị thiệt hại ước tính 10 triệu đồng. Từ đầu năm đến nay, đã xảy ra 98 vụ thiên tai: 01 vụ xâm nhập mặn, tăng 01 vụ so cùng kỳ; 18 vụ lốc xoáy, tăng 01 vụ và 79 vụ sạt lở đê, tăng 44 vụ; không tính vụ xâm nhập mặn thì tổng giá trị thiệt hại ước tính 244,9 tỷ đồng. Trong đó: 18 vụ lốc xoáy làm 01 người nam bị thương nhẹ, làm 14 căn nhà sập, 187 căn nhà tốc mái; 79 vụ sạt lở đê với tổng chiều dài là 7.283 mét….

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Tiền Giang Tháng 10 năm 2024
  •   04/11/2024 09:32

Trong tháng 10, tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh tiếp tục phát triển, hoạt động sản xuất kinh doanh của các Công nghiệp, Thương mại, Dịch vụ tăng hơn so cùng kỳ. Riêng lĩnh vực Nông nghiệp - Cây hằng năm diện tích gieo trồng giảm so cùng kỳ. Kết quả thực hiện trên các lĩnh vực như sau:I. SẢN XUẤT NÔNG - LÂM NGHIỆP VÀ THỦY SẢN1. Nông nghiệp Cây lương thực có hạt: trong tháng gieo trồng 5.124 ha; sản lượng thu hoạch 1.303 tấn. Ước tính từ đầu năm đến 15/10/2024, gieo trồng được 123.254 ha, đạt 108,2% kế hoạch, giảm 6,4% so cùng kỳ; sản lượng thu hoạch 684.932 tấn, đạt 97,6% kế hoạch, giảm 5,9%; trong đó: cây lúa gieo sạ 120.984 ha, giảm 6,5%; thu hoạch 107.768 ha, giảm 7,5%; sản lượng 676.583 tấn, giảm 6%. - Cây lúa: +Vụ Hè Thu (Xuân Hè và Hè Thu): diện tích gieo trồng chính thức 62.885 ha (bao gồm: vụ Xuân Hè 19.980 ha và Hè Thu 42.905 ha), đạt 96,5% kế hoạch, giảm 7,9% so cùng kỳ, tương ứng giảm 5.423 ha; thu hoạch 100% diện tích với sản lượng 361.553 tấn, giảm 5,7% so cùng kỳ; năng suất thu hoạch bình quân đạt 57,5 tạ/ha, tăng 2,5% so cùng kỳ. Diện tích gieo trồng giảm do chuyển đổi sang đất trồng cây lâu năm là 5.133 ha, cây hàng năm khác là 362 ha, nuôi trồng thủy sản là 8 ha và đất phi nông nghiệp là 4,5 ha. Diện tích gieo trồng giảm ở các huyện: Cái Bè (giảm 4.727,4 ha), Cai Lậy (giảm 609,5 ha), huyện Gò Công Tây (giảm 104,3 ha), TP Gò Công (giảm 33,1 ha), huyện Tân Phước (giảm 12,6 ha), huyện Châu Thành (giảm 9,3 ha), huyện Chợ Gạo (giảm 7,8 ha) và huyện Gò Công Đông (giảm 3,5 ha). +Vụ Thu Đông: trong tháng diện tích gieo trồng được 5.030 ha lúa. Lũy kế đến 15/10/2024, diện tích gieo trồng ước đạt 13.216 ha, tăng 2,6% so cùng kỳ, diện tích gieo trồng ở các huyện như sau: Gò Công Tây 7.549 ha, TP Gò Công 3.400 ha, Tân Phước 1.176 ha, Châu Thành 653 ha, Gò Công Đông 237 ha, Chợ Gạo 126 ha và Tân Phú Đông 75 ha. Lúa Thu Đông 2024 xuống giống vượt kế hoạch chủ yếu tại huyện Gò Công Tây, Gò Công Đông và TP. Gò Công do điều chỉnh theo Thông báo kết luận số 3809/TB-SNN&PTNT ngày 30/8/2024, sử dụng giống lúa ngắn ngày, để bố trí thời vụ lúa Đông Xuân 2024-2025 an toàn, hiệu quả, tránh hạn mặn và thiếu nước cuối vụ, điều này sẽ đảm bảo vụ lúa đông xuân 2024 - 2025 an toàn vừa giúp đa dạng hóa cơ cấu cây trồng và tăng giá trị sản xuất, góp phần tối ưu hóa lợi nhuận cho người dân. Vụ lúa Thu Đông trên địa bàn tỉnh gieo trồng chủ yếu ở các huyện hạ lưu sông Tiền như: huyện Chợ Gạo, huyện Gò Công Tây, thành phố Gò Công, huyện Gò Công Đông…. Nông dân tranh thủ xuống giống lúa để đảm bảo nguồn nước sản xuất trong vụ Đông Xuân kế tiếp. Hình 1. Cây Lúa tính đến 15/10/2024 - Cây ngô: diện tích gieo trồng tháng 10 là 94 ha. Đến nay gieo trồng được 2.270 ha, đạt 97,2% kế hoạch, tăng 0,6% so cùng kỳ; thu hoạch 2.270 ha, tăng 0,6%; năng suất bình quân đạt 36,8 tạ/ha, giảm 1,0% với sản lượng đạt 8.349 tấn, giảm 0,4%. Cây rau đậu các loại: trong tháng gieo trồng 1.509 ha; thu hoạch 2.650 ha với sản lượng 63.660 tấn. Ước tính 10 tháng, gieo trồng được 50.762 ha, đạt 92,7% kế hoạch, giảm 2,6% so cùng kỳ; thu hoạch 50.762 ha, giảm 2,6%; sản lượng 1.134.701 tấn, đạt 94,8% kế hoạch, tăng 0,5% so cùng kỳ. Trong đó: rau các loại 50.509 ha, giảm 2,6%; thu hoạch 50.509 ha, giảm 2,6% với sản lượng 1.133.928 tấn, tăng 0,5%. Các loại rau màu có giá trị kinh tế và phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng được người dân canh tác thường xuyên như: rau muống, bầu, mướp, bí xanh, mướp đắng (khổ qua), dưa leo, cải các loại, hành lá, dưa hấu và các loại rau cải ngắn ngày khác. Chăn nuôi: ước thời điểm 01/10/2024 tổng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh như sau: đàn bò 119,3 ngàn con, giảm 2,8% so cùng kỳ; đàn lợn 315 ngàn con, tăng 6,8%; đàn gia cầm (không kể chim cút) 16,6 triệu con, tăng 1,8%. Tình hình dịch bệnh trên gia súc tuy vẫn còn ghi nhận, nhưng đã được kiểm soát chặt chẽ, cùng với đó người chăn nuôi tỉnh Tiền Giang linh hoạt áp dụng các giải pháp chăn nuôi an toàn sinh học nên đàn lợn, gia cầm vẫn duy trì và phát triển tốt. Đàn bò ghi nhận có xu hướng sụt giảm do hiệu quả kinh tế chưa cao, chu kỳ sản xuất dài, diện tích chăn thả bị thu hẹp.*Tình hình dịch bệnh trên vật nuôi: Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Tiền Giang Gia cầm: Bệnh cúm gia cầm trong tháng không ghi nhận. Tính từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh có 04 đàn gia cầm tại 03 xã/03 huyện (Gò Công Tây, Châu Thành và Cai Lậy) dương tính với vi rút cúm A/H5N1, đã tiêu hủy 3.355 con (trong đó các địa phương tiêu hủy 3.313 con và hộ tự hủy 42 con). Gia súc: Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: trong tháng có 05 hộ chăn nuôi lợn trên địa bàn các huyện Châu Thành, Cái Bè, Chợ Gạo có lợn mắc bệnh với 45 con/ 223 con tổng đàn; số lợn chết, đã tiêu hủy là 108 con, khối lượng 2.836 kg. Tính từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh có 86 hộ có lợn mắc bệnh/ 1.004 con lợn bệnh/ tổng đàn 3.099 con tại 32 xã/ 08 huyện (Cai Lậy, Cái Bè, Châu Thành, Tân Phước, Chợ Gạo, Gò Công Tây, Tân Phú Đông và thị xã Cai Lậy). Số lợn đã tiêu hủy là 2.131 con, khối lượng 92.894 kg. Bệnh viêm da nổi cục: trong tháng, có 02 hộ chăn nuôi có bò bệnh với 03 con bò bệnh/ tổng đàn 11 con tại huyện Châu Thành và Cái Bè. Tính từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh có 09 hộ/10 con bò bệnh/tổng đàn 41 con tại 08 xã/ 06 huyện (Cái Bè, Châu Thành, Chợ Gạo, Gò Công Tây, Tân Phú Đông và TP. Mỹ Tho). Đã tiêu hủy 01 bò bệnh chết với khối lượng 153 kg tại xã Mỹ Phong, Thành phố Mỹ Tho. Bệnh Lở mồm long móng (LMLM): trong tháng không ghi nhận. Tính từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh có 05 bò bệnh LMLM/ 12 con tổng đàn tại 01 xã/ 01 huyện (Chợ Gạo). Hình 2. Chăn nuôi tại thời điểm 01/10/2024 2. Lâm nghiệp: Tổng diện tích rừng hiện có trên địa bàn tỉnh Tiền Giang là 1.616,8 ha (không bao gồm diện tích rừng thuộc đất an ninh quốc phòng), cụ thể: 1.321,7 ha rừng phòng hộ (huyện Gò Công Đông: 380,3 ha; huyện Tân Phú Đông: 889,8 ha; huyện Tân Phước: 51,6 ha) và 295,1 ha rừng sản xuất. Trong tháng toàn tỉnh thực hiện trồng mới được 4,1 ngàn cây phân tán. Nâng tổng số cây phân tán trồng được 481,4 ngàn cây các loại, giảm 14,2% so cùng kỳ. 3. Thủy hải sản: Diện tích nuôi thủy sản trong tháng đạt 636 ha. Tính chung 10 tháng năm 2024 đạt 15.397 ha, đạt 104,8% kế hoạch, giảm 1,5% so cùng kỳ; trong đó: diện tích nuôi tôm đạt 7.872 ha, giảm 2,5%; diện tích nuôi cá đạt 4.315 ha, giảm 0,8%; diện tích nuôi thủy sản khác đạt 3.210 ha, tăng 0,1% so cùng kỳ.Sản lượng thủy sản thu hoạch trong tháng đạt 25.310 tấn. Tính chung 10 tháng năm 2024 đạt 248.643 tấn, tăng 3,8% so cùng kỳ; trong đó: sản lượng thu hoạch từ nuôi 162.127 tấn, tăng 1,4%; sản lượng khai thác 86.516 tấn, tăng 8,7%.II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆPChỉ số sản xuất công nghiệp tháng 10/2024 tăng 1,57% so với tháng trước (một số ngành sản xuất công nghiệp chủ yếu của tỉnh có chỉ số tăng như: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 10,06%; dệt tăng 10,18%; sản xuất kim loại tăng 1,38%; Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 3,17%...) và tăng 13,7% so cùng kỳ. Các ngành chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh có chỉ số tăng cao so cùng kỳ, như: In, sao chép bản ghi các loại tăng 99,87%; Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 43,15%; Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 29,41%; ...(ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 14,79%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 16,18%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 0,09%).Chỉ số sản xuất công nghiệp 10 tháng đầu năm 2024 tăng 11,89% so cùng kỳ; trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,80% (sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 60,16%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 48,43%; sản xuất thiết bị điện tăng 32,01%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 20,49%...); sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 14,54%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,85%.Chỉ số sản xuất sản phẩm trong 10 tháng so cùng kỳ như sau:- Có 36/54 sản phẩm tăng so cùng kỳ: thanh nhôm, que nhôm, nhôm ở dạng hình tăng 217%; gạo đã xát toàn bộ hoặc sơ bộ, đã hoặc chưa đánh bóng hạt hoặc hồ tăng 208%; thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng bột/cốm tăng 175%; dây thép không gỉ tăng 77,8%; phi lê đông lạnh tăng 49,3%; dịch vụ thu gom rác thải không độc hại có thể tái chế tăng 44,1%; điện gió tăng 42,6%; thùng chứa, bể và các loại đồ chứa tương tự dung tích trên 300 lít bằng plastic tăng 40,9%; giày, dép không thấm nước có đế ngoài và mũ bằng cao su và plastic tăng 40,7%; bóng thể thao khác tăng 30,8%; thanh, que bằng thép hợp kim rỗng tăng 28,7%; cáp đồng trục và dây dẫn điện đồng trục tăng 17,7%; ống và ống dẫn bằng đồng 11,7%; điện thương phẩm tăng 11,2%; tàu thuyền lớn chuyên chở người và hàng hóa có động cơ đẩy tăng 9,6%; giày, dép thể thao có đế ngoài và mũ giày bằng cao su và plastic tăng 9,6%; nước uống được tăng 5,2%; dịch vụ sửa chữa, bảo dưỡng tàu, thuyền tăng 3,8%; dịch vụ tiện các bộ phận kim loại tăng 1,4%; thức ăn cho gia súc tăng 1,2%; túi xách tăng 0,4%;… - Có 18/54 sản phẩm giảm so cùng kỳ: màn bằng vải khác giảm 75,8%; máy gặt đập liên hợp giảm 40%; thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng viên giảm 31%; các sản phẩm bằng vật liệu tết bện khác giảm 25,1%; bia đóng chai giảm 20,9%; máy chế biến thịt gia súc hoặc gia cầm giảm 16,7%; đồ chơi hình con vật hoặc sinh vật không phải hình người giảm 13,5%; giày, dép thể thao có mũ bằng da và có đế ngoài giảm 9,4%; phân vi sinh giảm 7,6%; bia đóng lon giảm 7%; áo khoác dài, áo khoác không tay, áo khoác có mũ, áo gió cho người lớn dệt kim hoặc đan móc giảm 5,1%; thức ăn cho thủy sản giảm 5%; cửa ra vào, cửa sổ bằng sắt, thép giảm 0,3%;…Hình 3. Chỉ số sản xuất công nghiệp* Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: - Chỉ số tiêu thụ tháng 10/2024 so với tháng trước giảm 1,12% và tăng 25,01% so cùng kỳ. Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cộng dồn từ đầu năm đến cuối tháng 10 năm 2024 tăng 16,03%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng so cùng kỳ: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 25,53%, trong đó sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thuỷ sản tăng 5,1%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 32,34%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 44,28%; sản xuất sản phẩm cao su và plastic tăng 23,22%; sản xuất kim loại tăng 16,68%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 62,2%; sản xuất thiết bị điện tăng 45,34%, trong đó sản xuất dây cáp, dây điện và điện tử khác tăng 71,12%;…Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm so cùng kỳ: sản xuất đồ uống giảm 4,68%, trong đó sản xuất bia giảm 4,68%; dệt giảm 15,02%; sản xuất trang phục giảm 16,56%; sản xuất da giảm 1,21%, trong đó sản xuất giày dép giảm 2,69%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ giảm 25,21%;... - Chỉ số tồn kho tháng 10/2024 tăng 10,11% so với tháng trước và giảm 9,3% so với cùng kỳ. Một số ngành có chỉ số tồn kho giảm so với cùng kỳ: sản xuất chế biến thực phẩm giảm 16,52%, trong đó chế biến, bảo quản thủy sản giảm 21,03%; sản xuất trang phục giảm 18,36%; sản xuất kim loại giảm 8,34%;…Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tồn kho tăng so cùng kỳ: dệt tăng 1,57%, trong đó sản xuất sợi tăng 65,46%; sản xuất da tăng 6,18%, trong đó sản xuất giày dép tăng 11,29%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 21,95%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 4,55%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẳn bằng gấp 2,3 lần (235,36%); sản xuất thiết bị điện tăng 29,69%, trong đó sản xuất mô tơ điện tăng 35,33%; chế biến, chế tạo khác tăng 4,92%, trong đó sản xuất đồ chơi, trò chơi tăng 4,92%;… III. ĐẦU TƯ - XÂY DỰNG Tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý thực hiện trong tháng là 516 tỷ đồng, giảm 28% so cùng kỳ. Mười tháng thực hiện 4.234 tỷ đồng, đạt 85,3% kế hoạch, giảm 14,5% so cùng kỳ. Hiện nay công tác giải ngân vốn đầu tư công trên địa bàn tỉnh theo kế hoạch năm 2024 đã và đang thực hiện rất tốt, do Ủy ban nhân dân tỉnh chủ động quản lý, phân bổ vốn cho các công trình cấp thiết; điều chuyển nguồn từ công trình có khối lượng và giá trị giải ngân thấp sang công trình có khối lượng và giá trị giải ngân cao. Hình 4. Cơ cấu vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý - 10 tháng năm 2024 Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh thực hiện 3.555 tỷ đồng, đạt 91,5% kế hoạch, giảm 14,4% so cùng kỳ, chiếm 84% tổng số; trong đó: vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 967 tỷ đồng, giảm 36% so cùng kỳ .Các ngành các cấp yêu cầu các ban quản lý chủ đầu tư tập trung điều kiện đẩy nhanh tiến độ thi công của các dự án công trình trong những tháng cuối năm 2024, nhiều công trình đã hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng, các công trình còn lại thi công đúng theo tiến độ đề ra. Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp huyện thực hiện 517 tỷ đồng, đạt 56,1% kế hoạch, tăng 13,2% so cùng kỳ và chiếm 12,2% tổng số; trong đó: vốn tỉnh hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 178 tỷ đồng, giảm 9,3% so cùng kỳ... Các Ban quản lý dự án huyện tập trung điều kiện đẩy nhanh tiến độ thi công cho các công trình giao thông phục vụ ra mắt huyện nông thôn mới, các công trình cầu yếu trên các tuyến đường huyện, an toàn giao thông,… Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp xã thực hiện 161 tỷ đồng, đạt 103,6% kế hoạch, bằng 47,4% so cùng kỳ, chiếm 3,8% tổng số; trong đó: vốn huyện hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 72 tỷ đồng, bằng 39,4% so cùng kỳ... Các ban quản lý dự án tập trung điều kiện đẩy nhanh tiến độ để thực hiện các công trình giao thông, thủy lợi nội đồng phục vụ địa phương. Trong đó, ưu tiên bố trí các dự án khởi công mới thuộc lĩnh vực giao thông, phòng, chống thiên tai, xử lý sạt lở bờ sông, biến đổi khí hậu. Nhằm phục vụ đi lại và vận chuyển hàng hóa của người dân đồng thời hoàn thành tiêu chí để ra mắt xã nông thôn mới nâng cao.IV. THƯƠNG MẠI - GIÁ CẢ - DỊCH VỤ 1. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng: Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trong tháng thực hiện 7.577 tỷ đồng, tăng 1% so tháng trước và tăng 10,9% so cùng kỳ. Mười tháng tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thực hiện 73.916 tỷ đồng, đạt 83,1% kế hoạch, tăng 9% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 56.795 tỷ đồng, tăng 8%; lưu trú 292 tỷ đồng, tăng 17,3%; ăn uống 7.092 tỷ đồng, tăng 27,3%; du lịch lữ hành 187 tỷ đồng, tăng 25,8%; dịch vụ tiêu dùng khác 9.550 tỷ đồng, tăng 2,8% so cùng kỳ. Hình 5. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng2. Xuất - Nhập khẩu (Theo báo cáo Sở Công Thương)Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng ước thực hiện 515 triệu USD, tăng 0,9% so tháng trước và tăng 4,9% so cùng kỳ. Mười tháng xuất khẩu ước đạt 4.975 triệu USD, đạt 99,5% kế hoạch, tăng 11,3% so cùng kỳ; trong đó: kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 77,6% tổng kim ngạch xuất khẩu. b. Nhập khẩu: Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa trong tháng 10/2024 ước 210 triệu USD, tăng 5% so tháng trước và tăng 1,2% so cùng kỳ. Mười tháng, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 2.610 triệu USD, đạt 104,4% kế hoạch, tăng 16,9% so cùng kỳ; trong đó, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 92,54% trên tổng kim ngạch nhập khẩu. Nguyên liệu nhập khẩu chủ yếu các mặt hàng như: kim loại thường khác (kể cả nguyên liệu đồng) chiếm 41,43%; sắt thép các loại chiếm 26,67%; nguyên phụ liệu dệt may, da giày, túi xách chiếm 10%; vải nguyên liệu chiếm 9,52%; chất dẻo nguyên liệu (hạt nhựa) chiếm 5,71%; … 3. Chỉ số giá:Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10/2024 tăng 0,11% so tháng 9/2024 (thành thị tăng 0,25%, nông thôn giảm 0,08%); so cùng kỳ tăng 3,28%. So với tháng 9/2024, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, có 09 nhóm tăng: đồ uống và thuốc lá tăng 0,12%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,11%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,11%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%; giao thông tăng 0,38%; bưu chính viễn thông tăng 0,06%; giáo dục tăng 3,11%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,04%; hàng hoá và dịch vụ khác tăng 0,21%. Có 02 nhóm giảm: hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,08%, (trong đó: lương thực tăng 0,03%, thực phẩm giảm 0,15%); nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,37%.Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 10 tháng năm 2024 so cùng kỳ tăng 4,26%. Một số nhóm hàng có giá tăng trong 10 tháng năm 2024 so cùng kỳ: nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 8,26%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 7,05% (trong đó, dịch vụ khám sức khỏe tăng 8,27%); hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,89% (trong đó, tăng cao nhất là nhóm hàng lương thực tăng 18,53%; kế đến là ăn uống ngoài gia đình tăng 5,92% và nhóm thực phẩm tăng 3,22%); Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,62%.... Chỉ riêng nhóm hàng bưu chính viễn thông giảm 0,76% so cùng kỳ đã kiềm hãm tốc độ tăng.  Chỉ số giá vàng 24 kara Ngọc Thẩm trong tháng 10/2024 tăng 5,54% so tháng trước, giá bình quân tháng 10/2024 là 8.311 ngàn đồng/chỉ (tăng 2.561.000 đồng/chỉ so cùng kỳ). Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng 10/2024 tăng 0,32% so tháng trước, giá bình quân 24.981 đồng/USD (tăng 405 đồng/USD so cùng kỳ).4. Du lịch:         Khách du lịch đến trong tháng 10/2024 được 137.362 lượt khách, tăng 5,6% so tháng trước, trong đó khách quốc tế 39.024 lượt khách, tăng 2,7% so tháng trước. Doanh thu lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ tiêu dùng khác trong tháng 10 đạt 1.773.420 tỷ đồng, giảm 1,2% so tháng trước và tăng 8,3% so cùng kỳ.Tính chung mười tháng đầu năm 2024, lượt khách du lịch đến Tiền Giang là 1.368 ngàn lượt khách, đạt 82,9% kế hoạch và tăng 18,4% so cùng kỳ; trong đó: khách quốc tế 425 ngàn lượt khách, tăng 25,9% so cùng kỳ. Tổng doanh thu thu lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ tiêu dùng khác đạt 17.121 tỷ đồng, tăng 12,2% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu dịch vụ ăn uống đạt 7.092 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 41,4%, tăng 27,3%; lưu trú đạt 292 tỷ đồng, tăng 17,3% so cùng kỳ... 5. Vận tải:Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trong tháng thực hiện 275 tỷ đồng, tăng 1,9% so tháng trước và tăng 21,8% so cùng kỳ. Mười tháng thực hiện 2.507 tỷ đồng, tăng 23% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 647 tỷ đồng, tăng 23%; doanh thu vận tải hàng hóa thực hiện 1.631 tỷ đồng, tăng 24,6% so cùng kỳ. Doanh thu vận tải đường bộ thực hiện 989 tỷ đồng, tăng 23%; doanh thu vận tải đường thủy thực hiện 1.288 tỷ đồng, tăng 25%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 229 tỷ đồng, tăng 12,4% so cùng kỳ.Vận tải hành khách trong tháng đạt 1.844 ngàn hành khách, giảm 0,2% so tháng trước và tăng 19,4% so cùng kỳ. Luân chuyển 58.814 ngàn hành khách.km, giảm 1,9% so tháng trước và tăng 19,9% so cùng kỳ. Mười tháng, vận chuyển 16.808 ngàn hành khách, tăng 20,9% so cùng kỳ; luân chuyển 519.279 ngàn hành khách.km, tăng 24,4% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 6.940 ngàn hành khách, tăng 24,7% và luân chuyển 507.904 ngàn hành khách.km, tăng 24,5% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 9.868 ngàn hành khách, tăng 18,3% và luân chuyển 11.375 ngàn hành khách.km, tăng 18,4% so cùng kỳ. Vận tải hàng hóa trong tháng đạt 1.872 ngàn tấn, tăng 4,2% so tháng trước và tăng 21,8% so cùng kỳ; luân chuyển 369.337 ngàn tấn.km, tăng 3,8% so tháng trước và tăng 23,7% so cùng kỳ. Mười tháng, vận tải 15.975 ngàn tấn hàng hóa, tăng 23,9% so cùng kỳ; luân chuyển 3.117.630 ngàn tấn.km, tăng 26,3% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 2.185 ngàn tấn, tăng 22,2% và luân chuyển 525.097 ngàn tấn.km, tăng 27,1% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 13.790 ngàn tấn, tăng 24,2% và luân chuyển 2.592.533 ngàn tấn.km, tăng 26,1% so cùng kỳ.6. Bưu chính viễn thông: Doanh thu trong tháng 10/2024 đạt 313 tỷ đồng, giảm 0,9% so tháng trước và tăng 4,8% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính đạt 28 tỷ đồng, giảm 0,7% và viễn thông 285 tỷ đồng, giảm 0,9% so tháng trước. Mười tháng doanh thu dịch vụ bưu chính, viễn thông đạt 3.128 tỷ đồng, tăng 5,2% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính đạt 275 tỷ đồng, tăng 4% và viễn thông 2.853 tỷ đồng, tăng 5,3% so cùng kỳ. Tổng số thuê bao điện thoại có trên mạng đến cuối tháng 10/2024 là 130.527 thuê bao, mật độ bình quân đạt 7,29 thuê bao/100 dân (chỉ tính thuê bao cố định và di động trả sau). Thuê bao internet có trên mạng cuối tháng 10/2024 là 408.758 thuê bao, mật độ internet bình quân đạt 22,8 thuê bao/100 dân. Số lượng điện thoại cố định có dây, không dây tiếp tục giảm, do khách hàng chuyển sang sử dụng điện thoại di động, trong đó chủ yếu là điện thoại di động trả trước. Số thuê bao điện thoại di động có sử dụng internet (3G, 4G) đến cuối tháng 10/2024 là 1.662.811 thuê bao. V. TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG 1. Tài chính: Thu ngân sách trên địa bàn trong tháng thực hiện 1.153 tỷ đồng; trong đó: thu nội địa 908 tỷ đồng. Mười tháng, thu 21.165 tỷ đồng, đạt 145,2% dự toán, tăng 18,7% so cùng kỳ; trong đó: thu nội địa 9.893 tỷ đồng, đạt 112,4% dự toán, tăng 18% so cùng kỳ (trong thu ngân sách trên địa bàn: thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 2.726 tỷ đồng, đạt 131,1% dự toán, tăng 8,8% so cùng kỳ; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 1.701,5 tỷ đồng, đạt 140,6% dự toán,tăng 62,8% so cùng kỳ...). Tổng chi ngân sách nhà nước trong tháng 1.340 tỷ đồng; trong đó: chi đầu tư phát triển 550 tỷ đồng. Mười tháng, chi 13.666 tỷ đồng, đạt 92,4% dự toán, tăng 18,1% so cùng kỳ; trong đó: chi đầu tư phát triển 5.801 tỷ đồng, đạt 118,8% dự toán, tăng 26,1% so cùng kỳ;chi hành chính sự nghiệp 6.310 tỷ đồng, đạt 75,6% dự toán và tăng 21,1% so cùng kỳ. 2. Ngân hàng: - Đến cuối tháng 9/2024, vốn huy động đạt 104.017 tỷ đồng, tăng 7.135 tỷ, tỷ lệ tăng 7,36% so cuối năm 2023; Tổng dư nợ cho vay đạt 103.564 tỷ, tăng 6.261 tỷ, tỷ lệ tăng 6,43% so với cuối năm 2023. Các tổ chức tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn cho 237.786 lượt khách hàng vay vốn. Ước đến cuối tháng 10/2024, vốn huy động đạt 104.017 tỷ đồng, tăng 7.135 tỷ đồng, tăng 7,36% so với cuối năm 2023; tổng dư nợ cho vay đạt 106.457 tỷ, tăng 2.893 tỷ đồng, tương đương tăng 9,41%. - Nợ xấu: đến cuối tháng 9/2024, nợ xấu nội bảng là 2.138,76 tỷ đồng, tỷ lệ 2,07%, tăng 0,45% tương đương tăng 569 tỷ đồng so với cuối năm 2023. Cơ cấu các nhóm nợ so với cuối năm 2023 như sau: Nhóm 3: 375 tỷ, chiếm 17,54% trên tổng nợ xấu; Nhóm 4: 560 tỷ, chiếm 26,18%; Nhóm 5: 1.196 tỷ, chiếm 55,92% tổng dư nợ. Ước đến cuối tháng 10/2024, nợ xấu là 2.674 tỷ, tỷ lệ nợ xấu 2,51%, tăng 0,9% so với cuối năm 2023 - Đến cuối tháng 9/2024, tổng nguồn vốn hoạt động đạt 1.688 tỷ đồng, tăng 142 tỷ, tương đương tăng 9,17%, trong đó huy động vốn chiếm 88%; dư nợ cho vay đạt 1.234 tỷ (ngắn hạn đạt 555,3 tỷ đồng chiếm 45%), tăng 88,9 tỷ, tỷ lệ tăng 7,77%; tỷ lệ nợ xấu 0,3%, giảm 0,04% so với tỷ lệ nợ xấu cuối năm 2023. Nhìn chung, hệ thống QTDND trên địa bàn hoạt động ổn định, sát với mục tiêu; giải quyết công ăn việc làm, cải thiện và nâng cao chất lượng đời sống, xóa đói giảm nghèo và làm giàu chính đáng của các thành viên, hạn chế tín dụng đen…, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương nhất là tại khu vực nông thôn.VI. KHOA HỌC CÔNG NGHỆ Trong tháng, triển khai quyết định 02 nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh; công nhận 04 nhiệm vụ khoa học và công nghệ (KH&CN) (01 cấp tỉnh, 03 cấp cơ sở); tổ chức họp Hội đồng tư vấn tuyển chọn tổ chức, cá nhân thực hiện 03 nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh; nghiệm thu kết thúc 02 nhiệm vụ KH&CN (01 cấp tỉnh, 01 cấp cơ sở); nghiệm thu giai đoạn 02 nhiệm vụ KH&CN (01 cấp tỉnh, 01 cấp cơ sở). Đến hết tháng 10/2024, triển khai quyết định 15 nhiệm vụ KH&CN (12 cấp tỉnh, 03 cấp cơ sở); quyết định công nhận 09 nhiệm vụ KH&CN (06 cấp tỉnh, 03 cấp cơ sở); tổ chức họp Hội đồng tư vấn giao trực tiếp tổ chức, cá nhân thực hiện 14 nhiệm vụ KH&CN (12 cấp tỉnh, 02 cấp cơ sở); nghiệm thu kết thúc 08 nhiệm vụ KH&CN (04 cấp tỉnh, 04 cấp cơ sở); kiểm tra tiến độ thực hiện 05 nhiệm vụ KH&CN (04 cấp tỉnh, 01 cấp cơ sở); nghiệm thu giai đoạn 15 nhiệm vụ KH&CN (11 cấp tỉnh, 04 cấp cơ sở); gia hạn 08 nhiệm vụ KH&CN (06 cấp tỉnh, 02 cấp cơ sở).VII. CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI  1. Lao động việc làm: Trong tháng, thực hiện tư vấn nghề, việc làm, pháp luật lao động và tư vấn khác cho 1.156 lượt lao động, bằng 49,2% so cùng kỳ. Trong đó: tư vấn nghề cho 30 lao động; tư vấn việc làm 219 lao động; tư vấn việc làm cho lao động thất nghiệp cho 877 lao động; tư vấn pháp luật lao động và tư vấn khác cho 30 lao động. Giới thiệu việc làm cho 221 lượt lao động, đạt 38,5% so cùng kỳ, trong đó có 66 lao động có được việc làm ổn định, bằng 22,2% so cùng kỳ. Tư vấn đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài cho 53 lượt lao động, bằng 52,5% so cùng kỳ; có 01 lao động đăng ký tham gia đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài; có 48 lao động xuất cảnh đi làm việc ở nước ngoài tương đương cùng kỳ, trong đó thị trường: Nhật Bản 29 lao động, Đài Loan 09 lao động, Hàn Quốc 03 lao động và Mỹ 03 lao động.... Tình hình lao động nghỉ việc, thất nghiệp: ghi nhận 1.120 lao động đăng ký hưởng trợ cấp thất nghiệp, giảm 30% so cùng kỳ; có 1.243 lao động được quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp, giảm 25,3% với tổng số tiền chi trả khoảng 24,8 tỷ đồng. 2. Chính sách xã hội: Trong tháng, thực hiện các chế độ ưu đãi cho người có công, gồm: trợ cấp 1 lần cho thân nhân thờ cúng liệt sĩ và chuyển thờ cúng 65 hồ sơ; trợ cấp mai táng phí: 78 trường hợp; trợ cấp 01 lần Bằng khen Quyết định 24/TTg-CP: 03 trường hợp; trợ cấp 01 lần người có công giúp đỡ cách mạng: 01 trường hợp, trợ cấp 01 lần người hoạt động kháng chiến: 01 trường hợp; trợ cấp mai táng phí theo các Quyết định 290/2005/QĐ-TTg, 62/2011/QĐ-TTg, 49/2015/QĐ-TTg: 64 trường hợp.... 3. Hoạt động y tế: Trong tháng có 10/44 bệnh truyền nhiễm được ghi nhận. Cộng dồn số ca mắc có 09 bệnh tăng so cùng kỳ (Bệnh do liên cầu lợn ở người, Ho gà, Lao phổi, Liệt mềm cấp nghi bại liệt, Quai bị, Sởi, Viêm gan vi rút B, Viêm gan vi rút C, Viêm não Nhật bản); 09 bệnh giảm so cùng kỳ (Bệnh do vi rút Adeno, Sốt xuất huyết Dengue, Tay - chân - miệng, Thương hàn, Thủy đậu, Tiêu chảy, Uốn ván khác, Viêm não vi rút khác, Bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona); 26 bệnh tương đương hoặc không xảy ra ca mắc. Các bệnh truyền nhiễm ghi nhận trong tháng: bệnh Sốt - xuất - huyết ghi nhận 205 ca; bệnh Tay - chân - miệng ghi nhận 1.001 ca. Tính từ đầu năm đến nay, bệnh Sốt - xuất - huyết ghi nhận 1.375 ca, giảm 53,2% so cùng kỳ; bệnh Tay - chân - miệng ghi nhận 3.211 ca, giảm 13,6%. Phòng chống HIV/AIDS: hiện nay, toàn tỉnh ghi nhận 7.039 người nhiễm HIV; 1.819 người chuyển sang AIDS; tử vong do AIDS: 1.364 người. Trong tháng, ghi nhận 01 vụ ngộ độc thực phẩm tại huyện Cai Lậy. Ghi nhận 16 người mắc ngộ độc thực phẩm và không có ca tử vong.Tình hình khám chữa bệnh trong tháng: Tổng số lần khám bệnh 380.859 lượt người, giảm 0,2% so cùng kỳ; tổng số người điều trị nội trú 19.705 lượt người, giảm 17% so cùng kỳ. Công suất sử dụng giường bệnh bình quân trong tháng đạt 92,6%. 4. Hoạt động giáo dục: Tổ chức chấm thi và chấm phúc khảo bài thi lập đội tuyển học sinh giỏi dự thi cấp quốc gia THPT năm học 2024 - 2025. Kết quả: chọn ra 90 học sinh tham gia đội tuyển học sinh giỏi dự thi cấp quốc gia năm học 2024 - 2025 ở các môn Toán, Vật lí, Hóa học, Sinh học, Tin học, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, Tiếng Anh. Quyết định đề cử lập đại biểu tham dự tập huấn vận dụng đánh giá học sinh SEA-PLM (Chương trình đánh giá kết quả học tập của học sinh tiểu học Khu vực Đông Nam Á) năm 2024, tập huấn trực tuyến vào ngày 12/10/2024, tập huấn trực tiếp vào các ngày 04-05/11/2024 tại thành phố Cần Thơ.5. Hoạt động văn hóa - thể thao: Hoạt động bảo tàng: trong tháng, tổ chức trưng bày cố định các chuyên đề phục vụ khách tham quan và trưng bày hiện vật ngoài trời. Trong tháng, Bảo tàng tỉnh và các di tích trực thuộc đón tiếp 4.136 lượt khách tham quan. Hoạt động văn hóa nghệ thuật: trong tháng, Trung tâm Văn hóa tỉnh tổ chức 02 buổi biểu diễn nghệ thuật; 17 buổi tuyên truyền lưu động tại các huyện, thành phố, thị xã, có khoảng 3.930 lượt người xem. Phục vụ nhạc nước tại Quảng trường Hùng Vương 02 suất, có khoảng 150 lượt người xem. Công đoàn Viên chức tỉnh Tiền Giang tổ chức Hội thi “Nữ cán bộ, công chức, viên chức, lao động (CBCCVCLĐ) duyên dáng tài năng” và “Tiếng hát Karaoke CBCCVCLĐ” năm 2024 chào mừng kỷ niệm Ngày Phụ nữ Việt Nam 20-10. Hoạt động thư viện: trong tháng, Thư viện tỉnh tổ chức trưng bày, triển lãm sách báo phục vụ bạn đọc nhân Kỷ niệm 94 năm ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (20/10/1930-20/10/2024). Tổ chức các hoạt động như: Chuyến xe Thư viện thông minh lưu động, Ngày hội đọc sách với chủ đề “Khai trường cùng vui đọc sách”,…tại Trường học trên địa bàn tỉnh Tiền Giang. Trưng bày 338 bản sách nhân Đại hội đại biểu Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam tỉnh Tiền Giang lần thứ VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029. Trong tháng, Thư viện tỉnh đã phục vụ 47.584 lượt bạn đọc, với 53.905 lượt sách báo lưu hành. Hoạt động thể dục, thể thao: trong tháng, tham gia thi đấu 06 giải Vô địch quốc gia như: Giải Vô địch Võ Cổ truyền quốc gia, giải Vô địch Muay quốc gia, Giải Vô địch trẻ Roller Sports quốc gia,…, 01 giải Câu lạc bộ quốc gia: Giải Bóng bàn các Câu lạc bộ quốc gia, 01 giải mở rộng: Giải Bóng đá miền Đông Nam Bộ mở rộng, kết quả đạt 39 huy chương các loại, trong đó có: 05 huy chương Vàng, 18 huy chương Bạc và 16 huy chương Đồng. 6. Tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội (Theo báo cáo của ngành công an): Tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội trong tháng được đảm bảo. Trong tháng, tội phạm về trật tự xã hội ghi nhận 81 vụ, tăng 08 vụ so với tháng 9/2024 và tăng 14 vụ so cùng kỳ; làm chết 02 người, bị thương 20 người, tài sản thiệt hại khoảng 03 tỷ đồng. Khám phá 71 vụ (đạt 87,7%), bắt xử lý 158 đối tượng, thu hồi tài sản khoảng 353 triệu đồng. Phát hiện, xử lý 19 vụ với 30 đối tượng phạm tội về ma túy, tang vật thu giữ 0,78g heroin, 74,24g ma túy tổng hợp; xử lý vi phạm 143 đối tượng có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. 7. Trật tự an toàn giao thông (Theo báo cáo của ngành công an, số liệu tính từ ngày 15/9/2024 đến 14/10/2024): Tại nạn giao thông đường bộ: tai nạn giao thông trong tháng xảy ra 27 vụ tăng, tương đương so tháng trước và tương đương so cùng kỳ; làm chết 18 người, giảm 02 người so tháng trước và giảm 03 người so cùng kỳ; bị thương 15 người giảm 02 người so tháng trước và tăng 03 người so cùng kỳ. Nâng tổng số vụ từ đầu năm đến nay 264 vụ, tăng 14 vụ so cùng kỳ; làm chết 179 người, giảm 05 người so cùng kỳ; bị thương 149 người, tăng 29 người so cùng kỳ. Tai nạn giao thông đường thủy: trong tháng xảy ra 01 vụ tai nạn; tăng 01 vụ so tháng trước và tăng 01 vụ so cùng kỳ. Tổng số vụ từ đầu năm đến nay là 02 vụ, giảm 01 vụ so cùng kỳ; 01 người chết, tăng 01 người chết và không có người bị, thương tương đương so cùng kỳ. 8. Tình hình cháy nổ, môi trường: Trong tháng, cháy không xảy ra. Số vụ cháy 10 tháng năm 2024 là 16 vụ, tăng 07 vụ so cùng kỳ và thiệt hại tài sản 16,2 tỷ đồng. Lĩnh vực môi trường trên địa bàn tỉnh trong tháng không xảy ra vụ vi phạm môi trường nào. Từ đầu năm đến nay, có 17 vụ vi phạm môi trường, giảm 03 vụ so cùng kỳ với số tiền xử phạt khoảng 640,7 triệu đồng.Tình hình thiên tai trong tháng đã xảy ra 01 vụ lốc xoáy làm 04 căn nhà bị tốc mái ở thị xã Cai Lậy và 15 vụ lở đê với tổng chiều dài là 973 mét ở thị xã Cai Lậy, huyện Cái Bè, Châu Thành; giá trị thiệt hại ước tính 37.460 triệu đồng. Từ đầu năm đến nay, đã xảy ra 97 vụ thiên tai: 01 vụ xâm nhập mặn, tăng 01 vụ so cùng kỳ; 17 vụ lốc xoáy, tăng 01 vụ và 79 vụ sạt lở đê, tăng 44 vụ, không tính vụ xâm nhập mặn thì tổng giá trị thiệt hại ước tính 244.939 triệu đồng, tăng 160.975 triệu đồng. Trong đó: 17 vụ lốc xoáy làm 01 người nam bị thương nhẹ, làm 14 căn nhà sập, 186 căn nhà tốc mái…; 79 vụ sạt lở đê với tổng chiều dài là 7.283 mét.

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Tiền Giang 9 tháng đầu năm 2024
  •   03/10/2024 10:30

Tình hình kinh tế - chính trị thế giới 9 tháng đầu năm 2024 tiếp tục diễn biến phức tạp; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gây gắt hơn; xung đột Nga - Ucraina tiếp tục kéo dài, đặc biệt là xung đột tại Biển Đỏ, dải Gaza leo thang đã gia tăng rủi ro với an toàn hàng hải, chuỗi cung ứng hàng hóa đã làm ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Ngoài ra chính sách thắt chặt tiền tệ của các nước ảnh hưởng rõ nét đến sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu của Việt Nam nói chung và Tiền Giang nói riêng, nhưng với sự chỉ đạo tập trung của Tỉnh uỷ, sự điều hành quyết liệt của Ủy ban nhân dân tỉnh trong việc triển khai thực hiện đầy đủ, kịp thời và đồng bộ các chủ trương, chính sách, các giải pháp chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh ngay từ đầu năm, tình hình sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh Tiền Giang 9 tháng đầu năm 2024 có nhiều chuyển biến tích cực, hầu hết các ngành, lĩnh vực tăng so cùng kỳ. Kết quả đạt được như sau:I. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊU KINH TẾ1. Tài chính - Ngân hàng:a. Tài chính:Thu ngân sách nhà nước: 9 tháng đầu năm 2024 ước thu được 20.060 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn thực hiện 9.003 tỷ đồng, đạt 102,3% dự toán, tăng 23,4% so cùng kỳ; thu nội địa 8.708 tỷ đồng, đạt 102,1% dự toán, tăng 23,3% so cùng kỳ. Các khoản thu chủ yếu như sau:- Thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 2.198 tỷ đồng, đạt 105,7% dự toán, tăng 3,2% so cùng kỳ.- Thu từ hoạt động xổ số kiến thiết 1.524 tỷ đồng, đạt 83,3% dự toán, tăng 4,4% so cùng kỳ.- Thu thuế công thương nghiệp ngoài quốc doanh 1.550 tỷ đồng đạt 128,1% dự toán, tăng 92,7% so cùng kỳ.Chi ngân sách nhà nước: Tổng chi ngân sách 9 tháng đầu năm 2024 là 12.448 tỷ đồng đạt 84,2% dự toán, tăng 14,3% so cùng kỳ, trong đó: chi đầu tư phát triển 5.232 tỷ đồng, đạt 107,1% dự toán, tăng 27,6%; chi hành chính sự nghiệp 5.683 tỷ đồng, đạt 68,1% dự toán và tăng 12,3% so cùng kỳ.b. Ngân hàng:Kinh tế toàn cầu diễn biến phức tạp, rủi ro bất ổn thị trường tài chính tăng cao, nhiều quốc gia tiếp tục tăng lãi suất để kiềm chế lạm phát. Các ngân hàng trên địa bàn tỉnh tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chắc chắn, linh hoạt, chủ động, kịp thời, hiệu quả; phối hợp đồng bộ, chặt chẽ với chính sách tài khóa mở rộng và các chính sách khác. Hoạt động tiền tệ ổn định, mức lãi suất tiếp tục giữ nguyên tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng (TCTD) tiếp cận nguồn vốn từ Ngân hàng nhà nước (NHNN) với chi phí thấp để góp phần hỗ trợ nền kinh tế; đồng thời tiếp tục khuyến khích TCTD tiết giảm chi phí để giảm mặt bằng lãi suất cho vay nhằm phát huy hiệu quả, hỗ trợ tích cực cho phục hồi và phát triển kinh tế.Đến cuối tháng 8/2024, vốn huy động đạt 102.371 tỷ đồng, tăng 5,67% so với cuối năm 2023, tương ứng tăng 5.489 tỷ đồng; tổng dư nợ cho vay thực hiện là 101.267 tỷ đồng, tăng 4,1% so với cuối năm 2023 tương ứng tăng 3.964 tỷ đồng. Các tổ chức tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn cho 151.027 lượt khách hàng vay vốn. Ước tính đến cuối tháng 9/2024, nguồn vốn huy động đạt 102.492 tỷ đồng, tăng 5,79% so với cuối năm 2023 tương ứng tăng 5.609 tỷ đồng; tổng dư nợ cho vay đạt 101.858 tỷ, tăng 4,68% so với cuối năm 2023, tương ứng tăng 4.554 tỷ.Về lãi suất huy động: lãi suất huy động (LSHĐ) hầu hết các chi nhánh Ngân hàng thương mại (NHTM) trên địa bàn có xu hướng giảm so với cuối năm 2023 Hiện LSHĐ đang ở mức rất thấp trong nhiều năm trở lại đây, từ 6,8%/năm trở xuống đối với tất cả các kỳ hạn. Lãi suất dài hạn được điều chỉnh giảm phổ biến từ mức trên 3% đến 4%/năm, thấp nhất là 1,5%/năm đối với tiền gửi tại quầy kỳ hạn 01 tháng, cao nhất ở mức 6,5%/năm đối với kỳ hạn 36 tháng.Lãi suất cho vay: ngắn hạn VNĐ phổ biến ở mức trên 4%-9%/năm,lãi suất cho vay trung dày hạn VNĐ phổ biến ở mức trên 9%-11%/năm. Tỷ trọng dư nợ các mức lãi suất cao hơn giảm rất mạnh. Hiện, trần lãi suất cho vay ngắn hạn 5 lĩnh vực ưu tiên của Chính phủ là 4%/năm là mức thấp nhất từ trước đến nay. Đây cũng là tín hiệu tích cực về lãi suất, góp phần hỗ trợ khách hàng sản xuất kinh doanh.Nợ xấu: đến cuối tháng 8/2024 là 2.638,6 tỷ đồng, tỷ lệ 2,61%, tăng 0,99% so với cuối năm 2023. Ước đến cuối tháng 9/2024, nợ xấu là 2.697 tỷ, tỷ lệ nợ xấu 2,65%, tăng 1,04% so với cuối năm 2023.Quỹ tín dụng nhân dân:Hệ thống qũy tín dụng nhân dân trên địa bàn hoạt động ổn định, sát với mục tiêu tương trợ thành viên; giải quyết công ăn việc làm, cải thiện và nâng cao chất lượng đời sống, xóa đói giảm nghèo và làm giàu chính đáng của các thành viên, hạn chế tín dụng đen…, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội địa. Đến cuối 8/2024, tổng nguồn vốn huy động 1.688 tỷ đồng, tăng 141 tỷ, tỷ lệ tăng 9,18% so với cuối năm 2023, trong đó vốn huy động chiếm tỷ trọng 88% trong tổng nguồn vốn hoạt động. Dư nợ cho vay đạt 1.232 tỷ đồng, tăng 86,8 tỷ, tỷ lệ tăng 7,58%, trong đó trung dài hạn đạt 678 tỷ đồng, chiếm 56% tổng dư nợ. Nợ xấu là 3,7 tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu 0,31%, giảm 0,03% so với cuối năm 2023.2. Giá cả, lạm phát:Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9/2024 tăng 0,2% so tháng 8/2024 (khu vực thành thị tăng 0,26%, nông thôn tăng 0,19%); so cùng kỳ tăng 3,11%.So với tháng 8/2024, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 9 nhóm tăng: hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,79% (lương thực tăng 0,66%, thực phẩm tăng 1,02%, ăn uống ngoài gia đình tăng 0,31%); đồ uống và thuốc lá tăng 0,46%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,3%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,49%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,27%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%; bưu chính viễn thông tăng 0,29%; giáo dục tăng 1,02% và nhóm hàng hóa dịch vụ khác tăng 0,49%. Có 2 nhóm có chỉ số IIP giảm: giao thông giảm 3,09%; văn hoá, giải trí và du lịch giảm 0,1%.Chỉ số giá tiêu dùng bình quân quý III năm 2024 so cùng kỳ tăng 4,09%; một số nhóm hàng có chỉ số giá tăng nhiều trong quý như: hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,85%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 7,11%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,98% so cùng kỳ...Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 9 tháng năm 2024 so cùng kỳ tăng 4,37%; một số nhóm hàng có chỉ số giá tăng trong 9 tháng năm 2024 so cùng kỳ như: nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 8,11%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 7,04%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,98%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,82%...Chỉ số giá vàng 24 kara Ngọc Thẩm trong tháng 9/2024 tăng 1,56% so tháng trước, giá bình quân tháng 09/2024 là 7.875 ngàn đồng/chỉ, tăng 37,63%, tương ứng tăng 2.153 ngàn đồng/chỉ so cùng kỳ.Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng 09/2024 giảm 1,68% so tháng trước, giá bình quân 24.900 đồng/USD, tăng 2,53% tương ứng tăng 614 đồng/USD so cùng kỳ.3. Đầu tư và Xây dựng:Để đạt kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2024, ngay từ đầu năm Hội đồng nhân dân tỉnh đã thông qua các chỉ tiêu kinh tế - xã hội năm 2024, trong đó có chỉ tiêu vốn đầu tư phát triển toàn xã hội, đây là chỉ tiêu quan trọng đòi hỏi Tỉnh ủy, UBND tỉnh tiếp tục tập trung huy động mọi nguồn lực, giải pháp để tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Bên cạnh đó cần phải phát huy hiệu quả vốn đầu tư công năm 2024. Ngày 08/12/2023, Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành Nghị quyết số 40/NQ-HĐND về kế hoạch đầu tư công tỉnh Tiền Giang năm 2024. Ủy ban nhân dân tỉnh chủ động quản lý, điều hành, phân bổ vốn cho các công trình cấp thiết. Nghị quyết Hội đồng nhân dân tỉnh bố trí vốn cho các công trình phục vụ các tiêu chí nông thôn mới, ứng phó biến đổi khí hậu, thanh toán khối lượng hoàn thành công trình, dự án... theo thực tế phát sinh; được phép điều chỉnh, chuyển vốn giữa các công trình có giá trị khối lượng thực hiện và giải ngân thấp, sang công trình hoàn thành hoặc có giá trị khối lượng thực hiện cao trong từng nguồn vốn đã được Hội đồng nhân dân tỉnh thông qua, để giải ngân tốt kế hoạch đầu tư công năm 2024.Vốn đầu tư toàn xã hội quý III/2024, ước thực hiện được 13.383 tỷ đồng, tăng 10,7% so cùng kỳ; trong đó: vốn đầu tư ngoài nhà nước 8.198 tỷ đồng, chiếm 61,3%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 1.252 tỷ đồng, chiếm 9,4%; vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước 3.932 tỷ đồng, chiếm 29,4%.Chín tháng đầu năm 2024, vốn đầu tư toàn xã hội ước thực hiện 33.776 tỷ đồng, đạt 67% kế hoạch, tăng 10,3% so cùng kỳ; trong đó: vốn đầu tư của dân cư và tư nhân 11.000 tỷ đồng, tăng 18,8%, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 3.297 tỷ đồng, giảm 13,8%, vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước 9.639 tỷ đồng, tăng 1,8% so cùng kỳ. Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý là 3.732 tỷ đồng, đạt 75,2% kế hoạch, giảm 11,8% so cùng kỳ; gồm có: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 3.141 tỷ đồng, giảm 10,8%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện 445 tỷ đồng, tăng 5,4%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 146 tỷ đồng, đạt 50,7% so cùng kỳ.Hình 1. Vốn đầu tư toàn xã hội - tỷ đồngCác dự án trọng điểm đầu tư từ nguồn vốn ngân sách trên địa bàn tỉnh.- Mở rộng đền thờ Anh hùng dân tộc Trương Định (khu vực II) giai đoạn 2. Tổng mức đầu tư: 41,7 tỷ đồng. Kế hoạch vốn giao năm 2024 là 21,6 tỷ đồng, lũy kế vốn giao từ đầu dự án đến nay 35,5 tỷ đồng (trong đó chi trả tiền bồi thường giải phóng mặt bằng 19,4 tỷ đồng). Trong 9 tháng năm 2024 giải ngân 20,9 tỷ đồng, đạt 97% kế hoạch năm. Lũy kế giải ngân từ đầu dự án là 34,9 tỷ đồng, đạt 83% tổng mức đầu tư.- Dự án thành phần 2 thuộc dự án Xây dựng công trình đường bộ cao tốc Cao Lãnh - An Hữu, giai đoạn 1. Tổng mức đầu tư: 3.856 tỷ đồng. Kế hoạch vốn giao năm 2024 là 1.022 tỷ đồng, lũy kế từ đầu dự án là 1.481 tỷ đồng. Trong 9 tháng giải ngân 978,2 tỷ đồng, đạt 95,7% (trong đó chuyển Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh Đồng Tháp 200,9 tỷ đồng để thực hiện công tác bồi thường giải tỏa). Lũy kế giải ngân từ đầu dự án đến nay là 984,7 tỷ đồng.- Đường giao thông hai bên bờ sông Bảo Định. Tổng mức đầu tư: 1.999,9 tỷ đồng. Kế hoạch vốn giao năm 2024 là 14,6 tỷ đồng, Vốn đầu tư giao từ đầu dự án đến nay là 217,2 tỷ đồng. Lũy kế giải ngân từ đầu dự án đến nay là 217,2 tỷ đồng.- Trường THPT Tứ kiệt. Tổng mức đầu tư: 29,9 tỷ đồng. Kế hoạch vốn giao năm 2024 là 1,7 tỷ đồng, lũy kế giao vốn từ đầu dự án đến nay là 29,1 tỷ đồng. Trong 9 tháng năm 2024 giải ngân 1,7 tỷ đồng, đạt 100%. Lũy kế giải ngân từ đầu dự án đến nay là 29,1 tỷ đồng, đạt 97% tổng mức đầu tư.4. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp:Trong những tháng đầu năm 2024, tiếp tục triển khai các giải pháp hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp như: tháo gỡ kịp thời các khó khăn, vướng mắc của các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất, kinh doanh; Xây dựng kế hoạch và dự toán kinh phí hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh năm 2024; Ngày 08/8/2024 tổ chức Ngày hội khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tỉnh Tiền Giang năm 2024, nhằm tuyên truyền các chủ trương, chính sách về khởi nghiệp đổi mới sáng tạo đến các cấp, các ngành, các tổ chức, cá nhân trên địa bàn tỉnh. Chuẩn bị tổ chức đối thoại, gặp mặt doanh nghiệp, nhà đầu tư ở các huyện, thành phía Đông của tỉnh để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các doanh nghiệp và giới thiệu tiềm năng, lợi thế, danh mục kêu gọi đầu tư ở huyện Gò Công Đông; tiếp tục thực hiện các giải pháp hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp theo tinh thần Nghị quyết 07-NQ/TU ngày 26/7/2021 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tiếp tục lãnh đạo nâng cao hiệu quả công tác hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đến năm 2025 và Kế hoạch số 188/KH-UBND ngày 29/5/2024 phát triển doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2024-2025.Theo số liệu báo cáo của Sở Kế hoạch và Đầu tư: tổng số doanh nghiệp thành lập mới, từ đầu năm đến ngày 24/9/2024 là 678 doanh nghiệp, tăng 5,6% so cùng kỳ, vốn đăng ký 4.121,7 tỷ đồng, bình quân vốn đăn ký 1 doanh nghiệp là 6,1 tỷ đồng/ doanh nghiệp; có 596 đơn vị trực thuộc doanh nghiệp được thành lập mới, giảm 2,8% so cùng kỳ; có 215 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh, bằng 67,8% so cùng kỳ.5. Sản xuất nông - lâm nghiệp và thủy sản:Tình hình sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản 9 tháng năm 2024 được duy trì ổn định, hàng hóa nông sản đáp ứng nhu cầu của thị trường trong và ngoài tỉnh. Công tác phòng chống hạn, xâm nhập mặn được chủ động triển khai thực hiện từ rất sớm nên không gây ảnh hưởng nhiều cho sản xuất nông nghiệp (từ đầu tháng 6 năm 2024 mặn không còn ảnh hưởng đến địa bàn tỉnh). Công tác chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, bản tin thời tiết nông vụ ngày càng phát huy hiệu quả. Bệnh trên cây trồng (cháy lá sầu riêng, sâu đầu đen trên dừa), bệnh trên động vật nuôi (bệnh dịch tả lợn Châu Phi, viêm da nổi cục trên bò…), thủy sản nuôi (nghêu) vẫn còn xảy ra ở một số địa phương. Các yêu cầu về kỹ thuật, kiểm dịch thực vật, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc,..của nước nhập khẩu ngày càng siết chặt là thách thức đối với việc duy trì và mở rộng vùng trồng xuất khẩu.a. Nông nghiệpCây lương thực có hạt: trong tháng gieo trồng 8.377 ha; sản lượng thu hoạch 218.820 tấn. Ước tính từ đầu năm đến 15/9/2024, gieo trồng 118.130 ha, đạt 103,7% kế hoạch, giảm 9,7% so cùng kỳ; sản lượng thu hoạch 680.581 tấn, đạt 97% kế hoạch, giảm 7,2%; trong đó: cây lúa gieo sạ 115.954 ha, giảm 9,9%, thu hoạch 107.768 ha, giảm 7,5%; sản lượng thu hoạch đạt 673.535 tấn, giảm 7,3%.- Cây lúa:+ Vụ Đông Xuân 2023 - 2024: chính thức gieo trồng được 44.883 ha, đạt 100,4% kế hoạch, giảm 6,9% (giảm 3.319 ha) so cùng kỳ; năng suất thu hoạch bình quân đạt 70,2 tạ/ha, tăng 0,6% (tăng 0,4 tạ/ha) so cùng kỳ, vùng lúa phía đông năng suất bình quân đạt 67,1 tạ/ha, phía tây là 72,9 tạ/ha; thu hoạch 100% diện tích với sản lượng 315.030 tấn, giảm 6,3% (giảm 21.287 tấn) do diện tích gieo trồng giảm 6,9% so cùng kỳ. Diện tích gieo trồng giảm do chuyển đổi 2.577,2 ha đất trồng lúa sang đất cây lâu năm, 659,3 ha trồng cây hàng năm khác, 57,9 ha đất phi nông nghiệp (xây dựng, cơ sở hạ tầng,..), 23,8 ha không sản xuất và một ha đất nuôi trồng thủy sản. Diện tích gieo trồng giảm hầu hết ở các huyện, trong đó: huyện Cái Bè giảm 1.835 ha, huyện Cai Lậy 446,6 ha, huyện Châu Thành giảm 365,1 ha, huyện Gò Công Tây giảm 285,1 ha, TP. Gò Công giảm 142,4 ha, Gò Công Đông giảm 124,7 ha, TX. Cai Lậy giảm 72,9 ha, huyện Chợ Gạo 24,3 ha, huyện Tân Phước giảm 23,2 ha. Vụ Đông Xuân 2023- 2024 được triển khai thực hiện sớm hơn so cùng kỳ để né hạn mặn trong mùa khô, thời tiết thuận lợi cho sản xuất, nguồn nước đầy đủ, chất lượng nước tốt giúp cây lúa sinh trưởng và phát triển tốt, sâu bệnh ít. Ngay từ đầu vụ, Tiền Giang có kế hoạch ứng phó với hạn hán và xâm nhập mặn. Tháng Tư và nửa đầu tháng Năm, xâm nhập mặn đạt đỉnh trùng với thời kỳ lúa đông xuân bắt đầu cho thu hoạch nên nhu cầu nước cần ít hơn, do đó không ảnh hưởng nhiều đến sản xuất vụ Đông Xuân.+Vụ Hè Thu (Xuân Hè và Hè Thu): diện tích gieo trồng chính thức 62.885 ha (bao gồm: vụ Xuân Hè 19.980 ha và Hè Thu 42.905 ha), đạt 96,5% kế hoạch, giảm 7,9% so cùng kỳ, tương ứng giảm 5.423 ha; thu hoạch 100% diện tích với sản lượng 358.505 tấn, giảm 8,2% so cùng kỳ. Diện tích gieo trồng giảm do chuyển đổi sang đất trồng cây lâu năm là 5.133 ha, cây hàng năm khác là 362 ha, nuôi trồng thủy sản là 8 ha và đất phi nông nghiệp là 4,5 ha. Diện tích gieo trồng giảm ở các huyện: Cái Bè (giảm 4.727,4 ha), Cai Lậy (giảm 609,5 ha), huyện Gò Công Tây (giảm 104,3 ha), TP Gò Công (giảm 33,1 ha), huyện Tân Phước (giảm 12,6 ha), huyện Châu Thành (giảm 9,3 ha), huyện Chợ Gạo (giảm 7,8 ha) và huyện Gò Công Đông (giảm 3,5 ha).+ Vụ Thu Đông: người dân tranh thủ gieo trồng vụ Thu Đông sau khi thu hoạch xong lúa vụ Hè Thu. Diện tích gieo trồng ước đạt 8.186 ha, đạt 473,2% kế hoạch, vụ lúa Thu Đông trên địa bàn tỉnh gieo trồng chủ yếu ở các huyện hạ lưu sông Tiền như: huyện Chợ Gạo, huyện Gò Công Tây, thành phố Gò Công, huyện Gò Công Đông… hiện trà lúa đang giai đoạn mạ.Hình 2. Lúa tính đến 15/9/2024- Cây ngô: diện tích trồng trong tháng đạt 191 ha; thu hoạch 231 ha với sản lượng 837 tấn. Ước tính 9 tháng gieo trồng được 2.176 ha, đạt 93,2% kế hoạch, tăng 0,8% so cùng kỳ; thu hoạch 1.941 ha, tăng 0,6%; năng suất bình quân đạt 36,3 tạ/ha, tăng 0,6% với sản lượng 7.046 tấn, tăng 1,1%.Cây rau đậu các loại: trong tháng, gieo trồng 5.055 ha; thu hoạch 5.390 ha với sản lượng 120.389 tấn. Ước tính 9 tháng, cây rau đậu các loại gieo trồng 50.726 ha, đạt 92,6% kế hoạch, tăng 0,3% so cùng kỳ; thu hoạch 45.062 ha, tăng 0,6% với sản lượng 975.630 tấn, tăng 2,4%. Trong đó, diện tích gieo trồng rau các loại đạt 50.519 ha, tăng 0,3%; thu hoạch 44.871 ha, tăng 0,6%; sản lượng 975.053 tấn, tăng 2,4%. Diện tích rau màu của tỉnh được trồng ở 11 huyện, thành phố và thị xã, sản xuất phổ biến và đạt giá trị cao ở các huyện: thành phố Gò Công, Châu Thành, Chợ Gạo, Gò Công Tây và Gò Công Đông; các loại rau màu có giá trị kinh tế và phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng từng vùng được người dân canh tác thường xuyên như: rau muống, bầu, mướp, bí xanh, mướp đắng (khổ qua), dưa leo, cải các loại, hành lá, dưa hấu và các loại rau cải ngắn ngày khác. Để phát triển vùng chuyên canh rau theo hướng an toàn cũng như thích ứng với biến đổi khí hậu, nhất là trong tình hình hạn mặn xâm nhập ngày càng phức tạp, tỉnh Tiền Giang đã đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ trong phát triển vùng chuyên canh rau màu. Song song với việc hình thành các vùng chuyên canh rau, tỉnh đã tăng cường đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ trong thâm canh cây trồng nhằm hướng người dân sản xuất rau theo hướng sạch, an toàn, đảm bảo chất lượng, đáp ứng yêu cầu của người tiêu dùng. Đến nay, tại các vùng chuyên canh rau, người dân đã áp dụng khoa học công nghệ trong sản xuất rau màu: Sử dụng giống F1, IPM, hệ thống tưới phun tự động, nhỏ giọt, tưới tiết kiệm nước (tưới phun mưa), sử dụng chế phẩm sinh học trong canh tác, ứng dụng nhà lưới và nhà màng trong canh tác….Cây lâu năm:Người dân trên địa bàn tỉnh Tiền Giang đẩy mạnh việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, trong đó tập trung vào phát triển cây ăn trái. Ở các huyện, thị phía Đông, nông dân đã đẩy mạnh chuyển đổi những diện tích đất lúa kém hiệu quả sang trồng cây ăn trái như: Thanh long, bưởi da xanh... Ở các huyện phía Tây, người dân lên vườn để trồng các loại cây có giá trị kinh tế cao như: sầu riêng, mít Thái… Do đó, diện tích cây ăn trái không ngừng tăng và trồng tập trung theo vùng: Cây khóm 14.577 ha; sầu riêng 23.857 ha; thanh long 8.386 ha, mít 15.605 ha. Nhiều loại trái đã được xây dựng thương hiệu, xuất khẩu đi các nước như: Sầu riêng, thanh long, vú sữa, xoài cát Hòa Lộc.Tổng diện tích trồng cây lâu năm 9 tháng năm 2024 ước đạt 110.611 ha, đạt 103,8% kế hoạch, tăng 2,8% so cùng kỳ, tương ứng tăng 3.048 ha; trong đó diện tích cây ăn quả là 86.952 ha, chiếm 78,6% trong tổng diện tích cây lâu năm, tăng 3,3% so cùng kỳ, diện tích cây ăn quả tăng chủ yếu ở các loại cây như: đu đủ, dứa/khóm, sầu riêng, và cây ổi. Sản lượng thu hoạch cây lâu năm 9 tháng năm 2024 ước đạt 1.717.176 tấn, đạt 84,3% kế hoạch, tăng 7,8% so cùng kỳ, tương ứng tăng 124.583 tấn; trong đó sản lượng cây ăn quả ước đạt 1.397.460 tấn, tăng 4,5% so cùng kỳ, tương ứng tăng 60.036 tấn.Chăn nuôi: Tại thời điểm 01/9/2024 tổng đàn gian súc, gia cầm của tỉnh như sau: đàn bò có 119,5 nghìn con, giảm 1,7% so cùng kỳ; đàn lợn có 310 nghìn con, tăng 5,8%; đàn gia cầm có 16,1 triệu con, tăng 0,6%. Từ giữa đầu năm đến nay, đàn lợn và gia cầm có xu hướng tăng và phát triển ổn định, riêng đàn bò ghi nhận có xu hướng giảm. Dù bệnh trên vật nuôi vẫn còn xảy ra như: bệnh Dịch tả lợn Châu Phi, Lở mồm long móng.... nhưng Tiền Giang đã áp dụng nhiều biện pháp chủ động phòng chống hiệu quả, khống chế sự lây lan mầm bệnh, đảm bảo an toàn đàn vật nuôi. Đàn bò có xu hướng giảm do hiệu quả kinh tế thấp, chu kỳ sản xuất dài, thị trường tiêu thụ bị thu hẹp, cạnh tranh từ sản phẩm nhập khẩu làm chăn nuôi bò trở nên khó khăn, không thu hút người chăn nuôi đầu tư phát triển sản xuất.Tình hình dịch bệnh trong 9 tháng đầu năm 2024: (Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Tiền Giang)Gia cầm:Bệnh cúm gia cầm: toàn tỉnh có 04 đàn gia cầm tại 03 xã/03 huyện (Gò Công Tây, Châu Thành và Cai Lậy) dương tính với vi rút cúm A/H5N1, đã tiêu hủy 3.355 con (trong đó các địa phương tiêu hủy 3.313 con và hộ tự hủy 42 con).Gia súc:Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: ghi nhận 81 hộ có lợn mắc bệnh với số lượng 959 con/tổng đàn 2.876 con tại 26 xã/08 huyện (Cái Bè, Cai Lậy, Thị xã Cai Lậy, Tân Phước, Châu Thành, Chợ Gạo, Gò Công Tây và Tân Phú Đông); đã tiêu hủy 2.038 con, khối lượng 90,5 tấn.Bệnh viêm da nổi cục: ghi nhận 07 hộ có bò bệnh tại 06 xã/05 huyện (Gò Công Tây, Chợ Gạo, Châu Thành, Tân Phú Đông và TP. Mỹ Tho) với 07 con bò bệnh/tổng đàn 30 con. Đã tiêu hủy 01 bò bệnh chết với khối lượng 153 kg.Bệnh Lở mồm long móng: ghi nhận 01 hộ có bò thịt mắc bệnh tại xã Phú Kiết, huyện Chợ Gạo với 05 con bò bệnh trên tổng đàn 12 con.Hình 3. Chăn nuôi tại thời điểm 01/9/2024b. Lâm nghiệp:Tổng diện tích rừng hiện có là 1.632,8 ha (không bao gồm diện tích rừng thuộc đất an ninh quốc phòng), trong đó rừng phòng hộ 1.321,7 ha (huyện Gò Công Đông: 380,3 ha; huyện Tân Phú Đông: 889,8 ha và huyện Tân Phước: 51,6 ha); rừng sản xuất: 311,1 ha.Trong tháng, trên địa bàn tỉnh thực hiện trồng mới là 3,5 ngàn cây phân tán. Tổng số cây trồng 9 tháng năm 2024 ước đạt 447,3 ngàn cây các loại, giảm 13,7% so cùng kỳ.Tình hình khai tách gỗ, củi trong 9 tháng năm 2024: sản lượng khai thác gỗ đạt 22.781 m3, giảm 6% so cùng kỳ; sản lượng khai thác củi đạt 82.410 ste củi các loại, giảm 7,2% so cùng kỳ.c. Thủy hải sản:Tình hình nuôi thủy sản tương đối ổn định, việc thả nuôi tôm nước lợ và nuôi cá bè trong những tháng đầu năm chậm so cùng kỳ năm 2023. Nguyên nhân chủ yếu do tình hình nắng nóng, xâm nhập mặn cùng với giá một số sản phẩm thủy sản giảm, không ổn định khiến việc thả nuôi chậm so. Diện tích nuôi thủy sản trong tháng ước đạt 940 ha. Tính chung 9 tháng năm 2024 ước đạt 15.260 ha, đạt 103,8% kế hoạch, giảm 1,4% so cùng kỳ. Trong đó: diện tích nuôi tôm đạt 7.986 ha, giảm 1%; diện tích nuôi cá đạt 4.176 ha, giảm 0,8%; diện tích nuôi thủy sản khác đạt 3.098 ha, giảm 3,1% so cùng kỳ. Hiện nay, diện tích Hàu được nuôi vùng ven biển huyện Gò Công Đông tại xã Kiểng Phước, Tân Điền và Tân Thành nuôi tự phát với diện tích mặt nước nuôi 597,8 ha của 73 hộ; số lao động thường xuyên 182 người và 86 phương tiện (ghe....).Sản lượng thủy sản thu hoạch trong quý III năm 2024 là 77.510 tấn, tăng 5,1% so cùng kỳ; trong đó: sản lượng thu hoạch từ nuôi 48.474 tấn, tăng 1,3%; sản lượng khai thác 29.036 tấn, tăng 12%. Tính chung 9 tháng năm 2024 ước đạt 223.418 tấn, đạt 70,8% kế hoạch, tăng 3,3% so cùng kỳ. Trong đó: sản lượng thu hoạch từ nuôi 146.858 tấn, tăng 1,2%; sản lượng khai thác 76.560 tấn, tăng 7,6%.d. Nông thôn mới:Hiện nay có 138/138 xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới, đạt 100% số xã trên địa bàn tỉnh; trong đó có 51 xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, đạt tỷ lệ 36,95% tổng số xã trên địa bàn tỉnh, 04 xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu, đạt 2,89% tổng số xã trên địa bàn tỉnh; 03 đô thị hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới; 07 huyện đạt chuẩn huyện nông thôn mới.6. Sản xuất công nghiệp:Tình hình sản xuất công nghiệp trong 9 tháng đầu năm 2024 một số ngành gặp khó khăn như: sản xuất đồ uống, ngành dệt... do đơn hàng xuất khẩu giảm, nhưng các doanh nghiệp vẫn duy trì sản xuất đạt và vượt kế hoạch. Một số ngành sản xuất chủ yếu của tỉnh như: sản xuất chế biến thực phẩm; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan; sản xuất kim loại là các ngành sản xuất và tiêu thụ các mặt hàng chủ lực của tỉnh chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh tăng cao so cùng kỳ, do đơn đặt hàng tăng. Ngoài ra một số ngành công nghiệp có tỷ trọng nhỏ như: sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy; sản xuất thuốc hóa dược và dược liệu; ... sản xuất ổn định và tăng cao góp phần vào tăng trưởng chung của toàn ngành.Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 9/2024 tăng 17,23% so cùng kỳ, so tháng trước giảm 1,54%, trong đó: Công nghiệp chế biến chế tạo tăng 19,87%; sản xuất thiết bị điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 1,1% và cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 13,9%.Chỉ số sản xuất công nghiệp quý III/2024 tăng 16,46% so cùng kỳ (quý III năm 2023 tăng 4,3%); trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 18,05% (một số ngành chủ yếu sau: Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 56,19%; Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan 36,09%; Sản xuất thiết bị điện tăng 44,22%;...); Ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 3,8%; Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 2,6% so cùng kỳ. Chỉ số sản xuất công nghiệp 9 tháng đầu năm 2024 tăng 11,79% so cùng kỳ (cùng kỳ năm 2023 tăng 2,9%); trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,6% (tập trung ở một số ngành chủ yếu sau: sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 63,98%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 60,66%; sản xuất thiết bị điện tăng 38,66%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 23,05%...); ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 16,03%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,09%.Hình 5. Chỉ số sản xuất công nghiệpSản phẩm sản xuất công nghiệp 9 tháng năm 2024: có 34/54 sản phẩm tăng so cùng kỳ: thanh nhôm, que nhôm, nhôm ở dạng hình tăng 242,5%; gạo đã xát toàn bộ hoặc sơ bộ, đã hoặc chưa đánh bóng hạt hoặc hồ tăng 211,6%; thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng bột/cốm tăng 192,9%; quả và hạt ướp lạnh tăng 80%; dây thép không gỉ tăng 79,4%; lốp hơi mới bằng cao su, loại dùng cho xe buýt, xe tải hoặc máy bay tăng 65,7%; điện gió tăng 51,5%; giày, dép không thấm nước có đế ngoài và mũ bằng cao su và plastic tăng 46,2%; phi lê đông lạnh tăng 44,5%; bánh làm từ bột khác bảo quản được tăng 41,7%; dịch vụ sản xuất thiết bị điện chiếu sáng tăng 39,1%; bóng thể thao khác tăng 30,7%; điện thương phẩm tăng 12,2%; ống và ống dẫn bằng đồng tăng 10,8%; tàu thuyền lớn chuyên chở người và hàng hóa có động cơ đẩy tăng 10,4%; thanh, que bằng thép hợp kim rỗng tăng 9,7%; nước uống được tăng 4,6%; thức ăn cho gia súc tăng 3,3%;… Có 20/54 sản phẩm giảm so cùng kỳ: màn bằng vải khác giảm 77,2%; máy gặt đập liên hợp giảm 33,3%; các sản phẩm bằng vật liệu tết bện khác giảm 27,6%; thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng viên giảm 23,5%; đồ chơi hình con vật hoặc sinh vật không phải hình người giảm 21,1%; bia đóng chai giảm 19%; máy chế biến thịt gia súc hoặc gia cầm giảm 10%; dịch vụ sửa chữa, bảo quản tàu, thuyền giảm 9,3%; Phân vi sinh giảm 9%; giày, dép thể thao có mũ bằng da và có đế ngoài giảm 7,8%; bia đóng lon giảm 7,5%; thức ăn cho thủy sản giảm 1%; cửa ra vào, cửa sổ bằng sắt, thép giảm 1%; dịch vụ tiện các bộ phận kim loại giảm 0,5%;…* Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo:- Chỉ số tiêu thụ tháng 9/2024 so với tháng trước tăng 1,11% và tăng 43,96% so cùng kỳ. Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cộng dồn từ đầu năm đến cuối tháng 9 năm 2024 tăng 15,95%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 26,66%, trong đó sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thuỷ sản tăng 6,93%; sản xuất da tăng 0,66%, trong đó sản xuất giày tăng 0,14%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 32,59%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 47,81%; sản xuất sản phẩm cao su và plastic tăng 29,19%; sản xuất kim loại tăng 15,55%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 81,51%; sản xuất thiết bị điện tăng 54,47%, trong đó sản xuất dây cáp, dây điện… tăng 81,79%;…Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm so cùng kỳ là: sản xuất đồ uống giảm 2,46%, trong đó sản xuất bia giảm 2,46%; dệt giảm 14,65%; sản xuất trang phục giảm 13,33%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ giảm 27,73%;...- Chỉ số tồn kho tháng 9 năm 2024 giảm 5,47% so với tháng trước và giảm 27,58% so với cùng kỳ. Một số ngành có chỉ số tồn kho giảm so với cùng kỳ là: sản xuất chế biến thực phẩm giảm 34,85%, trong đó chế biến, bảo quản thủy sản giảm 70,4%; sản xuất trang phục giảm 31,78%; sản xuất da giảm 10,05%, trong đó sản xuất va li, túi xách… giảm 70,23%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 5,73%; sản xuất kim loại giảm 27,99%; sản xuất thiết bị điện giảm 6,99%, trong đó sản xuất mô tơ điện giảm 4,89%; chế biến, chế tạo khác giảm 71,31%, trong đó sản xuất đồ chơi, trò chơi giảm 71,31%;… Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so cùng kỳ là: dệt tăng 7,32%, trong đó sản xuất sợi tăng 35,48%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẳn tăng 28,02%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu bằng gấp 2,1 lần…7. Thương mại, dịch vụ:a. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng:Hoạt động kinh doanh trên địa bàn tỉnh diễn ra ổn định và có xu hướng tăng hơn so cùng kỳ, lượng hàng hóa dồi dào, các đơn vị kinh doanh chủ động dự trữ hàng hóa để phục vụ nhu cầu mua sắm của người dân trong các dịp lễ, Tết. Giá cả hàng hóa ổn định đã đáp ứng tốt nhu cầu của người tiêu dùng, sức mua tăng so với cùng kỳ.Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng quý III/2024 thực hiện 22.386 tỷ đồng, tăng 8,2% so cùng kỳ. Hoạt động mua bán trên địa bàn tỉnh tiếp tục diễn ra ổn định trùng với các dịp Lễ Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh mùng 2/9, nắm bắt nhu cầu, sức mua của người tiêu dùng tăng mạnh vào các dịp lễ, nhiều hệ thống siêu thị và trung tâm thương mại đã tổ chức các chương trình khuyến mãi, giảm giá lớn nhằm tăng doanh số bán hàng cũng như phục vụ người tiêu dùng trong đợt nghỉ dài ngày. Ngoài ra từ 1/7/2024 mức lương cơ sở tăng mạnh (tăng 30%) tác động kích cầu tiêu dùng của người dân.Chín tháng đầu năm 2024, tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng 66.386 tỷ đồng, đạt 74,6 % kế hoạch, tăng 8,8% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 51.015 tỷ đồng, tăng 7,7%; lưu trú, ăn uống 6.633 tỷ đồng, tăng 26,8%; du lịch lữ hành 169 tỷ đồng, tăng 28,2%; dịch vụ tiêu dùng khác 8.570 tỷ đồng, tăng 3,8% so cùng kỳ.Hoạt động xúc tiến thương mại trong 9 tháng đầu năm trên địa bàn tỉnh:- Tết Nguyên đán Giáp Thìn năm 2024 tình hình luân chuyển hàng hóa trên địa bàn tỉnh diễn ra sôi nổi nhộn nhịp. Để góp phần đảm bảo giá cả các mặt hàng thiết yếu và bình ổn thị trường trên địa bàn tỉnh. Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang ban hành Kế hoạch số 497/KH-UBND ngày 24/11/2023 về việc dự trữ, cung ứng hàng hóa thiết yếu phục vụ Tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024. Có 08 doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Tiền Giang đăng ký tham gia dự trữ, cung ứng hàng hóa Tết, thời gian tham gia dự trữ, cung ứng hàng hóa thiết yếu phục vụ Tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024. Tổng trị giá hàng hóa thiết yếu các doanh nghiệp thực hiện việc dự trữ, cung ứng hàng hoá trên 553 tỷ đồng, tăng 21,8% so với năm 2023, trong đó hàng hóa thiết yếu hơn 136 tỷ đồng, tăng 13,3% so với năm 2023 và có 16 điểm bán hàng của 08 doanh nghiệp trên đăng ký tham gia. - Nghỉ Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương, Lễ kỷ niệm chiến thắng 30/4 giải phóng miền Nam và ngày Quốc tế lao động 1/5 năm 2024. Đây là kỳ nghỉ dài trong năm sau Tết Nguyên Đán, vì vậy, các hệ thống phân phối, siêu thị, cửa hàng và chợ truyền thống trên địa bàn tỉnh đã chủ động tăng lượng hàng hóa, đồng thời triển khai nhiều chương trình khuyến mãi phục vụ nhu cầu tiêu dùng với kỳ vọng sức mua và doanh số bán hàng tăng.Hình 6. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùngb. Xuất - Nhập khẩu:Tình hình kinh tế thế giới tiếp tục biến động khó lường, nhất là diễn biến xung đột Nga - Ukraina; các thị trường xuất khẩu như Mỹ, EU đều giảm do nhu cầu tiêu dùng giảm;…Tuy nhiên, nhờ các biện pháp tích cực và đồng bộ tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp hỗ trợ sản xuất, xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường trong nước và xuất khẩu được triển khai mạnh mẽ… Kết quả xuất nhập khẩu trên địa bàn tỉnh 9 tháng đầu năm 2024 đạt kết quả khả quan.* Xuất khẩu:Giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng hóa 9 tháng đầu năm 2024 ước 4.250 triệu USD, đạt 85% kế hoạch, tăng 6,8% so cùng kỳ; trong đó: doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 88,6% tổng giá trị xuất khẩu và tăng 26,9% so với cùng kỳ.* Nhập khẩu:Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa 9 tháng đầu năm 2024 thực hiện 2.200 triệu USD, đạt 88% kế hoạch, tăng 8,6% so cùng kỳ; trong đó: doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 95,5%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước chiếm 4,5% trên tổng kim ngạch nhập khẩu. Nguyên liệu nhập khẩu chủ yếu các mặt hàng như: kim loại thường khác (kể cả nguyên liệu đồng) chiếm 43,9%; sắt thép các loại chiếm 17,4%; nguyên phụ liệu dệt may, da giày, túi xách chiếm 9,2%, vải nguyên liệu chiếm 8,8%,…so cùng kỳ.c. Vận tải:Hiện nay tình hình hoạt động của các tuyến xe cố định trên địa bàn tỉnh tiếp tục được duy trì thông thoáng, đặc biệt các chủ cơ sở kinh doanh vận tải tự giác chấp hành tốt nội qui bến bãi, đã tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân đi lại và vận chuyển hàng hoá đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh...Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải quý III/2024 thực hiện 816 tỷ đồng, tăng 31,7% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 198 tỷ đồng, tăng 25,2% so cùng kỳ; vận tải hàng hóa thực hiện 546 tỷ đồng, tăng 36,4% so cùng kỳ. Vận tải đường bộ thực hiện 304 tỷ đồng, tăng 33,2% so cùng kỳ; vận tải đường thủy thực hiện 439 tỷ đồng, tăng 33,3%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 72 tỷ đồng, tăng 18% so cùng kỳ. Chín tháng đầu năm 2024, doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải thực hiện 2.240 tỷ đồng, tăng 23,6% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 583 tỷ đồng, tăng 24,5% so cùng kỳ; vận tải hàng hóa thực hiện 1.451 tỷ đồng, tăng 25,2% so cùng kỳ. Vận tải đường bộ thực hiện 894 tỷ đồng, tăng 25,1%; vận tải đường thủy thực hiện 1.140 tỷ đồng, tăng 24,9%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 206 tỷ đồng, tăng 11,7% so cùng kỳ.Vận chuyển hành khách quý III/2024 đạt 5.377 ngàn hành khách, tăng 29,8% và luân chuyển 188.528 ngàn hành khách.km, tăng 17,2% so cùng kỳ;trong đó: vận chuyển đường bộ 2.335 ngàn hành khách, tăng 16,3% và luân chuyển 184.977 ngàn hành khách.km, tăng 17% so cùng kỳ; vận chuyển đường thủy 3.042 ngàn hành khách, tăng 42,5% và luân chuyển 3.551 ngàn hành khách.km, tăng 23,9% so cùng kỳ. Chín tháng đầu năm 2024, vận chuyển hành khách đạt 14.974 ngàn hành khách, tăng 21,1% và luân chuyển 466.659 ngàn hành khách.km, tăng 25,4% so cùng kỳ, Trong đó: vận chuyển đường bộ 6.258 ngàn hành khách, tăng 27,7% và luân chuyển 456.617 ngàn hành khách.km, tăng 25,6% so cùng kỳ; vận chuyển đường thủy 8.716 ngàn hành khách, tăng 16,8% và luân chuyển 10.042 ngàn hành khách.km, tăng 15.8% so cùng kỳ.Vận tải hàng hóa quý III/2024 đạt 5.294 ngàn tấn, tăng 32% và luân chuyển được 1.064.978 ngàn tấn.km, tăng 41,6% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ thực hiện 675 ngàn tấn,tăng 47,3% và luân chuyển được 175.321 ngàn tấn.km, tăng 58,5% so cùng kỳ; vận tải đường thủy thực hiện 4.619 ngàn tấn, tăng 30% và luân chuyển được 889.657 ngàn tấn.km, tăng 38,7% so cùng kỳ. Chín tháng đầu năm 2024, vận tải hàng hóa đạt 14.132 ngàn tấn, tăng 25% và luân chuyển 2.757.644 ngàn tấn.km, tăng 27,4% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ thực hiện 1941 ngàn tấn, tăng 22,7% và luân chuyển được 475.384 ngàn tấn.km, tăng 33,8% so cùng kỳ; vận tải đường thủy thực hiện 12.191 ngàn tấn, tăng 25,4% và luân chuyển 2.282.260 ngàn tấn.km, tăng 26,1% so cùng kỳ.d. Du lịch:Trật tự tại các khu du lịch được đảm bảo, mua bán kinh doanh được sắp xếp ổn định tạo thuận lợi cho du khách đến vui chơi, giải trí. Duy trì thường xuyên công tác kiểm tra, xử lý các trường hợp chèo kéo khách du lịch, nhắc nhở và hướng dẫn các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch triển khai các biện pháp nhằm đảm bảo an ninh trật tự, phòng chống dịch bệnh, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và an toàn cho khách du lịch.Khách du lịch đến tỉnh trong quý III/2024 ước tính 419 lượt khách, tăng 20,1% so cùng kỳ. Doanh thu hoạt động lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành 2.273 tỷ đồng, tăng 24,3% so cùng kỳ. Chín tháng đầu năm 2024, lượng khách du lịch đến tỉnh 1.227 ngàn lượt, đạt 74,4% kế hoạch, tăng 18,3% so cùng kỳ; trong đó khách quốc tế 385 ngàn lượt, tăng 28,9% so cùng kỳ. Doanh thu hoạt động lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành 6.802 tỷ đồng, tăng 26,8% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống chiếm 97,5%.Hoạt động xúc tiến du lịch trong 9 tháng đầu năm Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức Họp mặt doanh nghiệp du lịch “Tiền Giang - Nơi cuối nguồn Mekong”, gồm các hoạt động: không gian trưng bày, triển lãm, giới thiệu các ấn phẩm du lịch, đặc sản, ....sự tham gia của 22 đơn vị gồm các doanh nghiệp lữ hành và doanh nghiệp OCOP trong tỉnh, thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh trong Cụm liên kết phía Đông Đồng bằng sông Cửu Long; Tổ chức chương trình khảo sát các điểm đến du lịch tiêu biểu tại huyện Tân Phước (đoàn có 35 đại biểu là các doanh nghiệp du lịch trong và ngoài tỉnh); Tham gia trưng bày và tặng hàng ngàn ấn phẩm tại những sự kiện du lịch như: Ngày hội Du lịch thành phố Hồ Chí Minh lần thứ 20; Hội chợ Du lịch quốc tế Việt Nam - VITM Hanoi; Lễ hội Bánh dân gian Nam Bộ lần thứ XI;…. Hỗ trợ nhiều doanh nghiệp du lịch trưng bày sản phẩm, giới thiệu dịch vụ cũng như tham gia các hoạt động của sự kiện; Tổ chức Không gian trưng bày, triển lãm, giới thiệu các ấn phẩm du lịch, đặc sản, sản phẩm OCOP địa phương và Chương trình khảo sát cho các doanh nghiệp du lịch trong và ngoài tỉnh tham quan các điểm đến du lịch tiêu biểu tại huyện Tân Phước; Chương trình “Khám phá vùng đất xứ Gò” và Tọa đàm “Kết nối phát triển sản phẩm du lịch phía Đông tỉnh Tiền Giang”; tổ chức đoàn tham quan cụm di tích Anh hùng dân tộc Trương Định.e. Bưu chính - Viễn thông:Doanh thu tháng 9 đạt 316 tỷ đồng, tăng 0,2% so tháng trước; trong đó: doanh thu bưu chính 28 tỷ đồng, tăng 0,7% so tháng trước; viễn thông 288 tỷ đồng, tăng 0,2% so tháng trước. Cộng dồn 9 tháng doanh thu 2.815 tỷ đồng, tăng 5,2% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính 247 tỷ đồng, tăng 4,4% so cùng kỳ, doanh thu viễn thông 2.568 tỷ đồng, tăng 5,3% so cùng kỳ.Tổng số thuê bao điện thoại có trên mạng ước tính đến cuối tháng 9 năm 2024 là 131.637 thuê bao, mật độ bình quân đạt 7,35 thuê bao/100 dân (chỉ tính thuê bao cố định và di động trả sau). Số lượng điện thoại cố định có dây, không dây từ đầu năm 2024 đến nay tiếp tục giảm, do thị trường phát triển thuê bao dần bảo hòa và giá cước điện thoại ngày càng giảm cho nên khách hàng dần chuyển sang sử dụng điện thoại di động, trong đó chủ yếu là điện thoại di động trả trước. Chín tháng đầu năm 2024 số thuê bao internet phát triển 41.127 thuê bao. Tổng số thuê bao internet trên mạng ước tính đến tháng 9 năm 2024 là 406.127 thuê bao, mật độ internet bình quân ước đạt 22,68 thuê bao/100 dân. Các doanh nghiệp bưu chính, viễn thông trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì trên đà phát triển ổn định, không ngừng đầu tư nâng cấp phát triển mạng lưới, cung cấp nhiều loại hình dịch vụ phong phú, đa dạng để duy trì tốc độ phát triển. Thuê bao Internet tăng, chủ yếu là thuê bao internet FTTH.II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI1. Lao động, giải quyết việc làm:Tư vấn và giới thiệu việc làm:Tư vấn, giới thiệu việc làm 9 tháng năm 2024: thực hiện tư vấn nghề, việc làm, pháp luật lao động và tư vấn khác cho 17.423 lượt lao động, giảm 19,9% so cùng kỳ, đạt 87,1% kế hoạch năm; Trong đó: tư vấn nghề cho 650 lượt lao động, tư vấn việc làm cho 2.233 lượt lao động, tư vấn việc làm cho 14.103 lượt lao động thất nghiệp, tư vấn pháp luật lao động và tư vấn khác cho 437 lượt lao động. Giới thiệu việc làm cho 2.570 lượt lao động; trong đó có 925 lao động có được việc làm ổn định.Trong 9 tháng, có 363 người xuất cảnh đi làm việc ở nước ngoài, bằng 97,3% so cùng kỳ, qua các thị trường: Nhật Bản 285 lao động, Đài Loan 48 lao động, Canada 12 lao động, Mỹ 05 lao động, Hàn Quốc 04 lao động....Trong 9 tháng, ghi nhận 14.243 lao động đăng ký hưởng trợ cấp thất nghiệp, giảm 17,4% so cùng kỳ; có 14.014 lao động được hưởng trợ cấp thất nghiệp, giảm 18,2% so cùng kỳ với tổng số tiền chi trả khoảng 264,7 tỷ đồng.Đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 04 vụ ngừng việc tập thể tại 04 doanh nghiệp (03 doanh nghiệp FDI và 01 doanh nghiệp dân doanh), tăng 100% so cùng kỳ. Trước tình hình đó, ngành chức năng đã phối hợp tổ chức cuộc đối thoại với người lao động nên các vụ ngừng việc đã được giải quyết ổn thỏa và người lao động đã trở lại làm việc bình thường.Tình hình thiếu việc làm, thất nghiệp:Theo kết quả sơ bộ điều tra lao động việc làm quý III năm 2024, lao động thiếu việc làm chiếm tỷ lệ 7,12%, giảm 0,11 điểm phần trăm so quý trước và tăng 0,89 điểm phần trăm so cùng kỳ năm trước (từ 6,23% năm 2023 lên 7,12% năm 2024), làm cho tỷ lệ thiếu việc làm khu vực thành thị tăng 0,83 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 2,62 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước (từ 10,87% năm 2023 xuống 8,25% năm 2024). Đối với khu vực nông thôn tỷ lệ thiếu việc làm giảm 0,54 điểm phần trăm so quý trước và tăng 2,45 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước (từ 4,15% năm 2023 lên 6,60% năm 2024). Tình trạng thiếu việc làm quý III năm 2024 chủ yếu ở khu vực nông thôn (chiếm 63,64% trong tổng số số lao động thiếu việc làm của tỉnh).Tỷ lệ lao động thất nghiệp trong quý III năm 2024 là 0,96% giảm 0,4 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,09 điểm phần trăm so cùng kỳ năm trước (từ 1,05% năm 2023 xuống 0,96% năm 2024), tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị giảm 1,71 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,17 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước (từ 1,19% năm 2023 xuống 1,02% năm 2024); Tỷ lệ thất nghiệp khu vực nông thôn tăng 0,21 điểm phần trăm so quý trước và giảm 0,05 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước (từ 0,98% năm 2023 xuống 0,93% năm 2024). Tình trạng thất nghiệp quý III năm 2024 chủ yếu ở khu vực nông thôn (chiếm 66,67% so với tổng số lao động thất nghiệp của toàn tỉnh).Tính chung 9 tháng năm 2024 tỷ lệ lao động thiếu việc làm chiếm 7,17%, tăng 0,41 điểm phần trăm so cùng kỳ năm trước (từ 6,76% năm 2023 lên 7,17% năm 2024), tỷ lệ thiếu việc làm khu vực thành thị là 8,77%, giảm 0,95 điểm phần trăm (từ 9,72% năm 2023 xuống 8,77% năm 2024) và tỷ lệ thiếu việc làm khu vực nông thôn là 6,44%, tăng 0,97 điểm phần trăm (từ 5,47% năm 2023 lên 6,44% năm 2024).Tỷ lệ thất nghiệp 9 tháng năm 2024 chiếm 1,23%, giảm 0,19 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2023 (từ 1,42% năm 2023 xuống 1,23% năm 2024), làm cho tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị là 2,05%, giảm 0,47 điểm phần trăm (từ 2,52% năm 2023 xuống 2,05% năm 2024) và tỷ lệ thất nghiệp khu vực nông thôn là 0,85%, giảm 0,08 điểm phần trăm (từ 0,93% năm 2023 xuống 0,85% năm 2024). Tỷ trọng thất nghiệp khu vực thành thị 9 tháng năm 2024 chiếm 52,54% so với tổng số lao động thất nghiệp của toàn tỉnh.2. Đời sống dân cư và an sinh xã hội:Đời sống dân cư:Hoạt động sản xuất kinh doanh đang trên đà phục hồi, các doanh nghiệp có đơn hàng ổn định và lâu dài; nông dân đã áp dụng tiến bộ về kỹ thuật, nhận thức và kinh nghiệm người sản xuất được nâng lên giúp việc sản xuất thích ứng biến đổi khí hậu và giảm lượng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật góp phần giảm chi phí sản xuất, đạt năng suất cao, giá bán ra ổn định; tiền lương, tiền công đều tăng theo những điểm mới của các Nghị định Chính phủ về tiền lương, tiền công.Tình hình lao động làm việc tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh 9 tháng đầu năm 2024 tương đối ổn định, tổng số lao động làm việc tại các doanh nghiệp trong KCN là 90.645 lao động (trong đó có 1.102 lao động nước ngoài, chiếm 1,2%). Trong quý IV, các doanh nghiệp dự kiến tuyển 3.614 lao động để đáp ứng các đơn hàng cuối năm.Số người từ 15 tuổi trở lên có việc làm của tỉnh quý III năm 2024 giảm 2,9% so quý II và giảm 3,8% so cùng kỳ năm 2023. Số lao động có việc làm chiếm 73,5% so với tổng số người từ 15 tuổi trở lên (tăng 0,8 điểm phần trăm so quý II và giảm 0,1 điểm phần trăm so cùng kỳ năm 2023). Nâng tổng số lao động có việc làm trong 9 tháng chiếm 73,4% so với tổng số người 15 tuổi trở lên, tăng 0,4 điểm phần trăm so cùng kỳ năm trước.Việc làm và thu nhập của người làm công ăn lương, người nghỉ hưu ổn định, có tăng hơn so cùng kỳ. Chính phủ ban hành các Nghị định về tiền lương, tiền công được áp dụng từ ngày 01/7/024 gồm: 73/2024/NĐ-CP tăng lương cơ sở từ 1,8 triệu đồng lên 2,34 triệu đồng, tương ứng tăng 30% đối cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang; 74/2024/NĐ-CP tăng lương tối thiểu vùng khoảng 6% đối với người lao động; 75/2024/NĐ-CP điều chỉnh lương hưu, trợ cấp hàng tháng tăng thêm 15%.Ngày 01/7/2024, Chính phủ ban hành Nghị định số 76/2024/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 20/2021/NĐ-CP ngày 15/3/2021 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội; trong đó, quy định điều chỉnh mức chuẩn trợ giúp xã hội từ 360.000 đồng/tháng tăng lên mức 500.000 đồng/tháng kể từ ngày 01/7/2024.Nhìn chung, mức điều chỉnh lương đã có sự chia sẻ, kết hợp hài hòa được lợi ích của người lao động và doanh nghiệp và giúp cho những người được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước đảm bảo được điều kiện cuộc sống, yên tâm công tác, làm việc. Việc cải cách tiền lương kể từ 01/7/2024, vừa cải thiện đời sống cho người lao động, vừa bảo đảm duy trì, phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.An sinh xã hội:Tổ chức thăm, tặng quà, trợ cấp cho người có công, người cao tuổi, hộ nghèo và các đơn vị tập trung trong dịp Tết Giáp Thìn năm 2024, cụ thể sau:+ Tặng quà của Chủ tịch nước (nguồn kinh phí Trung ương), số lượng 35.866 người, số tiền 10,9 tỷ đồng (gồm: 469 người, mức quà 600.000 đồng/người; 35.397 người, mức quà 300.000 đồng/người).+ Trợ cấp của tỉnh (nguồn kinh phí địa phương) là 26,7 tỷ đồng, với số lượng 67.696 người (gồm: 35.866 người, mức quà 300.000 đồng/người; 31.746 người, mức quà 500.000 đồng/người; 84 người, mức quà 1.000.000 đồng/người).+ Đoàn lãnh đạo Ban Thường vụ Tỉnh ủy thăm 85 hộ gia đình chính sách tiêu biểu và 48 đơn vị tập trung, kết hợp với tham người cao tuổi và trao quà cho hộ nghèo, tổng số tiền là 814,8 triệu đồng (gồm: 85 hộ chính sách mức quà tặng tiền mặt 2 triệu đồng/hộ, kèm túi quà 1 triệu đồng/phần, 48 đơn vị tập trung mức quà tiền mặt từ 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng/đơn vị, kèm túi quà 2 triệu đồng/phần). Thời gian đi từ ngày 23/01/2024 đến ngày 30/01/2024.Tổ chức 77 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ 27/7/2024:+ Tặng quà của Chủ tịch nước (nguồn kinh phí Trung ương), số lượng 35.999 người, số tiền 10,9 tỷ đồng (gồm: 413 người, mức quà 600.000 đồng/người; 35.586 người, mức quà 300.000 đồng/người).+ Trợ cấp của tỉnh (nguồn kinh phí địa phương) là 14,3 tỷ đồng, với số lượng 50.178 người (gồm: 35.999 người, mức quà 200.000 đồng/người; 14.109 người, mức quà 500.000 đồng/người; 70 người, mức quà 1.000.000 đồng/người).+ Tổ chức 18 đoàn lãnh đạo tỉnh đi thăm, tặng quà gia đình chính sách tiêu biểu nhân dịp kỷ niệm 77 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ, số lượng 100 người, số tiền 2 triệu đồng/hộ;Nhà ở cho người có công: năm 2024, toàn tỉnh thực hiện xây dựng, sửa chữa nhà ở cho người có công, thân nhân người có công với cách mạng 240 căn (xây mới 46 căn, sửa chữa 194 căn). Hiện nay, đã hoàn thành 217 (xây mới 28 căn; sửa chữa 189 căn).Cấp nước sinh hoạt nông thôn trước tình hình xâm nhập mặn năm 2024: Công ty TNHH MTV Cấp nước Tiền Giang đã phối hợp với Ủy ban nhân dân huyện Gò Công Đông, Gò Công Tây, Tân Phú Đông và thành phố Gò Công đã mở 114 vòi nước công cộng với tổng sản lượng đã cấp là 22.396 m3 và bố trí 127 bồn chứa nước công cộng ở huyện Tân Phú Đông và huyện Gò Công Đông để người dân đến lấy nước miễn phí từ ngày 29/02/2024 đến 02/6/2024. Ngoài ra, công ty đã tổ chức 888 chuyến xe chở nước từ ngày 25/3/2024 để cung cấp cho 02 bệnh viện thành phố Gò Công và huyện Gò Công Đông; nhân dân xã Tân Phước, xã Gia Thuận, xã Phước Trung, xã Kiểng Phước, xã Tân Tây; xã Tân Thành huyện Gò Công Đông; xã Bình Xuân, xã Bình Đông thành phố Gò Công; xã Tân Thới, xã Phú Đông, xã Phú Tân huyện Tân Phú Đông. Lượng nước đã cấp là 13.250 m3.3. Hoạt động giáo dục:Kỳ thi tốt nghiệp THPT 2024 vào các ngày 26, 27, 28/6/2024 diễn ra an toàn, nghiêm túc. Trong kỳ thi tốt nghiệp THPT 2024, toàn tỉnh có 15.796/15.844 thí sinh đỗ tốt nghiệp THPT (tỉ lệ 99,7%); điểm trung bình đạt 6,902 hạng 15/63 tỉnh thành cả nước, hạng nhì khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Các môn có điểm trung bình ở thứ hạng cao gồm: môn Toán (6,735; hạng 12 toàn quốc), môn Địa lí (7,481; hạng 13 toàn quốc), môn Ngữ văn (7,683; hạng 16 toàn quốc), môn Giáo dục công dân (8,351; hạng 16 toàn quốc).Tổ chức thi tuyển sinh lớp 10 năm học 2024 - 2025 vào các ngày 04, 05, 06/6/2024 với 21.079 thí sinh đăng ký dự thi (tăng hơn 636 thí sinh so với tuyển sinh lớp 10 năm học 2023-2024). Kết quả trúng tuyển lớp 10 trung học phổ thông (THPT) năm học 2024-2025 là 19.305 thí sinh, trong đó có 54 thí sinh tuyển thẳng. Điểm chuẩn nguyện vọng 1 cao nhất: 42,50 điểm (Trường THPT Nguyễn Đình Chiểu). Điểm chuẩn nguyện vọng 1 thấp nhất: 13,00 điểm (THCS và THPT Tân Thới, THCS và THPT Phú Thạnh, THCS và THPT Long Bình).Tổ chức coi thi chọn học sinh giỏi quốc gia THPT năm học 2023-2024 tại tỉnh Tiền Giang (Sở GDĐT Sóc Trăng và Sở GDĐT Đắk Lắk đến coi thi theo điều động của Bộ GDĐT) vào các ngày 05, 06/01/2024 có 83 thí sinh với 9 môn thi: Ngữ văn 10 thí sinh, Toán 9 thí sinh, Vật lí 10 thí sinh, Hóa học 7 thí sinh, Sinh học 10 thí sinh, Lịch sử 8 thí sinh, Địa lí 10 thí sinh, Tin học 9 thí sinh, Tiếng Anh 10 thí sinh. Kết quả: Tiền Giang có 46/83 thí sinh đạt giải ở 9/9 môn thi trong đó: giải Nhì 04 thí sinh, giải Ba 12 thí sinh, giải Khuyến khích 30 thí sinh; xếp hạng 1/13 các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, hạng 32/69 đơn vị đăng ký dự thi toàn quốc (tăng 13 bậc so với năm học 2022-2023) và hạng 29/63 tỉnh thành. Các trường THPT có học sinh đạt giải gồm: THPT Chuyên (37 giải), THPT Nguyễn Đình Chiểu (04 giải), THPT Chợ Gạo (02 giải), THPT Trương Định (02 giải), THPT Cái Bè (01 giải).Tổ chức Kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh THPT năm học 2023 - 2024 khóa ngày 27/02/2024 với 1.496/1.500 thí sinh dự thi của 36 đơn vị dự thi. Kết quả: có 824/1.496 thí sinh đạt giải. Trong đó, đạt giải Nhất: 36 thí sinh (2,41%); giải Nhì: 193 thí sinh (12,90%); giải Ba: 251 thí sinh (16,78%); Khuyến khích: 344 thí sinh (22,99%). Các trường có nhiều học sinh đạt giải gồm: THPT Chuyên 157 giải, THPT Nguyễn Đình Chiểu 74 giải, THPT Chợ Gạo 68 giải, THPT Trương Định 62 giải, THPT Cái Bè 53 giải.Tổ chức Kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh THCS năm học 2023 - 2024 khóa ngày 27/3/2024 với 1.015 thí sinh dự thi. Kết quả: đạt 597 giải (25 giải nhất, 143 giải nhì, 173 giải ba và 256 giải khuyến khích).4. Hoạt động y tế:Hoạt động chăm sóc sức khỏe nhân dân trên địa bàn tỉnh trong 9 tháng năm 2024 được đảm bảo. Mạng lưới cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đủ năng lực cung ứng dịch vụ y tế có chất lượng đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân. Trong 9 tháng, trên địa bàn tỉnh ghi nhận 14/44 bệnh truyền nhiễm. So với cùng kỳ cộng dồn: có 06 bệnh tăng (Bệnh do liên cầu lợn ở người; Ho gà; Lao phổi; Quai bị; Sởi; Viêm gan vi rút B), có 09 bệnh giảm so cùng kỳ (Bệnh do vi rút Adeno; Liệt mềm cấp nghi bại liệt; Sốt xuất huyết Dengue; Tay - chân - miệng; Thương hàn; Thủy đậu; Tiêu chảy; Viêm não vi rút khác; Covid – 19) và 29 bệnh tương đương so cùng kỳ.Các bệnh truyền nhiễm ghi nhận trong tháng: bệnh Sốt - xuất - huyết ghi nhận 184 ca; bệnh Tay - chân - miệng ghi nhận 356 ca. Tính từ đầu năm đến nay, bệnh Sốt - xuất - huyết ghi nhận 1.165 ca, giảm 55,4% so cùng kỳ; bệnh Tay - chân - miệng ghi nhận 2.258 ca, giảm 6,8%.Phòng chống HIV/AIDS: toàn tỉnh có 7.010 người nhiễm HIV; 1.819 người chuyển sang AIDS; tử vong do AIDS: 1.351 người.Trong 9 tháng, ghi nhận 01 vụ với 9 người mắc ngộ độc thực phẩm tại huyện Tân Phước tỉnh Tiền Giang.Tình hình khám chữa bệnh trong 9 tháng: tổng số lần khám bệnh 3.489.073 lượt người, tăng 7,3% so cùng kỳ; tổng số người điều trị nội trú 172.903 lượt người, tăng 36,4% so cùng kỳ. Công suất sử dụng giường bệnh bình quân tính trong tháng đạt 92,9%.5. Hoạt động văn hóa - thể thao:Nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao được tổ chức thiết thực, hiệu quả, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần của nhân dân nhất là trong dịp lễ, tết. Toàn tỉnh hiện có 460.611/486.271 hộ đạt 03 tiêu chuẩn Gia đình văn hóa, đạt 95,97%; 1.005/1.005 ấp (khu phố) văn hóa, đạt tỷ lệ 100%; 170 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn văn hoá (138 xã, 8 thị trấn, 24 phường); 69 chợ văn hóa; 18 công viên văn hóa; 951 con đường văn hóa, 569 cơ sở thờ tự văn hóa.Hoạt động văn hóa nghệ thuật: trong 9 tháng, tổ chức Lễ hội như: kỷ niệm 160 năm Ngày Anh hùng dân tộc Trương Định tuẫn tiết và đón nhận Bằng công nhận Di tích Quốc gia đặc biệt, kỷ niệm 79 năm Ngày Quốc khánh Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945 - 02/9/2024). Thực hiện 13 lượt xe loa cổ động, 62 buổi tuyên truyền lưu động có khoảng 14.760 lượt người xem, chiếu phim 65 buổi có khoảng 14.110 lượt người xem, 35 buổi biểu diễn nghệ thuật phục vụ các ngày lễ kỷ niệm, buổi họp mặt, chương trình mừng Đảng - mừng Xuân,…có khoảng 42.100 lượt người xem, 168 suất nhạc nước tại Quảng trường Hùng Vương thu hút khoảng 102.460 lượt người xem. Tổ chức công tác tuyên truyền các ngày lễ, sự kiện lớn 890 cờ các loại, 35 pano và 122 giá đỡ ụ cờ tuyên truyền, cổ động trực quan.Hoạt động thư viện: Thư viện tỉnh tổ chức Hội báo Xuân Giáp Thìn năm 2024 với hơn 51.100 lượt sách báo lưu hành, phục vụ khoảng 22.250 lượt bạn đọc. Trưng bày sách chuyên đề kỷ niệm 93 năm ngày thành lập Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (26/3/1931 - 26/3/2024). Trung tâm Văn hóa - Thể thao và Truyền thanh các huyện Cái Bè, huyện Cai Lậy, huyện Gò Công Đông tổ chức Ngày hội đọc sách với chủ đề “Sách hay cần bạn đọc”, có 1.409 em học sinh tham gia với hơn 4.973 lượt sách, báo lưu hành và 140 phần quà được trao cho các học sinh đạt giải;... Trong 9 tháng năm 2024, Thư viện tỉnh, huyện và phòng đọc cơ sở đã phục vụ hơn 401.496 lượt bạn đọc.Hoạt động bảo tàng: trưng bày các chuyên đề Mỹ Tho, Gò Công xưa và nay; Văn hóa trầu cau; Kỷ vật kháng chiến; Điện Biên Phủ - Điểm hẹn lịch sử;....và sưu tầm 06 hiện vật. Bảo tàng tỉnh trưng bày chuyên đề “Triển lãm hình ảnh khởi nghĩa Trương Định” tại Di tích Chiến lũy Pháo đài, xã Phú Tân, huyện Tân Phú Đông; “Anh hùng dân tộc Trương Định, Đất và Người Gò Công” tại Trung tâm Hội nghị tỉnh Tiền Giang và tại Đền thờ Trương Định, xã Gia Thuận, huyện Gò Công Đông. Trong 9 tháng năm 2024, Bảo tàng và các di tích trực thuộc đón tiếp 102.962 lượt khách tham quan.Hoạt động thể dục, thể thao:Tổ chức 16 giải thể thao như: giải Việt dã Báo Ấp Bắc tỉnh Tiền Giang lần thứ 39, giải Vô địch Võ cổ truyền, giải Bóng bàn tỉnh Tiền Giang lần thứ X-Tranh Cúp UNREX;...Đăng cai tổ chức 07 giải quốc gia: Vòng loại Giải Bóng đá Vô địch U19 quốc gia - Bảng G, U17 quốc gia - Bảng D, giải Bóng đá hạng Nhì quốc gia - Bảng B,...Đoàn Tiền Giang tham dự 63 giải quốc tế, quốc gia và khu vực đạt được 244 huy chương các loại gồm: 45 huy chương Vàng, 73 huy chương Bạc và 126 huy chương Đồng. Trong đó: tham gia 41 giải Vô địch quốc gia, các đội mạnh, Câu lạc bộ, giải Trẻ đạt 32 huy chương Vàng, 66 huy chương Bạc, 101 huy chương Đồng; tham gia 12 giải mở rộng và giải khu vực đạt 12 huy chương Vàng, 05 huy chương Bạc và 20 huy chương Đồng; tham gia 10 giải quốc tế đạt 01 huy chương Vàng, 02 huy chương Bạc và 05 huy chương Đồng.6. Tình hình trật tự an toàn xã hội (Theo báo cáo của ngành Công an):Tình hình an ninh trật tự trong 9 tháng năm 2024 được đảm bảo. Ghi nhận 653 vụ, giảm 1,5% (giảm 10 vụ) so với cùng kỳ; làm chết 18 người; bị thương 130 người; tài sản thiệt hại khoảng 15,9 tỷ đồng. Điều tra khám phá 558 vụ (đạt 85,5%); xử lý 938 đối tượng, thu hồi tài sản trị giá khoảng 4,4 tỷ đồng.Trong 9 tháng năm 2024, phát hiện, xử lý 146 vụ, 182 đối tượng có hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và xử lý hành chính 1.407 đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy.7. Trật tự an toàn giao thông (theo báo cáo ngành công an tỉnh, số liệu tính từ ngày 15/8/2024 đến 14/9/2024):Tai nạn giao thông đường bộ: trong tháng xảy ra 27 vụ, tăng 01 vụ so tháng trước và tăng 02 vụ so cùng kỳ; làm chết 20 người, tăng 05 người so tháng trước và tương đương người so cùng kỳ; bị thương 17 người, giảm 02 người so tháng trước và tăng 09 người so cùng kỳ. Tính đến tháng báo cáo xảy ra 237 vụ, tăng 14 vụ so cùng kỳ; làm 161 người chết, giảm 02 người so cùng kỳ và bị thương 134 người, tăng 27 người so cùng kỳ. Các nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông chủ yếu vẫn do ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông như: điều khiển xe khi có rượu bia, phóng nhanh vược ẩu, không làm chủ tốc độ; không đi đúng phần đường, làn đường; không nhường đường, vượt đèn đỏ, thiếu quan sát…Tai nạn giao thông đường thủy: trong tháng không xảy ra tai nạn. Tổng số vụ từ đầu năm đến nay 01 vụ, giảm 02 vụ so cùng kỳ; làm 01 người chết, tăng 01 người chết và không có người bị thương tương đương so cùng kỳ.8. Tình hình cháy nổ, môi trường và thiên tai:Trong tháng, ghi nhận 01 vụ cháy trạm biến áp trên địa bàn TX Cai Lậy, không thiệt hại về người, thiệt hại tài sản khoảng 13 tỷ đồng. Tổng số vụ cháy từ đầu năm đến nay ghi nhận 16 vụ, tăng 07 vụ so cùng kỳ, không gây thiệt hại về người, tài sản thiệt hại trị giá khoảng 16,2 tỷ đồng. Nguyên nhân chủ yếu do sự cố về điện, người dân bất cẩn trong sử dụng lửa dẫn đến cháy phương tiện giao thông, kho, nhà ở đơn lẻ.Trong tháng, trên địa bàn tỉnh xảy ra 04 vụ vi phạm môi trường với tổng số tiền xử phạt khoảng 226,7 triệu đồng. Tính từ đầu năm đến nay, có 17 vụ vi phạm môi trường, tăng 03 vụ so cùng kỳ với tổng số tiền xử phạt khoảng 640,7 triệu đồng.Tình hình thiên tai trong tháng, xảy ra 04 vụ lốc xoáy tại 03 huyện: Cai Lậy, Châu Thành và Chợ Gạo, làm 15 căn nhà tốc mái, tổng giá trị thiệt hại ước tính 170 triệu đồng. Từ đầu năm đến nay, xảy ra 81 vụ thiên tai, tăng 33 vụ so cùng kỳ: 01 vụ xâm nhập mặn, tăng 01 vụ; 16 vụ lốc xoáy, tăng 03 vụ và 64 vụ sạt lở đê, tăng 29 vụ; tổng giá trị thiệt hại (không tính xâm nhập mặn) khoảng 207,5 tỷ đồng, tăng 123,9 tỷ đồng. Trong đó: 16 vụ lốc xoáy (làm 01 người nam bị thương nhẹ; làm 14 căn nhà sập, 182 căn nhà tốc mái...); 64 vụ sạt lở đê với tổng chiều dài là 6.310 mét.

Tổng sản phẩm trên địa bàn 9 tháng đầu năm 2024 Tiền Giang đạt 6,18%
  •   04/10/2024 08:35

Kinh tế - xã hội quý III và 9 tháng năm 2024 của tỉnh Tiền Giang tiếp tục duy trì trên đà phát triển và đạt được những kết quả khả quan. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản ổn định và tăng trưởng, thị trường tiêu thụ sản phẩm được khơi thông, mở rộng; công nghiệp tiếp tục trên đà khởi sắc; thương mại dịch vụ tiếp tục tăng cùng với các chính sách kích cầu, hoạt động thương mại xúc tiến được đẩy mạnh, hoạt động du lịch diễn ra sôi nổi. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội được chú trọng, các chính sách đối với người có công với cách mạng, bảo đảm an sinh xã hội và đời sống vật chất tinh thần của Nhân dân được quan tâm, triển khai thực hiện đầy đủ, kịp thời. Tuy vậy, nền kinh tế vẫn còn đối mặt với nhiều thách thức trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường với nhiều khó khăn hơn; xung đột quân sự tiếp tục leo thang tại một số quốc gia, khu vực; nhiều nền kinh tế lớn phục hồi còn chậm. Thị phần bán nội địa giảm, thị trường quốc tế gặp nhiều khó khăn.Trước bối cảnh đó, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp ngay từ đầu năm. Trong đó, đẩy mạnh tháo gỡ khó khăn vướng mắc cho sản xuất kinh doanh; chỉ đạo các cấp, các ngành triển khai nhiều giải pháp phục hồi phát triển kinh tế, triển khai quy hoạch tỉnh; đẩy nhanh tiến độ các công trình dự án trọng điểm; đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công; chăm lo đời sống Nhân dân, an sinh xã hội; tập trung cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi phát triển.Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh ước tính quý III/2024 tăng 7,20% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,40%, đóng góp 1,55 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,59%, đóng góp 3,20 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 7,18%, đóng góp 2,09 điểm phần trăm; thuế sản phẩm tăng 6,69%, đóng góp 0,36 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng kinh tế của tỉnh.Tính chung 9 tháng đầu năm tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh ước đạt 51.918 tỷ đồng (giá so sánh năm 2010), tăng 6,18% so với 9 tháng đầu năm 2023; quí I tăng 4,61%, quí II tăng 6,60%. quí III tăng 7,20%; khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,76 %, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,7% và khu vực dịch vụ tăng 6,54 % (bao gồm thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm); Nếu tách riêng thuế sản phẩm thì khu vực dịch vụ tăng 6,77 % và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 5,37% so cùng kỳ. Trong 6,18% tăng trưởng thì khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản đóng góp 1,34%, khu vực công nghiệp và xây dựng đóng góp 2,56%, khu vực dịch vụ đóng góp 1,98% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đóng góp 0,3%. Tính theo giá hiện hành GRDP đạt 100.004 tỷ đồng. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản: 9 tháng đầu năm 2024 tăng 3,76% so với 9 tháng đầu năm 2023; trong đó nông nghiệp tăng 4,02%.- Trồng trọt: năm 2024 dự báo tình hình xâm nhập mặn sẽ đến sớm và xâm nhập xâu hơn cùng kỳ, nên Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo công tác phòng chống từ rất sớm; khuyến cáo nông dân tuân thủ theo lịch thời vụ, nên hầu hết diện tích gieo trồng đã được thu hoạch, trách được tác động của hạn mặn. Trà lúa Đông Xuân năm nay phát triển tốt, năng suất bình quân đạt 70,2 tạ/ha, tăng 0,6% so cùng kỳ (tăng 0,4 tạ/ha); Nhưng do diện tích gieo sạ giảm 3.319,3 ha, nên sản lượng lúa thu hoạch giảm 6,3% so cùng kỳ. Trồng trọt của tỉnh 9 tháng đầu năm 2024 chuyển dịch theo hướng giảm diện tích sản xuất lúa (vụ Đông Xuân giảm 6,9%, vụ Hè Thu giảm 7,9% diện tích) chuyển sang trồng các loại cây có hiệu quả kinh tế cao hơn như: trồng rau đậu các loại diện tích tăng 0,3% , trồng cây lâu năm diện tích tăng 2,8% so cùng kỳ- Chăn nuôi: dịch bệnh còn xảy ra ở một số địa phương, gây tâm lý lo lắng cho người nuôi, do phải cạnh tranh với sản phẩm chăn nuôi nhập khẩu, giá bán sản phẩm đầu ra không tăng, trong khi giá thức ăn nằm ở mức cao, nên người nuôi lãi không nhiều, không kích thích nông dân tập trung đầu tư. Ước đến thời điểm 01/9/2024 tổng đàn gia súc gia cầm của tỉnh như sau: đàn bò 119,5 nghìn con, giảm 1,7%, đàn lợn 310 nghìn con, tăng 5,8% và đàn gia cầm 16,1 triệu con, tăng 0,6% so cùng kỳ.- Thủy sản: tăng 2,35% so cùng kỳ, sản lượng nuôi trồng và khai thác đều tăng, sản lượng nuôi trồng tăng 1,2% và sản lượng khai thác tăng 7,6%.Khu vực công nghiệp - xây dựng: tăng 8,7% so với 9 tháng đầu năm 2023- Công nghiệp tăng 8,31%. Với sự chủ động của các doanh nghiệp, sự quan tâm lãnh đạo của các ngành, các cấp, kịp thời giải quyết các khó khăn của doanh nghiệp, sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh tăng dần, tăng trưởng quí sau cao hơn quí trước, quí I tăng 4,99%, quí II tăng 8,57% và quí III tăng 10,87% so cùng kỳ. Sản xuất công nghiệp tăng là do trong kỳ có một số doanh nghiệp mới đi vào hoạt động; một số ngành cùng kỳ giảm, nhưng năm nay bắt đầu tăng trở lại; các ngành có chỉ số sản xuất tăng khá như: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 16,67%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 60,66%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 23,05%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 16,03% so với cùng kỳ, do nhà nhà máy điện gió Tân Phú Đông 1 đi vào hoạt động từ cuối tháng 05/2023 ... Tuy nhiên sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh còn gặp một số khó khăn trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm do tác động của kinh tế thế giới suy giảm, cuộc chiến giữa Nga và Ucraina làm cho giá nhiên liệu tăng, lạm phát tăng cao. Cũng có một số ngành giảm hoặc tăng thấp, làm chậm đà tăng trưởng của ngành công nghiệp như: Sản xuất trang phục giảm 17,57%; dệt giảm 8,55%; Sản xuất đồ uống giảm 11,79%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác giảm 21,11% ...- Ngành xây dựng tăng 10,65%, là một trong những ngành có tốc độ tăng trưởng tốt nhất trong 9 tháng đầu năm 2024. Tình hình sản xuất của các doanh nghiệp từng bước khôi phục, ổn định trở lại nên tái đầu tư mở rộng sản xuất. Trên địa bàn tỉnh có nhiều công trình trọng điểm của địa phương và trung ương đang được triển khai thi công, cộng với sự tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt trong việc đẩy nhanh tiến độ đầu tư công đã góp phần làm cho hoạt động xây dựng trên địa bàn tỉnh tăng khá so cùng kỳ.Khu vực dịch vụ: tăng 6,77% so cùng kỳ; tất cả các ngành trong khu vực này đều tăng. Kinh tế của tỉnh dần hồi phục, cộng với việc nâng lương cơ sở từ ngày 01/7/2024 nên nhu cầu tiêu dùng, mua sắm của người dân trong kỳ tăng cao. Hoạt động thương mại và dịch vụ diễn ra khá sôi động và có mức tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước, một số ngành tăng khá như: bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy tăng 8,54%; Dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 12,85%; hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 10,82%; Hoạt động vận tải kho bãi tăng 14,86%, so với cùng kỳ. Nguyên nhân vận tải kho bãi tăng cao là do: Từ cuối năm 2023 đến nay trên địa bàn tỉnh, giá các loại nông sản như mít, thanh long tăng trở lại và đặc biệt là sầu riêng; xuất khẩu thuận lợi, chủ yếu sang Trung Quốc; 6 tháng đầu năm 2024 các huyện phía Đông của tỉnh chịu tác động mạnh của hạn, mặn, thiếu nước ngọt trong sinh hoạt, do đó số lượng xe chuyên chở cung cấp nước ngọt tăng lên rất nhiều; Dịch vụ giao hàng nhanh trên địa bàn tỉnh tăng mạnh; trong kỳ có 02 hãng taxi mới đi vào hoạt động trên địa bàn là Saigon taxi và Xanh SM; việc siết chặt kiểm tra nồng độ cồn người điều khiển phương tiện khi tham gia giao thông làm cho nhu cầu sử phương tiện vận tải công cộng tăng, đã thúc đẩy dịch vụ vận tải đường bộ trên địa bàn tỉnh tăng. Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 5,37% so với 9 tháng đầu năm 2023.Cơ cấu kinh tế: Chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản 9 tháng đầu năm chiếm 37,2% (cùng kỳ 37,5%); khu vực công nghiệp, xây dựng chiếm 27,9% (cùng kỳ 27,8%); khu vực dịch vụ chiếm 29,4% (cùng kỳ 29,1%); thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 5,5% (cùng kỳ 5,6%).                                                                                           N.V.Tròn