0273.3 872582 | dongthap@nso.gov.vn
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Tiền Giang Tháng 7 năm 2023
  •   18/06/2024 09:48

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 của tỉnh tiếp tục phát triển các hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh, có nhiều khởi sắc, hầu hết các ngành, lĩnh vực đều tăng so cùng kỳ. Kết quả thực hiện trên các lĩnh vực như sau:  I. SẢN XUẤT NÔNG LÂM NGHIỆP VÀ THỦY SẢN  1. Nông nghiệp  Cây lương thực có hạt: trong tháng gieo trồng 247 ha với sản lượng 550 tấn. Tính đến cuối tháng 7/2023, gieo trồng được 118.231 ha, đạt 90% kế hoạch, giảm 4,2% so cùng kỳ với sản lượng thu hoạch 482.438 tấn, giảm 4,6% so cùng kỳ; trong đó: cây lúa gieo sạ 116.510 ha, giảm 4,1%, thu hoạch 71.080 ha, giảm 2,8% với sản lượng 477.237 tấn, giảm 4,4%; Cụ thể: Hình 1. Cây lương thực có hạt tính đến 15/7/2023  - Cây lúa: Vụ Hè Thu diện tích gieo trồng chính thức 68.308 ha (Xuân hè 22.877 ha, Hè thu 45.431 ha), giảm 5,5% so cùng kỳ do chuyển đổi từ đất lúa sang đất vườn (trồng sầu riêng, mít,…). Diện tích thu hoạch chủ yếu Xuân hè 22.877 ha ở các huyện phía tây gồm: thị xã Cai Lậy 2.964 ha, Tân Phước 4.803 ha, Cái Bè 7.576 ha, Cai Lậy 6.275 ha và Châu Thành 1.259 ha. Năng suất bình quân đạt ước 61,6 tạ/ha, giảm 1% do đất vườn xen lẫn đất lúa bị chuột, côn trùng phá hoại. Sản lượng đạt 140.920 tấn, giảm 5,3%.  - Cây ngô: trong tháng gieo trồng 247 ha, thu hoạch 143 ha với sản lượng 550 tấn. Đến nay gieo trồng được 1.721 ha, đạt 71,1% kế hoạch, giảm 9,8% so cùng kỳ, thu hoạch 1.435 ha, giảm 16,9%, năng suất bình quân ước đạt 36,2 tạ/ha, tăng 0,3% so cùng kỳ với sản lượng 5.201 tấn, đạt 59,7% kế hoạch, giảm 16,6% do diện tích thu hoạch giảm.  Cây rau đậu các loại: trong tháng gieo trồng 4.276 ha, thu hoạch 1.458 ha với sản lượng 33.247 tấn. Đến nay gieo trồng được 41.088 ha, đạt 71% kế hoạch, giảm 1,7% so cùng kỳ, thu hoạch 36.800 ha, tăng 0,2% với sản lượng 775.143 tấn, đạt 62,8% kế hoạch, tăng 0,8% so cùng kỳ (trong đó: rau các loại 40.880 ha, giảm 1,7%, thu hoạch 36.618 ha, tăng 0,2% với sản lượng 774.595 tấn, tăng 0,8% so cùng kỳ).  Chăn nuôi: Ước thời điểm 01/7/2023 tổng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh như sau: đàn bò 123,2 ngàn con, tăng 0,2% so cùng kỳ; đàn lợn 268 ngàn con, giảm 5,8%; đàn gia cầm (không kể chim cút) 16,5 triệu con, giảm 1,8%. So với cùng kỳ đàn bò tăng nhẹ; mặc dù giá lợn hơi đang tăng nhưng đàn lợn giảm do chi phí chăn nuôi cao và việc tái đàn diễn ra còn chậm; đàn gia cầm giảm do giá thức ăn và con giống cao dẫn đến nhiều hộ chọn phương án giảm đàn, ngừng chăn nuôi và chuyển sang chăn nuôi khác.Hình 2. Chăn nuôi tại thời điểm 01/7/2023  * Tình hình dịch bệnh trên vật nuôi: Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Tiền Giang  Gia cầm: ghi nhận 02 trường hợp mắc bệnh cúm gia cầm; 01 trường hợp vịt mắc bệnh với tổng số bệnh 297 con trên tổng đàn 400 con tại xã Mỹ Thành Nam, huyện Cai Lậy; 01 hộ gà với tổng số bệnh 3.000 con trên tổng đàn 4.700 con tại xã Bình Phú, huyện Gò Công Tây. Số gia cầm được tiêu hủy là 5.100 con.  Gia súc:  Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: từ ngày 14/12/2022 đến nay, trên địa bàn tỉnh ghi nhận 07 hộ có lợn mắc bệnh với tổng số lợn bệnh là 179 trên tổng đàn 270 con tại 06 xã/05 huyện (Cai Lậy: 01 xã; Tân Phước: 01 xã; Gò Công Tây: 02 xã; Gò Công Đông: 01 xã; Cái Bè: 01 xã). Số lợn được tiêu hủy dưới sự giám sát của chính quyền địa phương là 215 con, trọng lượng 7.300 kg.  Bệnh viêm da nổi cục: trong tháng ghi nhận 01 trường hợp bò bệnh viêm da nổi cụ tại xã Thạnh Phú, huyện Châu Thành với 02 con bò bệnh trên tổng đàn 04 con. Tính từ ngày 14/12/2022 đến nay, ghi nhận bò bệnh viêm da nổi cục tại 03 huyện/03 xã/03 ấp/04 hộ với 06 con bò bệnh trên tổng đàn 16 con.  2. Lâm nghiệp:  Tổng diện tích rừng hiện có trên địa bàn tỉnh là 1.745,5 ha (không bao gồm diện tích rừng thuộc đất an ninh quốc phòng), cụ thể: 1.381,8 ha rừng phòng hộ (huyện Gò Công Đông: 429,6 ha; huyện Tân Phú Đông: 896,9 ha và huyện Tân Phước: 55,3 ha) và 363,7 ha rừng sản xuất.  Trong tháng, thực hiện trồng mới được 291,7 ngàn cây phân tán. Tổng số cây trồng từ đầu năm đến nay là 437,7 ngàn cây, giảm 6,9% so cùng kỳ.  3. Thủy hải sản:  Diện tích nuôi thủy sản trong tháng đạt 641 ha, tính chung 7 tháng năm 2023 đạt 13.728 ha, đạt 93% kế hoạch, giảm 0,2% so cùng kỳ; trong đó: diện tích nuôi cá đạt 3.919 ha, giảm 0,3%, diện tích nuôi tôm đạt 6.789 ha, giảm 0,1%; diện tích nuôi thủy sản khác đạt 3.020 ha tương đương so cùng kỳ.  Sản lượng thủy sản thu hoạch trong tháng đạt 14.367 tấn. Tính chung 7 tháng năm 2023 đạt 152.578 tấn, giảm 18,2% so cùng kỳ; trong đó: sản lượng thu hoạch từ nuôi 99.264 tấn, tăng 0,4%; sản lượng khai thác 53.314 tấn, giảm 39,2%. Sản lượng thủy sản giảm chủ yếu là sản lượng khai thác, trong 7 tháng năm 2023 khai thác thủy sản gặp nhiều khó khăn do thời tiết xấu, thiếu thuyền viên, giá nguyên nhiên liệu tăng dẫn đến lượng tàu khai thác phải nằm bờ.  II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP  Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 7/2023 tăng 3,66% so với tháng trước (ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,05%, sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 0,66%, cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 1,49%) và tăng 1,29% so cùng kỳ. Các ngành chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh sản xuất tăng hơn so cùng kỳ, trong đó: Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 27,6%; Sản xuất đồ uống tăng 25,04%; Sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 22,78%; Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 16,35%... Tuy nhiên cũng có một số ngành giảm sâu so cùng kỳ như: Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 47,4%; Sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 46,4%; Sản xuất trang phục giảm 27,7%....  Chỉ số sản xuất công nghiệp 7 tháng đầu năm 2023 tăng 2,05% so cùng kỳ; trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,91%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 5,23%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,89%.Hình 3. Chỉ số sản xuất công nghiệp   Chỉ số sản xuất sản phẩm trong 7 tháng so cùng kỳ như sau:  - Có 19/41 sản phẩm tăng so cùng kỳ: Giấy vệ sinh tăng 70,8%; Các sản phẩm bằng vật liệu tết bện khác tăng 47%; Máy gặt đập liên hợp tăng 40%; Dịch vụ sửa chữa, bảo dưỡng tàu, thuyền tăng 34,7%; Giày, dép thể thao có mũ bằng da và có đế ngoài tăng 34,4%; Tàu thuyền lớn chuyên chở người và hàng hóa có động cơ đẩy tăng 33%; Đồ chơi hình con vật hoặc sinh vật không phải hình người tăng 21,2%; Ống và ống dẫn bằng đồng tăng 19,6%; Phân vi sinh tăng 15,4%; Thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng viên tăng 5,8%; Điện thương phẩm tăng 4,7%; Giày, dép thể thao có đế ngoài và mũ giày bằng cao su và plastic tăng 1,3%; Bia đóng chai tăng 0,9%;…  - Có 22/41 sản phẩm giảm so cùng kỳ: Cáp đồng trục và dây dẫn điện đồng trục giảm 68,7%; Thiết bị dùng cho dàn giáo, ván khuôn, vật chống hoặc cột trụ chống hầm lò bằng sắt, thép, nhôm giảm 52%; Thuốc diệt cỏ, thuốc chống nảy mầm và thuốc điều hòa sinh trưởng cây trồng giảm 43,5%; Dây thép không gỉ giảm 32,9%; Bóng thể thao khác giảm 27,3%; Túi xách giảm 25%; Màn bằng vải khác giảm 19,8%; Phi lê đông lạnh giảm 18,9%; Bao và túi (kể cả loại hình nón) từ plastic khác giảm 16,8%; Máy chế biến thịt gia súc hoặc gia cầm giảm 12,5%; Thức ăn cho thủy sản giảm 12%; Bia đóng lon giảm 11,6%; Dịch vụ tiện các bộ phận kim loại giảm 7%; Bộ com lê, quần áo đồng bộ, áo jacket, quần dài, quần yếm, quần soóc cho người lớn dệt kim hoặc đan móc giảm 5,6%; Dịch vụ thu gom rác thải không độc hại có thể tái chế giảm 3,4%; Cửa ra vào, cửa sổ bằng sắt, thép giảm 1,6%; Nước uống được giảm 0,7%; Thức ăn cho gia súc giảm 0,3%;…  * Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo:  - Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 7/2023 so với tháng trước tăng 5,91% và giảm 5% so cùng kỳ. Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cộng dồn từ đầu năm đến cuối tháng 7 năm 2023 giảm 9,13%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm: sản xuất chế biến thực phẩm giảm 15,44%, trong đó sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thuỷ sản giảm 12,89%; sản xuất đồ uống giảm 4,89%, trong đó sản xuất bia giảm 4,89%; sản xuất trang phục giảm 60,05%; sản xuất da giảm 18,97%, trong đó sản xuất giày dép giảm 11,31%; sản xuất sản phẩm cao su và plastic giảm 13,03%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 55,67% so cùng kỳ;…Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao so cùng kỳ: dệt tăng 3,08%, trong đó sản xuất sợi tăng 17,52%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ tăng 46,69%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 94,81%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 66,02%; sản xuất kim loại tăng 15,37%;…  - Chỉ số tồn kho tháng 7/2023 so với tháng trước tăng 19,08% và so với cùng kỳ tăng 85,68%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng so cùng kỳ: sản xuất chế biến thực phẩm bằng gấp 2,4 lần, trong đó sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thuỷ sản tăng 32,13%; dệt tăng 32,33%, trong đó sản xuất hàng may sẳn tăng 12,14%; sản xuất trang phục tăng 42,1%; sản xuất da tăng 60,3%, trong đó sản xuất giày dép tăng 58,11%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 20,23%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 95,23%; sản xuất kim loại bằng gấp 2,1 lần; chế biến, chế tạo khác tăng 8,03%, trong đó sản xuất đồ chơi, trò chơi tăng 8,03%;...Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tồn kho giảm: sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẳn giảm 75,91%; sản xuất thiết bị điện giảm 90,84%, trong đó sản xuất mô tơ điện giảm 92,76% so cùng kỳ;…  * Tình hình thu hút đầu tư và phát triển các khu - cụm công nghiệp:  - Khu công nghiệp: đến nay tỉnh đã được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương quy hoạch 7 khu công nghiệp với tổng diện tích 2.083,5 ha; trong đó có 3 khu công nghiệp (KCN) đi vào hoạt động. Trong tháng, Ban Quản lý các khu công nghiệp cấp giấy chứng nhận đầu tư 01 dự án, tổng vốn đầu tư 12 triệu USD; điều chỉnh 01 thay đổi thông tin người đại diện theo pháp luật của Nhà đầu tư, địa điểm thực hiện dự án và tăng diện tích thuê đất. Ngoài ra thông báo chấm dứt hoạt động và thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh 01 dự án.  Đến cuối tháng 7/2023, tổng số dự án tại các khu công nghiệp là 110 dự án (trong đó: có 81 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài) với tổng vốn đầu tư 2,4 tỷ USD và 4.865,9 tỷ đồng, diện tích thuê 524,3 ha/770,1 ha, chiếm tỷ lệ 68% diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê đang hoạt động.  - Cụm công nghiệp: trên địa bàn tỉnh có 27 cụm công nghiệp được quy hoạch; trong đó có 5 cụm công nghiệp đang hoạt động. Tổng số dự án đầu tư tại các cụm công nghiệp đến nay là 79 dự án (trong đó: có 6 dự án đầu tư nước ngoài) với tổng vốn đầu tư 0,2 tỷ USD và 2.306 tỷ đồng, diện tích thuê đất là 88,7 ha, tỷ lệ lấp đầy đạt 73,6%.  III. ĐẦU TƯ - XÂY DỰNG  Tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý thực hiện trong tháng là 718 tỷ đồng, tăng 52,8% so cùng kỳ. Bảy tháng đầu năm 2023 thực hiện 3.265 tỷ đồng, đạt 61,8% kế hoạch, tăng 55,7% so cùng kỳ. Ngay từ đầu năm Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã giao nhiệm vụ cụ thể cho các sở, ngành, UBND các huyện, thành phố, thị xã nâng cao trách nhiệm trong quản lý đầu tư xây dựng công trình cũng như đẩy mạnh huy động các nguồn lực của các thành phần kinh tế cho đầu tư phát triển. Tình hình đầu tư công của tỉnh đã có những chuyển biến tích cực…Hình 4. Cơ cấu vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý - 7 tháng năm 2023   Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh thực hiện 2.644 tỷ đồng, tăng 65% so cùng kỳ, chiếm 81,2% tổng số; trong đó: vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 983 tỷ đồng, tăng 2,1 lần, vốn xổ số kiến thiết thực hiện 1.029 tỷ đồng, tăng 31,3% so cùng kỳ... Các ngành các cấp yêu cầu các Ban quản lý dự án, Chủ đầu tư tập trung với cường độ cao hơn nhằm đẩy nhanh tiến độ đầu tư công, hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng, thúc đẩy phát triển kinh tế của tỉnh.Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp huyện thực hiện 402 tỷ đồng, tăng 10,4% so cùng kỳ, chiếm 12,3% tổng số; trong đó: vốn tỉnh hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 160 tỷ đồng, tăng 0,6% so cùng kỳ... Hiện nay nguồn vốn đầu tư của huyện, thành phố, thị xã thực hiện chủ yếu nguồn vốn phân cấp, tập trung cho các công trình, dự án giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới.  Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp xã thực hiện 210 tỷ đồng, tăng 67,4% so cùng kỳ, chiếm 6,5% tổng số; trong đó: vốn huyện hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 115 tỷ đồng, tăng 43,9% so cùng kỳ... Đối với các công trình do Ban quản lý công trình xã làm chủ đầu tư thực hiện chủ yếu từ nguồn vốn phân cấp để thực hiện các công trình giao thông nông thôn, thủy lợi nội đồng phục vụ địa phương. Tập trung điều kiện đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình sớm đưa các công trình vào sử dụng nhằm phát huy hiệu quả công trình. Các xã tập trung điều kiện đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình xây dựng nông thôn mới nhằm phục vụ đi lại và vận chuyển hàng hóa của người dân đồng thời phục vụ ra mắt xã nông thôn mới và nông thôn mới nâng cao năm 2023.  IV. THƯƠNG MẠI - GIÁ CẢ - DỊCH VỤ  1. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng:  Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trong tháng thực hiện 6.990 tỷ đồng, tăng 2,9% so tháng trước và tăng 10,5% so cùng kỳ. Bảy tháng đầu năm 2023, tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thực hiện 47.307 tỷ đồng, đạt 57,7% kế hoạch, tăng 13,7% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 36.761 tỷ đồng, tăng 11,6%; lưu trú 170 tỷ đồng, tăng 52,1%; ăn uống 3.900 tỷ đồng, tăng 31,9%; du lịch lữ hành 72 tỷ đồng, tăng 1,4 lần; dịch vụ tiêu dùng khác 6.404 tỷ đồng, tăng 14,9% so cùng kỳ.Hình 5. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng  Hoạt động thương mại và xúc tiến thương mại: trong tháng ngành Công thương tham mưu UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 451/KH-UBND ngày 07/7/2023 tổ chức Hội nghị xúc tiến thương mại tỉnh Tiền Giang năm 2023; Tổ chức 03 Hội nghị tập huấn Kỹ năng xây dựng thương hiệu, quảng bá sản phẩm OCOP” và 01 Hội nghị tập huấn kỹ năng kinh doanh thương mại điện tử trên địa bàn tỉnh Tiền Giang năm 2023;…  2. Xuất - Nhập khẩu:  a. Xuất khẩu:  Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng ước thực hiện 429 triệu USD, tăng gấp đôi so tháng trước; trong đó: kinh tế ngoài nhà nước 110 triệu USD, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 317 triệu USD. Bảy tháng ước xuất khẩu 2.764 triệu USD, đạt 70,9% kế hoạch, tăng 12,5% so cùng kỳ; trong đó: kinh tế nhà nước 20 triệu USD, tăng 379,1%; kinh tế ngoài nhà nước 511 triệu USD, tăng 11,9%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 2.233 triệu USD, tăng 11,9% so cùng kỳ.  Một số mặt hàng xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của tỉnh như sau:  - Thủy sản: ước tính tháng 7/2023 xuất 26.676 tấn với trị giá 45,3 triệu USD. Bảy tháng xuất 92.491 tấn, tăng 35,3%; với trị giá xuất 197,8 triệu USD, đạt 49,5% kế hoạch, giảm 17,1% so cùng kỳ nguyên nhân chính là do xung đột Nga - Ukraine cùng với hậu quả tác động của dịch Covid-19, lạm phát ở nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là những quốc gia vốn là thị trường xuất khẩu chính mặt hàng thủy sản của Việt Nam: Mỹ, EU, Nhật Bản.... Ngoài những khó khăn từ phía thị trường tiêu thụ kém, doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu tôm và cá tra bị sụt giảm lợi nhuận vì giá thức ăn, con giống và các chi phí đầu vào tăng cao, giá thành cao, trong khi giá bán hạ mà vẫn khó tiêu thụ, dẫn đến tồn kho càng khiến cho chi phí đội lên…  - Gạo: ước tính tháng 7/2023 xuất 13.722 tấn với trị giá 8,2 triệu USD. Bảy tháng xuất 120.804 tấn, tăng 69,5%; với trị giá xuất 72 triệu USD, chiếm 2,6% tổng giá trị xuất khẩu, đạt 144% kế hoạch, tăng 104,1% so cùng kỳ. Xuất khẩu gạo của Việt Nam trong năm nay thuận lợi dự kiến sẽ tăng cao với các lô hàng bán sang Philippines, Trung Quốc và Indonesia tăng mạnh.  - Hàng dệt, may: ước tính tháng 7/2023 xuất 5.778 ngàn sản phẩm với trị giá xuất 82,6 triệu USD. Bảy tháng xuất 35.468 ngàn sản phẩm, giảm 39,5%; với trị giá xuất 445 triệu USD, đạt 71,8% kế hoạch, tăng 34,8% so cùng kỳ.  Tình hình khó khăn trong xuất khẩu dệt may, da giày dự kiến sẽ chưa thể kết thúc sớm. Do đó, các doanh nghiệp đã và đang tích cực tìm các giải pháp chủ động ứng phó. Một yếu tố quan trọng làm nền tảng cho ngành dệt may tăng trưởng là năng lực chủ động cung ứng nguồn cung nguyên phụ liệu trong nước.  - Kim loại thường và sản phẩm (kể cả đồng): ước tháng 7/2023 xuất 6.854 tấn với trị giá 68,2 triệu USD. Bảy tháng xuất 65.655 tấn sản phẩm, tăng 9,3%; với trị giá xuất 643 triệu USD, tăng 0,2% so cùng kỳ.  Ngoài các mặt hàng chủ yếu, trị giá xuất khẩu một số mặt hàng trong 7 tháng đầu năm 2023 như: giày dép các loại 454 triệu USD, tăng 6,8%; sắt thép 218 triệu USD, gấp 4 lần; sản phẩm từ chất dẻo 118 triệu USD, giảm 31,7%; túi xách, ví, vali, mũ và ô dù 117 triệu USD, giảm 12,3%... so cùng kỳ.  b. Nhập khẩu:  Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa trong tháng 7/2023 ước 167 triệu USD, giảm 19,3% so tháng trước. Bảy tháng, ước kim ngạch nhập khẩu 1.445 triệu USD, đạt 62,8% kế hoạch, tăng 4,9% so cùng kỳ; trong đó: kinh tế ngoài nhà nước nhập 70 triệu USD, giảm 10,9%, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài nhập 1.375 triệu USD, tăng 5,9% so cùng kỳ. Nguyên liệu nhập khẩu chủ yếu các mặt hàng như kim loại thường khác 544 triệu USD, giảm 2%; nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày 151 triệu USD, giảm 30,3%; vải các loại 118 triệu USD, giảm 15,1%; chất dẻo (plastic) nguyên liệu 49 triệu USD, giảm 42%... so cùng kỳ.  3. Chỉ số giá:  Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 7/2023 tăng 0,28% so tháng 6/2023 (thành thị tăng 0,22%, nông thôn tăng 0,3%); so cùng kỳ tăng 1,04%.  So với tháng 6/2023, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 09 nhóm tăng: hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,32% (trong đó: lương thực tăng 0,3%, thực phẩm tăng 0,45%); nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,03%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,12%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,23%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%; giao thông tăng 0,11%; giáo dục tăng 0,01%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,39% và nhóm hàng hoá và dịch vụ khác tăng 4,74%. Có 02 nhóm giảm: nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,32% và nhóm bưu chính, viễn thông giảm 0,12% so với tháng trước.  Một số mặt hàng có chỉ số giá tăng so với tháng trước:  - Giá lương thực tăng 0,3%, do giá gạo xuất khẩu và giá nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất đang ở mức cao, đóng góp vào mức tăng CPI chung tháng này ở mức 0,01% điểm phần trăm.  - Giá thịt lợn, thịt bò, thịt gia cầm, rau xanh, củ, quả... tăng nhẹ so với tháng trước, do nhu cầu tiêu dùng vào mùa du lịch, lương tăng, giá thịt hơi tăng, nên tác động nhóm thực phẩm trong tháng tăng 0,45%, đóng góp vào mức tăng CPI chung ở mức 0,09% điểm phần trăm.  - Mức giá đóng Bảo hiểm y tế của cán bộ công chức nhà nước và người lao động tự do trong tháng tăng 20,81% so với tháng trước, đóng góp vào mức tăng CPI chung tháng 7/2023 ở mức 0,2% điểm phần trăm.  Các nhóm hàng: thuốc và dịch vụ y tế; giáo dục; đồ uống thuốc lá;… hàng hóa và dịch vụ khác có chỉ số tăng từ 0,01% đến 4,74% tác động mức chung tăng 0,28% so tháng 6/2023.  Bên cạnh đó, mặt hàng có chỉ số giá giảm:  - Giá quả tươi, chế biến giảm 3% so với tháng trước do mùa mưa, các loại cây ăn trái ra quả tự nhiên, sản lượng dồi dào, giá bán lẻ tại các chợ giảm.  - Giá gas giảm 5,56%, tương ứng giảm 18.000 đồng/bình 12kg vào ngày 01/7/2023, góp phần kềm hãm CPI chung tháng này ở mức 0,07% điểm phần trăm.  - Trong tháng, giá xăng bình quân giảm 0,1%, tương ứng giảm 44 đồng/lít. Riêng giá dầu diezen 0,05S tăng 3,91%, tương ứng tăng 705 đồng/lít so tháng trước, giá xăng dầu trong nước tháng 7/2023 được điều chỉnh vào các ngày (ngày 03/7; 11/7 và ngày 21/7/2023), tác động đến nhóm nhiên liệu trong tháng 7/2023 giảm 0,09% so với tháng trước.  Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 7 tháng năm 2023 so cùng kỳ tăng 2,01%; một số nhóm hàng có giá tăng trong 7 tháng năm 2023 so cùng kỳ như: nhóm Giáo dục tăng 7,81%, trong đó dịch vụ giáo dục tăng 8,28%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,65%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống 3,81%; nhóm may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 2,96%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,04%;…  Chỉ số giá vàng 24 kara Ngọc Thẩm trong tháng 7/2023 giảm 0,21% so tháng trước, giá bình quân tháng 07/2023 là 5.644 ngàn đồng/chỉ, tăng 280 ngàn đồng/chỉ so cùng kỳ.  Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng 07/2023 tăng 0,53% so tháng trước, giá bình quân 23.787 đồng/USD, tăng 307 đồng/USD so cùng kỳ.  4. Du lịch:   Khách du lịch đến trong tháng 7/2023 ước tính được 97 ngàn lượt khách, giảm 10,3% so tháng trước, trong đó khách quốc tế 12 ngàn lượt khách, tăng 4,8 lần so tháng trước. Doanh thu lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành trong tháng 7 đạt 630 tỷ đồng, tăng 1,7% so tháng trước và tăng 18,3% so cùng kỳ.  Tính chung bảy tháng đầu năm 2023, lượt khách du lịch đến Tiền Giang là 672 ngàn lượt khách, đạt 53,8% kế hoạch và tăng 77,5% so cùng kỳ; trong đó: khách quốc tế 64 ngàn lượt khách, tăng 5 lần so cùng kỳ. Tổng doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, dịch vụ lữ hành, hoạt động hỗ trợ du lịch dịch vụ tiêu dùng đạt 10.546 tỷ đồng, tăng 21,6% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu dịch vụ ăn uống chiếm tỷ trọng 38,6%, ước đạt 4.070 tỷ đồng, tăng 32,7% so cùng kỳ; lưu trú đạt 170 tỷ đồng, tăng 52,1% so cùng kỳ..., Hiện nay đang vào thời gian nghỉ hè, vì vậy các gia đình tranh thủ thời gian này để đi du lịch; Các tổ chức và cá nhân cũng tranh thủ để tổ chức và tham gia các tour đến các điểm du lịch trên cả nước, trong đó Tiền Giang là địa phương có nhiều điểm du lịch hấp dẫn cho hoạt động du lịch như: du lịch sông nước, du lịch tâm linh, du lịch sinh thái…  5. Vận tải:  Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trong tháng thực hiện 217 tỷ đồng, tăng 8,5% so tháng trước và tăng 3,4% so cùng kỳ. Bảy tháng thực hiện 1.410 tỷ đồng, tăng 16,1% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 366 tỷ đồng, tăng 17%; doanh thu vận tải hàng hóa thực hiện 900 tỷ đồng, tăng 4,6% so cùng kỳ. Doanh thu vận tải đường bộ thực hiện 572 tỷ đồng, tăng 13,9%; doanh thu vận tải đường thủy thực hiện 694 tỷ đồng, tăng 18,5%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 143 tỷ đồng, tăng 14% so cùng kỳ.  Vận tải hành khách trong tháng đạt 1.354 ngàn hành khách, tăng 2,3% so tháng trước và tăng 8,2% so cùng kỳ; luân chuyển 32.988 ngàn hành khách.km, tăng 0,4% so tháng trước và tăng 6,4% so cùng kỳ. Bảy tháng, vận chuyển 9.536 ngàn hành khách, tăng 20,8% so cùng kỳ; luân chuyển 215.536 ngàn hành khách.km, tăng 12,7% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 3.179 ngàn hành khách, tăng 14,4% và luân chuyển 208.813 ngàn hành khách.km, tăng 12,4% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 6.357 ngàn hành khách, tăng 24,2% và luân chuyển 6.723 ngàn hành khách.km, tăng 20,9% so cùng kỳ.  Vận tải hàng hóa trong tháng đạt 1.347 ngàn tấn, tăng 5,2% so tháng trước và tăng 11% so cùng kỳ; luân chuyển 278.834 ngàn tấn.km, tăng 4,7% so tháng trước và tăng 8,9% so cùng kỳ. Bảy tháng, vận tải 8.597 ngàn tấn hàng hóa, tăng 17,3% so cùng kỳ; luân chuyển 1.684.630 ngàn tấn.km, tăng 20,3% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 1.307 ngàn tấn, tăng 10,8% và luân chuyển 296.556 ngàn tấn.km, tăng 13,9% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 7.290 ngàn tấn, tăng 18,5% và luân chuyển 1.388.074 ngàn tấn.km, tăng 21,8% so cùng kỳ.  * Công tác quản lý phương tiện giao thông:  Trong tháng đăng ký mới 3.598 chiếc xe mô tô xe máy, 353 chiếc xe ô tô, 05 chiếc xe đạp điện và 03 chiếc xe khác. Tổng số xe đang quản lý trên địa bàn tỉnh 1.466.789 chiếc, trong đó: mô tô xe máy 1.416.401 chiếc, 49.218 chiếc xe ô tô, 153 chiếc xe ba bánh, 443 chiếc xe đạp điện và 574 chiếc xe khác.  6. Bưu chính viễn thông:  Doanh thu trong tháng 7/2023 đạt 330 tỷ đồng, tăng 0,2% so tháng trước và tăng 2,7% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính đạt 34 tỷ đồng, giảm 0,8% và viễn thông 296 tỷ đồng, tăng 0,4% so tháng trước. Bảy tháng doanh thu dịch vụ bưu chính, viễn thông đạt 2.285 tỷ đồng, tăng 4% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính đạt 224 tỷ đồng, tăng 10,9% và viễn thông 2.061 tỷ đồng, tăng 3,3% so cùng kỳ.  Tổng số thuê bao điện thoại có trên mạng đến cuối tháng 7/2023 là 125.099 thuê bao, mật độ bình quân đạt 7,03 thuê bao/100 dân (chỉ tính thuê bao cố định và di động trả sau). Thuê bao internet có trên mạng cuối tháng 7/2023 là 375.166 thuê bao, mật độ internet bình quân đạt 21,08 thuê bao/100 dân. Số lượng điện thoại cố định có dây, không dây tiếp tục giảm, do thị trường phát triển thuê bao dần bảo hòa dẫn đến khách hàng dần chuyển sang sử dụng điện thoại di động, trong đó chủ yếu là điện thoại di động trả trước. Số thuê bao điện thoại di động có sử dụng internet (3G, 4G) đến cuối tháng 7 năm 2023 là 1.476.175 thuê bao.  V. TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG  1. Tài chính:  Tổng thu ngân sách nhà nước trong tháng thực hiện 1.181 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn 809 tỷ đồng, thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 240 tỷ đồng. Bảy tháng, thu 14.023 tỷ đồng, tăng 16,7% so cùng kỳ; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn thực hiện 5.746 tỷ đồng, đạt 55,9% dự toán và giảm 1,5% so cùng kỳ; thu nội địa 5.545 tỷ đồng, đạt 56,1% dự toán, giảm 2,3% so cùng kỳ (trong thu ngân sách trên địa bàn: thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 1.651 tỷ đồng, đạt 50,8% dự toán, giảm 8,5% so cùng kỳ; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 670 tỷ đồng, đạt 58,3% dự toán, tăng 5,1% so cùng kỳ...).  Tổng chi ngân sách nhà nước trong tháng 1.463 tỷ đồng; trong đó: chi đầu tư phát triển 480 tỷ đồng. Bảy tháng, chi 9.668 tỷ đồng, đạt 68,5% dự toán, tăng 23,9% so cùng kỳ; trong đó: chi đầu tư phát triển 3.037 tỷ đồng, đạt 57,4% dự toán, tăng 18,4% so cùng kỳ; chi hành chính sự nghiệp 4.845 tỷ đồng, đạt 62,7% dự toán và tăng 22,4% so cùng kỳ.  2. Ngân hàng:  Đến cuối tháng 6/2023, vốn huy động đạt 93.360 tỷ, tăng 5.623 tỷ, tăng 6,4% so với cuối năm 2022, tổng dư nợ cho vay của các tổ chức tín dụng (TCTD) trong tỉnh đạt 90.114 tỷ, tăng 4.084 tỷ, tăng 4,76% so với cuối năm 2022. Trong 6 tháng đầu năm, hệ thống TCTD trên địa bàn tỉnh đã đáp ứng nhu cầu vốn cho 699.240 lượt khách hàng vay vốn với doanh số cho vay lũy kế từ đầu năm đạt 76.491 tỷ đồng. Tín dụng tăng trưởng thấp hơn 6,69% so với cùng kỳ năm trước. Ước đến cuối tháng 7/2023, nguồn vốn huy động đạt 93.598 tỷ, tăng 5.861 tỷ, tăng 6,68% so với cuối năm 2022; tổng dư nợ đạt 90.709 tỷ, tăng 4.688 tỷ, tăng 5,45%.  Lãi suất huy động 03 lần điều chỉnh giảm 0,5%-1,25%/năm lãi suất tối đa tiền gửi bằng VND kỳ hạn dưới 6 tháng: Theo đó, lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng giảm từ 1%/năm xuống còn 0,5%/năm; lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 đến dưới 6 tháng tại ngân hàng giảm từ 6%/năm xuống còn 4,75%/năm; lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 đến dưới 6 tháng tại Quỹ tín dụng nhân dân, Tổ chức tài chính vi mô giảm từ 6,5%/năm xuống 5,25%/năm;  Lãi suất cho vay điều chỉnh giảm 03 lần, lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa 1,5%/năm bằng VND của TCTD đối với khách hàng vay để đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ một số lĩnh vực, ngành kinh tế theo quy định tại Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 để hỗ trợ chi phí vay vốn cho khách hàng. Theo đó, lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND của TCTD đối với khách hàng vay đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ một số lĩnh vực, ngành kinh tế giảm từ 5,5%/năm xuống 4%/năm; giảm từ 6,5%/năm xuống 5%/năm đối với Quỹ tín dụng nhân dân và Tổ chức tài chính vi mô.  Nợ xấu: đến cuối tháng 6/2023 là 1.299 tỷ đồng, tỷ lệ 1,44%, tăng 0,75% so với cuối năm 2022. Ước đến cuối tháng 8/2023, nợ xấu là 1.333 tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu 1,47%, tăng 0,78% so với cuối năm 2022.  Quỹ tín dụng nhân dân: đến cuối tháng 6/2023, tổng nguồn vốn hoạt động đạt 1.418 tỷ đồng, tăng 36,6 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 2,66% so tháng 12/2022, trong đó vốn huy động tăng 1,99%, chiếm tỷ trọng 86% trong tổng nguồn vốn hoạt động. Dư nợ cho vay đạt 1.058 tỷ đồng, tăng 19,2 tỷ, tỷ lệ tăng 1,85%, đáp ứng nhu cầu vay vốn cho 5.125 lược thành viên từ đầu năm đến nay; trong đó, dư nợ ngắn hạn tăng 1,85% chiếm tỷ trọng 45% tổng dư nợ. Nợ xấu: số dư 5 tỷ đồng, giảm 2 tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu 0,47%, giảm 0,2% so tháng 12/2022.  VI. KHOA HỌC CÔNG NGHỆ  Trong tháng tập trung cho các nội dung công việc: Tổ chức họp Hội đồng tư vấn xác định nhiệm vụ KH&CN cấp cơ sở triển khai năm 2023 - 2024 (Lĩnh vực Nông nghiệp, Lĩnh vực Khoa học xã hội). Phê duyệt danh mục nhiệm vụ KH&CN cấp cơ sở triển khai năm 2023-2024 (Quyết định số 115/QĐ-SKH&CN, ngày 04/7/2023). Tổ chức Họp Hội đồng tư vấn giao trực tiếp tổ chức và cá nhân thực hiện 01 nhiệm vụ KH&CN cấp cơ sở. Kiểm tra tiến độ thực hiện 05 nhiệm vụ KH&CN (04 cấp tỉnh, 01 cấp cơ sở). Báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh về kết quả ứng dụng các nhiệm vụ khoa học và công nghệ đã được công nhận, nghiệm thu và triển khai ứng dụng trong giai đoạn 2018-2022.  Đến cuối tháng 7/2023, thẩm định nội dung 06 nhiệm vụ KH&CN (04 cấp tỉnh, 02 cấp cơ sở); quyết định triển khai 05 nhiệm vụ KH&CN (04 cấp tỉnh, 01 cấp cơ sở); nghiệm thu kết thúc 11 nhiệm vụ KH&CN (06 cấp tỉnh, 05 cấp cơ sở); quyết định công nhận 06 nhiệm vụ KH&CN (04 cấp tỉnh, 02 cấp cơ sở); gia hạn 01 nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh.  VII. CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI  1. Lao động việc làm:  Trong tháng, tư vấn việc làm cho 3.737 lượt lao động, tăng 17,4% so cùng kỳ; trong đó tư vấn nghề cho 168 lượt lao động; tư vấn việc làm cho 538 lượt lao động; tư vấn việc làm cho 2.912 lượt lao động thất nghiệp; tư vấn pháp luật lao động và tư vấn khác cho 119 lượt lao động. Giới thiệu việc làm cho 534 lượt lao động, tăng 0,9% so cùng kỳ, trong đó có 213 lao động có được việc làm ổn định, tăng 61,4%.  Tư vấn đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài cho 112 lượt lao động, giảm 4,3% so cùng kỳ; có 02 lao động đăng ký tham gia đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, giảm 33,3%; có 63 lao động xuất cảnh đi làm việc ở nước ngoài (Nhật Bản 53 lao động, Đài Loan 09 lao động, Canada 01 lao động), giảm 7,4%, đạt 21% kế hoạch năm.  Tình hình lao động nghỉ việc, thất nghiệp: trong tháng, tiếp nhận 2.422 lao động đăng ký hưởng trợ cấp thất nghiệp, tăng 32,7% so cùng kỳ; 2.505 lao động được quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp, tăng 42,7% với số tiền chi trả 49,6 tỷ đồng.  2. Chính sách xã hội:  Thực hiện lập Quyết định giải quyết chế độ mai táng phí và 03 tháng trợ cấp: 134 trường hợp; trợ cấp mai táng phí theo các Quyết định 290/2005/QĐ-TTg: 32 trường hợp, 62/2011/QĐ-TTg: 36 trường hợp, 49/2015/QĐ-TTg: 19 trường hợp; trợ cấp thờ cúng: 26 trường hợp; thu hồi thờ cúng: 01 trường hợp; chuyển thờ cúng: 85 trường hợp; trợ cấp 01 lần NĐ 112/CP: 10 trường hợp; giải quyết mai táng phí 1 lần: 52 trường hợp; mai táng phí tuất: 06 trường hợp; mai táng phí QĐ 150: 02 trường hợp.  Ngoài ra, lập Quyết định trợ cấp hàng tháng đối với con liệt sĩ tàn tật, hưởng thêm chế độ thương binh, bệnh binh, tù đày, vợ liệt sĩ tái giá: 13 đối tượng; cấp mới sổ dụng cụ chỉnh hình: 07 trường hợp; cấp lại giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ và thương binh, bệnh binh: 26 trường hợp; chuyển hồ sơ người có công đi tỉnh khác và tiếp nhận hồ sơ người có công do tỉnh khác chuyển đến: 24 trường hợp; thẩm định hồ sơ chất độc hóa học, tù đày, thương binh: 05 trường hợp.  3. Hoạt động y tế:  Trong tháng 7, có 12/43 bệnh truyền nhiễm được ghi nhận. So với cùng kỳ cộng dồn có 10 bệnh tăng (Bệnh liên cầu lợn ở người, bệnh do liên cầu lợn ở người, Lao phổi, Liệt mềm cấp nghi bại liệt, Sởi, Thương hàn, Thủy đậu, Tiêu chảy, Uốn ván khác, Viêm não do vi rút khác); 05 bệnh giảm (Sốt xuất huyết Dengue, Tay – chân – miệng, Viêm gan vi rút B, Viêm gan vi rút Covid - 19); 28 bệnh tương đương hoặc không xảy ra ca mắc.  Phòng chống bệnh Sốt xuất huyết trong tháng ghi nhận 174 ca mắc. Nâng số bệnh Sốt xuất huyết từ đầu năm đến nay là 1.928 ca mắc, giảm 8,2% so cùng kỳ, không ghi nhận ca tử vong.  Phòng chống HIV/AIDS tính đến nay, toàn tỉnh có 6.641 người nhiễm HIV; 1.819 người chuyển sang AIDS; 1.311 người tử vong do AIDS.  Trong tháng, số lần khám bệnh là 362.340 lượt người, tăng 2%; Tổng số lượt người điều trị nội trú là 16.175 lượt người, tăng 1,5%; Công suất sử dụng giường bệnh bình quân tháng 7 đạt 69,53%.  4. Hoạt động giáo dục:  Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2023, toàn tỉnh có 15.455 thí sinh đăng ký dự thi và được bố trí ở 30 Điểm thi, tăng 381 thí sinh so với năm 2022. Ngành Giáo dục đã huy động 2.414 nhân sự tham gia kỳ thi; trong đó có 90 lãnh đạo Điểm thi, 241 thư ký, 1.448 cán bộ coi thi, 266 cán bộ giám sát, 129 phục vụ, 30 nhân viên y tế, 30 trật tự viên và 180 công an (mỗi Điểm thi có 06 công an). Điểm thi được công bố kết quả thi vào ngày 18/7/2023 và Tiền Giang có điểm thi tốt nghiệp THPT 2023 đứng thứ 13 so với cả nước với điểm trung bình đạt 6,72. Bên cạnh đó, hướng dẫn thí sinh đăng ký nguyện vọng tuyển sinh đại học, cao đẳng năm 2023 từ ngày 10/7 đến 30/7/2023.  Trong tháng, tổ chức xét tuyển và công bố điểm chuẩn tuyển sinh 10 năm học 2023-2024 vào ngày 04/7/2023. Công bố danh sách trúng tuyển lớp 10 năm học 2023-2024 vào ngày 10/7/2023.  5. Hoạt động văn hóa - thể thao:  Hoạt động bảo tàng: Bảo tàng Tiền Giang và các di tích đã đón 1.834 lượt khách.  Hoạt động văn hóa nghệ thuật: biểu diễn 13 buổi văn nghệ, tuyên truyền lưu động, chiếu phim phục vụ Nhân dân và các cuộc lễ. Tuyên truyền 15 pano phòng, chống mại dâm; 10 suất nhạc nước phục vụ Nhân dân tại quảng trường Hùng Vương.  Hoạt động thư viện: tổ chức 22 cuộc hoạt động hè với chủ đề “ Hè vui đọc sách năm 2023” với 777 học sinh tham gia; 777 lượt bạn đọc và 1.558 lượt sách, báo lưu hành. Trong tháng, Thư viện tỉnh đã phục vụ được 10.153 lượt bạn đọc, với 12.563 lượt sách báo được đưa ra lưu hành; hệ thống thư viện huyện, thư viện xã đã tiếp được 23.169 lượt bạn đọc, với 35.553 lượt sách báo lưu hành.  Hoạt động thể dục – thể thao trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì và đạt được nhiều thành tích nổi bật, trong đó: Tổ chức Vòng loại Bảng B Giải Bóng đá Hạng Nhì quốc gia năm 2023, từ ngày 24/5 – 05/8/2023 (đang tổ chức); Tổ chức Giải Quần vợt Ngành Y tế Đồng bằng Sông Cửu Long – Tranh Cúp Imexpharm lần thứ 14 năm 2023, từ ngày 17/6 – 18/6/2023; Tổ chức Lớp Cờ vua hè năm 2023 từ cơ bản đến nâng cao khối học sinh Tiểu học và Trung học cơ sở, từ ngày 15/6/2023; Tổ chức đón Đoàn đua xe đạp nữ toàn quốc mở rộng An Giang năm 2023, Cúp Lộc Trời vào ngày 07/7/2023; Đội Vovinam tham dự Giải VĐ Trẻ Vovinam toàn quốc lần thứ 20 năm 2023, từ ngày 06/6 – 19/6/2023 tại Quảng Ngãi. Kết quả đạt 03 Huy chương Bạc, 02 Huy chương Đồng; Đội Taekwondo tham dự Giải VĐ Taekwondo toàn quốc năm 2023, từ ngày 08/6 – 17/6/2023 tại Thanh Hóa. Kết quả đạt 01 Huy chương Vàng, 01 Huy chương Bạc; Đội Điền kinh tham dự Giải VĐ Điền kinh các nhóm tuổi trẻ quốc gia năm 2023, từ ngày 15/6 – 25/6/2023 tại Bến Tre. Kết quả đạt 01 Huy chương Vàng, 01 Huy chương Đồng; Đội Cầu lông tham dự Giải Cầu lông các nhóm tuổi thiếu niên quốc gia năm 2023, từ ngày 17/6 – 26/6/2023 tại Đà Nẵng. Kết quả đạt 02 Huy chương Đồng; Đội Võ Cổ truyền tham dự Giải VĐ Trẻ và Thiếu niên Võ Cổ truyền toàn quốc lần thứ 24 năm 2023, từ ngày 18/6 – 29/6/2023 tại Quảng Ngãi. Kết quả đạt 01 Huy chương Bạc, 01 Huy chương Đồng; Đội Bơi lội tham dự Giải Bơi VĐ Trẻ quốc gia năm 2023, từ ngày 01/7 – 09/7/2023 tại Đà Nẵng. Kết quả đạt 05 Huy chương Vàng, 05 Huy chương Bạc, 05 Huy chương Đồng; Đội Thể dục dưỡng sinh tham dự Giải VĐ Thể dục dưỡng sinh toàn quốc và Gala toàn quốc năm 2023, từ ngày 01/7 – 08/7/2023 tại Đà Nẵng. Kết quả đạt 03 Huy chương Bạc, 01 Huy chương Đồng; Đội Bóng bàn tham dự Giải VĐ Bóng bàn quốc gia Báo Nhân dân lần thứ 41 năm 2023, từ ngày 02/7 – 10/7/2023 tại Quảng Ninh; Đội Điền kinh tham dự Giải VĐ Điền kinh Tp Hồ Chí Minh mở rộng lần thứ 30 năm 2023, từ ngày 07/7 – 09/7/2023 tại Tp Hồ Chí Minh. Kết quả đạt 02 Huy chương Bạc.   6. Tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội (Theo báo cáo của ngành công an):  Trong tháng, tội về trật tự xã hội được đảm bảo. Ghi nhận 61 vụ giảm 19 vụ so với tháng 6 năm 2023, chết 03 người, bị thương 16 người, tài sản thiệt hại trên 1 tỷ đồng; điều tra khám phá 50 vụ (đạt 82%), bắt xử lý 102 đối tượng, thu hồi tài sản khoảng 238 triệu đồng. Tính đến tháng 7 năm 2023, tội phạm về trật tự xã hội ghi nhận 506 vụ, tăng 69 vụ so với cùng kỳ, điều tra khám phá 410 vụ (đạt 81%), bắt xử lý 746 đối tượng.  Tội phạm, vi phạm pháp luật về ma túy: Phát hiện, xử lý 19 vụ, 23 đối tượng phạm tội về ma túy, tang vật thu giữ 10,05g heroin, 63,98g ma túy tổng hợp, 03 khẩu súng, 60 triệu đồng,…; xử lý vi phạm hành chính 316 đối tượng có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.  7. Trật tự an toàn giao thông (Theo báo cáo của ngành công an):  Tai nạn giao thông đường bộ: trong tháng xảy ra 28 vụ, tăng 9 vụ so tháng trước và giảm 3 vụ so cùng kỳ; làm chết 12 người, giảm 5 người so tháng trước và giảm 14 người so cùng kỳ; bị thương 25 người, tăng 9 người so tháng trước và tăng 03 người so cùng kỳ. Nâng tổng số vụ từ đầu năm đến nay 138 vụ, làm chết 102 người và bị thương 71 người. Nguyên nhân tai nạn giao thông: không làm chủ tốc độ 02 vụ; uống rượu say 02 vụ; đi không đúng phần đường, làn đường 02 vụ; chuyển hướng không đúng quy định 02 vụ; vượt không đảm bảo an toàn 01 vụ; đang điều tra 10 vụ và nguyên nhân khác 8 vụ…  Tai nạn giao thông đường thủy: trong tháng xảy ra 02 vụ tai nạn, tăng 02 vụ so tháng trước và tăng 02 vụ so cùng kỳ, không có người chết và người bị thương. Từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh xảy ra 02 vụ tai nạn, không có người chết và người bị thương.  8. Tình hình cháy nổ, môi trường:  Tình hình cháy, nổ trong tháng ghi nhận 02 vụ là phương tiện giao thông, tài sản thiệt hại 07 tàu tải và 01 ô tô khách trị giá ước tính khoảng 08 tỷ đồng. Tính đến tháng 7 năm 2023, ghi nhận 08 vụ, giảm 02 vụ so cùng kỳ; tài sản sản thiệt hại khoảng 10,6 tỷ đồng.  Tình hình môi trường, trong tháng xảy ra 06 vụ vi phạm với tổng số tiền xử phạt khoảng 119,2 triệu đồng. Tính từ đầu năm đến nay, ghi nhận 11 vụ vi phạm, giảm 01 vụ với số tiền xử phạt khoảng 310,6 triệu đồng.  Tình hình thiên tai trong tháng, trên địa bàn xảy ra 01 cơn lốc xoáy ở huyện Cái Bè, làm 8 căn nhà bị tốc mái và ngã đổ 1.959 cây ăn trái, kinh phí thiệt hại trên 4,7 tỷ đồng. Tính từ đầu năm đến nay, ghi nhận 08 cơn lốc xoáy, 02 căn nhà sập, 243 căn nhà tốc mái, 16.584 cây ăn trái bị ngã đỗ, 35 điểm đê bị sạt lỡ, giá trị thiệt hại tài sản khoảng 78,1 tỷ đồng.

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Tiền Giang 6 tháng đầu năm 2023
  •   18/06/2024 10:03

Tình hình kinh tế - chính trị thế giới và khu vực 6 tháng đầu năm 2023 tiếp tục đối mặt với những khó khăn, thách thức, xung đột Nga - Ucraina và phản ứng của các nước lớn; thắt chặt chính sách tiền tệ của các nước ảnh hưởng đến sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu của Việt Nam nói chung và Tiền Giang nói riêng; nhu cầu tiêu dùng của thế giới tiếp tục suy giảm, doanh nghiệp thiếu đơn hàng để sản xuất… Nhưng với sự chỉ đạo tập trung của Tỉnh uỷ, sự điều hành quyết liệt của Ủy ban nhân dân tỉnh trong việc triển khai thực hiện đầy đủ, kịp thời và đồng bộ các chủ trương, chính sách, các giải pháp chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh ngay từ đầu năm, tình hình sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh Tiền Giang 6 tháng đầu năm 2023 có nhiều chuyển biến tích cực, các khu vực kinh tế đều tăng so cùng kỳ. Kết quả hoạt động của các ngành, lĩnh vực 6 tháng đầu năm 2023 như sau:  I. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊU KINH TẾ  1. Tăng trưởng kinh tế (GRDP):  Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) 6 tháng đầu năm 2023 ước đạt 31.379 tỷ đồng, (giá so sánh năm 2010) tăng 3,03% so với 6 tháng đầu năm 2022, quí I tăng 2,89%, quí II tăng 3,18% (cùng kỳ quý I tăng 3,39%, quý II tăng 5,5%); khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản tăng 0,97 %, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 3,26% và khu vực dịch vụ tăng 5,04 % (bao gồm thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm); Nếu tách riêng thuế sản phẩm thì khu vực dịch vụ tăng 6,04 % và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 0,04% so cùng kỳ. Trong 3,03% tăng trưởng thì khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản đóng góp 0,35%, khu vực công nghiệp và xây dựng đóng góp 0,96%, khu vực dịch vụ đóng góp 1,72%. GRDP nếu tính theo giá hiện hành đạt 59.277 tỷ đồng.  Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản: 6 tháng đầu năm 2023 tăng 0,97% so với 6 tháng đầu năm 2022; trong đó nông nghiệp tăng 0,63% ( cùng kỳ tăng 3,69%).  Trồng trọt có nhiều thuận lợi, công tác phòng chống hạn mặn được triển khai sớm, độ mặn thấp, ít ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp; Dịch covid-19 được kiểm soát, xuất khẩu thông thoáng trở lại nên giá bán các loại sản phẩm trồng trọt tăng so cùng kỳ nhất là sầu riêng, thanh long, mít ... Giá vật tư nông nghiệp vẫn ở mức cao, ảnh hưởng đến lợi nhuận của nông dân. Trà lúa Đông Xuân năm nay phát triển tốt, tuy nhiên có một số vùng nông dân trồng lúa đan sen với trồng cây ăn quả nên ảnh hưởng đến năng suất thu hoạch, năng suất bình quân vụ Đông xuân đạt 69,8 tạ/ha, giảm 2% so cùng kỳ; Diện tích gieo sạ giảm 989,6 ha so cùng kỳ do nông dân chuyển sang trồng các loại cây trồng khác, xây dựng nhà, các cơ sở hạ tầng nên sản lượng thu hoạch giảm 4,1% so cùng kỳ, tương tương giảm 14.420 tấn.  Giá bán các sản phẩm chăn nuôi bình quân 6 tháng đầu năm 2023 thấp, trong khi giá thức ăn tăng cao, người nuôi không có lãi, nên việc tái đàn trên địa bàn tỉnh còn chậm. Ước tính đến thời điểm 01/6/2023 tổng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh như sau: đàn bò 123,5 ngàn con, giảm 0,5% so cùng kỳ; đàn lợn 264 ngàn con, giảm 6,7% so cùng kỳ; đàn gia cầm 16,2 triệu con, giảm 4,1% so cùng kỳ.  Ngành thủy sản tăng 3,05% so cùng kỳ, tăng chủ yếu ở thủy sản nuôi trồng, ngư dân đã chuyển sang nuôi trồng các loại thủy sản có giá trị kinh tế cao, làm cho tốc độ tăng trưởng của ngành này tăng. Hoạt động khai thác thủy sản còn nhiều khó khăn do giá nhiên liệu tăng cao, biển động liên tục, gió nhiều, sóng lớn nên các đội tàu gặp khó khăn trong quá trình đánh bắt, sản lượng khai thác ít, số lượng tàu ra khơi đánh bắt ít hơn cùng kỳ, làm cho sản lượng thủy sản khai thác giảm, ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng chung của khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản.  Khu vực công nghiệp - xây dựng: tăng 3,26% so với 6 tháng đầu năm 2022; trong đó công nghiệp tăng 2,41% (cùng kỳ tăng 6,56%). Sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh còn nhiều khó khăn trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm do đơn hàng giảm từ quý IV/2022 cho đến nay, nhất là các ngành may mặc, giày da, túi xách, chế biến thủy sản ... do tác động của hậu dịch Covid-19, kinh tế thế giới suy giảm, cuộc chiến giữa Nga và Ucraina làm cho giá nhiên liệu tăng, lạm phát tăng cao. Mặt bằng lãi suất ngân hàng có giảm so với những tháng đầu năm nhưng vẫn cao hơn so cùng kỳ, tạo áp lực lớn cho các doanh nghiệp. Sản xuất công nghiệp còn nhiều khó khăn, nhưng do trong kỳ có một số doanh nghiệp mới đi vào hoạt động, trong đó có nhà máy điện gió Tân Phú Đông 1 đi vào hoạt động từ ngày 31/5/2023, nên công nghiệp của tỉnh vẫn tăng so cùng kỳ. Ngành xây dựng tăng 8,51%, là một trong những ngành có tốc độ tăng trưởng tốt nhất trong 6 tháng đầu năm 2023. Trên địa bàn tỉnh có nhiều công trình trọng điểm của địa phương và trung ương đang được triển khai thi công, cộng với sự tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt trong việc đẩy nhanh tiến độ đầu tư công đã góp phần làm cho hoạt động xây dựng trên địa bàn tỉnh tăng khá so cùng kỳ.  Khu vực dịch vụ: tăng 6,04% so cùng kỳ; hầu hết các ngành trong khu vực này đều tăng, các ngành dịch vụ đã trở lại trạng thái hoạt động bình sau dịch covid - 19, hoạt động thương mại và dịch vụ diễn ra khá sôi động và có mức tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước, một số ngành tăng khá như: bán buôn và bán lẽ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy tăng 7,44%; Hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 8,88%; Vận tải kho bãi tăng 10,12%; Hoạt động dịch vụ khác tăng 39,9% ... Riêng hoạt động y tế và hoạt động trợ giúp xã hội giảm 6,74% so cùng kỳ.  Cơ cấu kinh tế: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 38,2% (cùng kỳ 37,4%); khu vực công nghiệp, xây dựng chiếm 27,8% (cùng kỳ 28,6%); khu vực dịch vụ chiếm 28,5% (cùng kỳ 28,3%); thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 5,5% (cùng kỳ 5,7%).  2. Tài chính - Ngân hàng:  a. Tài chính:  Thu ngân sách nhà nước: 6 tháng đầu năm 2023 thu được 12.736 tỷ đồng; trong đó:thu ngân sách trên địa bàn thực hiện 4.923 tỷ đồng, đạt 47,9% dự toán và giảm 1,6% so cùng kỳ; thu nội địa 4.761 tỷ đồng, đạt 48,2% dự toán, giảm 2,2% so cùng kỳ (trong đó, thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 1.408 tỷ đồng, đạt 43,3% dự toán năm và bằng 92,9% so với cùng kỳ năm trước; thu từ khu vực công thương nghiệp - ngoài quốc doanh là 588 tỷ đồng, đạt 51,1% dự toán, tăng 6,1% so với cùng kỳ; thu từ hoạt động xổ số kiến thiết 1.006 tỷ đồng, đạt 55,9% dự toán, tăng 24,9% so cùng kỳ.  Chi ngân sách nhà nước: Tổng chi ngân sách 6 tháng đầu năm 2023 là 8.536 tỷ đồng, đạt 60,5% kế hoạch và tăng 25,9% so cùng kỳ; trong đó: chi đầu tư phát triển 3.055 tỷ đồng, đạt 57,7% dự toán, tăng 34,7%; chi hành chính sự nghiệp 3.569 tỷ đồng, đạt 46,2% dự toán và tăng 8,7% so cùng kỳ.  b. Ngân hàng:  Đến cuối tháng 5/2023, vốn huy động đạt 92.352 tỷ đồng, tăng 4.615 tỷ, tăng 5,3% so với cuối năm 2022. Tổng dư nợ toàn tỉnh đạt 89.129 tỷ đồng, tăng 3.108 tỷ, tăng 3,6% so với cuối năm 2022. Ước tính đến cuối tháng 6/2023 vốn huy động đạt 92.448 tỷ đồng, tăng 4.711 tỷ, tăng 5,4%; tổng dư nợ 89.376 tỷ đồng, tăng 3.355 tỷ đồng, tăng 3,9% so với cuối năm 2022.  Nợ xấu: cuối tháng 5/2023, số dư là 1.363 tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu 1,53%, tăng 0,84% so với cuối năm 2022. Ước đến cuối tháng 6/2023, nợ xấu là 1.389 tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu 1,55%, tăng 0,86% so với cuối năm 2022.  Quỹ tín dụng nhân dân: đến cuối 5/2023, tổng nguồn vốn huy động đạt 1.400 tỷ đồng, tăng 19 tỷ, tăng 1,4% và dư nợ cho vay đạt 1.042 tỷ đồng, tăng 3,3 tỷ, tăng 0,3% so với cuối năm 2022, trong đó vốn huy động tăng 1,54%, chiếm tỷ trọng 87% trong tổng nguồn vốn hoạt động; đáp ứng nhu cầu vốn cho 4.022 lượt thành viên vay vốn từ đầu năm đến nay. Nợ xấu: số dư 5,4 tỷ đồng, giảm 1,7 tỷ so với cuối năm 2022 tỷ lệ nợ xấu 0,5%, giảm 0,2%.  3. Giá cả, lạm phát:  Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6/2023 tăng 0,3% so tháng 5/2023 (thành thị tăng 0,28%, nông thôn tăng 0,3%); so cùng kỳ tăng 0,8%.  So với tháng 06/2023, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 07 nhóm tăng: hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,84% (trong đó: lương thực tăng 0,02%, thực phẩm tăng 1,33%, ăn uống ngoài gia đình tăng 0,07%); đồ uống và thuốc lá tăng 0,02%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,05%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%; giao thông tăng 0,34%; bưu chính viễn thông tăng 0,01% và nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,15%. Có 03 nhóm giảm: may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,36%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,08% và nhóm hàng hóa dịch vụ khác giảm 0,04%. Riêng nhóm Giáo dục chỉ số giá ổn định  Một số mặt hàng có chỉ số giá tăng so với tháng trước:  - Thịt lợn tăng 2,97%,Thịt bò tăng 0,22% do hiện nay không trùng vào thời điểm xuất chuồng, dẫn đến sản lượng thịt cung ứng ra thị trường giảm, tác động giá bán lẻ tại các chợ tăng nhẹ so với tháng trước.  - Rau tươi, khô và chế biến có chỉ số giá tăng 5% là do cuối vụ thu hoạch, nguồn rau xanh cung cấp ra các điểm chợ giảm, mặc khác trùng vào tháng có Tết Đoan Ngọ nên nhu cầu tiêu dùng rau xanh của người dân tăng, tác động đến giá bán lẻ tăng theo;  - Giá nước sinh hoạt tăng 0,35% do thời tiết nắng nóng kéo dài, nhu cầu sử dụng của người dân tăng lên ngoài ra giá nước tăng do giá điện điện tăng. Giá điện sinh hoạt tháng này tăng 4,08% là do thời tiết nắng nóng, nhu cầu sử dụng của người dân tăng và trong tháng này, một phần giá điện sinh hoạt được tính theo giá mới (thực hiện theo Quyết định 1062/QĐ-BCT ngày 04/5/2023 của Bộ Công thương về việc tăng giá bán lẻ điện sinh hoạt);  - Giá xăng dầu bình quân trong tháng tăng 0,47% góp phần làm CPI chung tăng 0,02 điểm phần trăm.  Bên cạnh đó, mặt hàng có chỉ số giá giảm:  - Giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở giảm 0,17% do giá thép giảm khi giá quặng sắt trên thị trường thế giới giảm.  - Giá gas ngày 01/6/2023 giảm 9,75%, tương ứng giảm 35.000 đồng/bình 12kg.  - Một số mặt hàng quần áo may sẵn giá giảm nhẹ do ảnh hưởng Covid-19 kinh tế khó khăn, người dân tiết kiệm chi tiêu, dẫn đến sức mua giảm.  Chỉ số giá tiêu dùng bình quân quý II/2023 so cùng kỳ tăng 1,18%; một số nhóm hàng có chỉ số tăng trong quý so cùng kỳ quý II/2022 như: hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,15%; đồ uống và thuốc lá 2,14%; May mặc, mũ nón, giầy dép 2,79%; giáo dục 7,81%;….  Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 6 tháng năm 2023 so cùng kỳ tăng 2,17%; một số nhóm hàng có giá tăng trong 6 tháng năm 2023 so cùng kỳ như: nhóm Giáo dục tăng 7,81%, trong đó dịch vụ giáo dục tăng 8,28%; nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 2,69%; nhóm may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 3,06%; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 2,59%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,09%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,04%; …  Chỉ số giá vàng 24 kara Ngọc Thẩm trong tháng 6/2023 giảm 0,86% so tháng trước, giá bình quân tháng 06/2023 là 5.656 ngàn đồng/chỉ, tăng 158 ngàn đồng/chỉ so cùng kỳ.  Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng 06/2023 tăng tăng 0,11% so tháng trước, giá bình quân 23.662 đồng/USD, tăng 319 đồng/USD so cùng kỳ.  4. Đầu tư và Xây dựng:  Ước 6 tháng đầu năm 2023, vốn đầu tư toàn xã hội ước thực hiện 18.515 tỷ đồng, đạt 40,4% kế hoạch, tăng 12,9% so cùng kỳ; trong đó: vốn đầu tư của dân cư và tư nhân 10.705 tỷ đồng, chiếm 57,8%, tăng 13,1%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 2.431 tỷ đồng, chiếm 13,1%, giảm 11,8%; vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước 5.379 tỷ đồng, chiếm 29,1%, tăng 28,5% so cùng kỳ.  Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý 6 tháng đầu năm 2023 ước là 2.630 tỷ đồng, đạt 49,9% kế hoạch, tăng 62,2% so cùng kỳ; gồm có: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 2.144 tỷ đồng, tăng 72,3%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện 340 tỷ đồng, tăng 15,9%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 146 tỷ đồng, tăng 74,2% so cùng kỳ.  5. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp:  Theo số liệu báo cáo của Sở Kế hoạch và Đầu tư, tổng số doanh nghiệp thành lập mới, ước thực hiện sáu tháng đầu năm 2023 là 415 doanh nghiệp, đạt 50% kế hoạch và giảm 18% so cùng kỳ, giảm hơn so cùng kỳ do năm 2022 số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới tăng đột biến sau khi dịch Covid-19 được kiểm soát; tổng vốn đăng ký 2.960 tỷ đồng, vốn đăng ký bình quân là 7 tỷ đồng/doanh nghiệp. Có 379 đơn vị trực thuộc đăng ký hoạt động (102 chi nhánh, 8 văn phòng đại diện, 269 địa điểm kinh doanh); Số doanh nghiệp quay lại thị trường 215 doanh nghiệp, tăng 7% so cùng kỳ. Ước thực hiện đến cuối tháng 6/2023, toàn tỉnh có khoảng 6.400 doanh nghiệp hoạt động  Tổng số hộ kinh doanh đăng ký thành lập mới là 2.950 hộ, giảm 26% so cùng kỳ. Ước thực hiện đến cuối tháng 6/2023, hộ kinh doanh trên địa bàn tỉnh có khoảng 70.500 hộ kinh doanh.  6. Sản xuất nông - lâm nghiệp và thủy sản:  a. Nông nghiệp:  Tình hình sản xuất nông nghiệp 6 tháng đầu năm 2023 được duy trì ổn định, hàng hóa nông sản đáp ứng nhu cầu của thị trường trong và ngoài tỉnh.  * Trồng trọt:  Cây lương thực có hạt: Sáu tháng đầu năm 2023, gieo trồng được 117.481 ha, đạt 89,5% kế hoạch, tăng 0,8% so cùng kỳ; sản lượng thu hoạch 481.887 tấn, đạt 60,5% kế hoạch, giảm 4,4% so cùng kỳ; trong đó: cây lúa gieo sạ 116.008 ha, tăng 1%; thu hoạch 71.080 ha, giảm 2,8% với sản lượng 477.237 tấn, giảm 4,4%.  - Cây lúa:  + Vụ Đông Xuân 2022 - 2023: chính thức xuống giống 48.202 ha, giảm 2% so cùng kỳ; thu hoạch 100% diện tích với sản lượng thu hoạch 336.317 tấn, giảm 4% do diện tích gieo trồng và năng suất bình quân giảm; năng suất thu hoạch bình quân đạt 69,8 tạ/ha, giảm 2% do diện tích gieo trồng giảm so cùng kỳ. Diện tích gieo trồng giảm do chuyển đổi đất trồng lúa sang: 110 ha đất phi nông nghiệp (xây dựng, cơ sở hạ tầng,..), 348,1 ha đất cây lâu năm, 539,3 ha đất trồng cây hàng năm khác và 2,5 ha đất nuôi trồng thủy sản. Diện tích giảm ở các huyện: thị xã Gò Công giảm 150 ha, thị xã Cai Lậy giảm 91,8 ha, Tân Phước giảm 108,8 ha, Cái Bè giảm 303 ha, Châu Thành giảm 15,7 ha, Chợ Gạo giảm 37,3 ha, Gò Công Tây giảm 213,3 ha, Gò Công Đông giảm 80 ha.  + Vụ Hè Thu (gồm Xuân Hè và Hè Thu): gieo sạ 67.806 ha, đạt 99,7% kế hoạch, tăng 3,2% so cùng kỳ. Diện tích thu hoạch chủ yếu là lúa Xuân hè với 22.878 ha (ở các huyện phía tây gồm: thị xã Cai Lậy 2.964 ha, Tân Phước 4.804 ha, Cái Bè 7.576 ha, Cai Lậy 6.275 ha và Châu Thành 1.259 ha) giảm 4,4% so cùng kỳ; năng suất bình quân 61,6 tạ/ha, giảm 1% so cùng kỳ với sản lượng đạt 140.920 tấn, giảm 5,3% so cùng kỳ do diện tích thu hoạch giảm.  - Cây ngô: Sáu tháng đầu năm 2023 gieo trồng 1.473 ha, giảm 12,7% so cùng kỳ do chuyển đổi sang trồng cây lâu năm; thu hoạch 1.292 ha, giảm 2,9% so cùng kỳ; năng suất bình quân đạt 36 tạ/ha, tương đương so cùng kỳ với sản lượng 4.650 tấn, giảm 2,9% so cùng kỳ do quá trình đô thị hóa và chuyển sang trồng cây lâu năm dẫn đến diện tích gieo trồng giảm.  Cây rau đậu các loại: Sáu tháng đầu năm 2023 gieo trồng được 35.880 ha, giảm 4,3% so cùng kỳ; thu hoạch 31.910 ha, giảm 9,6% với sản lượng 669.610 tấn, giảm 9,1% so cùng kỳ; trong đó: rau các loại gieo trồng 35.692 ha, giảm 4,3%, thu hoạch 31.753 ha, giảm 9,6% với sản lượng 669.134 tấn, giảm 9,1% so cùng kỳ. Nguyên nhân do một số diện tích đất màu ven khu công nghiệp chuyển sang loại hình kinh doanh nhà trọ, hàng quán và dịch vụ ăn uống, công trình công cộng…. làm cho diện tích gieo trồng rau màu giảm. Bên cạnh đó, tác động từ chuyển dịch lao động từ khu vực nông nghiệp sang ngành nghề khác làm cho nguồn lao động nông nghiệp không đảm bảo cho trồng màu, nên người dân lựa chọn trồng các loại cây ít tốn công chăm sóc như dừa, mít, sapo.  Cây lâu năm: Theo thời gian và do ảnh hưởng bởi tình hình nắng nóng và hạn mặn những năm trước, nhà vườn đã cải tạo, đốn bỏ những cây trồng kém hiệu quả để chuyển sang trồng những cây có hiệu quả kinh tế hơn như sầu riêng, mít, dừa,... đến nay đã được khôi phục, sản lượng thu hoạch cây lâu năm đã dần tăng trở lại. Tổng diện tích trồng cây lâu năm trong 6 tháng đầu năm 2023 đạt 106.654 ha, đạt 100,5% kế hoạch, tăng 2,1% so cùng kỳ; trong đó diện tích cây ăn quả là 83.756 ha, tăng 1,4%. Diện tích tăng tập trung chủ yếu ở các loại cây như: Dứa (khóm), sầu riêng, mít, ổi và cây dừa. Sản lượng thu hoạch 6 tháng đầu năm 2023 đạt 1.003.563 tấn, đạt 50,2% kế hoạch, tăng 3,2% so cùng kỳ; trong đó sản lượng cây ăn quả ước đạt 887.444 tấn, tăng 2,5% so cùng kỳ.  * Chăn nuôi: Ước thời điểm 01/6/2023 tổng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh như sau: đàn bò 123,5 ngàn con, giảm 0,5%; đàn lợn 264 ngàn con, giảm 6,7%; đàn gia cầm 16,2 triệu con, giảm 4,1%. So với cùng kỳ đàn gia súc, gia cầm của tỉnh đều giảm do giá thức ăn và con giống cao, làm áp lực lên người chăn nuôi dẫn đến nhiều hộ chọn phương án an toàn, tránh lỗ vốn như giảm đàn, ngừng chăn nuôi và chuyển sang chăn nuôi khác. Đặc biệt là chi phí thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y gây khó khăn không nhỏ trong việc sản xuất và kế hoạch của các cơ sở chăn nuôi.   * Tình hình dịch bệnh trên vật nuôi: Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Tiền Giang:  Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: Từ ngày 14/12/2022 đến nay, trên địa bàn tỉnh ghi nhận 07 hộ có lợn mắc bệnh với tổng số lợn bệnh là 179 trên tổng đàn 270 con tại 05 huyện (Cai Lậy; Tân Phước; Gò Công Tây; Gò Công Đông; Cái Bè). Số lợn được tiêu hủy dưới sự giám sát của chính quyền địa phương là 215 con với trọng lượng 7.300 kg.  Bệnh viêm da nổi cục: Từ ngày 14/12/2022 đến nay, ghi nhận bò bệnh tại 02 huyện với 04 con bò bệnh trên tổng đàn 12 con.  b. Lâm nghiệp:  Tổng diện tích đất có rừng trên địa bàn tỉnh là 1.765 ha (không bao gồm diện tích rừng thuộc đất an ninh quốc phòng), trong đó rừng phòng hộ 1.382 ha (huyện Gò Công Đông 430 ha; huyện Tân Phú Đông 897 ha và huyện Tân Phước 55 ha), rừng sản xuất 383 ha.  Cây phân tán: trong tháng thực hiện trồng mới được 128,8 ngàn cây phân tán, nâng tổng số cây trồng lên 146 ngàn cây, giảm 78,9% so cùng kỳ. Người dân trồng cây phân tán xung quanh bờ kênh, trên những tuyến đường đi ở huyện ở Cái Bè, Cai Lậy, Tân Phước, Thị xã Gò Công, Gò Công Đông, Tân Phú Đông. Các loại cây trồng chủ yếu là cây bạch đàn cao sản và tràm bông vàng.   Khai thác gỗ: ước tính 6 tháng đầu năm 2023, sản lượng khai thác gỗ được 16.325 m3, đạt 93,9% so cùng kỳ. Các loại gỗ được khai thác chủ yếu từ các loại cây như: Bạch đàn cao sản, dầu gió, tràm lanh. Nguyên nhân do chuyển đổi đất trồng cây khai thác sang trồng các loại cây ăn quả khác như cây khóm (dứa), mít, sầu riêng, dừa, chanh nên sản lượng gỗ khai thác giảm.   Khai thác củi: ước 6 tháng đầu năm 2023, toàn tỉnh khai thác được 72.374 ste củi các loại, đạt 97% so cùng kỳ. Sản lượng củi khai thác giảm do hộ dân ở các huyện Cái Bè, Cai Lậy, Tân Phước, Gò Công Đông chuyển đổi sang trồng cây ăn trái (ăn quả) như Sầu riêng, mít, chanh, dừa.  c. Thủy hải sản:  Diện tích nuôi trồng 6 tháng năm 2023 thả nuôi 13.100 ha, tăng 0,1% so cùng kỳ, trong đó diện tích nuôi tôm đạt 6.401 ha, tăng 0,1% so cùng kỳ; diện tích nuôi cá đạt 3.679 ha, tương đương so cùng kỳ; thủy sản khác đạt 3.020 ha, tương đương so cùng kỳ.  Tính chung 6 tháng, thu hoạch được 146.262 tấn, giảm 4,2% so cùng kỳ; trong đó: sản lượng thu hoạch từ nuôi 93.760 tấn, tăng 16,5% so cùng kỳ; sản lượng khai thác 52.502 tấn, giảm 27,4% so cùng kỳ.  7. Sản xuất công nghiệp:  Chỉ số sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm 2023 tăng 2,2% so cùng kỳ; trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,06%; ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 5,58%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 1,29%.  Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp cộng dồn từ đầu năm đến cuối tháng 6 năm 2023 tăng 2,94%, (trong đó doanh nghiệp nhà nước tăng 6,28%, doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 14,09%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 1,01%). Chia theo ngành công nghiệp cộng dồn từ đầu năm đến cuối tháng 6 năm 2023 tăng 2,94%, trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,88%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 0,86%; cung cấp nước, hoạt động quản lý rác thải, nước thải tăng 12,94%.  Sản phẩm sản xuất công nghiệp 6 tháng năm 2023: Có 20/41 sản phẩm tăng so cùng kỳ: Ống và ống dẫn bằng đồng tăng 27,2%;Thức ăn cho gia súc tăng 1,1 %; Bia đóng chai tăng 0,4%;… Có 21/41 sản phẩm giảm so cùng kỳ: Cáp đồng trục và dây dẫn điện đồng trục giảm 76,6%; Dây thép không gỉ giảm 35,8%; Túi xách giảm 29,1%; Phi lê đông lạnh giảm 20,5%; Bia đóng lon giảm 15,8%; Thức ăn cho thủy sản giảm 15,5%; …  * Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo:  - Chỉ số tiêu thụ cộng dồn 6 tháng đầu năm 2023 giảm 9,25%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm: sản xuất chế biến thực phẩm giảm 18,74%, trong đó sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thuỷ sản giảm 13,65%; sản xuất đồ uống giảm 5,6%, trong đó sản xuất bia giảm 5,6%; sản xuất trang phục giảm 64,02%; sản xuất da giảm 22,78%, trong đó sản xuất giày dép giảm 13,06%; sản xuất sản phẩm cao su và plastic giảm 10,34%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 63,4%; … Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng so cùng kỳ: dệt tăng 8,15%, trong đó sản xuất sợi tăng 24,21%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ tăng 49,97%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy bằng gấp 2,1 lần; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 65,36%; sản xuất kim loại tăng 24,37%;…  - Chỉ số tồn kho tháng 6/2023 so với tháng trước tăng 15,33% và so với cùng kỳ tăng 75,68%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so với cùng kỳ là: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 1,7 lần, trong đó sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thuỷ sản tăng 35,59%; dệt tăng 30,89%, trong đó sản xuất hàng may sẳn tăng 24,43%; sản xuất trang phục tăng 74,29%; sản xuất da tăng 58,3%, trong đó sản xuất giày dép tăng 53,21%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 29,23%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 1,1 lần; sản xuất kim loại tăng 43,65%; chế biến, chế tạo khác tăng 18,41%, trong đó sản xuất đồ chơi, trò chơi tăng 18,41%;... Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số giảm: sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẳn giảm 58,83%; sản xuất thiết bị điện giảm 85,24%, trong đó sản xuất mô tơ điện giảm 86,48%;…  8. Thương mại, dịch vụ:  a. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng:  Sáu tháng đầu năm 2023, tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng 40.269 tỷ đồng, đạt 49,1% kế hoạch, tăng 14,1% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 31.381 tỷ đồng, tăng 11,7%; lưu trú, ăn uống 3.422 tỷ đồng, tăng 34,2%; du lịch lữ hành 58 tỷ đồng, tăng 2,8 lần; dịch vụ tiêu dùng 5.408 tỷ đồng, tăng 17% so cùng kỳ. Nếu loại trừ yếu tố giá, tổng mức bán lẻ hàng hóa dịch vụ tiêu dùng 6 tháng đầu năm 2023 dự kiến tăng 11,4% so cùng kỳ.  b. Xuất - Nhập khẩu:  Kinh tế thế giới phục hồi chậm với chính sách thắt chặt tiền tệ ở nhiều quốc gia làm suy giảm nhu cầu tiêu dùng của các đối tác thương mại lớn, do đó đã ảnh hưởng đến kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam.   * Xuất khẩu:  Giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng hóa 6 tháng đầu năm 2023 ước 2.270 triệu USD, đạt 58,2% kế hoạch, tăng 10,9% so cùng kỳ; trong đó: kinh tế nhà nước 17,5 triệu USD, tăng gấp 3 lần; kinh tế ngoài nhà nước 321,6 triệu USD, giảm 13,3%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 1.931 triệu USD, tăng 15,4% so cùng kỳ.  - Thủy sản: ước 6 tháng 2023 xuất 51.141 tấn, giảm 10,1% so cùng kỳ; với giá trị xuất 135 triệu USD, đạt 33,8% kế hoạch, giảm 30,1% so cùng kỳ.  - Gạo: ước 6 tháng 2023 xuất 107.244 tấn, tăng 126,7% so cùng kỳ; với giá trị 64 triệu USD, đạt 128% kế hoạch, tăng 172,6% so cùng kỳ.  - Hàng dệt, may: ước 6 tháng 2023 xuất 29.919 ngàn sản phẩm, giảm 55,9% so cùng kỳ; trị giá xuất 382 triệu USD, đạt 61,6% kế hoạch, tăng 42,9% so cùng kỳ.  - Kim loại thường và sản phẩm (kể cả đồng): ước 6 tháng 2023 xuất 60.390 tấn, tăng 18% so cùng kỳ; trị giá xuất 588 triệu USD, tăng 5,9% so cùng kỳ.  * Nhập khẩu:  Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa 6 tháng đầu năm 2023 thực hiện 1.270 triệu USD, đạt 55,2 % kế hoạch, tăng 11,9% so cùng kỳ; trong đó: kinh tế ngoài nhà nước 52 triệu USD, giảm 23,6%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 1.218 triệu USD, tăng 14,2% so cùng kỳ. Nguyên liệu nhập khẩu chủ yếu các mặt hàng như kim loại thường khác 546 triệu USD, tăng 17,6%; sắt, thép các loại 218 triệu USD; nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày 135 triệu USD, giảm 26,8%; vải các loại 100 triệu USD, giảm 21%... so cùng kỳ.  c. Vận tải:  Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải 6 tháng đầu năm 2023 thực hiện 1.201 tỷ đồng, tăng 18,6% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 309 tỷ đồng, tăng 19,9% so cùng kỳ; vận tải hàng hóa thực hiện 769 tỷ đồng, tăng 18,2% so cùng kỳ. Vận tải đường bộ thực hiện 484 tỷ đồng, tăng 17,3%; vận tải đường thủy thực hiện 594 tỷ đồng, tăng 19,8%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 123 tỷ đồng, tăng 17,3% so cùng kỳ.  Vận chuyển hành khách 6 tháng đầu năm 2023 đạt 8.280 ngàn hành khách, tăng 13,2% và luân chuyển 182.826 ngàn hành khách.km, tăng 10,6% so cùng kỳ; trong đó: vận chuyển đường bộ 2.712 ngàn hành khách, tăng 10,9% và luân chuyển 176.895 ngàn hành khách.km, tăng 10,5% so cùng kỳ; vận chuyển đường thủy 5.568 ngàn hành khách, tăng 14,3% và luân chuyển 5.931 ngàn hành khách.km, tăng 16,2% so cùng kỳ.  Vận tải hàng hóa 6 tháng đầu năm 2023 đạt 7.351 ngàn tấn, tăng 14,5% và luân chuyển 1.427.970 ngàn tấn.km, tăng 23,5% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ thực hiện 1.119 ngàn tấn, tăng 10,3% và luân chuyển được 243.374 ngàn tấn.km, tăng 9,5% so cùng kỳ; vận tải đường thủy thực hiện 6.232 ngàn tấn, tăng 15,3% và luân chuyển 1.184.596 ngàn tấn.km, tăng 26,8% so cùng kỳ.  * Phương tiện giao thông: Tổng số xe đang quản lý trên địa bàn tỉnh 1.462.651 chiếc, trong đó mô tô xe máy: 1.412.686 chiếc, 48.803 xe ô tô, 153 xe ba bánh, 438 xe đạp điện và 571 xe khác.  d. Du lịch:  Ước tính 6 tháng đầu năm 2023, ước lượng khách du lịch đến tỉnh 569 ngàn lượt, đạt 45,5% kế hoạch, tăng 94,9% so cùng kỳ; trong đó khách quốc tế 52 ngàn lượt, tăng 5,1 lần. Doanh thu hoạt động lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành 3.480 tỷ đồng, tăng 37,7% so cùng kỳ; trong đó doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống chiếm 98,3%.  e. Bưu chính viễn thông:  Doanh thu bưu chính, viễn thông 6 tháng đầu năm 2023, đạt 1.955 tỷ đồng, tăng 3,9% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính 190 tỷ đồng, tăng 10,5%; doanh thu viễn thông 1.765 tỷ đồng, tăng 3,2%; do sự phát triển mạnh từ dịch vụ viễn thông và internet vì vậy nhu cầu tiện ích và tìm hiểu thông tin của người dân càng ngày được nâng lên.  Tổng số thuê bao điện thoại có trên mạng đến cuối tháng 6 năm 2023 là 125.020 thuê bao; thuê bao điện thoại bình quân đạt 7,03 thuê bao/100 dân (chỉ tính thuê bao cố định và di động trả sau).  Số thuê bao Internet phát triển 6 tháng đầu năm 2023 là 48.628 thuê bao. Tổng số thuê bao Internet trên mạng ước tính đến tháng 6 năm 2023 là 373.077 thuê bao; mật độ Internet bình quân ước đạt 20,97 thuê bao/100 dân.  II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI  1. Lao động, giải quyết việc làm:    Tư vấn và giới thiệu việc làm:  Công tác tư vấn, giới thiệu việc làm 6 tháng đầu năm 2023: thực hiện tư vấn nghề, việc làm, pháp luật lao động và tư vấn khác cho 13.094 lượt lao động, giảm 10,3% so cùng kỳ, đạt 65,5% kế hoạch năm; trong đó tư vấn nghề cho 681 lượt lao động; tư vấn việc làm cho 10.656 lượt lao động thất nghiệp; tư vấn pháp luật lao động và tư vấn khác cho 458 lượt lao động. Giới thiệu việc làm cho 1.205 lượt lao động, tăng 4,1% so cùng kỳ, trong đó có 411 lao động có được việc làm ổn định, tăng 16,4% so cùng kỳ.  Công tác đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài: có 226 người xuất cảnh đi làm việc ở nước ngoài đạt 75,3% kế hoạch năm, tăng 23,5% so cùng kỳ: Nhật Bản 195 người, Đài Loan 24 người, Hàn Quốc 02 người, Canada 02 người, Hoa Kỳ 01 người, Hungary 01 người, Hồng Kông - Trung Quốc 01 người.  Tình hình lao động thiếu việc làm và thất nghiệp:  Theo kết quả sơ bộ điều tra lao động việc làm quý II/2023, lao động thiếu việc làm chiếm tỷ lệ 6,8%, giảm 0,6 điểm phần trăm so quý trước và tăng 3,0 điểm phần trăm so cùng kỳ năm trước (từ 3,8% năm 2022 lên 6,8% năm 2023), đã làm cho tỷ lệ thiếu việc làm khu vực thành thị giảm 1,3 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,7 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước (từ 7,8% năm 2022 lên 8,5% năm 2023). Đối với khu vực nông thôn tỷ lệ thiếu việc làm giảm 0,3 điểm phân trăm so quý trước và tăng 3,8 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước (từ 2,3% năm 2022 lên 6,1% năm 2023). Tình trạng thiếu việc làm quý II năm 2023 chủ yếu ở khu vực nông thôn (chiếm 63,2% trong tổng số số lao động thiếu việc làm của tỉnh).  Tỷ lệ lao động thất nghiệp trong quý II năm 2023 là 1,6% giảm 0,2 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,6 điểm phần trăm so cùng kỳ năm trước (từ 1,0% năm 2022 lên 1,6% năm 2023). Nhưng khi xét về tỷ lệ thất nghiệp chia theo khu vực thì khu vực thành thị tăng 0,5 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 2,5 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước (từ 1,5% năm 2022 lên 4,0% năm 2023). Vì vậy, đã làm cho tỷ lệ thất nghiệp khu vực nông thôn giảm 0,5 điểm phần trăm so quý trước và giảm 0,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước (từ 0,7% năm 2022 xuống 0,6% năm 2023). Cũng chính vì vậy, đã làm cho tỷ trọng thất nghiệp ở khu vực thành thị chiếm 73,1% so với tổng số lao động thất nghiệp của toàn tỉnh và tỷ trọng số lao động thất nghiệp khu vực thành thị trong quý II năm 2023 tăng 26,4 điểm phần trăm so cùng kỳ năm 2022.  Trong 6 tháng đầu năm 2023, tỷ lệ lao động thiếu việc làm chiếm 7,1%, tăng 3,0 điểm phần trăm so cùng kỳ năm trước (từ 4,1% lên 7,1%), đã làm cho tỷ lệ thiếu việc làm khu vực thành thị tăng 1,2 điểm phần trăm (từ 8,0% lên 9,2%) và tỷ lệ thiếu việc làm khu vực nông thôn tăng 3,7 điểm phần trăm (từ 2,5% lên 6,2%).  Tỷ lệ thất nghiệp của tỉnh 6 tháng đầu năm 2023 tăng 0,4 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2022 ( từ 1,4% lên 1,8%) đã làm cho tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị tăng 0,8 điểm phần trăm (từ 2,9% lên 3,7%) và tỷ lệ thất nghiệp khu vực nông thôn tăng 0,1 điểm phần trăm (từ 0,8% năm 2022 lên 0,9% năm 2023). Cũng chính vì vậy đã làm cho tỷ trọng thất nghiệp ở khu vực thành thị chiếm 65,5% so với tổng số lao động thất nghiệp của toàn tỉnh.  Nhìn chung, tỷ lệ số lao động thiếu việc làm, tỷ lệ thất nghiệp chung của toàn tỉnh đều tăng so cùng kỳ năm 2022. Nguyên nhân chủ yếu là do trong các tháng đầu năm 2023 tình hình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, đơn hàng tiếp tục bị cắt giảm đã dẫn đến nhiều người lao động bị thiếu, mất việc làm, ảnh hưởng nghiêm trọng đến thu nhập và đời sống của người lao động.   Tình hình thôi việc, mất việc, nghỉ giãn việc:  Tình hình thôi việc, mất việc, từ ngày 01/4/2023 đến ngày 15/6/2023 là 2.427 người. Chia theo trình độ: lao động phổ thông là 1.575 người (chiếm 64,9%), lao động có tay nghề là 852 người (chiếm 35,1%). Chia theo ngành: dệt may là 964 người (chiếm 39,7%); da giày là 825 người (chiếm 34%); chế biến thủy sản là 165 người (chiếm 6,8%); ngành khác là 473 người (chiếm 19,5%)  Về nghỉ giãn việc của các doanh nghiệp tại địa phương từ ngày 01/4/2023 đến ngày 15/6/2023 là 11.887 người. Chia theo trình độ: lao động phổ thông là 9.306 người (chiếm 78,3%), lao động có tay nghề là 2.581 người (chiếm 21,7%). Chia theo ngành: dệt may là 551 người (chiếm 4,6%); da giày là 9.865 người (chiếm 83%); chế biến thủy sản là 414 người (chiếm 3,5%); ngành khác là 1.057 người (chiếm 8,9%).  Nguyên nhân dẫn đến tình trạng thôi việc, mất việc, nghỉ giãn việc do nhiều doanh nghiệp bị ảnh hưởng về đơn hàng từ giữa tháng 6/2022 đến nay. Để duy trì lao động, việc làm, doanh nghiệp đã lựa chọn nhiều giải pháp như: giảm số giờ làm trong ngày, bố trí cho người lao động nghỉ luân phiên các ngày trong tuần, giảm giờ tăng ca, tạm hoãn hợp đồng lao động, không tái ký hợp đồng, khuyến khích người lao động đăng ký nghỉ việc. Một số doanh nghiệp thực hiện phương án nghỉ việc theo nguyện vọng cá nhân, công ty sẽ chấp thuận và hỗ trợ thu nhập cho công nhân, bên cạnh tiền lương, phép năm còn lại (nếu có), trợ cấp thôi việc theo quy định, doanh nghiệp sẽ hỗ trợ thêm cho người lao động theo phương thức: nếu có thâm niên làm việc từ đủ 3 năm đến dưới 7 năm được hỗ trợ 1 tháng lương theo HĐLĐ của tháng nghỉ việc. Nếu có thâm niên làm việc từ 7 năm trở lên được hỗ trợ 2 tháng lương theo HĐLĐ của tháng nghỉ việc.  2. Đời sống dân cư và an sinh xã hội:  Chính sách đối với người có công trong 6 tháng đầu năm 2023 được đảm bảo. Tổ chức thăm, tặng quà, trợ cấp cho người có công, người cao tuổi, hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo, hộ có người mất liên quan dịch COVID-19 và các đơn vị tập trung trong dịp Tết Quý Mão năm 2023 cụ thể: Tặng quà của Chủ tịch nước cho người có công với cách mạng (Nguồn kinh phí Trung ương), số lượng 37.292 người với số tiền trên 11,3 tỷ đồng; nguồn kinh phí địa phương trên 27,5 tỷ đồng với số lượng 69.771 người; tổ chức 15 Đoàn Ban Thường vụ Tỉnh ủy thăm 80 hộ gia đình chính sách, 02 hộ gia đình quân nhân đang làm nhiệm vụ và 47 đơn vị tập trung với tổng số tiền là 558 triệu đồng.  Về tình hình thực hiện chế độ tiền lương năm 2022 và thưởng Tết năm 2023 đối với người lao động của các doanh nghiệp: theo số liệu báo cáo của 65 doanh nghiệp với 97.565 lao động đang làm việc (doanh nghiệp FDI là 85.044 lao động, chiếm tỷ 87%), tiền lương thực trả bình quân năm 2022 (bao gồm: mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác theo quy định pháp luật lao động) là 8,062 triệu đồng/người/tháng, tăng 19% so với năm 2021. Mức thưởng Tết Dương lịch năm 2023: theo báo cáo của 26 doanh nghiệp với 18.054 lao động, mức thưởng bình quân là 1,145 triệu đồng/người. Mức thưởng Tết Nguyên đán Quý Mão năm 2023: theo số liệu của 63 doanh nghiệp với 97.129 lao động, mức tiền thưởng bình quân khoảng 7,638 triệu đồng/người.  Về giải quyết tranh chấp lao động và đình công: từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh xảy ra 02 vụ ngừng việc tập thể tại 02 doanh nghiệp, khoảng 550 người lao động đình công trong số 2.130 người lao động. Trước tình hình đó, các sở, ngành, địa phương, doanh nghiệp đã tổ chức cuộc đối thoại với người lao động nên các vụ ngừng việc đã được giải quyết kịp thời và người lao động đã ổn định làm việc.  Về trợ cấp thất nghiệp: có 10.084 lao động đăng ký hưởng trợ cấp thất nghiệp, giảm 27,1% so cùng kỳ và có 9.741 lao động được quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp, giảm 23% so cùng kỳ với tổng số tiền chi trả trên 202 tỷ đồng, giảm 14,9% so cùng kỳ.  3. Hoạt động giáo dục:  Ngày 15-6, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Tiền Giang đã công bố điểm thi tuyển sinh lớp 10 năm 2023 cho 20.443 thí sinh ở 38 hội đồng thi. Điểm thi tuyển sinh lớp 10 tại Tiền Giang với môn Ngữ văn có 22 thí sinh đạt điểm 10; Môn Tiếng Anh có 589 thí sinh điểm 10; Môn Toán có 1.012 thí sinh điểm 10. Dự kiến khoảng giữa tháng 7-2023, tỉnh Tiền Giang sẽ công bố kết quả trúng tuyển vào lớp 10.  Tổ chức Kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp quốc gia THPT vào các ngày 24, 25/02/2023. Tổng số thí sinh đăng ký dự thi Kỳ thi học sinh giỏi quốc gia THPT là 54 thí sinh. Tiền Giang có 18 thí sinh đoạt giải, tăng 09 giải so với năm học 2021 - 2022, bao gồm: Toán (02 giải Ba, 01 giải Khuyến khích); Hóa học (01 giải Nhì, 01 giải Ba); Sinh học (01 giải Nhì, 02 giải Ba, 02 giải Khuyến khích); Ngữ văn (01 giải Khuyến khích); Lịch sử (03 giải Khuyến khích); Tiếng Anh (02 giải Ba, 02 giải Khuyến khích). Đứng hạng 4/13 các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long.  4. Hoạt động y tế:  Hoạt động y tế trên địa bàn tỉnh trong 6 tháng đầu năm 2023 được đảm bảo. Trong tháng 6, có 11/44 bệnh truyền nhiễm được ghi nhận. So với cùng kỳ cộng dồn có 12 bệnh tăng (Bệnh liên cầu lợn ở người, Lao phổi, Liệt mềm cấp nghi bại liệt, Quai bị, Sởi, Sốt xuất huyết Dengue, Tay-chân- miệng, Thủy đậu, Tiêu chảy, Uốn ván khác, Viêm gan vi rút B, Viêm gan vi rút C); 01 bệnh giảm (covid-19); 31 bệnh tương đương hoặc không xảy ra ca mắc.  Phòng chống bệnh Sốt xuất huyết trong 6 tháng ghi nhận 1.753 ca mắc, tăng 87,9% so cùng kỳ, không ghi nhận ca tử vong.  Phòng chống HIV/AIDS tính đến nay, toàn tỉnh có 6.611 người nhiễm HIV; 1.819 người chuyển sang AIDS; 1.306 người tử vong do AIDS.  Tổng số lần khám bệnh là 2.171.315 lượt người, tăng 33,8%; Tổng số lượt người điều trị nội trú là 93.849 lượt người, tăng 32,2%; Công suất sử dụng giường bệnh bình quân tháng 6 đạt 68,5%.  5. Hoạt động văn hóa - thể thao:  Sáu tháng đầu năm 2023, nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao được tổ chức thiết thực, hiệu quả, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần của nhân dân nhất là trong dịp lễ, tết. Toàn tỉnh hiện có 447.938/473.270 hộ đạt 3 tiêu chuẩn Gia đình văn hóa, đạt 94,6%; 1.005/1.005 ấp (khu phố) văn hóa, đạt tỷ lệ 100%; 166/172 xã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới/phường/thị trấn đạt chuẩn văn minh đô thị; 69 chợ văn hóa; 17 công viên văn hóa; 882 con đường văn hóa, 557 cơ sở thờ tự văn hóa.  Hoạt động bảo tàng: Bảo tàng tỉnh và các khu di tích quốc gia đã đón 89.480 lượt khách tham quan. Thực hiện trưng bày cố định các chuyên đề phục vụ khách tham quan: Lịch sử, văn hóa, xã hội Tiền Giang trước năm 1930; Lịch sử Tiền Giang từ khi có Đảng lãnh đạo; Lịch sử Khu 8; “Đảng Cộng sản Việt Nam 92 năm mốc son chói lọi”; “Đèn và đồ dùng sinh hoạt trong cuộc sống”; “Di sản Văn hóa Tiền Giang”; “Sưu tập Tiền Giấy” và trưng bày hiện vật ngoài trời như: hiện vật Óc Eo, hiện vật nông nghiệp. Trưng bày cố định các chuyên đề theo tiến trình lịch sử tại các di tích: Khảo cổ Gò Thành, Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Chiến thắng Ấp Bắc, Chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút và Đền thờ Trương Định - Gia Thuận, tổ chức các hoạt động phục vụ Lễ Giỗ Quốc Tổ Hùng Vương năm 2023.  Hoạt động văn hóa nghệ thuật: thực hiện 97 cuộc tuyên truyền lưu động, biểu diễn văn nghệ phục vụ Nhân dân và các cuộc lễ; 63 suất nhạc nước tại quảng trường Hùng Vương. Tổ chức công tác tuyên truyền các ngày lễ, sự kiện lớn theo kế hoạch năm 2023 với 120 băng ron, 70 pano, 850 cờ các loại, 76 ụ cờ, 8 lượt xe loa cổ động.  Hoạt động thư viện: trong 6 tháng đầu năm 2023, hệ thống thư viện đã phục vụ hơn 85 nghìn lượt bạn đọc với hơn 186 nghìn lượt sách báo lưu hành. Tiếp tục thực hiện Nghị quyết 20/2020/NQ-HĐND ngày 30 tháng 9 năm 2020 của Hội đồng nhân dân tỉnh Tiền Giang quy định mức thu phí thư viện trong phạm vi các thư viện công cộng trên địa bàn tỉnh Tiền Giang; Theo đó, mức thu phí thẻ mượn, thẻ đọc tài liệu đối với các thư viện công cộng do cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã quản lý là 0 đồng (không đồng)/thẻ/năm nhằm khuyến khích độc giả tham gia để phát triển văn hóa đọc.  Hoạt động thể dục thể thao:  Trong 6 tháng đầu năm 2023, tổ chức 17 giải thể thao với 04 giải quốc gia và 01 giải mở rộng. Đoàn thể thao Tiền Giang tham dự 34 giải với tổng số huy chương các môn đạt 78 huy chương: 16 HCV, 22 HCB, 40 HCĐ. Trong đó tham dự đại hội thể thao toàn quốc lần thứ IX năm 2022 tại Quảng Ninh với 13 môn, 113 người tham dự 86 nội dung thi đấu (kết quả đạt 05 HCV, 04 HCB, 16 HCĐ).  6. Tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội (theo báo cáo của ngành Công an):  Tình hình an ninh trật tự trên địa bàn tỉnh trong 6 tháng đầu năm 2023 được đảm bảo.  Tội phạm về trật tự xã hội xảy ra 445 vụ, làm chết 10 người, bị thương 84 người, tài sản thiệt hại khoảng 9,6 tỷ đồng; điều tra khám phá 360 vụ (đạt 81%); án rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng đạt 83%, bắt xử lý 644 đối tượng, thu hồi tài sản trị giá khoảng 2,1 tỷ đồng.  Tội phạm và vi phạm pháp luật về ma túy phát hiện, xử lý 103 vụ với 129 đối tượng tàng trữ, vận chuyển, mua bán, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trái phép chất ma túy và xử lý hành chính 627 đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy.  7. Trật tự an toàn giao thông (theo báo cáo của ngành Công an):  Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh ghi nhận 110 vụ giảm 90 vụ so cùng kỳ, làm chết 77 người giảm 66 người so với cùng kỳ và bị thương 65 người giảm 25 người so cùng kỳ. Các nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông chủ yếu do ý thức chấp hành Luật giao thông của người tham gia giao thông như: điều khiển xe khi có rượu bia, phóng nhanh vược ẩu, không làm chủ tốc độ; vượt đèn đỏ, thiếu quan sát…  Giao thông đường thủy: không xảy ra tai nạn giao thông.  Tai nạn giao thông trong Tết Nguyên đán Quý Mão năm 2023:  Trong dịp Tết Nguyên đán xảy ra 06 vụ, giảm 07 vụ so cùng kỳ; làm chết 05 người, giảm 05 người so cùng kỳ; 02 người bị thương, giảm 04 người so cùng kỳ.  Tai nạn giao thông trong 04 ngày nghỉ lễ 30/4 và 01/5/2022 (tính từ ngày 29/4/2023 đến ngày 03/5/2023): Tai nạn giao thông đường bộ xảy ra 08 vụ, giảm 01 vụ so cùng kỳ; làm 05 người chết, giảm 02 người so cùng kỳ và 04 người bị thương, tăng 02 người so cùng kỳ.  8. Tình hình cháy nổ, môi trường và thiên tai:  Cháy, nổ ghi nhận 06 vụ cháy, giảm 02 vụ so cùng kỳ; tài sản sản thiệt hại khoảng 2,6 tỷ đồng; nguyên nhân chủ yếu do sự cố về điện, người dân bất cẩn trong sử dụng lửa. Lĩnh vực môi trường từ đầu năm đến nay, ghi nhận 05 vụ vi phạm đã được xử lý với số tiền phạt khoảng 191,4 triệu đồng.  Tình hình thiên tai: Tính từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh ghi nhận 07 cơn lốc xoáy, 02 căn nhà bị sập, 235 căn nhà bị tốc mái, 14.625 cây bị ngã đổ, 35 điểm sạt lỡ với tổng giá trị thiệt hại khoảng 73,4 tỷ đồng.  III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 6 THÁNG CUỐI NĂM 2023  Để đảm bảo thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2023, trên cơ sở phát huy kết quả đã đạt được và khắc phục những hạn chế, những việc chưa thực hiện được trong 6 tháng đầu năm. Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh cần quyết liệt hơn nữa trong lãnh và chỉ đạo, các ngành, các cấp, địa phương chủ động đề ra các giải pháp, vượt qua khó khăn, thách thức, khai thác tốt những cơ hội để phục hồi, phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội. Một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm cần thực hiện như sau:  Chuẩn bị tốt các điều kiện sản xuất vụ Đông Xuân 2023 - 2024, chú trọng cơ cấu giống và đảm bảo lịch thời vụ phù hợp để tránh thiếu nước vào cuối vụ. Triển khai thực hiện đề án "Cắt vụ, chuyển đổi mùa vụ và cơ cấu cây trồng các huyện phía Đông tỉnh Tiền Giang đến năm 2025". Tăng cường ứng dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật trong sản xuất, chế biến; quản lý, sử dụng hiệu quả các nguồn lực kinh tế để đáp ứng yêu cầu giữ vững tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm, giảm nghèo, bảo vệ môi trường để phát triển kinh tế nhanh và bền vững.  Triển khai hiệu quả các giải pháp phù hợp kích cầu thương mại và dịch vụ, các chương trình xúc tiến, đẩy mạnh quảng bá thúc đẩy phát triển du lịch; các giải pháp để mở rộng, đa dạng hóa thị trường và sản phẩm xuất khẩu.  Thường xuyên rà soát kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, đẩy mạnh hoạt động sản xuất, kinh doanh. Cần có giải pháp hỗ trợ hiệu quả các doanh nghiệp thiếu vốn, giá nguyên liệu đầu vào tăng cao, khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm và một số ngành, lĩnh vực bị tác động bất lợi do nhu cầu của thị trường suy giảm như: da giày, dệt may, sản xuất và chế biến gỗ...  Đẩy nhanh tiến độ các công trình đang thi công, kịp thời nghiệm thu đưa vào sử dụng và thanh quyết toán các công trình hoàn thành. Các ngành địa phương có công trình xây dựng tập trung theo dõi, đôn đốc việc chuẩn bị hồ sơ, thường xuyên kiểm tra, giám sát đảm bảo tiến độ và chất lượng công trình; kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình lập hồ sơ và triển khai thi công; thực hiện tốt công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng xây dựng công trình, đảm bảo đúng trình tự, thủ tục theo quy định.  Tiếp tục triển khai thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp như: môi trường đầu tư, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tiếp tục rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính liên quan đến nhà đầu tư, doanh nghiệp, thúc đẩy khởi nghiệp, tổ chức Ngày hội khởi nghiệp tỉnh, xây dựng Đề án hỗ trợ khởi nghiệp của tỉnh; phát triển hộ kinh doanh hoạt động theo hình thức doanh nghiệp....  Tăng cường công tác an ninh trật tự, an toàn xã hội, an ninh quốc phòng.

Tổng sản phẩm trên địa bàn 6 tháng đầu năm 2023 Tiền Giang đạt 3,03%
  •   18/06/2024 10:06

Tình hình kinh tế - chính trị thế giới và khu vực 6 tháng đầu năm 2023 tiếp tục đối mặt với những khó khăn, thách thức, xung đột Nga - Ucraina và phản ứng của các nước lớn; chính sách thắt chặt tiền tệ của các nước ảnh hưởng rõ nét đến sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu của Việt Nam nói chung và Tiền Giang nói riêng; nhu cầu tiêu dùng của thế giới tiếp tục suy giảm; doanh nghiệp thiếu đơn hàng để sản xuất, nhiều doanh nghiệp phải cắt giảm lao động, giảm giờ làm, thu hẹp qui mô sản xuất...... Nhưng với sự chỉ đạo tập trung của Tỉnh uỷ, sự điều hành quyết liệt của Ủy ban nhân dân tỉnh trong việc triển khai thực hiện đầy đủ, kịp thời và đồng bộ các chủ trương, chính sách, các giải pháp chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh ngay từ đầu năm, tình hình sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh Tiền Giang 6 tháng đầu năm 2023 có nhiều chuyển biến tích cực, tăng trưởng quí sau cao hơn quí trước các khu vực kinh tế đều tăng so cùng kỳ.  Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) 6 tháng đầu năm 2023 ước đạt 31.379 tỷ đồng, (giá so sánh năm 2010) tăng 3,03% so với 6 tháng đầu năm 2022, quí I tăng 2,89%, quí II tăng 3,18%; khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản tăng 0,97 %, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 3,26% và khu vực dịch vụ tăng 5,04 % (bao gồm thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm); Nếu tách riêng thuế sản phẩm thì khu vực dịch vụ tăng 6,04 % và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 0,04% so cùng kỳ.  Trong 3,03% tăng trưởng thì khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản đóng góp 0,35%, khu vực công nghiệp và xây dựng đóng góp 0,96%, khu vực dịch vụ đóng góp 1,72% .Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản: 6 tháng đầu năm 2023 tăng 0,97% so với 6 tháng đầu năm 2022  Nông nghiệp tăng 0,63%; Trồng trọt có nhiều thuận lợi, công tác phòng chống hạn mặn được triển khai sớm, độ mặn năm nay thấp, không ảnh hưởng nhiều đến sản xuất nông nghiệp; Dịch covid-19 được kiểm soát, xuất khẩu thông thoáng trở lại nên giá bán các loại sản phẩm trồng trọt tăng so cùng kỳ nhất là sầu riêng, thanh long, mít ... Giá vật tư nông nghiệp vẫn ở mức cao, ảnh hưởng đến lợi nhuận của nông dân. Trà lúa Đông Xuân năm nay phát triển tốt, tuy nhiên có một số vùng nông dân trồng lúa đan sen với trồng cây ăn quả nên ảnh hưởng đến năng suất thu hoạch, năng suất bình quân vụ Đông xuân đạt 69,8 tạ/ha, giảm 0,2% so cùng kỳ; Diện tích gieo sạ giảm 989,6 ha so cùng kỳ do nông dân chuyển sang trồng các loại cây trồng khác, xây dựng nhà, các cơ sở hạ tầng nên sản lượng thu hoạch giảm 4,1% so cùng kỳ, tương tương giảm 14.420 tấn.  Trong lĩnh vực chăn nuôi: giá bán các sản phẩm chăn nuôi bình quân 6 tháng đầu năm 2023 thấp, trong khi giá thức ăn tăng cao, người nuôi không có lãi, nên việc tái đàn trên địa bàn tỉnh còn chậm. Ước tính đến thời điểm 01/6/2023 tổng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh như sau: đàn bò 123,5 ngàn con, giảm 0,5% so cùng kỳ; đàn lợn 264 ngàn con, giảm 6,7% so cùng kỳ; đàn gia cầm 16,2 triệu con, giảm 4,1% so cùng kỳ.  Ngành thủy sản tăng 3,05% so cùng kỳ, tăng chủ yếu ở thủy sản nuôi trồng, ngư dân đã chuyển sang nuôi trồng các loại thủy sản có giá trị kinh tế cao, làm cho tốc độ tăng trưởng của ngành này tăng. Hoạt động khai thác thủy sản còn nhiều khó khăn do giá nhiêu liệu tăng cao, biển động liên tục, gió nhiều, sóng lớn nên các đội tàu gặp khó khăn trong quá trình đánh bắt, sản lượng khai thác ít, số lượng tàu ra khơi đánh bắt ít hơn cùng kỳ, làm cho sản lượng thủy sản khai thác giảm, ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng chung của khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản.  Khu vực công nghiệp - xây dựng: tăng 3,26% so với 6 tháng đầu năm 2022; trong đó công nghiệp tăng 2,41%. Sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh còn nhiều khó khăn trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm do đơn hàng giảm từ quí IV/2022 cho đến nay, nhất là các ngành may mặc, giày da, túi xách, chế biến thủy sản ... do tác động của hậu dịch Covid – 19, kinh tế thế giới suy giảm, cuộc chiến giữa Nga và Ucraina làm cho giá nhiên liệu tăng, lạm phát tăng cao. Mặt bằng lãi suất ngân hàng có giảm so với những tháng đầu năm nhưng vẫn cao hơn so cùng kỳ, tạo áp lực lớn cho các doanh nghiệp. Sản xuất công nghiệp còn nhiều khó khăn, nhưng do trong kỳ có một số doanh nghiệp mới đi vào hoạt động, trong đó có nhà máy điện gió Tân Phú Đông 1 đi vào hoạt động từ ngày 31/5/2023, nên công nghiệp của tỉnh vẫn tăng so cùng kỳ. Ngành xây dựng tăng 8,51%, là một trong những ngành có tốc độ tăng trưởng tốt nhất trong 6 tháng đầu năm 2023. Trên địa bàn tỉnh có nhiều công trình trọng điểm của địa phương và trung ương đang được triển khai thi công, cộng với sự tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt trong việc đẩy nhanh tiến độ đầu tư công đã góp phần làm cho hoạt động xây dựng trên địa bàn tỉnh tăng khá so cùng kỳ.  Khu vực dịch vụ: tăng 6,04% so cùng kỳ; hầu hết các ngành trong khu vực này đều tăng, các ngành dịch vụ đã trở lại trạng thái hoạt động bình sau dịch covid – 19, hoạt động thương mại và dịch vụ diễn ra khá sôi động và có mức tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước, một số ngành tăng khá như: bán buôn và bán lẽ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy tăng 7,44%; Hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 8,88%; Vận tải kho bãi tăng 10,12%; Hoạt động dịch vụ khác tăng 39,9% ... Riêng hoạt động y tế và hoạt động trợ giúp xã hội giảm 6,74% so cùng kỳ.  Cơ cấu kinh tế: GRDP nếu tính theo giá hiện hành đạt 59.277 tỷ đồng. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 38,2% (cùng kỳ 37,4%); khu vực công nghiệp, xây dựng chiếm 27,8% (cùng kỳ 28,6%); khu vực dịch vụ chiếm 28,5% (cùng kỳ 28,3%); thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 5,5% (cùng kỳ 5,7%).                                          N.V.Tròn

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Tiền Giang tháng 5 năm 2023
  •   18/06/2024 10:09

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 tiếp tục đạt được nhiều kết quả khởi sắc trên các lĩnh vực, công tác an sinh xã hội được triển khai tích cực. Bên cạnh đó, vẫn còn không ít khó khăn, thách thức như: thời tiết diễn biến bất thường, giá một số mặt hàng thiết yếu, giá nguyên nhiên liệu đầu vào cho sản xuất tăng cao,… Với sự tập trung chỉ đạo quyết liệt của Tỉnh ủy, điều hành chủ động, linh hoạt của Ủy ban nhân dân tỉnh, các ngành, các cấp, kinh tế - xã hội tháng 5/2023 đạt được nhiều kết quả khả quan tích cực. Kết quả thực hiện trên các lĩnh vực như sau:  I. SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP VÀ THỦY SẢN  1. Nông nghiệp  Cây lương thực có hạt: trong tháng, gieo trồng 13.230 ha với sản lượng 18.994 tấn. Tính đến cuối tháng 5/2023, gieo trồng được 85.544 ha, đạt 65,1% kế hoạch, giảm 1,6% so cùng kỳ; sản lượng thu hoạch 359.111 tấn, giảm 2,4% so cùng kỳ; trong đó: cây lúa gieo sạ 84.180 ha, giảm 1,5% so cùng kỳ, thu hoạch 51.702 ha, tương đương so cùng kỳ, sản lượng 354.780 tấn, giảm 2,4% so cùng kỳ.  - Cây lúa:  + Vụ Đông Xuân 2022 - 2023: chính thức xuống giống 48.202 ha, giảm 2% so cùng kỳ; thu hoạch 100% diện tích với sản lượng thu hoạch 336.317 tấn, giảm 4%, năng suất thu hoạch bình quân đạt 69,8 tạ/ha, giảm 2% so cùng kỳ. Diện tích gieo trồng giảm do chuyển đổi đất trồng lúa sang 110 ha đất phi nông nghiệp (xây dựng, cơ sở hạ tầng,..); 348,1 ha đất cây lâu năm; 539,3 ha đất trồng cây hàng năm khác và 2,5 ha đất nuôi trồng thủy sản. Giảm ở các huyện: thị xã Gò Công giảm 150 ha, thị xã Cai Lậy giảm 91,8 ha, Tân Phước giảm 108,8 ha, Cái Bè giảm 303 ha, Châu Thành giảm 15,7 ha, Chợ Gạo 37,3 ha, Gò Công Tây giảm 213,3 ha, Gò Công Đông giảm 80 ha.  + Vụ Hè Thu: Diện tích gieo trồng đạt 35.978 ha, đạt 52,9% kế hoạch gieo trồng, chủ yếu gieo trồng ở các huyện phía Tây.Hình 1. Cây lương thực có hạt tính đến 15/5/2023  - Cây ngô: trong tháng gieo trồng 130 ha, thu hoạch 143 ha với sản lượng 531 tấn. Đến nay gieo trồng được 1.364 ha, đạt 56,4% kế hoạch, giảm 10,5% so cùng kỳ; thu hoạch 1.197 ha, giảm 2,7% so cùng kỳ; năng suất bình quân đạt 36,2 tạ/ha với sản lượng 4.331 tấn, đạt 49,7% kế hoạch, giảm 2,6% so cùng kỳ.  Cây rau đậu các loại: trong tháng, gieo trồng 2.335 ha, thu hoạch 2.521 ha với sản lượng 54.920 tấn. Đến nay, gieo trồng được 31.771 ha, đạt 54,9% kế hoạch, giảm 6,9% so cùng kỳ, thu hoạch 29.215 ha, giảm 5,1% với sản lượng 610.203 tấn, đạt 49,4% kế hoạch, giảm 4,7% so cùng kỳ (trong đó: rau các loại 31.599 ha, giảm 6,9%; thu hoạch 29.091 ha, giảm 5,1% với sản lượng 609.826 tấn, giảm 4,7%). Do một số diện tích đất sản xuất lúa, màu ven khu công nghiệp chuyển sang đất kinh doanh nhà trọ, hàng quán, dịch vụ ăn uống và công trình công cộng. Bên cạnh đó, thiếu nhân công do chuyển dịch lao động sang ngành nghề khác có thu nhập tốt hơn, nên nông dân đã linh hoạt chuyển đổi trồng cây ít công chăm sóc như dừa, mít, sapo…  Chăn nuôi: Ước thời điểm 01/05/2023 tổng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh như sau: đàn bò 123,8 ngàn con, giảm 0,4% so cùng kỳ; đàn lợn 275,6 ngàn con, giảm 1,6%; đàn gia cầm (không kể chim cút) 16,2 triệu con, giảm 4,2%. Nhìn chung, tình hình chăn nuôi trên địa bàn tỉnh có xu hướng giảm: đàn bò giảm nhẹ so cùng kỳ; đàn lợn giảm so cùng kỳ do chi phí chăn nuôi ở mức cao, sức tiêu thụ thịt lợn tại các nhà hàng, quán ăn, khu công nghiệp ở mức không cao dẫn đến việc giảm đàn và ngưng chăn nuôi ở một số hộ; đàn gia cầm giảm mạnh do chăn nuôi không hiệu quả ở một số gia trại, trang trại vì áp lực chi phí chăn nuôi.  * Tình hình dịch bệnh trên vật nuôi: Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Tiền Giang  Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: trong tháng, ghi nhận 01 trường hợp lợn mắc bệnh tại xã Mỹ Trung, huyện Cái Bè với số lợn bệnh 17 con trên tổng đàn 20 con. Tính từ ngày 14/12/2022 đến nay, trên địa bàn toàn tỉnh ghi nhận 07 hộ có lợn mắc bệnh với tổng số lợn bệnh là 179 trên tổng đàn 270 con tại 05 huyện (Cai Lậy; Tân Phước; Gò Công Tây; Gò Công Đông; Cái Bè). Số lợn được tiêu hủy dưới sự giám sát của chính quyền địa phương là 215 con, trọng lượng 7.300 kg. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh còn 01 xã/01huyện chưa qua 21 ngày (xã Mỹ Trung, huyện Cái Bè).  Bệnh viêm da nổi cục: tính từ ngày 14/12/2022 đến nay, ghi nhận bò bệnh viêm da nổi cục tại 02 huyện với 04 con bò bệnh trên tổng đàn 12 con.Hình 2. Chăn nuôi tại thời điểm 01/5/2023  2. Lâm nghiệp:  Tổng diện tích rừng hiện có trên địa bàn tỉnh Tiền Giang là 1.764,5 ha (không bao gồm diện tích rừng thuộc đất an ninh quốc phòng), cụ thể: 1.381,8 ha rừng phòng hộ và 382,7 ha rừng sản xuất.  Ước đến cuối 05/2023 toàn tỉnh thực hiện trồng mới được 15,2 ngàn cây, nâng tổng số cây trồng được 17,2 ngàn cây. Các loại cây được trồng trên các bờ kênh, trên những tuyến đường đê, đường nông thôn mới mở, ven đường, trụ sở cơ quan xã nông thôn mới nâng cao, kiểu mẫu ở huyện Cái Bè, Tân Phước, Chợ Gạo, Gò Công Tây.  3. Thủy hải sản:  Diện tích nuôi thủy sản trong tháng đạt 947 ha, tính chung 5 tháng đầu năm 2023 đạt 11.992 ha, đạt 81,3% kế hoạch, tăng 1,3% so cùng kỳ; trong đó: diện tích nuôi cá đạt 3.373 ha, tăng 3,8%, diện tích nuôi tôm đạt 5.599 ha, tăng 0,5%; diện tích nuôi thủy sản khác đạt 3.020 ha tương đương so với cùng kỳ.  Sản lượng thủy sản thu hoạch trong tháng đạt 20.144 tấn, tính chung 5 tháng đầu năm 2023 đạt 103.314 tấn, giảm 17,7% so cùng kỳ; trong đó: sản lượng thu hoạch từ nuôi 61.924 tấn, tăng 2,6%; sản lượng khai thác 41.390 tấn, giảm 36,5% so cùng kỳ. Do giá nhiên liệu tăng cao, chi phí nhân công tăng sau Tết Nguyên đán, thiếu nhân công khai thác, tình hình biển động, gió lớn nhiều tàu không ra khơi.  II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP  Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 5/2023 giảm 0,02% so với tháng trước, do một số ngành sản xuất công nghiệp chủ yếu của tỉnh như: Sản xuất chế biến thực phẩm; Dệt; Sản xuất da... giảm so với tháng trước (ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,1%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,43%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 1,2%) và giảm 2,81% so cùng kỳ do các ngành chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh sản xuất giảm như: Sản xuất chế biến thực phẩm giảm 17,5%; Sản xuất đồ uống giảm 3,9%; sản xuất trang phục giảm 3,1%; Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 4,8%... (ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 3,2%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 13,4% ; riêng ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 8,4%).  Chỉ số sản xuất công nghiệp 5 tháng năm 2023 tăng 2,1% so cùng kỳ; trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,1%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 5,4%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 3,2%.Hình 3. Chỉ số sản xuất công nghiệp    Chỉ số sản xuất sản phẩm trong 5 tháng so cùng kỳ như sau:   - Có 20/40 sản phẩm tăng so cùng kỳ: giấy vệ sinh tăng 96,6%; thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng bột/cốm tăng 80,8%; máy gặt đập liên hợp tăng 66,7%; giày, dép thể thao có mũ bằng da và có đế ngoài tăng 52,5%; Ống và ống dẫn bằng đồng tăng 33,6%; phân vi sinh tăng 21,7%; dịch vụ sửa chữa, bảo dưỡng tàu, thuyền tăng 21,1%; thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng viên tăng 9,3%; điện thương phẩm tăng 5,4%; Thức ăn cho gia súc tăng 1,5%;…  - Có 20/40 sản phẩm giảm so cùng kỳ: cáp đồng trục và dây dẫn điện đồng trục giảm 81,6%; thuốc diệt cỏ, thuốc chống nảy mầm và thuốc điều hòa sinh trưởng cây trồng giảm 49,2%; túi xách giảm 33,3%; phi lê đông lạnh giảm 29,1%; dịch vụ tiện các bộ phận kim loại giảm 24,9%; thức ăn cho thủy sản giảm 17,6%; bóng thể thao khác giảm 14,4%; bia đóng lon giảm 13,1%; màn bằng vải khác giảm 11,9%; cửa ra vào, cửa sổ bằng sắt, thép giảm 6,2%; Bia đóng chai giảm 3,5%; Nước uống được giảm 3,1%;…  * Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo:  - Chỉ số tiêu thụ tháng 5/2023 so với tháng trước giảm 8,93% và giảm 16,3% so cùng kỳ. Chỉ số tiêu thụ cộng dồn từ đầu năm đến cuối tháng 5/2023 giảm 9,34%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm so cùng kỳ: sản xuất chế biến thực phẩm giảm 23,68%, trong đó sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thuỷ sản giảm 20,13%; sản xuất đồ uống giảm 5,22%, trong đó sản xuất bia giảm 5,22%; sản xuất trang phục giảm 66,92%; sản xuất da giảm 22,59%, trong đó sản xuất giày dép giảm 12,54%; sản xuất sản phẩm cao su và plastic giảm 10,5%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 69,69%;… Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng so cùng kỳ là: dệt tăng 15,3%, trong đó sản xuất sợi tăng 21,32%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ tăng 78,61%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy bằng gấp 2,5 lần; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 53,17%; sản xuất kim loại tăng 31,93%;…  - Chỉ số tồn kho tháng 5/2023 tăng 20,06% so với tháng trước và tăng 80,34% so với cùng kỳ. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so với cùng kỳ là: sản xuất chế biến thực phẩm tăng gấp 1,6 lần, trong đó sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thuỷ sản tăng 75,17%; sản xuất đồ uống tăng gấp 2,2 lần, trong đó sản xuất bia tăng gấp 2,2 lần; sản xuất trang phục tăng 62,95%; sản xuất da tăng 60,84%, trong đó sản xuất giày dép tăng 71,04%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 55,22%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng gấp 1,4 lần; sản xuất kim loại tăng 76,26%;... Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tồn kho giảm so cùng kỳ là: dệt giảm 3,24%, trong đó sản xuất hàng may sẳn giảm 31,81%; sản xuất thiết bị điện giảm 92,18%, trong đó sản xuất mô tơ điện giảm 93,24%; chế biến, chế tạo khác giảm 18,19%, trong đó sản xuất đồ chơi, trò chơi giảm 18,19%;…  * Tình hình thu hút đầu tư và phát triển các khu - cụm công nghiệp:  - Khu công nghiệp: đến nay tỉnh đã được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương quy hoạch 7 khu công nghiệp với tổng diện tích 2.083,5 ha; trong đó có 4 khu công nghiệp đi vào hoạt động. Trong tháng, Ban Quản lý các khu công nghiệp điều chỉnh thông tin người đại diện cho 01 lượt dự án.  Đến cuối tháng 5/2023, tổng số dự án đầu tư tại các khu công nghiệp là 111 dự án (trong đó có 82 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài) với tổng vốn đầu tư là 2,4 tỷ USD và 4.865,9 tỷ đồng. Diện tích cho thuê của các doanh nghiệp đạt 525,5/753,2 ha, chiếm tỷ lệ 69,8% diện tích các khu công nghiệp.   - Cụm công nghiệp: trên địa bàn tỉnh có 27 cụm công nghiệp được quy hoạch; trong đó có 5 cụm công nghiệp (CCN) đã mời gọi được nhà đầu tư gồm: CCN Trung An, Tân Mỹ Chánh, An Thạnh, Song Thuận, Gia Thuận 1 đã hoàn thành đầu tư hạ tầng, đang hoạt động ổn định. Trong tháng không thu hút dự án đầu tư mới. Tổng số dự án đầu tư tại các cụm công nghiệp đến nay là 79 dự án (trong đó: có 6 dự án đầu tư nước ngoài) với tổng vốn đầu tư 150,3 triệu USD và 2.306,2 tỷ đồng, diện tích thuê đất là 88,7 ha, tỷ lệ lắp đầy đạt 73,6% diện tích đất cho thuê.  III. ĐẦU TƯ - XÂY DỰNG  Trong tháng tình hình thực hiện vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn nhà nước do địa phương quản lý tăng do phát huy nguồn vốn đầu tư công trong khôi phục và phát triển kinh tế. Ngay từ đầu năm Ủy ban Nhân dân tỉnh Tiền Giang chỉ đạo các sở, ban, ngành và địa phương sớm giao vốn cho chủ đầu tư, không đầu tư dàn trải, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công kịp thời,… tình hình đầu tư công của tỉnh có những chuyển biến tích cực. Tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý thực hiện trong tháng là 706 tỷ đồng, tăng 1,1 lần so cùng kỳ. Năm tháng đầu năm 2023 thực hiện 1.851 tỷ đồng, đạt 35,1% kế hoạch, tăng 47% so cùng kỳ.  Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh thực hiện 1.502 tỷ đồng, đạt 34,4% kế hoạch, tăng 54,5% so cùng kỳ, chiếm 81,2% tổng số; trong đó: vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 569 tỷ đồng, tăng 1,9 lần, vốn xổ số kiến thiết thực hiện 543 tỷ đồng, tăng 18,4% so cùng kỳ... Các ngành các cấp yêu cầu các ban quản lý chủ đầu tư tập trung với cường độ cao hơn trong tổ chức thực hiện, ưu tiên đẩy nhanh tiến độ đầu tư công, kể cả tiến độ giải ngân. Ngoài ra thời tiết thuận lợi, nguyên vật liệu trong xây dựng biến động không nhiều, nên khối lượng thực hiện tăng hơn so cùng kỳ, nhiều công trình đã hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng, các công trình còn lại thi công đúng theo tiến độ đề ra...  Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp huyện thực hiện 259 tỷ đồng, đạt 48,2% kế hoạch, tăng 13,8% so cùng kỳ, chiếm 14% tổng số; trong đó: vốn tỉnh hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 108 tỷ đồng, tăng 15,1% so cùng kỳ... Các ban quản lý dự án huyện hoàn thành hồ sơ, khẩn trương triển khai thi công các công trình xây dựng cơ bản năm 2023, dự án giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới nên khối lượng thực hiện tăng hơn so cùng kỳ.  Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp xã thực hiện 89 tỷ đồng, đạt 13,3% kế hoạch, tăng 49,6% so cùng kỳ, chiếm 4,8% tổng số; trong đó: vốn huyện hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 49 tỷ đồng, tăng 49,6% so cùng kỳ... Ngay từ đầu năm các địa phương có ghép vận động, huy động nguồn vốn đóng góp để tiến hành thi công các danh mục công trình đăng ký thuộc nguồn vốn phân cấp xã, phường. Đồng thời tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình xây dựng nông thôn mới năm 2023 nhằm phục vụ đi lại và vận chuyển hàng hóa của người dân đồng thời phục vụ ra mắt xã nông thôn mới và nông thôn mới nâng cao. Trong đó, ưu tiên bố trí các dự án khởi công mới thuộc lĩnh vực giao thông, phòng chống thiên tai, xử lý sạt lở, biến đổi khí hậu, giáo dục, y tế, …Hình 4. Cơ cấu vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý - 5 tháng đầu năm 2023   IV. THƯƠNG MẠI - GIÁ CẢ - DỊCH VỤ   1. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng:  Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trong tháng thực hiện 6.678 tỷ đồng, tương đương so tháng trước và tăng 15,1% so cùng kỳ. Năm tháng đầu năm 2023, tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thực hiện 32.785 tỷ đồng, đạt 40% kế hoạch, tăng 10,8% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 25.356 tỷ đồng, tăng 7,4%; lưu trú 124 tỷ đồng, tăng 1,2 lần; ăn uống 2.742 tỷ đồng, tăng 32,8%; du lịch lữ hành 44 tỷ đồng, tăng 3,1 lần; dịch vụ tiêu dùng khác 4.519 tỷ đồng, tăng 17,6% so cùng kỳ.Hình 5. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng  2. Xuất - Nhập khẩu:  a. Xuất khẩu:  Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng ước thực hiện 325 triệu USD, tăng 4,5% so tháng trước; trong đó: kinh tế ngoài nhà nước 68 triệu USD, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 257 triệu USD. Năm tháng ước xuất khẩu 1.564 triệu USD, đạt 40,1% kế hoạch, giảm 9,7% so cùng kỳ; trong đó: kinh tế nhà nước 15 triệu USD, tăng 318,4%; kinh tế ngoài nhà nước 267 triệu USD, giảm 15,1%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 1.282 triệu USD, giảm 9,3% so cùng kỳ.  b. Nhập khẩu:  Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa trong tháng 5/2023 đạt 197 triệu USD, tăng 9,9% so tháng trước. Năm tháng, kim ngạch nhập khẩu 943 triệu USD, đạt 41% kế hoạch, giảm 2,8% so cùng kỳ; trong đó: kinh tế ngoài nhà nước nhập 46 triệu USD, giảm 22,1%, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài nhập 896 triệu USD, giảm 1,5% so cùng kỳ. Nguyên liệu nhập khẩu 5 tháng chủ yếu các mặt hàng như: nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày 107 triệu USD, giảm 39,1%; vải các loại 92 triệu USD, giảm 13%; hàng hóa khác 141 triệu USD, giảm 9,9%... so cùng kỳ.  3. Chỉ số giá:  Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 5/2023 tăng 0,06% so tháng 4/2023 (thành thị tăng 0,03%, nông thôn tăng 0,07%); so cùng kỳ tăng 1%.  So với tháng 04/2023, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có 10 nhóm tăng như: hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,59% (trong đó: lương thực tăng 0,14%, thực phẩm tăng 0,7% và ăn uống ngoài gia đình tăng 0,55%); đồ uống và thuốc lá tăng 0,23%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,22%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,68%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,07%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,03%; bưu chính viễn thông tăng 0,02%; giáo dục tăng 0,06%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,28% và hàng hóa dịch vụ khác tăng 0,13%. Riêng chỉ số giá nhóm giao thông giảm 3,33%.  Một số mặt hàng có chỉ số giá tăng so với tháng trước như:  - Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,59%, trong đó nhóm hàng thực phẩm tăng 0,14% so với tháng trước; do tình hình xuất khẩu đang thuận lợi, giá gạo xuất khẩu tiếp tục ở mức cao giá gạo bán lẻ tại địa phương tăng; thực phẩm tăng 0,7% là do thời gian nghỉ lễ 30/4 và 01/5/2023 vừa qua kéo dài nhu cầu tiêu dùng tăng cao, dẫn đến giá tăng.  - Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,23%, do nhu cầu tiêu dùng tăng lên trong những ngày nghỉ lễ 30/4- 01/5 vừa qua, nên giá một số mặt hàng rượu, bia giá tăng nhẹ.  - Nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,68%, do giá vật liệu xây dựng tăng. Cụ thể: xi măng PC40 Hà Tiên tăng 1,39%, giá sắt phi 6 Miền Nam tăng 0,36%, sắt vằn phi 10 Miền Nam tăng 0,3%, giá cát đen xây dựng tăng 0,78%, giá cát đen san lấp nền tăng 1,37% và tấm tôn mát 3 lớp tăng 7,37%.... Thời tiết nắng nóng kéo dài, nhu cầu sử dụng điện làm mát của người dân tăng lên; mặc khác từ ngày 04/5/2023 Bộ Công Thương ban hành Quyết định số 1062/QĐ-BCT v/v điều chỉnh tăng giá điện sinh hoạt, tác động đến giá bán lẻ điện sinh hoạt bình quân trong tháng tăng 3,26%.  - Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,03%, do thời tiết giao mùa, các loại vi rút gây bệnh sinh sôi, số ca nhiễm Covid-19 tăng trở lại... Trong đó, giá nhóm thuốc trị tim mạch tăng 0,55%; nhóm thuốc tác dụng trên đường hô hấp tăng 0,66% và một số loại thuốc khác tăng 0,1%.  Bên cạnh đó, mặt hàng có chỉ số giá giảm:  Nhóm giao thông giảm 3,33% so tháng trước. Chỉ số giá nhóm hàng giao thông giảm chủ yếu ở mặt xăng, dầu. Cụ thể như: giá xăng dầu trong tháng điều chỉnh giảm ba lần (04/5;11/5; 22/5) làm cho CPI giảm 3,33%, trong đó: xăng A5-III giảm 7,86%, tương ứng giảm 2.140 đồng/lít; xăng sinh học E5 giảm 7,79%, giảm 2.200 đồng/lít; dầu Diezen 0,05S-II giảm 7,87%, giảm 1.440 đồng/lít.  Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 5 tháng năm 2023 so cùng kỳ tăng 2,45%; một số nhóm hàng có giá tăng nhiều trong 5 tháng năm 2023 so cùng kỳ như: nhóm Giáo dục tăng 7,81%, trong đó dịch vụ giáo dục tăng 8,28%; nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,01%; nhóm may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 3,18%; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 2,74%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,18%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,1%; …  Chỉ số giá vàng 24 kara Ngọc Thẩm trong tháng 5/2023 tăng 1,39% so tháng trước, giá bình quân tháng 05/2023 là 5.705 ngàn đồng/chỉ, tăng 81 ngàn đồng/chỉ so cùng kỳ. Giá vàng trong tháng tăng do nhu cầu tăng cao trên thị trường; ngoài ra nhu cầu đôla Mỹ (USD) suy yếu so với nhiều ngoại tệ khác và giá dầu thô biến động cùng những bất ổn chính trị tại một số quốc gia, khu vực trên thế giới.  Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng 05/2023 tăng giảm 0,03% so tháng trước, giá bình quân 23.636 đồng/USD, tăng 479 đồng/USD so cùng kỳ.  4. Du lịch:  Khách du lịch đến trong tháng 5/2023 được 113 ngàn lượt khách, tăng 1,1% so tháng trước và tăng 82,9% so cùng kỳ; trong đó: khách du lịch quốc tế 12 ngàn lượt khách, tăng 5,3 lần so cùng kỳ. Doanh thu lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ tiêu dùng khác trong tháng 5 đạt 1.469 tỷ đồng, giảm 4,7% so tháng trước và tăng 11,6% so cùng kỳ.Tính chung năm tháng đầu năm 2023, lượt khách du lịch đến Tiền Giang là 479 ngàn lượt khách, đạt 38,3% kế hoạch và tăng 1,2 lần so cùng kỳ; trong đó: khách quốc tế 38 ngàn lượt khách, đạt 15,4% kế hoạch, tăng 5,3 lần so cùng kỳ. Tổng doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, dịch vụ lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch, dịch vụ tiêu dùng khác đạt 7.429 tỷ đồng, tăng 24,4% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu dịch vụ ăn uống chiếm tỷ trọng 37,8%, ước đạt 2.742 tỷ đồng, tăng 32,8%, lưu trú đạt 124 tỷ đồng, tăng 1,2 lần so cùng kỳ...  5. Vận tải:  Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trong tháng thực hiện 223 tỷ đồng, tăng 0,9% so tháng trước và tăng 22,1% so cùng kỳ. Năm tháng thực hiện 996,9 tỷ đồng, tăng 21,5% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 254 tỷ đồng, tăng 20,4%; doanh thu vận tải hàng hóa thực hiện 639 tỷ đồng, tăng 21,8% so cùng kỳ. Doanh thu vận tải đường bộ thực hiện 399,7 tỷ đồng, tăng 21,6%; doanh thu vận tải đường thủy thực hiện 493 tỷ đồng, tăng 21,3%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 104 tỷ đồng, tăng 22,1% so cùng kỳ.  Vận tải hành khách trong tháng đạt 1.452 ngàn hành khách, tăng 1,9% so tháng trước và tăng 19,4% so cùng kỳ; luân chuyển 28.391 ngàn hành khách.km, tương đương so tháng trước và tăng 15% so cùng kỳ. Năm tháng, vận chuyển 6.946 ngàn hành khách, tăng 14,2% so cùng kỳ; luân chuyển 150.352 ngàn hành khách.km, tăng 12,3% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 2.236 ngàn hành khách, tăng 12,6% và luân chuyển 145.577 ngàn hành khách.km, tăng 12,3% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 4.710 ngàn hành khách, tăng 15,1% và luân chuyển 4.775 ngàn hành khách.km, giảm 13,8% so cùng kỳ.  Vận tải hàng hóa trong tháng đạt 1.454 ngàn tấn, tăng 0,8% so tháng trước và tăng 20,2% so cùng kỳ; luân chuyển 247.871 ngàn tấn.km, tăng 0,8% so tháng trước và tăng 18,5% so cùng kỳ. Năm tháng, vận tải 6.152 ngàn tấn hàng hóa, tăng 17,8% so cùng kỳ; luân chuyển 1.116.947 ngàn tấn.km, tăng 15,3% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 935 ngàn tấn, tăng 12,9% và luân chuyển 153.087 ngàn tấn.km, tăng 20,3% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 5.217 ngàn tấn, tăng 18,7% và luân chuyển 963.860 ngàn tấn.km, tăng 14,6% so cùng kỳ.  * Công tác quản lý phương tiện giao thông:         Trong tháng đăng ký mới 4.093 chiếc xe mô tô xe máy, 367 chiếc xe ô tô, 06 chiếc xe đạp điện và 02 chiếc xe khác. Tổng số xe đang quản lý trên địa bàn tỉnh 1.458.897 chiếc, trong đó: mô tô xe máy 1.409.324 chiếc, 48.417 chiếc xe ô tô, 153 chiếc xe ba bánh, 435 chiếc xe đạp điện và 568 chiếc xe khác.  6. Bưu chính viễn thông:  Doanh thu trong tháng 5/2023 đạt 333 tỷ đồng, tăng 0,9% so tháng trước và tăng 3,8% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính đạt 31 tỷ đồng, tăng 3,1% và viễn thông 302 tỷ đồng, tăng 0,7% so tháng trước. Năm tháng doanh thu dịch vụ bưu chính, viễn thông đạt 1.642 tỷ đồng, tăng 3,5% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính đạt 151 tỷ đồng, tăng 14,6% và viễn thông 1.491 tỷ đồng, tăng 2,5% so cùng kỳ.  Tổng số thuê bao điện thoại có trên mạng đến cuối tháng 5/2023 là 124.356 thuê bao, mật độ bình quân đạt 6,9 thuê bao/100 dân (chỉ tính thuê bao cố định và di động trả sau). Thuê bao internet có trên mạng cuối tháng 5/2023 là 371.535 thuê bao, mật độ internet bình quân đạt 20,9 thuê bao/100 dân. Số lượng điện thoại cố định có dây, không dây tiếp tục giảm, do thị trường phát triển thuê bao dần bảo hòa dẫn đến khách hàng dần chuyển sang sử dụng điện thoại di động, trong đó chủ yếu là điện thoại di động trả trước. Số thuê bao điện thoại di động có sử dụng internet (3G, 4G) đến cuối tháng 5 năm 2023 là 1.489.498 thuê bao.  V. TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG  1. Tài chính:  Tổng thu ngân sách nhà nước trong tháng thực hiện 1.182 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn 805 tỷ đồng, thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 240 tỷ đồng. Năm tháng, thu 10.776 tỷ đồng, đạt 71,8% dự toán; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn thực hiện 4.238 tỷ đồng, đạt 41,2% dự toán và tăng 1,2% so cùng kỳ; thu nội địa 4.139 tỷ đồng, đạt 41,9% dự toán, tăng 1,2% so cùng kỳ (trong thu ngân sách trên địa bàn: thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 1.206 tỷ đồng, đạt 37,1% dự toán, giảm 3,7% so cùng kỳ; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 544 tỷ đồng, đạt 47,3% dự toán, tăng 12,5% so cùng kỳ...).  Tổng chi ngân sách nhà nước trong tháng 1.305 tỷ đồng; trong đó: chi đầu tư phát triển 520 tỷ đồng. Năm tháng, chi 7.146 tỷ đồng, đạt 50,7% dự toán, tăng 49,6% so cùng kỳ; trong đó: chi đầu tư phát triển 2.647 tỷ đồng, đạt 49,9% dự toán, tăng 98,5% so cùng kỳ; chi hành chính sự nghiệp 3.018 tỷ đồng, đạt 35,9% dự toán và tăng 23,9% so cùng kỳ.  2. Ngân hàng:  Về phía ngành Ngân hàng tỉnh, trên cơ sở thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, chỉ đạo của Ngân hàng nhà nước Việt Nam , trong bối cảnh quốc tế có nhiều biến động phần nào cũng có tác động đến hoạt động ngành Ngân hàng cả nước nói chung và trên địa bàn tỉnh nói riêng. Các Tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn cùng với toàn ngành đang triển khai quyết liệt các giải pháp để hỗ trợ nền kinh tế phục hồi và phát triển. Một số kết quả đạt được của ngành Ngân hàng trên địa bàn tỉnh Tiền Giang trong tháng 5/2023 như sau:  Đến cuối tháng 4/2023, mặt bằng lãi suất ổn định tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế phát triển: Lãi suất huy động tối đa bằng Việt Nam đồng (VND) đối với tiền gửi có kỳ hạn dưới 6 tháng (0,2%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và kỳ hạn dưới 1 tháng; 4%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng áp dụng cho Ngân hàng thương mại (NHTM), 4,5%/năm áp dụng cho Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) và Tổ chức tài chín Việt Nam (TCTCVM). Lãi suất cho vay VND phổ biến ở mức trên 9-11%/năm đối với ngắn hạn; trên 11-13%/năm đối với trung dài hạn.  Đến cuối tháng 4/2023, vốn huy động đạt 91.151 tỷ đồng, tăng 3.345 tỷ, tỷ lệ tăng 3,89% so cuối năm 2022. Tổng dư nợ toàn tỉnh đạt 89.998 tỷ, tăng 3.977 tăng tỷ, tỷ lệ tăng 4,62% so với cuối năm 2022. Ước đến cuối tháng 5/2023, vốn huy động đạt 91.220 tỷ đồng, tăng 3.483 tỷ, tỷ lệ tăng 3,97%; tổng dư nợ đạt 90.253 tỷ, tăng 4.232 tỷ đồng, tăng trưởng tương đương 4,92% so với cuối năm 2022  Nợ xấu: cuối tháng 4/2023, số dư là 1.204 tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu 1,34%, tăng 0,65% so cuối năm 2022. Ước đến cuối tháng 5/2023, nợ xấu là 1.245 tỷ đồng, tỷ lệ 1,38%, tăng 0,69% so với cuối năm 2022. Nhìn chung, nợ xấu đang có chiều hướng tăng liên tục qua 4 tháng đầu năm, tăng cả về số dư và tỷ lệ, nguyên nhân phát sinh nợ xấu là do khách hàng hoạt động sản xuất kinh doanh kém hiệu quả.  Quỹ tín dụng nhân dân: đến cuối tháng 4/2023, tổng nguồn vốn hoạt động đạt 1.386 tỷ đồng, tăng 4,4 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 0,32% so tháng 12/2022, trong đó vốn huy động tăng 0,98%, chiếm tỷ trọng 87% trong tổng nguồn vốn hoạt động. Dư nợ cho vay đạt 1.030 tỷ đồng, giảm 8,7 tỷ, tỷ lệ giảm 0,83%; từ đầu năm đến nay đáp ứng nhu cầu vốn cho 3.244 lượt thành viên vay vốn. Nợ xấu: số dư 5,4 tỷ đồng, giảm 1,5 tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu 0,53%, giảm 0,15% so tháng 12/2022.  VI. KHOA HỌC CÔNG NGHỆ  Trong tháng, tập trung cho các nội dung công việc như: kiểm tra tiến độ thực hiện 02 nhiệm vụ KH&CN (01 cấp tỉnh, 01 cấp cơ sở); nghiệm thu giai đoạn 01 nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh; nghiệm thu kết thúc 04 nhiệm vụ KH&CN (02 cấp tỉnh, 02 cấp cơ sở).  Đến hết tháng 5/2023, thẩm định nội dung 05 nhiệm vụ KH&CN 04 cấp tỉnh, 01 nhiệm vụ cấp cơ sở; nghiệm thu kết thúc 10 nhiệm vụ KH&CN (06 cấp tỉnh, 04 cấp cơ sở; Quyết định triển khai 04 nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh; Quyết định công nhận 04 nhiệm vụ cấp tỉnh, 02 nhiệm vụ cấp cơ sở); Gia hạn 01 nhiệm vụ cấp tỉnh.  VII. CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI  1. Lao động việc làm:  Trong tháng, tư vấn nghề, việc làm, pháp luật lao động và tư vấn khác cho 3.058 lượt lao động, tăng 73,5% so cùng kỳ; trong đó tư vấn nghề cho 65 lượt lao động; tư vấn việc làm cho 2.623 lượt lao động thất nghiệp; tư vấn pháp luật lao động và tư vấn khác cho 121 lượt lao động.  Giới thiệu việc làm cho 223 lượt lao động, giảm 16,2% so cùng kỳ, trong đó 89 lao động có được việc làm ổn định, tăng 58,9% so cùng kỳ. Tính từ đầu năm, giới thiệu việc làm cho 628 lượt lao động, giảm 28,3% so cùng kỳ, trong đó có 333 lao động có việc làm ổn định, tăng 22% so cùng kỳ.  Tư vấn đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài cho 77 lượt lao động, tăng 26,2% so cùng kỳ; có 03 lao động đăng ký tham gia đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, tăng 03 lao động; có 50 lao động xuất cảnh đi làm việc ở nước ngoài (Nhật Bản 39 lao động, Đài Loan 06 lao động, Hàn Quốc 02 lao động, Hồng Kông - Trung Quốc 01 lao động, Canada 02 lao động), tăng 109,1% so cùng kỳ.  Tiếp nhận 3.137 lao động đăng ký hưởng trợ cấp thất nghiệp, tăng 70,7% so cùng kỳ; 2.700 lao động được hưởng trợ cấp thất nghiệp, tăng 50,7% so cùng kỳ, với số tiền chi trả 51,4 tỷ đồng, tăng 51,7% so cùng kỳ.  2. Chính sách xã hội:  Trong tháng, các chính sách cho người có công trên địa bàn tỉnh được duy trì và đảm bảo thực hiện. Lập Quyết định giải quyết chế độ mai táng phí và 03 tháng trợ cấp: 85 trường hợp; trợ cấp mai táng phí theo các Quyết định 290/2005/QĐ-TTg: 19 trường hợp, 62/2011/QĐ-TTg: 12 trường hợp, 49/2015/QĐ-TTg: 9 trường hợp; trợ cấp thờ cúng: 26 trường hợp; chuyển thờ cúng: 75 trường hợp; giải quyết trợ cấp 1 lần: 15 trường hợp. Lập Quyết định trợ cấp hàng thàng đối với 01 con liệt sĩ tàn tật; hưởng thêm chế độ thương binh, bệnh binh đối với 03 đối tượng. Cấp mới sổ dụng cụ chỉnh hình: 02 trường hợp; Cấp lại giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ và thương binh, bệnh binh: 61 trường hợp.  3. Hoạt động y tế:  Trong tháng 5/2023, có 08/44 bệnh truyền nhiễm được ghi nhận. Tính chung 5 tháng, có 10 bệnh tăng so cùng kỳ (Lao phổi, Quai bị, Sởi, Sốt xuất huyết Dengue, Tay – chân – miệng, Thủy đậu, Tiêu chảy, Uống ván khác, Viêm gan virut B, Viêm gan vi rut C); 2 bệnh giảm so cùng kỳ (Viêm não vi rút khác, Covid- 19); 32 bệnh tương đương hoặc không xảy ra ca mắc. Phòng chống bệnh Sốt xuất huyết: ghi nhận 202 ca, cộng dồn 1.599 ca, tăng 3,3 lần so với cùng kỳ. Phòng chống HIV/AIDS: toàn tỉnh hiện có 6.579 người nhiễm HIV; 1.819 người chuyển sang AIDS; 1.298 người tử vong do AIDS.  Hoạt động khám chữa bệnh: tổng số lần khám bệnh 366.313 lượt người, tăng 41,5% so cùng kỳ; tổng số người điều trị nội trú 16.439 lượt người, tăng 47,1%; công suất sử dụng giường bệnh bình quân trong tháng đạt 73,05%.  COVID-19: từ đầu năm đến nay, ghi nhận 784 ca nhiễm. Thống kê số liệu tiêm vắc xin trên các nhóm đối tượng (không bao gồm các trường hợp tiêm tại các điểm tiêm ngoài tỉnh):  - Từ 18 tuổi trở lên: 4.368.157 liều, Mũi 1: 100,2%; Mũi 2: 97,8%; Mũi 3: 80,1%; Mũi 4: 94,0%.  - Từ 12 đến dưới 18 tuổi: 445.398 liều, Mũi 1: 111,8%; Mũi 2: 109,3%; Mũi 3: 83,1%.  - Từ 5 đến dưới 12 tuổi: 317.615 liều, Mũi 1: 101,9%; Mũi 2: 94,2%.  4. Hoạt động giáo dục:  Trong tháng, tình hình dạy và học trên địa bàn tỉnh được đảm bảo. Để chủ động ứng phó, phòng chống dịch Covid-19, thời gian tổ chức kiểm tra đánh giá cuối kỳ II năm học 2022 – 2023 khối lớp 9 và lớp 12 từ 24/4/2023 đến 06/5/2023; các khối còn lại (6, 7, 8, 9, 10 và 11) có thể tổ chức kiểm tra cuối học kỳ II năm học 2022 – 2023 sớm hơn thời gian quy định tại Công văn số 449/SGDĐT- GDTrH-GDTX. Bên cạnh đó, tổ chức thi thử tốt nghiệp THPT năm 2023 vào các ngày 22, 23/5/2023; Thành lập Hội đồng ra đề thi và in sao đề thi tuyển sinh THPT năm học 2023-2024 (bắt đầu làm việc từ ngày 28/5/2023); Thành lập Ban Vận chuyển và bàn giao đề thi, nhận bài thi, hồ sơ thi tại các Hội đồng coi thi tuyển sinh lớp 10 Trung học phổ thông năm học 2023-2024.  5. Hoạt động văn hóa - thể thao:  Hoạt động bảo tàng: trong tháng, Bảo tàng tỉnh và các di tích đã đón hơn 3,9 nghìn lượt khách.  Hoạt động văn hóa nghệ thuật: thực hiện 17 buổi biểu diễn văn nghệ, tuyên truyền lưu động, chiếu phim phục vụ Nhân dân. Thực hiện tuyên truyền 35 pano, 40 băng ron, 390 cờ các loại, 20 giá đỡ trụ cờ chào mừng các ngày lễ. Tổ chức chương trình giao lưu nghệ thuật cải lương các tỉnh miền Tây Nam Bộ lần thứ I năm 2023 tại Rạp hát Thầy Năm Tú với các đơn vị: Đoàn nghệ thuật cải lương Long An; Nhà hát Tây Đô; Nhà hát Trần Hữu Trang và Đoàn cải lương Bến Tre kỷ niệm 105 năm ra đời vở cải luơng "Kim Vân Kiều" tại Rạp hát Thầy Năm Tú.   Hoạt động thư viện: trong tháng, Thư viện tỉnh phục vụ 23,7 nghìn lượt bạn đọc với 42,6 nghìn lượt sách báo được lưu hành; hệ thống thư viện huyện, thư viện xã ghi nhận 27,3 nghìn lượt bạn đọc với 53,8 nghìn lượt sách báo lưu hành.  Hoạt động thể dục – thể thao trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì và đạt được nhiều thành tích nổi bật, trong đó:  - Đội Bóng đá U19 tham dự Vòng loại Bảng E - Giải Bóng đá vô địch (VĐ) U19 quốc gia năm 2023, từ ngày 26/3 - 17/4/2023 với kết quả đạt 09 điểm (02 trận thắng, 03 trận hòa, 03 trận thua), xếp hạng 4/5 đội.  - Đội Vovinam tham dự Giải VĐ các đội mạnh Vovinam toàn quốc năm 2023, từ ngày 06/4 – 16/4/2023 tại Bình Dương với kết quả đạt 02 Huy chương Bạc, 01 Huy chương Đồng.  - Đội Boxing tham dự Giải VĐ Boxing các đội mạnh toàn quốc năm 2023, từ ngày 15/4 – 27/4/2023 tại Đắk Lắk với kết quả đạt 02 Huy chương Bạc, 03 Huy chương Đồng.  - Đội Rowing tham dự Giải Đua thuyền Rowing VĐ các Câu lạc bộ toàn quốc, từ ngày 17/4 – 28/4/2023 tại Đà Nẵng với kết quả đạt 02 Huy chương Đồng.  - Cử VĐV tham dự Giải Tiền Sea Games 32 môn Arnis tại Campuchia, từ ngày 18/4 – 23/4/2023 với kết quả đạt 02 Huy chương Vàng.  - Vận động viên Văn Công Quốc đạt Huy chương bạc hạng cân 60kg Nam môn Arnis tại Seagames 32.  6. Tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội (Theo báo cáo của ngành công an):  Tình hình an ninh trật tự xã hội trong tháng được đảm bảo. Cơ quan chức năng tập trung thực hiện cao điểm tấn công, trấn áp tội phạm, vi phạm pháp luật bảo đảm an ninh trật tự dịp Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương, Lễ 30/4 và 01/5 năm 2023. Trong tháng, tội phạm về trật tự xã hội ghi nhận 85 vụ, tăng 12 vụ so với tháng trước, chết 02 người, bị thương 18 người, tài sản thiệt hại khoảng 1,1 tỷ đồng; điều tra khám phá 67 vụ (đạt 78,8%), bắt xử lý 98 đối tượng, thu hồi tài sản khoảng 433 triệu đồng. Tính đến tháng 5/2023, tội phạm về trật tự xã hội ghi nhận 365, tăng 54 vụ, tương đương tăng 17,4% so với cùng kỳ, điều tra khám phá 292 vụ (đạt 80%), bắt xử lý 529 đối tượng.  Tình hình đấu tranh, xử lý tội phạm, vi phạm pháp luật về kinh tế, ma túy: Phát hiện, xử lý 19 vụ, 26 đối tượng phạm tội về ma túy và xử lý vi phạm hành chính 113 đối tượng có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; 01 vụ, 01 đối tượng phạm tội trên lĩnh vực tham nhũng; 12 vụ, 15 đối tượng vi phạm pháp luật về kinh tế.  7. Trật tự an toàn giao thông (Theo báo cáo của ngành công an):  Tai nạn giao thông đường bộ: tai nạn giao thông trong tháng xảy ra 20 vụ, giảm 02 vụ so tháng trước và giảm 14 vụ so cùng kỳ; làm chết 12 người, giảm 5 người so tháng trước và giảm 14 người so cùng kỳ; bị thương 15 người, tăng 2 người so tháng trước và tương đương người so cùng kỳ. Nâng tổng số vụ từ đầu năm đến nay 91 vụ, làm chết 61 người và bị thương 58 người. Ước thiệt hại tài sản trị giá khoảng 1,3 tỷ đồng.  Tai nạn giao thông đường thủy: không xảy ra vụ tai nạn.  * Tai nạn giao thông trong 04 ngày nghỉ lễ 30/4 và 01/5/2022 (tính từ ngày 29/4/2023 đến ngày 03/5/2023): Tai nạn giao thông đường bộ xảy ra 08 vụ, làm 05 người chết và 04 người bị thương. So cùng kỳ: giảm 01 vụ tai nạn, giảm 02 người chết và tăng 02 người bị thương.  8. Tình hình cháy nổ, môi trường:  Cháy, nổ trong tháng ghi nhận 02 vụ (phương tiện giao thông, dịch vụ kinh doanh ăn uống), tài sản thiệt hại khoảng 1,3 tỷ đồng, nguyên nhân do sự cố điện. Tính đến tháng 5/2023, ghi nhận 06 vụ cháy, tài sản sản thiệt hại khoảng 2,6 tỷ đồng.   Lĩnh vực môi trường: trong tháng, không ghi nhận vi phạm về môi trường trên địa bàn. Từ đầu năm đến nay, ghi nhận 05 vụ vi phạm với số tiền phạt 191,4 triệu đồng.  Tình hình thiên tai: trong tháng, trên địa bàn tỉnh xảy ra 04 cơn lốc xoáy ở các huyện là Châu Thành, Tân Phước, Cái Bè và Gò Công Tây, đã làm sập 02 căn nhà, làm tốc mái 146 căn nhà, làm ngã đổ khoảng 6.625 cây ăn. Ước tổng kinh phí thiệt hại là 8.240 triệu đồng.

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Tiền Giang Tháng 4 năm 2023
  •   18/06/2024 10:24

Trong tháng tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh tiếp tục phát triển. Sản xuất nông nghiệp, công nghiệp tăng trưởng khá; các lĩnh vực văn hoá - xã hội có nhiều chuyển biến tích cực. Bên cạnh đó, vẫn còn không ít khó khăn, thách thức như: thời tiết diễn biến bất thường, tình hình giá một số mặt hàng thiết yếu, giá nguyên nhiên liệu đầu vào cho sản xuất tăng cao,… Với sự tập trung chỉ đạo quyết liệt của Tỉnh Ủy, điều hành chủ động, linh hoạt của Ủy ban nhân dân tỉnh, các ngành, các cấp, kinh tế - xã hội tháng 4/2023 đã đạt được nhiều kết quả khả quan tích cực. Kết quả thực hiện trên các lĩnh vực như sau:  I. SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP VÀ THỦY SẢN  1. Nông nghiệp  Cây lương thực có hạt: trong tháng, gieo trồng 22.870 ha, sản lượng thu hoạch 410 tấn. Ước tính 4 tháng đầu năm 2023 gieo trồng 72.191 ha, đạt 55% kế hoạch, giảm 3,1% so cùng kỳ; thu hoạch 339.846 tấn, đạt 42,7% kế hoạch, giảm 4,1% so cùng kỳ; trong đó cây lúa gieo sạ 70.957 ha, thu hoạch 48.202 ha; sản lượng thu hoạch 336.317 tấn.  - Cây lúa:  + Vụ Đông Xuân 2022 - 2023: chính thức xuống giống 48.202 ha, giảm 2% so cùng kỳ; thu hoạch 100% diện tích, sản lượng thu hoạch 336.317 tấn, giảm 4%, năng suất thu hoạch bình quân đạt 69,8 tạ/ha, giảm 2% so cùng kỳ. Diện tích gieo trồng giảm do chuyển đổi đất trồng lúa sang 110 ha đất phi nông nghiệp (xây dựng, cơ sở hạ tầng,..); 348,1 ha đất cây lâu năm; 539,3 ha đất trồng cây hàng năm khác và 2,5 ha đất nuôi trồng thủy sản. Giảm ở các huyện: thị xã Gò Công giảm 150 ha, thị xã Cai Lậy giảm 91,8 ha, Tân Phước giảm 108,8 ha, Cái Bè giảm 303 ha, Châu Thành giảm 15,7 ha, Chợ Gạo 37,3 ha, Gò Công Tây giảm 213,3 ha, Gò Công Đông giảm 80 ha.  + Vụ Hè Thu (gồm Xuân Hè và Hè Thu): gieo sạ 22.755 ha, đạt 33,5% kế hoạch chủ yếu ở các huyện phía tây như: thị xã Cai Lậy, huyện Cái Bè, huyện Cai Lậy, huyện Tân Phước và huyện Châu Thành, sau khi thu hoạch lúa Đông Xuân người dân tiếp tục gieo trồng vụ Hè thu.Hình 1. Cây lương thực có hạt tính đến 15/4/2023  - Cây ngô: trong tháng gieo trồng được 115 ha, thu hoạch 119 ha, sản lượng thu hoạch 410 tấn. Tính chung 4 tháng, diện tích gieo trồng đạt 1.234 ha, đạt 51% kế hoạch, giảm 10,3% so cùng kỳ; diện tích giảm do quá trình đô thị hóa và chuyển sang trồng cây lâu năm; năng suất thu hoạch 36,1 tạ/ha, đạt 100,2% kế hoạch, tăng 0,1% so cùng kỳ với sản lượng 3.529 tấn, đạt 40,5% kế hoạch, giảm 9,8% so cùng kỳ.  - Cây rau đậu các loại: trong tháng gieo trồng 1.613 ha, thu hoạch 1.322 ha với sản lượng thu hoạch 21.782 tấn. Tính chung 4 tháng, diện tích gieo trồng đạt 28.076 ha, giảm 11,6% so cùng kỳ; diện tích thu hoạch 25.694 ha, giảm 9,2% với sản lượng thu hoạch đạt 534.424 tấn, giảm 9,1% so cùng kỳ; trong đó: rau các loại gieo trồng 27.916 ha, giảm 11,6%; thu hoạch 25.608 ha, giảm 9,2% với sản lượng 534.164 tấn, giảm 9,1% so cùng kỳ.  * Chăn nuôi: ước thời điểm 01/4/2023 tổng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh như sau: đàn bò 123,8 ngàn con, giảm 0,4% so cùng kỳ; đàn lợn 293,6 ngàn con, tăng 3,3%; đàn gia cầm 16,3 triệu con, giảm 5,2%. Nhìn chung, đàn bò giảm nhẹ; đàn lợn tăng do dịch bệnh được kiểm soát, người chăn nuôi chủ động tái đàn và tăng đàn; đàn gia cầm giảm do một số gia trại, trang trại chăn nuôi không hiệu quả vì áp lực chi phí thức ăn chăn nuôi cao.  * Tình hình dịch bệnh trên vật nuôi: Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Tiền Giang:  Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: trong tháng không ghi nhận. Tính từ ngày 14/12/2022 đến nay, trên địa bàn tỉnh ghi nhận 06 hộ có lợn mắc bệnh với tổng số lợn bệnh 162 con trên tổng đàn 250 con tại 06 xã/04 huyện (Cai Lậy: 01 xã; Tân Phước: 01 xã; Gò Công Tây: 02 xã; Gò Công Đông: 01 xã). Số lợn được tiêu hủy dưới sự giám sát của chính quyền địa phương là 205 con, trọng lượng 6.638 kg.  Bệnh viêm da nổi cục: trong tháng không ghi nhận. Tính từ ngày 14/12/2022 đến nay, ghi nhận bò mắc bệnh tại 02 huyện/02 xã với 04 con bò bệnh trên tổng đàn 12 con.Hình 2. Chăn nuôi tại thời điểm 01/4/2023  2. Lâm nghiệp:  Tổng diện tích rừng hiện có là 1.771,5 ha (không bao gồm diện tích rừng thuộc đất an ninh quốc phòng). Trong đó rừng phòng hộ: 1.381,8 ha (huyện Gò Công Đông: 429,5 ha; huyện Tân Phú Đông: 896,9 ha và huyện Tân Phước: 55,4 ha). Rừng sản xuất: 389,7 ha.  Ước đến hết tháng 4/2023 toàn tỉnh thực hiện trồng mới được 0,4 ngàn cây phân tán nâng tổng số cây trồng được 2 ngàn cây các loại, giảm 48,3% so với cùng kỳ. Nguyên nhân giảm là do thời tiết hiện nay nắng nóng, ít mưa chưa thuận lợi cho trồng cây, các loại cây trồng chủ yếu là bạch đàn, xà cừ, tràm trồng trên các tuyến đường đi, bờ ao, bờ kênh ven sông.  3. Thủy hải sản:  Diện tích nuôi thủy sản các loại trong tháng đạt 1.277 tấn, giảm 0,6% so cùng kỳ. Tính chung 4 tháng đầu năm 2023, diện tích nuôi đạt 10.945 ha, đạt 74,2% kế hoạch, tăng 0,5% so cùng kỳ; trong đó: diện tích nuôi cá đạt 3.194 ha tăng 0,7%, diện tích nuôi tôm đạt 4.731 ha, tăng 0,7%; diện tích nuôi thủy sản khác đạt 3.020 ha tương đương so với cùng kỳ.  Sản lượng thủy sản thu hoạch trong tháng đạt 21.875 tấn, giảm 20% so với cùng kỳ. Tính chung 4 tháng, sản lượng thu hoạch đạt 83.170 tấn, giảm 19,6% so cùng kỳ; trong đó: sản lượng thu hoạch từ nuôi 51.959 tấn, tăng 3%; sản lượng khai thác 31.211 tấn, giảm 41%. Sản lượng thủy sản giảm chủ yếu ở sản lượng khai thác vì giá nhiên liệu tăng cao, chi phí nhân công tăng sau tết âm lịch, thiếu nhân công, tình hình biển động, gió lớn sản lượng giảm nên chuyến biển đánh bắt không hiệu quả, ngư dân không đánh bắt được vì không thể xuống lưới.  II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP  Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 4/2023 giảm 1,87% so với tháng trước, do một số ngành sản xuất công nghiệp có chỉ số giảm như: sản xuất đồ uống giảm 4,68%; sản xuất trang phục giảm 3,72%; sản xuất kim loại giảm 1,95%; dệt giảm 8,84%...  Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 4 năm 2023 tăng 4,5% so cùng kỳ, do một số ngành chiếm tỷ trọng lớn tăng như: Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 7,52%; Sản xuất kim loại tăng 57,4%; Sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 91,52%;... Chỉ số sản xuất công nghiệp 4 tháng năm 2023 tăng 3,87% so cùng kỳ năm trước; trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 3,95%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 5,49%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 2,63%.Hình 3. Chỉ số sản xuất công nghiệp   Chỉ số sản xuất sản phẩm trong 4 tháng so cùng kỳ như sau:  - Có 19/40 sản phẩm tăng so cùng kỳ: giấy vệ sinh tăng 124,6%; thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng bột/cốm tăng 64,9%; giày, dép thể thao có mũ bằng da và có đế ngoài tăng 60,2%; ống và ống dẫn bằng đồng tăng 44,9%; Máy gặt đập liên hợp tăng 33,3%; tàu thuyền lớn chuyên chở người và hàng hóa có động cơ đẩy tăng 32,4%; thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng viên tăng 14,7%; bộ com lê, quần áo đồng bộ, áo jacket, quần dài, quần yếm, quần soóc cho người lớn dệt kim hoặc đan móc tăng 9,9%; điện thương phẩm tăng 5,5%; thức ăn cho gia súc tăng 1,9%; giày, dép thể thao có đế ngoài và mũ giày bằng cao su và plastic tăng 1%; bia đóng chai tăng 0,9%;…  - Có 21/40 sản phẩm giảm so cùng kỳ: cáp đồng trục và dây dẫn điện đồng trục giảm 75,1%; thuốc diệt cỏ, thuốc chống nảy mầm và thuốc điều hòa sinh trưởng cây trồng giảm 39,8%; túi xách giảm 37,3%; phi lê đông lạnh giảm 36,5%; dây thép không gỉ giảm 34,7%; áo khoác dài, áo khoác không tay, áo khoác có mũ, áo gió cho người lớn dệt kim hoặc đan móc giảm 25,1%; thức ăn cho thủy sản giảm 21,9%; màn bằng vải khác giảm 15,5%; Bia đóng lon giảm 14,4%; Cấu kiện làm sẵn cho xây dựng hoặc kỹ thuật dân dụng, bằng xi măng, bê tông hoặc đá nhân tạo giảm 12,5%; Dịch vụ thu gom rác thải không độc hại có thể tái chế giảm 11%; Dịch vụ tiện các bộ phận kim loại giảm 8,3%; Cửa ra vào, cửa sổ bằng sắt, thép giảm 7,9%; Bóng thể thao khác giảm 6,8%; Sản phẩm in khác (quy khổ 13cmx19cm) giảm 4,1%; Nước uống được giảm 1,9%;  * Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo:  - Chỉ số tiêu thụ tháng 4/2023 so với tháng trước giảm 2,81% và giảm 7,85% so cùng kỳ. Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cộng dồn từ đầu năm đến cuối tháng 4/2023 giảm 7,56%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm so cùng kỳ: sản xuất chế biến thực phẩm giảm 23,53% (trong đó sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thuỷ sản giảm 16,54%); sản xuất đồ uống giảm 4,89% (trong đó sản xuất bia giảm 4,89%); sản xuất trang phục giảm 68,97%; sản xuất da giảm 26,78% (trong đó sản xuất giày dép giảm 16,11%); sản xuất sản phẩm cao su và plastic giảm 8,57%; … Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao: dệt tăng 15,2% (trong đó sản xuất sợi tăng 17,87%); chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ tăng 92,57%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy bằng gấp 3,2 lần; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 60,16%; sản xuất kim loại tăng 42,17%;…  - Chỉ số tồn kho tháng 4/2023 so với tháng trước tăng 20,17% và so với cùng kỳ tăng 47,12%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so với cùng kỳ là: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 21,64%; sản xuất đồ uống bằng gấp 8,7 lần; sản xuất trang phục tăng 94,46%; sản xuất da tăng 71,24%; sản xuất giấy tăng 46,32%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 56,75%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic bằng gấp 2,4 lần; sản xuất kim loại tăng 98,88%; chế biến, chế tạo khác tăng 52,69%;... Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tồn kho giảm so cùng kỳ là: dệt giảm 12,81%, trong đó sản xuất hàng may sẳn giảm 33,53%; sản xuất thiết bị điện giảm 73,99%, trong đó sản xuất mô tơ điện giảm 75,68%…  * Tình hình thu hút đầu tư và phát triển các khu - cụm công nghiệp:  - Khu công nghiệp: đến nay tỉnh đã được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương quy hoạch 7 khu công nghiệp với tổng diện tích 2.083,5 ha; trong đó có 4 khu công nghiệp đi vào hoạt động. Trong tháng, Ban Quản lý các khu công nghiệp có 01 lượt dự án điều chỉnh tăng vốn đầu tư với tổng vốn đầu tư tăng thêm là 3 triệu USD và điều chỉnh thông tin người đại diện.  Đến cuối tháng 4/2023, tổng số dự án đầu tư tại các khu công nghiệp là 111 dự án (trong đó có 82 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài) với tổng vốn đầu tư là 2,4 tỷ USD và 4.865,9 tỷ đồng. Diện tích cho thuê của các doanh nghiệp đạt 525,5/753,2 ha, chiếm tỷ lệ 69,8% diện tích các khu công nghiệp.   - Cụm công nghiệp: trên địa bàn tỉnh có 27 cụm công nghiệp được quy hoạch; trong đó có 5 cụm công nghiệp (CCN) đã mời gọi được nhà đầu tư gồm: CCN Trung An, Tân Mỹ Chánh, An Thạnh, Song Thuận, Gia Thuận 1 đã hoàn thành đầu tư hạ tầng, đang hoạt động ổn định. Trong tháng không thu hút dự án đầu tư mới. Tổng số dự án đầu tư tại các cụm công nghiệp đến nay là 79 dự án (trong đó: có 6 dự án đầu tư nước ngoài) với tổng vốn đầu tư 150,3 triệu USD và 2.306,2 tỷ đồng, diện tích thuê đất là 88,7 ha, tỷ lệ lắp đầy đạt 73,6% diện tích đất cho thuê.  III. ĐẦU TƯ - XÂY DỰNG  Tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý thực hiện trong tháng là 401 tỷ đồng, tăng 25,1% so cùng kỳ. Bốn tháng đầu năm 2023 thực hiện 1.125 tỷ đồng, đạt 21,4% kế hoạch, tăng 22% so cùng kỳ. Ủy ban Nhân dân tỉnh chỉ đạo các sở, ban, ngành tỉnh và địa phương nâng cao trách nhiệm trong quản lý đầu tư xây dựng công trình cũng như đẩy mạnh huy động các nguồn lực của các thành phần kinh tế cho đầu tư phát triển.  Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh thực hiện 907 tỷ đồng, đạt 20,8% kế hoạch, tăng 25,4% so cùng kỳ, chiếm 80,6% tổng số; trong đó: vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 298 tỷ đồng, tăng 1,1 lần, vốn xổ số kiến thiết thực hiện 348 tỷ đồng, tăng 4,% so cùng kỳ...Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp huyện thực hiện 180 tỷ đồng, đạt 33,5% kế hoạch, tăng 9,8% so cùng kỳ, chiếm 16% tổng số; trong đó: vốn tỉnh hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 72 tỷ đồng, tăng 16,5% so cùng kỳ...  Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp xã thực hiện 38 tỷ đồng, đạt 10,4% kế hoạch, tăng 9,5% so cùng kỳ, chiếm 3,4% tổng số; trong đó: vốn huyện hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 19 tỷ đồng, tăng 4% so cùng kỳ...Hình 4 . Cơ cấu vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý - 4 tháng đầu năm 2023  IV. THƯƠNG MẠI - GIÁ CẢ - DỊCH VỤ  1. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng:  Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trong tháng thực hiện 6.619 tỷ đồng, tăng 2,7% so tháng trước và tăng 13,2% so cùng kỳ do trong tháng có các ngày nghỉ như: Giỗ Tổ Hùng vương; 30/4; 01/5; một số hoạt động hội chợ, triển lãm dự kiến được tổ chức trong tháng góp phần sôi động thị trường mua sắm, nên nhu cầu một số nhóm hàng chiếm tỉ trọng dự kiến tăng tác động đến doanh thu. Bốn tháng đầu năm 2023, tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thực hiện 26.369 tỷ đồng, đạt 32.2% kế hoạch, tăng 10,3% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 20.449 tỷ đồng, tăng 6,3%; lưu trú 97 tỷ đồng, tăng 1,2 lần; ăn uống 2.191 tỷ đồng, tăng 33,6%; du lịch lữ hành 20 tỷ đồng, tăng 1,3%; dịch vụ tiêu dùng khác 3.612 tỷ đồng, tăng 21,8% so cùng kỳ.Hình 5. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng   2. Xuất - Nhập khẩu:  a. Xuất khẩu:  Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng ước thực hiện 311 triệu USD, tăng gấp đôi so tháng trước; trong đó: kinh tế ngoài nhà nước 53 triệu USD; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 256 triệu USD. Bốn tháng ước xuất khẩu 1.195 triệu USD, đạt 30,6% kế hoạch, giảm 14% so cùng kỳ; trong đó: kinh tế nhà nước 14 triệu USD, tăng 358,5%; kinh tế ngoài nhà nước 176 triệu USD, giảm 33,6%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 1.005 triệu USD, giảm 10,4% so cùng kỳ.  Tình hình xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của tỉnh như sau:  - Thủy sản: ước tính tháng 4/2023 xuất 6.696 tấn với trị giá 21,5 triệu USD. Bốn tháng xuất 23.728 tấn, giảm 42,2%; với trị giá xuất 68,2 triệu USD, đạt 5,7% tổng kim ngạch xuất khẩu, đạt 17,1% kế hoạch, giảm 50,6% so cùng kỳ.  - Gạo: ước tính tháng 4/2023 xuất 23.843 tấn với trị giá 14,2 triệu USD. Bốn tháng xuất 75.923 tấn, tăng 158,5%; với trị giá xuất 45,3 triệu USD, đạt 3,8% tổng kim ngạch xuất khẩu, đạt 90,6% kế hoạch, tăng 209,5% so cùng kỳ.  - Hàng dệt, may: ước tính tháng 4/2023 xuất 2.975 ngàn sản phẩm với trị giá xuất đạt 23,3 triệu USD. Bốn tháng xuất 15.050 ngàn sản phẩm, giảm 65%; với trị giá xuất 113,4 triệu USD, đạt 9,5% tổng kim ngạch, đạt 18,3% kế hoạch, giảm 34,5% so cùng kỳ.  Ngoài các mặt hàng chủ yếu, trị giá xuất khẩu một số mặt hàng trong 4 tháng đầu năm 2023 như: giày dép các loại 233 triệu USD, giảm 1,5%; kim loại thường khác và sản phẩm (kể cả ống đồng) 431 triệu USD, tăng 17,1%; túi xách, ví, vali, mũ và ô dù 48 triệu USD, giảm 45,1%... so cùng kỳ.  2. Nhập khẩu:  Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa trong tháng 4/2023 ước 179 triệu USD, giảm 40% so tháng trước. Bốn tháng, kim ngạch nhập khẩu ước 700 triệu USD, đạt 30,4% kế hoạch, giảm 5,9% so cùng kỳ; trong đó: kinh tế ngoài nhà nước 42 triệu USD, giảm 3,7%, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 658 triệu USD, giảm 6% so cùng kỳ. Nguyên liệu nhập khẩu chủ yếu các mặt hàng như: nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày 99 triệu USD, giảm 24,2%; vải các loại 87 triệu USD, tăng 10,9%; chất dẻo (plastic) nguyên liệu 26 triệu USD, giảm 56,5%; kim loại thường khác 349 triệu USD, tăng 18,7%;... so cùng kỳ.  3. Chỉ số giá:  Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 04/2023 giảm 0,39% so tháng 03/2023 (thành thị giảm 0,42%, nông thôn giảm 0,27%); so cùng kỳ tăng 1,74%. Nguyên nhân do nhóm hàng hóa và dịch vụ chính giảm so tháng trước như: hàng ăn và dịch vụ ăn uống; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng; nhóm bưu chính viễn thông. Giá gas giảm theo giá nhiên liệu thế giới; ngoài ra dịch bệnh trên đàn gia súc của địa phương được kiểm soát tốt, nguồn cung thịt lợn, thịt bò hơi dồi dào nên giá giảm.  So với tháng 03/2023, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có 03 nhóm giảm như: hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,68% (trong đó: thực phẩm giảm 1,23%; lương thực tăng 0,25% và ăn uống ngoài gia đình tăng 0,2%); nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 1,25% và nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,01%. Có 7 nhóm hàng tăng: đồ uống và thuốc lá tăng 0,03%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,09%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,12%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%; giao thông tăng 0,68%; văn hoá, giải trí, du lịch tăng 0,04% và nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,21%. Riêng chỉ số giá nhóm giáo dục ổn định.  Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 4 tháng năm 2023 so cùng kỳ tăng 2,81%; một số nhóm hàng có giá tăng nhiều trong 4 tháng năm 2023 so cùng kỳ như: nhóm Giáo dục tăng 7,80%, trong đó dịch vụ giáo dục tăng 8,28%; may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 3,25%; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 2,89%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,50%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,24%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,14%; …  Chỉ số giá vàng 24 kara Ngọc Thẩm trong tháng 4/2023 tăng 3% so tháng trước, giá bình quân tháng 04/2023 là 5.627 ngàn đồng/chỉ, tăng 130 ngàn đồng/chỉ so cùng kỳ.  Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng 04/2023 giảm 0,89% so tháng trước, giá bình quân 23.644 đồng/USD, tăng 634 đồng/USD so cùng kỳ.  4. Du lịch:  Ước tính khách du lịch đến trong tháng 4/2023 được 87,5 ngàn lượt khách, tăng 4,1% so tháng trước và tăng 43,6% so cùng kỳ; trong đó: khách du lịch quốc tế 7 ngàn lượt khách, tăng 8,4% so tháng trước. Doanh thu lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ tiêu dùng khác trong tháng 4 đạt 1.496 tỷ đồng,chiếm 22,6% tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng, tăng 6,8% so tháng trước và tăng 23,6% so cùng kỳ. Trong tháng có các ngày nghỉ Lễ như Giỗ Tổ Hùng Vương và ngày Giải phóng miền Nam 30/4, bên cạnh đó năm nay số ngày nghĩ dài cùng với thời tiết hiện mát hơn tháng trước thuận lợi cho người dân đi tham quan và du lịch trên địa bàn tỉnh.  Tính chung bốn tháng đầu năm 2023, lượt khách du lịch đến Tiền Giang là 340,5 ngàn lượt khách, đạt 27,2% kế hoạch, tăng 1,1 lần so cùng kỳ; trong đó: khách quốc tế 21,5 ngàn lượt khách, đạt 8,6% kế hoạch, tăng 4,2 lần so cùng kỳ. Tổng doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, dịch vụ lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch đạt 5.920 tỷ đồng, tăng 27,1% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu dịch vụ ăn uống chiếm tỷ trọng 37%, ước đạt 2.191 tỷ đồng, tăng 33,6%, lưu trú đạt 97 tỷ đồng, tăng 1,1 lần so cùng kỳ...  5. Vận tải:  Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trong tháng thực hiện 202 tỷ đồng, tăng 5,3% so tháng trước và tăng 16,9% so cùng kỳ. Bốn tháng thực hiện 749,7 tỷ đồng, tăng 17,6% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 205 tỷ đồng, tăng 16,8%; doanh thu vận tải hàng hóa thực hiện 464 tỷ đồng, tăng 17,6% so cùng kỳ. Doanh thu vận tải đường bộ thực hiện 321 tỷ đồng, tăng 18,4%; doanh thu vận tải đường thủy thực hiện 348 tỷ đồng, tăng 16,4 %; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 81 tỷ đồng, tăng 19,6% so cùng kỳ.  Vận tải hành khách trong tháng đạt 1.296 ngàn hành khách, giảm 8,3% so tháng trước và tăng 10,6% so cùng kỳ; luân chuyển 41.338 ngàn hành khách.km, tăng 0,6% so tháng trước và tăng 2% so cùng kỳ. Bốn tháng, vận chuyển 5.324 ngàn hành khách, tăng 18,2% so cùng kỳ; luân chuyển 184.795 ngàn hành khách.km, tăng 11,1% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 1.824 ngàn hành khách, tăng 10,7% và luân chuyển 180.240 ngàn hành khách.km, tăng 11% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 3.500 ngàn hành khách,tăng 22,5% và luân chuyển 4.555 ngàn hành khách.km, tăng 14,8% so cùng kỳ.  Vận tải hàng hóa trong tháng đạt 1.997 ngàn tấn, tăng 10,3% so tháng trước và tăng 10,6% so cùng kỳ; luân chuyển 333.532 ngàn tấn.km, tăng 10,8% so tháng trước và tăng 9,5% so cùng kỳ. Bốn tháng, vận tải 6.882 ngàn tấn hàng hóa, tăng 18,5% so cùng kỳ; luân chuyển 1.150.553 ngàn tấn.km, tăng 21,1% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 976 ngàn tấn, tăng 12,4% và luân chuyển 150.554 ngàn tấn.km, tăng 15,6% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 5.906 ngàn tấn, tăng 19,6% và luân chuyển 999.999 ngàn tấn.km, tăng 22,7% so cùng kỳ.  * Công tác quản lý phương tiện giao thông:  Trong tháng đăng ký mới 3.678 chiếc mô tô xe máy, 319 chiếc ô tô, 05 chiếc xe đạp điện và xe khác 02 chiếc. Tổng số xe đang quản lý trên địa bàn tỉnh 1.454.371 chiếc, trong đó mô tô xe máy: 1.405.208 chiếc, 48.015 xe ô tô, 153 xe ba bánh, 428 xe đạp điện và 567 xe khác.  6. Bưu chính viễn thông:  Doanh thu trong tháng 4/2023 đạt 325 tỷ đồng, giảm 0,4% so với tháng trước và tăng 2,1% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính đạt 30 tỷ đồng, giảm 3,6% và viễn thông 1.179 tỷ đồng, tương đương đương so tháng trước. Bốn tháng doanh thu dịch vụ bưu chính, viễn thông đạt 1.299 tỷ đồng, tăng 2,6% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính đạt 120 tỷ đồng, tăng 14,3% và viễn thông 1.179 tỷ đồng, tăng 1,6% so cùng kỳ.  V. TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG  1. Tài chính:  Tổng thu ngân sách nhà nước trong tháng thực hiện 1.252 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn 875 tỷ đồng, thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 285 tỷ đồng. Bốn tháng, thu 9.576 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn thực hiện 4.380 tỷ đồng, đạt 33,8% dự toán và tăng 3,9% so cùng kỳ; thu nội địa 3.409 tỷ đồng, đạt 34,5% dự toán, tăng 3,6% so cùng kỳ (trong thu ngân sách trên địa bàn: thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 1.032 tỷ đồng, đạt 31,7% dự toán, tăng 5,8% so cùng kỳ; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 461 tỷ đồng, đạt 40,1% dự toán, tăng 13,6% so cùng kỳ, thu từ hoạt động xổ số kiến thiết 703 tỷ đồng, đạt 39,1% dự toán, tăng 32,3% so cùng kỳ...  Tổng chi ngân sách nhà nước trong tháng 1.190 tỷ đồng; trong đó: chi đầu tư phát triển 480 tỷ đồng. Bốn tháng, chi 5.827 tỷ đồng, đạt 41,3% dự toán, tăng 22% so cùng kỳ; trong đó: chi đầu tư phát triển 2.083 tỷ đồng, đạt 39,3% dự toán, tăng 56,2% so cùng kỳ; chi hành chính sự nghiệp 2.087 tỷ đồng, đạt 27% dự toán và giảm 7,9% so cùng kỳ.  2. Ngân hàng:  Đến cuối tháng 3/2023, vốn huy động đạt 90.816 tỷ đồng, tăng 3.080 tỷ so với cuối năm 2022, tỷ lệ tăng 3,34%. Ước đến cuối tháng 4/2023, vốn huy động đạt 90.816 tỷ đồng, tăng 3.080 tỷ tương đương 3,51% so với cuối năm 2022.  Tổng dư nợ toàn tỉnh đến cuối tháng 3 đạt 90.149 tỷ đồng, tăng 4,8% so với cuối năm 2022. Ước đến cuối tháng 4/2023, dư nợ toàn tỉnh thực hiện 90.296 tỷ đồng, tăng 4.275 tỷ, tương đương tăng 1,96% so với cuối năm 2022.  Nợ xấu: cuối tháng 3/2023, số dư là 924 tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu 1,02%, tăng 0,33% so với cuối năm 2022. Ước đến cuối tháng 4/2023, nợ xấu là 941 tỷ đồng, tỷ lệ 1,04%, tăng 0,35% so với cuối năm 2022.  Quỹ tín dụng nhân dân: đến cuối tháng 03/2023, tổng nguồn vốn hoạt động đạt 1.396 tỷ đồng, tăng 15 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 1,1% so cuối năm 2022, trong đó vốn huy động tăng 1,51%, chiếm tỷ trọng 87% trong tổng nguồn vốn hoạt động; đáp ứng nhu cầu vốn cho 2.365 lượt thành viên vay vốn từ đầu năm đến nay; tổng dư nợ đạt 1.033 tỷ đồng, giảm 4,97 tỷ, tỷ lệ giảm 0,48%, trong đó dư nợ ngắn hạn giảm 0,48% chiếm 45% tổng dư nợ. Nợ xấu là 5 tỷ đồng, giảm 2 tỷ, tỷ lệ nợ xấu 0,48%, giảm 0,19% so với cuối năm 2022.  VI. KHOA HỌC CÔNG NGHỆ  Trong tháng, Hội đồng tư vấn tuyển chọn đánh giá hồ sơ tuyển chọn, thẩm định nội dung 4 nhiệm vụ khoa học và công nghệ (03 cấp tỉnh, 01 cấp cơ sở); kiểm tra tiến độ thực hiện 01 nhiệm vụ khoa học và công nghệ (KH&CN) cấp cơ sở; nghiệm thu giai đoạn 04 nhiệm vụ KH&CN (02 cấp tỉnh, 02 cấp cơ sở); nghiệm thu kết thúc 01 nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh; quyết định công nhận 01 nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh.  Đến tháng 4/2023, thẩm định nội dung 05 nhiệm vụ KH&CN (04 cấp tỉnh, 01 cấp cơ sở); quyết định triển khai 04 nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh; nghiệm thu kết thúc 05 nhiệm vụ KH&CN (04 cấp tỉnh, 02 cấp cơ sở); quyết định công nhận 06 nhiệm vụ KH&CN (04 cấp tỉnh, 02 cấp cơ sở); gia hạn 01 nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh.  VII. CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI  1. Lao động việc làm:  Trong tháng, tư vấn nghề, việc làm, pháp luật lao động và tư vấn khác cho 3.655 lượt lao động, tăng 51,2% so cùng kỳ; trong đó tư vấn nghề cho 164 lượt lao động; tư vấn việc làm cho 370 lượt lao động; tư vấn việc làm cho 3.021 lượt lao động thất nghiệp; tư vấn pháp luật lao động và tư vấn khác cho 100 lượt lao động. Giới thiệu việc làm cho 352 lượt lao động, tăng 49,2% so cùng kỳ, trong đó 123 lao động có được việc làm ổn định, tăng 108,5% so cùng kỳ.  Tư vấn đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài cho 110 lượt lao động, tăng 25% so cùng kỳ; 03 lao động đăng ký tham gia đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, giảm 25% so cùng kỳ; có 46 lao động xuất cảnh đi làm việc ở nước ngoài tại các thị trường: Nhật Bản 39 lao động, Đài Loan 06 lao động và Hungary 01 lao động, tăng 109,1% so cùng kỳ.  Tiếp nhận 2.361 lao động đăng ký hưởng trợ cấp thất nghiệp, giảm 0,4% so cùng kỳ; trợ cấp thất nghiệp cho 2.092 lao động, giảm 14,3% so cùng kỳ, với tổng số tiền chi trả 48,7 tỷ đồng, tăng 1,4% so cùng kỳ; có 4.052 lượt lao động thất nghiệp được tư vấn, giới thiệu việc làm và 01 lao động đăng ký học nghề.  2. Đời sống dân cư và an sinh xã hội:  Trong tháng, các chế độ ưu đãi cho người có công đã thực hiện: tổng hợp danh sách tăng, giảm trợ cấp thờ cúng liệt sĩ để thực hiện phê duyệt danh sách chi trả trợ cấp thờ cúng liệt sĩ năm 2023; Thẩm định, lập Quyết định điều dưỡng người có công cho huyện Cái Bè, huyện Tân Phước, huyện Châu Thành; Lập Quyết định trợ cấp hàng thàng đối với 01 con liệt sĩ tàn tật; hưởng thêm chế độ thương binh, bệnh binh đối với 09 đối tượng; Thẩm định, ra quyết định 09 trường hợp trợ cấp ưu đãi học sinh; Chuyển hồ sơ người có công đi tỉnh khác và tiếp nhận hồ sơ người có công do tỉnh khác chuyển đến: 31 trường hợp; Cấp lại giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ và thương binh, bệnh binh: 40 trường hợp.  3. Hoạt động giáo dục:  Trong tháng, các trường được công nhận đạt chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục và chuẩn quốc gia tại huyện Cái Bè: Tiểu học Tân Thanh, Mầm non Mỹ Trung; thị xã Cai Lậy: THCS Thái Thị Kim Hồng; huyện Tân Phước: Tiểu học Tân Hoà Tây; huyện Châu Thành: Mầm non Bình Trưng; thành phố Mỹ Tho: Mầm non Vườn Trẻ, Mầm non Vàng Anh; huyện Chợ Gạo: Mầm non An Thạnh Thuỷ, Mầm non Xuân Đông, Mầm non Bình Ninh, Tiểu học Bình Phục Nhứt, Tiểu học Quơn Long; thị xã Gò Công: Tiểu học Bình Xuân 1; huyện Tân Phú Đông: Mầm non Tân Thới, Tiểu học Tân Thạnh, THCS Phú Đông, THCS Tân Phú.  4. Hoạt động y tế:  Trong tháng có 7/44 bệnh truyền nhiễm được ghi nhận. So với cùng kỳ về số mắc, có 08 bệnh tăng (Lao phổi, Sốt xuất huyết Dengue, Tay - chân - miệng, Thủy đậu, Tiêu chảy, Uốn ván khác, Viêm gan vi rút B, Viêm gan vi rút C); 02 bệnh giảm (Viêm não vi rút khác, Covid - 19); 34 bệnh tương đương và không xảy ra ca mắc.  Phòng chống bệnh Sốt xuất huyết ghi nhận 315 ca mắc, cộng dồn số ca mắc 1.385 ca, tăng 3,9 lần so với cùng kỳ, không có tử vong do sốt xuất huyết.  Phòng chống HIV/AIDS ghi nhận 6.542 người nhiễm HIV; 1.819 người chuyển sang AIDS; 1.297 người tử vong do AIDS.  Hoạt động khám chữa bệnh so với cùng kỳ: khám bệnh 411.822 lượt người, tăng 38,8%; điều trị nội trú 16.954 lượt người, tăng 35,8%.  Ngoài ra, ngày 13 tháng 4 năm 2023 UBND tỉnh Tiền Giang đã ban hành công văn số 1780/UBND – KGVX về việc tăng cường công tác phòng, chống dịch Covid -19 trước tình hình dịch bệnh có xu hướng gia tăng trở lại. Tiếp tục rà soát, kiểm tra xác minh các trường hợp có yếu tố dịch tễ phức tạp, nguy cơ cao như nhập cảnh, về từ vùng dịch, tiến hành lấy mẫu giải trình tự gen theo Công văn 2494/PAS-KSBT về việc tăng cường giám giám sát giải trình tự gen trường hợp Covid-19 trong cộng đồng và nhập cảnh của Viện Pasteur TP.HCM.  5. Hoạt động văn hóa - thể thao:  Hoạt động bảo tàng: trong tháng, Bảo tàng tỉnh và các di tích đã đón 16.758 lượt khách. Trưng bày cố định các chuyên đề phục vụ khách tham quan tại Bảo tàng tỉnh và trưng bày cố định các chuyên đề theo tiến trình lịch sử tại các di tích trực thuộc: Khảo cổ Gò Thành, Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Chiến thắng Ấp Bắc, Chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút.  Hoạt động văn hóa nghệ thuật: thực hiện 24 buổi biểu diễn văn nghệ phục vụ Nhân dân và tuyên truyền 40 băng-rôn, 15 pano, 200 phướn chào mừng các ngày lễ.  Hoạt động thư viện: trong tháng, Thư viện đã phục vụ được 17.586 lượt bạn đọc với 34.985 lượt sách báo được đưa ra lưu hành; hệ thống thư viện huyện, thư viện xã đã tiếp được 24.804 lượt bạn đọc, với 47.346 lượt sách báo lưu hành. Ngoài ra, tổ chức 4 Chuyến xe Thư viện thông minh lưu động và Tọa đàm “Từ trang sách đến Thành công” về Văn hóa đọc cho các em học sinh.  Hoạt động thể dục, thể thao:  + Tổ chức các lớp xóa mù bơi cho trẻ em, lớp hướng dẫn viên chương trình bơi phòng chống tai nạn tỉnh Tiền Giang tại huyện Cai Lậy và huyện Tân Phước.  + Tổ chức Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân năm 2023 trên địa bàn tỉnh.  + Đội Muay tham dự Giải vô địch các câu lạc bộ Muay quốc gia năm 2023, từ ngày 17/3 – 29/3/2023 tại Gia Lai với kết quả đạt 01 Huy Chương Vàng, 01 Huy chương Bạc, 02 Huy chương Đồng.  + Đội Điền kinh tham dự Giải Điền kinh Cúp Tốc độc Thống Nhất Hồ Chí Minh năm 2023, từ ngày 27/3 – 03/4/2023 tại Tp Hồ Chí Minh với kết quả đạt 03 Huy chương Vàng, 07 Huy chương Bạc, 01 Huy chương Đồng.  + Đội Bóng đá U19 tham dự Vòng loại Bảng E - Giải Bóng đá vô địch U19 quốc gia năm 2023, từ ngày 26/3 – 17/4/2023.   6. Tình hình trật tự an toàn xã hội (Theo báo cáo ngành Công an):  Tình hình an ninh trật tự trên địa bàn được đảm bảo. Tội phạm về trật tự xã hội ghi nhận 73 vụ, tăng 07 vụ so với tháng 3/2023, tăng 16 vụ so với tháng 4/2022, chết 03 người, bị thương 15 người, tài sản thiệt hại khoảng 1,5 tỷ đồng; điều tra khám phá 58 vụ (đạt 79,5%), bắt xử lý 101 đối tượng, thu hồi tài sản khoảng 148 triệu đồng. Tính đến tháng 4/2023 tội phạm về trật tự xã hội ghi nhận 280 đối tượng/244 vụ, tăng 36 vụ so với cùng kỳ; điều tra khám phá 225 vụ (đạt 80,4%), bắt xử lý 429 đối tượng.  Phát hiện, xử lý 14 vụ, 13 đối tượng có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và xử lý vi phạm hành chính 155 đối tượng có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; 01 vụ, 01 đối tượng phạm tội trên lĩnh vực tham nhũng; 20 vụ, 17 đối tượng vi phạm pháp luật về kinh tế.  7. Trật tự an toàn giao thông (Theo báo cáo ngành Công an):  Tai nạn giao thông đường bộ: tai nạn giao thông trong tháng xảy ra 22 vụ, giảm 04 vụ so tháng trước và giảm 04 vụ so cùng kỳ, làm chết 17 người, giảm 02 người so tháng trước và giảm 05 người so cùng kỳ, bị thương 13 người, giảm 02 người so tháng trước và tăng 08 người so cùng kỳ. Nâng tổng số vụ từ đầu năm đến nay ghi nhận 71 vụ, giảm 53 vụ so cùng kỳ, làm chết 49 người, giảm 40 người so cùng kỳ, bị thương 43 người, giảm 13 người so cùng kỳ.  Các nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông chủ yếu vẫn do ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông như: uống rượu say, điều khiển xe khi có rượu bia, phóng nhanh vược ẩu, không làm chủ tốc độ; không đi đúng phần đường, làn đường; không nhường đường, vượt đèn đỏ, thiếu quan sát…   8. Tình hình cháy nổ, môi trường:  Tình hình cháy, nổ trong tháng ghi nhận 01 vụ (Công ty TNHH Sợi MêKông - khu công nghiệp Long Giang, huyện Tân Phước), tài sản thiệt hại khoảng 150 triệu đồng; nguyên nhân do chập điện. Tính đến tháng 4/2023 cháy, nổ trên địa bàn ghi nhận 04 vụ, giảm 01 vụ so với cùng kỳ, tài sản sản thiệt hại khoảng 1,3 tỷ đồng.  Lĩnh vực môi trường trong tháng xảy ra 02 vụ vi phạm, tăng 02 vụ so cùng kỳ với tổng số tiền xử phạt là 71,4 triệu đồng. Tính từ đầu năm đến nay, ghi nhận 05 vụ vi phạm, giảm 04 vụ so cùng kỳ với số tiền phạt trên 191,4 triệu đồng.  Thiên tai trong tháng xảy ra 03 cơn lốc xoáy ở huyện Cai Lậy, thị xã Cai Lậy và Châu Thành đã gây thiệt hại làm 89 căn nhà bị tốc mái, ngã đổ khoảng 8.000 cây ăn trái (mít: 7.703 cây, sầu riêng: 267 cây, cây dừa: 05 cây, nhãn: 25 cây); xảy ra 21 điểm đê bị sạt lở trên địa bàn huyện Châu Thành. Ước tổng kinh phí thiệt hại trên 18,6 tỷ đồng.