0273.3 872582 | dongthap@nso.gov.vn
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Tháp tháng 8 năm 2026
  •   2026/08/30 08:46

Trong tháng, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh tiếp tục phát triển, các hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định, hầu hết các ngành, lĩnh vực đều tăng so cùng kỳ. Kết quả thực hiện trên các lĩnh vực đạt được như sau:I. SẢN XUẤT NÔNG LÂM NGHIỆP VÀ THỦY SẢN1. Nông nghiệpCây lương thực có hạt: diện tích gieo trồng từ đầu vụ sản xuất đến ngày 20/8/2026 ước đạt 536.672 ha, giảm 5,6% so với cùng kỳ; sản lượng ước đạt 2.605.038 tấn, giảm 10,0%. Trong đó cây lúa gieo sạ 530.677 ha, giảm 5,6% so với cùng kỳ; sản lượng thu hoạch ước đạt 2.577.720 tấn, giảm 10,1%, cụ thể:- Cây lúa:+ Vụ Đông xuân 2025 – 2026: diện tích gieo trồng chính thức 223.450 ha, đạt 99,6% kế hoạch và giảm 2,7% so với cùng kỳ, tương ứng giảm 6.229 ha. Lúa Đông xuân 2025-2026 đã thu hoạch 100% diện tích gieo trồng của vụ; năng suất thu hoạch bình quân 72,5 tạ/ha, tăng 0,8% so với cùng kỳ với sản lượng thu hoạch 1.620.142 tấn, đạt 98,7% so với kế hoạch, giảm 1,9% so với cùng kỳ. + Vụ Hè thu 2026: tính đến ngày 20/8, toàn tỉnh gieo sạ ước đạt 231.814 ha, đạt 102,3% so với kế hoạch, giảm 5,1% so với cùng kỳ; diện tích thu hoạch ước đạt 145.418 ha, chiếm 62,7% diện tích gieo trồng của vụ; năng suất thu hoạch ước đạt 65,9 tạ/ha với sản lượng thu hoạch ước đạt 957.578 tấn. + Vụ Thu đông 2026: tính đến ngày 20/8, toàn tỉnh gieo sạ ước đạt 75.413 ha, đạt 50,4% so với kế hoạch. Vụ lúa Thu đông đã bắt đầu xuống giống ở các xã: xã Thường Phước, xã An Phước, xã Phương Thịnh, xã Trường Xuân, xã Mỹ Quí, xã Tháp Mười, xã Đốc Binh Kiều, xã Thanh Mỹ, xã Phú Cường, xã Mỹ Thọ, xã Ba Sao, xã Phong Mỹ, xã Mỹ Hiệp, xã Bình Hàng Trung, xã Lấp Vò, xã Tân Khánh Trung, phường Mỹ Ngãi. - Cây ngô: tính đến ngày 20/8, diện tích gieo sạ ước đạt 5.995 ha, đạt 64,54% so với kế hoạch, tăng 0,5% so với cùng kỳ. Diện tích thu hoạch ước đạt 3.897 ha, tăng 0,6% so với cùng kỳ. Sản lượng thu hoạch ước đạt 27.318 tấn, đạt 41,39% so với kế hoạch, tăng 1,5% so với cùng kỳ. Năng suất thu hoạch ước đạt 70,10 tạ/ha. Cây rau đậu các loại: tính đến ngày 20/8, diện tích gieo trồng rau đậu các loại ước đạt 54.501 ha, tăng 0,3% so với cùng kỳ; trong đó rau các loại ước đạt 54.183 ha, tăng 0,3%. Sản lượng cây rau đậu các loại ước đạt 985.796 tấn, tăng 0,3% so với cùng kỳ; trong đó rau thu hoạch ước đạt 985.150 tấn, tăng 0,3% so với cùng kỳ. Hình 1. Diện tích gieo trồng một số cây hàng năm tính đến 20/8/2026 Chăn nuôi: ước thời điểm 31/8/2026, tổng đàn gia súc, gia cầm toàn tỉnh như sau: đàn trâu 2,1 nghìn con, giảm 25,9%; đàn bò 148,4 nghìn con, giảm 3,2%; đàn lợn 505,9 nghìn con, tăng 4,5% và đàn gia cầm 23,9 triệu con, tăng 0,7% so với cùng kỳ. Hình 2. Chăn nuôi tại thời điểm 31/8/2026 2. Lâm nghiệp Diện tích rừng trồng mới tập trung: từ đầu năm đến nay có 111,3 ha rừng được trồng mới tập trung, giảm 0,6% tương đương, giảm 0,6 ha so với cùng kỳ. Cây phân tán: trong tháng, toàn tỉnh thực hiện trồng mới được 43 ngàn cây phân tán các loại, tăng 2,9% so với cùng kỳ, tương ứng tăng 1,2 nghìn cây. Cộng dồn từ đầu năm đến nay, số lượng cây phân tán ước đạt 523,8 nghìn cây, tăng 1,4%, tương ứng tăng 7,3 nghìn cây so với cùng kỳ. Sản lượng gỗ khai thác: trong tháng sản lượng gỗ khai thác ước đạt 14.093 m3, tăng 1,0%, tương ứng tăng 142 m3 so với cùng kỳ. Cộng dồn từ đầu năm đến nay, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 116.305 m3 gỗ được khai thác, giảm 0,3%, tương ứng giảm 313,4 m3 so với cùng kỳ. 3. Thủy hải sản Diện tích thả nuôi thâm canh trong tháng ước đạt 698 ha, tăng 2,8% so với cùng kỳ. Tổng diện tích thả nuôi thâm canh 8 tháng năm 2026 ước đạt 9.881 ha, tăng 1,1% so với cùng kỳ, bao gồm: cá tra đạt 2.004 ha (tăng 4,9%), tôm sú 4.046 ha (tăng 0,3%), tôm thẻ chân trắng 3.831 ha (tương đương so với cùng kỳ). Sản lượng thủy sản nuôi và khai thác biển trong tháng ước đạt 150.294 tấn, nâng tổng số sản lượng thủy sản nuôi và khai thác biển từ đầu năm đến tháng báo cáo ước đạt 692.091 tấn, tăng 2,5% so với cùng kỳ, bao gồm: Sản lượng thủy sản nuôi trồng trong tháng ước đạt 132.993 tấn. Tính chung 8 tháng năm 2026, thu hoạch ước đạt 608.542 tấn, tăng 2,7%, tương ứng tăng 15.927 tấn so với cùng kỳ, bao gồm: sản lượng cá đạt 568.122 tấn (tăng 2,7%); sản lượng tôm đạt 36.046 tấn (tăng 2,7%); các loại thủy sản khác đạt 4.374 tấn (tăng 1,1%). Sản lượng thủy sản khai thác biển trong tháng ước đạt 17.301 tấn. Tính chung 8 tháng năm 2026, thu hoạch ước đạt 83.549 tấn, tăng 1,2%, tương ứng tăng 966 tấn so với cùng kỳ, bao gồm: sản lượng cá đạt 56.335 tấn (tăng 1,0%); sản lượng tôm đạt 5.781 tấn (tăng 3,2%); các loại thủy sản khác đạt 21.433 tấn (tăng 1,0%). II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 8/2026 ước tính tăng 2,52% so với tháng trước và tăng 15,13% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,61% so với tháng trước và tăng 16,27% so với cùng kỳ; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 2,27% so với tháng trước và tăng 3,59% so với cùng kỳ. Ở chiều ngược lại, ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,73% so với tháng trước và giảm 1,49% so với cùng kỳ; ngành khai khoáng giảm 11,50% so với tháng trước và giảm 18,33% so với cùng kỳ. Tính chung 8 tháng đầu năm 2026, IIP tăng 12,58% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,43%; ngành khai khoáng tăng 14,31%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 3,21%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,86%. Hình 3. Chỉ số sản xuất công nghiệp 8 tháng đầu năm 2026 Tình hình sản xuất các sản phẩm chủ lực 8 tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ như sau: Có 74/114 sản phẩm ghi nhận chỉ số sản xuất tăng so cùng kỳ: cát đen tăng 14,3%; phi lê đông lạnh tăng 22,9%; quả và hạt ướp lạnh tăng 73,8%; gạo đã xát toàn bộ hoặc sơ bộ tăng 15,7%; thức ăn chăn nuôi tăng từ 15,2% đến 40,5%; bia đóng lon tăng 18,1%; áo phông, áo may ô và các loại áo lót khác cho người lớn dệt kim hoặc đan móc tăng 43,0%; giày, dép không thấm nước có đế ngoài và mũ bằng cao su hay plastic tăng 37,0%; giày, dép có đế ngoài và mũ bằng cao su hoặc plastic tăng 10,5%; thuốc và dược phẩm các loại tăng cao; bao và túi từ plastic khác tăng 60,4%; bê tông trộn sẵn tăng 11,3%; thanh, que bằng thép hợp kim rỗng tăng 56,9%; ống và ống dẫn bằng đồng tăng 16,2%; điện mặt trời tăng 22,5%;… Ở chiều ngược lại, có 37/114 sản phẩm có chỉ số sản xuất giảm so cùng kỳ: miến, hủ tiếu, bánh tráng và các loại tương tự giảm 0,7%; bia đóng chai giảm 16,5%; thuốc lá có đầu lọc giảm 0,9%; áo khoác cho người lớn dệt kim hoặc đan móc giảm 7,8%; bộ com - lê, quần áo đồng bộ, áo jacket, quần dài, quần yếm, quần soóc cho người lớn không dệt kim hoặc đan móc giảm 25,6%; túi xách giảm 3,1%; giày, dép thể thao có đế ngoài và mũ giày bằng cao su và plastic giảm 6,8%; giày, dép thể thao có mũ bằng da và có đế ngoài giảm 15,6%; thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm giảm 6,2%;… * Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 8 năm 2026 so với tháng trước giảm 0,73%, so với cùng kỳ tăng 10,05%; cộng dồn từ đầu năm đến cuối tháng 8/2026 tăng 10,03%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tháng 8 tăng cao so với cùng kỳ năm trước: sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 55,47%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 23,63%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 15,24%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 12,17%;… Ngược lại, một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm so cùng kỳ như: sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 56,04%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 13,04%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất giảm 8,29%; sản xuất kim loại giảm 7,15%;… Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 8 năm 2026 tăng 18,78% so với tháng trước và tăng đến 127,22% so với cùng kỳ. Một số ngành có chỉ số tồn kho tháng 8 tăng cao so cùng kỳ là: sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 65,95%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 63,40%; sản xuất thiết bị điện tăng 48,56%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 30,26%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 29,39%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 10,83%;… * Tình hình thu hút đầu tư và phát triển các khu công nghiệp, khu kinh tế cửa khẩu (KCN, KKTCK): Trong tháng 8/2026, các KCN có 01 dự án đầu tư mới với tổng vốn đầu tư 229 tỷ đồng; 04 dự án thực hiện điều chỉnh, trong đó có 03 lượt dự án điều chỉnh tăng vốn 1.706 tỷ đồng (gồm 02 dự án đầu tư nước ngoài tăng vốn 56,29 triệu USD và 01 dự án đầu tư trong nước tăng vốn 152 tỷ đồng). Lũy kế đến tháng 8/2026: Các KCN thu hút được 185 dự án, trong đó, có 103 dự án đầu tư nước ngoài, 82 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư là 95.058 tỷ đồng (trong đó, vốn đầu tư nước ngoài là 3,5 tỷ USD và vốn đầu tư trong nước là 13.500 tỷ đồng); diện tích đất đã cho thuê là 745,0 ha, tỷ lệ lấp đầy 93,1%. Các KKTCK thu hút được 07 dự án đầu tư trong nước, với tổng số vốn đầu tư 142,9 tỷ đồng, diện tích đất 12,4 ha/32,76 ha, tỷ lệ lấp đầy đạt 37,9%. III. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP (Theo báo cáo của Sở Tài Chính) Thành lập mới: trong tháng 8/2026, có 234 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 10,9% so với tháng trước, với tổng vốn đăng ký là 1.740 tỷ đồng, tăng 70,6% so với tháng trước. Lũy kế 8 tháng đầu năm 2026, có 2.131 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 20,8% so với cùng kỳ năm 2025, đạt 71,03% so kế hoạch phát triển doanh nghiệp năm 2026 (kế hoạch là 3.000 doanh nghiệp), với tổng vốn đăng ký là 10.275 tỷ đồng, giảm 1,4% so với cùng kỳ năm2025.Giải thể, tạm ngừng hoạt động, tái hoạt động: Trong tháng có 105 doanh nghiệp đã giải thể, tăng 59,1% so với tháng trước; 39 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, bằng 60% so với tháng trước; 30 doanh nghiệp hoạt động trở lại, bằng 73,2% so với tháng trước. Lũy kế từ đầu năm 2026, có 448 doanh nghiệp đã giải thể, tăng 85,9%; 694 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, tăng 6,3%; 319 doanh nghiệp hoạt động trở lại, giảm 1,2% so với cùng kỳ năm 2025.IV. ĐẦU TƯ - XÂY DỰNG Vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 8/2026 ước đạt 1.007 tỷ đồng, tăng 11,0% so với tháng trước nhưng giảm 40,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 919 tỷ đồng, tăng 9,4% so với tháng trước nhưng giảm 44,2% so với cùng kỳ; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 87 tỷ đồng, tăng 31,3% so với tháng trước và tăng 151,5% so với cùng kỳ.Lũy kế 8 tháng đầu năm 2026, tổng vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 5.900 tỷ đồng, bằng 51,0% kế hoạch năm và giảm 37,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 5.413 tỷ đồng, bằng 52,7% kế hoạch, giảm 41,8% so cùng kỳ; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 486 tỷ đồng, bằng 37,1% kế hoạch năm, gấp 3,5 lần cùng kỳ năm trước.IV. THƯƠNG MẠI - GIÁ CẢ - DỊCH VỤ1. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng:Hoạt động thương mại dịch vụ của tỉnh trong tháng tiếp tục ổn định, hàng hoá cung ứng đồi dào, đáp ứng nhu cầu mua sắm của người dân. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trong tháng thực hiện 16.200 tỷ đồng, tăng 1,3% so tháng trước và tăng 17,6% so cùng kỳ. Tám tháng đầu năm 2026, tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thực hiện 127.299 tỷ đồng, tăng 15,2% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 95.027 tỷ đồng, tăng 15,1%; lưu trú 466 tỷ đồng, tăng 24,4%; ăn uống 15.801 tỷ đồng, tăng 16,4%; du lịch lữ hành 259 tỷ đồng, tăng 14,1%; dịch vụ tiêu dùng khác 15.746 tỷ đồng, tăng 14,6% so cùng kỳ.Hình 4. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng2. Xuất - Nhập khẩu (Theo báo cáo Sở Công Thương) a. Xuất khẩu: Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng ước thực hiện 850 triệu USD, tăng 4,8% so tháng trước và tăng 0,23% so cùng kỳ. Tám tháng xuất khẩu ước đạt 6.670 triệu USD, đạt 66,7% kế hoạch, tăng 8,8% so cùng kỳ. Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của tỉnh như sau: - Gạo: ước tính tháng 8/2026 xuất 105 ngàn tấn, giảm 4% so tháng trước; giá trị đạt 48 triệu USD, giảm 4% so tháng trước. Tám tháng xuất 1.577 ngàn tấn, đạt 67,1% kế hoạch, bằng 87,7% so cùng kỳ; giá trị xuất 727 triệu USD, đạt 61,6% kế hoạch và giảm 18,6% so cùng kỳ. - Thuỷ sản chế biến: ước tính tháng 8/2026 xuất 45 ngàn tấn, tăng 1,6% so tháng trước và tăng 3,1% so cùng kỳ; giá trị đạt 110 triệu USD, tăng 4,8% so tháng trước và tăng 2,9% so cùng kỳ. Tám tháng xuất 337 ngàn tấn, đạt 64,8% kế hoạch, tăng 1,3% so cùng kỳ; giá trị xuất 820 triệu USD, đạt 68,4% kế hoạch và tăng 2,1% so cùng kỳ. - Hàng rau quả: về lượng ước đạt 19 ngàn tấn, tăng 56,7% so tháng trước và tăng 9,2% so cùng kỳ; kim ngạch xuất đạt 50 triệu USD, tăng 56,7% so tháng trước và tăng 5,2% so cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng, sản lượng xuất ước đạt 80 ngàn tấn, đạt 67% kế hoạch và tăng 29,1% so cùng kỳ; giá trị xuất khẩu đạt với 198 triệu USD, bằng 62% kế hoạch và tăng 28,8% so cùng kỳ. - Sản phẩm công nghiệp: nhóm hàng công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong xuất khẩu của tỉnh đến cuối tháng 8/2026, như: kim loại thường khác và sản phẩm (kể cả đồng) ước đạt 1.306 triệu USD, đạt 84,2% kế hoạch và tăng 26,8%; sản phẩm ngành may ước đạt 597 triệu USD, đạt 59,7% kế hoạch và giảm 7%; giày dép ước đạt 683 triệu USD, đạt 67% kế hoạch và 1,1%; Sắt thép và sản phẩm từ sắt thép ước đạt 351,5 triệu USD, đạt 78,1% kế hoạch và tăng 10,6%; túi xách, ví, vali, mũ và ô dù ước đạt 134,3 triệu USD, đạt 67,2% kế hoạch và tăng 6,9% so với cùng kỳ,... b. Nhập khẩu: Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 8/2026 ước đạt 435 triệu USD, tăng 6,1% so tháng trước và tăng 1,4% so cùng kỳ. Tám tháng ước đạt 3.575 triệu USD, đạt 71,49% kế hoạch và tăng 7,8% so với cùng kỳ. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu trong tổng kim ngạch nhập khẩu của tỉnh tám tháng như: kim loại thường khác (kể cả nguyên liệu đồng) đạt 1.147 triệu USD tăng 20,7%; nguyên phụ liệu dệt may, gia giày, túi xách (gồm vải) đạt 384 triệu USD, tăng 2,24%; sắt thép các loại đạt 277 triệu USD giảm 5,5%; chất dẻo nguyên liệu 224 triệu USD tăng 29,5% so cùng kỳ;… 3. Chỉ số giá: Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 8/2026 tăng 0,79% (thành thị tăng 0,64%, nông thôn tăng 0,83%) so tháng 7/2026, tăng 5,65% so tháng 8/2025. So với tháng 7/2026, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 6 nhóm tăng: giao thông tăng 4,53%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và VLXD tăng 2,06%; giáo dục tăng 0,87%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,18%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,02%; thông tin và truyền thông tăng 0,02%. Có 5 nhóm giảm đồ uống và thuốc lá giảm 0,55%; thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,26%; hàng hoá và dịch vụ khác giảm 0,14%; may mặc, mũ nón và giầy dép giảm 0,05%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,05%. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 8 tháng năm 2026 so cùng kỳ tăng 4,47%; Một số nhóm hàng có chỉ số tăng như: nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 7,38%, làm CPI chung tăng 1,35 điểm phần trăm do giá nhà ở thuê và giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở đều tăng. Trong đó, chỉ số giá nhà ở thuê và chủ sở hữu tăng 4,65%, chỉ số giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 10,76%, chỉ số giá điện sinh hoạt tăng 6,76%, nước sinh hoạt tăng 2,36%. Chỉ số giá nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 5,97%, làm CPI chung tăng 0,35 điểm phần trăm do giá dịch vụ y tế tăng theo Nghị quyết 126/NQ-HĐND ngày 23/12/2025 về quy định giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp. Chỉ số nhóm giao thông tăng 5,16%, tác động làm CPI chung tăng 0,52 điểm phần trăm, trong đó giá xăng dầu tăng 8,76% do giá xăng, dầu điều chỉnh theo giá nhiên liệu thế giới. Chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,12%, tác động làm CPI chung tăng 1,48 điểm phần trăm, trong đó nhóm lương thực tăng 1,55%, tác động làm CPI chung tăng 0,08 điểm phần trăm; nhóm thực phẩm tăng 4,20%, tác động làm CPI chung tăng 0,94 điểm phần trăm, chủ yếu do giá thịt lợn tăng 6,68%; mỡ ăn tăng 15,09%; nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 5,34% tác động làm CPI chung tăng 0,45 điểm phần trăm. Chỉ số giá vàng trong tháng 8/2026 tăng 1,18% so tháng trước tương ứng tăng 157.720 đồng/chỉ đối với vàng nhẫn trơn 9999, giảm 7,04% so với tháng 12/2025 và tăng 14,06% so với cùng kỳ. Chỉ số giá vàng bình quân 8 tháng năm 2026 tăng 42,05% so cùng kỳ. Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng 8/2026 giảm 0,89% so tháng trước, tương đương giảm 23.504 đồng/100USD và giảm 2,10% so với cùng kỳ. Chỉ số giá Đô la Mỹ bình quân 8 tháng năm 2026 tăng 0,72% so cùng kỳ. 4. Vận tải: Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trong tháng thực hiện 795 tỷ đồng, tăng 1,5% so tháng trước và tăng 23% so cùng kỳ. Tám tháng thực hiện 5.997 tỷ đồng, tăng 18,2% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 2.044 tỷ đồng, tăng 23,8%; doanh thu vận tải hàng hóa thực hiện 2.969 tỷ đồng, tăng 18,1% so cùng kỳ. Doanh thu vận tải đường bộ thực hiện 2.937 tỷ đồng, tăng 22,3%; doanh thu vận tải đường thủy thực hiện 2.075 tỷ đồng, tăng 17,7%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 546 tỷ đồng, tăng 3,9% so cùng kỳ. Vận tải hành khách trong tháng đạt 7.781 ngàn hành khách, tăng 0,6% so tháng trước và tăng 24,6% so cùng kỳ; luân chuyển 221.472 ngàn hành khách.km, tăng 0,3% so tháng trước và giảm 2,6% so cùng kỳ. Tám tháng, vận chuyển 57.594 ngàn hành khách, tăng 17,7% so cùng kỳ; luân chuyển 1.981.650 ngàn hành khách.km, tăng 10,9% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 20.498 ngàn hành khách, tăng 19,2% và luân chuyển 1.961.582 ngàn hành khách.km, tăng 10,8% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 37.096 ngàn hành khách, tăng 16,9% và luân chuyển 20.068 ngàn hành khách.km, tăng 30% so cùng kỳ. Vận tải hàng hóa trong tháng đạt 2.980 ngàn tấn, tăng 3,4% so tháng trước và tăng 29,9% so cùng kỳ; luân chuyển 624.988 ngàn tấn.km, tăng 3,5% so tháng trước và tăng 47,4% so cùng kỳ. Tám tháng, vận tải 21.645 ngàn tấn hàng hóa, tăng 20,2% so cùng kỳ; luân chuyển 4.187.587 ngàn tấn.km, tăng 26,1% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 4.086 ngàn tấn, tăng 2,1% và luân chuyển 708.355ngàn tấn.km, tăng 15,5% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 17.559 ngàn tấn, tăng 25,4% và luân chuyển 3.479.232 ngàn tấn.km, tăng 28,5% so cùng kỳ. * Công tác quản lý phương tiện giao thông: Trong tháng đăng ký mới 10.130 chiếc mô tô xe máy và 1.112 chiếc xe ô tô. Tổng số xe đang quản lý trên địa bàn tỉnh là 3.558.124 chiếc, trong đó mô tô xe máy: 3.439.739 chiếc; ô tô 116.981, xe máy chuyên dụng 1.404 chiếc. 5. Bưu chính viễn thông: Ngành bưu chính viễn thông tập trung hiện đại hóa hạ tầng mạng, tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI), mở rộng mạng lưới bưu chính để cung cấp dịch vụ hành chính công toàn diện. Nâng cấp mạng lưới chuyển phát, đưa ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý vận tải và thương mại điện tử. Đẩy mạnh phát triển hạ tầng cáp quang, mạng 5G và trung tâm dữ liệu. Phục vụ cho mục tiêu chuyển đổi số. Tổng số thuê bao điện thoại có trên mạng ước đến cuối tháng 8 năm 2026 là 3.558.638 thuê bao (bao gồm: hữu tuyến, vô tuyến, trả trước, trả sau). Thuê bao điện thoại bình quân đạt 104,55 thuê bao/100 dân. Số thuê bao điện thoại di động có sử dụng Internet (3G, 4G) đến cuối tháng 8 là: 3.265.097 thuê bao. Tổng số thuê bao Internet trên mạng ước tính đến cuối tháng 8 năm 2026 là 4.082.740 thuê bao (bao gồm: băng rộng di động 3G, 4G; MyTV và Cáp; băng rộng cố định FTTH, xDSL, Leased-line, CATV). Mật độ Internet bình quân ước đạt 119,95 thuê bao/100 dân. V. TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG 1. Tài chính: Tổng thu ngân sách nhà nước trong tháng thực hiện 3.882 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn 1.580 tỷ đồng; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 276 tỷ đồng. Tám tháng, thu 29.775 tỷ đồng; trong đó, thu ngân sách trên địa bàn thực hiện 16.850 tỷ đồng, đạt 70,9% dự toán và tăng 4,1% so cùng kỳ; thu nội địa 16.086 tỷ đồng, đạt 69,3% dự toán, tăng 3,4% so cùng kỳ (trong thu ngân sách trên địa bàn: thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 2.916 tỷ đồng, đạt 72% dự toán, tăng 15,4% so cùng kỳ; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 4.134 tỷ đồng, đạt 86,1% dự toán, tăng 28,9% so cùng kỳ...). Tổng chi ngân sách nhà nước trong tháng 4.381 tỷ đồng; trong đó: chi đầu tư phát triển 1.830 tỷ đồng. Tám tháng, chi 26.359 tỷ đồng, đạt 63,6 dự toán và giảm 3,4% so cùng kỳ; trong đó: chi đầu tư phát triển 5.724 tỷ đồng, đạt 47,6% dự toán, giảm 30,3% so cùng kỳ; chi hành chính sự nghiệp 14.978 tỷ đồng, đạt 66,5% dự toán và giảm 6,7% so cùng kỳ. 2. Ngân hàng: Các tổ chức tín dụng (TCTD) hoạt động ổn định, hiệu quả, bảo đảm thanh khoản, điều tiết tín dụng vào sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên,…Đến cuối tháng 7/2026, các mức lãi suất trên địa bàn tỉnh như sau: Lãi suất huy động: Mặt bằng lãi suất của các kỳ hạng như sau: tiền gửi kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng dao động từ 2,48% - 9,2%/năm đối với khách hàng cá nhân và từ 2,5%-9,14%/năm đối với khách hàng pháp nhân; tiền gửi trên 12 tháng, lãi suất dao động từ 3,19%- 9,02%/năm đối với khách hàng cá nhân và từ 2,5%-8,5%/năm đối với khách hàng pháp nhân. Lãi suất cho vay: Các tổ chức tín dụng trên địa bàn chấp hành nghiêm mức trần lãi suất cho vay ngắn hạn đối với các lĩnh vực ưu tiên. Lãi suất cho vay VNĐ bình quân chung trên địa bàn tỉnh 9,09%/năm, tăng 1,33% so với cuối năm 2025. Đến cuối tháng 7/2026, vốn huy động đạt 223.089 tỷ, tăng 7,16% so với cuối năm 2025. Tổng dư nợ cho vay của các tổ chức tín dụng (TCTD) trong tỉnh đạt 248.476 tỷ, tăng 2,08% so với cuối năm 2025. Ước đến cuối tháng 8/2026, nguồn vốn huy động đạt 225.320 tỷ, tăng 8,23% so với cuối năm 2025; tổng dư nợ đạt 250.961 tỷ, tăng 3,10% so với cuối năm 2025.Nợ xấu: đến cuối tháng 6/2026 nợ xấu đạt 6.698 tỷ đồng; tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là 2,72%, so với cuối năm 2025. Ước đến cuối tháng 8/2026 tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ dưới 3%. Quỹ tín dụng nhân dân: đến cuối tháng 7/2026, tổng nguồn vốn hoạt động đạt 2.750 tỷ đồng, giảm 134 tỷ đồng, giảm 4,65% so cuối năm 2025; tổng dư nợ cho vay đạt 2.365 tỷ đồng; tăng 26 tỷ đồng, tăng 1,11% so với cuối năm 2025; Tỷ lệ nợ xấu 0,93%. VI. KHOA HỌC CÔNG NGHỆ Trong tháng tập trung thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ như: tuyển chọn, xét duyệt, thẩm định, đánh giá, nghiệm thu… các nhiệm vụ khoa học và công nghệ theo quy định. Tuyển chọn thực hiện 02 nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh, đến nay thực hiện 22 nhiệm vụ; Thẩm định kinh phí thực hiện 02 nhiệm vụ cấp tỉnh, lũy kế thực hiện 15 nhiệm vụ. Phê duyệt tổ chức chủ trì, chủ nhiệm, kinh phí, phương thức khoán chi và thời gian thực hiện 09 nhiệm vụ cấp tỉnh, lũy kế 17 nhiệm vụ. Kiểm tra, đánh giá tiến độ thực hiện 05 nhiệm vụ cấp tỉnh, lũy kế 11 nhiệm vụ; Nghiệm thu kết quả 01 nhiệm vụ cấp cơ sở, lũy kế 08 nhiệm vụ cấp tỉnh, 04 nhiệm vụ cấp cơ sở. Gia hạn thời gian thực hiện 01 nhiệm vụ cấp tỉnh. lũy kế 02 nhiệm vụ; Dừng thực hiện 01 nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Tiền Giang tập 4 giai đoạn 2015-2025”. VII. CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Lao động việc làm Trong tháng, đã giải quyết việc làm cho 3.157 lao động. Nâng tổng số lao động được giải quyết việc làm từ đầu năm đến nay là 33.250 lao động đạt 67% so với kế hoạch. Trong tháng tổ chức 17 phiên giao dịch việc làm với 50 lượt doanh nghiệp, trên 4.100 người tham gia. Lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài trong tháng là 68 lao động. Nâng tổng số lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài từ đầu năm đến nay là 1.803 lao động, đạt 75% kế hoạch, trong đó Hàn Quốc: 782 lao động, Nhật Bản: 805 lao động, Đài Loan: 127 lao động,... Về trợ cấp thất nghiệp, trong tháng có 2.452 lao động được hưởng trợ cấp. Từ đầu năm đến nay, có 20.053 lao động được giải quyết chế độ trợ cấp thất nghiệp, với tổng kinh phí chi trả trên 387,8 tỷ đồng, góp phần hỗ trợ kịp thời đời sống, giúp người lao động ổn định trong giai đoạn tìm kiếm việc làm mới. 2. Chính sách xã hội Trong tháng, các chế độ, chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng được thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định. Trong đó, đã thực hiện trợ cấp một lần cho người thờ cúng liệt sĩ và chuyển đổi người thờ cúng liệt sĩ đối với 105 trường hợp; trợ cấp mai táng phí và trợ cấp một lần bằng 03 tháng trợ cấp đối với 135 trường hợp. Nhân dịp kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), toàn tỉnh đã tổ chức thăm hỏi, tặng quà người có công với cách mạng và thân nhân người có công từ các nguồn kinh phí, với tổng số 125.278 suất quà, tổng kinh phí 52.342,4 triệu đồng. Trong đó, quà của Chủ tịch nước 54.001 suất, kinh phí 16.350,9 triệu đồng; quà từ nguồn ngân sách địa phương theo Nghị quyết số 42/2025/NQ-HĐND ngày 23/12/2025 của Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Tháp 71.277 suất, kinh phí 35.991,5 triệu đồng. 3. Hoạt động giáo dục Ngày 31/7/2026, UBND tỉnh Đồng Tháp ban hành Phương án số 1180/PA-UBND về sắp xếp các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, giáo dục thường xuyên và giáo dục nghề nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh. Theo phương án, trước khi sắp xếp, toàn tỉnh có 1.075 cơ sở giáo dục; sau khi sắp xếp, còn 375 cơ sở, giảm 700 cơ sở, tương ứng giảm 65,1% so với thời điểm 01/7/2025. Trong đó, bậc mầm non còn 102 trường (giảm 237 trường); khối giáo dục phổ thông còn 265 trường (giảm 456 trường). Việc tổ chức, sắp xếp mạng lưới cũng được triển khai đối với giáo dục thường xuyên và giáo dục nghề nghiệp. Ngày 17/8/2026, UBND tỉnh Đồng Tháp ban hành Quyết định số 2644/QĐ-UBND về khung Kế hoạch thời gian năm học 2026-2027 đối với giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên. Theo đó, học sinh các khối lớp 1, 9 và 12 tựu trường sớm nhất trước 02 tuần so với ngày tổ chức khai giảng, các khối lớp còn lại tựu trường sớm nhất trước 01 tuần so với ngày khai giảng. Lễ khai giảng năm học mới diễn ra vào ngày 05/9/2026. 4. Hoạt động y tế Trong tháng có 15/44 bệnh truyền nhiễm được ghi nhận. Cộng dồn số ca mắc so với cùng kỳ, có 17 bệnh tăng (Bệnh do liên cầu lợn ở người, Rubella, Sốt xuất huyết Dengue, Tay - chân - miệng, Viêm màng não do não mô cầu, Dại, Liệt mềm cấp nghi bại liệt, Lao phổi, Thương hàn, Uốn ván khác, Viêm gan vi rút A, Viêm gan vi rút B, Viêm não Nhật Bản, Xoắn khuẩn vàng da, Lỵ amíp, Quai bị, Covid-19); 10 bệnh giảm (Sởi, Ho gà, Viêm gan vi rút C, Viêm não virus khác, Bệnh do vi rút Adeno, Cúm, Lỵ trực trùng, Thủy đậu, Tiêu chảy, Viêm gan vi rút khác); 17 bệnh tương đương hoặc không xảy ra ca mắc. Các bệnh truyền nhiễm trong tháng ghi nhận như: bệnh sốt xuất huyết 869 ca mắc, không có ca tử vong; bệnh tay - chân - miệng 794 ca, không có ca tử vong. Cộng dồn số ca mắc bệnh sốt xuất huyết: 5.139 ca, tăng 100,7%, 01 ca tử vong (cùng kỳ không có ca tử vong); bệnh tay – chân – miệng: 4.150 ca, tăng 31,3% so với cùng kỳ, 01 ca tử vong (cùng kỳ không có ca tử vong). Phòng chống HIV/AIDS trên địa bàn tỉnh tính đến nay là 16.322 người nhiễm HIV; 5.051 người chuyển sang AIDS; 3.950 người tử vong do AIDS.Khám chữa bệnh trong tháng cho 685,8 nghìn lượt người, giảm 7,4% so với cùng kỳ; trong đó, số người điều trị nội trú 43,5 nghìn lượt người, giảm 5,3%. Cộng dồn từ đầu năm, đã khám chữa bệnh trên 4,5 triệu lượt người, giảm 5,3%; trong đó, số người điều trị nội trú trên 285,6 nghìn lượt người, giảm 3,1%. Công suất sử dụng giường bệnh bình quân trong tháng đạt 85,3%. 5. Hoạt động văn hóa - thể thao a. Hoạt động văn hóa nghệ thuật: trong tháng tập trung công tác truyền thông, tuyên truyền kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026); “Chiến dịch 500 ngày đêm” tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ; Đại hội Đại biểu Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam tỉnh Đồng Tháp lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2029; Lễ Tưởng niệm 162 năm Ngày Anh hùng dân tộc Trương Định tuẫn tiết; kỷ niệm 81 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9. Thiết kế pano, phướn tuyên truyền, trang trí khánh tiết nhà Thuỷ tạ Lễ Tưởng niệm 162 năm Ngày Anh hùng dân tộc Trương Định tuẫn tiết (20/8/1864 - 20/8/2026); tổ chức trưng bày chuyên đề “Di sản văn hóa tỉnh Đồng Tháp” phục vụ Lễ Tưởng niệm 162 năm Ngày Anh hùng dân tộc Trương Định tuẫn tiết tại Đền thờ Trương Định, xã Gia Thuận. b. Hoạt động thư viện: hoạt động thư viện trên địa bàn tỉnh tiếp tục được duy trì ổn định, đáp ứng nhu cầu đọc và khai thác thông tin của người dân cả trực tiếp và trực tuyến. Trong tháng, hệ thống thư viện đã phục vụ 53.612 lượt người, với 160.836 lượt tài liệu; trong đó, phục vụ qua không gian mạng 559.911 lượt truy cập. c. Hoạt động bảo tàng: trong tháng, các cơ sở bảo tàng trên địa bàn tỉnh tiếp tục phục vụ khách tham quan tại các chuyên đề trưng bày cố định; đồng thời tổ chức trưng bày chuyên đề “Di sản văn hóa tỉnh Đồng Tháp” phục vụ Lễ Tưởng niệm 162 năm Ngày Anh hùng dân tộc Trương Định tuẫn tiết tại Đền thờ Trương Định, xã Gia Thuận. Trong tháng, bảo tàng tại 02 cơ sở đón 2.143 lượt khách, trong đó có 19 đoàn khách và 05 lượt khách quốc tế. Cộng dồn từ đầu năm đến nay, bảo tàng đã phục vụ 20.798 lượt khách, gồm 109 đoàn khách và 56 lượt khách quốc tế. d. Hoạt động thể dục, thể thao: trong tháng, thể thao thành tích cao tiếp tục được duy trì đào tạo lực lượng 26 môn thể thao thành tích cao. Trong tháng, các đội tuyển thể thao của tỉnh tham gia 16 giải thể thao quốc gia, quốc tế đạt 25 huy chương Vàng, 29 huy chương Bạc, 34 huy chương Đồng. Nổi bật, tham dự 03 giải quốc tế đạt 02 huy chương vàng, 01 huy chương bạc, 01 huy chương đồng.6. Tình hình trật tự an toàn xã hội (theo báo cáo ngành Công an)Trong tháng xảy ra 84 vụ phạm tội về trật tự xã hội, làm chết 03 người, bị thương 28 người, tài sản thiệt hại khoảng 11,4 tỷ đồng. Tính từ đầu năm đến nay, tổng số vụ phạm tội là 763 vụ, giảm 76 vụ so với cùng kỳ. Về tội phạm ma túy trong tháng, lực lượng chức năng đã phát hiện, xử lý 79 vụ với 130 đối tượng, trong đó, có 17 vụ với 22 đối tượng tàng trữ trái phép chất ma túy, 05 vụ với 09 đối tượng mua bán trái phép chất ma túy, 18 vụ với 60 đối tượng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, 39 vụ với 39 đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. 7. Trật tự an toàn giao thông (theo báo cáo ngành Công an, số liệu tính từ ngày 15/7/2026 đến 14/8/2026) Tai nạn giao thông đường bộ: trong tháng, xảy ra 34 vụ, tăng 04 vụ so tháng trước và giảm 02 vụ so với cùng kỳ. Hậu quả làm chết 29 người (tăng 05 người so tháng trước, giảm 03 người so với cùng kỳ) và 09 người bị thương (giảm 04 người so tháng trước, giảm 03 người so với cùng kỳ). Cộng dồn từ đầu năm đến tháng báo cáo, toàn tỉnh đã xảy ra 344 vụ, giảm 51 vụ so với cùng kỳ; làm chết 283 người (tăng 02 người) và làm bị thương 121 người (giảm 72 người). Các nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông chủ yếu vẫn do ý thức chấp hành Luật Giao thông đường bộ của người tham gia giao thông như: uống rượu say, điều khiển xe khi có rượu bia, phóng nhanh vượt ẩu, không làm chủ tốc độ; không đi đúng phần đường, làn đường; không nhường đường, vượt đèn đỏ, thiếu quan sát… Tai nạn giao thông đường thủy: trong tháng không xảy ra. Cộng dồn từ đầu năm đến nay là 03 vụ làm chết 02 người, tương đương về số vụ và số người chết so với cùng kỳ. 8. Tình hình cháy nổ, môi trường và thiên tai Cháy, nổ: trong tháng xảy ra 01 vụ cháy, thiệt hại tài sản khoảng 2 tỷ đồng; nguyên nhân chủ yếu do sự cố hệ thống thiết bị điện. Tính từ đầu năm đến nay, xảy ra 27 vụ cháy, tăng 13 vụ; làm chết 02 người, giảm 02 người so với cùng kỳ. Môi trường: trong tháng xảy ra 01 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý 01 vụ, với số tiền xử phạt 1,5 triệu đồng. Tính từ đầu năm, xảy ra 17 vụ vi phạm môi trường, giảm 25 vụ so với cùng kỳ; đã xử lý 18 vụ với tổng số tiền xử phạt trên 1,3 tỷ đồng. Thiên tai: trong tháng trên địa bàn tỉnh xảy ra 10 vụ thiên tai với tổng giá trị tài sản thiệt hại ước tính 973 triệu đồng, trong đó gồm 06 vụ mưa, giông lốc (tại các xã Thanh Bình, Bình Phú, Mỹ An Hưng, Tân Dương, Thanh Mỹ, Cái Bè, Tân Khánh Trung, Phong Mỹ, Tân Phú Đông, Tân Hồng, An Long, Bình Thành và Phường Hồng Ngự) làm sập 01 căn nhà, tốc mái 30 căn (trong đó có 12 căn tốc mái hoàn toàn), ngã đổ 04 gốc sầu riêng 10 - 15 năm tuổi; 04 vụ sạt lở nội đồng (tại các xã Long Hưng, Tân Long, Tân Dương, Hội Cư) với tổng chiều dài 106 m; làm hư hỏng một phần mặt đường, sụp lún nhiều đoạn đường gây ảnh hưởng trực tiếp đến đi lại, sinh hoạt của người dân, không đảm bảo an toàn giao thông trên địa bàn.

Đồng Tháp tổ chức Tổng kết Tổng điều tra kinh tế năm 2026
  •   2026/08/27 21:30

Chiều 27/8/2026, Ban chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế (TĐTKT) tỉnh Đồng Tháp tổ chức Hội nghị tổng kết Tổng điều tra kinh tế năm 2026 trên địa bàn tỉnh. Hội nghị được kết nối trực tuyến đến các điểm cầu cấp xã. Đồng chí Nguyễn Thành Diệu, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban Chỉ đạo TĐTKT năm 2026 tỉnh Đồng Tháp chủ trì Hội nghị.Ảnh: Đồng chí Nguyễn Thành Diệu, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban chỉ đạo phát biểu tại hội nghị. Theo kết quả sơ bộ, cuộc TĐTKT năm 2026 trên địa bàn tỉnh tổ chức thu thập thông tin của 218.019 đơn vị điều tra. Bao gồm 10.892 doanh nghiệp, hợp tác xã; 205.072 cơ sở SXKD cá thể; 391 tổ hợp tác; 79 đơn vị sự nghiệp ngoài công lập, hiệp hội và 1.585 cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng. So với cuộc Tổng điều tra kỳ trước, phạm vi thu thập thông tin mở rộng thêm đối với Tổ hợp tác, góp phần phản ánh đầy đủ hơn bức tranh kinh tế - xã hội của tỉnh. Ảnh: Bà Trần Thị Mỹ Hạnh,  Trưởng Thống kê tỉnh,  Phó Ban chỉ đạo báo cáo tổng kết côtng tác Tổng điều tra Kết quả sơ bộ cho thấy khu vực doanh nghiệp tiếp tục là động lực tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế. Mặc dù môi trường kinh doanh còn nhiều khó khăn, số lượng doanh nghiệp hoạt động vẫn duy trì xu hướng tăng, phản ánh khả năng thích ứng và phục hồi của khu vực doanh nghiệp. Đặc biệt, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) tiếp tục mở rộng, khẳng định sức hấp dẫn của môi trường đầu tư Việt Nam. Tính đến thời điểm 31/12/2025, tỉnh Đồng Tháp có 10.492 doanh nghiệp đang hoạt động có kết quả SXKD, tăng 7,76% so với năm 2024 và tăng 36,28% (tương ứng 2.793 doanh nghiệp) so với năm 2020. Bên cạnh khu vực doanh nghiệp, khu vực cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Năm 2025, toàn tỉnh có 205.072 cơ sở sản SXKD cá thể phi nông, lâm nghiệp và thủy sản, tăng 6,43% (tương ứng 12.397 cơ sở) so với năm 2020. Mặc dù số lượng cơ sở tiếp tục tăng nhưng tốc độ tăng không đáng kể so với số liệu kỳ Tổng điều tra trước. Kết quả này phản ánh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng khu vực doanh nghiệp ngày càng phát triển, đồng thời cho thấy khu vực kinh tế cá thể đang chịu nhiều sức ép trước yêu cầu đổi mới mô hình sản xuất kinh doanh, nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh. Khu vực Hợp tác xã (HTX) tiếp tục tăng về số lượng. Tính đến thời điểm 31/12/2025, toàn tỉnh có 400 HTX đang hoạt động có kết quả SXKD, tăng 13,31% (tương ứng 47 đơn vị) so năm 2020. Cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng tiếp tục tăng về số lượng, năm 2025 toàn tỉnh có 1.585 cơ sở thuộc các tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau, tăng 7,24% (tương ứng 107 cơ sở) so với năm 2020. Sự phát triển của doanh nghiệp kéo theo sự gia tăng về quy mô lao động. Tổng số lao động làm việc trong khu vực doanh nghiệp tính đến cuối năm 2025 đạt 280.028 người. Lực lượng này tăng 4,31% so với năm 2024 và tăng 17,37% (tương ứng 41.447 người) so với năm 2020, trong đó khu vực ngoài nhà nước và khu vực FDI tiếp tục là những khu vực tạo việc làm lớn nhất cho nền kinh tế. Lao động trong khu vực cơ sở SXKD cá thể đạt 343.405 người, tăng 5,15% (tương ứng 16.827 người) so với năm 2020. Điều này phản ánh quá trình chuyển dịch lao động sang khu vực doanh nghiệp và các khu vực có năng suất cao hơn, đồng thời cho thấy yêu cầu cấp thiết về đổi mới mô hình sản xuất, nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh của khu vực kinh tế cá thể. Khu vực HTX tính đến thời điểm 31/12/2025, lực lượng lao động có 5.282 người, tăng 38,59% (tương ứng 1.471 người) so năm 2020. Cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng tiếp tục tăng cả về số lượng và lao động. Năm 2025, toàn tỉnh có 6.569 chức sắc, nhà tu hành làm việc thường xuyên tại các cơ sở tôn giáo và tín ngưỡng khác nhau, tăng 12,71% (tương ứng 741 người) so với năm 2020. Ảnh: Đồng chí Võ Tấn Tân, Phó Trưởng Thuế tỉnh, phát biểu tham luận Một điểm đáng chú ý của kỳ TĐTKT năm nay là việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo (AI) và bản đồ số trong quá trình điều tra, qua đó rút ngắn đáng kể thời gian điều tra thực địa.  Kết quả sơ bộ được hoàn thành đúng tiến độ, được Trung ương nghiệm thu và đánh giá chất lượng tốt. Báo cáo chính thức cùng các phân tích chuyên sâu dự kiến được công bố vào tháng 12-2026.Ảnh: Đồng chí Nguyễn Thành Diệu trao Bằng khen của Bộ Tài chính cho các tập thể, cá nhân. Kết quả sơ bộ cho thấy, bức tranh kinh tế Đồng Tháp giai đoạn 2021 - 2026 có nhiều chuyển biến tích cực về quy mô, cơ cấu và chất lượng tăng trưởng. Đây là nguồn dữ liệu quan trọng phản ánh thực trạng, quá trình phục hồi, phát triển và chuyển đổi của nền kinh tế địa phương. Phát biểu chỉ đạo, đồng chí Nguyễn Thành Diệu ghi nhận, biểu dương tinh thần trách nhiệm của Ban Chỉ đạo các cấp, đội ngũ điều tra viên, giám sát viên cùng các sở, ngành, địa phương trong quá trình triển khai cuộc Tổng điều tra.Ảnh: Đồng chí Nguyễn Thành Diệu trao Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh cho các tập thể, cá nhân. Đồng chí nhấn mạnh, số liệu thống kê phải bảo đảm đúng, đủ, chuẩn và kịp thời, bởi đây là cơ sở quan trọng phục vụ công tác lãnh đạo, điều hành và hoạch định chính sách. Các địa phương cần chủ động khai thác kết quả TĐTKT để đánh giá sát thực trạng kinh tế trên địa bàn; đồng thời, tiếp tục rà soát, cập nhật những cơ sở có biến động, từng bước xây dựng và hoàn thiện hệ thống dữ liệu thống nhất giữa cơ quan Thống kê, Thuế và các cơ quan quản lý nhà nước. Phó Chủ tịch UBND tỉnh đề nghị ngành Thống kê tiếp tục hướng dẫn các sở, ngành, địa phương nâng cao chất lượng công tác thống kê, tổng hợp, phân tích dữ liệu và báo cáo; bảo đảm số liệu phản ánh sát năng lực, tiềm năng và mức độ phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương và toàn tỉnh. Theo đồng chí Nguyễn Thành Diệu, kết quả TĐTKT năm 2026 là nguồn dữ liệu nền tảng phục vụ đánh giá, phân tích, xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong giai đoạn tiếp theo. Việc khai thác hiệu quả nguồn dữ liệu này sẽ góp phần nâng cao chất lượng công tác chỉ đạo, điều hành, tạo cơ sở cho thu hút đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an sinh xã hội. Dịp này, Ban Tổ chức công bố Quyết định khen thưởng bằng khen của Bộ Tài chính cho 02 tập thể và 07 cá nhên, Quyết định khen thưởng bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh cho 10 tập thể và 24 cá nhân; Quyết định của Trưởng Thống kê tỉnh khen thưởng giấy khen cho 24 tập thể và 192 cá nhân có thành tích xuất sắc trong thực hiện TĐTKT năm 2026.                                                                                                          N.V.Tròn

Hội nghị tập huấn nâng cao nghiệp vụ công tác thống kê tại tỉnh Đồng Tháp
  •   2026/08/24 15:34

Sáng ngày 24-8 tại Trung tâm hội nghị tỉnh, UBND tỉnh Đồng Tháp phối hợp Cục Thống kê, Bộ Tài chính tổ chức Hội nghị tập huấn nâng cao nghiệp vụ công tác thống kê trên địa bàn tỉnh nhằm nâng cao chất lượng công tác thống kê, nhất là việc đánh giá, biên soạn chỉ tiêu tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) và biên soạn Tổng giá trị sản phẩm trên địa bàn xã, phường Hội nghị được tổ chức theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến, kết nối giữa điểm cầu tỉnh Đồng Tháp và điểm cầu Cục Thống kê, với trên 370 đại biểu tham dự. Tham dự tại điểm cầu tỉnh có các đồng chí: Ngô Chí Cường, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh; Phạm Thành Ngại, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh; lãnh đạo các sở, ngành tỉnh; các đồng chí là Bí thư, Chủ tịch UBND và cán bộ thống kê các xã, phường. Đồng chí Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê chủ trì tại điểm cầu Cục Thống kê. Ảnh: Toản cảnh Hội nghị Phát biểu tại hội nghị, đồng chí Phạm Thành Ngại, Chủ tịch UBND tỉnh nhấn mạnh, công tác thống kê có vai trò quan trọng, cung cấp thông tin phục vụ trực tiếp công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh. Thời gian qua, các ngành, địa phương đã chủ động phối hợp, từng bước nâng cao chất lượng thống kê, góp phần giúp công tác chỉ đạo, điều hành sát thực tế, kịp thời và hiệu quả hơn. Nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cán bộ xã, phường trong công tác điều tra, thu thập, tổng hợp và quản lý thông tin thống kê; bảo đảm số liệu thống kê ở cơ sở chính xác, đầy đủ, kịp thời, đầy đủ.Ảnh: Đồng chí Phạm Thành Ngại, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh phát biểu khai mạc tại Hội nghị Tại hội nghị, đại biểu đã tập trung lắng nghe các bài trình bày của báo cáo viên giới thiệu phương pháp tính chỉ tiêu GRDP và các chỉ tiêu thuộc Hệ thống tài khoản quốc gia; chỉ tiêu tốc độ tăng tổng giá trị sản phẩm trên địa bàn xã và thu nhập bình quân đầu người trên địa bàn xã; phương pháp tính và nguồn số liệu đầu vào để tính giá trị sản xuất các ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản; công nghiệp và xây dựng; thương mại, dịch vụ.  Đồng chí Phạm Thành Ngại đề nghị các đại biểu tập trung nghiên cứu, tiếp thu đầy đủ nội dung được báo cáo viên truyền đạt; đồng thời tăng cường trao đổi giữa người thực hiện và người quản lý công tác thống kê tại các phòng, ban, Thống kê cơ sở.Ảnh: Đồng chí Ngô Chí Cường, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị Phát biểu chỉ đạo, Bí thư Tỉnh ủy Ngô Chí Cường đề nghị công tác thống kê phải được thực hiện thường xuyên, chủ động, bảo đảm số liệu đúng, đủ, kịp thời, chính xác, phản ánh sát tình hình thực tế. Việc chậm cập nhật, bỏ sót thông tin có thể ảnh hưởng đến kết quả đánh giá tăng trưởng và công tác lãnh đạo, điều hành của tỉnh, các sở, ngành, địa phương phân công cụ thể cán bộ phụ trách thống kê, gắn trách nhiệm của cá nhân với kết quả thực hiện nhiệm vụ; đồng thời tăng cường kiểm tra, đánh giá định kỳ, kịp thời biểu dương những đơn vị thực hiện tốt và chấn chỉnh các trường hợp chậm trễ, thiếu trách nhiệm. Nâng cao chất lượng thông tin thống kê ở cơ sở là yêu cầu quan trọng nhằm phục vụ hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của chính quyền địa phương. Thông qua tập huấn, cán bộ sở, ngành và các xã, phường được củng cố kiến thức, nâng cao kỹ năng thu thập, kiểm tra và cung cấp thông tin, góp phần xây dựng hệ thống thông tin thống kê chính xác, kịp thời, đầy đủ, thống nhất và có chất lượng.N.X.Trường

Cục Thống kê giám sát công tác Điều tra thu thập thông tin lập bảng cân đối liên ngành và biên soạn hệ số chi phí trung gian năm 2026 tại tỉnh Đồng Tháp
  •   2026/08/24 15:26

Thực hiện quyết định số 1124/QĐ-CTK ngày 11/9/2025 của Cục Thống kê, về việc ban hành Phương án Điều tra thu thập thông tin lập bảng cân đối liên ngành và biên soạn hệ số chi phí trung gian năm 2026 (gọi tắt là điều tra IO). Trong hai ngày 23 - 24/8/2026, Đoàn giám sát số 07 của Cục Thống kê do ông Nguyễn Quang Phương, Phó Tổ trưởng Tổ thu thập và xử lý dữ liệu điều tra thống kê, Ban điều tra Thống kê, làm Trưởng đoàn giám sát công tác triển khai điều tra trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp. Đoàn đã giám sát điều tra viên phỏng vấn điều tra tại hộ, cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể, các đơn vị vô vị lợi; hướng dẫn công tác kê khai trên web đối với các doanh nghiệp và các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, hiệp hội. Trong 02 ngày đoàn đã giám sát các địa bàn quản lý của Thống kê cơ sở Mỹ Tho, Châu Thành, Chợ Gạo, Lấp Vò, Hoà Long. Qua giám sát Đoàn đánh giá cao công tác tổ chức triển khai thực hiện trên địa bàn tỉnh, từ khâu rà soát mẫu điều tra, tập huấn, tuyển chọn điều tra viên, công tác phối hợp với các xã, phường trong tổ chức điều tra… Đồng thời trao đổi, hướng dẫn xử lý những khó khăn, vướng mắc, nhấn mạnh những điểm cần lưu ý trong quá trình triển khai thực hiện. Góp phần đảm bảo cho công tác Điều tra IO năm 2026 thực hiện đúng phương án, đúng quy trình, nâng cao chất lượng số liệu thống kê phục vụ công tác tổng hợp, biên soạn Bảng cân đối liên ngành và tính hệ số chi phí.Một số hình ảnh hoạt động giám sát tại một số đơn vị, địa bàn điều tra:L.T.T.Thuỷ

Đoàn công tác của Cục Thống kê đến làm việc tại tỉnh Đồng Tháp
  •   2026/08/21 16:01

Sáng 21-8, Đoàn công tác của Cục Thống kê do đồng chí Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê làm Trưởng đoàn có buổi làm việc với UBND tỉnh Đồng Tháp về tình hình phát triển kinh tế - xã hội 7 tháng đầu năm và nhiệm vụ của các còn lại của năm 2026. Tiếp và làm việc với Đoàn công tác có các đồng chí: Phạm Thành Ngại, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh; Trần Văn Dũng, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh; đại diện lãnh đạo các sở, ngành liên quan; Lãnh đạo Thống kê tỉnh và lãnh đạo các phòng chuyên môn của Thống kê tỉnh… Ảnh: Các đại biểu tham dự hội nghị Theo báo cáo, hiện nay Đồng Tháp đang tập trung rất cao cho nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, phấn đấu năm 2026 đạt tốc độ tăng trưởng GRDP 8,21% và giai đoạn 2026–2030 đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 9%/năm, phấn đấu đến năm 2030 đạt mức tăng trưởng 10%. Với kết quả đạt được trong 6 tháng đầu năm 2026, tăng trưởng của tỉnh đạt 7,14%; để đạt mức tăng 8,21% như mục tiêu Chính phủ giao, nhiệm vụ còn lại của 6 tháng cuối năm tăng trưởng của tỉnh phải đạt mức tăng trưởng 9,17% (kịch bản quí III tăng 8,51%, 9 tháng tăng 7,63% và quí IV tăng 9,81%). Với sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị, qua kết quả thực hiện 7 tháng đầu năm, cho thấy kinh tế của tỉnh chuyển biến theo xu hướng tích cực, các chỉ số đều tăng khá so cùng kỳ: chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 12,36%; doanh thu bán lẽ hàng hoá và dịch vụ tăng 15,1%; xuất khẩu tăng 10,5%; xây dựng trên địa bàn tỉnh có nhiều dự án trọng điểm sẽ tăng tốc trong những tháng cuối năm; trong đó có những dự án tồn động các năm trước, Tỉnh uỷ đã chỉ đạo quyết tâm hoàn thành trong năm 2026… Dự báo cả năm đạt mục tiêu đề ra. Tại buổi làm việc, đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành tỉnh Đồng Tháp trao đổi về tình hình phát triển kinh tế - xã hội; các động lực, dư địa tăng trưởng trong những tháng cuối năm 2026; công tác rà soát, cập nhật số liệu, kết nối và khai thác dữ liệu phục vụ lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành.  Các ý kiến tập trung vào những lĩnh vực chủ yếu như: Công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng, thương mại - dịch vụ, đầu tư công…; đồng thời, phân tích những thuận lợi, khó khăn và vướng mắc trong quá trình thực hiện nhiệm vụ đặc thù của từng ngành, lĩnh vực.Ảnh: Ông Phạm Thành Ngại, Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp phát biểu tại buổi làm việc Đồng chí Phạm Thành Ngại mong muốn, Cục Thống kê tiếp tục quan tâm, hỗ trợ tỉnh trong đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực làm công tác thống kê. Đồng thời đồng chí Phạm Thành Ngại đề nghị, các sở, ban, ngành tỉnh nghiên cứu, tiếp thu đầy đủ các ý kiến của Đoàn công tác; bám sát các quy định, hướng dẫn và chỉ đạo để đổi mới công tác thống kê theo hướng chính xác, kịp thời, tính đúng, tính đủ; qua đó, cung cấp thông tin, số liệu tin cậy, phục vụ hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Phát biểu tại buổi làm việc, đồng chí Nguyễn Thị Hương đánh giá cao sự quan tâm của tỉnh đối với công tác thống kê; đồng thời, trao đổi về phương pháp đánh giá kết quả lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn.Ảnh: Bà Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê phát biểu tại buổi làm việc Cục trưởng Cục Thống kê đề nghị, tỉnh tiếp tục phối hợp chặt chẽ với cơ quan Thống kê trong rà soát, đối chiếu các nguồn số liệu… nhằm bảo đảm số liệu thống kê đầy đủ, chính xác, phản ánh sát thực chất bức tranh kinh tế của địa phương.                                                                                                    N.V.Tròn

Thống kê tỉnh Đồng Tháp tập huấn nghiệp vụ và hướng dẫn sử dụng phần mềm điều tra thu thập thông tin lập bảng cân đối liên ngành và biên soạn hệ số chi phí trung gian năm 2026
  •   2026/08/10 14:15

Sáng ngày 10/8/2026, tại Hội trường Thống kê tỉnh Đồng Tháp, Thống kê tỉnh tổ chức Hội nghị tập huấn nghiệp vụ và hướng dẫn sử dụng phần mềm Điều tra thu thập thông tin lập bảng cân đối liên ngành và biên soạn hệ số chi phí trung gian năm 2026 (Điều tra IO năm 2026). Đồng chí Trần Thị Mỹ Hạnh, Trưởng Thống kê tỉnh Đồng Tháp, chủ trì và phát biểu khai mạc Hội nghị. Tham dự Hội nghị có đồng chí Lê Văn Niệm Phó trưởng Thống kê tỉnh; các đồng chí lãnh đạo và thống kê viên các phòng nghiệp vụ Thống kê tỉnh; lãnh đạo, thống kê viên Thống kê cơ sở; điều tra viên thực hiện điều tra. Đội ngũ báo cáo viên của Hội nghị gồm lãnh đạo các phòng, thống kê viên có nhiều kinh nghiệm trực tiếp hướng dẫn nghiệp vụ và hỗ trợ thực hành phần mềm cho học viên. Ảnh: Bà Trần Thị Mỹ Hạnh, Trưởng Thống kê phát biểu khai mạc Hội nghị Phát biểu khai mạc Hội nghị, Trưởng Thống kê Trần Thị Mỹ Hạnh nhấn mạnh, Điều tra thu thập thông tin lập bảng cân đối liên ngành và biên soạn hệ số chi phí trung gian năm 2026 là cuộc điều tra chuyên đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thu thập thông tin phục vụ biên soạn Bảng cân đối liên ngành (Input – Output), tính toán hệ số chi phí trung gian, hoàn thiện Hệ thống tài khoản quốc gia và nâng cao chất lượng các chỉ tiêu thống kê kinh tế vĩ mô. Trưởng Thống kê cho biết, để lập được Bảng cân đối liên ngành bảo đảm chất lượng, đầy đủ và phản ánh sát thực trạng nền kinh tế đòi hỏi chất lượng thông tin đầu vào tốt. Trong khi đó, Điều tra IO là cuộc điều tra có yêu cầu chuyên môn rất cao, nội dung thu thập sâu, phạm vi rộng và thông tin hết sức chi tiết, liên quan đến nhiều loại hình đơn vị điều tra và nhiều lĩnh vực của nền kinh tế. Do vậy, công tác tập huấn nghiệp vụ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây không chỉ là hoạt động hướng dẫn nghiệp vụ mà còn là bước thống nhất nhận thức, thống nhất phương pháp và quy trình thực hiện trên phạm vi toàn tỉnh, góp phần quyết định thành công của cuộc điều tra. Để Hội nghị đạt kết quả tốt, Trưởng Thống kê yêu cầu: Các báo cáo viên cần có phương pháp truyền đạt phù hợp, để Thống kê các cơ sở, điều tra viên nắm chắc nghiệp vụ và thao tác công nghệ thông tin (CNTT) phục vụ cho công tác điều tra; Trong quá trình giảng cần đưa ra các ví dụ thực tiễn để minh họa, tạo các bài tập tình huống vướng mắc thường xảy ra để thống nhất, xử lý; Tăng cường thảo luận trong quá trình giảng bài, tạo sự chủ động cho học viên để nâng cao chất lượng nghiệp vụ. Ảnh Toàn cảnh Hội nghị Các đại biểu tham dự tại Hội nghị cần phát huy tinh thần trách nhiệm, tập trung nghiên cứu kỹ phương án điều tra, nắm vững quy trình nghiệp vụ và thành thạo việc sử dụng phần mềm để sau Hội nghị có thể tổ chức triển khai thống nhất, đúng quy định trên địa bàn tỉnh, góp phần bảo đảm chất lượng thông tin thu thập và tiến độ của cuộc điều tra trên phạm vi toàn tỉnh. Theo kế hoạch Hội nghị tập huấn sẽ diễn ra trong các ngày từ ngày 10-13/8/2026. Tại Hội nghị các đại biểu được phổ biến toàn diện về phương án điều tra, quy trình tổ chức thực hiện và nghiệp vụ thu thập thông tin đối với từng nhóm đối tượng điều tra. Các chuyên đề tập huấn tập trung giới thiệu nội dung, phương pháp và quy trình thu thập thông tin đối với doanh nghiệp ngoài lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm; doanh nghiệp thuộc lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm; đơn vị hành chính, sự nghiệp và hiệp hội; cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể phi nông, lâm nghiệp và thủy sản; hộ sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản; điều tra chi tiêu dùng cuối cùng của hộ dân cư; đơn vị vô vị lợi; đồng thời hướng dẫn hệ thống biểu tổng hợp trung gian và biểu tổng hợp phục vụ lập bảng cân đối liên ngành. Bên cạnh nội dung nghiệp vụ, Hội nghị sẽ dành thời lượng hướng dẫn sử dụng hệ thống phần mềm quản lý cuộc điều tra và phần mềm thu thập thông tin, xử lý dữ liệu đối với từng loại phiếu điều tra; thực hành tạo tài khoản, phân quyền, nhập tin, xử lý dữ liệu và giải đáp các tình huống phát sinh trong quá trình triển khai thực tế. Các phiên thảo luận được bố trí xen kẽ với nội dung giảng dạy nhằm giúp học viên trao đổi, thống nhất cách xử lý các vấn đề nghiệp vụ và kỹ thuật. Thông qua Hội nghị, Thống kê tỉnh tiếp tục nâng cao năng lực cho đội ngũ công chức trực tiếp triển khai Điều tra thu thập thông tin lập bảng cân đối liên ngành và biên soạn hệ số chi phí trung gian năm 2026, bảo đảm thống nhất về chuyên môn nghiệp vụ, quy trình thu thập thông tin và sử dụng phần mềm trên phạm vi toàn tỉnh. Đây là bước chuẩn bị quan trọng nhằm triển khai thành công Điều tra thu thập thông tin lập bảng cân đối liên ngành và biên soạn hệ số chi phí trung gian năm 2026, góp phần cung cấp nguồn thông tin đầu vào có chất lượng phục vụ biên soạn Bảng cân đối liên ngành, Hệ thống tài khoản quốc gia và đáp ứng yêu cầu phân tích, dự báo, xây dựng chính sách, điều hành phát triển kinh tế - xã hội của đất nước./.                                                                                            N.V.Tròn

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Tháp Tháng 7 năm 2026
  •   2026/07/30 16:36

Trong tháng, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh tiếp tục phát triển, các hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định và có nhiều khởi sắc, hầu hết các ngành, lĩnh vực đều tăng so cùng kỳ. Kết quả thực hiện trên các lĩnh vực đạt được như sau:I. SẢN XUẤT NÔNG LÂM NGHIỆP VÀ THỦY SẢN1. Nông nghiệp* Trồng trọt:Cây lương thực có hạt: tính đến ngày 20/7, diện tích gieo trồng cộng dồn từ đầu vụ sản xuất ước đạt 513.434 ha, giảm 6,9% so cùng kỳ; sản lượng ước đạt 2.286.329 tấn, giảm 3,6%. Trong đó cây lúa gieo sạ 507.801 ha, giảm 6,9% so cùng kỳ; sản lượng thu hoạch ước đạt 2.261.455 tấn, giảm 3,7%, cụ thể:- Cây lúa:+ Vụ Đông xuân 2025 - 2026: diện tích gieo trồng chính thức 223.450 ha, đạt 99,6% kế hoạch và giảm 2,7% so cùng kỳ, tương ứng giảm 6.229 ha. Lúa Đông xuân 2025-2026 đã thu hoạch 100% diện tích gieo trồng của vụ; Năng suất thu hoạch bình quân 72,5 tạ/ha, tăng 0,8% so cùng kỳ với sản lượng thu hoạch 1.620.142 tấn, đạt 98,7% so với kế hoạch, giảm 1,9% so với cùng kỳ. + Vụ Hè thu 2026: tính đến ngày 20/7, toàn tỉnh gieo sạ ước đạt 231.562 ha, đạt 102,2% so với kế hoạch, giảm 5,0% so với cùng kỳ; Diện tích thu hoạch ước đạt 97.390 ha; Năng suất thu hoạch ước đạt 65,9 tạ/ha với sản lượng thu hoạch ước đạt 641.313 tấn. + Vụ Thu đông 2026: tính đến ngày 20/7, toàn tỉnh gieo sạ ước đạt 52.789 ha, đạt 35,3% so với kế hoạch. Vụ lúa Thu Đông đã bắt đầu xuống giống ở các xã: xã Thường Phước, xã Phương Thịnh, xã Trường Xuân, xã Mỹ Quí, xã Tháp Mười, xã Đốc Binh Kiều và xã Thanh Mỹ.- Cây ngô: tính đến ngày 20/7, diện tích gieo sạ ước đạt 5.633 ha, đạt 60,6% so với kế hoạch, tăng 0,4% so cùng kỳ. Diện tích thu hoạch ước đạt 3.597 ha, tăng 0,1% so với cùng kỳ. Sản lượng thu hoạch ước đạt 24.874 tấn, đạt 37,7% so với kế hoạch, tăng 2,4% so với cùng kỳ. Năng suất thu hoạch ước đạt 69,5 tạ/ha. - Cây rau đậu các loại: tính đến 20/7, diện tích gieo trồng rau đậu các loại ước đạt 49.889 ha, tăng 1,0% so với cùng kỳ; trong đó rau các loại ước đạt 49.609 ha, tăng 1,0%. Sản lượng cây rau đậu các loại ước đạt 969.342 tấn, tăng 0,3% so cùng kỳ; trong đó rau thu hoạch ước đạt 968.714 tấn, tăng 0,3% so với cùng kỳ. Hình 1. Diện tích gieo trồng một số cây hàng năm tính đến 20/7/2026 *Chăn nuôi: ước thời điểm 31/7/2026, tổng đàn gia súc, gia cầm toàn tỉnh như sau: đàn trâu 2,1 nghìn con, giảm 26,8%; đàn bò 148,1 nghìn con, giảm 3,7%; đàn lợn 499,7 nghìn con, tăng 0,9% và đàn gia cầm 23,3 triệu con, giảm 0,5% so với cùng kỳ. Hình 2. Chăn nuôi tại thời điểm 31/7/2026 2. Lâm nghiệp: Diện tích rừng trồng mới tập trung: từ đầu năm đến nay có 111,3 ha rừng được trồng mới tập trung, giảm 0,6% tương đương giảm 0,7 ha so với cùng kỳ. Cây phân tán: trong tháng, toàn tỉnh thực hiện trồng mới được 280 ngàn cây phân tán các loại, tăng 2,9% so cùng kỳ. Cộng dồn từ đầu năm đến nay, số lượng cây phân tán ước đạt 480,8 nghìn cây, tăng 1,3%, tương ứng tăng 6,0 nghìn cây so với cùng kỳ. Sản lượng gỗ khai thác: trong tháng sản lượng gỗ khai thác ước đạt 16.440 m3, tăng 1,7% so với cùng kỳ. Cộng dồn từ đầu năm đến nay, sản lượng cây phân tán ước đạt ước đạt 102.212 m3 gỗ được khai thác, giảm 0,4% so với cùng kỳ. 3. Thủy hải sản: Diện tích thả nuôi thâm canh trong tháng ước đạt 396 ha, tăng 1,8% so cùng kỳ. Tổng diện tích thả nuôi thâm canh 7 tháng đầu năm 2026 ước đạt 9.183 ha, tăng 1,5% so cùng kỳ, trong đó: cá tra đạt 1.975 ha (tăng 5,0%), tôm sú 3.746 ha (tăng 0,5%), tôm thẻ chân trắng 3.463 ha (tăng 0,6%). Sản lượng thủy sản nuôi và khai thác biển trong tháng ước đạt 87.725 tấn, nâng tổng số sản lượng thủy sản nuôi và khai thác biển từ đầu năm đến tháng báo cáo ước đạt 541.857 tấn, tăng 3,5% so cùng kỳ, bao gồm: Sản lượng thủy sản nuôi trồng trong tháng ước đạt 74.345 tấn. Tính chung 7 tháng năm 2026, thu hoạch ước đạt 475.549 tấn, tăng 3,5% so cùng kỳ, tương ứng tăng 15.996 tấn, bao gồm: sản lượng cá đạt 439.452 tấn (tăng 3,4%); sản lượng tôm đạt 32.263 tấn (tăng 5,0%); các loại thủy sản khác đạt 3.834 tấn (tăng 1,9%). Sản lượng thủy sản khai thác biển trong tháng ước đạt 13.380 tấn. Tính chung 7 tháng năm 2026, thu hoạch ước đạt 66.308 tấn, tăng 3,6% so cùng kỳ, tương ứng tăng 2.331 tấn, bao gồm: sản lượng cá đạt 43.901 tấn (tăng 4,9%); sản lượng tôm đạt 2.107 tấn (tăng 1,0%); các loại thủy sản khác đạt 20.301 tấn (tăng 1,3%). II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 7/2026 ước tăng 1,52% so với tháng trước và tăng 14,84% so với cùng kỳ. Trong đó, ngành khai khoáng tăng 31,16% so với cùng kỳ; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,74% so với cùng kỳ; ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước, điều hoà không khí tăng 3,85% so với cùng kỳ; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý, xử lý rác thải, nước thải tăng 3,94% so với cùng kỳ. Cộng dồn 7 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 12,36% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành chủ lực công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,17%; các ngành khai khoáng, sản xuất và phân phối điện, cung cấp nước và xử lý rác thải nước thải tăng lần lượt 19,39%, 3,33% và 2,80% so với cùng kỳ. Hình 3. Chỉ số sản xuất công nghiệp 7 tháng đầu năm 2026 Tình hình sản xuất các sản phẩm chủ lực 7 tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ như sau: Có 75/114 sản phẩm ghi nhận chỉ số sản xuất tăng so cùng kỳ: cát đen tăng 19,4%; phi lê đông lạnh tăng 21,8%; bột mịn, bột thô và bột viên từ cá tăng 9,2%; quả và hạt ướp lạnh tăng 61,1%; gạo đã xát toàn bộ hoặc sơ bộ tăng 13,4%; thức ăn chăn nuôi tăng từ 15% đến 42%; bia đóng lon tăng 18,6%; áo phông, áo may ô và các loại áo lót khác cho người lớn dệt kim hoặc đan móc tăng 49,0%; giày, dép không thấm nước có đế ngoài và mũ bằng cao su hay plastic tăng 35,4%; giày, dép có đế ngoài và mũ bằng cao su hoặc plastic tăng 10,5%; thuốc và dược phẩm các loại tăng mạnh; bao và túi từ plastic khác tăng 60,7%; bê tông trộn sẵn tăng 6,7%; thanh, que bằng thép hợp kim rỗng tăng 31,9%; ống và ống dẫn bằng đồng tăng 17,1%; điện mặt trời tăng 22,9%;… Ở chiều ngược lại, có 37/114 sản phẩm có chỉ số sản xuất giảm so cùng kỳ: bia đóng chai giảm 18,3%; thuốc lá có đầu lọc giảm 14,0%; áo quần các loại giảm từ 2% đến 19%; túi xách giảm 11,3%; giày, dép thể thao có đế ngoài và mũ giày bằng cao su và plastic giảm 2,6%; giày, dép thể thao có mũ bằng da và có đế ngoài giảm 14,4%; thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng viên giảm 6,7%; thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm giảm 5,0%;… * Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Chỉ số tiêu thụ (CSTT) ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 7 năm 2026 so với tháng trước giảm 1,43% và tăng 6,11% so cùng kỳ. Cộng dồn từ đầu năm đến cuối tháng 7 năm 2026, CSTT tăng 9,72%. Một số ngành có CSTT tháng 7 tăng cao so với cùng kỳ: sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 99,14%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 76,4%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 36,6%; sản xuất xe có động cơ tăng 21,88%;… Bên cạnh đó một số ngành có CSTT giảm so cùng kỳ như: sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 53,53%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất giảm 30,28%; In, sao chép bản ghi các loại giảm 24,68%; Sản xuất sản phẩm thuốc lá giảm 11,71%;… Chỉ số tồn kho (CSTK) ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 7 năm 2026 tăng 21,16% so với tháng trước và tăng 117,44% so với cùng kỳ. Một số ngành có CSTK tháng 7 tăng so cùng kỳ là: sản xuất kim loại tăng 63,49%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 35,96%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế), sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện tăng 32,05%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 21,44%;… Bên cạnh đó, một số ngành có CSTK giảm so với cùng kỳ như: sản xuất thiết bị điện giảm 11,69%; sản xuất trang phục giảm 8,28%… III. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP (Theo báo cáo của Sở Tài Chính) Thành lập mới: Trong tháng có 219 doanh nghiệp thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 997 tỷ đồng. Tính chung 7 tháng đầu năm 2026, có 2.015 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 29,4% so với cùng kỳ năm 2025, đạt 67,2% so với kế hoạch phát triển doanh nghiệp năm 2026, tổng vốn đăng ký là 9.008 tỷ đồng, giảm 4,9% so với cùng kỳ năm 2025. Giải thể, tạm ngừng hoạt động, tái hoạt động: Trong tháng, có 66 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, 83 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, 35 doanh nghiệp hoạt động trở lại. Tính chung 7 tháng đầu năm 2026, có 378 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 79,1%; 693 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, tăng 11,7%; 304 doanh nghiệp hoạt động trở lại, giảm 3,0% so với cùng kỳ năm 2025.IV. ĐẦU TƯ - XÂY DỰNG Vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 7/2026 ước đạt 875 tỷ đồng, tăng 5,4% so với tháng trước nhưng giảm 46,8% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 809 tỷ đồng, tăng 5,7% so với tháng trước nhưng giảm 49,8% so với cùng kỳ; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 66 tỷ đồng, tăng 2,7% so với tháng trước và tăng 91,6% so với cùng kỳ.Tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý 7 tháng đầu năm 2026 ước đạt 4.862 tỷ đồng, bằng 42,0% kế hoạch năm, giảm 37,3% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 4.463 tỷ đồng, bằng 43,5% kế hoạch năm, giảm 41,6% so với cùng kỳ năm 2025; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 398 tỷ đồng, bằng 30,4% kế hoạch năm, tăng 283,3% so với cùng kỳ năm 2025.IV. THƯƠNG MẠI - GIÁ CẢ - DỊCH VỤ1. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng:Hoạt động thương mại dịch vụ của tỉnh trong tháng tiếp tục duy trì và ổn định, hàng hoá cung ứng đồi dào, đáp ứng nhu cầu mua sắm của người dân. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trong tháng thực hiện 16.222 tỷ đồng, tăng 1,1% so tháng trước và tăng 17,8% so cùng kỳ. Bảy tháng đầu năm 2026, tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thực hiện 111.328 tỷ đồng, tăng 15,1% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 82.868 tỷ đồng, tăng 14,9%; lưu trú 413 tỷ đồng, tăng 25,2%; ăn uống 13.861 tỷ đồng, tăng 16,1%; du lịch lữ hành 226 tỷ đồng, tăng 15%; dịch vụ tiêu dùng khác 13.960 tỷ đồng, tăng 15,6% so cùng kỳ. Hình 4. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng 2. Xuất - Nhập khẩu (Theo báo cáo Sở Công Thương) a. Xuất khẩu: Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng ước thực hiện 878 triệu USD, tăng 0,9% so tháng trước và tăng 4% so cùng kỳ. Bảy tháng ước xuất khẩu 5.839 triệu USD, đạt 58,4% kế hoạch, tăng 10,5% so cùng kỳ. b. Nhập khẩu: Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 7/2026 ước đạt 415 triệu USD, tăng 1,2% so tháng trước và tăng 5,5% so cùng kỳ. Bảy tháng ước đạt 3.224,6 triệu USD, đạt 64,5% kế hoạch và tăng 11,7% so với cùng kỳ. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu trong tổng kim ngạch nhập khẩu của tỉnh như: kim loại thường khác (kể cả nguyên liệu đồng) chiếm 35,6%; nguyên phụ liệu dệt may, gia giày, túi xách (gồm vải) chiếm 11,1%; sắt thép các loại chiếm 7,7%; chất dẻo nguyên liệu chiếm 5,6%;… 3. Chỉ số giá: Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 7/2026 tăng 0,13% (thành thị giảm 0,09%, nông thôn tăng 0,2%) so tháng 6/2026, tăng 4,87% so tháng 7/2025. So với tháng 6/2025, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 9 nhóm tăng: hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,42%; thông tin và truyền thông tăng 0,81%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,55%; may mặc, mũ nón và giầy dép tăng 0,18%; văn hóa giải trí và du lịch tăng 0,09%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,08%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và VLXD tăng 0,05%: thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,02%; giáo dục tăng 0,01%. Có 2 nhóm giảm: giao thông giảm 2,31%; đồ uống và thuốc lá giảm 1,05%. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 7 tháng năm 2026 so cùng kỳ tăng 4,31%; Một số nhóm hàng có chỉ số tăng như: nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 7,09%, làm CPI chung tăng 1,30 điểm phần trăm do giá nhà ở thuê và giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở đều tăng. Trong đó, chỉ số giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 11,40%, chỉ số giá điện sinh hoạt tăng 7,43%, nước sinh hoạt tăng 2,55%; giao thông tăng 4,79%, tác động làm CPI chung tăng 0,48 điểm phần trăm, trong đó giá xăng dầu tăng 8,02%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 5,69%, làm CPI chung tăng 0,33 điểm phần trăm do giá dịch vụ y tế tăng theo Nghị quyết 126/NQ-HĐND ngày 23/12/2025 về quy định giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh trên địa bàn tỉnh, trong đó giá dịch vụ khám sức khỏe tăng 7,03%; hàng ăn uống và dịch vụ ăn uống tăng 3,99%, trong đó nhóm thực phẩm tăng 4,23%, nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 4,92%, nhóm lương thực tăng 1,35%;… Chỉ số giá vàng trong tháng 7/2026 giảm 4,07% so tháng trước tương ứng giảm 297.680 đồng/chỉ đối với vàng nhẫn trơn 9999, giảm 7,14% so với tháng 12/2025 và tăng 14,06% so với cùng kỳ. Chỉ số giá vàng bình quân 7 tháng năm 2026 tăng 46,52% so cùng kỳ. Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng 7/2026 tăng 0,15% so tháng trước, tương đương tăng 3.964 đồng/100USD và giảm 0,56% so với cùng kỳ. Chỉ số giá Đô la Mỹ bình quân 7 tháng năm 2026 tăng 1,05% so cùng kỳ. 4. Vận tải: Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trong tháng thực hiện 775 tỷ đồng, tăng 2,7% so tháng trước và tăng 20,9% so cùng kỳ. Bảy tháng thực hiện 5.194 tỷ đồng, tăng 17,3% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 1.796 tỷ đồng, tăng 24,7%; doanh thu vận tải hàng hóa thực hiện 2.525 tỷ đồng, tăng 15,1% so cùng kỳ. Doanh thu vận tải đường bộ thực hiện 2.578 tỷ đồng, tăng 23%; doanh thu vận tải đường thủy thực hiện 1.743 tỷ đồng, tăng 13,3%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 485 tỷ đồng, tăng 5,7% so cùng kỳ. Vận tải hành khách trong tháng đạt 7.789 ngàn hành khách, tăng 1% so tháng trước và tăng 25,7% so cùng kỳ; luân chuyển 224.105 ngàn hành khách.km, tăng 2,4% so tháng trước và giảm 0,7% so cùng kỳ. Bảy tháng, vận chuyển 49.869 ngàn hành khách, tăng 16,8% so cùng kỳ; luân chuyển 1.763.382 ngàn hành khách.km, tăng 13,5% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 17.945 ngàn hành khách, tăng 19,6% và luân chuyển 1.745.701 ngàn hành khách.km, tăng 13% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 31.924 ngàn hành khách, tăng 15,3% và luân chuyển 17.681 ngàn hành khách.km, tăng 31,2% so cùng kỳ. Vận tải hàng hóa trong tháng đạt 2.665 ngàn tấn, tăng 1,3% so tháng trước và tăng 17% so cùng kỳ; luân chuyển 550.757 ngàn tấn.km, tăng 2,8% so tháng trước và tăng 30,9% so cùng kỳ. Bảy tháng, vận tải 18.448 ngàn tấn hàng hóa, tăng 17,4% so cùng kỳ; luân chuyển 3.509.361 ngàn tấn.km, tăng 21,1% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 3.590 ngàn tấn, tăng 2,8% và luân chuyển 622.666 ngàn tấn.km, tăng 16,4% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 14.858 ngàn tấn, tăng 21,6% và luân chuyển 2.886.695 ngàn tấn.km, tăng 22,2% so cùng kỳ. * Công tác quản lý phương tiện giao thông: Trong tháng đăng ký mới 8.675 chiếc mô tô xe máy và 1.090 chiếc xe ô tô. Tổng số xe đang quản lý trên địa bàn tỉnh là 3.534.038 chiếc, trong đó mô tô xe máy: 3.534.038 chiếc; 114.838 xe ô tô, 169 xe ba bánh, 666 xe đạp điện và 3.372 xe khác. 5. Bưu chính viễn thông: Tổng số thuê bao điện thoại có trên mạng ước đến cuối tháng 7 năm 2026 là 3.547.856 thuê bao (bao gồm: hữu tuyến, vô tuyến, trả trước, trả sau). Thuê bao điện thoại bình quân đạt 104,23 thuê bao/100 dân. Số thuê bao điện thoại di động có sử dụng Internet (3G, 4G) đến cuối tháng 7 là: 3.264.013 thuê bao. Tổng số thuê bao Internet trên mạng ước tính đến cuối tháng 7 năm 2026 là 4.091.936 thuê bao (bao gồm: băng rộng di động 3G, 4G; MyTV và Cáp; băng rộng cố định FTTH, xDSL, Leased-line, CATV). Mật độ Internet bình quân ước đạt 120,22 thuê bao/100 dân. V. TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG 1. Tài chính: Tổng thu ngân sách nhà nước trong tháng thực hiện 3.291 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn 1.536 tỷ đồng; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 328 tỷ đồng. Bảy tháng, thu 35.373 tỷ đồng; trong đó, thu ngân sách trên địa bàn thực hiện 14.715 tỷ đồng, đạt 61,9% dự toán và tăng 0,3% so cùng kỳ; thu nội địa 14.071 tỷ đồng, đạt 60,6% dự toán, giảm 0,5% so cùng kỳ (trong thu ngân sách trên địa bàn: thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 2.565 tỷ đồng, đạt 63,3% dự toán, tăng 11,3% so cùng kỳ; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 3.722 tỷ đồng, đạt 77,5% dự toán, tăng 28% so cùng kỳ...). Tổng chi ngân sách nhà nước trong tháng 3.498 tỷ đồng; trong đó: chi đầu tư phát triển 728 tỷ đồng. Bảy tháng, chi 22.615 tỷ đồng, đạt 54,5 dự toán và giảm 5% so cùng kỳ; trong đó: chi đầu tư phát triển 3.992 tỷ đồng, đạt 33,2% dự toán, bằng 52,2% so cùng kỳ; chi hành chính sự nghiệp 13.340 tỷ đồng, đạt 59,2% dự toán và tăng 0,1% so cùng kỳ. 2. Ngân hàng: Từ đầu năm đến nay, lãi suất ổn định tạo điều kiện cho tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn từ Ngân hàng nhà nước (NHNN). Đến cuối tháng 6/2026, các mức lãi suất trên địa bàn tỉnh như sau: Lãi suất huy động: Hệ thống các TCTD trên địa bàn chấp hành tốt các quy định về lãi suất huy động theo quy định của NHNN Việt Nam. Mặt bằng lãi suất của các kỳ hạng như sau: tiền gửi kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng dao động từ 3,5%-8,31%/năm đối với khách hàng cá nhân và từ 2,8%-8,3%/năm đối với khách hàng pháp nhân; tiền gửi trên 12 tháng, lãi suất dao động từ 3,8%- 8,62%/năm đối với khách hàng cá nhân và từ 3,25%-8,59%/năm đối với khách hàng pháp nhân. Lãi suất cho vay: Các tổ chức tín dụng trên địa bàn chấp hành nghiêm mức trần lãi suất cho vay ngắn hạn đối với các lĩnh vực ưu tiên. Lãi suất cho vay VNĐ bình quân chung trên địa bàn tỉnh 8,98%/năm, tăng 1,12% so với cuối năm 2025. Đến cuối tháng 6/2026, vốn huy động đạt 222.557 tỷ, tăng 14.368 tỷ đồng, tăng 6,09% so với cuối năm 2025. Tổng dư nợ cho vay của các tổ chức tín dụng (TCTD) trong tỉnh đạt 249.996 tỷ, tăng 6.582 tỷ đồng, tăng 2,7% so với cuối năm 2025. Ước đến cuối tháng 7/2026, nguồn vốn huy động đạt 224.783 tỷ, tăng 7,97% so với cuối năm 2025; tổng dư nợ đạt 252.496 tỷ, tăng 3,73% so với cuối năm 2025. Nợ xấu: đến cuối tháng 6/2026 nợ xấu đạt 5.817 tỷ đồng; tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là 2,38%, so với cuối năm 2025. Ước đến cuối tháng 7/2026 tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ dưới 3%. Quỹ tín dụng nhân dân: đến cuối tháng 6/2026, tổng nguồn vốn hoạt động đạt 2.776 tỷ đồng, giảm 108 tỷ đồng giảm 3,74% so cuối năm 2025; tổng dư nợ cho vay đạt 2.337 tỷ đồng; giảm 2 tỷ đồng, giảm 0,09% so với cuối năm 2025; nợ xấu 22 tỷ đồng chiếm 0,94/tổng dự nợ. VI. KHOA HỌC CÔNG NGHỆ Thực hiện các nhiệm vụ tuyển chọn, xét duyệt, thẩm định, đánh giá, nghiệm thu các nhiệm vụ khoa học và công nghệ theo quy định. Hội đồng tư vấn tuyển chọn thực hiện 02 nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh; Thẩm định kinh phí thực hiện 04 nhiệm vụ cấp tỉnh; Phê duyệt tổ chức chủ trì, chủ nhiệm, kinh phí, phương thức khoán chi và thời gian thực hiện 01 nhiệm vụ cấp tỉnh; Kiểm tra, đánh giá tiến độ thực hiện 01 nhiệm vụ cấp tỉnh; Gia hạn thời gian thực hiện 01 nhiệm vụ cấp tỉnh…. Cấp, thay đổi nội dung giấy chứng nhận cho 01 doanh nghiệp khoa học; 01 cấp giấy chứng nhận đăng ký gia hạn, sửa đổi, bổ sung nội dung chuyển giao công nghệ. VII. CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Lao động việc làm: Trong tháng, đã giải quyết việc làm cho 1.253 lao động. Nâng tổng số lao động được giải quyết việc làm từ đầu năm đến nay là 30.093 lao động đạt 60,1% so với kế hoạch. Trong tháng tổ chức 8 phiên giao dịch việc làm với 31 lượt doanh nghiệp trên 1.200 người tham gia. Lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài trong tháng là 133 lao động. Nâng tổng số lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài từ đầu năm đến nay là 1.735 lao động, đạt 72,3% kế hoạch, trong đó Hàn Quốc: 782 lao động, Nhật Bản: 755 lao động, Đài Loan: 126 lao động,.... Về trợ cấp thất nghiệp, trong tháng có 3.831 lao động được hưởng trợ cấp. Từ đầu năm đến nay, có 17.288 lao động được giải quyết chế độ trợ cấp thất nghiệp, với tổng kinh phí chi trả trên 387,8 tỷ đồng, góp phần hỗ trợ kịp thời đời sống, giúp người lao động ổn định trong giai đoạn tìm kiếm việc làm mới. 2. Chính sách xã hội: Trong tháng, các chế độ ưu đãi đối với người có công được thực hiện đầy đủ, kịp thời. Trong đó, đã trợ cấp một lần cho người thờ cúng liệt sĩ và chuyển đổi người thờ cúng liệt sĩ với 52 trường hợp; trợ cấp mai táng phí và trợ cấp 01 lần 03 tháng trợ cấp với 81 trường hợp. 3. Hoạt động giáo dục: Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026, tỉnh Đồng Tháp có hơn 37 nghìn thí sinh dự Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026, điểm trung bình tất cả các môn thi của Đồng Tháp đạt 5,817 điểm, xếp thứ 2 khu vực phía Nam và thứ 12 cả nước. Qua đó cho thấy kết quả ở mức tích cực, phản ánh chất lượng dạy và học tiếp tục được duy trì ổn định. Đối với kỳ thi tuyển sinh lớp 10, kết quả xét tuyển chính thức có 41.823 thí sinh trúng tuyển vào lớp 10 THPT năm học 2026 - 2027. Mức điểm cao các trường THPT (không chuyên) tập trung ở một số trường thuộc khu vực trung tâm và có truyền thống chất lượng; trong đó, THPT Nguyễn Đình Chiểu có điểm chuẩn cao nhất (25,60 điểm), tiếp theo là THPT Nguyễn Đình Chiểu (cơ sở 2) (22,15 điểm), THPT Cao Lãnh (21,25 điểm), THPT Chợ Gạo (21,10 điểm), THPT Cái Bè (19,50 điểm), THPT Trương Định (18,80 điểm), và THPT Sa Đéc cùng THPT Tân Hiệp (đều 18,10 điểm). Khối trường THPT chuyên: Điểm chuẩn các lớp chuyên có sự phân hóa theo môn học; trong đó, lớp Chuyên Toán, Trường THPT Chuyên Tiền Giang có điểm chuẩn cao nhất (40,70 điểm), tiếp theo Chuyên Lý, Trường THPT Chuyên Tiền Giang (39,65 điểm) và Chuyên Hóa, Trường THPT Chuyên Nguyễn Quang Diêu (39,35 điểm). 4. Hoạt động y tế: Trong tháng có 16/44 bệnh truyền nhiễm được ghi nhận. Cộng dồn số ca mắc so với cùng kỳ, có 17 bệnh tăng (Bệnh do liên cầu lợn ở người, Rubella, Sốt xuất huyết Dengue, Tay - chân - miệng, Viêm màng não do não mô cầu, Dại, Liệt mềm cấp nghi bại liệt, Lao phổi, Sốt rét, Thương hàn, Uốn ván khác, Viêm gan vi rút A, Viêm não Nhật Bản, Xoắn khuẩn vàng da, Quai bị, Thủy đậu, Covid-19); 10 bệnh giảm (Sởi, Ho gà, Viêm gan vi rút B, Viêm gan vi rút C, Viêm não vi rút khác, Bệnh do vi rút Adeno, Cúm, Lỵ trực trùng, Tiêu chảy, Viêm gan vi rút khác); 17 bệnh tương đương hoặc không xảy ra ca mắc. Các bệnh truyền nhiễm trong tháng ghi nhận như: bệnh sốt xuất huyết 633 ca mắc, làm 01 ca tử vong do bệnh sốt xuất huyết; bệnh tay - chân - miệng 649 ca, không có ca tử vong. Cộng dồn số ca mắc bệnh sốt xuất huyết: 4.251 ca, tăng 147,0%, 01 ca tử vong (cùng kỳ không có ca tử vong); bệnh tay – chân – miệng: 3.316 ca, tăng 33,8% so cùng kỳ, 01 ca tử vong (cùng kỳ không có ca tử vong). Phòng chống HIV/AIDS trên địa bàn tỉnh tính đến nay là 16.222 người nhiễm HIV; 5.051 người chuyển sang AIDS; 3.940 người tử vong do AIDS.Khám chữa bệnh trong tháng cho 677,5 nghìn lượt người, giảm 1,1% so cùng kỳ; trong đó, số người điều trị nội trú là 43,3 nghìn lượt người, tăng 5,0%. Cộng dồn từ đầu năm, đã khám chữa bệnh trên 3,9 triệu lượt người, giảm 9,6%; trong đó, số người điều trị nội trú trên 242,5 nghìn lượt người, giảm 1,5%. Cộng dồn từ đầu năm, công suất sử dụng giường bệnh bình quân đạt 79,1%. 5. Hoạt động văn hóa - thể thao: a. Hoạt động văn hóa nghệ thuật: trong tháng, hoạt động văn hóa nghệ thuật trên địa bàn tỉnh tập trung công tác truyền thông, tuyên truyền kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh – Liệt sĩ (27/7/1947 – 27/7/2026). Đồng thời, hoạt động tuyên truyền lưu động và chiếu phim phục vụ Nhân dân được duy trì thường xuyên. b. Hoạt động thư viện: công tác phục vụ bạn đọc đạt 54.651 lượt người, 163.953 lượt tài liệu (trong đó 526.134 lượt truy cập qua không gian mạng); tổ chức hiệu quả các hoạt động đọc sách, trải nghiệm từ sách, chương trình Hè vui đọc sách lần thứ XV năm 2026. Tổ chức Cuộc thi “Góc ảnh đẹp Thư viện” lần thứ V năm 2026 với chủ đề “Gia đình đọc sách - Gắn kết yêu thương”, kết quả trao 17 giải tập thể gia đình và 17 giải cá nhân. Cuộc thi Đại sứ Văn hóa đọc năm 2026 tiếp nhận 19.211 bài dự thi từ 237 trường, lựa chọn 1.041 bài vào vòng chung kết cấp tỉnh. Cuộc thi “Bác Hồ trong trái tim tôi” (lần thứ V) năm 2026 tiếp nhận 1.050 bài dự thi, thực hiện sơ loại và gửi tham gia vòng chung kết; tổ chức trưng bày, triển lãm sách, tài liệu về khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và địa chí Đồng Tháp với hơn 200 tài liệu, phục vụ trên 1.200 lượt người tại Ngày hội Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phường Mỹ Ngãi năm 2026. Hoạt động thư viện trên địa bàn tỉnh tiếp tục được duy trì ổn định, đáp ứng nhu cầu bạn đọc cả trực tiếp và trực tuyến. Tổng lượt phục vụ đạt 54.651 lượt người, 163.953 lượt tài liệu, trong đó 526.134 lượt truy cập qua không gian mạng. Các hoạt động thúc đẩy văn hóa đọc được tổ chức hiệu quả, nổi bật là chương trình Hè vui đọc sách lần thứ XV năm 2026. Ngoài ra, hoạt động trưng bày, triển lãm sách, tài liệu về khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và địa chí Đồng Tháp được thực hiện với hơn 200 tài liệu, phục vụ trên 1.200 lượt người tại Ngày hội Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phường Mỹ Ngãi năm 2026. c. Hoạt động bảo tàng: trong tháng, hoạt động bảo tàng trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì trưng bày các chuyên đề cố định; thực hiện bảo quản hiện vật tại các nhà trưng bày, khu trưng bày ngoài trời và các kho hiện vật. Công tác truyền thông qua Fanpage ghi nhận 237.070 lượt xem và 15.572 lượt tương tác. Các nhà trưng bày tại 02 cơ sở đón tiếp 1.394 khách tham quan, trong đó có 03 đoàn khách và 01 khách quốc tế. d. Hoạt động thể dục, thể thao: trong tháng, các đội tuyển thể thao của tỉnh tham gia 17 giải thể thao quốc gia, Đông Nam Á, châu Á đạt 23 huy chương Vàng, 29 huy chương Bạc, 37 huy chương Đồng. Nổi bật, tham dự Giải Karate Đông Nam Á tại Ninh Bình, kết quả đạt 02 huy chương vàng, 04 huy chương bạc, 02 huy chương đồng. 6. Tình hình trật tự an toàn xã hội (theo báo cáo ngành Công an): Trong tháng xảy ra 128 vụ phạm tội về trật tự xã hội, làm chết 08 người, bị thương 46 người, tài sản thiệt hại khoảng 33,8 tỷ đồng. Tính từ đầu năm đến nay, tổng số vụ phạm tội là 692 vụ, giảm 22 vụ so cùng kỳ. Về tội phạm ma túy trong tháng, lực lượng chức năng đã phát hiện, xử lý 100 vụ với 132 đối tượng, trong đó, có 21 vụ với 22 đối tượng tàng trữ trái phép chất ma túy, 09 vụ với 13 đối tượng mua bán trái phép chất ma túy, 13 vụ với 40 đối tượng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, 57 vụ với 57 đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. 7. Trật tự an toàn giao thông (theo báo cáo ngành Công an, số liệu tính từ ngày 15/6/2026 đến 14/7/2026): Tai nạn giao thông đường bộ: trong tháng, xảy ra 30 vụ, giảm 17 vụ so tháng trước và giảm 03 vụ so cùng kỳ. Hậu quả làm chết 24 người (giảm 17 người so tháng trước, giảm 02 người so cùng kỳ) và 13 người bị thương (tương đương so tháng trước và so cùng kỳ). Cộng dồn từ đầu năm đến tháng báo cáo, toàn tỉnh đã xảy ra 309 vụ, giảm 50 vụ so với cùng kỳ; làm chết 254 người (tăng 05 người) và làm bị thương 111 người (giảm 70 người). Các nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông chủ yếu vẫn do ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông như: uống rượu say, điều khiển xe khi có rượu bia, phóng nhanh vượt ẩu, không làm chủ tốc độ; không đi đúng phần đường, làn đường; không nhường đường, vượt đèn đỏ, thiếu quan sát… Tai nạn giao thông đường thủy: trong tháng không xảy ra. Cộng dồn từ đầu năm đến nay là 03 vụ làm chết 02 người, tương đương về số vụ và số người chết so với cùng kỳ. 8. Tình hình cháy nổ, môi trường và thiên tai: - Cháy, nổ: trong tháng xảy ra 03 vụ cháy, thiệt hại tài sản khoảng 208 triệu đồng; nguyên nhân chủ yếu do sự cố hệ thống thiết bị điện. Tính từ đầu năm đến nay, xảy ra 26 vụ cháy, tăng 13 vụ; làm chết 02 người, giảm 02 người so với cùng kỳ. - Môi trường: Trong tháng xảy ra 05 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý 05 vụ, với số tiền xử phạt 5,25 triệu đồng. Tính từ đầu năm, xảy ra 16 vụ vi phạm môi trường, giảm 25 vụ so với cùng kỳ; đã xử lý 18 vụ với tổng số tiền xử phạt trên 1,3 tỷ đồng. - Thiên tai: trong tháng, trên địa bàn tỉnh xảy ra 25 vụ thiên tai, tổng giá trị tài sản thiệt hại ước tính 18.251 triệu đồng. Trong đó gồm 08 vụ mưa, giông lốc, sét tại các xã Thanh Bình, Long Bình, Mỹ Lợi, Tân Dương, Tân Hương, Gò Công Đông, Bình Phú và phường Bình Xuân; làm chết 01 người (do sét đánh), làm sập 01 căn nhà, tốc mái 77 căn (trong đó 01 căn tốc mái hoàn toàn) và 04 phòng học; gãy, ngã 10 trụ điện; hư hỏng 04 chuồng trại; thiệt hại 0,7 ha hoa màu; ngã đổ 320 cây chuối, 27 gốc sầu riêng cùng nhiều cây xanh. Đồng thời xảy ra 17 vụ sạt lở nội đồng tại các xã Lai Vung, Mỹ Thọ, Hội Cư, Thanh Hưng, Tân Dương, Tân Khánh Trung, Bình Thành, Kim Sơn, Mỹ Đức Tây, Bình Phú, Hiệp Đức và các phường Sa Đéc, Mỹ Ngãi, với tổng chiều dài 515,2m; làm sập 01 căn nhà, 01 căn đổ xuống sông, hư hỏng khoảng 33m bờ kè, sụp lún nhiều đoạn đường gây ảnh hưởng giao thông cục bộ tại các khu vực bị sạt lở.

Thống kê tỉnh Đồng Tháp tổ chức tập huấn triển khai Điều tra Nhu cầu và mức độ hài lòng của người sử dụng thông tin thống kê năm 2026
  •   2026/07/30 14:21

Chiều ngày 29/7/2026, Thống kê tỉnh Đồng Tháp tổ chức Hội nghị tập huấn triển khai Điều tra nhu cầu và mức độ hài lòng của người sử dụng thông tin thống kê năm 2026; đồng thời hướng dẫn sử dụng phần mềm thu thập thông tin phục vụ cuộc điều tra. Ảnh: Đồng chí Nguyễn Văn Tròn, Trưởng phòng Thống kê Tổng hợp, phổ biến phương án và những nội dung chính của cuộc Điều tra nhu cầu và mức độ hài lòng của người sử dụng thông tin thống kê năm 2026Tham dự lớp tập huấn có các điều tra viên đến từ các sở, ban, ngành cấp tỉnh và các Thống kê cơ sở có đơn vị được chọn mẩu điều tra. Cuộc điều tra được thực hiện nhằm đánh giá việc thực hiện mục tiêu của Chiến lược phát triển Thống kê Việt Nam giai đoạn 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2045, trong đó có mục tiêu giảm tỷ lệ người sử dụng không hài lòng đối với thông tin thống kê. Việc thu thập thông tin về nhu cầu sử dụng và mức độ hài lòng của người sử dụng thông tin thống kê sẽ giúp ngành Thống kê đánh giá chất lượng thông tin đã cung cấp, từ đó tiếp tục nâng cao chất lượng số liệu và hiệu quả phổ biến thông tin thống kê, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của người sử dụng.Ảnh: Quang cảnh các đại biểu tham dự hội nghị tập huấnĐối tượng của cuộc điều tra là tổ chức, cá nhân đã và đang sử dụng hoặc có nhu cầu sử dụng thông tin thống kê do ngành Thống kê phổ biến, cung cấp trong các cơ quan Nhà nước, cơ quan Đảng, đoàn thể, cơ quan thông tin đại chúng, doanh nghiệp và nhà đầu tư, cơ sở nghiên cứu giáo dục đào tạo và các đối tượng sử dụng thông tin thống kê khác. Tại hội nghị, Thống kê tỉnh Đồng Tháp hướng dẫn nghiệp vụ, cách đăng nhập và các thông tin cần thiết phục vụ cho công tác điều tra. Theo phương án cuộc điều tra sẽ tiến hành từ ngày 1/8/2026 và kết thúc vào ngày 31/8/2026./.N.T.Thịnh