Chặng đường 80 năm vẻ vang ngành thống kê Việt Nam
- 01/05/2026 20:12
Năm 2026 này đánh dấu chặng đường 80 năm vẻ vang của ngành thống kê Việt Nam, ghi dấu sự ra đời của Nha Thống kê Việt Nam – tiền thân của Cục Thống kê ngày nay. Phát huy truyền thống, ngành thống kê tiếp tục vững bước, xứng đáng đóng vai trò chiến lược trong phát triển kinh tế-xã hội, nhất là trong kỷ nguyên mới hiện nay.Năm 2026 ghi dấu chặng đường vẻ vang 80 năm ngành thống kê Việt Nam. (Ảnh: HNV)Kỷ niệm 80 năm ngành thống kê Việt Nam (6/5/1946-6/5/2026), chia sẻ với phóng viên Báo Nhân Dân, Tiến sĩ Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê (Bộ Tài chính) khẳng định: Ngay trong thời gian đầu của chính quyền cách mạng, giữa muôn vàn khó khăn của thời kỳ "thù trong, giặc ngoài", Đảng và Nhà nước ta đã đặc biệt coi trọng vai trò của công tác thống kê.Theo đó, ngày 6/5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh - Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ký ban hành Sắc lệnh số 61/SL, thành lập Nha Thống kê Việt Nam nằm trong Bộ Quốc dân Kinh tế. Đây không chỉ là mốc son lịch sử, đánh dấu sự ra đời của ngành thống kê cách mạng Việt Nam, khẳng định vai trò không thể thiếu của thống kê trong quản lý nhà nước và phát triển kinh tế-xã hội, mà còn mở ra một hành trình gần 80 năm đồng hành cùng đất nước, trải qua kháng chiến, xây dựng chủ nghĩa xã hội, đổi mới và hội nhập toàn cầu.Bản thân Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã từng nói: “Thống kê là tai, là mắt của Đảng và Nhà nước”. Câu nói của Bác dung dị, mộc mạc, nhưng rất sâu sắc về hoạt động thống kê: Tai phải thính, mắt phải tinh; nếu tai không thính, mắt không tinh sẽ dẫn đến số liệu không sát thực tế, không đầy đủ, kịp thời, khiến các cơ quan hoạch định chính sách dễ đi sai đường và hậu quả để lại sẽ rất lớn....Hay như Cố Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng cũng từng nói: “Số liệu thống kê không phải là con số chết, mỗi con số thống kê đều có ý nghĩa của nó, linh hồn của nó, tình hình nước mình thể hiện trong con số, tương lai ở trong con số, kế hoạch cũng ở trong con số”.Theo Cục trưởng Hương, sự khẳng định về vai trò, nhiệm vụ của ngành Thống kê từ những lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước ta không chỉ thể hiện tầm nhìn chiến lược về vai trò của thống kê trong quản trị quốc gia, mà còn là “kim chỉ nam” cho toàn ngành thống kê suốt chặng đường phát triển.Nhìn lại những mốc son vẻ vang của ngành thống kê 80 năm qua“80 năm đồng hành cùng dân tộc, ngành thống kê không chỉ thu thập thông tin và phản ánh thực trạng kinh tế-xã hội mà còn tiên phong xây dựng hệ thống thông tin kỹ thuật số, ứng dụng phương pháp luận thống kê tiên tiến, minh bạch và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của chính sách phát triển. Dữ liệu thống kê không chỉ phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của Đảng, Nhà nước, mà còn là cơ sở để hoạch định chính sách, phân bổ nguồn lực và đánh giá hiệu quả phát triển kinh tế-xã hội của từng địa phương và cả nước trong từng giai đoạn”, Tiến sĩ Nguyễn Thị Hương nhận định.Cụ thể, trong chiến tranh chống Pháp, thực hiện khẩu hiệu “Vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”, Đảng và Nhà nước rất cần những thông tin thống kê toàn diện, kịp thời và độ tin cậy cao để kịp thời đề ra các quyết sách đúng đắn, ngành thống kê đã triển khai nhiều cuộc điều tra, tập trung thu thập và báo cáo các thông tin về nông nghiệp, đất đai, thống kê công-thương nghiệp ở vùng tự do giúp lãnh đạo cấp trung ương và địa phương đưa ra các quyết sách phân phối, sử dụng nguồn lực hợp lý.Giai đoạn kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, dù còn thiếu thốn về cơ sở vật chất và nhân lực, để thực hiện tốt nhiệm vụ cung cấp thông tin thống kê, ngành thống kê đã triển khai được nhiều cuộc điều tra đồng thời thực hiện nhiều báo cáo thống kê chuyên đề, đi sâu vào một số lĩnh vực cũng như tình hình thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước phục vụ trực tiếp cho việc điều hành, đề ra các quyết sách đúng đắn...“Đây là nền tảng vững chắc để khi bước vào thời kỳ bao cấp và đổi mới, ngành thống kê giữ vững vai trò là cầu nối giữa hệ thống kế hoạch hóa tập trung và chuyển đổi kinh tế thị trường. Công tác thống kê các loại hình kinh tế, từ doanh nghiệp nhà nước đến kinh tế tư nhân đã quy hoạch nguồn lực, hỗ trợ cải tổ. Dữ liệu thống kê kinh tế vĩ mô như GDP, CPI, tích lũy, tiêu dùng, xuất, nhập khẩu… trở thành cơ sở pháp lý để soạn thảo chính sách đổi mới”, Cục trưởng Nguyễn Thị Hương nhấn mạnh.Giai đoạn đổi mới kể từ năm 1991, Việt Nam gia nhập WTO, ASEAN và các tổ chức thống kê quốc tế, phương pháp hệ thống tài khoản quốc gia (SNA) đã chính thức được áp dụng thống nhất trên phạm vi quốc gia, thay thế hệ thống cân đối vật chất (MPS), các cuộc điều tra chuyên đề để thu thập thông tin phục vụ tính toán các chỉ tiêu tổng hợp như tổng sản phẩm trong nước (GDP), tổng thu nhập quốc gia (GNI), thu nhập quốc gia sử dụng (NDI) được triển khai, bài bản, quy mô toàn quốc.Bước sang thời kỳ hội nhập và chuyển đổi số, ngành thống kê đã tích cực đổi mới toàn diện từ thể chế, phương pháp, quy trình sản xuất số liệu đến ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI). Việc thiết lập hệ thống thống kê quốc gia hiện đại, tiệm cận với chuẩn mực quốc tế, gắn với chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của đất nước giai đoạn 2021-2030 đã và đang được đẩy mạnh. Công nghệ thông tin, dữ liệu lớn (big data), AI được ngành thống kê áp dụng mạnh mẽ để nâng cao hiệu quả thu thập, xử lý, tổng hợp, phân tích và phổ biến số liệu, thông tin thống kê.Có thể thấy, suốt quá trình phát triển đất nước, ngành thống kê được xác định là bộ phận không thể thiếu của Đảng, Nhà nước. Đáp ứng nhu cầu thông tin ngày càng cao, từ khi được thành lập đến nay, ngành thống kê đã cung cấp thông tin chính xác, khách quan và kịp thời phục vụ lãnh đạo Đảng, Nhà nước trong công tác chỉ đạo, quản lý, điều hành.Các cuộc Tổng điều tra Dân số và nhà ở, Tổng điều tra Nông thôn, nông nghiệp, Tổng điều tra Kinh tế, Điều tra Doanh nghiệp, Điều tra Mức sống dân cư… và nhiều cuộc điều tra khác được tổ chức quy mô lớn, bài bản và ngày càng ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại, góp phần nâng cao chất lượng dữ liệu và minh bạch hóa thông tin. Trên cơ sở bằng chứng xác thực, khoa học từ con số thống kê Đảng và Nhà nước đã đưa ra những quyết sách quan trọng phát triển đất nước.Không ngừng đổi mới thống kê vì mục tiêu phát triển nhanh, bền vững chungKhông chỉ trong khuôn khổ quốc gia, ngành thống kê Việt Nam đã và đang tích cực hội nhập, phối hợp chặt chẽ với các tổ chức thống kê khu vực và quốc tế. Việt Nam hiện là thành viên của nhiều diễn đàn thống kê quốc tế, đồng thời chủ động tham gia vào hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững (SDGs) toàn cầu, từ đó góp phần nâng cao vị thế và uy tín của ngành thống kê Việt Nam trên trường quốc tế. Những chỉ tiêu thống kê (GDP, CPI, IIP, FDI,…) là ngôn ngữ toàn cầu, giúp cho bạn bè quốc tế hiểu Việt Nam rõ hơn qua những số liệu, thông tin thống kê.Cục trưởng Nguyễn Thị Hương chia sẻ, thông tin, dữ liệu thống kê biểu hiện qua các chỉ tiêu thống kê không chỉ mang tính khoa học, chuyên môn, chuyên sâu mà còn có tính toàn cầu, thống nhất về tiêu chuẩn và phương pháp luận trên toàn thế giới nhằm bảo đảm so sánh và hội nhập quốc tế. Thông tin, dữ liệu thống kê chính xác, khách quan, minh bạch sẽ góp phần khẳng định uy tín, vị thế và tiềm lực của mỗi quốc gia, qua đó tạo dựng niềm tin cho các nhà đầu tư, các đối tác phát triển, thúc đẩy và thu hút hợp tác, đầu tư.Năm 2025, thực hiện công cuộc sắp xếp, tinh gọn bộ máy, trở thành cơ quan thuộc Bộ Tài chính, với vai trò là cơ quan trung tâm, chủ đạo và điều phối toàn bộ hệ thống thống kê quốc gia của Việt Nam, Cục Thống kê giữ vai trò đầu mối, chủ trì phối hợp các đơn vị trong và ngoài Bộ, xây dựng các chỉ tiêu thống kê quốc gia, chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội phục vụ điều hành của Chính phủ và chính quyền địa phương, chỉ tiêu thống kê hằng ngày phục vụ Bộ Chính trị, Ban Bí thư… Chủ động tăng cường phối hợp liên ngành và địa phương nhằm nắm bắt thông tin xuyên suốt và kịp thời; ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại, triển khai phần mềm thu thập thông tin, cơ sở dữ liệu tập trung; phân tích và dự báo kịch bản tăng trưởng kinh tế, tác động của một số chính sách đến tăng trưởng kinh tế.Trong bối cảnh thế giới biến động mạnh mẽ, khó lường và rất khó dự báo; hoạt động kinh tế-xã hội phát triển kéo theo phát sinh thêm nhiều ngành nghề mới, lĩnh vực mới, phức tạp hơn, đa dạng hơn, nhiệm vụ của ngành thống kê ngày càng nặng nề.Ngành Thống kê cam kết tiếp tục phấn đấu, đổi mới, hiện đại hóa và minh bạch hóa thông tin, góp phần nâng cao năng lực quản trị quốc gia, phục vụ mục tiêu phát triển nhanh, bền vững của đất nước. Với vai trò là cơ quan Thống kê quốc gia, ngành thống kê cung cấp số liệu GDP, CPI, FDI, … giúp Chính phủ, Bộ Tài chính xác định mục tiêu trung và dài hạn trong việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế-xã hội; dữ liệu về thu chi ngân sách do cơ quan Thống kê công bố góp phần quan trọng giúp Chính phủ, Bộ Tài chính và các địa phương phân bổ vốn đúng vùng “đói nghèo”, hỗ trợ an sinh.Cục trưởng Cục Thống kê Nguyễn Thị Hương.Trên cơ sở đó, Cục trưởng Nguyễn Thị Hương bày tỏ, ngành Thống kê cam kết tiếp tục phấn đấu, đổi mới, hiện đại hóa và minh bạch hóa thông tin, góp phần nâng cao năng lực quản trị quốc gia, phục vụ mục tiêu phát triển nhanh, bền vững của đất nước. Với vai trò là cơ quan Thống kê quốc gia, ngành thống kê cung cấp số liệu GDP, CPI, FDI, … giúp Chính phủ, Bộ Tài chính xác định mục tiêu trung và dài hạn trong việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế-xã hội; dữ liệu về thu chi ngân sách do cơ quan Thống kê công bố góp phần quan trọng giúp Chính phủ, Bộ Tài chính và các địa phương phân bổ vốn đúng vùng “đói nghèo”, hỗ trợ an sinh.Tới đây, ngành thống kê tiếp tục xác định nhiệm vụ trọng tâm là cầu nối dữ liệu, nâng cao chất lượng, độ tin cậy và tính kịp thời của dữ liệu thống kê, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và các đối tượng sử dụng khác. Việc xây dựng hệ thống dữ liệu thống kê mở, liên thông, phục vụ kinh tế số, xã hội số là định hướng xuyên suốt trong chiến lược phát triển của ngành. Trong đó, ngành thống kê tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các bộ ngành, địa phương, củng cố niềm tin của nhân dân và cộng đồng quốc tế về các số liệu, quyết tâm tiếp tục phát triển xứng với niềm tin và vai trò lịch sử của mình.Nguồn: https://nhandan.vn/chang-duong-80-nam-ve-vang-nganh-thong-ke-viet-nam-post959556.html
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Tháp tháng 4 năm 2026
- 30/04/2026 08:46
Tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh trong tháng 4/2026 tiếp tục phát triển. Hoạt động sản xuất kinh doanh các ngành, các lĩnh vực đều tăng so cùng kỳ. Kết quả thực hiện trên các lĩnh vực như sau:I. SẢN XUẤT NÔNG LÂM NGHIỆP VÀ THỦY SẢN1. Nông nghiệp* Trồng trọt:Cây lương thực có hạt: diện tích gieo trồng cộng dồn từ đầu vụ sản xuất ước đạt 320.038 ha, giảm 20,3% so cùng kỳ; trong đó cây lúa gieo sạ 317.250 ha, giảm 20,5%.- Cây lúa: + Vụ Đông xuân 2025 – 2026: diện tích gieo trồng ước tính 223.450 ha, đạt 98,4% kế hoạch và giảm 2,7% so cùng kỳ, tương ứng giảm 6.230 ha; do chậm tiến độ 4.023 ha, chuyển đổi sang cây lâu năm 1.594 ha, cây hàng năm khác 533 ha, nuôi trồng thủy sản 55 ha, đất phi nông nghiệp là 25 ha. Lúa Đông xuân 2025-2026 đã thu hoạch 197.389 ha, chiếm 88,3% diện tích gieo trồng của vụ; Năng suất thu hoạch bình quân ước đạt 72,5 tạ/ha với sản lượng thu hoạch ước đạt 1.431.070 tấn bằng 86,6% sản lượng so với cùng kỳ. + Vụ Hè thu 2026: tính đến ngày 20/4, toàn tỉnh gieo sạ được 93.799 ha, đạt 41,4% so với kế hoạch, giảm 44,6% so với cùng kỳ. Lịch xuống giống được triển khai theo từng vùng, đảm bảo né rầy, thích ứng điều kiện thời tiết và nguồn nước như: đối với vùng sản xuất 3 vụ, xuống giống đợt 1 từ ngày 17 đến 24/2/2026, đợt 2 từ ngày 18 đến 25/3/2026 và đợt 3 từ ngày 10 đến 20/5/2026; đối với vùng sản xuất 2 vụ, xuống giống đợt 1 từ ngày 18 đến 25/3/2026 và đợt 2 từ ngày 17 đến 24/4/2026; khu vực ven biển xuống giống từ ngày 10 đến 25-5-2026 và chỉ thực hiện khi mùa mưa bắt đầu, đảm bảo nguồn nước ngọt. Hiện nay, lúa đang trong giai đoạn mạ, đẻ nhánh và làm đòng. Tỉnh đẩy mạnh sử dụng giống ngắn ngày chất lượng cao, thích ứng phèn - mặn, phù hợp từng vùng sinh thái, áp dụng quy trình giảm giống, giảm phân thuốc và cơ giới hóa 100%. Cơ cấu giống lúa vụ Đông Xuân 2025 - 2026 tập trung vào các giống chất lượng cao, chịu mặn/phèn tốt, thời gian sinh trưởng ngắn (85-95 ngày) như: Đài Thơm 8 (chiếm 26,4%); OM 18 (chiếm 35,8%); OM 5451 (chiếm 4,2%); OM 380 (chiếm 1,8%); OM 4900 (chiếm 1,9%); ST 24, ST 25 (chiếm 1,4%); IR50404 (chiếm 6,5%); các giống lúa nếp (chiếm 14,4%), giống lúa khác còn lại chiếm 7,6%. - Cây ngô: diện tích gieo trồng tính đến ngày 20/4/2026 ước đạt 2.789 ha, đạt 38,0% so với kế hoạch, tăng 4,5% so cùng kỳ. Ngô thuộc loại cây ngắn ngày, dễ trồng, dễ chăm sóc. Bên cạnh lấy trái bán cho thương lái; lá, thân ngô khi thu hoạch còn tận dụng làm thức ăn cho gia súc. Hình 1. Diện tích gieo trồng một số cây hàng năm tính đến 20/4/2026 - Cây rau đậu các loại: diện tích gieo trồng tính đến 20/4/2026 ước đạt 35.805 ha, tăng 0,7% so cùng kỳ; trong đó: rau các loại 35.615 ha, tăng 0,7% so cùng kỳ. Chăn nuôi: ước tổng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh tại thời điểm 30/4/2026 như sau: đàn trâu 2,0 nghìn con, giảm 2,7%; đàn bò 145,8 nghìn con, giảm 2,7% so cùng kỳ; đàn lợn 403,8 nghìn con, tăng 1,1%; đàn gia cầm 23,4 triệu con, giảm 2,3%. Đàn trâu giảm chủ yếu do hiệu quả kinh tế thấp, thời gian nuôi kéo dài và diện tích chăn thả ngày càng thu hẹp. Đàn bò giảm do chi phí thức ăn ở mức cao. Ngược lại, đàn lợn tăng nhờ công tác phòng, chống dịch bệnh được kiểm soát tốt, tạo điều kiện thuận lợi cho tái đàn, các doanh nghiệp và trang trại quy mô lớn duy trì sản xuất ổn định và từng bước mở rộng quy mô. Đàn gia cầm giảm do chi phí đầu vào cao, thị trường tiêu thụ chưa ổn định, người chăn nuôi còn thận trọng trong tái đàn. Hình 2. Chăn nuôi tại thời điểm 30/4/2026 2. Lâm nghiệp: Diện tích rừng trồng mới tập trung: trong tháng có 9,5 ha rừng được trồng mới tập trung, giảm 5,9% tương đương giảm 0,6 ha so với cùng kỳ. Cộng dồn đến tháng 4/2026 có 91,4 ha rừng được trồng mới tập trung, tăng 0,3% tương đương tăng 0,3 ha so với cùng kỳ. Cây phân tán: trong tháng, toàn tỉnh thực hiện trồng mới được 18 ngàn cây phân tán các loại, giảm 7,5% so cùng kỳ. Cộng dồn đến tháng 4/2026 số lượng cây phân tán ước đạt 108 nghìn cây, giảm 5,8%, tương đương giảm 6,7 nghìn cây so với cùng kỳ. Số cây trồng phân tán chủ yếu được trồng nhiều vào dịp đầu năm (tháng 01-03/2026), nhằm phát huy phong trào “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026. Ngược lại, vào tháng nắng nóng cao điểm như hiện nay số lượng cây lâm nghiệp trồng phân tán bị thu hẹp do tỷ lệ cây trồng sống thấp, sự phát triển cơ sở hạ tầng ở địa phương làm số lượng trồng cây phân tán ngày càng giảm dần. Sản lượng gỗ khai thác: trong tháng sản lượng gỗ khai thác ước đạt 15.256 m3; giảm 8,9% so với cùng kỳ. Cộng dồn đến tháng báo cáo ước tính có 47.556 m3 gỗ được khai thác, giảm 2,3% so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu do nhiều diện tích rừng chưa đến chu kỳ khai thác, nhu cầu khai thác trong dân giảm; đồng thời công tác quản lý, bảo vệ rừng được tăng cường, định hướng phát triển lâm nghiệp theo hướng bền vững, hạn chế khai thác quá mức. 3. Thủy hải sản: Diện tích thả nuôi thâm canh trong tháng ước đạt 1.360 ha, giảm 3,2% so cùng kỳ. Tổng diện tích thả nuôi thâm canh 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 6.117 ha, giảm 1,0% so cùng kỳ, trong đó: cá tra đạt 1.527 ha (tăng 0,9%), tôm sú 2.720 ha (tăng 0,8%), tôm thẻ chân trắng 1.870 ha (giảm 5%). Thời tiết diễn biến chưa thuận lợi, nắng nóng kéo dài làm môi trường ao nuôi biến động, nhiệt độ nước tăng cao, phát sinh nguy cơ dịch bệnh, ảnh hưởng đến tỷ lệ sống và hiệu quả nuôi của tôm thẻ chân trắng. Do đó, người nuôi có xu hướng thận trọng trong thả nuôi. Sản lượng thủy sản nuôi và khai thác biển trong tháng ước đạt 82.213 tấn, nâng tổng số sản lượng thủy sản nuôi và khai thác biển từ đầu năm đến tháng báo cáo ước đạt 301.167, giảm 0,7% so cùng kỳ, bao gồm: - Sản lượng thủy sản nuôi trong tháng ước đạt 72.223 tấn, giảm 1,5% so cùng kỳ. Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, thu hoạch ước đạt 261.775 tấn, tương đương so cùng kỳ, trong đó: sản lượng cá đạt 247.223 tấn (giảm 0,1%); sản lượng tôm đạt 4.096 tấn (tăng 1,1%);…. Sản lượng nuôi cơ bản ổn định nhờ thời tiết tương đối thuận lợi, dịch bệnh được kiểm soát, năng suất nuôi duy trì ở mức khá. - Sản lượng thủy sản khai thác biển trong tháng ước đạt 9.990 tấn, giảm 2,1% so cùng kỳ. Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, thu hoạch ước đạt 39.392 tấn, giảm 4,6% so cùng kỳ, trong đó: cá đạt 26.239 tấn (giảm 4,9%); tôm đạt 2.967 tấn (tăng 3,8%);…. Giá nhiên liệu tăng cao đã làm chi phí khai thác thủy sản tăng đáng kể, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của ngư dân, đặc biệt đối với các tàu khai thác xa bờ. Trong bối cảnh giá đầu vào duy trì ở mức cao, nhiều chủ tàu có xu hướng hạn chế chuyến biển hoặc cầm chừng sản xuất, qua đó tác động đến sản lượng khai thác thủy sản. II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP Sản xuất công nghiệp của tỉnh trong tháng 4/2026 tiếp tục đối mặt với các thách thức, do tác động của xung đột địa chính trị ở Trung Đông làm cho giá năng lượng biến động (tăng chi phí sản xuất, gián đoạn nguồn cung, sụt giảm đơn hàng). Tuy nhiên, các doanh nghiệp vẫn duy trì hoạt động ổn định và kỳ vọng tích cực nhờ các chính sách tài khóa kịp thời của Nhà nước[2]. Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 4/2026 ước tăng 1,83% so với tháng trước và tăng 13,24% so với cùng kỳ. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,94% so với tháng trước và tăng 14,03% so với cùng kỳ; ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước, điều hoà không khí tăng 1,33% so với tháng trước và tăng 3,58% so với cùng kỳ; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý, xử lý rác thải, nước thải giảm 1,44% so với tháng trước nhưng tăng 5,99% so với cùng kỳ. Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 11,40% so cùng kỳ, trong đó ngành Công nghiệp chế biến, chế tạo là động lực chính với mức tăng 12,35%, tiếp theo là ngành khai khoáng tăng 8,03%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 0,51%; cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,08%. Hình 3. Chỉ số sản xuất công nghiệp 4 tháng đầu năm 2026 Chỉ số sản xuất sản phẩm 4 tháng đầu năm 2026 so cùng kỳ như sau: Có 70/111 sản phẩm có chỉ số sản xuất tăng so cùng kỳ: cát đen tăng 8,0%; gạo đã xát toàn bộ hoặc sơ bộ tăng 4,4%; phi lê đông lạnh tăng 21,4%; bột mịn, bột thô và bột viên từ cá tăng 34,9%; quả và hạt ướp lạnh tăng 45,9%; thức ăn cho gia súc tăng 15,3%; thức ăn cho gia cầm tăng 51,8%; thức ăn cho thủy sản tăng 15,9%; bia đóng lon tăng 19,7%; bộ com lê, quần áo cho người lớn dệt kim hoặc đan móc tăng 0,1%; áo phông, áo may ô và các loại áo lót khác cho người lớn dệt kim hoặc đan móc tăng 59,3%; giày, dép không thấm nước có đế ngoài và mũ bằng cao su hay plastic tăng 34,7%; giày, dép có đế ngoài và mũ bằng cao su, plastic các loại tăng 6,2%; thuốc và dược phẩm các loại tăng mạnh[3]; bao và túi từ plastic khác tăng 49,2%; ống và ống dẫn bằng đồng tăng 11,2%; điện mặt trời tăng 26,0%;… Có 40/111 sản phẩm có chỉ số sản xuất giảm so cùng kỳ: bia đóng chai giảm 23,9%; thuốc lá có đầu lọc giảm 26,1%; túi xách giảm 19,4%; giày, dép thể thao có đế ngoài và mũ giày bằng cao su và plastic giảm 5,8%; giày, dép thể thao có mũ bằng da và có đế ngoài giảm 23,4%; bê tông tươi giảm 3,2%; thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm giảm 1,8%; dịch vụ sản xuất thiết bị điện chiếu sáng giảm 2,8%;… * Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Trong tháng 4/2026, tình hình tiêu thụ và tồn kho của ngành công nghiệp chế biến chế tạo đều tăng so với cùng kỳ: chỉ số tiêu thụ tăng 0,89% so với tháng trước và tăng 16,11% so với cùng kỳ; chỉ số tồn kho nhanh hơn gấp đôi chỉ số tiêu thụ (tăng 9,53% so với tháng trước và tăng 32,73% so với cùng kỳ), cụ thể như sau: - Các ngành có chỉ số tiêu thụ (CSTT) tăng, chỉ số tồn kho (CSTK) tăng cao hơn CSTT phản ánh doanh nghiệp gia tăng sản xuất, tăng hàng tồn kho: sản xuất chế biến thực phẩm (CSTT tăng 17,79%, CSTK tăng 47,69%) và sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu (CSTT tăng 17,61%, CSTK tăng 55,33%). Riêng ngành sản xuất thiết bị điện tăng đột biến (CSTT tăng 286,18%, CSTK tăng 50,88%) chủ yếu do sản xuất của Công ty TNHH Nissei Electric Mỹ Tho tăng cao. - Các ngành có tình hình sản xuất tốt, tiêu thụ tăng, tồn kho giảm: ngành dệt (CSTT tăng 33,13% trong khi CSTK giảm mạnh 54,53%); sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic do năng lực sản xuất mới từ dây chuyền mở rộng của Công ty Advance Việt Nam (CSTT tăng 37,84% trong khi CSTK giảm 0,76%); sản xuất kim loại tăng tiêu thụ nhờ nhu cầu nguyên liệu chế tạo pin xe điện và thiết bị năng lượng tái tạo tăng cao, giảm hàng tồn kho (CSTT tăng 14,55% trong khi CSTK giảm 7,24%). - Ngành sản xuất da và các sản phẩm có liên quan gặp khó khăn, sản xuất giảm liên tục từ cuối năm 2025 sau khi Chính phủ Mỹ áp mức thuế quan mới (CSTT giảm 5,53%, trong khi CSTK tăng 20,36%). - Các ngành có CSTT và CSTK đều giảm do tiêu thụ giảm, doanh nghiệp thu hẹp sản xuất: sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy (CSTT giảm 41,84%, CSTK giảm 55,88%); in, sao chép bản ghi các loại (CSTT giảm 40,15%; CSTK giảm 33,28%). Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến chế tạo bốn tháng năm 2026 tăng 11,76% so với cùng kỳ. Trong đó, một số ngành cấp II đóng góp làm tăng chỉ số chung gồm: ngành sản xuất chế biến thực phẩm tăng 15,03%; dệt tăng 13,93%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 27,89%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 13,95%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 37,56%; sản xuất kim loại 13,32%; sản xuất thiết bị điện tăng 92,35%.;... III. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP: (Theo báo cáo của Sở Tài Chính) Thành lập mới: trong tháng có 365 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 62,2% so với tháng trước; với tổng vốn đăng ký là 2.024 tỷ đồng, tăng 69,6% so với tháng trước. Tính từ đầu năm 2026 đến nay, có 1.181 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 121,2% so với cùng kỳ, đạt 39,37% so với kế hoạch, với tổng vốn đăng ký là 5.284 tỷ đồng, tăng 32,4% so với cùng kỳ. Giải thể, tạm ngừng hoạt động, tái hoạt động: Trong tháng, có 49 doanh nghiệp đã giải thể, tăng 75% so với tháng trước; 55 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, tăng 77,4% so với tháng trước; 22 doanh nghiệp hoạt động trở lại, tăng 57,1% so với tháng trước. Tính từ đầu năm đến nay, có 166 doanh nghiệp giải thể, tăng 84,4% so với cùng kỳ; 496 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, tăng 6,7% so với cùng kỳ; 207 doanh nghiệp hoạt động trở lại, bằng 90,4% so với cùng kỳ. IV. ĐẦU TƯ - XÂY DỰNG Với sự quyết liệt trong công tác chỉ đạo, điều hành, tháo gỡ điểm nghẽn của UBND tỉnh, tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện tháng 4/2026 đạt 731 tỷ đồng, tăng 14,8% so với tháng trước. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 672 tỷ đồng, tăng 15,6%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 59 tỷ đồng, tăng 6,8%. So với cùng kỳ năm trước, vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý giảm 23,1%, trong đó vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh giảm 28,7%, vốn ngân sách nhà nước cấp xã tăng 5,8 lần. Tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 2.354 tỷ đồng, bằng 20,7% kế hoạch năm, giảm 31,4% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó: - Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 2.153 tỷ đồng, bằng 21,4% kế hoạch năm, giảm 36,8% so với cùng kỳ năm 2025; - Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp xã 201 tỷ đồng, bằng 15,4% kế hoạch năm, gấp 7,5 lần so với cùng kỳ năm 2025. Thu hút đầu tư: Lũy kế từ đầu năm đến nay, tỉnh thu hút 03 dự án đầu tư ngoài khu công nghiệp, khu kinh tế, trong đó 02 dự án có vốn đầu tư nước ngoài; 01 dự án có vốn đầu tư trong nước, với tổng vốn đăng ký đạt 154,46 tỷ đồng; điều chỉnh tăng vốn 01 dự án với vốn đăng ký tăng thêm hơn 272 tỷ đồng. V. THƯƠNG MẠI - GIÁ CẢ - DỊCH VỤ 1. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng: Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trong tháng thực hiện 16.040 tỷ đồng, tăng 1,8% so tháng trước và tăng 14% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 11.907 tỷ đồng, tăng 13%; lưu trú 60 tỷ đồng, tăng 32,8%; ăn uống 1.977 tỷ đồng, tăng 17,1%; du lịch lữ hành 37 tỷ đồng, tăng 36,7%; dịch vụ tiêu dùng khác 2.058 tỷ đồng, tăng 16,1% so cùng kỳ. Bốn tháng năm 2026, tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thực hiện 62.469 tỷ đồng, đạt 21,5% kế hoạch, tăng 13,2% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 46.570 tỷ đồng, tăng 13,1%; lưu trú 230 tỷ đồng, tăng 19,9%; ăn uống 7.832 tỷ đồng, tăng 15,3%; du lịch lữ hành 145 tỷ đồng, tăng 44,8%; dịch vụ tiêu dùng khác 7.692 tỷ đồng, tăng 10,9% so cùng kỳ. Hình 4. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng 2. Xuất - Nhập khẩu (Theo báo cáo Sở Công Thương) a. Xuất khẩu: Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng ước thực hiện 880 triệu USD, tăng 0,3% so tháng trước và tăng 7,1% so cùng kỳ. Bốn tháng xuất khẩu 3.194 triệu USD, đạt 31,9% kế hoạch, tăng 12,7% so cùng kỳ. Tình hình xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của tỉnh như sau: b. Nhập khẩu: Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 04/2026 ước đạt 490 triệu USD, tăng 2,1% so tháng trước và tăng 19,8% so cùng kỳ. Bốn tháng, kim ngạch nhập khẩu 1.925 triệu USD, đạt 38,5% kế hoạch, tăng 7,1% so cùng kỳ. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của tỉnh trong tháng 04/2026 như: kim loại thường khác (nguyên liệu đồng) ước đạt 652,4 triệu USD, tăng 21,9%; nguyên phụ liệu dệt may, da giày, túi xách ước đạt 196 triệu USD, tăng 1,8%; mặt hàng khác ước đạt 582 triệu USD, giảm 16,8%; sắt thép các loại ước đạt 165 triệu USD, giảm 1,9% so cùng kỳ… 3. Chỉ số giá: Thời tiết trong tháng nắng nóng kéo dài dẫn đến nhu cầu sử dụng điện sinh hoạt và nước sinh hoạt của người dân tăng nên giá điện sinh hoạt và nước sinh hoạt tăng. Giá xăng dầu, giá gas điều chỉnh theo giá nhiên liệu thế giới cũng là nguyên nhân dẫn đến tăng giá các mặt hàng ăn uống ngoài gia đình, vật liệu xây dựng và nhiều mặt hàng thiết yếu khác đó cũng là những nguyên nhân chính làm cho chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 04/2026 tăng 0,53% (thành thị tăng 0,79%, nông thôn tăng 0,45%) so tháng 03/2026; tăng 4,99% so cùng kỳ. So với tháng 03/2026, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 9 nhóm tăng: nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,75%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,03%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,73%; may mặc, mũ nón và giầy dép tăng 0,55%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,52%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,31%; văn hóa, giải trí và du lịch 0,2%; thông tin và truyền thông tăng 0,1%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,02%. Nhóm giao thông giảm 1,68% và nhóm Giáo dục có chỉ số ổn định. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 04 tháng năm 2026 tăng 3,72% so với cùng kỳ, Một số chỉ số tăng như: nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,35% (Cụ thể như: giá nhà ở thuê tăng 3,78%; dịch vụ sửa chữa nhà ở tăng 10,91%; giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 13,12%; giá nước sinh hoạt tăng 5,24%; …); thuốc và dịch vụ y tế tăng 4,03%; hàng ăn uống và dịch vụ ăn uống tăng 3,58%; giáo dục 3,53%; giao thông 3,25%;.... chỉ riêng nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,17% tác động không đáng kể đến chỉ số tiêu dùng bình quân chung bốn tháng. Chỉ số giá vàng tháng 04/2026 giảm 7,27% so với tháng 03/2026, tăng 10,17% so với tháng 12/2025, tăng 68,58% so với bình quân cùng kỳ, tương ứng giảm 1.246 ngàn đồng/chỉ đối với vàng nhẫn trơn 9999. Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng 04/2026 giảm 0,35% so tháng trước, tương đương giảm 9.390 đồng/100USD và giảm 0,39% so với tháng 12/2025, Bình quân bốn tháng năm 2026 tăng 2,14% so cùng kỳ. 4. Vận tải: Tình hình vận tải trên địa bàn tỉnh ổn định, đường bộ và đường thủy đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa và đi lại của người dân. Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trong tháng thực hiện 734 tỷ đồng, tăng 1,5% so tháng trước và tăng 15,9% so cùng kỳ. Bốn tháng thực hiện 2.920 tỷ đồng, tăng 16,4% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 1.037 tỷ đồng, tăng 27,4%; doanh thu vận tải hàng hóa thực hiện 1.422 tỷ đồng, tăng 14,4%. Doanh thu vận tải đường bộ thực hiện 1.457 tỷ đồng, tăng 23,1%; doanh thu vận tải đường thủy thực hiện 1.457 tỷ đồng, tăng 23,1%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 242 tỷ đồng, giảm 7,2% so cùng kỳ. Vận tải hành khách trong tháng đạt 6.497 ngàn hành khách, tăng 2,1% so tháng trước và tăng 10,8% so cùng kỳ; luân chuyển 171.321 ngàn hành khách.km, giảm 0,7% so tháng trước và giảm 13,8% so cùng kỳ. Bốn tháng, vận chuyển 27.072 ngàn hành khách, tăng 16,7%; luân chuyển 990.614 ngàn hành khách.km, tăng 26,2% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 10.660 ngàn hành khách, tăng 42,1% và luân chuyển 982.681 ngàn hành khách.km, tăng 26,4%; vận tải đường thủy 16.412 ngàn hành khách, tăng 4,5% và luân chuyển 7.933 ngàn hành khách.km, tăng 3,9%. Vận tải hàng hóa trong tháng đạt 2.785 ngàn tấn, tăng 0,7% so tháng trước và tăng 21,7% so cùng kỳ; luân chuyển 494.019 ngàn tấn.km, tăng 0,3% so tháng trước và tăng 19,2% so cùng kỳ. Bốn tháng, vận tải 10.885 ngàn tấn hàng hóa, tăng 19,4%; luân chuyển 1.920.056 ngàn tấn.km, tăng 17% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 2.159 ngàn tấn, giảm 0,6% và luân chuyển 333.591 ngàn tấn.km, tăng 17% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 8.726 ngàn tấn, tăng 25,7% và luân chuyển 1.586.465 ngàn tấn.km, tăng 18,6% so cùng kỳ. Trong tháng đăng ký mới 11.027 chiếc mô tô xe máy và 1.294 chiếc xe ô tô. Tổng số xe đang quản lý trên địa bàn tỉnh là 3.530.489 chiếc, trong đó mô tô xe máy: 3.413.478 chiếc; 113.748 xe ô tô, 169 xe ba bánh, 666 xe đạp điện và 3.372 xe khác. 5. Bưu chính viễn thông: Ngành bưu chính viễn thông đang phát triển mạnh mẽ theo hướng hiện đại hóa, số hóa và tích hợp sâu rộng. Hạ tầng thông tin được nâng cấp, cung cấp các dịch vụ bưu chính số và viễn thông tốc độ cao, đóng vai trò nền tảng cho kinh tế số và xã hội số. Đến cuối tháng 04 năm 2026 tổng số thuê bao điện thoại có trên mạng là 3.668 ngàn thuê bao, thuê bao điện thoại bình quân đạt 107,77 thuê bao/100 dân (bao gồm: hữu tuyến, vô tuyến, trả trước, trả sau). Số thuê bao điện thoại di động có sử dụng Internet (3G, 4G) đến cuối tháng 04 là: 2.605 ngàn thuê bao. Thuê bao internet có trên mạng là 3.709 ngàn thuê bao, mật độ Internet bình quân ước đạt 108,96 thuê bao/100 dân. VI. TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG 1. Tài chính: Tổng thu ngân sách nhà nước trong tháng thực hiện 4.830 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn 2.560 tỷ đồng, thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 353 tỷ đồng. Bốn tháng, thu 22.171 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn thực hiện 10.507 tỷ đồng, đạt 44,2% dự toán và tăng 7,5% so cùng kỳ; thu nội địa 10.168 tỷ đồng, đạt 43,8% dự toán, tăng 7,3% so cùng kỳ (trong thu ngân sách trên địa bàn: thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 1.649 tỷ đồng, đạt 40,7% dự toán, tăng 5,3% so cùng kỳ; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 3.031 tỷ đồng, đạt 63,2% dự toán, tăng 41,3% so cùng kỳ, thu từ hoạt động xổ số kiến thiết 2.339 tỷ đồng, đạt 50,5% dự toán, tăng 8,5% so cùng kỳ...). Tổng chi ngân sách nhà nước trong tháng 2.797 tỷ đồng; trong đó: chi đầu tư phát triển 728 tỷ đồng. Bốn tháng, chi 13.089 tỷ đồng, đạt 32,6% dự toán, bằng 93,8% so cùng kỳ; trong đó: chi đầu tư phát triển 1.320 tỷ đồng, đạt 15,1% dự toán, bằng 29,2% so cùng kỳ; chi hành chính sự nghiệp 6.859 tỷ đồng, đạt 30,4% dự toán và bằng 99,6% so cùng kỳ. 2. Ngân hàng: Đến cuối tháng 03/2026, vốn huy động ước đạt 213 ngàn tỷ, tăng 5 ngàn tỷ và tăng 2,3% so với cuối năm 2025, tổng dư nợ cho vay của các TCTD trong tỉnh ước đạt 246 ngàn tỷ, tăng 3 ngàn tỷ đồng và tăng 1,2% so với cuối năm 2025. Dự tính đến cuối tháng 4/2026 vốn huy động đạt 213 ngàn tỷ tăng 2,42%; dư nợ cho vay đạt 148 ngàn tỷ tăng 1,99% so với cuối năm 2025. Nợ xấu: đến cuối tháng 02/2026 tỷ lệ nợ xấu/Tổng dư nợ (không bao gồm nợ xấu của các ngân hàng thương mại bị kiểm soát đặc biệt) chiếm 2,41%. Ước thực hiện tháng 03/2026 tỷ lệ nợ xấu/Tổng dư nợ nhỏ hơn 3%. Quỹ tín dụng nhân dân: Đến cuối tháng 03/2026 tổng nguồn vốn huy động 2.779 tỷ đồng, giảm 79 tỷ đồng và giảm 2,76% so với cuối năm 2025. Dư nợ 2.300 tỷ đồng, giảm 39 tỷ đồng, tương đương giảm 1,67% so với cuối năm 2025. Tỷ lệ nợ xấu là 1,01%. VII. KHOA HỌC CÔNG NGHỆ Trong tháng Hội đồng khoa học và công nghệ tổ chức họp tư vấn tuyển chọn thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh: 09 nhiệm vụ; nghiệm thu 01 nhiệm vụ cấp tỉnh, 01 nhiệm vụ cấp cơ sở; kiểm tra, đánh giá nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh 02 nhiệm vụ; kiểm tra và xác nhận tính hợp lệ của hồ sơ đăng ký tham gia tuyển chọn thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh 01 nhiệm vụ. VIII. CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Lao động việc làm: Trong tháng, đã giải quyết việc làm cho 5.125 lao động. Nâng tổng số lao động được giải quyết việc làm từ đầu năm đến nay là 14.365 lao động đạt 29% so với kế hoạch; Tổ chức 10 cuộc tư vấn tuyển dụng cho người lao động hưởng bảo hiểm thất nghiệp và 01 phiên giao dịch việc làm trực tuyến với 38 lượt doanh nghiệp tham gia, tư vấn trên 3.600 người. Lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài là 340 lao động. Nâng tổng số lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài từ đầu năm đến tháng báo cáo là 1.207 lao động, đạt 55% kế hoạch, trong đó Hàn Quốc: 568 lao động, Nhật Bản: 467 lao động, Đài Loan: 124 lao động,.... Về trợ cấp thất nghiệp, trong tháng có 1.348 lao động được hưởng trợ cấp. Từ đầu năm đến nay, có 5.804 lao động được giải quyết chế độ trợ cấp thất nghiệp, với tổng kinh phí chi trả trên 82,9 tỷ đồng, góp phần hỗ trợ kịp thời đời sống, giúp người lao động ổn định trong giai đoạn tìm kiếm việc làm mới. 2. Chính sách xã hội: Trong tháng, các chế độ ưu đãi đối với người có công được thực hiện đầy đủ, kịp thời. Cụ thể: đã lập quyết định trợ cấp một lần cho người thờ cúng liệt sĩ và chuyển đổi người thờ cúng liệt sĩ với 35 trường hợp; lập quyết định trợ cấp hàng tháng cho 01 người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; giải quyết trợ cấp tuất cho 02 trường hợp. Đồng thời, đã lập quyết định trợ cấp mai táng phí và trợ cấp một lần (03 tháng trợ cấp) cho 89 trường hợp. Bên cạnh đó, đã cấp lại giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh cho 56 trường hợp. 3. Hoạt động giáo dục: Trong tháng, ngành Giáo dục đã triển khai đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ theo kế hoạch quý II. Nhiều hoạt động chuyên môn được thực hiện, trọng tâm là công tác chuẩn bị tuyển sinh lớp 10, tổ chức Kỳ thi tốt nghiệp THPT, khảo sát đánh giá diện rộng. Mạng lưới trường, lớp tiếp tục được củng cố. Tổ chức các hội nghị, tập huấn về tuyển sinh THPT và phần mềm quản lý thi theo hình thức trực tuyến cho các đơn vị; hướng dẫn tổ chức tuyển sinh lớp 10 và Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026. Đồng thời, tham dự hội nghị triển khai quy chế, nghiệp vụ thi do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức; hướng dẫn rà soát, cập nhật cơ sở dữ liệu về khu vực ưu tiên và thông tin học sinh. Bên cạnh đó, đã thực hiện thống kê, rà soát cơ sở vật chất, nhân sự phục vụ kỳ thi; kiểm tra điều kiện cơ sở vật chất tại các điểm thi dự kiến. 4. Hoạt động y tế: Trong tháng có 15/44 bệnh truyền nhiễm được ghi nhận. Cộng dồn số ca mắc so với cùng kỳ, có 10 bệnh tăng (Bệnh do liên cầu lợn ở người, Sốt xuất huyết Dengue, Tay - chân - miệng, Viêm màng não do não mô cầu, Liệt mềm cấp nghi bại liệt, Lao phổi, Thương hàn, Viêm gan vi rút A, Viêm gan vi rút B, Thủy đậu); 08 bệnh giảm (Sởi, Viêm gan vi rút C , Viêm não vi rút khác, Cúm, Lỵ trực trùng, Quai bị, Tiêu chảy, Viêm gan vi rút khác ); 26 bệnh tương đương hoặc không xảy ra ca mắc. Các bệnh truyền nhiễm trong tháng ghi nhận: bệnh sốt xuất huyết 782 ca mắc, làm 01 ca tử vong do bệnh sốt xuất huyết; bệnh tay - chân - miệng 454 ca, không có ca tử vong. Cộng dồn số ca mắc bệnh sốt xuất huyết: 2.057 ca, tăng 170,7%, 01 ca tử vong (cùng kỳ không có ca tử vong); bệnh tay – chân – miệng: 1.164 ca, tăng 107,5% so cùng kỳ. Phòng chống HIV/AIDS trên địa bàn tỉnh tính đến nay là 16.079 người nhiễm HIV; 5.051 người chuyển sang AIDS; 3.926 người tử vong do AIDS.Khám chữa bệnh trong tháng cho 643,4 nghìn lượt người, giảm 6,8% so cùng kỳ; trong đó, số người điều trị nội trú là 43,5 nghìn lượt người, tăng 1,6%. Cộng dồn từ đầu năm đến tháng báo cáo, đã khám chữa bệnh cho 1,9 triệu lượt người, giảm 12,7%; trong đó, số người điều trị nội trú là 118,4 nghìn lượt người, giảm 4,0%. Công suất sử dụng giường bệnh bình quân trong tháng đạt 83,5%. 5. Hoạt động văn hóa - thể thao: Hoạt động văn hóa nghệ thuật: trong tháng công tác truyền thông, tuyên truyền tập trung vào các ngày lễ lớn của đất nước và các sự kiện chính trị - xã hội quan trọng của tỉnh như: Ngày Quốc tế Hạnh phúc; Giỗ Tổ Hùng Vương (mùng 10 tháng 3 âm lịch); kỷ niệm Ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2026) và Ngày Quốc tế Lao động (01/5). Hoạt động biểu diễn nghệ thuật tiếp tục được duy trì, phục vụ nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần của nhân dân, thu hút đông đảo người xem. Trong tháng đã tổ chức 05 buổi biểu diễn với khoảng 2.150 lượt người tham dự, tiêu biểu như các chương trình phục vụ kỷ niệm 50 năm Ngày truyền thống Bộ đội Biên phòng tỉnh Đồng Tháp (17/3/1976 – 17/3/2026), kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống ngành Thể dục Thể thao (27/3/1946 – 27/3/2026) và Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam lần thứ 5 năm 2026. Đặc biệt, chương trình nghệ thuật “Dạ khúc tri âm” được dàn dựng và biểu diễn tại Rạp Thầy Năm Tú với nhiều tiết mục đặc sắc, mang đậm giá trị nghệ thuật sân khấu cải lương truyền thống, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị di tích văn hóa cấp tỉnh. Hoạt động thư viện: trong tháng, tổ chức Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam lần thứ 5 năm 2026 trên địa bàn tỉnh với chủ đề “Sách - Tri thức - Khát vọng phát triển đất nước”. Các hoạt động hưởng ứng được triển khai đồng bộ, gồm: lễ phát động hưởng ứng Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam năm 2026 tại Trung tâm Văn hóa - Tổ chức sự kiện tỉnh; tổ chức nói chuyện chuyên đề về Ngày Sách và Văn hóa đọc; phát động các cuộc thi như “Đại sứ Văn hóa đọc”, vẽ tranh theo sách; tổ chức sinh hoạt câu lạc bộ đọc sách, các hoạt động tìm hiểu và bổ trợ kiến thức cho thanh thiếu nhi; triển khai các hoạt động phục vụ người khuyết tật và mô hình thư viện lưu động tại vùng sâu, vùng xa, khu vực có điều kiện khó khăn. Trong tháng, Thư viện tỉnh phục vụ trên 50 nghìn lượt người đọc với trên 150 nghìn lượt tài liệu; các kênh thông tin thư viện có trên 472 nghìn lượt truy cập. Hoạt động bảo tàng: trong tháng, công tác trưng bày được duy trì ổn định tại 02 cơ sở với các chuyên đề về lịch sử, văn hóa, kháng chiến và trưng bày ngoài trời; phối hợp phục vụ Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương (mùng 10/3 âm lịch). Trong tháng, các khu di tích và Bảo tàng tỉnh đã đón tiếp trên 84 nghìn lượt khách. Hoạt động thể dục, thể thao: Tổ chức Giải Pickleball tại Phường Đạo Thạnh, tỉnh Đồng Tháp cho đối tượng tham dự là lãnh đạo, công chức, viên chức Ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đồng Tháp; phối hợp Công an tỉnh tổ chức “Ngày chạy Olympic - Vì sức khỏe toàn dân - Vì an ninh Tổ quốc” với hơn 5.000 người tham gia, bao gồm lãnh đạo, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang, công chức, viên chức, học sinh, sinh viên và đông đảo quần chúng nhân dân. Toàn tỉnh tổ chức Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân tại 102/102 phường, xã với hơn 107 nghìn lượt người tham dự. Thể thao thành tích cao tiếp tục được duy trì đào tạo lực lượng 26 môn thể thao thành tích cao. Trong tháng, thể thao Đồng Tháp tham dự 17 giải cấp quốc gia và quốc tế, đạt 15 huy chương Vàng, 16 huy chương Bạc và 35 huy chương Đồng.6. Tình hình trật tự an toàn xã hội (theo báo cáo ngành Công an):Trong tháng xảy ra 118 vụ phạm tội về trật tự xã hội, tăng 08 vụ so cùng kỳ; Hậu quả là 08 người chết, 35 người bị thương, tài sản thiệt hại khoảng 89 tỷ đồng; Cơ quan chức năng đã điều tra, khám phá 91 vụ (đạt tỷ lệ 77,1%), bắt giữ và xử lý 230 đối tượng. Về tội phạm ma túy trong tháng, lực lượng chức năng đã phát hiện và xử lý 74 vụ với 103 đối tượng. 7. Trật tự an toàn giao thông (theo báo cáo ngành Công an, số liệu tính từ ngày 15/3/2026 đến 14/4/2026): Tai nạn giao thông đường bộ: trong tháng, xảy ra 45 vụ, giảm 04 vụ so tháng trước và giảm 04 vụ so cùng kỳ. Hậu quả làm chết 42 người (tăng 08 người so tháng trước, tăng 08 người so cùng kỳ) và 12 người bị thương (giảm 12 người so tháng trước, giảm 11 người so cùng kỳ). Cộng dồn từ đầu năm đến tháng báo cáo, toàn tỉnh đã xảy ra 190 vụ, giảm 36 vụ so với cùng kỳ; làm chết 154 người (tăng 09 người) và làm bị thương 73 người (giảm 46 người). Các nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông chủ yếu vẫn do ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông như: uống rượu say, điều khiển xe khi có rượu bia, phóng nhanh vược ẩu, không làm chủ tốc độ; không đi đúng phần đường, làn đường; không nhường đường, vượt đèn đỏ, thiếu quan sát… Tai nạn giao thông đường thủy: trong tháng không xảy ra. Cộng dồn từ đầu năm đến tháng báo cáo là 02 vụ làm chết 01 người, tương đương về số vụ và số người chết so với cùng kỳ. Tình hình trật tự an toàn giao thông dịp nghỉ Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương 2026 (từ ngày 25/4/2026 đến ngày 27/4/2026): xảy ra 04 vụ, giảm 01 vụ so cùng kỳ; làm chết 03 người, giảm 01 người; 01 người bị thương, giảm 01 người; thiệt hại tài sản ước tính 18,5 triệu đồng. 8. Tình hình cháy nổ, môi trường và thiên tai: - Cháy, nổ: trong tháng, xảy ra 04 vụ cháy, giảm 01 vụ so cùng kỳ; thiệt hại về tài sản khoảng 246 triệu đồng. Nguyên nhân do sự cố hệ thống điện 03 vụ; do trẻ em nghịch lửa 01 vụ. - Môi trường: trong tháng, có 01 vụ vi phạm môi trường đã xử lý với số tiền xử phạt 50 triệu đồng. Tính từ đầu năm, xảy ra 04 vụ vi phạm môi trường, giảm 06 vụ so cùng kỳ; đã xử lý 06 vụ với tổng số tiền xử phạt là 818,5 triệu đồng. - Thiên tai: trong tháng trên địa bàn tỉnh xảy ra 03 vụ thiên tai (01 vụ do mưa, giông lốc; 02 vụ sạt lở nội đồng). Tuy không gây thiệt hại về người nhưng đã làm tốc mái 49 căn nhà, 01 điểm phụ trường Tiểu học An Phong 1 bị tốc mái 05 phòng học, hư bảng tên trường, một số laphong bị rớt, 02 tivi dùng để dạy học bị ướt...Ước tính giá trị thiệt hại khoảng 818 triệu đồng.
Chuyện những người lính thống kê hành quân vào chiến khu R
- 21/04/2026 14:18
Đầu những năm 70 thế kỷ trước, khi chiến trường miền Nam còn rực lửa thì nhiều người lính - cán bộ thống kê đã nhận lệnh đi B, lên đường vào chiến khu R (Tây Ninh) để vừa chiến đấu, vừa chuẩn bị tiếp quản miền Nam sau giải phóng.Ông Nguyễn Văn Tiến, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê (nay là Cục Thống kê) - một người lính thống kê từng hành quân vào chiến khu R - Ảnh: NAM TRẦNBa tháng hành quân dọc dãy Trường SơnỞ tuổi 82, ông Nguyễn Văn Tiến, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê (nay là Cục Thống kê, Bộ Tài chính) vẫn không quên những ngày tháng hành quân dọc dãy Trường Sơn vào chiến khu R (Trung ương Cục miền Nam), thuộc tỉnh Tây Ninh ngày nay.Ông Tiến nhớ lại: Mùa hè năm 1968, khi vừa tốt nghiệp Đại học Kinh tế quốc dân, tôi xin vào làm việc tại Tổng cục Thống kê, trực thuộc Chính phủ thì đến cuối năm 1973 nhận lệnh đi B (vào chiến khu R) để chuẩn bị tiếp quản cơ quan thống kê miền Nam sau giải phóng.Ông Tiến kể: Đoàn cán bộ Tổng cục Thống kê đi cùng ông vào chiến khu R có 15 người, đi từ Hà Nội vào chiến khu R mất khoảng 3 tháng. Và để chuẩn bị cho cuộc hành quân 3 tháng vào chiến khu R, cả đoàn được đưa đi huấn luyện khoảng 2 tháng tại trạm huấn luyện Trường105 ở Hòa Bình. Chúng tôi được huấn luyện về đường lối, tư tưởng, lập trường trước khi hành quân, được hướng dẫn về văn hóa, phong tục miền Nam và quan trọng nhất là phải rèn luyện về sức khỏe trước khi vào Nam.Trong 2 tháng huấn luyện, cứ 5 giờ chiều, chúng tôi nhận lệnh cho gạch vào ba lô đeo lên vai, được phát đèn pin để tập hành quân đêm trong rừng. Mỗi chuyến hành quân khoảng 15 cây số.Lượng gạch mang trong balo tăng dần theo từng đợt tập hành quân, ban đầu đeo khoảng 15kg gạch, sau tăng dần lên tới 45kg.Đó không chỉ là những viên gạch, mà là cách để chúng tôi làm quen với sức nặng thật sự của hành trang sau này: gạo, đồ khô, thuốc men, nồi niêu, súng để tự bảo vệ và phải đi trong rừng cả ngày lẫn đêm. Nếu không đeo được 45kg, đồng nghĩa với việc không thể hành quân vào Nam.Cũng theo ông Tiến thì đoàn của ông may mắn hơn các đoàn khác, được đi tàu vào Quảng Bình nên chỉ mất 3 tháng hành quân, các đoàn trước đi lâu hơn vì không được đi tàu hỏa. Vào tới Quảng Bình, cả đoàn đi bộ qua Lào, men theo phía tây dải Trường Sơn để vào chiến khu R. Trên đường từ đất Lào vào chiến khu R có đoạn được đi ô tô tải, có đoạn đi bộ theo lệnh cấp trên.Thi thoảng có đợt máy bay Mỹ oanh tạc trên đường hành quân, cả đoàn phải tập trung trú tạm trong rừng dừng nghỉ 4-5 ngày rồi đi tiếp. Khoảng cuối năm 1974 đoàn chúng tôi vào đến chiến khu R.Khi đó, tại chiến khu R có khoảng 25- 30 người lính - cán bộ thống kê, sống giữa rừng nhưng lúc nào cũng phải chuẩn bị tinh thần chống máy bay địch. Máy bay địch có thể thả bom bất cứ lúc nào, nên mỗi tiểu đội được trang bị thêm 2 khẩu súng trường để chiến đấu.Chúng tôi may mắn hơn nhiều đoàn khác khi được đi tàu vào Quảng Bình, nhờ vậy rút ngắn thời gian hành quân.Nhưng từ đó trở đi là những chặng đường gian khổ thực sự: đi bộ qua đất Lào, men theo phía tây dãy Trường Sơn, khi thì cuốc bộ, khi thì đi nhờ xe tải. Có những lúc máy bay Mỹ oanh tạc, cả đoàn phải dừng lại, trú sâu trong rừng 4-5 ngày rồi mới tiếp tục lên đường.Sau gần ba tháng ròng rã, cuối năm 1974, chúng tôi đặt chân tới chiến khu R. Nơi ấy khi đó đã có khoảng vài chục cán bộ thống kê sống giữa rừng sâu. Cuộc sống luôn trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu - bởi bom đạn có thể trút xuống bất cứ lúc nào. Mỗi tiểu đội đều được trang bị thêm súng để tự vệ.Trong số những người lính - cán bộ thông kê hành quân vào chiến khu R, có ông Phan Tu (người Hà Tĩnh), Vụ trưởng Vụ Thống kê Nông nghiệp vào chiến khu R được phân công làm Trưởng Văn phòng 2 đầu tiên của Tổng cục Thống kê và ông Đoàn An (người Bình Thuận), Vụ trưởng Vụ Thống kê Vật tư vào chiến khu R được phân công làm Phó Văn phòng 2 của Tổng cục Thống kê.Lúc ở chiến khu R những người lính - cán bộ thống kê chỉ biết sắp đến ngày tiếp quản Sài Gòn chứ không rõ tiếp quản vào ngày nào. Chỉ đến 30-4-1975 thì anh em được lệnh là chuẩn bị đồ đạc, khoác ba lô lên đường.Trên đường từ chiến khu R về Sài Gòn, đoàn những người lính – cán bộ thống kê phải đi xuyên rừng, đến 11h30 đêm cùng ngày chúng tôi tập kết ở một binh trạm giao liên trong một khu rừng cao su ở Biên Hòa (Đồng Nai).Chúng tôi mắc võng nghỉ tạm ở trạm giao liên, nửa đêm rất nhiều muỗi, cảm giác như vốc được. Và đến sáng 1-5-1975 chúng tôi đi cùng những đoàn quân giải phóng vào tiếp quản Sài Gòn.Đoàn cán bộ của Cục Thống kê trong chuyến về nguồn đầu năm 2026 - Ảnh: Tư liệuTiếp quản Sài Gòn, xây dựng các cơ quan thống kê ở miền NamVừa tới Sài Gòn (sau này đổi tên thành Thành phố Hồ Chí Minh), ông Tiến cùng nhiều đồng đội đến tiếp quản Viện Thống kê miền Nam. Khi đó, trụ sở cơ quan thống kê miền Nam không còn ai, chỉ cử duy nhất một cán bộ ở lại viện để trông giữ và bàn giao tài liệu, trong đó có nhiều tài liệu quý phục vụ cho công tác thu thập tài liệu thống kê cả nước sau này.Ngoài ra, những người lính - cán bộ thống kê từ chiến khu R về cũng bắt tay ngay vào việc tổ chức hoạt động của cơ quan thống kê tại Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam.Ông Tiến cho hay sau thống nhất đất nước hệ thống thống kê cả nước đi vào hoạt động tương đối đồng bộ, đầy đủ và đạt kết quả tốt hơn. Cơ quan thống kê được tổ chức theo ngành dọc từ trung ương đến cấp huyện là điều kiện không thể thiếu trong tổ chức và hoạt động thống kê trên phạm vi cả nước.Theo đó, từ năm 1976 - 1977 cơ quan thống kê cả nước đã thực hiện cuộc tổng điều tra dân số đầu tiên sau thống nhất đất nước, khi đó dân số cả nước khoảng 35 triệu người.Đến năm 1986 khi đất nước bước vào công cuộc đổi mới theo mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, ngành Thống kê cũng thực hiện đổi mới để từng bước hội nhập quốc tế.Toàn bộ hệ thống kê từ phương pháp thống kê, đến tổ chức thu thập thông tin, xử lý tổng hợp và phổ biến thông tin thống kê đều phải thay đổi. Hệ thống chức năng, nhiệm vụ của hoạt động toàn ngành thống kê từ trung ương đến địa phương cũng được đổi mới để thu thập những thông tin thực sự cần thiết, phục vụ cho quá trình đổi mới, phát triển.Trong quá trình này, thông tin thống kê dần được chuyển đổi từ trạng thái mật - chỉ phục vụ, tham mưu riêng cho lãnh đạo Đảng, Nhà nước sang trạng thái phổ biến rộng rãi hơn.Theo đó, thông tin thống kê ngoài phục vụ, tham mưu cho Đảng, Nhà nước trong điều hành kinh tế - xã hội, còn phục vụ rộng rãi cho giới nghiên cứu và cung cấp cho các đối tượng dùng tin.Trước đổi mới, chúng ta tính toán GDP theo hệ thống MPS (của Liên Xô cũ) - tính theo tổng sản phẩm vật chất xã hội làm ra nhưng kể từ năm 1988 chuyển sang tính toán GDP theo hệ thống tài khoản quốc gia SNA (của Liên Hợp quốc) - tính tổng sản phẩm xã hội bao gồm cả sản phẩm vật chất và phi vật chất trong nền kinh tế.Phương pháp SNA phù hợp với chuẩn mực quốc tế, các nước họ đều áp dụng phương pháp SNA để tính toán GDP, phương pháp này được duy trì đến tận ngày nay."Sự ra đời của niên giám thống kê năm"Theo dữ liệu từ Cục Thống kê, hoạt động thống kê được đẩy mạnh từ năm 1961 khi đó cơ quan thống kê quốc gia chuyển về trực thuộc Chính phủ, bộ máy ngành Thống kê được xây dựng từ trung ương tới địa phương. Vì thế, số liệu thống kê cũng toàn diện hơn từ thống kê công nghiệp, xây dựng đến thống kê giao thông vận tải, thương mại dịch vụ, giáo dục, văn hóa.Thời điểm này có 3 sản phẩm thống kê chính được dùng để phục vụ cho công tác điều hành kinh tế - xã hội đất nước. Một là báo cáo kinh tế - xã hội hàng tháng, hai là báo cáo kinh tế - xã hội định kỳ 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng và 1 năm, ba là niên giám thống kê năm.Niên giám thống kê năm được cơ quan thống kê quốc gia biên soạn, in ấn, lưu hành từ những năm 1960 đến nay, đây là tài liệu rất quan trọng của ngành Thống kê. Chất lượng niên giám thống kê cũng được nâng cao qua các năm, với độ phủ toàn diện hơn.Nguồn: https://tuoitre.vn/chuyen-nhung-nguoi-linh-thong-ke-hanh-quan-vao-chien-khu-r-20260421081407231.htm?gidzl=38g7UUNp-WyFdOHzv-ly3GsVXthyxQvU6ipIAw6y-LbFpOCbe-dzKqYGqIwZuwjRIf7IUsFVG4z5ulhu2G
80 năm ngành Thống kê phát huy truyền thống, tiếp tục xứng đáng "Là tai, là mắt của Đảng và Nhà nước"
- 21/04/2026 14:11
Với nền tảng truyền thống vẻ vang, sự quan tâm sâu sắc của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, ngành thống kê tiếp tục vững bước, xứng đáng “là tai, là mắt của Đảng và nhà nước” trong phát triển kinh tế-xã hội, nhất là trong kỷ nguyên mới hiện nay.Kỷ niệm 80 năm cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9 cũng đánh dấu chặng đường gần 80 năm ngành thống kê Việt Nam nói riêng và 80 năm ngành tài chính Việt Nam nói chung, Báo Nhân Dân đã có cuộc trao đổi với Tiến sĩ Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê (Bộ Tài chính).Từ Sắc lệnh thành lập Nha Thống kê Việt Nam năm 1946Phóng viên: Thưa Cục trưởng, cùng với dấu mốc thành lập nước, trong gần tám mươi năm qua, ngành thống kê đã hình thành và phát triển như thế nào?Lễ ra quân Tổng điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ năm 2024 ngày 1/4/2024 tại Hà Nội.Tiến sĩ, Cục trưởng Nguyễn Thị Hương: Thống kê là một bộ phận không thể tách rời trong hệ thống quản lý nhà nước nói chung và quản lý tài chính quốc gia nói riêng, nhân dịp kỷ niệm 80 năm thành lập ngành Tài chính Việt Nam, những người làm công tác thống kê xin gửi lời cám ơn sâu sắc đến sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, Bộ Tài chính và sự phối hợp hiệu quả của các ban, bộ, ngành và địa phương, sự ủng hộ của người dân, doanh nghiệp và cộng đồng người sử dụng thông tin thống kê trong nước và quốc tế.Ngay trong thời gian đầu của chính quyền cách mạng, giữa muôn vàn khó khăn của thời kỳ "thù trong, giặc ngoài", Đảng và Nhà nước ta đã đặc biệt coi trọng vai trò của công tác thống kê. Ngày 6/5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh - Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã ký ban hành Sắc lệnh số 61/SL, thành lập Nha Thống kê Việt Nam nằm trong Bộ Quốc dân Kinh tế. Đây không chỉ là mốc son lịch sử, đánh dấu sự ra đời của ngành thống kê cách mạng Việt Nam, khẳng định vai trò không thể thiếu của thống kê trong quản lý nhà nước và phát triển kinh tế - xã hội, mà còn mở ra một hành trình gần 80 năm đồng hành cùng đất nước, trải qua kháng chiến, xây dựng Chủ nghĩa xã hội, đổi mới và hội nhập toàn cầu.Gần 80 năm đồng hành cùng dân tộc, ngành thống kê không chỉ thu thập thông tin và phản ánh thực trạng kinh tế-xã hội mà còn tiên phong xây dựng hệ thống thông tin kỹ thuật số, ứng dụng phương pháp luận thống kê tiên tiến, minh bạch và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của chính sách phát triển. Dữ liệu thống kê không chỉ phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của Đảng, Nhà nước, mà còn là cơ sở để hoạch định chính sách, phân bổ nguồn lực và đánh giá hiệu quả phát triển kinh tế-xã hội của từng địa phương và cả nước trong từng giai đoạn.Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Thống kê là tai, là mắt của Đảng và Nhà nước”. Câu nói của Bác dung dị, mộc mạc, nhưng rất sâu sắc về hoạt động thống kê: “tai phải thính, mắt phải tinh; nếu tai không thính, mắt không tinh sẽ dẫn đến số liệu không sát thực tế, không đầy đủ, kịp thời, khiến các cơ quan hoạch định chính sách dễ đi sai đường và hậu quả để lại sẽ rất lớn...”Sắc lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh.Hay như Cố Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng cũng từng nói: Số liệu thống kê không phải là con số chết, mỗi con số thống kê đều có ý nghĩa của nó, linh hồn của nó, tình hình nước mình thể hiện trong con số, tương lai ở trong con số, kế hoạch cũng ở trong con số.Những câu nói này không chỉ thể hiện tầm nhìn chiến lược về vai trò của thống kê trong quản trị quốc gia, mà còn là kim chỉ nam cho toàn ngành thống kê trong suốt chặng đường phát triển.Trong chiến tranh chống Pháp, thực hiện khẩu hiệu “Vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”, Đảng và Nhà nước rất cần những thông tin thống kê toàn diện, kịp thời và độ tin cậy cao để kịp thời đề ra các quyết sách đúng đắn, ngành thống kê đã triển khai nhiều cuộc điều tra, tập trung thu thập và báo cáo các thông tin về nông nghiệp, đất đai, thống kê công, thương nghiệp ở vùng tự do giúp lãnh đạo cấp trung ương và địa phương đưa ra các quyết sách phân phối, sử dụng nguồn lực hợp lý.Giai đoạn kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, dù còn thiếu thốn về cơ sở vật chất và nhân lực, để thực hiện tốt nhiệm vụ cung cấp thông tin thống kê, ngành thống kê đã triển khai được nhiều cuộc điều tra đồng thời thực hiện nhiều báo cáo thống kê chuyên đề, đi sâu vào một số lĩnh vực cũng như tình hình thực hiện các chủ trương chính sách của Nhà nước phục vụ trực tiếp cho việc điều hành, đề ra các quyết sách đúng đắn...Người dân mua hàng tại Bách hóa Tổng hợp (nơi thực hiện chế độ khoán thu nhập). (Ảnh: TTXVN)Đây là nền tảng vững chắc để khi bước vào thời kỳ bao cấp và đổi mới, ngành thống kê giữ vững vai trò là cầu nối giữa hệ thống kế hoạch hóa tập trung và chuyển đổi kinh tế thị trường. Công tác thống kê các loại hình kinh tế, từ doanh nghiệp nhà nước đến kinh tế tư nhân đã quy hoạch nguồn lực, hỗ trợ cải tổ. Dữ liệu thống kê kinh tế vĩ mô như GDP, CPI, tích lũy, tiêu dùng, xuất-nhập khẩu… trở thành cơ sở pháp lý để soạn thảo chính sách đổi mới.Thống kê là bộ phận không thể thiếu của Đảng, Nhà nước trong mọi thời kỳPhóng viên: Có thể thấy, ngành thống kê đã sát cánh cùng sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, với cương vị là người đứng đầu Ngành, Bà có đồng tình với nhận định “thống kê là bộ phận không thể thiếu của Đảng, Nhà nước trong mọi thời kỳ” hay không? Căn cứ nào cho lập luận đó, thưa bà?Tiến sĩ, Cục trưởng Nguyễn Thị Hương: Giai đoạn đổi mới kể từ năm 1991, Việt Nam gia nhập WTO, ASEAN và các tổ chức thống kê quốc tế, phương pháp hệ thống tài khoản quốc gia (SNA) đã chính thức được áp dụng thống nhất trên phạm vi quốc gia, thay thế hệ thống cân đối vật chất (MPS), các cuộc điều tra chuyên đề để thu thập thông tin phục vụ tính toán các chỉ tiêu tổng hợp như tổng sản phẩm trong nước (GDP), tổng thu nhập quốc gia (GNI), thu nhập quốc gia sử dụng (NDI) được triển khai, bài bản, quy mô toàn quốc.Bước sang thời kỳ hội nhập và chuyển đổi số, ngành thống kê đã tích cực đổi mới toàn diện từ thể chế, phương pháp, quy trình sản xuất số liệu đến ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI). Việc thiết lập hệ thống thống kê quốc gia hiện đại, tiệm cận với chuẩn mực quốc tế, gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước giai đoạn 2021 - 2030 đã và đang được đẩy mạnh. Công nghệ thông tin, dữ liệu lớn (big data), AI được ngành thống kê áp dụng mạnh mẽ để nâng cao hiệu quả thu thập, xử lý, tổng hợp, phân tích và phổ biến số liệu, thông tin thống kê.Trong suốt quá trình phát triển đất nước, ngành thống kê được xác định là bộ phận không thể thiếu của Đảng, Nhà nước trong mọi thời kỳ. Đáp ứng nhu cầu thông tin ngày càng cao, kể từ khi được thành lập đến nay, ngành thống kê đã cung cấp thông tin chính xác, khách quan và kịp thời phục vụ lãnh đạo Đảng, Nhà nước trong công tác chỉ đạo, quản lý, điều hành. Các cuộc Tổng điều tra Dân số và nhà ở, Tổng điều tra Nông thôn, nông nghiệp, Tổng điều tra Kinh tế, Điều tra Doanh nghiệp, Điều tra Mức sống dân cư… và nhiều cuộc điều tra khác được tổ chức quy mô lớn, bài bản và ngày càng ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại, góp phần nâng cao chất lượng dữ liệu và minh bạch hóa thông tin. Trên cơ sở bằng chứng xác thực, khoa học từ con số thống kê Đảng và Nhà nước đã đưa ra những quyết sách quan trọng phát triển đất nước.Không chỉ trong khuôn khổ quốc gia, ngành thống kê Việt Nam đã và đang tích cực hội nhập, phối hợp chặt chẽ với các tổ chức thống kê khu vực và quốc tế. Việt Nam hiện là thành viên của nhiều diễn đàn thống kê quốc tế, đồng thời chủ động tham gia vào hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững (SDGs) toàn cầu, từ đó góp phần nâng cao vị thế và uy tín của ngành thống kê Việt Nam trên trường quốc tế. Những chỉ tiêu thống kê (GDP, CPI, IIP, FDI,…) là ngôn ngữ toàn cầu, giúp cho bạn bè quốc tế hiểu Việt Nam rõ hơn qua những số liệu, thống tin thống kê.Thông tin, dữ liệu thống kê biểu hiện qua các chỉ tiêu thống kê không chỉ mang tính khoa học, chuyên môn, chuyên sâu mà còn có tính toàn cầu, thống nhất về tiêu chuẩn và phương pháp luận trên toàn thế giới nhằm đảm bảo so sánh và hội nhập quốc tế. Thông tin, dữ liệu thống kê chính xác, khách quan, minh bạch sẽ góp phần khẳng định uy tín, vị thế và tiềm lực của mỗi quốc gia, qua đó tạo dựng niềm tin cho các nhà đầu tư, các đối tác phát triển, thúc đẩy và thu hút hợp tác, đầu tư.Khi đến làm việc với Tổng cục Thống kê (nay là Cục Thống kê) vào tháng 7/2022, Thủ tướng Phạm Minh Chính đánh giá cao vai trò của ngành thống kê trong việc “cung cấp thông tin trung thực, khách quan, chính xác, đầy đủ và kịp thời” để phục vụ công tác chỉ đạo điều hành. Thủ tướng nhấn mạnh: “Số liệu thống kê là căn cứ rất quan trọng để đánh giá đúng tình hình, xác định đúng mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phù hợp, hiệu quả cho phát triển kinh tế - xã hội. Nếu số liệu không chính xác dẫn đến nhận định sai, từ đó ra quyết định không hiệu quả”.Thủ tướng Phạm Minh chính cho rằng, thống kê không có “số đẹp” hay “số xấu” mà chỉ có số liệu khách quan. Con số thống kê phải “biết nói”, ngoài thống kê đơn thuần phải có phân tích, nhận định, dự báo để con số khô khan biết nói… Con số biết nói rồi thì phải sử dụng để những con số thống kê góp phần quan trọng trong việc quản lý, điều hành hiệu quả, phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội.Tổng cục Thống kê vinh dự được nhận giải thưởng ở hạng mục Cơ quan nhà nước chuyển đổi số xuất sắc tại Giải thưởng Chuyển đổi số Việt Nam – Vietnam Digital Awards 2019.Đổi mới, hiện đại hóa và minh bạch hóa thông tinPhóng viên: Vậy theo bà, ngành cần phải làm gì để củng cố cũng như góp phần vào phục vụ mục tiêu phát triển nhanh, bền vững của đất nước ta hiện nay?Tiến sĩ, Cục trưởng Nguyễn Thị Hương: Từ khi trở thành cơ quan thuộc Bộ Tài chính, với vai trò là cơ quan trung tâm, chủ đạo và điều phối toàn bộ hệ thống thống kê quốc gia của Việt Nam, Cục Thống kê giữ vai trò đầu mối, chủ trì phối hợp với các đơn vị trong và ngoài Bộ xây dựng các chỉ tiêu thống kê quốc gia, chỉ tiêu thống kê kinh tế - xã hội phục vụ điều hành của Chính phủ và chính quyền địa phương, chỉ tiêu thống kê hàng ngày phục vụ Bộ Chính trị, Ban Bí thư… Chủ động tăng cường phối hợp liên ngành và địa phương nhằm nắm bắt thông tin xuyên suốt và kịp thời; ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại, triển khai phần mềm thu thập thông tin, cơ sở dữ liệu tập trung; phân tích và dự báo kịch bản tăng trưởng kinh tế, tác động của một số chính sách đến tăng trưởng kinh tế. Trong bối cảnh thế giới biến động mạnh mẽ, khó lường và rất khó dự báo; hoạt động kinh tế, xã hội phát triển kéo theo phát sinh thêm nhiều ngành nghề mới, lĩnh vực mới, phức tạp hơn, đa dạng hơn, nhiệm vụ của ngành thống kê ngày càng nặng nề.Ngành Thống kê cam kết tiếp tục phấn đấu, đổi mới, hiện đại hóa và minh bạch hóa thông tin, góp phần nâng cao năng lực quản trị quốc gia, phục vụ mục tiêu phát triển nhanh, bền vững của đất nước. Với vai trò là cơ quan Thống kê quốc gia, ngành thống kê cung cấp số liệu GDP, CPI, FDI, … giúp Chính phủ, Bộ Tài chính xác định mục tiêu trung và dài hạn trong việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội; dữ liệu về thu chi ngân sách do cơ quan Thống kê công bố góp phần quan trọng giúp Chính phủ, Bộ Tài chính và các địa phương phân bổ vốn đúng vùng “đói nghèo”, hỗ trợ an sinh.Tiến sĩ Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê (Bộ Tài chính).Trong suốt chặng đường 80 năm hình thành và phát triển, ngành thống kê Việt Nam đã khẳng định vai trò là cơ quan cung cấp thông tin chính thức, tin cậy và kịp thời, góp phần đáng kể vào công cuộc lãnh đạo, điều hành, quy hoạch và đánh giá phát triển kinh tế-xã hội của Đảng, Nhà nước. Từ những bản thống kê trên giấy được thực hiện bằng công cụ thô sơ đến hệ thống dữ liệu số hiện đại, từ vai trò hỗ trợ xây dựng và đánh giá các chỉ tiêu kế hoạch thời bao cấp đến cung cấp đầy đủ các chỉ tiêu quốc gia phục vụ điều hành nền kinh tế trong thời đại số, ngành thống kê luôn đồng hành và góp phần quyết định vào thành tựu chung của đất nước.Trong thời gian tới, ngành thống kê tiếp tục xác định nhiệm vụ trọng tâm là cầu nối dữ liệu, nâng cao chất lượng, độ tin cậy và tính kịp thời của dữ liệu thống kê, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và các đối tượng sử dụng khác. Việc xây dựng hệ thống dữ liệu thống kê mở, liên thông, phục vụ kinh tế số, xã hội số là định hướng xuyên suốt trong chiến lược phát triển của Ngành.Ngành thống kê tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các bộ ngành, địa phương, củng cố niềm tin của nhân dân và cộng đồng quốc tế về các số liệu, quyết tâm tiếp tục phát triển xứng với niềm tin và vai trò lịch sử của mình. Với nền tảng truyền thống vẻ vang, sự quan tâm sâu sắc của lãnh đạo Bộ Tài chính, ngành thống kê sẽ tiếp tục vững bước, xứng đáng là tai, là mắt của Đảng và nhà nước trong phát triển kinh tế-xã hội.Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn Cục trưởng về cuộc trò chuyện!Sẵn sàng cho Tổng điều tra nông nghiệp, nông thôn 2025Các điểm cầu thống kê trên cả nước họp trực tuyến.Tài liệu phục vụ tuyên truyền Tổng điều tra nông nghiệp, nông thôn 2025.Các điều tra viên đến tận hộ dân tại Thanh Hóa để thu thập dữ liệu phục vụ Tổng điều tra nông nghiệp, nông thôn 2025.Nguồn: E-Magazine | Nhandan.vnTổ chức thực hiện: TRƯỜNG SƠN-HỒNG VÂNNội dung: VIỆT HÀẢnh: VIỆT HÀ, Tổng cục Thống kêTrình bày: Vân Thanh
80 năm ngành Thống kê: Từ căn nhà mái lá vùng Sơn Dương đến cơ quan thống kê quốc gia
- 18/04/2026 20:30
Khởi đầu từ căn nhà lá vùng Sơn Dương (Tuyên Quang) với vài cán bộ chuyên trách, đến nay Cục Thống kê đã trở thành cơ quan thống kê quốc gia chuyên nghiệp, cung cấp số liệu tin cậy và xây dựng kịch bản kinh tế đất nước.Di tích Nha Thống kê Việt Nam tại xã Minh Thanh, tỉnh Tuyên Quang - Ảnh tư liệuCơ quan hoạt động bí mật, phục vụ kháng chiếnNgày 6-5-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 61/SL thành lập Nha Thống kê quốc gia, thuộc Bộ Quốc dân Kinh tế, với cơ cấu tổ chức gồm 3 phòng, gắn với ba nhiệm vụ chính.Đó là sưu tầm, thu thập tài liệu, con số về kinh tế - xã hội, văn hoá, hiện nay chúng ta gọi là dữ liệu kinh tế - xã hội. Xuất bản phẩm thống kê, giờ gọi là công bố, phổ biến số liệu thống kê, phục vụ quản lý, điều hành. Và kiểm soát các công ty bảo hiểm của Việt Nam.Chia sẻ với Tuổi Trẻ, ông Nguyễn Bình, Chánh Văn phòng Cục Thống kê cho biết, ban đầu Nha Thống kê chỉ có vỏn vẹn 3 phòng. Phòng nhất là phòng hành chính lo các công việc về nhân viên, kế toán, vật tư, văn thư, lưu trữ, xuất bản phẩm. Phòng nhì tập trung thu thập thông tin về dân số, văn hoá - xã hội. Phòng ba tập trung thu thập thông tin về kinh tế - tài chính.Cho đến nay các chức năng này vẫn được kế thừa, phát triển, Cục Thống kê, thuộc Bộ Tài chính cũng được chia thành 3 mảng.Mảng thứ nhất là khối chức năng gồm kế hoạch, tài chính, tổ chức cán bộ, kiểm tra và văn phòng. Hai khối nghiệp vụ còn lại chủ yếu phục vụ kinh tế - xã hội, gồm các ban: Chính sách, Chiến lược và Dữ liệu thống kê; Thống kê Dịch vụ và Giá; Hệ thống tài khoản quốc gia; Thống kê Công nghiệp và Xây dựng; Thống kê Nông, Lâm nghiệp và Thuỷ sản; Xã hội và Môi trường; Dân số và Lao động; Thống kê Tổng hợp và Đối ngoại.Cũng theo ông Bình, trước đây cơ quan thống kê là cơ quan hoạt động bí mật, thực hiện nhiệm vụ thống kê lại tất cả các nguồn lực của đất nước để phục vụ cho cuộc kháng chiến chống Pháp.Và ngay sau Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Bác Hồ thì Nha Thống kê quốc gia được chuyển lên hoạt động bí mật tại Thái Nguyên, sau đó sang Bắc Kạn, rồi về Tân Trào, thuộc tỉnh Tuyên Quang ngày nay.Thời điểm này, cơ quan thống kê quốc gia có trụ sở là một căn nhà lá ba gian tại thôn Lập Binh, xã Bình Yên, huyện Sơn Dương, nay là xã Minh Thanh, tỉnh Tuyên Quang.Tháng 4-1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh sáp nhập Nha Thống kê vào Phủ Chủ tịch, sau đó lập ra Phòng Thống kê trực thuộc Thủ tướng Phủ. Trụ sở làm việc của Phòng Thống kê nằm sát ngay nhà làm việc của Bác Hồ tại khu di tích Chủ tịch phủ, Thủ tướng phủ.Ngày 9-8-1950, Chính phủ ban hành Nghị định số 38 thành lập Phòng Thống kê, trực thuộc Thủ tướng phủ, với 3 cán bộ chuyên trách ban đầu, phân công ông Lương Duyên Lạc làm Trưởng phòng. Nhiệm vụ của Phòng Thống kê là thu thập số liệu thống kê từ các bộ, ngành, ủy ban hành chính kháng chiến ở các địa phương và giúp cho các bộ, ủy ban hành chính kháng chiến trong công tác thống kê.Trong suốt cuộc kháng chiến chống Pháp, ngành Thống kê đã thực hiện đúng chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong công tác thống kê sản lượng lúa gạo, dân số phục vụ kháng chiến.Ông Nguyễn Bình, Chánh Văn phòng Cục Thống kê - Ảnh: PHÚC TÀIXác lập mô hình thống kê từ trung ương xuống cơ sởVề quá trình phát triển của ngành Thống kê, ông Bình cho hay ngày 20-2-1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định lập ra Cục Thống kê trung ương, trực thuộc Ủy ban Kế hoạch Nhà nước.Ngoài Cục Thống kê trực thuộc Bộ Tài chính, cả nước hiện có 34 Cục Thống kê cấp tỉnh và 480 thống kê cơ sở.Lúc này ở trung ương có Cục Thống kê trung ương, bộ phận thống kê bên trong các bộ, ngành. Còn ở địa phương có chi cục thống kê liên khu, khu, tỉnh, thành phố, phòng thống kê các huyện, châu, ban thống kê các xã.Nhiệm vụ của Cục Thống kê lúc này cũng được yêu cầu cao hơn, đó là sưu tầm, chỉnh lý, nghiên cứu, phân tích các tài liệu điều tra thống kê cơ bản về các ngành kinh tế quốc dân, văn hoá - xã hội, trình Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Chính phủ làm căn cứ, tài liệu tham khảo để lập kế hoạch, làm chính sách.Có thể thấy trong bất cứ thời kỳ nào thì lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đặc biệt là Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến công tác thống kê. Ngành Thống kê như một công cụ giúp cho Chính phủ trong công tác điều hành kinh tế - xã hội đất nước, ngay cả trong thời kỳ kháng chiến, kiến quốc.Đến ngày 29-9-1961, ngành Thống kê tách ra khỏi Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, thành lập Tổng cục Thống kê trực thuộc Hội đồng Chính phủ, có trách nhiệm chỉ đạo tập trung, thống nhất toàn bộ công tác thống kê theo đường lối, chính sách của Đảng.Về tài liệu thống kê, trước năm 1983 cơ bản báo cáo kinh tế - xã hội, báo cáo chuyên ngành đều được đóng dấu mật, thậm chí tối mật và tuyệt mật. Những năm đầu hoạt động ngành Thống kê chưa có hệ thống ngành dọc, cán bộ thống kê hoạt động kiêm nhiệm ở nhiều cơ quan khác nhau, chỉ một bộ phận nhỏ chuyên trách trực thuộc Chủ tịch phủ, Thủ tướng phủ.Trụ sở Cục Thống kê, Bộ Tài chính tại Hà Nội - Ảnh: PHÚC TÀINâng chất số liệu thống kêGắn bó với ngành Thống kê gần 32 năm, ông Bình cho biết phải đến tháng 8-2003, sau khi Luật Thống kê đầu tiên được ban hành vào tháng 6-2003 thì Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội của ngành Thống kê mới được coi là tài liệu chính thức sử dụng trong các cuộc họp Chính phủ. Đây cũng là một bước ngoặt trong sự phát triển của ngành Thống kê.Ngoài việc thống kê số liệu kinh tế - xã hội, đến nay nhiệm vụ của Cục Thống kê không chỉ là cung cấp thông tin thống kê kinh tế - xã hội cho Đảng, Nhà nước và các cấp lãnh đạo mà trở thành cơ quan quản trị dữ liệu, đồng thời đề xuất, tham vấn các giải pháp điều hành kinh tế - xã hội đất nước.Từ năm 2016 đến nay, Cục Thống kê chủ động xây dựng các kịch bản tăng trưởng kinh tế hằng quý để phục vụ hoạt động điều hành kinh tế - xã hội đất nước.Theo Quy định số 366-QĐ/TW ngày 30/8/2025 của Ban Chấp hành Trung ương về việc kiểm điểm và đánh giá, xếp loại chất lượng đối với tập thể, cá nhân trong hệ thống chính trị, trong số 5 chỉ tiêu kinh tế - xã hôi chủ yếu dùng làm căn cứ để đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ lãnh đạo quản lý, có 2 chỉ tiêu do ngành Thống kê đảm nhiệm đo lường, đó là tính toán tốc độ tăng trưởng GDP, GRDP và thu nhập bình quân đầu người.Để nâng chất số liệu thống kê, những năm gần đây ngành Thống kê không ngừng đổi mới, nỗ lực để số liệu thống kê công bố bảo đảm được 3 tiêu chí minh bạch, tin cậy và đồng thuận xã hội.Đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác thống kêĐể đạt được 3 tiêu chí minh bạch, tin cậy và đồng thuận xã hội, những năm qua các thế hệ cán bộ ngành Thống kê luôn cần mẫn, tỉ mỉ, vượt khó.Ngành Thống kê cũng đẩy mạnh đào tạo chuyên môn cho công chức, viên chức, người lao động, tăng cường hợp tác quốc tế, ứng dụng công nghệ để nâng cao chất lượng từng con số thống kê.Ngành Thống kê cũng là ngành thực hiện chuyển đổi số rất sớm. Trong cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, ngành thống kê đã chuyển từ hình thức điều tra bằng phiếu giấy sang điều tra bằng CAPI (hình thức điều tra sử dụng phiếu điện tử là chủ yếu, kết hợp với các phương pháp điều tra trực tiếp, nhằm đánh giá thực trạng và phục vụ hoạch định chính sách) trên môi trường số.Đến nay, tất cả các cuộc điều tra thống kê đều được thực hiện trên môi trường số.Nguồn: https://tuoitre.vn/80-nam-nganh-thong-ke-tu-can-nha-mai-la-vung-son-duong-den-co-quan-thong-ke-quoc-gia-20260416225556111.htm?gidzl=dM3B4HLiN0gUTyWL5tHO391npXS09WWEZ7MPGmTsM0cCUyX20ta93znvbHvLBLO5Y7d65JE-DQKe4cLU30
Đoàn Chỉ đạo số 08 - Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế Trung ương đến kiểm tra tại tỉnh Đồng Tháp
- 08/04/2026 16:57
Ngày 08/4/2026 Đoàn Chỉ đạo số 08 - Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế Trung ương do đồng chí Hồ An Phong - Thứ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Uỷ viên Ban Chỉ đạo Trung ương làm Trưởng đoàn có buổi làm việc với Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế tỉnh Đồng Tháp về công tác tổ chức triển khai trên địa bàn tỉnh. Cùng đi với đoàn có đồng chí Lê Thị Tường Thu - Phó Cục trưởng Cục Thống kê, Phó Tổ trưởng Tổ Thường trực và các đồng chí thành viên Tổ Thường trực Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế Trung ương. Tiếp và lảm việc với đoàn có đồng chí Nguyễn Thành Diệu - Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh và các thành viên Ban Chỉ đạo, Tổ Thường trực Ban Chỉ đạo tỉnh.Ảnh: Đại biểu tham dự họpĐồng chí Trần Thị Mỹ Hạnh đại diện Ban Chỉ đạo tỉnh báo cáo tóm tắt kết quả điều tra giai đoạn 1 và công tác triển khai điều tra giai đoạn 2. Theo Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế năm 2026 tỉnh Đồng Tháp, với sự quan tâm chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Trung ương, các đơn vị thuộc Ban Chỉ đạo tỉnh đã tổ chức thực hiện công tác Tổng điều tra kinh tế năm 2026 theo đúng Phương án Tổng điều tra kinh tế năm 2026. Trong giai đoạn 1 toàn tỉnh đã hoàn thành 204.807/204.817 cơ sở kinh doanh cá thể, đạt 99,99% so với số cơ sở lập bảng kê. Đối với giai đoạn 2, tiến độ đến 9 giờ ngày 08/4/2026: Số doanh nghiệp đã vào kê khai 4.539/14.133 doanh nghiệp (đạt 20,51%); trong đó số Doanh nghiệp đã hoàn thành là 1.640/14.133 DN đạt 11,6%; Số doanh nghiệp đã hoàn thành Điều tra viên đã xác nhận: 788/14.133 doanh nghiệp (đạt 5,57%). Phiếu sự nghiệp ngoài công lập, số đơn vị đã vào kê khai: 10/26 đơn vị (đạt 38,46%). phiếu Hiệp hội, số đơn vị đã vào kê khai: 23/56 đơn vị (đạt 41,07%).Ảnh: Đồng chí Trần Thị Mỹ Hạnh - Phó Ban Chỉ đạo tỉnh báo cáo tóm tắt kết quả điều traĐồng chí Nguyễn Thành Diệu - Trưởng Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế tỉnh cho biết, cuộc Tổng điều tra lần này là nguồn dữ liệu quan trọng, là “tài nguyên” phục vụ công tác lãnh đạo, điều hành và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong thời gian tới. Đồng chí đề nghị các ngành, các địa phương tập trung lãnh đạo thực hiện tốt công tác điều tra, đảm bảo hoàn thành tiến độ theo quy định và đạt chất lượng cao nhất.Ảnh: Đồng chí Nguyễn Thành Diệu – Trưởng Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế tỉnh phát biểu tại buổi làm việcThay mặt Đoàn công tác, Thứ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch Hồ An Phong ghi nhận và đánh giá cao nỗ lực của tỉnh Đồng Tháp dù phải triển khai nhiều nhiệm vụ trọng tâm như: sắp xếp đơn vị hành chính, chuẩn bị công tác bầu cử và phát triển kinh tế - xã hội nhưng địa phương vẫn xác định Tổng điều tra kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm và tổ chức thực hiện hiệu quả. Bên cạnh kết quả đạt được, Thứ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đề nghị trong thời gian tới, tỉnh tiếp tục tăng cường chỉ đạo sâu sát, nhất là đối với giai đoạn còn lại của cuộc Tổng điều tra. Trong đó, tỉnh cần đặc biệt chú trọng công tác tuyên truyền, nâng cao nhận tức doanh nghiệp và người dân về ý nghĩa, trách nhiệm tham gia Tổng điều tra; tiếp tục phát huy vai trò tham mưu của ngành Thống kê; tăng cường phối hợp liên ngành, hỗ trợ điều tra viên trong những khâu còn vướng mắc; kiểm tra, xác minh số liệu đảm bảo tính chính xác, đầu đủ của dữ liệu điều tra.Ảnh: Đồng chí Hồ An Phong - Thứ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Uỷ viên Ban Chỉ đạo Trung ương phát biểu chỉ đạo tại buổi làm việcTrong buổi sáng cùng ngày Đoàn cũng đã khảo sát tình hình sản xuất kinh doanh và công tác kê khai phiếu điều tra của Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Giang và công ty TNHH Freeview Industrial (Việt Nam)./. N.V. Tròn
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Tháp Quý I năm 2026
- 02/04/2026 14:15
Tình hình chính trị thế giới trong những tháng đầu năm 2026 điễn biến phức tạp, cuộc chiến ở Trung Đông đã đẩy giá năng lượng, logistics và chuỗi cung ứng vào trạng thái biến động mạnh… ảnh hưởng đến phát triển kinh tế trong nước nói chung và tỉnh Đồng Tháp nói riêng. Với quyết tâm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2026, ngay từ đầu năm, Tỉnh ủy, UBND tỉnh tổ chức triển khai kế hoạch và giao nhiệm vụ cụ thể cho từng ngành, từng địa phương; tăng cường các biện pháp nhằm bình ổn giá cả thị trường, kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho các đối tượng chính sách và nhân dân vui xuân đón Tết vui tươi, lành mạnh, an toàn, tiết kiệm và đảm bảo trật tự an toàn xã hội; chủ động nguồn hàng hóa phục vụ nhu cầu Tết của nhân dân. Các hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh được tổ chức linh hoạt diễn ra sôi nổi, các doanh nghiệp đã chủ động tiết kiệm chi phí, tối ưu hóa quy trình sản xuất và tìm kiếm nguồn nguyên liệu phù hợp, qua đó hạn chế phần nào tác động tiêu cực từ việc tăng giá xăng dầu. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội được thực hiện trong điều kiện kinh tế tiếp tục phục hồi và phát triển. Kết quả thực hiện ở các lĩnh vực cụ thể như sau: I. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊU KINH TẾ 1. Tài chính - Ngân hàng: a. Tài chính: Thu ngân sách nhà nước: ước thu quý I năm 2026 được 15.389 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn thực hiện 7.777 tỷ đồng, đạt 32,7% dự toán, tăng 23,7% so cùng kỳ; thu nội địa 7.527 tỷ đồng, đạt 32,4% dự toán, tăng 22,8% so cùng kỳ. Các khoản thu chủ yếu như sau: - Thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 1.262 tỷ đồng, đạt 31,2% dự toán, tăng 36,8% so cùng kỳ. - Thu từ hoạt động xổ số kiến thiết 1.852 tỷ đồng, đạt 40% dự toán, tăng 38,1% so cùng kỳ. - Thu thuế công thương nghiệp ngoài quốc doanh 2.208 tỷ đồng đạt 46% dự toán, tăng 50% so cùng kỳ. Chi ngân sách nhà nước: Tổng chi ngân sách quý I năm 2026 là 11.291 tỷ đồng, đạt 28,1% dự toán và tăng 24% so cùng kỳ, trong đó: chi đầu tư phát triển 850 tỷ đồng, đạt 9,7 % dự toán, bằng 23%; chi hành chính sự nghiệp 5.711 tỷ đồng, đạt 25,3% dự toán và tăng 48,3% so cùng kỳ. b. Ngân hàng: Kinh tế toàn cầu diễn biến phức tạp, rủi ro bất ổn thị trường tài chính tăng cao, nhiều quốc gia tiếp tục tăng lãi suất để kiềm chế lạm phát. Ngân hàng trên địa bàn tỉnh đóng vai trò trọng tâm tiếp tục chủ động điều hành chính sách tiền tệ kịp thời, hiệu quả. Đến cuối tháng 2/2026, vốn huy động đạt 210.234 tỷ đồng, tăng 0,98% so với cuối năm 2025; tổng dư nợ cho vay thực hiện là 239.606 tỷ đồng, giảm 1,56% so với cuối năm 2025. Ước tính đến cuối tháng 3/2026, vốn huy động đạt 210.541tỷ đồng, tăng 0,15% so với cuối năm 2025; tổng dư nợ cho vay thực hiện là 241.403 tỷ đồng, tăng 0,75% so với cuối năm 2025. Về lãi suất huy động: hầu hết các chi nhánh Ngân hàng thương mại (NHTM) trên địa bàn tỉnh chấp hành tốt các quy định về lãi suất huy động theo quy định của Ngân hàng nhà nước. Đến cuối tháng 2/2026 lãi suất huy động bằng VND như: đối với tiền gửi có kỳ từ 6 tháng đến 12 tháng: dao động từ 2,89% - 7,9%/năm đối với khách hàng cá nhân, từ 2,5% - 7,5%/năm đối với khách hàng pháp nhân; đối với tiền gửi trên 12 tháng dao động từ 3,13% - 8,46%/năm đối với khách hàng cá nhân, từ 2,5% - 7,8%/năm đối với khách hàng pháp nhân. Lãi suất cho vay (LSCV): đến cuối tháng 01 LSCV trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp là 7,96%/năm tăng 0,20%/năm so cùng kỳ. Phân theo loại khách hàng lãi suất cho vay khách hàng pháp nhân là 7,15%/năm, tăng 0,23%/năm; khách hàng cá nhân là 8,65%/năm, tăng 0,14%/năm. Theo thời hạn cho vay lãi suất cho vay ngắn hạn 7,42%/năm, tăng 0,21%; LSCV trung hạn 10,05%, tăng 0,11%; LSCV dài hạn tăng 8,44%, tăng 0,10%. Đây cũng là tín hiệu tích cực về lãi suất, góp phần hỗ trợ khách hàng sản xuất kinh doanh. Nợ xấu: đến cuối tháng 2/2026 là 6.299 tỷ đồng, tỷ lệ 2,64%, tăng 0,23% so với cuối năm 2026. Ước đến cuối tháng 3/2026, tỷ lệ nợ xấu dưới 3%. Quỹ tín dụng nhân dân:Hệ thống quỹ tín dụng nhân dân trên địa bàn hoạt động ổn định, sát với mục tiêu góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Đến cuối 2/2026, tổng nguồn vốn huy động 2.807 tỷ đồng, giảm 51 tỷ đồng, tỷ lệ giảm 1,78% so với cuối năm 2025. Dư nợ cho vay đạt 2.318 tỷ đồng, giảm 21 tỷ và tỷ lệ giảm 0,90% so với cuối năm 2025. Tỷ lệ nợ xấu 0,95% so với cuối năm 2025. 2. Giá cả, lạm phát: Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 03/2026 tăng 1,4% (khu vực thành thị tăng 1,32%, nông thôn tăng 1,42%) so tháng 2/2026, tăng 4,47% so tháng 3/2025, do giá xăng dầu, giá gas tăng mạnh theo giá nhiên liệu thế giới cùng với giá dịch vụ y tế tăng theo Nghị quyết 126/NQ-HĐND ngày 23/12/2025 về quy định giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp. So với tháng 02/2026, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 07 nhóm tăng: nhóm giao thông tăng 13,76%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 7,5%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và VLXD tăng 1,26%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,06%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,4%; hàng hóa, dịch vụ khác tăng 0,15%; bưu chính viễn thông tăng 0,13%; Có 03 nhóm chỉ số giá giảm: hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,82% (trong đó: lương thực giảm 1,03%, thực phẩm giảm 1,53%, ăn uống ngoài gia đình tăng 0,86%); may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,61%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,37%. Riêng nhóm giáo dục chỉ số giá ổn định. Một số mặt hàng có chỉ số giá tăng so với tháng trước: - Nhóm giao thông tháng tăng 13,76%, tác động làm tăng CPI chung 1,56 điểm phần trăm, do giá xăng dầu điều chỉnh tăng theo giá dầu thế giới, từ đầu tháng 3 đến ngày 26/3/2026 có 8 lần điều chỉnh giá xăng dầu, trong đó: giá xăng tăng 35,15%; giá dầu diezen tăng 59,49%, dầu mỡ nhờn tăng 5,37%. - Chỉ số giá nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,26%, tác động làm tăng CPI chung 0,23 điểm phần trăm, tăng chủ yếu do tác động giá của một số mặt hàng sau: giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 1,25% do giá xăng dầu tăng nên chí phí vận chuyển tăng theo làm giá các loại vật liệu xây dựng như: xi măng, sắt, thép, cát... tăng so với tháng trước; giá dịch vụ sữa chữa nhà tăng 2,35% do chi phí đẩy. Giá gas petrolimex trong tỉnh đến thời điểm hiện tại đã điều chỉnh 5 lần, tăng 21,83%; từ 1/3/2026 đến 27/3/2026 giá xăng dầu điều chỉnh 9 lần vào các ngày 5/3; 7/3; 10/3; 11/3; 12/3; 19/3; 24/3; 25/3 và 27/3/2026 đã làm chỉ số giá dầu hỏa tăng 63,69%. - Đồ uống và thuốc lá tăng 1,06%, tác động làm tăng CPI chung 0,04 điểm phần trăm, chủ yếu ở nhóm nước khoáng và nước có ga tăng 1,04%, bia rượu tăng 1,31% so với tháng trước. - Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,40% so với tháng trước, tác động làm tăng CPI chung 0,02 điểm phần trăm, cụ thể nhóm thiết bị dùng trong gia đình tăng 0,29% do chi phí vận chuyển tăng. Mặt hàng có chỉ số giá giảm so với tháng trước như sau: - Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,82%, trong đó + Nhóm hàng lương thực giảm 1,03%, góp phần làm CPI chung giảm 0,05 điểm phần trăm, do đang vào vụ thu hoạch Đông Xuân nên nguồn cung gạo mới dồi dào, tác động đến giá gạo bán lẻ thị trường trong tỉnh tháng này giảm 1,19%; khoai lang giảm 2,78%; sắn giảm 1,00% so với tháng trước. + Nhóm hàng thực phẩm giảm 1,53%, góp phần làm CPI chung giảm 0,34 điểm phần trăm do hiện nay nhu cầu tiêu dùng thịt lợn giảm so với thời điểm trước trong và sau Tết trong khi nguồn cung tại địa phương rất dồi dào, dẫn đến giá thịt lợn giảm 2,34%. Chỉ số giá rau tươi, khô và chế biến giảm 5,48% so với tháng trước, do nguồn cung ở Đà Lạt về nhiều và ở địa phương nguồn cung rau, củ, quả cũng rất phong phú và đa dạng về số lượng và chất lượng. Cụ thể như sau: Bắp cải giảm 13,45%, su hào giảm 6,77%, cà chua giảm 16,40%, giá khoai tây giảm 0,50%, rau muống giảm 6,24%, đỗ quả tươi giảm 2,39%; rau dạng quả, củ giảm 4,35%; rau tươi khác giảm 2,54%... + Nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 0,86% so với tháng trước do giá gas và giá xăng dầu trong tháng tăng mạnh nên nhóm hàng ăn uống ngoài gia đình tăng theo, ăn ngoài gia đình tăng 1,10%, uống ngoài gia đình tăng 0,38%, ăn nhanh mang đi tăng 0,28%. - Nhóm may mặc, mũ nón và giày dép giảm 0,61%, tác động làm tăng CPI chung giảm 0,03 điểm phần trăm. Trong đó, vải các loại giảm 0,66%, quần áo may sẵn giảm 0,26%, giày dép giảm 2,05%, dịch vụ may mặc giảm 0,02%,... nguyên nhân giảm chủ yếu do nhu cầu mua sắm sau Tết giảm và doanh nghiệp thực hiện chương trình khuyến mãi kích cầu tiêu dùng. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 3 tháng năm 2026 so cùng kỳ tăng 3,35%; một số nhóm hàng có giá tăng nhiều trong 3 tháng năm 2026 so cùng kỳ như: nhà ở, điện, nước, chất đốt và VLXD tăng 5,86%; hàng hóa, dịch vụ khác tăng 4,21%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,54%; giáo dục tăng 3,53%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,2%... Chỉ số giá vàng tháng 03/2026 tăng 1,17% so với tháng 02/2026, tăng 18,81% so với tháng 12/2025, tăng 75,3% so với bình quân cùng kỳ, tăng bình quân 197 ngàn đồng/chỉ (từ 16.942 ngàn đồng/chỉ lên 17.139 ngàn đồng/chỉ) đối với vàng nhẫn trơn 9999. Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng 03/2026 tăng 1,57% so tháng trước, tương đương tăng 41 đồng/USD (2.636 đồng/USD – 2.677 đồng/USD), giảm 0,04% so với tháng 12/2025 và tăng 2,4% so với bình quân cùng kỳ. 3. Đầu tư và Xây dựng: Trong quý I năm 2026, các Ban quản lý dự án, chủ đầu tư tập trung đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình trọng điểm, đồng thời phối hợp với các Ban Quản lý dự án Trung ương để thực hiện các dự án trên địa bàn tỉnh, các địa phương đẩy mạnh đầu tư hạ tầng bệnh viện, trường học, giao thông nông thôn, chỉnh trang đô thị. Vốn đầu tư toàn xã hội quý I/2026 ước thực hiện 15.625 tỷ đồng, đạt 16,8% kế hoạch năm, tăng 10,0% so cùng kỳ (trong đó: vốn đầu tư xây dựng cơ bản 9.460 tỷ đồng, chiếm 60,5% vốn đầu tư toàn xã hội) bao gồm: vốn Nhà nước 4.495 tỷ đồng, giảm 7,3%; vốn ngoài Nhà nước 8.744 tỷ đồng, tăng 7,3%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 2.386 tỷ đồng, tăng 99,0% so cùng kỳ. Tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý quý I/2026 thực hiện 1.621 tỷ đồng, đạt 14,3% kế hoạch, giảm 34,6% so cùng kỳ; gồm có: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 1.483 tỷ đồng, giảm 39,7%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 138 tỷ đồng. Ngày 19/3/2026 trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp khởi công xây dựng 4 trường phổ thông nội trú tại các xã biên giới đất liền với tổng mức đầu tư của 4 trường nội trú 1.205 tỷ đồng, trong đó ngân sách trung ương chiếm 92% (1.108 tỷ đồng); tổng diện tích xây dựng của 4 công trình là 196.760 m2 các dự án dự kiến hoàn thành trong năm 2027. Trong quý I, tỉnh thu hút 01 dự án đầu tư mới, vốn đăng ký đạt 31,4 tỷ đồng; cấp điều chỉnh tăng vốn 01 dự án (tăng 272 tỷ đồng); tiếp nhận, thẩm định trình UBND tỉnh quyết định 3 hồ sơ viện trợ phi Chính phủ nước ngoài, ODA không hoàn lại, với tổng vốn viện trợ hơn 114 nghìn USD. 4 Tình hình hoạt động của doanh nghiệp: (Theo báo cáo của Sở Tài Chính) Theo Sở Tài chính, tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới tính từ đầu năm 2026 đến ngày báo cáo là 827 doanh nghiệp, tăng 148,3% so với cùng kỳ, với tổng vốn đăng ký là 3,3 nghìn tỷ đồng, tăng 22,7% so với cùng kỳ. Số doanh nghiệp giải thể là 140 doanh nghiệp, tăng 79,5% so với cùng kỳ; có 470 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, tăng 10,6% so với cùng kỳ; 266 doanh nghiệp hoạt động trở lại, bằng 99% so với cùng kỳ năm 2025.5. Sản xuất nông - lâm nghiệp và thủy sản: a. Nông nghiệp: Trong quý I năm 2026, tình hình xâm nhập mặn trên địa bàn tỉnh có diễn biến gia tăng và xâm nhập sâu vào nội đồng. Độ mặn sâu nhất được ghi nhận vào ngày 14/02/2026 tại cầu Trường Chính Trị (phường Thới Sơn, cách cửa sông khoảng 49 km) đạt 0,45 g/l, sau đó giảm dần và không gây ảnh hưởng đến việc vận hành lấy nước của các công trình thủy lợi trên địa bàn. Hoạt động sản xuất nông nghiệp tiếp tục được duy trì ổn định; cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt, tình hình sâu bệnh ở mức thấp đến trung bình và được kiểm soát kịp thời. Chăn nuôi cơ bản ổn định, một số dịch bệnh phát sinh cục bộ nhưng được kiểm soát hiệu quả, không để lây lan trên diện rộng. Lĩnh vực thủy sản tiếp tục duy trì đà phát triển ổn định cả về nuôi trồng và khai thác. * Trồng trọt: Cây lương thực có hạt: diện tích gieo trồng tính đến ngày 20/03/2026 ước đạt 290.137 ha, giảm 13,4% so cùng kỳ; sản lượng thu hoạch ước đạt 945.442 tấn, giảm 42,8% so cùng kỳ. Trong đó cây lúa gieo sạ 287.261 ha, giảm 13,6% so cùng kỳ; sản lượng thu hoạch ước đạt 933.343 tấn, giảm 43,5% cụ thể: - Cây lúa: + Vụ Đông xuân 2025 – 2026: diện tích gieo trồng ước tính 223.449 ha, đạt 98,4% kế hoạch và giảm 2,7% so cùng kỳ, tương ứng giảm 6.230 ha do không sản xuất 4.023 ha, chuyển đổi sang cây lâu năm 1.594 ha, cây hàng năm khác 533 ha, nuôi trồng thủy sản 55 ha, đất phi nông nghiệp là 25 ha. Lúa Đông xuân 2025-2026 đã thu hoạch 128.737 ha, chiếm 57,6% diện tích gieo trồng của vụ; Năng suất thu hoạch bình quân ước đạt 72,5 tạ/ha, tăng 0,8% so cùng kỳ với sản lượng thu hoạch ước đạt 933.343 tấn. + Vụ Hè thu năm 2026: tính đến ngày 20/3/2026, ước tính gieo sạ được 63.811 ha, đạt 28,2% so với kế hoạch, giảm 38% so với cùng kỳ. Hiện nay, lúa đang trong giai đoạn mạ, đẻ nhánh và làm đòng. Hình 1. Diện tích gieo trồng một số cây hàng năm tính đến 20/3/2026 - Cây ngô: diện tích gieo trồng tính đến ngày 20/3/2026 ước đạt 2.877 ha, đạt 39% so với kế hoạch, tăng 12,4% so cùng kỳ. Sản lượng thu hoạch ước đạt 12.109 tấn, đạt 23,2% so với kế hoạch, tăng 8,8% so với cùng kỳ. Cây rau đậu các loại: diện tích gieo trồng tính đến 20/3/2026 ước đạt 21.843 ha, giảm 20,3% so cùng kỳ; trong đó: rau các loại 21.678 ha, giảm 20,4% so cùng kỳ. Sản lượng thu hoạch ước đạt 357.190 tấn, tăng 5,0% so cùng kỳ; trong đó: rau các loại ước đạt 346.924 tấn, tăng 5,0% so cùng kỳ. *Chăn nuôi: ước thời điểm 31/3/2026 tổng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh như sau: đàn trâu 2,0 nghìn con, giảm 4,9% so cùng kỳ; đàn bò 146,2 nghìn con, giảm 2,4%; đàn lợn 402,3 nghìn con, giảm 0,4%; đàn gia cầm 23 triệu con, giảm 1,5%. Đàn trâu tiếp tục giảm do hiệu quả kinh tế thấp, chi phí tăng và diện tích chăn thả thu hẹp. Chăn nuôi bò gặp nhiều khó khăn do giá cả bấp bênh, chi phí cao, quy mô nhỏ lẻ, sức cạnh tranh thấp. Chăn nuôi lợn cơ bản ổn định, duy trì sản xuất tốt tại các doanh nghiệp và trang trại quy mô lớn nhờ kiểm soát dịch bệnh hiệu quả. Đàn gia cầm giảm nhưng vẫn phát triển ổn định, sản lượng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, nhờ kiểm soát tốt dịch bệnh và nhu cầu tiêu dùng tăng cao, các cơ sở chăn nuôi đã chủ động triển khai công tác tái đàn thận trọng, gắn với kiểm soát con giống, tiêm phòng và áp dụng chăn nuôi an toàn sinh học. Hình 2. Chăn nuôi tại thời điểm 31/3/2026 Trong quý, giá heo thịt hơi các loại cao hơn cùng kỳ 10-16%, giá bò thịt ổn định so với cùng kỳ; giá gia cầm thịt (giá gà tre, gà nòi, gà công nghiệp thịt hơi) giảm 5 - 15% so với cùng kỳ; giá trứng gà ác tăng 20 - 25% so với cùng kỳ, giá trứng gà công nghiệp, trứng vịt ổn định. b. Lâm nghiệp: Diện tích rừng trồng mới tập trung: trong tháng có 65 ha rừng được trồng mới tập trung, tăng 0,3% tương đương tăng 17,1 ha so với cùng kỳ. Ước tính quý I, có 81,9 ha rừng được trồng mới tập trung, tăng 1,1% tương đương tăng 0,9 ha so với cùng kỳ. Cây phân tán: trong quý I, toàn tỉnh thực hiện trồng mới ước đạt 90 ngàn cây phân tán các loại, giảm 5,5% so cùng kỳ do quỹ đất dành cho trồng cây phân tán bị thu hẹp (quá trình đô thị hóa, xây dựng cơ sở hạ tầng, và việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất...). Cây phân tán được trồng tại các khu dân cư, trường học, bệnh viện, khu công nghiệp, đô thị, đường giao thông, bờ sông, kênh mương… nhằm tạo cảnh quan, góp phần giảm ô nhiễm và xây dựng không gian sống xanh. Sản lượng gỗ khai thác: trong tháng sản lượng gỗ khai thác toàn tỉnh ước đạt 7.870 m3, giảm 13,8% so với cùng kỳ. Ước tính quý I khai thác gỗ đạt 32.300 m3, tăng 1,2% so với cùng kỳ. c. Thủy hải sản: Diện tích thả nuôi thâm canh trong quý I năm 2026 ước đạt 4.587 ha, tăng 1,5% so cùng kỳ; trong đó diện tích nuôi cá 1.033 (tăng 0,3%), tôm sú 2.130 ha (tăng 1,5%), tôm thẻ chân trắng 1.425 ha (tăng 1,6%). Tổng sản lượng thủy sản trong quý I ước đạt 223.451 tấn, tăng 0,3% so cùng kỳ; trong đó: sản lượng thu hoạch từ nuôi 189.552 tấn, tăng 0,5%; sản lượng khai thác 33.899 tấn, giảm 0,8%. Sản lượng nuôi trồng tăng do do thời tiết thuận lợi, thủy sản bệnh ít, năng suất cao; sản lượng khai thác biển giảm so cùng kỳ nguyên nhân chủ yếu tháng 1, 2 tàu bám biển khai thác, từ tháng 3 tàu vào bờ tạm nghỉ kết hợp sửa chữa nhỏ, giá xăng, dầu có xu hướng tăng dẫn đến tàu nằm bờ thêm khoảng 25-30%. 6. Sản xuất công nghiệp: Chỉ số sản xuất công nghiệp quý I/2026 tăng 10,5% so với cùng kỳ, các ngành chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh tiếp tục sản xuất ổn định và tăng so cùng kỳ. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,51% (tập trung ở một số ngành cấp II chủ yếu sau: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 15,3%; dệt tăng 10,13%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 20,44%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 44,25%; sản xuất kim loại tăng 12,07%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 30,38%); ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 0,68%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,78%. Tình hình sản xuất các sản phẩm công nghiệp quý I/2026 như sau: - Có 60/112 sản phẩm tăng so cùng kỳ: phi lê đông lạnh tăng 20,7%; bột mịn, bột thô và bột viên từ cá tăng 33,9%; quả và hạt ướp lạnh tăng 26,5%; thức ăn cho gia súc tăng 14,3%; thức ăn cho gia cầm tăng 56,6%; thức ăn cho thủy sản tăng 10,5%; bia đóng lon tăng 19%; bao và túi từ plastic khác tăng 54,9%; thùng chứa, bể và các loại tương tự dung tích trên 300 lít bằng plastic tăng 92,5%; bê tông trộn sẵn tăng 4,4%; ống và ống dẫn bằng đồng tăng 23,6%; bóng thể thao khác tăng 24,3%; điện gió tăng 2,7%; điện mặt trời tăng 24,4%;… - Có 50/112 sản phẩm giảm so cùng kỳ: cát đen giảm 57,6%; gạo đã xát toàn bộ hoặc sơ bộ giảm 1,0%; miến, hủ tiếu, bánh đa khô và các loại tương tự giảm 3,8%; bia đóng chai giảm 20,0%; thuốc lá có đầu lọc giảm 42,5%; áo quần các loại giảm 5,4%; túi xách giảm 28,4%; giày dép và các bộ phận của giày dép giảm 11%; … Hình 3. Chỉ số sản xuất công nghiệp Quý I năm 2026 * Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Chỉ số tiêu thụ tháng 3/2026 so với tháng trước tăng 7,43%, so với cùng kỳ tăng 0,14%; chỉ số tồn kho so với tháng trước tăng 10,58%, so với cùng kỳ tăng mạnh 38,62%. Cụ thể tình hình tiêu thụ và tồn kho một số ngành cấp II trong tháng 3/2026 so với cùng kỳ như sau: - Nhóm có nhu cầu tiêu thụ tăng, lượng tồn kho giảm gồm: + Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị): tiêu thụ tăng 7,04%, tồn kho giảm mạnh 46,83%. + Sản xuất thiết bị điện: tiêu thụ tăng trưởng đột biến (tăng 227,65%), tồn kho giảm 13,88% (do tình hình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm dây cáp điện của Công ty TNHH Nissei Electric Mỹ Tho tăng cao). - Nhóm có chỉ số tiêu thụ và tồn kho tăng (do nhu cầu tiêu thụ tăng, doanh nghiệp tăng tồn kho để chủ động nguồn cung): + Sản xuất chế biến thực phẩm: tiêu thụ tăng 0,74%, tồn kho tăng 47,35%. + Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic: tiêu thụ tăng mạnh 48,99%, tồn kho tăng nhẹ 0,8% (Công ty TNHH Lốp Advance Việt Nam đã đi vào sản xuất ổn định và mở rộng dây chuyền); + Sản xuất kim loại: tiêu thụ tăng 3,75%, tồn kho tăng 6,54%. - Nhóm có chỉ số tiêu thụ giảm nhưng tồn kho tăng (do thị trường xuất khẩu và tiêu thụ nội địa gặp khó khăn): + Sản xuất sản phẩm thuốc lá: tiêu thụ giảm mạnh 34,96%, tồn kho cũng tăng mạnh 118,35%. + Dệt: tiêu thụ giảm 43,54%, tồn kho tăng cao 86,09%. + Sản xuất trang phục: tiêu thụ giảm 37,23%, tồn kho tăng 42,03%. + Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan: tiêu thụ giảm 21,74%, tồn kho tăng 13,04%. + Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa: tiêu thụ giảm sâu 57,05%, tồn kho tăng 10,62%. + Sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất: tiêu thụ giảm 12,14%, tồn kho tăng 25,31%. + Sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu: tiêu thụ giảm nhẹ 0,95%, tồn kho tăng 50,75%. - Nhóm có chỉ số tiêu thụ và tồn kho giảm: + Sản xuất đồ uống: tiêu thụ giảm 4,74%, tồn kho giảm mạnh 90,17%. + Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy: tiêu thụ giảm 28,57% và tồn kho giảm 58,88%. 7. Thương mại, dịch vụ: a. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng: Hoạt động kinh doanh trên địa bàn tỉnh trong quý I năm 2026 diễn ra ổn định và tăng hơn so cùng kỳ, lượng hàng hóa dồi dào, các đơn vị kinh doanh chủ động dự trữ hàng hóa để phục vụ nhu cầu mua sắm của người dân trong các dịp lễ, Tết. Nắm bắt nhu cầu, sức mua của người tiêu dùng tăng mạnh vào các dịp lễ, nhiều hệ thống siêu thị và trung tâm thương mại đã tổ chức các chương trình khuyến mãi, giảm giá lớn nhằm tăng doanh số bán hàng cũng như phục vụ người tiêu dùng trong đợt nghỉ dài ngày. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng quý I/2025 thực hiện 42.974 tỷ đồng, đạt 14,8% kế hoạch, tăng 12% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 31.353 tỷ đồng, tăng 12,4%; lưu trú 171 tỷ đồng, tăng 16,6%; ăn uống 5837 tỷ đồng, tăng 14,4%; du lịch lữ hành 109 tỷ đồng, tăng 49,2%; dịch vụ tiêu dùng khác 5.503 tỷ đồng, tăng 6,6% so cùng kỳ. Hình 4. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng Tình hình hàng hóa phục vụ Tết Nguyên đán Bính Ngọ: Quý I là thời điểm Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026 nên Tỉnh tập trung triển khai các giải pháp của Chỉ thị số 18/CT-BCT ngày 25/11/2025 của Bộ Công Thương về thực hiện các giải pháp bảo đảm cân đối cung cầu, bình ổn thị trường cuối năm 2025 và dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026; Kế hoạch số 68/KH-UBND ngày 21/01/2026 về dự trữ, cung ứng hàng hóa thiết yếu phục vụ Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp. Số lượng đơn vị phân phối đăng ký dự trữ, cung ứng hàng hóa trên địa bàn tỉnh có 20 doanh nghiệp, hợp tác xã và 02 chợ (7 hộ kinh doanh tại chợ) đăng ký dự trữ, cung ứng hàng hoá với tổng trị giá vốn là 604 tỷ đồng, trong đó hàng hóa thiết yếu là 228 tỷ đồng; 29 điểm thực hiện bán hàng bình ổn của 19 doanh nghiệp/hợp tác xã phân phối và hệ thống các siêu thị Co.opmart trên địa bàn tỉnh đã tổ chức thành công 10 chuyến hàng đưa hàng Việt về nông thôn tại 09 địa bàn xã/phường. Các doanh nghiệp, địa phương đã tổ chức triển khai phương án dự trữ hàng hóa thiết yếu; chủ động, thường xuyên nắm bắt tình hình cung ứng hàng hóa tại các đơn vị phân phối, bán lẻ trên địa bàn để kịp thời đánh giá khả năng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân, theo dõi diễn biến thị trường, phối hợp điều tiết nguồn hàng khi cần thiết, góp phần bảo đảm cân đối cung - cầu và ổn định giá cả trong dịp Tết. b. Xuất - Nhập khẩu: (Theo báo cáo Sở Công Thương) Hoạt động xuất khẩu của trên địa bàn tỉnh tiếp tục được duy trì nhưng do bối cảnh thế giới biến động phức tạp, khó lường, với nhiều rủi ro, thách thức như: chi phí logistics tăng cao; chiến sự tại Trung Đông…. đã ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu của doanh nghiệp. Để chủ động thích ứng linh hoạt, kịp thời, phù hợp, hiệu quả với tình hình thế giới, khu vực, đồng thời thúc đẩy hơn nữa hoạt động xuất khẩu góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2026. Các địa phương đã chủ động triển khai đồng loạt các giải pháp, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp trong hoạt động xuất nhập khẩu. a. Xuất khẩu: Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa quý I ước đạt 2.250 triệu USD, đạt 22,5 kế hoạch và tăng 11,9% so cùng kỳ. Ước tính một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của tỉnh trong quý I như sau: - Gạo: Sản lượng thực hiện được 415 ngàn tấn, đạt 17,7% kế hoạch và giảm 32,1% so cùng kỳ. Giá trị xuất khẩu ước đạt 200 triệu USD, đạt 17% kế hoạch và giảm 36,3% so với cùng kỳ, xuất khẩu gạo giảm do thị trường Philippines hạn chế cấp giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật (SPS), ảnh hưởng tiến độ ký kết và giao hàng. Ngoài ra chi phí logistics tăng và rủi ro vận chuyển do biến động địa chính trị tại Trung Đông cũng gây áp lực cho doanh nghiệp. - Thuỷ sản chế biến: Sản lượng thực hiện được 114 ngàn tấn, đạt 21,8% kế hoạch và tăng 4,7% so cùng kỳ. Giá trị xuất khẩu ước đạt 280 triệu USD, đạt 23,3% kế hoạch và tăng 6,45% so với cùng kỳ. Mặt hàng thủy sản xuất khẩu chủ yếu là sản phẩm từ cá tra (chiếm 81,3%), còn lại là các thủy sản khác như nghêu, sò, mực, ếch, thủy sản đóng hộp, chả cá… - Hàng rau quả: Sản lượng thực hiện được 23 ngàn tấn, đạt 19,5% kế hoạch và tăng 96,6% so cùng kỳ. Giá trị xuất khẩu ước đạt 45 triệu USD, đạt 14,1% kế hoạch và tăng 1,1 lần so cùng kỳ. Xuất khẩu rau quả tăng mạnh chủ yếu nhờ mặt hàng sầu riêng phục hồi tích cực. - Sản phẩm công nghiệp: nhóm hàng công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong xuất khẩu của tỉnh đến cuối tháng 3/2026, như: kim loại thường khác và sản phẩm (kể cả đồng) ước đạt 470 triệu USD, đạt 30,3% kế hoạch và tăng 16,5%; sản phẩm ngành may ước đạt 169 triệu USD, đạt 16,9% kế hoạch và tương đương cùng kỳ; giày dép các loại ước đạt 200 triệu USD, đạt 19,61% kế hoạch và bằng 83,9%; Sắt thép và sản phẩm từ sắt thép ước đạt 90 triệu USD, đạt 20% kế hoạch và bằng 66,2%;... b. Nhập khẩu: Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa quý I năm 2026 ước đạt 1.400 triệu USD, đạt 28% kế hoạch và tăng 0,9% so với cùng kỳ. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu trong tổng kim ngạch nhập khẩu của tỉnh quý I năm 2025 như: kim loại thường khác (nguyên liệu đồng) ước đạt 400 triệu USD, tăng 1,27%; sắt thép các loại ước đạt 135 triệu USD, bằng 95,7%; nguyên phụ liệu dệt may, da giày, túi xách ước đạt 150 triệu USD, tăng 3%; chất dẻo nguyên liệu ước đạt 70 triệu USD, tăng 5,3% so cùng kỳ;… c. Vận tải: Với những giải pháp và quyết tâm, phát triển hạ tầng giao thông trên địa bàn tỉnh; các Sở, Ban ngành đã tập trung nhiều nguồn lực đầu tư, phát triển hạ tầng giao thông, triển khai công trình trọng điểm, nhất là việc cải tạo, nâng cấp, xây dựng các tuyến đường liên kết vùng…tạo đà phát triển kinh tế - xã hội. Các tuyến xe cố định trên địa bàn tỉnh tiếp tục được duy trì thông thoáng, đặc biệt các chủ cơ sở kinh doanh vận tải tự giác chấp hành tốt nội qui bến bãi, đã tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân đi lại và vận chuyển hàng hoá đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh... Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải quý I/2026 thực hiện 2.195 tỷ đồng, tăng 17,1% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 794 tỷ đồng, tăng 30,7%; vận tải hàng hóa thực hiện 1.052 tỷ đồng, tăng 13,1% so cùng kỳ. Vận tải đường bộ thực hiện 1.102 tỷ đồng, tăng 24,8%; vận tải đường thủy thực hiện 745 tỷ đồng, tăng 13,7%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 185 tỷ đồng, giảm 5% so cùng kỳ. Trong quý I năm 2026 trên địa bàng tỉnh phát sinh nhà xe Danh Lợi Lộc đi vào hoạt động chạy tuyến chợ gạo Thành phố Hồ Chí Minh, góp phần làm cho doanh thu vận tải hành khách trên địa bàn tỉnh tăng. Vận chuyển hành khách đạt 21.162 ngàn hành khách, tăng 22% so cùng kỳ và luân chuyển được 841.838 ngàn hành khách.km, tăng 43,5% so cùng kỳ; trong đó: vận chuyển đường bộ 8.569 ngàn hành khách, tăng 53,1% và luân chuyển 835.504 ngàn hành khách.km, tăng 43,8% so cùng kỳ; vận chuyển đường thủy 12.593 ngàn hành khách.km, tăng 7,2% và luân chuyển đường thủy 6.334 ngàn hành khách.km tăng 11% so cùng kỳ. Vận tải hàng hóa đạt 8.094 ngàn tấn, tăng 18,6% và luân chuyển được 1.444.487 ngàn tấn.km, tăng 17,8% so cùng kỳ; trong đó: vận chuyển đường bộ thực hiện1.378 ngàn tấn,giảm 15% và luân chuyển được 233.025 ngàn tấn.km, tăng 3% so cùng kỳ; vận tải đường thủy thực hiện 6.716 ngàn tấn, tăng 29,1% và luân chuyển được 1.211.462 ngàn tấn.km, tăng 21,1% so cùng kỳ. * Phương tiện giao thông: Trong tháng đăng ký mới 1.097 chiếc mô tô xe máy và 114 chiếc xe ô tô. Tổng số xe đang quản lý trên địa bàn tỉnh là 3.637.617 chiếc, trong đó mô tô xe máy: 3.479.694 chiếc, 154.716 xe ô tô, 169 xe ba bánh, 666 xe đạp điện và 3.372 xe khác. d. Bưu chính - Viễn thông: Các doanh nghiệp bưu chính, viễn thông trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì trên đà phát triển ổn định, không ngừng đầu tư nâng cấp phát triển mạng lưới, cung cấp nhiều loại hình dịch vụ phong phú, đa dạng để duy trì tốc độ phát triển, đáp ứng nhu cầu sử dụng của khách hàng. Tổng số thuê bao điện thoại có trên mạng ước đến cuối tháng 02 năm 2026 là 3.703.848 thuê bao (chỉ tính hữu tuyến, vô tuyến, trả trước, trả sau). Thuê bao điện thoại bình quân đạt 107,36 thuê bao/100 dân. Số thuê bao điện thoại di động có sử dụng Internet (3G, 4G) đến cuối tháng 02 là: 2.568.968 thuê bao. Tổng số thuê bao Internet trên mạng (bao gồm: băng rộng di động 3G, 4G; MyTV và Cáp; băng rộng cố định FTTH, xDSL, Leased-line, CATV) ước tính đến cuối tháng 02 năm 2026 là 3.654.389 thuê bao. Mật độ Internet bình quân ước đạt 108,82 thuê bao/100 dân. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Lao động, giải quyết việc làm: a. Tư vấn và giới thiệu việc làm: Trong quý, toàn tỉnh đã giải quyết việc làm cho 7.256 lao động, đạt 14,5% so với kế hoạch. tổ chức 28 cuộc tư vấn tuyển dụng cho người lao động hưởng bảo hiểm thất nghiệp với 34 doanh nghiệp tham gia, tư vấn cho 12.542 người, 9.028 người phỏng vấn và trên 1.300 người được kết nối. Lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài trong quý là 688 lao động, đạt 31,3% so với kế hoạch, trong đó Nhật Bản: 400 người, Đài Loan: 124 người, Hàn Quốc: 116 người.... Về trợ cấp thất nghiệp, trong quý có 3.771 lao động đăng ký hưởng trợ cấp; Có 4.456 lao động được giải quyết chế độ trợ cấp thất nghiệp, với tổng kinh phí chi trả trên 93,7 tỷ đồng, góp phần hỗ trợ kịp thời đời sống, giúp người lao động ổn định trong giai đoạn tìm kiếm việc làm mới. b. Tình hình thiếu việc làm, thất nghiệp: Theo kết quả sơ bộ cuộc điều tra lao động việc làm quý I năm 2026, tình hình lao động thiếu việc làm và thất nghiệp như sau: Trong quý I/2026, tỷ lệ lao động thiếu việc làm toàn tỉnh là 3,27%, tăng 0,34 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,72 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2025 (3,99%). Xét theo khu vực, tỷ lệ thiếu việc làm khu vực nông thôn là 2,54%, tăng 0,54 điểm phần trăm so quý trước và giảm 1,46 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước (4,00%). Khu vực thành thị có tỷ lệ thiếu việc làm là 5,33%, tăng 1,47 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,78 điểm phần trăm so cùng kỳ năm trước (4,55%). Đáng chú ý, lao động thiếu việc làm tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn, chiếm 57,39% tổng số lao động thiếu việc làm toàn tỉnh. Tỷ lệ thất nghiệp quý I/2026 là 0,9%, tăng 0,25 điểm phần trăm so quý trước và giảm 0,09 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2025 (0,99%). Xét theo khu vực, khu vực thành thị có tỷ lệ thất nghiệp là 1,08%, giảm 0,19 điểm phần trăm so quý trước và giảm 0,51 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước (1,59%). Khu vực nông thôn có tỷ lệ thất nghiệp 0,84%, tăng 0,50 điểm phần trăm so quý trước và tăng 0,14 điểm phần trăm so với cùng kỳ (0,70%). Lao động thất nghiệp ở khu vực thành thị chiếm tỷ trọng 68,75% trong tổng số người thất nghiệp của tỉnh. 2. Đời sống dân cư và an sinh xã hội: a. Đời sống dân cư: Mặc dù tình hình kinh tế, chính trị thế giới có nhiều biến động, trong nước bối cảnh sáp nhập, xây dựng chính quyền địa phương hai cấp nhưng các doanh nghiệp vẫn tiếp tục duy trì sản xuất kinh doanh có chiều hướng phát triển, duy trì trả lương đều đặn hàng tháng cho người lao động từ bằng và cao hơn mức lương tối thiểu vùng theo quy định của Chính phủ, không có tình trạng nợ lương người lao động. Trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026, nhiều doanh nghiệp đã có sự chủ động tích cực, quan tâm chăm lo Tết cho người lao động, chi trả đầy đủ tiền lương, mức tiền thưởng Tết, lương tháng 13 của người lao động năm 2026 cao hơn năm 2025, nhất là đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; các chế độ phúc lợi cũng được doanh nghiệp quan tâm hỗ trợ thông qua các phần quà, những chuyến xe về quê đón Tết,…mang ý nghĩa thiết thực, khích lệ tinh thần cho người lao động. Trong quý I năm 2026, đời sống dân cư trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp cơ bản ổn định. Tình hình xâm nhập mặn trên địa bàn Đồng Tháp trong những tháng đầu năm thấp hơn trung bình nhiều năm và thấp hơn so với năm 2025. Tỉnh đã chủ động ứng phó hạn mặn, triển khai nhiều giải pháp, nhằm đảm bảo phục vụ sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt cho người dân như kiểm tra, sửa chữa cống đập, đảm bảo ngăn mặn, nạo vét kênh rạch, khai thông dòng chảy, trục vớt lục bình, cỏ dại, đồng thời vận động người dân tăng cường trữ nước trong ao, mương, ruộng để phục vụ tưới tiêu, Công ty Cổ phần Nhà máy nước Đồng Tâm thường xuyên kiểm tra độ mặn, vận hành các trạm bơm và giếng khoan dự phòng để đảm bảo nguồn nước. Công ty TNHH MTV Cấp nước Tiền Giang đã triển khai bơm trữ nước vào các ao chứa, vận hành 16 giếng khoan dự phòng và mở 9 vòi nước công cộng cung cấp nước miễn phí cho người dân tại các khu vực khó khăn. Đặc biệt trong tháng 3 dưới sự tác động chiến sự ở Trung Đông giá xăng dầu tăng cao tác động đến rất nhiều ngành, đời sống người dân chịu tác động từ biến động giá nhiên liệu và một số mặt hàng thiết yếu, làm chi tiêu sinh hoạt và chi phí sản xuất có tăng cao. Bên cạnh đó, giá một số nông sản chủ lực, đặc biệt là lúa, vẫn ở mức không cao, lợi nhuận thấp, ảnh hưởng nhất định đến thu nhập và khả năng tái sản xuất của nông hộ. b. An sinh xã hội: Trong quý I, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh nhìn chung ổn định và phát triển, quốc phòng, an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, lĩnh vực an sinh xã hội tiếp tục được đảm bảo, doanh nghiệp sản xuất tăng khá, sản xuất nông nghiệp thuận lợi... Trong dịp Tết nguyên đán Bính Ngọ 2026 lãnh đạo tỉnh quan tâm thực hiện các giải pháp đảm bảo cân đối cung cầu, bình ổn thị trường, chỉ đạo dự trữ, cung ứng hàng hóa thiết yếu phục vụ Tết, đồng thời phối hợp chặt chẽ với DN, UBND cấp xã nắm bắt tình hình cung ứng hàng hóa và giá cả thị trường để có chỉ đạo sát sao, tỉnh có nhiều giải pháp trên các nhóm đối tượng khác nhau: - Trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026, các cấp, các ngành trong tỉnh đã tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho trên 127.837 lượt người có công với cách mạng và gia đình chính sách, với tổng kinh phí trên 53 tỷ đồng; trong đó quà của Chủ tịch nước 55.179 suất, trị giá gần 17 tỷ đồng, ngân sách xã, phường trên 36 tỷ đồng. - Tỉnh thành lập 15 đoàn do các đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy làm trưởng đoàn đến thăm, chúc Tết và tặng quà 50 hộ gia đình chính sách tiêu biểu, hoàn cảnh khó khăn, với tổng kinh phí 150 triệu đồng từ nguồn bảo đảm xã hội. - Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh tổ chức thăm, trao quà cho 107 hộ có nhà bị sập, đổ, cuốn trôi do thiên tai năm 2025 tại 14 xã, phường, kinh phí trên 01 tỷ đồng từ nguồn hỗ trợ của của Ban Vận động cứu trợ Trung ương. Ủy ban MTTQ cấp xã, phường vận động xây dựng 11 nhà Đại đoàn kết cho hộ nghèo (680 triệu đồng), hỗ trợ khám, chữa bệnh miễn phí cho 300 người nghèo và xây dựng 23 công trình dân sinh (cầu giao thông nông thôn, tuyến đường ánh sáng quan…) với tổng kinh phí trên 01 tỷ đồng. Đồng thời, hệ thống MTTQ các cấp đã vận động trao 235.774 phần quà Tết cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, gia đình chính sách và các đối tượng khó khăn, tổng trị giá trên 99 tỷ đồng, cơ bản bảo đảm 100% hộ nghèo, cận nghèo được nhận ít nhất 02 phần quà. - Nhằm tạo điều kiện cho các đối tượng chính sách và người dân vui Xuân, đón Tết, tỉnh thực hiện chi trả gộp 02 tháng trợ cấp (tháng 02 và 3/2026) cho người có công, bảo đảm kịp thời, đúng đối tượng; đồng thời tiếp tục đẩy mạnh chi trả qua tài khoản, không dùng tiền mặt tiếp tục được đẩy mạnh. - Tỉnh đã cấp miễn phí 1.046.038 thẻ bảo hiểm y tế (thẻ) cho các đối tượng, trong đó có 25.000 thẻ cho người dân tại 10 xã và 02 phường thuộc An toàn khu; tăng 40,93% so cùng kỳ. - Tỉnh đã hỗ trợ 249.496 người yếu thế bao gồm: 94.440 người khuyết tật, 20.121 người nghèo, 567 trẻ em có hoàn cảnh đặt biệt, 110.210 người cao tuổi, 114 người nhiễm HIV, 24.044 Người đơn thân, người có hoàn cảnh khó khăn và đối tượng khác. - Có 18.350 hộ với 56.942 nhân khẩu được hỗ trợ gạo với số lượng 418,8 tấn gạo. 3. Hoạt động giáo dục: Trong quý I năm 2025, hoạt động giáo dục và đào tạo trên địa bàn tỉnh triển khai đúng theo kế hoạch đề ra, đảm bảo được chất lượng. Ngày 23/2 (mùng 7 tháng Giêng âm lịch), học sinh trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp chính thức trở lại trường sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026. Các cơ sở giáo dục trong tỉnh đã xây dựng kế hoạch đón học sinh trở lại trường, bảo đảm nếp dạy và học được duy trì ổn định, an toàn. Trong quý, tỉnh Đồng Tháp đã tổ chức khởi công xây dựng 4 trường phổ thông nội trú tại các xã biên giới đất liền; tổng số phòng học là 136 phòng, trong đó các trường: Trường PTNT liên cấp TH & THCS Thường Phước (50 lớp học), Trường PTNT liên cấp TH & THCS Tân Hồng (27 lớp học), Trường PTNT liên cấp TH&THCS Tân Hộ Cơ (32 lớp học), Trường PTNT liên cấp TH&THCS THCS Tân Thành (27 lớp học), góp phần củng cố cơ sở vật chất biên giới vững chắc. Bên cạnh đó, công tác bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi, chuyển đổi số trong quản lý chất lượng cũng được đẩy mạnh. 4. Hoạt động y tế: Hoạt động y tế trên địa bàn tỉnh được đảm bảo, chăm sóc tốt sức khỏe nhân dân, cung ứng thuốc đầy đủ phục vụ cho hoạt động khám chữa bệnh. Cộng dồn đến tháng báo cáo, có 18/44 bệnh truyền nhiễm được ghi nhận. So với cùng kỳ về số mắc, có 11 bệnh tăng (Bệnh do liên cầu lợn ở người, Sốt xuất huyết Dengue, Viêm màng não do não mô cầu, Liệt mềm cấp nghi bại liệt, Thương hàn, Uốn ván khác, Viêm gan vi rút B, Viêm gan vi rút C); 07 bệnh giảm (Sởi, Tay - chân - miệng, Viêm não virus khác, Cúm, Lỵ trực trùng, Tiêu chảy, Viêm gan vi rút khác); 26 bệnh tương đương hoặc không xảy ra ca mắc. Các bệnh truyền nhiễm trong quý được ghi nhận như: bệnh sốt xuất huyết 1.237 ca mắc, tăng 175,5%, không ghi nhận tử vong; bệnh tay - chân - miệng 708 ca, giảm 60%, không ghi nhận tử vong. Phòng chống bệnh HIV/AIDS tính đến nay, toàn tỉnh có 16.029 người nhiễm, 5.051 người chuyển sang AIDS, tử vong do AIDS 3.923 người.Hoạt động khám chữa bệnh cộng dồn đến tháng tháng báo cáo: tổng số lần khám bệnh là 1,2 triệu lượt người, giảm 6,6% so cùng kỳ, tổng số người điều trị nội trú 75 nghìn lượt người, giảm 6,0%. Công suất sử dụng giường bệnh bình quân trong tháng đạt 68,7%.5. Hoạt động văn hóa - thể thao: Hoạt động văn hóa, nghệ thuật: trong quý, tỉnh tổ chức nhiều hoạt động mừng Đảng – mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026. Tổ chức Đường hoa Xuân và Lễ Khai mạc tại Quảng trường Hùng Vương (phường Đạo Thạnh) và đường Lý Thường Kiệt (phường Cao Lãnh). Hai Đường hoa Xuân diễn ra từ ngày 16 đến 21/02/2026 (nhằm 29 tháng Chạp năm Ất Tỵ đến Mùng 5 Tết năm Bính Ngọ), thu hút trên 41.500 lượt người tham quan, thưởng lãm, chụp ảnh lưu niệm. Toàn tỉnh có 08 địa phương tổ chức bắn pháo hoa mừng Xuân Bính Ngọ, gồm: phường Đạo Thạnh, phường Cao Lãnh, phường Sa Đéc, phường Hồng Ngự, phường Long Thuận, phường Mỹ Phước Tây, xã Chợ Gạo và xã Trường Xuân. Cùng với đó, Chương trình nghệ thuật chào năm mới 2026 được truyền hình trực tiếp trên sóng Truyền hình Đồng Tháp, kết hợp bắn pháo hoa đêm Giao thừa tại 04 điểm cầu (phường Đạo Thạnh – điểm cầu chính, phường Cao Lãnh, phường Sa Đéc, phường Hồng Ngự), thu hút khoảng 180.000 lượt người theo dõi. Hoạt động thư viện: trong quý, Thư viện Tỉnh triển lãm Hội Báo Xuân trực tuyến Bính Ngọ năm 2026 với hơn 280 ấn phẩm xuân của các bộ, ban, ngành Trung ương, Báo chí các tỉnh, thành phố trên cả nước. Giới thiệu sách trực tuyến: các ấn phẩm Báo Xuân Bính Ngọ các tỉnh, thành phố; sách về Đảng Cộng sản Việt Nam, sách về Tết Nguyên đán trên các trang thông tin điện tử của Thư viện từ ngày 07 - 21/02/2026. Tổ chức phục vụ trên 174,5 nghìn lượt người, với trên 47,8 nghìn lượt tài liệu, giảm 37% so với cùng kỳ; trên 1 triệu lượt truy cập trên các kênh thông tin của Thư viện tỉnh. Hoạt động bảo tàng: trong quý, trưng bày chuyên đề “Sắc sen” tại Bảo tàng cơ sở 1 (phường Mỹ Tho) số lượng 50 ảnh; trưng bày “Ảnh đẹp Đồng Tháp” tại Quảng trường Hùng Vương số lượng 34 ảnh. Triển lãm ảnh Chủ đề “Cao Lãnh xưa” tại Bảo tàng cơ sở 2 (phường Cao Lãnh) số lượng 30 ảnh và 01 pano; trưng bày: Hiện vật “Đồ dùng sinh hoạt gia đình”; tranh về sen và mô hình thu nhỏ một số di tích trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp; ảnh Đồng Tháp đất và người. Hoạt động Thể dục - Thể thao: trong quý, tham dự 14 giải quốc tế, quốc gia, khu vực, đạt tổng cộng 59 huy chương các loại, gồm: 11 huy chương vàng, 20 huy chương bạc, 28 huy chương đồng. 6. Tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội (theo báo cáo của Ngành công an): Tình hình trật tự xã hội trên địa bàn tỉnh trong quý cơ bản được đảm bảo. Trong quý xảy ra 259 vụ, giảm 16,5% so với cùng kỳ và giảm 20,3% so với quý trước, làm chết 15 người, bị thương 86 người, tài sản thiệt hại khoảng 18,2 tỷ đồng; điều tra khám phá 232 vụ (đạt 89,6%), bắt, xử lý 510 đối tượng, thu hồi tài sản khoảng 2,7 tỷ đồng. Tội phạm và vi phạm pháp luật về ma túy trong quý: phát hiện, xử lý 259 vụ với 379 đối tượng; trong đó, tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy: 82 vụ với 103 đối tượng... 7. Trật tự an toàn giao thông (theo báo cáo ngành công an tỉnh, số liệu tính từ ngày 15/12/2025 đến 14/3/2026): Tai nạn giao thông đường bộ: trong quý, xảy ra 49 vụ, giảm 12 vụ so tháng trước và tăng 10 vụ so cùng kỳ. Hậu quả làm chết 34 người (giảm 18 người so tháng trước, tăng 13 người so cùng kỳ) và 24 người bị thương (tăng 02 người so tháng trước, giảm 06 người so cùng kỳ). Trong quý, toàn tỉnh đã xảy ra 145 vụ, giảm 32 vụ so với cùng kỳ; làm chết 112 người (tăng 01 người) và làm bị thương 61 người (giảm 35 người). Các nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông chủ yếu vẫn do ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông như: không đi đúng phần đường, làn đường; không nhường đường, lỗi của người đi bộ, vượt đèn đỏ, thiếu quan sát… Tai nạn giao thông đường thủy: trong quý, xảy ra 02 vụ làm chết 01 người, tăng 01 vụ và tương đương số người chết so với cùng kỳ. 8. Tình hình cháy nổ, môi trường và thiên tai: Cháy, nổ: xảy ra 15 vụ cháy, tăng 10 vụ so cùng kỳ, làm 02 người chết, thiệt hại trị giá trên 3,2 tỷ đồng. Môi trường: trong quý, trên địa bàn tỉnh xảy ra 03 vụ vi phạm môi trường, giảm 06 vụ so cùng kỳ; 05 vụ đã được xử lý với tổng số tiền đã xử phạt khoảng 768,5 triệu đồng. Thiên tai: trong quý, trên địa bàn tỉnh xảy ra 01 vụ sạt lở sông Tiền (tháng 02/2026), địa điểm sạt lở: tại tổ 01, ấp An Hòa 2, xã Phú Hựu với chiều dài sạt lở khoảng 54 m, ăn sâu vào đất liền khoảng 38m, mất khoảng 2.052 m2 đất. Hiện ảnh hưởng trực tiếp 01 hộ dân (chính quyền và người dân đã hỗ trợ tháo dỡ nhà và di dời tài sản của Hộ đến nơi ở an toàn) và nguy cơ ảnh hưởng của 03 hộ dân còn lại gần khu vực sạt lở, cụ thể khoảng cách mép sạt lở đến nhà hộ dân gần nhất khoảng 60m. Đa số tài sản của các Hộ dân trên đã được di chuyển đến nhà người thân và đều được an toàn.