Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Tháp 6 tháng đầu năm 2026
Năm 2026 có ý nghĩa rất quan trọng, là năm đầu tiên triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2026-2030, tạo đà phát triển cho cả giai đoạn. Tình hình chính trị thế giới trong những tháng đầu năm 2026 diễn biến phức tạp, cuộc chiến ở Trung Đông đã đẩy giá năng lượng, logistics và chuỗi cung ứng vào trạng thái biến động mạnh; giá nguyên liệu đầu vào tăng… ảnh hưởng đến phát triển kinh tế trong nước nói chung và tỉnh Đồng Tháp nói riêng…
Ngay từ đầu năm Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã triển khai kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh, giao nhiệm vụ cụ thể cho từng ngành, từng địa phương; chỉ đạo, điều hành sâu sát, tập trung và có hiệu quả hơn, cùng sự nỗ lực phấn đấu của các ngành các cấp. Các hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh được tổ chức linh hoạt diễn ra sôi nổi, các doanh nghiệp đã chủ động tiết kiệm chi phí, tối ưu hóa quy trình sản xuất và tìm kiếm nguồn nguyên liệu phù hợp, qua đó hạn chế phần nào tác động tiêu cực từ việc tăng giá xăng dầu. Tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2026 tiếp tục phát triển ổn định, có nhiều chuyển biến tích cực; kết quả thực hiện trên các lĩnh vực như sau:
I. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊU KINH TẾ
1. Tăng trưởng kinh tế (GRDP):
Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 120.745 tỷ đồng, (giá so sánh năm 2020) tăng 7,14% so với 6 tháng đầu năm 2025 (quý I tăng 6,66%, quý II tăng 7,67%), tăng cao hơn cùng kỳ 0,13% (cùng kỳ tăng 7,01%). Với tốc độ tăng trưởng 7,14%, Đồng Tháp xếp hạng thứ 2/5 tỉnh khu vực vùng đồng bằng sông Cửu Long . Khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,15%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,52%, khu vực dịch vụ tăng 8,06% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 7,61% so cùng kỳ.
Trong 7,14% tăng trưởng, khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản đóng góp 1,34%, khu vực công nghiệp và xây dựng đóng góp 2,44%, khu vực dịch vụ đóng góp 2,88% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đóng góp 0,48%. GRDP nếu tính theo giá hiện hành ước đạt 145.796 tỷ đồng, tăng 12,48% so cùng kỳ.
Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản: 6 tháng đầu năm 2026 tăng 4,15% so với 6 tháng đầu năm 2025 (quý I tăng 3,66%, quý II tăngg 4,90%); trong đó nông nghiệp tăng 4,39%.
Tình hình sản xuất nông nghiệp 6 tháng đầu năm thuận lợi, không chịu tác động nhiều của hạn mặn như những năm trước. Trên địa bàn tỉnh từng bước được cơ cấu lại theo hướng nâng cao giá trị, hiệu quả và phát triển bền vững; đã hình thành nhiều vùng chuyên canh quy mô lớn, hướng đến nền nông nghiệp công nghệ cao, hiện đại, nông dân đã chuyển đổi giống, mô hình canh tác xen canh, gối vụ với nhiều loại rau, củ, quả có giá trị kinh tế cao, dễ tiêu thụ; ứng dụng tiến bộ của khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất tiết kiệm chi phí, tăng năng suất, chuyển đổi diện tích đất lúa, đất màu kém hiệu quả sang trồng cây ăn quả có giá trị kinh tế cao hơn. Tuy nhiên trong 6 tháng đầu một số sản phẩm chủ lực của tỉnh như: lúa, sầu riêng, mít, thanh long… có giá bán thấp so cùng kỳ, cùng với tác động tăng giá xăng, dầu ảnh hưởng đến thu nhập của người dân. Ngành chăn nuôi tiếp tục duy trì sự ổn định và có nhiều yếu tố thuận lợi. Giá cả các sản phẩm chăn nuôi cơ bản ổn định giúp người dân yên tâm duy trì và phát triển đàn. Dịch bệnh còn xảy ra ở một số địa phương, nhưng do công tác phòng chống dịch bệnh được thực hiện chặt chẽ, tỷ lệ tiêm phòng đạt cao, góp phần giảm rủi ro và tăng khả năng tái đàn. Ngoài ra, việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật, mô hình chăn nuôi an toàn sinh học và sử dụng giống năng suất cao ngày càng phổ biến, giúp cải thiện hiệu quả sản xuất, chất lượng sản phẩm ngày càng nâng cao.
Ngành thủy sản tăng trưởng 2,99% so cùng kỳ (quý I tăng 2,89%, quý II tăng 3,09%, nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản đều tăng. Giá cả ổn định, nên ngư dân đã tập trung đầu tư cho nuôi trồng và khai thác; nhu cầu tiêu thụ thủy sản của thị trường trong nước và phục vụ cho xuất khẩu tăng, kích thích ngư dân đầu tư cho sản xuất. Mặt khác, thời tiết thuận lợi, thủy sản bệnh ít, năng suất cao, sản lượng nuôi trồng tăng so cùng kỳ. Tuy nhiên thời điểm tháng 3, tháng 4 giá xăng dầu tăng cao, số lượng tàu đánh nằm bờ nhiều cũng làm chậm tốc độ tăng trưởng của ngành thuỷ sản. Hiện giá xăng dầu đã ổn định, ngư dân tiếp tục ra khơi, bám biển.
Khu vực công nghiệp - xây dựng: Trong 6 tháng đầu năm 2026, khu vực công nghiệp – xây dựng trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng khá, trong bối cảnh giá năng lượng tăng làm tăng chi phí vận chuyển, giá nguyên liệu đầu vào, … do tác động của tình hình chiến sự ở Trung Đông, tạo áp lực lớn lên hoạt động sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh; 6 tháng đầu năm tăng 9,52% so với 6 tháng đầu năm 2025 (quý I tăng 8,20%, quý II tăngg 10,80%).
- Công nghiệp tăng 9,88% (quý I tăng 8,34%, quý II tăng 11,40%); động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm 95,48% giá trị ngành công nghiệp và chiếm 21,49% trong GRDP tăng 10,20% nhờ đơn hàng phục hồi, nhu cầu thị trường cải thiện và doanh nghiệp duy trì sản xuất ổn định và có một số đơn vị mới đi vào sản xuất kinh doanh. Một số ngành có chỉ số sản xuất tăng cao như: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 18,68%, sản xuất đồ uống tăng 28,89%, dệt tăng 12,98%, sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 52,31%,… Bên cạnh đó cũng có một số ngành có tỷ trọng lớn khó khăn về thị trường tiêu thụ, đơn hàng giảm so cùng kỳ như: Sản xuất trang phục giảm 3,85%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 5,42%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa, sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện giảm 21,24%; sản xuất hoá chất và các sản phẩm từ hoá chất giảm 6,39%, Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 24,0%,...
- Ngành xây dựng 6 tháng đầu năm 2026 ước tăngg 7,40% so với cùng (quý I tăng 7,23%, quý II ước tăng 7,54% so cùng kỳ). Trong lĩnh vực đầu tư công, trong 6 tháng đầu năm chủ yếu thực hiện các công trình chuyển tiếp từ năm 2025 chuyển sang, công trình mới chưa nhiều; Trong quý II với sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị, các chủ đầu tư tập trung đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình trọng điểm, đồng thời phối hợp với các địa phương đẩy mạnh đầu tư hạ tầng bệnh viện, trường học, giao thông nông thôn, chỉnh trang đô thị. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại các khó khăn mang tính đặc thù như biến động giá vật liệu xây dựng, thiếu nguồn cung cát, đá, vướng mắc giải phóng mặt bằng, ảnh hưởng đến tiến độ và hiệu quả đầu tư, ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng của ngành xây dựng.
Khu vực dịch vụ: tăng 8,06% so cùng kỳ (cùng kỳ tăng 7,55%); hầu hết các ngành trong khu vực này đều tăng, nhu cầu tiêu dùng, mua sắm của người dân trong kỳ tăng cao nên hoạt động thương mại và dịch vụ diễn ra khá sôi động và có mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước. Tỉnh đã tổ chức nhiều sự kiện để thu hút du khách đến địa bàn tỉnh như: Festival Hoa - Kiểng Sa Đéc, chợ quê, khánh thành tượng đài Bác Hồ kết hợp với triển lãm, Lễ hội Trái cây tỉnh Đồng Tháp lần I, Lễ hội Sen Đồng Tháp … Một số ngành có tốc độ tăng trưởng khá so cùng kỳ như: Ngành thương mại ước tăng 9,11% so cùng kỳ năm trước; ngành vận tải, kho bãi tăng 9,06%; ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 10,64%; ngành thông tin và truyền thông tăng 6,94%; Hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ tăng 8,5%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 9,97%; …
Cơ cấu kinh tế: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 31,0% (cùng kỳ 33,2%); khu vực công nghiệp, xây dựng chiếm 26,6% (cùng kỳ 25,2%); khu vực dịch vụ chiếm 36% (cùng kỳ 35,3%); thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 6,4 %, (cùng kỳ 6,3%).
2. Tài chính - Ngân hàng:
a. Tài chính:
Thu ngân sách nhà nước: Ước thực hiện 6 tháng đầu năm 2026 thu ngân sách trên địa bàn được 13.523 tỷ đồng đạt 56,9% dự toán và tăng 4,2% so cùng kỳ; thu nội địa 13.010 tỷ đồng, đạt 56% dự toán, tăng 3,8% so cùng kỳ (thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 2.261 tỷ đồng, đạt 55,8% dự toán và tăng 11,2% so với cùng kỳ; khu vực công thương nghiệp - ngoài quốc doanh là 3.537 tỷ đồng, đạt 73,7% dự toán, tăng 36,4% so với cùng kỳ; thu từ hoạt động xổ số kiến thiết 3.018 tỷ đồng, đạt 65,1% dự toán, tăng 15,3% so cùng kỳ).
Chi ngân sách nhà nước: Tổng chi ngân sách 6 tháng đầu năm 2026 là 22.094 tỷ đồng; trong đó: chi đầu tư phát triển 4.022 tỷ đồng, đạt 46,1% dự toán, giảm 18,4%; chi thường xuyên 13.486 tỷ đồng, đạt 54,7% dự toán và giảm 0,6% so cùng kỳ.
b. Ngân hàng:
Các tổ chức tín dụng trên địa tỉnh chấp hành tốt các quy định về lãi suất động. Ước tính đến cuối tháng 6/2026 vốn huy động đạt 219.619 tỷ đồng, tăng 5,49%; trong đó, tiền gửi đạt 216.293 tỷ đồng, chiếm 98,49% tổng vốn huy động và tăng 5,2% so với cuối năm 2025; tổng dư nợ toàn tỉnh đạt 249.238 tỷ đồng, tăng 2,39% so với cuối năm 2025.
Nợ xấu: đến cuối tháng 04/2026 nợ xấu 6.153 tỷ đồng (bao gồm nợ quá hạn và nợ khoanh của NH Chính sách xã hội, trừ nợ xấu các chi nhánh bị kiểm soát đặc biệt) tỷ lệ nợ xấu 2,52%.
3. Giá cả, lạm phát:
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6/2026 giảm 0,28% (khu vực thành thị giảm 0,11%; khu vực nông thôn tăng 0,34%) so tháng 5/2026, tăng 4,86% so tháng 6/2025. Bình quân 6 tháng năm 2026 so cùng kỳ tăng 4,21%; Một số nhóm hàng có chỉ số tăng như: nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 7,02%, làm CPI chung tăng 1,29 điểm phần trăm do giá nhà ở thuê và giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở đều tăng (chỉ số giá giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 11,98%, chỉ số giá điện sinh hoạt tăng 7,94%); giao thông tăng 5,06%, tác động làm CPI chung tăng 0,51 điểm phần trăm, trong đó giá xăng dầu tăng 8,65%; hàng ăn uống và dịch vụ ăn uống tăng 3,83%, tác động làm CPI chung tăng 1,38 điểm phần trăm, trong đó nhóm thực phẩm tăng 4,27%, nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 4,38%, nhóm lương thực tăng 1,14%;… riêng nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,01% tác động không đáng kể đến chỉ số tiêu dùng bình quân chung.
Chỉ số giá vàng tháng 6/2026 giảm 8,68% so với tháng 5/2026, giảm 3,2% so với tháng 12/2025, tăng 52,76% so với bình quân cùng kỳ, tương ứng giảm 1.327 ngàn đồng/chỉ đối với vàng nhẫn trơn 9999.
Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng 6/2026 giảm 0,15% so tháng trước, tương đương giảm 3.923 đồng/100USD và giảm 1,37% so với tháng 12/2025, Bình quân sáu tháng tăng 1,32% so cùng kỳ.
4. Đầu tư và Xây dựng:
Vốn đầu tư toàn xã hội 6 tháng đầu năm 2026 ước thực hiện 34.872 tỷ đồng, đạt 37,4% kế hoạch, tăng 12,5% so cùng kỳ; trong đó: vốn ngoài Nhà nước 18.195 tỷ đồng, chiếm 52,2% và tương đương cùng kỳ; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 4.589 tỷ đồng, chiếm 13,1% và tăng 66,8%; vốn đầu tư khu vực nhà nước 12.088 tỷ đồng, chiếm 34,7% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và tăng 20% so cùng kỳ
Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện 6 tháng đầu năm 3.980 tỷ đồng, đạt 34,4% kế hoạch, giảm 34,8% so cùng kỳ. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 3.649 tỷ đồng, đạt 35,5% kế hoạch, giảm 39,5% so cùng kỳ.
5. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp: (Theo báo cáo của Sở Tài Chính)
Trong 6 tháng đầu năm tiếp tục triển khai các giải pháp hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp, dự tính trong 6 tháng đầu năm 2026 số lượng doanh nghiệp thành lập mới; giải thể, tạm ngừng hoạt động và hoạt động trở lại:
Thành lập mới: có 1.804 doanh nghiệp thành lập mới, đạt 61,13% so kế hoạch và tăng 39,7% so với cùng kỳ; tổng vốn đăng ký là 8.519 tỷ đồng, tăng 1% so với cùng kỳ; vốn đăng ký bình quân 4,7 tỷ đồng/doanh nghiệp.
Giải thể, tạm ngừng hoạt động: có 297 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 63,2% so với cùng kỳ và 616 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, tăng 9,7% so với cùng kỳ.
Hoạt động trở lại: có 255 doanh nghiệp hoạt động trở lại, bằng 86,3% so với cùng kỳ.
6. Sản xuất nông - lâm nghiệp và thủy sản:
a. Nông nghiệp:
Trong 6 tháng đầu năm 2026, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn diễn ra trong điều kiện tương đối thuận lợi.
* Trồng trọt:
Cây lương thực có hạt: diện tích gieo trồng cộng dồn từ đầu vụ sản xuất ước đạt 462.423 ha, giảm 12,3% so cùng kỳ; sản lượng ước đạt 2.086.267 tấn, giảm 9,0%. Trong đó, cây lúa gieo sạ 458.390 ha, giảm 12,3% so cùng kỳ; sản lượng thu hoạch ước đạt 2.064.261, giảm 9,3%;
- Cây lúa:
+ Vụ Đông xuân 2025 - 2026: diện tích gieo trồng chính thức 223.450 ha, đạt 99,6% kế hoạch và giảm 2,7% so cùng kỳ, tương ứng giảm 6.229 ha[4]. Lúa Đông xuân 2025-2026 đã thu hoạch 100% diện tích gieo trồng của vụ; Năng suất thu hoạch bình quân 72,5 tạ/ha, tăng 0,8% so cùng kỳ với sản lượng thu hoạch 1.620.142 tấn, đạt 98,8% so với kế hoạch, giảm 1,9% so với cùng kỳ do diện tích gieo trồng giảm. Cơ cấu giống lúa vụ Đông Xuân 2025 - 2026 tập trung vào các giống chất lượng cao, chịu mặn/phèn tốt, thời gian sinh trưởng ngắn (85-95 ngày) như: OM 18 (chiếm 36,0%); Đài Thơm 8 (chiếm 26,2%); OM 5451 (chiếm 4,2%); Nàng Hoa 9 (chiếm 2,3%); OM 380 (chiếm 1,9%); OM 4900 (chiếm 1,9%); các giống ST 24, ST 25 (chiếm 1,4%); IR50404 (chiếm 6,5%); các giống lúa nếp (chiếm 12,2%), giống lúa khác còn lại chiếm 7,4%.
+ Vụ Hè thu 2026: tính đến ngày 20/6, toàn tỉnh gieo sạ ước đạt 213.095 ha, đạt 98,7% so với kế hoạch, giảm 11,3% so với cùng kỳ; Diện tích thu hoạch ước đạt 67.188 ha, đạt 31,1% kế hoạch; Năng suất thu hoạch ước đạt 66,1 tạ/ha, tăng 1,1% với sản lượng thu hoạch ước đạt 444.119 tấn, giảm 28,1% so với cùng kỳ.
+ Vụ Thu đông 2026: tính đến ngày 20/6, toàn tỉnh gieo sạ ước đạt 21.845 ha, đạt 14,6% so với kế hoạch. Vụ lúa Thu đông đã bắt đầu xuống giống rải rác ở các xã: xã Thường Phước, xã Phương Thịnh, xã Trường Xuân, xã Mỹ Quí, xã Tháp Mười, xã Đốc Binh Kiều và xã Thanh Mỹ. Theo Sở NN&MT tỉnh Đồng Tháp, khuyến cáo nông dân xuống giống tập trung, đồng loạt, né rầy theo từng khu vực. Đối với vùng sản xuất 3 vụ, xuống giống đợt 1 từ ngày 10 đến 17/6/2026, đợt 2 từ ngày 09 đến 16/7/2026 và đợt 3 từ ngày 01 đến 10/9/2026. Riêng phân vùng kinh tế nông nghiệp biển thực hiện cắt vụ lúa Thu đông 2026 tại các khu vực cuối nguồn của dự án ngọt hóa Gò Công, vận động nông dân chuyển sang trồng rau màu ngắn ngày để đảm bảo sản xuất vụ Đông xuân 2026-2027 an toàn, hiệu quả, tránh hạn mặn và thiếu nước cuối vụ, vừa giúp đa dạng hoá cơ cấu cây trồng và tăng giá trị sản xuất góp phần tối ưu hoá lợi nhuận cho nông dân.
- Cây ngô: tính đến ngày 20/6, diện tích gieo trồng ước đạt 4.032 ha, đạt 43,4% so với kế hoạch, tăng 0,2% so cùng kỳ; Diện tích thu hoạch ước đạt 2.879 ha, tăng 12,5% so với cùng kỳ; Sản lượng thu hoạch ước đạt 22.006 tấn, đạt 33,4% so với kế hoạch, tăng 38,3% so với cùng kỳ.
- Cây rau đậu các loại: diện tích gieo trồng cộng dồn từ đầu vụ sản xuất ước đạt 47.096 ha, tăng 0,4% so cùng kỳ; trong đó: rau các loại 46.853 ha, tăng 0,4% so cùng kỳ. Sản lượng thu hoạch ước đạt 683.728 tấn, tăng 4,6% so cùng kỳ; trong đó: rau các loại ước đạt 683.131 tấn, tăng 4,6% so cùng kỳ.
- Cây lâu năm: Tổng diện tích gieo trồng cây lâu năm trên toàn tỉnh ước đạt 161.684 ha, tăng 1,8% so với cùng kỳ (tương ứng tăng 2.914 ha). Trong đó, diện tích cây ăn quả ước đạt 134.425 ha, chiếm 83,1% tổng diện tích cây lâu năm, tăng 1,6% so cùng kỳ; Tổng sản lượng thu hoạch cây ăn quả ước đạt 1.347.147 tấn, tăng 5,2% so cùng kỳ.
*Chăn nuôi: ước thời điểm 30/6/2026 tổng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh như sau: đàn trâu 2,1 nghìn con, giảm 26,6% so cùng kỳ; đàn bò 148,2 ngàn con, giảm 3,3%; đàn lợn 469,4 nghìn con, tăng 0,2%; đàn gia cầm 22,8 triệu con, tăng 2,9%.
b. Lâm nghiệp:
Diện tích rừng trồng mới tập trung: trong 6 tháng đầu năm 2026 có 111,3 ha rừng được trồng mới tập trung, giảm 0,6% tương đương giảm 0,7 ha so với cùng kỳ.
Cây phân tán: trong 6 tháng đầu năm 2026 số lượng cây phân tán ước đạt 200,8 nghìn cây, giảm 1,0%, tương ứng giảm 2,0 nghìn cây so với cùng kỳ.
Sản lượng gỗ khai thác: trong 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 85.772 m3 gỗ được khai thác, giảm 0,9% so với cùng kỳ.
c. Thủy hải sản:
Tổng diện tích thả nuôi thâm canh 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 8.788 ha, tăng 1,7% so cùng kỳ; sản lượng đạt 468.593 tấn, tăng 2,4% so cùng kỳ. Trong đó, sản lượng thủy sản nuôi trồng ước thu hoạch đạt 412.491 tấn, tăng 2,5% so cùng kỳ.
7. Sản xuất công nghiệp:
Sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm 2026 trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì, tình hình sản xuất, tiêu thụ của doanh nghiệp tăng cao so với cùng kỳ. chỉ số sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm 2026 tăng 12,18% so với cùng kỳ. Chia ra, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,86%; kế đến là ngành khai khoáng tăng 19,59%; ngành sản xuất, phân phối điện tăng 5,02% và ngành cung cấp nước, quản lý rác thải tăng nhẹ 3,48%
Sản phẩm công nghiệp 6 tháng đầu năm 2026: có 69/114 sản phẩm tăng so cùng kỳ: phi lê đông lạnh tăng 21,9%; bột mịn, bột thô và bột viên từ cá tăng 20,6%; quả và hạt ướp lạnh tăng 51,4%; gạo đã xát toàn bộ hoặc sơ bộ tăng 11,5%; thức ăn cho gia súc tăng 31,6%;…có 41/114 sản phẩm giảm so cùng kỳ: bia đóng chai giảm 19,2%; túi xách giảm 14,6%; giày, dép thể thao có mũ bằng da và có đế ngoài giảm 15,5%; các bộ phận của giày, dép bằng da, tấm lót bên trong có thể tháo rời giảm 26,6%;...
* Tình hình tiêu thụ và tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo so cùng kỳ:
Trong tháng 6/2026, tình hình tiêu thụ và tồn kho của ngành công nghiệp chế biến chế tạo đều tăng so với cùng kỳ: chỉ số tiêu thụ (CSTT) tăng 3,02% so với tháng trước và tăng 16,42% so cùng kỳ; chỉ số tồn kho (CSTK) tăng 10,23% so với tháng trước và tăng 44,26% so với cùng kỳ;
Sáu tháng đầu năm, chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 10,86% so với cùng kỳ. Trong đó, một số ngành cấp II đóng góp làm tăng chỉ số chung gồm: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 14,96%; dệt tăng 5,68%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 4,43%; sản phẩm từ cao su và plastic tăng 33,62%; sản xuất kim loại tăng 7,43%; sản xuất thiết bị điện tăng 49,75%;...
8. Thương mại, dịch vụ:
a. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng:
Trong 6 tháng đầu năm trên địa bàn tỉnh đã tổ chức một số lễ hội như: Lễ khai mạc Đường hoa Xuân Bính Ngọ năm 2026 tại Quảng trường Hùng Vương (phường Đạo Thạnh) và đường Lý Thường Kiệt (phường Cao Lãnh); Lễ hội Trái cây Đồng Tháp lần thứ I năm 2026; Lễ hội Sen Đồng Tháp lần thứ III năm 2026;… đã tạo điều kiện cho doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất kinh doanh giới thiệu, quảng bá các sản phẩm và kích cầu tiêu dùng.
Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng sáu tháng đầu năm 2026 là 94.938 tỷ đồng, đạt 32,7% kế hoạch, tăng 14,5% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 70.753 tỷ đồng, tăng 14,4%; lưu trú, ăn uống 12.198 tỷ đồng, tăng 22,7%; du lịch lữ hành 194 tỷ đồng, tăng 19,8%; dịch vụ tiêu dùng 11.792 tỷ đồng, tăng 13,4% so cùng kỳ.
b. Xuất - Nhập khẩu: (Theo báo cáo Sở Công Thương)
* Xuất khẩu: giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng hóa có nhiều khởi sắc và đạt được nhiều kết quả tích cực sáu 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 4.851 triệu USD, đạt 48,5% kế hoạch, tăng 9,3% so cùng kỳ.
* Nhập khẩu: Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 2.807 triệu USD, đạt 56,1% kế hoạch, tăng 12,5% so cùng kỳ.
c. Vận tải:
Tình hình hoạt động các tuyến xe trên địa bàn tỉnh tiếp tục được duy trì thông thoáng, đặc biệt các chủ cơ sở kinh doanh vận tải tự giác chấp hành tốt nội qui bến bãi, đã tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân đi lại và vận chuyển hàng hoá đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh, đồng thời góp phần hạn chế chống ùn tắc giao thông trong dịp lễ tết.
Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải 6 tháng đầu năm 2026 thực hiện 4.438 tỷ đồng, tăng 17,3% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 1.517 tỷ đồng, tăng 23,2 % so cùng kỳ; vận tải hàng hóa thực hiện 2.162 tỷ đồng, tăng 15,3% so cùng kỳ.
Vận chuyển hành khách 6 tháng đầu năm 2026 đạt 42.024 ngàn hành khách, tăng 15,2% và luân chuyển 1.527.540 ngàn hành khách.km, tăng 14,6% so cùng kỳ; trong đó: vận chuyển đường bộ 15.309 ngàn hành khách, tăng 19,4% và luân chuyển 1.513.121 ngàn hành khách.km, tăng 14,5% so cùng kỳ; vận chuyển đường thủy 26.715ngàn hành khách, tăng 12,9% và luân chuyển 14.419 ngàn hành khách.km, tăng 25,2% so cùng kỳ.
Vận tải hàng hóa 6 tháng đầu năm 2026 đạt 15.760 ngàn tấn, tăng 17,3% và luân chuyển 2.935.740 ngàn tấn.km, tăng 18,6% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ thực hiện 3.034 ngàn tấn, tăng 1,6% và luân chuyển được 502.861 ngàn tấn.km, tăng 9,9% so cùng kỳ; vận tải đường thủy thực hiện 12.726 ngàn tấn, tăng 21,8% và luân chuyển 2.432.879 ngàn tấn.km, tăng 20,5% so cùng kỳ.
d. Bưu chính viễn thông:
Các doanh nghiệp bưu chính, viễn thông trên địa bàn tỉnh tiếp tục phát triển chuyển từ dịch vụ truyền thống sang hạ tầng số nhằm phụ vụ kinh tế số, không ngừng đầu tư nâng cấp phát triển mạng lưới, cung cấp nhiều loại hình dịch vụ phong phú, đa dạng … nhằm thu hút khách hàng tham gia sử dụng.
Tổng số thuê bao điện thoại có trên mạng đến cuối tháng 6 năm 2026 là 3.642 ngàn thuê bao; thuê bao điện thoại bình quân đạt 107,01 thuê bao/100 dân (chỉ tính thuê bao cố định và di động trả sau). Tổng số thuê bao Internet trên mạng ước tính đến tháng 6 năm 2026 là 3.948 ngàn thuê bao; mật độ Internet bình quân ước đạt 115,98 thuê bao/100 dân.
II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
1. Lao động, giải quyết việc làm:
Tư vấn và giới thiệu việc làm:
Trong 6 tháng, đã giải quyết việc làm cho 23.517 lao động, đạt 47% so với kế hoạch; lao động đi làm việc ở nước ngoài 1.518 lượt lao động, đạt 63,3% so với kế hoạch; đối với trợ cấp thất nghiệp có 10.512 lao động đăng ký hưởng trợ cấp; trong đó, có 9.862 lao động đã được giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp với tổng số tiền chi trả trên 227 tỷ đồng.
Tình hình lao động thiếu việc làm và thất nghiệp:
Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, tỷ lệ thiếu việc làm toàn tỉnh là 3,11%, giảm 0,92 điểm phần trăm so với cùng kỳ (năm 2025 là 4,03%); tỷ lệ thất nghiệp là 0,89%, giảm 0,10 điểm phần trăm so với cùng kỳ (năm 2025 là 0,99%); Tỷ trọng lao động thất nghiệp ở khu vực thành thị chiếm 34,4% trong tổng số người thất nghiệp toàn tỉnh.
2. Đời sống dân cư và an sinh xã hội:
a. Đời sống dân cư:
Trong 6 tháng đầu năm 2026, mặc dù tình hình kinh tế, chính trị thế giới còn nhiều biến động, trong nước sau khi sáp, xây dựng chính quyền địa phương hai cấp, đời sống dân cư trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp cơ bản ổn định. Hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp tiếp tục được duy trì, góp phần bảo đảm việc làm và thu nhập cho người lao động.
Các chính sách an sinh xã hội tiếp tục được triển khai hiệu quả. Tỉnh đã cấp miễn phí 1.079 ngàn thẻ bảo hiểm y tế. Chính sách giảm thuế giá trị gia tăng từ 10% xuống 8% tiếp tục góp phần giảm chi phí tiêu dùng, hỗ trợ sản xuất kinh doanh và ổn định đời sống người dân. Đồng thời, tỉnh triển khai chương trình khám sức khỏe định kỳ, khám sức khỏe toàn dân, khám sàng lọc miễn phí cho người dân theo lộ trình giai đoạn 2026-2030, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe và giảm gánh nặng chi phí y tế.
b. An sinh xã hội:
Chính sách an sinh xã hội tiếp tục được thực hiện tốt, tạo điều kiện cho xã hội được phát triển bền vững trong 6 tháng đầu năm 2026. Đặc biệt, dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026, tỉnh đã triển khai đồng loạt các hoạt động chăm lo đời sống người có công, hộ nghèo, người cao tuổi, gia đình chính sách với quy mô rộng khắp:
- Trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026, các cấp, các ngành trong tỉnh đã tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho trên 127.837 lượt người có công với cách mạng và gia đình chính sách, với tổng kinh phí trên 53 tỷ đồng; trong đó quà của Chủ tịch nước 55.179 suất, trị giá trên 16,9 tỷ đồng, ngân sách xã, phường trên 36,5 tỷ đồng.
- Tỉnh thành lập 15 đoàn do các đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy làm trưởng đoàn đến thăm, chúc Tết và tặng quà 50 hộ gia đình chính sách tiêu biểu, hoàn cảnh khó khăn, với tổng kinh phí 150 triệu đồng từ nguồn bảo đảm xã hội.
3. Hoạt động giáo dục:
Trong 6 tháng đầu năm 2026, công tác giáo dục và đào tạo trên địa bàn tỉnh tiếp tục được triển khai nghiêm túc, hiệu quả, bám sát kế hoạch năm học
Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026, đã diễn ra từ ngày 10 đến 13/6/2026, tỉnh Đồng Tháp có 37.138 thí sinh đăng ký dự thi, gồm 32.052 thí sinh THPT, 3.636 thí sinh giáo dục thường xuyên và 1.450 thí sinh tự do. Toàn tỉnh bố trí 71 điểm thi với 1.580 phòng thi.
4. Hoạt động y tế:
Sáu tháng đầu năm 2026, có 23/44 bệnh truyền nhiễm được ghi nhận. tăng 15 bệnh so với cùng kỳ; giảm 09 bệnh; 20 bệnh tương đương hoặc không xảy ra ca mắc. Đặc biệt các bệnh truyền nhiễm tăng cao trong 6 tháng đầu năm như: bệnh sốt xuất huyết 3.587 ca mắc, tăng 177,4% so cùng kỳ, 01 ca tử vong; bệnh tay - chân - miệng 2.663 ca, tăng 71,3%, 01 ca tử vong.
Phòng chống HIV/AIDS trên địa bàn tỉnh tính đến nay là 16.164 người nhiễm HIV; 5.051 người chuyển sang AIDS; 3.931 người tử vong do AIDS.
Khám chữa bệnh trong 6 tháng đầu năm 2026 trên 3,2 triệu lượt người, giảm 9,1% so cùng kỳ; trong đó, số người điều trị nội trú trên 200 nghìn lượt người, giảm 1,3%.
Đến nay, toàn tỉnh xảy ra 06 vụ ngộ độc thực phẩm với trên 530 người mắc, làm tử vong 03 người, trong đó có 01 vụ ngộ độc trên 300 người.
5. Hoạt động văn hóa - thể thao:
Hoạt động văn hóa - thể thao trên địa bàn tỉnh trong 6 tháng đầu năm 2026 thực hiện theo kế hoạch và đạt được nhiều điểm nổi bật.
6. Tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội (theo báo cáo của ngành Công an):
Tình hình trật tự xã hội trên địa bàn tỉnh trong 6 tháng đầu năm 2026 cơ bản được đảm bảo. Điều tra khám phá 1.197 vụ (đạt 94,4%); phát hiện, xử lý 365 tụ điểm với 2.116 đối tượng tổ chức đánh bạc và đánh bạc, 04 vụ với 18 đối tượng mại dâm và môi giới mại dâm.
Tội phạm và vi phạm pháp luật về ma túy trong 6 tháng đầu năm: phát hiện, xử lý 469 vụ với 668 đối tượng; trong đó, vận chuyển trái phép chất ma túy 02 vụ với 03 đối tượng, mua bán trái phép chất ma túy 20 vụ với 37 đối tượng, tàng trữ trái phép chất ma túy 130 vụ với 151 đối tượng; tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy 71 vụ với 228 đối tượng, sử dụng trái phép chất ma túy 246 vụ với 249 đối tượng.
7. Trật tự an toàn giao thông (theo báo cáo ngành công an tỉnh, số liệu tính từ ngày 15/12/2025 đến 14/6/2026):
Tai nạn giao thông đường bộ: trong tháng, xảy ra 47 vụ, tăng 04 vụ so tháng trước và giảm 03 vụ so cùng kỳ. Hậu quả làm chết 40 người (tăng 04 người so tháng trước, giảm 01 người so cùng kỳ) và 14 người bị thương (tăng 02 người so tháng trước, giảm 04 người so cùng kỳ). Cộng dồn từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh đã xảy ra 279 vụ, giảm 45 vụ so với cùng kỳ; làm chết 230 người (tăng 09 người) và làm bị thương 98 người (giảm 71 người). Các nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông chủ yếu vẫn do ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông như: không đi đúng phần đường, làn đường; không nhường đường, lỗi của người đi bộ, vượt đèn đỏ, thiếu quan sát…
Tai nạn giao thông đường thủy: trong tháng không xảy ra. Cộng dồn từ đầu năm đến nay, xảy ra 03 vụ làm chết 02 người, tương đương về số vụ và số người chết so với cùng kỳ.
8. Tình hình cháy nổ, môi trường và thiên tai:
Cháy, nổ: trong 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh ghi nhận 23 vụ cháy, tăng 11 vụ so với cùng kỳ; 02 người tử vong (giảm 02 người). Tổng thiệt hại về tài sản ước tính trên 4,3 tỷ đồng.
Lĩnh vực môi trường: trong 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 11 vụ vi phạm, giảm 27 vụ so cùng kỳ; đã xử lý 13 vụ, giảm 26 vụ so với cùng kỳ, với tổng số tiền xử phạt trên 1,3 tỷ đồng.
Tình hình thiên tai: 6 tháng đầu năm 2026, trên địa bàn tỉnh xảy ra 20 vụ thiên tai gồm mưa lớn kèm giông lốc và sạt lở. Tuy không gây thiệt hại về người nhưng tổng tài sản thiệt hại khá lớn. Sạt lở xảy ra 11 vụ, trong đó có 03 vụ sạt lở sông Tiền và 08 vụ sạt lở nội đồng. Mưa kèm theo giông lốc xảy ra 09 vụ, làm sập 11 căn nhà, tốc mái 171 căn (trong đó có 79 căn tốc mái hoàn toàn), làm 7,3 ha hoa màu thiệt hại với tổng giá trị ước tính khoảng 05 tỷ đồng.
III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 6 THÁNG CUỐI NĂM 2026
Để đảm bảo thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026, ngay từ đầu năm, Tỉnh ủy, UBND tỉnh tổ chức triển khai kế hoạch và giao nhiệm vụ cụ thể cho từng ngành, từng địa phương, phấn đấu đạt mức tăng trưởng từ 8 - 8,5%. Trên cơ sở phát huy kết quả đã đạt được và khắc phục những hạn chế khó khăn trong 6 tháng đầu năm. Trong 6 tháng cuối năm 2026 cần thực hiện một số giải pháp trọng tâm như sau:
Theo kết quả điều tra xu hướng của 172 doanh nghiệp dự báo sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp quý III/2026 so quý II/2026 như sau:
- Xu hướng sản xuất kinh doanh, có 56,98% doanh nghiệp dự báo tình hình sản xuất kinh doanh tốt lên; có 33,14% dự báo giữ ổn định; có 9,88% dự báo tình hình sản xuất kinh doanh khó khăn hơn.
- Khối lượng sản xuất, có 56,40% doanh nghiệp dự báo tăng, có 36,63% doanh nghiệp dự báo giữ ổn định, có 6,98% doanh nghiệp dự báo giảm.
- Đơn đặt hàng mới, có 48,81% doanh nghiệp dự báo tăng, 39,88% doanh nghiệp giữ nguyên đơn hàng và có 11,31% doanh nghiệp dự báo giảm đơn hàng.
- Biến động lao động, có 20,93% doanh nghiệp dự báo tăng, có 75% doanh nghiệp giữ nguyên và có 4,07% doanh nghiệp giảm.
Để thực hiện đạt kế hoạch năm 2026 Thống kê Tỉnh đề xuất các giải pháp sau:
Tập trung chỉ đạo sản xuất vụ Thu Đông, chuẩn bị điều kiện xuống giống
vụ Đông Xuân 2026 - 2027 phù hợp với diễn biến thời tiết, thủy văn, thị trường và khả năng tiêu thụ sản phẩm.
Phát triển vùng sản xuất tập trung, cây trồng chủ lực, được cấp mã số vùng trồng (MSVT) gắn truy xuất nguồn gốc đáp ứng xuất khẩu. Tiếp tục đẩy nhanh tiến độ thiết lập và cấp mới MSVT cho các loại cây trồng chủ lực có tiềm năng xuất khẩu của tỉnh; duy trì và giám sát MSVT đã được cấp để đáp ứng nhu cầu xuất khẩu, nâng cao hiệu quả trong liên kết và tiêu thụ sản phẩm nông sản tại các vùng trồng.
Tập trung triển khai hiệu quả Nghị quyết số 13-NQ/TU ngày 07/4/2026
của Tỉnh ủy và các kế hoạch của UBND tỉnh về tiếp tục cải thiện mạnh mẽ môi
trường đầu tư, kinh doanh; tăng cường đối thoại, lắng nghe, kịp thời tháo gỡ khó
khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh và các dự án đầu tư.
Tập trung phát triển các ngành, sản phẩm công nghiệp có lợi thế cạnh tranh, có thị trường tiêu thụ sản phẩm; đẩy mạnh phát triển công nghiệp hỗ trợ nguyên liệu phục vụ sản phẩm thức ăn chăn nuôi, cơ khí, điện tử,...; ngành công nghiệp công nghệ cao, có giá trị gia tăng.
Triển khai thực hiện đồng bộ, linh hoạt các chính sách về lãi suất, gói hỗ trợ lãi suất cho vay, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh; tập trung vốn vào các lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên. Tăng cường công tác kết nối ngân hàng - doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi trong vay vốn tín dụng ngân hàng cho doanh nghiệp và người dân.
Triển khai hiệu quả các hoạt động xúc tiến thương mại, kết nối cung cầu, tháo gỡ rào cản, tạo thuận lợi cho tiêu thụ và xuất khẩu các sản phẩm nông, lâm nghiệp, thủy sản; đồng thời ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất, nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm để mở rộng thị trường tiêu thụ, thúc đẩy xuất khẩu.
Thực hiện có hiệu quả các Chương trình xúc tiến thương mại, thúc đẩy phân phối hàng hóa qua nền tảng số, thương mại điện tử; thúc đẩy kết nối giữa nhà sản xuất và các kênh phân phối hiện đại để mở rộng tiêu thụ sản phẩm nội địa; có các chính sách miễn, giảm, gia hạn thuế, phí, lệ phí và tiền thuê đất… để hỗ trợ người dân, doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh.
Sớm phân bổ vốn; đẩy nhanh tiến độ các công trình đang thi công, kịp thời nghiệm thu đưa vào sử dụng các công trình đã hoàn thành để phát huy hiêu quả các công trình.
Tăng cường công tác an ninh trật tự, an toàn xã hội, an ninh quốc phòng.
Tập tin : web_solieu_uoc T6-2026.xlsx
Tin khác