Hội nghị công chức, người lao động Thống kê tỉnh Đồng Tháp năm 2026
- 11/02/2026 09:22
Sáng ngày 11/02/2026, tại Hội trường cơ quan, Thống kê tỉnh Đồng Tháp long trọng tổ chức Hội nghị công chức, người lao động năm 2026. Hội nghị tổng kết, đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và thảo luận các giải pháp thực hiện nhằm nâng cao chất lượng công tác Ngành Thống kê tỉnh Đồng Tháp năm 2026. Đại biểu tham dự Hội nghị gồm có: + Ông Nguyễn Xuân Phúc, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận, Đảng ủy UBND tỉnh Đồng Tháp. + Ban Lãnh đạo cùng toàn thể công chức và người lao động cơ quan Thống kê tỉnh Đồng Tháp.Ảnh: Các tiết mục Văn nghệ chào mừng Hội nghị Ảnh: Toàn cảnh hội nghị Hội nghị vinh dự đón tiếp ông Nguyễn Thành Diệu, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp đã đến thăm, chúc Tết và kiểm tra tình hình thực hiện nhiệm vụ tại Thống kê tỉnh Đồng Tháp.Ảnh: Ông Nguyễn Thành Diệu, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp chụp ảnh lưu niệm cùng toàn thể công chức, người lao động ngành Thống kê tỉnh Đồng Tháp Tại Hội nghị, đại biểu đã được nghe Báo cáo tổng kết đánh giá kết quả thực hiện công tác chuyên môn năm 2025 và phương hướng nhiệm vụ năm 2026; Báo cáo công tác quản lý, sử dụng tài chính của cơ quan Thống kê tỉnh Đồng Tháp năm 2025; Báo cáo đánh giá, tổng kết và kiểm điểm trách nhiệm của Trưởng Thống kê trong việc thực hiện kế hoạch công tác năm 2025. Ảnh: Đoàn Chủ tịch Cũng tại Hội nghị tiến hành bầu Ban Thanh tra nhân dân nhiệm kỳ 2026 - 2027. Dịp này, Ban Lãnh đạo đã biểu dương và khen thưởng cho tập thể đạt Giấy khen của Trưởng Thống kê năm 2025.Ảnh: Các tập thể được khen thưởng Hội nghị kết thúc trong không khí vui tươi, đoàn kết. Tập thể thống nhất biểu quyết thông qua Nghị quyết hội nghị với quyết tâm thực hiện tốt hơn nữa các mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm của ngành trong năm 2026./.Ảnh: Hội nghị chụp ảnh lưu niệm N.X.Trường
Tổng điều tra kinh tế năm 2026 được rút ngắn 7 tháng so với kế hoạch
- 03/02/2026 15:50
Thực hiện chỉ đạo của Trưởng ban Ban Chỉ đạo Trung ương về việc công bố kết quả sơ bộ Tổng điều tra kinh tế năm 2026 vào ngày 30/6/2026, sớm hơn kế hoạch ban đầu 7 tháng.Ảnh: Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng. (Ảnh: An Đăng/TTXVN)Chiều tối ngày 2/2, Bộ Tài chính đã tổ chức cuộc họp chuẩn bị Hội nghị triển khai và rà soát, điều chỉnh kế hoạch Tổng điều tra kinh tế năm 2026.Thực hiện chỉ đạo của Trưởng ban Ban Chỉ đạo Trung ương về việc công bố kết quả sơ bộ Tổng điều tra kinh tế năm 2026 vào ngày 30/6/2026, sớm hơn kế hoạch ban đầu 7 tháng, Cục Thống kê đề xuất điều chỉnh kế hoạch thực hiện Tổng điều tra theo hướng rút ngắn thời gian thu thập thông tin, kiểm tra, làm sạch dữ liệu và biên soạn báo cáo.Theo kế hoạch điều chỉnh, giai đoạn 1 kết thúc thu thập thông tin vào ngày 10/3/2026; giai đoạn 2 thực hiện từ ngày 01/3/2026 đến 30/4/2026; kiểm tra, làm sạch dữ liệu được triển khai đồng bộ và hoàn thành sớm hơn 7 tháng; kết quả sơ bộ được biên soạn và công bố vào ngày 30/6/2026.Để bảo đảm thực hiện thành công kế hoạch điều chỉnh, Ban Chỉ đạo các cấp được phân công nhiệm vụ cụ thể, trong đó Ban Chỉ đạo Trung ương tập trung chỉ đạo quyết liệt, hoàn thiện các văn bản hướng dẫn và phối hợp liên thông dữ liệu; Cục Thống kê giữ vai trò cơ quan thường trực, theo dõi tiến độ và chất lượng dữ liệu; các bộ, ngành và địa phương chủ động phối hợp, cung cấp dữ liệu hành chính và bố trí nguồn lực, bảo đảm hoàn thành Tổng điều tra đúng tiến độ, chất lượng theo yêu cầu đề ra.Phát biểu tại cuộc họp, Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng yêu cầu, để bảo đảm hoàn thành kế hoạch tổng điều tra kinh tế với chất lượng cao, Cục Thống kê cần khẩn trương rà soát, sửa đổi phương án và kế hoạch tổ chức thực hiện, sớm báo cáo cấp có thẩm quyền.Việc báo cáo phải song hành với triển khai thực hiện, tinh thần là làm sớm hơn, nhanh hơn để không ảnh hưởng đến tiến độ chung.Bên cạnh đó, tập trung rà soát, hoàn thiện hệ thống tài liệu và phần mềm điều tra, kịp thời hướng dẫn các bộ, ngành và địa phương, bảo đảm hoàn thành sớm việc thu thập thông tin theo như đề xuất thống nhất hai giai đoạn: giai đoạn một rút ngắn khoảng 20 ngày, giai đoạn hai khoảng 120 ngày.Đồng thời, ứng dụng triệt để công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo trong xác định mã ngành, giám sát tiến độ theo thời gian thực nhằm nâng cao tốc độ và độ chính xác của thu thập dữ liệu. Ngoài ra, rà soát thật kỹ hệ thống chỉ tiêu thống kê.Bộ trưởng nhấn mạnh: Hiện nay, số lượng chỉ tiêu phục vụ tổng điều tra rất lớn, trên 400 chỉ tiêu, do đó, cần đánh giá nghiêm túc, loại bỏ những chỉ tiêu không cần thiết, mang tính hình thức, máy móc như các năm trước.“Những nội dung nào có thể khai thác thông qua ứng dụng công nghệ thông tin thì cần ưu tiên thực hiện, bảo đảm số liệu thống kê thiết thực, tránh lãng phí thời gian và nguồn lực,” Bộ trưởng nói.Cũng theo Bộ trưởng, trong quá trình triển khai, từ Trung ương đến địa phương phải tiếp tục rà soát cách thức thu thập dữ liệu, phân định rõ nội dung nào cần điều tra trực tiếp, nội dung nào có thể khai thác từ dữ liệu hành chính.Đồng thời, tăng cường kiểm tra, giám sát thường xuyên; cập nhật tiến độ, rà soát chất lượng dữ liệu và kịp thời báo cáo Ban Chỉ đạo các vướng mắc, khó khăn để có phương án xử lý phù hợp, phấn đấu hoàn thành công tác tập huấn cấp tỉnh giai đoạn hai trong tháng 2/2026.Bà Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cho biết: Tổng điều tra kinh tế năm 2026 là kỳ tổng điều tra thống kê quốc gia lần thứ 7, được thực hiện định kỳ 5 năm một lần theo quy định của Luật Thống kê.Cuộc điều tra có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi được triển khai vào năm đầu thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030, nhằm cung cấp bức tranh toàn diện, đầy đủ và cập nhật về thực trạng nền kinh tế, phục vụ công tác đánh giá, hoạch định và điều hành chính sách phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.Theo bà Nguyễn Thị Hương, kết quả Tổng điều tra kinh tế năm 2026 cung cấp thông tin tổng thể về quy mô, cơ cấu ngành nghề, lao động, tài sản, nguồn vốn và kết quả sản xuất kinh doanh của các loại hình cơ sở kinh tế; phản ánh mức độ ứng dụng công nghệ thông tin, thương mại điện tử và chuyển đổi số trong nền kinh tế.“Đây là nguồn dữ liệu quan trọng để tính toán các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu như GDP, GRDP; xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung và dàn mẫu tổng thể cho các cuộc điều tra thống kê tiếp theo, góp phần nâng cao chất lượng công tác thống kê và phục vụ xây dựng Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số” bà Nguyễn Thị Hương nói.Bộ Tài chính cho biết tổng điều tra kinh tế năm 2026 có nhiều điểm mới nổi bật so với các kỳ trước; trong đó mở rộng phạm vi thu thập thông tin đối với tổ hợp tác và cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể có hoạt động kinh doanh trực tuyến; cập nhật, bổ sung nội dung điều tra phản ánh rõ hơn quá trình chuyển đổi số, ứng dụng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.Bên cạnh đó, việc lập bảng kê cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể được triển khai sớm từ tháng 10/2025, góp phần bảo đảm điều tra đầy đủ, phân loại đúng ngành kinh tế.Đồng thời, công nghệ thông tin được ứng dụng toàn diện trong tất cả các khâu của Tổng điều tra, tăng cường điều hành trên môi trường số, áp dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong xác định mã ngành và sử dụng bản đồ số để theo dõi tiến độ điều tra theo thời gian thực; tăng cường liên thông, đồng bộ dữ liệu với các nguồn dữ liệu hành chính như đăng ký kinh doanh, thuế, hải quan.Về kết quả triển khai, từ đầu năm 2025, việc chuẩn bị Tổng điều tra kinh tế năm 2026 đã được triển khai khẩn trương.Đến nay đã hoàn thành hầu hết các nội dung quan trọng như xác định nhu cầu thông tin với 436 chỉ tiêu thống kê; ban hành đầy đủ các văn bản chỉ đạo, phương án Tổng điều tra; lập danh sách đơn vị điều tra giai đoạn 1 (thu thập thông tin cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể; cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng; tổ hợp tác); thành lập Ban Chỉ đạo các cấp; xây dựng phiếu điều tra, tài liệu hướng dẫn, phần mềm thu thập thông tin và tổ chức tập huấn cho lực lượng tham gia điều tra.Theo đó, việc thu thập thông tin giai đoạn 1 được triển khai từ ngày 5/1/2026 và đến ngày 1/2/2026 đạt 42,8% kế hoạch; trong đó một số địa phương có tiến độ cao như Quảng Trị, Tây Ninh, Đà Nẵng; tuy nhiên vẫn còn một số địa phương có tiến độ thấp.Cùng với đó, việc giám sát, kiểm tra và làm sạch dữ liệu đang được thực hiện song song với thu thập thông tin; đồng thời chuẩn bị các điều kiện để triển khai giai đoạn 2 đối với doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập, hội, hiệp hội, tổ chức phi Chính phủ nước ngoài được cấp phép hoạt động tại Việt Nam.Bộ Tài chính cũng cho biết, trong quá trình triển khai, Tổng điều tra nhận được nhiều thuận lợi như sự quan tâm chỉ đạo của chính quyền các cấp; tuyên truyền được thực hiện rộng rãi; lực lượng điều tra viên cơ bản đáp ứng yêu cầu về năng lực và kinh nghiệm; tập huấn, kiểm tra, giám sát được chú trọng.Tuy nhiên, vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc như sự vào cuộc chưa đồng đều của chính quyền địa phương ở một số nơi; lực lượng thống kê cơ sở còn mỏng; điều tra viên kiêm nhiệm nhiều công việc nên tiến độ thu thập thông tin chưa cao; một số cơ sở sản xuất kinh doanh còn e ngại trong việc cung cấp thông tin về doanh thu, chi phí./.Nguồn: https://www.vietnamplus.vn/tong-dieu-tra-kinh-te-nam-2026-duoc-rut-ngan-7-thang-so-voi-ke-hoach-post1092049.vnp?gidzl=GvmiLah8d5P0YozIIDQSK4Q3A5HNtPu3M8XwL5VNcbHGtYjKNe6O153S8W0DXfHILuek1J0_RO8pJS6UK0
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Tháp Tháng 01 năm 2026
- 02/02/2026 10:16
Năm 2026 là năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết đại hội đảng bộ tỉnh giai đoạn 2026-2030. Ngay từ đầu năm Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh tập trung triển khai kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026, giao nhiệm vụ cụ thể cho từng ngành, từng địa phương; chủ động nguồn hàng hóa phục vụ nhu cầu Tết của nhân dân; tăng cường các biện pháp nhằm bình ổn giá cả thị trường; kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm; chăm lo đời sống vật chất; tinh thần cho các đối tượng chính sách và nhân dân vui xuân đón Tết; đảm bảo trật tự an toàn xã hội... Kết quả thực hiện ở các lĩnh vực cụ thể như sau:I. SẢN XUẤT NÔNG LÂM NGHIỆP VÀ THỦY SẢN1. Nông nghiệp Cây lương thực có hạt: trong tháng tiếp tục tập trung chăm sóc cây lương thực có hạt vụ Đông xuân 2025 – 2026, diện tích gieo trồng từ đầu vụ tính đến 20/01/2026 ước đạt 215.224 ha, giảm 1,9% so cùng kỳ, tương ứng giảm 4.145 ha, trong đó: - Cây lúa: vụ Đông xuân 2025–2026, diện tích gieo trồng ước đạt 213.253 ha, đạt 93,9% kế hoạch, giảm 1,9% so với cùng kỳ (tương ứng giảm 4.085 ha). Diện tích thu hoạch ước đạt 39.430 ha, chiếm 18,5% diện tích gieo trồng. Hình 1. Diện tích gieo trồng cây hàng năm tính đến 20/01/2026 - Cây ngô: diện tích gieo trồng đến ngày 20/01/2026 ước đạt 1.972 ha, giảm 3,0%, tương ứng giảm 60,1 ha. Cây rau đậu các loại: tính đến 20/01/2026, diện tích gieo trồng ước đạt 22.430 ha, giảm 1,9% so cùng kỳ; trong đó: rau các loại 22.308 ha, giảm 1,9% so cùng kỳ. Còn hơn một tháng nữa đến Tết Nguyên đán, nông dân trên địa bàn tỉnh đang tập trung gieo trồng các loại rau ăn lá phổ biến như cải ngọt, cải xanh, xà lách, rau muống; các loại rau gia vị như hành, tỏi, húng quế, cùng một số rau quả ngắn ngày như dưa hấu, dưa leo, bí, bầu, mướp nhằm kịp thu hoạch vào giữa tháng Chạp, góp phần tăng nguồn cung và tăng thu nhập cho người sản xuất trong dịp Tết. Chăn nuôi: ước tổng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh tại thời điểm 31/01/2026 như sau: đàn trâu 2.040, giảm 27,1%; đàn bò 150,1 nghìn con, giảm 3,3% so cùng kỳ; đàn lợn 465,5 nghìn con, tăng 0,6%; đàn gia cầm 23,5 triệu con, giảm 3,7%. Đàn trâu trên địa bàn tỉnh giảm chủ yếu do nhu cầu sử dụng trâu trong sản xuất nông nghiệp ngày càng giảm khi cơ giới hóa được đẩy mạnh; bên cạnh đó, hiệu quả kinh tế của chăn nuôi trâu không cao, thời gian nuôi dài, điều kiện chăn thả ngày càng thu hẹp. Chăn nuôi bò giảm do chi phí thức ăn chăn nuôi vẫn ở mức cao, trong khi hiệu quả kinh tế chưa cải thiện rõ rệt. Đàn lợn tăng do các trang trại và hộ chăn nuôi trên địa bàn tỉnh đẩy mạnh tăng đàn, tái đàn nhằm chủ động nguồn cung phục vụ thị trường Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026. Đàn gia cầm giảm do chi phí chăn nuôi cao, hiệu quả kinh tế chưa ổn định, làm cho người chăn nuôi, đặc biệt là các hộ nhỏ lẻ, thận trọng trong việc tái đàn. Hình 2. Chăn nuôi tại thời điểm 31/01/2026 Tình hình dịch bệnh (theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đồng Tháp): Trong tháng, trên địa bàn tỉnh ghi nhận bệnh Dịch tả lợn châu Phi xảy ra tại 33 ổ dịch, với 580 con lợn mắc bệnh trên tổng đàn 1.002 con, thuộc 06 xã gồm: Bình Ninh, Tân Thới, An Thạnh Thủy, Vĩnh Hựu, Thanh Hưng và Tân Hộ Cơ. Cơ quan chức năng đã tổ chức tiêu hủy 907 con lợn, với tổng khối lượng tiêu hủy 34.011 kg, nhằm kiểm soát và ngăn chặn dịch bệnh lây lan. 2. Lâm nghiệp: Tổng diện tích rừng của toàn tỉnh là 8.006,6 ha, trong đó diện tích rừng phòng hộ là 2.244,3 ha, diện tích rừng đặc dụng là 2.717,6 ha, diện tích rừng sản xuất là 2.249,2 ha, diện tích rừng sử dụng cho mục đích khác là 795,5 ha. Trong tháng, toàn tỉnh thực hiện trồng mới được 46 ngàn cây phân tán các loại, tăng 5,1% so cùng kỳ. Cây phân tán được trồng tại các khu dân cư, trường học, bệnh viện, khu công nghiệp, đô thị, đường giao thông, bờ sông, kênh mương… nhằm tạo cảnh quan, góp phần giảm ô nhiễm và xây dựng không gian sống xanh. 3. Thủy hải sản: Diện tích thả nuôi thâm canh trong tháng ước đạt 2.736 ha, tăng 1,2% so cùng kỳ; bao gồm: cá tra 1.477 ha, tăng 0,2% so cùng kỳ, tôm thẻ chân trắng 834 ha, giảm 4,6% cùng kỳ, tôm sú 425 ha, tăng 1,2%.Sản lượng thủy sản nuôi trồng trong tháng ước đạt 32.681 tấn, tăng 4,7% so cùng kỳ, tương ứng tăng 1.458 tấn, trong đó: cá đạt 29.674 tấn, tăng 5,0%; tôm đạt 793 tấn, tăng 1,4%. Sản lượng thủy sản khai thác biển trong tháng ước đạt 8.989 tấn, tăng 53,6% so cùng kỳ, tương ứng tăng 3.138 tấn, chủ yếu do thời tiết thuận lợi, thủy sản bệnh ít, năng suất cao, trong đó: sản lượng cá khai thác đạt 6.239 tấn, tăng 93,9%; tôm đạt 274 tấn, tăng 80,9% so cùng kỳ. II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆPChỉ số sản xuất công nghiệp tháng 01/2026 giảm nhẹ 1,1% so với tháng 12/2025 (ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 1,12%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 1,00%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,18%; khai khoáng giảm 7,97%) và tăng 12,87% so cùng kỳ (ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,43%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 9,74%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,22%; riêng khai khoáng giảm 8,41%).Hình 3. Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 01 năm 2026Chỉ số sản xuất sản phẩm trong tháng so cùng kỳ như sau: - Có 73/111 sản phẩm có chỉ số sản xuất tăng so cùng kỳ: Phi lê đông lạnh tăng 12,6%; Bột mịn, bột thô và bột viên từ cá tăng 46,0%; Quả và hạt ướp lạnh tăng 82,6%; Miến, hủ tiếu, bánh đa khô và các loại tương tự tăng 22,2%; Thức ăn cho gia súc tăng 9,9%; Thức ăn cho thủy sản tăng 19,5%; Bia đóng lon tăng 32,5%; Túi xách tăng 15,6%; Thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng lỏng tăng 45,0%; Dược phẩm chứa hoóc môn nhưng không có kháng sinh dạng viên tăng 49,1%; Bao và túi từ plastic khác tăng 70,4%; Ống và ống dẫn bằng đồng tăng 17,5%; Điện gió tăng 50,5%; Điện mặt trời tăng 14,0%;… - Có 30/111 sản phẩm có chỉ số sản xuất giảm so cùng kỳ: Cát đen giảm 8,4%; Gạo đã xát toàn bộ hoặc sơ bộ giảm 6,3%; Thuốc lá có đầu lọc giảm 12,4%; Bộ com-lê, quần áo cho người lớn không dệt kim hoặc đan móc giảm 59,2%; Giày, dép thể thao có đế ngoài và mũ giày bằng cao su và plastic giảm 5,1%; Thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng viên giảm 31,2%; Thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm giảm 22,8%; Nước uống được giảm 5,2%;… * Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: - Chỉ số tiêu thụ tháng 01/2026 so với tháng trước giảm 2,48% và tăng 14,21% so cùng kỳ. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng so cùng kỳ: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 16,37%; sản xuất đồ uống tăng 15,25%; dệt tăng 65,97%; sản xuất trang phục tăng 3,84%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 2,35%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 18,94%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 64,97%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 44,38%; sản xuất kim loại tăng 8,47%; công nghiệp chế biến chế tạo khác tăng 65,29%. Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm so cùng kỳ là: sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 7,79%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 44,96%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 16,14% và sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu giảm 46,22%. - Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 01 năm 2026 tăng 6,02% so với tháng trước và tăng 6,42% so với cùng kỳ. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng so cùng kỳ là: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 13,88%; sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 58,70%; sản xuất trang phục tăng 1,43%; sản xuất da và các sản phẩm liên quan tăng 23,4%, sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 19,59%, sản xuất kim loại tăng 120,69%; sản xuất thiết bị điện tăng 33,99%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 30,19%. Bên cạnh đó, một số ngành có chỉ số tồn kho giảm so với cùng kỳ: dệt giảm 73,32%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 28,97%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 24,29%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 14,07%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẳn giảm 60,85%. * Tình hình thu hút đầu tư và phát triển các khu công nghiệp, khu kinh tế (KCN, KKT): Trong tháng, Ban Quản lý Khu kinh tế điều chỉnh 02 giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho nhà đầu tư, trong đó có điều chỉnh tăng vốn cho 01 dự án; tổng vốn đầu tư tăng thêm là 5 triệu USD. Lũy kế đến cuối tháng 01/2026: Các KCN, KKT thu hút được 187 dự án (trong đó, có 101 dự án FDI, 86 dự án DDI) với tổng vốn đầu tư là 87,4 nghìn tỷ đồng (trong đó, vốn đầu tư FDI là 3,3 tỷ USD và vốn đầu tư DDI là 12,3 nghìn tỷ đồng); diện tích đất đã cho thuê là 754,79 ha, tỷ lệ lấp đầy 94,37%. III. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP: (Theo báo cáo của Sở Tài Chính) Thành lập mới: Tính từ đầu năm đến 22/01/2026, có 304 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 184,1% so với cùng kỳ và đạt 10,1% kế hoạch (kế hoạch năm 2026 3.000 doanh nghiệp) với tổng vốn đăng ký là 898,3 tỷ đồng, tăng 75,2% so với cùng kỳ. Giải thể, tạm ngừng hoạt động, tái hoạt động: Trong tháng, có 31 doanh nghiệp đã giải thể, tăng 121,4% so với cùng kỳ; 369 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, tăng 8,8% so với cùng kỳ; 160 doanh nghiệp hoạt động trở lại, tăng 6,7% so với cùng kỳ năm 2025.IV. ĐẦU TƯ - XÂY DỰNG Tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện trong tháng 1/2026 ước đạt 514 tỷ đồng, đạt 4,5% kế hoạch, bằng 68,6% cùng kỳ. Vốn thực hiện giảm so với cùng kỳ do trong tháng 01/2026 UBND tỉnh mới giao kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026, phần lớn các công trình thực hiện trong tháng là công trình chuyển tiếp của năm 2025, các công trình khởi công mới và công trình chuẩn bị đầu tư chưa triển khai thực hiện. Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước thực hiện 466 tỷ đồng, đạt 4,6% kế hoạch, bằng 62,8% cùng kỳ, chiếm 90,8% tổng số; trong đó: vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 91 tỷ đồng, bằng 37,5%, vốn xổ số kiến thiết thực hiện 236 tỷ đồng, tăng 15,4% so cùng kỳ. Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước thực hiện 47 tỷ đồng, tăng gắp 7,6 lần cùng kỳ. Các Ban quản lý công trình xã, phường, thị trấn làm chủ đầu tư thực hiện chủ yếu từ nguồn vốn phân cấp để thực hiện các công trình giao thông nông thôn, thủy lợi nội đồng phục vụ địa phương. Tình hình thi công một số công trình trọng điểm của tỉnh trong tháng 01/2026: Đầu tư xây dựng hệ thống cống ngăn mặn tại đầu các kênh rạch ra sông Tiền trên Đường tỉnh 864 (giai đoạn 1) đạt 5 tỷ đồng; Xây dựng tuyến ĐT.857 (đoạn QL30 - ĐT.845) đạt 20 tỷ đồng; Hệ thống đèn chiếu sáng Đường tỉnh 862 đoạn từ khu di tích chiến thắng Xóm Gò đến biển Tân Thành 6 tỷ đồng; Dự án thành phần 2: xây dựng Tuyến đường bộ ven biển đoạn qua địa phận tỉnh Tiền Giang kết nối với tỉnh Long An và tỉnh Bến tre (giai đoạn 1) đạt 9 tỷ đồng; Xây dựng công trình đường bộ cao tốc Cao Lãnh - An Hữu, giai đoạn 1 (dự án thành phần 1) đạt 51 tỷ đồng. V. THƯƠNG MẠI - GIÁ CẢ - DỊCH VỤ 1. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng: Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trong tháng thực hiện 13.854 tỷ đồng, tăng 2,8% so tháng trước và tăng 10% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 10.177 tỷ đồng, tăng 9,2%; lưu trú 55 tỷ đồng, tăng 13,6%; ăn uống 1.775 tỷ đồng, tăng 17,1%; du lịch lữ hành 26 tỷ đồng, tăng 8%; dịch vụ tiêu dùng khác 1.821 tỷ đồng, tăng 7,4% so cùng kỳ. Hình 4. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng Tháng 01/2026 là thời điểm trước Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026 nên Tỉnh tập trung triển khai các giải pháp của Chỉ thị số 18/CT-BCT ngày 25/11/2025 của Bộ Công Thương về thực hiện các giải pháp bảo đảm cân đối cung cầu, bình ổn thị trường cuối năm 2025 và dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026; Kế hoạch 827/KH-UBND ngày 30/12/2025 về dự trữ, cung ứng hàng hóa thiết yếu phục vụ Tết Nguyên bán Bính Ngọ năm 2026 trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp (Tổng giá trị hàng hoá thiết yếu dự trữ lên đến 604,6 tỷ đồng, trong đó hàng hoá thiết yếu là 228,1 tỷ đồng); cùng với các chương trình khuyến mãi, giảm giá kích cầu tiêu dùng dịp Tết được duy trì tại hệ thống phân phối đã thu hút đông đảo khách tham quan, mua sắm. Nhìn chung, hoạt động thương mại dịch vụ tiếp tục tăng trưởng, hàng hoá cung ứng dồi dào, đáp ứng nhu cầu mua sắm của người dân. 2. Xuất - Nhập khẩu (Theo báo cáo Sở Công Thương) a. Xuất khẩu: Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng ước thực hiện 850 triệu USD, đạt 8,5% kế hoạch và tăng 33,6% so cùng kỳ, do Tết Nguyên đán năm nay rơi vào tháng 02/2026 (năm 2025 Tết Nguyên dán trong tháng 01), nên các doanh nghiệp có nhiều đơn hàng xuất khẩu hơn so cùng kỳ. Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của tỉnh như sau: - Gạo: ước tính tháng 01/2026 xuất 225 ngàn tấn, tăng 52,7% so cùng kỳ; giá trị đạt 120 triệu USD, tăng 43,2% so cùng kỳ. - Thuỷ sản chế biến: tháng 01/2026 ước đạt 48 ngàn tấn, tăng 38,5% so cùng kỳ; kim ngạch xuất đạt 110 triệu USD, tăng 35,1% so cùng kỳ. - Hàng rau quả: ước đạt 11,7 ngàn tấn, tăng 2,6 lần so cùng kỳ; kim ngạch xuất đạt 30 triệu USD, tăng 3,3 lần so cùng kỳ, do đầu năm 2025 xuất khẩu hàng rau quả giảm mạnh chủ yếu các doanh nghiệp xuất khẩu sầu riêng phải đối mặt thách thức do phía Trung Quốc siết chặt kiểm soát chất lượng, đặc biệt là kiểm soát dư lượng cadimi (cadmium, một kim loại nặng) và các yêu cầu về an toàn thực phẩm, kiểm nghiệm, cũng như truy xuất nguồn gốc lô hàng, đã làm giảm mạnh. - Sản phẩm công nghiệp: nhóm hàng công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong xuất khẩu của tỉnh đến cuối tháng 01/2026, như: kim loại thường khác và sản phẩm (kể cả đồng) ước đạt 130 triệu USD, tăng 4,8%; sản phẩm ngành may ước đạt 66 triệu USD, tăng 29,2%; giày dép các loại ước đạt 85 triệu USD, tăng 7,5%; sản phẩm từ chất dẻo ước đạt 75 triệu USD, tăng 1,1% so cùng kỳ;... b. Nhập khẩu: Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 01/2026 ước đạt 420 triệu USD, đạt 8,4% kế hoạch và tăng 8,5% so cùng kỳ. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của tỉnh trong tháng 01/2026 như: kim loại thường khác (nguyên liệu đồng) ước đạt 125 triệu USD, tăng 36,5%; xăng dầu ước đạt 35 triệu USD, tăng 2,9%; chất dẻo nguyên liệu ước đạt 25 triệu USD, tăng 14,7%; nguyên phụ liệu dệt may, da giày, túi xách ước đạt 60 triệu USD, tăng 0,9% so cùng kỳ;… 3. Chỉ số giá: Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 01/2026 tăng 0,28% (thành thị tăng 0,39%, nông thôn tăng 0,25%) so tháng 12/2025; tăng 2,47% so tháng 01/2025. So với tháng 12/2025, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 10 nhóm tăng: nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,87%; văn hóa, giải trí và du lịch 0,85%; may mặc, mũ nón và giầy dép tăng 0,83%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,61%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,52%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,39%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,25%; bưu chính viễn thông tăng 0,09%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,03%; giáo dục tăng 0,01%. Có 01 nhóm giảm: giao thông giảm 2,49%. Nguyên nhân một số mặt hàng có chỉ số giá tăng so với tháng trước: - Chỉ số giá nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,87%, tác động làm tăng CPI chung 0,16 điểm phần trăm, do tác động giá chủ yếu của một số mặt hàng như: + Giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,09%; dịch vụ sữa chữa nhà tăng 0,07% do nhu cầu xây dựng và sữa chữa nhà vào dịp cuối năm, nên giá xi măng, sắt thép, cát đều có giá tăng nhẹ so với tháng trước. + Giá điện sinh hoạt tăng 2,62%, do nhu cầu sử dụng điện sinh hoạt của người dân tăng vào dịp cuối năm. + Chỉ số giá gas tăng 4,64% và giá dầu hỏa giảm 3,94%, do điều chỉnh theo giá nhiên liệu thế giới. - Chỉ số giá nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,85%, tăng chủ yếu ở các mặt hàng như: máy ảnh, máy quay video tăng 0,16% (do giá chíp tăng), dịch vụ văn hóa tăng 0,59%, dịch vụ thể thao tăng 1,47%, hoa, cây cảnh, vật cảnh tăng 0,79%...do nhu cầu mua sắm của người dân vào dịp cuối năm. - Chỉ số giá nhóm may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,83%. Trong đó, vải các loại tăng 1,39%, quần áo may sẵn tăng 0,74%, mũ nón tăng 0,67%, giày dép tăng 1,19%, dịch vụ may mặc tăng 0,55%, dịch vụ may giày dép tăng 1,11%, may mặc khác tăng 0,51%... nguyên nhân tăng chủ yếu do nhu cầu mua sắm tăng vào dịp tết Nguyên đán sắp tới. - Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,52%, trong đó; + Chỉ số giá nhóm hàng lương thực tăng 0,64%, góp phần làm CPI chung tăng 0,03 điểm phần trăm. Do nhu cầu tiêu dùng của các mặt hàng gạo tẻ ngon, gạo nếp tăng cao vào dịp cuối năm đã tác động đến giá bán lẻ thị trường nội địa tháng này tăng 0,63%, đóng góp vào mức tăng CPI chung của tháng 01/2026 khoảng 0,01 điểm phần trăm. Bên cạnh đó giá bột mì tăng 0,32%; ngô (bắp trái) tăng 1,93%, khoai lang tăng 5,98%; sắn tăng 0,26% so với tháng trước đã tác động đến chỉ số giá nhóm hàng lương thực. + Chỉ số giá nhóm hàng thực phẩm tăng 0,59%, góp phần làm CPI chung tăng 0,13 điểm phần trăm, do nhu cầu tiêu dùng vào dịp cuối năm dẫn đến giá một số mặt hàng tăng như: thịt lợn tăng 3,98%; gia cầm tăng 0,47%; thủy sản tươi sống tăng 0,14%; giá quả tươi và chế biến tăng 1,94%;... + Chỉ số giá nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,61%, chủ yếu ở nhóm nước khoáng và nước có gas tăng 1,20%, bia rượu tăng 0,13% so với tháng trước. Một mặt hàng có chỉ số giá giảm so với tháng trước: Chỉ số giá nhóm giao thông giảm 2,49%, do ảnh hưởng của giá xăng dầu, trong đó: giá xăng giảm 5,52%; giá dầu diezen giảm 3,42% do ảnh hưởng của các đợt điều chỉnh giá theo Nghị định 80/2023/NĐ-2023, cụ thể các ngày điều chỉnh trong tháng như: ngày 31/12/2025; 08/01; 15/01; 22/01/2026 và ngày 29/01/2026. Chỉ số giá vàng tháng 01/2026 tăng 5,79% so với tháng 12/2025, tương đương tăng từ 14.426 ngàn đồng/chỉ lên 15.261 ngàn đồng/chỉ đối với vàng nhẫn trơn 9999) và tăng 70,58% so với bình quân cùng kỳ. Do giá vàng biến động theo xu hướng thị trường vàng trong nước và thế giới. Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng 01/2026 giảm 0,88% so tháng trước, tương đương giảm 234 đồng/USD và tăng 2,67% so với cùng kỳ. 4. Vận tải: Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trong tháng thực hiện 670 tỷ đồng, tăng 2,7% so tháng trước và tăng 14,2% so cùng kỳ. Doanh thu vận tải đường bộ thực hiện 321 tỷ đồng, tăng 18,2%; doanh thu vận tải đường thủy thực hiện 232 tỷ đồng, tăng 10,4%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 67 tỷ đồng, tăng 10,8% so cùng kỳ. Vận tải hành khách trong tháng đạt 6.173 ngàn hành khách, tăng 1,7% so tháng trước và tăng 9,2% so cùng kỳ; luân chuyển 215.407 ngàn hành khách.km, tăng 5,5% so tháng trước và tăng 17,8% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 1.982 ngàn hành khách, tăng 23,6% và luân chuyển 213.416 ngàn hành khách.km, tăng 18% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 4.191 ngàn hành khách, tăng 3,5% và luân chuyển 1.991 ngàn hành khách.km, tăng 0,8% so cùng kỳ. Vận tải hàng hóa trong tháng đạt 2.414 ngàn tấn, tăng 2,7% so tháng trước và tăng 8% so cùng kỳ; luân chuyển 422.599 ngàn tấn.km, tăng 1,1% so tháng trước và tăng 1,9% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 599 ngàn tấn, tăng 27% và luân chuyển 77.642 ngàn tấn.km, tăng 1,5% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 1.815 ngàn tấn, tăng 2,9% và luân chuyển 344.957 ngàn tấn.km, tăng 2% so cùng kỳ. Trong tháng đăng ký mới 1.979 chiếc mô tô xe máy và 414 chiếc xe ô tô. Tổng số xe đang quản lý trên địa bàn tỉnh là 3.107.104 chiếc, trong đó mô tô xe máy: 2.969.500 chiếc, 130.648 xe ô tô, 169 xe ba bánh, 666 xe đạp điện, 1.063 xe khác và 1.309 xe lam. 5. Bưu chính viễn thông: Doanh thu trong tháng 01/2026 đạt 528 tỷ đồng, tăng 0,9% so tháng trước. Các doanh nghiệp bưu chính, viễn thông trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì, phát triển ổn định, không ngừng đầu tư nâng cấp phát triển mạng lưới, cung cấp nhiều loại hình dịch vụ phong phú, đa dạng để duy trì tốc độ phát triển. Đến cuối tháng 01 năm 2026 tổng số thuê bao điện thoại có trên mạng là 3.648 ngàn thuê bao, thuê bao điện thoại bình quân đạt 107,17 thuê bao/100 dân (bao gồm: hữu tuyến, vô tuyến, trả trước, trả sau). Số thuê bao điện thoại di động có sử dụng Internet (3G, 4G) đến cuối tháng 01 là: 2.656 ngàn thuê bao. Thuê bao internet có trên mạng là 3.784 ngàn thuê bao, mật độ Internet bình quân ước đạt 111,18 thuê bao/100 dân. VI. TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG 1. Tài chính: Tổng thu ngân sách nhà nước trong tháng ước thực hiện 6.368 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn 3.224 tỷ đồng, đạt 13,6% dự toán, giảm 2,5% so cùng kỳ; thu nội địa 3.074 tỷ đồng, đạt 13,2% dự toán, giảm 5,4% so cùng kỳ (trong thu ngân sách trên địa bàn: thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 634 tỷ đồng, đạt 15,7% dự toán, tăng 2,5% so cùng kỳ; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh 909 tỷ đồng, đạt 18,9% dự toán, tăng 6,9% so cùng kỳ, thu từ hoạt động xổ số kiến thiết 650 tỷ đồng, đạt 14% dự toán, giảm 0,3% so cùng kỳ...). Tổng chi ngân sách nhà nước trong tháng 2.782 tỷ đồng, đạt 6,9% dự toán, bằng 71,6% so cùng kỳ; trong đó: chi đầu tư phát triển 728 tỷ đồng, đạt 8,3% dự toán, bằng 58,2% so cùng kỳ; chi hành chính sự nghiệp 1.878 tỷ đồng, đạt 8,3% dự toán và bằng 74,8% so cùng kỳ. 2. Ngân hàng: Trong tháng các hoạt động sản xuất kinh doanh và thương mại diễn ra sôi động. Các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh và người dân tập trung chuẩn bị nguồn hàng hóa, dịch vụ phục vụ Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, do đó, nhu cầu tín dụng, tiêu dùng, thanh toán và tín dụng trong nền kinh tế gia tăng ngoài ra lãi suất ổn định tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn. Trong bối cảnh đó, hoạt động ngân hàng giữ vai trò quan trọng trong việc đảm bảo đảm lưu thông tiền tệ thông suốt, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng. Lãi suất huy động: Hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn chấp hành tốt các quy định về lãi suất huy động theo quy định của Ngân hàng nhà nước Việt Nam. Đến cuối tháng 12/2025, lãi suất huy động bằng VND: đối với tiền gửi có kỳ từ 6 tháng đến 12 tháng dao động từ 1,98%-8,1%/năm đối với khách hàng cá nhân, từ 2,8%- 8%/năm đối với khách hàng pháp nhân; đối với tiền gửi trên 12 tháng dao động từ 2,63%-8,42%/năm đối với khách hàng cá nhân, từ 0,2% - 7,8%/năm đối với khách hàng pháp nhân.Lãi suất cho vay: Các tổ chức tín dụng trên địa bàn chấp hành nghiêm mức trần lãi suất cho vay ngắn hạn đối với các lĩnh vực ưu tiên (hiện là 4%/năm áp dụng tại các chi nhánh ngân hàng và 5% áp dụng tại Quỹ tín dụng nhân dân, Tổ chức tài chính vi mô). Lãi suất cho vay bình quân trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp là 7,69%/năm, giảm 0,24%/năm. Đến cuối tháng 01/2026, vốn huy động ước đạt 209.438 tỷ, tăng 0,65% so với cuối năm 2025, tổng dư nợ cho vay của các TCTD trong tỉnh ước đạt 245.239 tỷ, tăng 0,75% so với cuối năm 2025. Nợ xấu: đến cuối tháng 12/2025 nợ xấu đạt 6.470 tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu/Tổng dư nợ (không bao gồm nợ xấu của các ngân hàng thương mại bị kiểm soát đặc biệt) chiếm 2,73% và tăng 1,25% so với cuối năm 2024. Ước thực hiện tháng 01/2026 tỷ lệ nợ xấu/Tổng dư nợ nhỏ hơn 3%. Quỹ tín dụng nhân dân: Đến cuối tháng 12/2024 tổng nguồn vốn huy động 2.632 tỷ đồng, tăng 226 tỷ đồng và tăng 8,59% so với cuối năm 2024. Dư nợ 2.340 tỷ đồng, giảm 1,18% so với cuối năm 2024. Tỷ lệ nợ xấu đến cuối tháng 12/2025 là 0,73%. VII. KHOA HỌC CÔNG NGHỆ Trong tháng xây dựng: chương trình nghiên cứu đột phá về phát triển nông nghiệp công nghệ cao tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2026 -2030; quyết định thành lập Hội đồng tư vấn khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tỉnh Đồng Tháp. Tổ chức đánh giá, nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ: 03 nhiệm vụ cấp tỉnh, 02 nhiệm vụ cấp cơ sở. Phê duyệt tổ chức chủ trì, chủ nhiệm, kinh phí, phương thức khoán chi và thời gian thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2025: 02 nhiệm vụ cấp tỉnh. Kiểm tra, đánh giá tiến độ thực hiện 03 nhiệm vụ cấp tỉnh. VIII. CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Lao động việc làm: Trong tháng, toàn tỉnh đã giải quyết việc làm cho 3.240 lao động, trong đó có 359 lao động xuất cảnh làm việc ở nước ngoài, trong đó Nhật Bản: 229 người, Hàn Quốc: 115 người… Về trợ cấp thất nghiệp, trong tháng có 2.350 lao động được hưởng trợ cấp, với tổng kinh phí chi trả trên 48,3 tỷ đồng, góp phần hỗ trợ kịp thời đời sống, giúp người lao động ổn định trong giai đoạn tìm kiếm việc làm mới. Các hoạt động kết nối cung – cầu lao động tiếp tục được chú trọng. Trong tháng, tổ chức 17 phiên giao dịch việc làm, với sự tham gia của 81 lượt doanh nghiệp, thu hút hơn 6.262 lượt người tham gia, có khoảng 1.000 lao động được kết nối. Các phiên giao dịch đã tạo cơ hội thuận lợi để doanh nghiệp tuyển dụng nhân lực, đồng thời mở rộng cơ hội việc làm, học nghề và đi làm việc ở nước ngoài cho người lao động. 2. Chính sách xã hội: Trong tháng, thực hiện chế độ trợ cấp tiền mai táng phí đối với các đối tượng theo quy định, gồm: đối tượng theo Quyết định số 290/2005/QĐ-TTg ngày 08/11/2005 (75 người); Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg ngày 09/11/2011 (71 người); Quyết định số 49/2015/QĐ-TTg ngày 14/10/2015 (36 người); Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg ngày 27/10/2008 (01 người). Bên cạnh đó, thực hiện trợ cấp một lần cho người thờ cúng liệt sĩ và chuyển đổi người thờ cúng liệt sĩ đối với 32 trường hợp; thực hiện trợ cấp hàng tháng cho 01 trường hợp người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học và trợ cấp tuất cho 05 trường hợp. Ngoài ra, thực hiện trợ cấp mai táng phí và trợ cấp một lần bằng 03 tháng trợ cấp cho 90 trường hợp, phản ánh kịp thời việc triển khai chính sách an sinh xã hội trên địa bàn. 3. Hoạt động y tế: Trong tháng có 15/44 bệnh truyền nhiễm được ghi nhận. Trong đó, bệnh Sốt - xuất - huyết ghi nhận 925 ca; bệnh Tay - chân - miệng ghi nhận 1.024 ca. Phòng chống HIV/AIDS: hiện nay, toàn tỉnh ghi nhận 15.976 người nhiễm HIV; 5.051 người chuyển sang AIDS; tử vong do AIDS: 3.908 người. Tình hình khám chữa bệnh trong tháng: khám chữa bệnh cho trên 694 nghìn lượt người; trong đó, số người điều trị nội trú trên 42 nghìn lượt người. 4. Hoạt động giáo dục: Huy động học sinh so độ tuổi như sau: Tỉ lệ huy động nhóm trẻ từ 0 đến 36 tháng tuổi đạt 28,5%; Mẫu giáo đạt tỉ lệ 91,5%; Tiểu học đạt tỉ lệ 100%; Trung học cơ sở đạt tỉ lệ 99,1%; Trung học phổ thông đạt tỉ lệ 84,0%. Xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia: Mầm non đạt tỉ lệ 77,6%; Tiểu học đạt tỉ lệ 76,9%; Trung học cơ sở đạt tỉ lệ 73,2%; Trung học phổ thông đạt tỉ lệ 83,5%. Toàn ngành giáo dục triển khai Đề án Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đáp ứng yêu cầu triển khai thực hiện chương trình giáo dục phổ thông 2018. Nâng cao hiệu quả công tác bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên, cán bộ quản lý đáp ứng yêu cầu thực tiễn đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông. 5. Hoạt động văn hóa – thể thao: - Hoạt động văn hóa nghệ thuật: trong tháng, trên địa bàn tỉnh tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật biểu diễn phong phú, thu hút trên 27.900 lượt người xem. Tiêu biểu là công tác biên tập, dàn dựng và biểu diễn vở cải lương “Cánh đồng Ấp Bắc”; các chương trình xiếc, ảo thuật, đờn ca tài tử – cải lương, giao lưu nghệ thuật và biểu diễn phục vụ tại Festival Hoa – Kiểng Sa Đéc và Khu di tích Gò Tháp. Bên cạnh đó, toàn tỉnh dự kiến có 08 địa phương đăng ký tổ chức bắn pháo hoa mừng Xuân Bính Ngọ, gồm: phường Đạo Thạnh, phường Cao Lãnh, phường Sa Đéc, phường Hồng Ngự, phường Long Thuận, phường Mỹ Phước Tây, xã Chợ Gạo và xã Trường Xuân. - Hoạt động thư viện: trong tháng, hệ thống thư viện trên địa bàn tỉnh phục vụ 52.575 lượt bạn đọc, với 131.438 lượt tài liệu; các kênh thông tin của Thư viện đạt 295.520 lượt truy cập. Xe Thư viện lưu động phục vụ 5.100 lượt người, với 10.200 lượt tài liệu; đồng thời tổ chức các hoạt động trưng bày, giới thiệu sách, góp phần nâng cao văn hóa đọc trong cộng đồng. - Hoạt động thể dục – thể thao: thể thao Đồng Tháp tham dự 09 giải thi đấu cấp khu vực và quốc gia, đạt thành tích 04 Huy chương Vàng, 08 Huy chương Bạc và 20 Huy chương Đồng. Ngoài ra, tham dự Đại hội Thể thao Đông Nam Á lần thứ 33 tại Thái Lan, đạt 06 Huy chương Bạc và 04 Huy chương Đồng, tiếp tục khẳng định vị thế của thể thao Đồng Tháp trên đấu trường khu vực. 6. Tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội (theo báo cáo của ngành Công an): Trong tháng xảy ra 102 vụ phạm tội về trật tự xã hội, giảm 26,1% vụ so cùng kỳ. Hậu quả là 04 người chết, 24 người bị thương, tài sản thiệt hại khoảng 15,5 tỷ đồng. Cơ quan chức năng đã điều tra, khám phá 82 vụ (đạt tỷ lệ 80,4%), bắt giữ và xử lý 138 đối tượng. Về tội phạm ma túy trong tháng, lực lượng chức năng đã phát hiện và xử lý 114 vụ với 183 đối tượng phạm tội và vi phạm pháp luật về về ma túy. 7. Trật tự an toàn giao thông: (theo báo cáo ngành công an tỉnh, số liệu tính từ ngày 15/12/2025 đến 14/01/2026): Tai nạn giao thông đường bộ: trong tháng, xảy ra 35 vụ, giảm 29 vụ so tháng trước và giảm 38 vụ so cùng kỳ. Hậu quả làm chết 26 người (giảm 26 người so tháng trước, giảm 22 người so cùng kỳ) và 15 người bị thương (giảm 11 người so tháng trước, giảm 26 người so cùng kỳ). Các nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông chủ yếu vẫn do ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông như: uống rượu say, điều khiển xe khi có rượu bia, phóng nhanh vược ẩu, không làm chủ tốc độ; không đi đúng phần đường, làn đường; không nhường đường, vượt đèn đỏ, thiếu quan sát… Tai nạn giao thông đường thủy: trong tháng xảy ra 01 vụ (tăng 01 vụ), làm chết 01 người (tăng 01 người so cùng kỳ). Tết Dương lịch năm 2026 (từ ngày 01/01/2026 đến ngày 04/01/2026): xảy ra 08 vụ tai nạn giao thông đường bộ, giảm 05 vụ so cùng kỳ; làm chết 05 người, giảm 03 người so cùng kỳ; làm bị thương 05 người, giảm 03 người so cùng kỳ. 8. Tình hình cháy nổ, môi trường và thiên tai: Trong tháng, ghi nhận 02 vụ cháy phương tiện giao thông tăng 01 vụ so với cùng kỳ, làm chết 02 người, tài sản thiệt hại tài sản ước tính khoảng 30 triệu đồng. Trong tháng, không xảy ra vụ thiên tại và vi phạm môi trường nào.
Đồng Tháp tổ chức tổng kết và công bố số liệu sơ bộ kết quả Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025
- 30/01/2026 09:40
Sáng ngày 30/01/2026 Ban chỉ đạo Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp 2025 tỉnh Đồng Tháp tổ chức tổng kết và công bố số liệu sơ bộ kết quả Tổng điều tra. Hội nghị được tổ chức theo hình thức trực tiếp và trực tuyến. Tại điểm cầu UBND tỉnh, Đồng chí Nguyễn Thành Diệu, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban chỉ đạo Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025 tỉnh Đồng Tháp chủ trì Hội nghị. Tham gia Hội nghị còn có các đồng chí là thành viên Ban chỉ đạo tỉnh; thành viên tổ giúp việc Ban chỉ đạo tỉnh; Ban chỉ đạo các xã phường.Ảnh: Ông Nguyễn Thành Diệu, Phó Chủ tịch UBND tỉnh phát biểu chỉ đạo Hội NghịẢnh: Toàn cảnh Hội nghị Tại hội nghị, bà Trần Thị Mỹ Hạnh Phó trưởng Ban chỉ đạo báo cáo kết quả thực hiện Tổng điều tra với nhiều điểm mới như: Cải tiến nội dung và số lượng thông tin thu thập; thay đổi phương pháp lập bảng kê đơn vị điều tra; kết nối phiếu trang trại với phiếu hộ dân cư; khai thác tối đa dữ liệu hành chính và dữ liệu điều tra sẵn có...Ảnh: Bà Trần Thị Mỹ Hạnh, Trưởng Thống kê tình Đồng Tháp phát biểu tại Hội nghịTheo kết quả sơ bộ tình hình nông thôn, nông nghiệp trên địa bàn tỉnh như sau:Ảnh: Cơ cấu hộ ở khu vực nông thôn năm 2025 phân theo lĩnh vựcẢnh: Số lượng và cơ cấu hộ nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2025 phân theo loại hộẢnh: Diện tích đất sử dụng bình quân 1 hộ nlts đang sử dụng tại thời điểm 01/7/2025 Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp Nguyễn Thành Diệu ghi nhận và biểu dương sự nỗ lực của các cấp, các ngành và lực lượng tham gia Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025. Đồng chí nhấn mạnh, đây là nguồn tài nguyên rất quan trọng để thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Từ đó, dựa vào số liệu thống kê này và xem đây là số liệu chính thức để các cấp, các ngành xây dựng kế hoạch, chương trình, đề án phát triển kinh tế xã hội. Phó Chủ tịch UBND tỉnh khẳng định, Đồng Tháp đi lên từ nông nghiệp, do đó, lấy nông nghiệp, nông thôn và nông dân là nền tản, là nguồn lực cơ bản để chuyển đổi mô hình tăng trưởng, phát triển kinh tế, đô thị hóa và nâng cao đời sống Nhân dân. Đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh đề nghị, lãnh đạo xã, phường tận dụng nguồn lực từ kết quả thống kê này để cụ thể hóa các mục tiêu, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương. Song song đó, các sở, ngành liên quan rà soát lại số liệu, tham mưu cho UBND tỉnh có những điều chỉnh để các chương trình, dự án được triển khai đạt hiệu quả.Ảnh: Ông Nguyễn Thành Diệu, Phó Chủ tịch UBND tỉnh tặng bằng khen cho các tập thể và cá nhân có nhiều đóng góp trong Tổng điều tra Dịp này, hội nghị công bố các quyết định khen thưởng của Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp cho 10 tập thể và 20 cá nhân có thành tích xuất sắc trong tham gia Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025. N.V.Tròn
Ban chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế năm 2026 tỉnh Đồng Tháp tổ chức Hội nghị quán triệt công tác Tổng điều tra
- 15/01/2026 14:17
Sáng ngày 15/01/2026 Ban chỉ đạo (BCĐ) Tổng Điều tra kinh tế năm 2026 tỉnh Đồng Tháp tổ chức Hội nghị quán triệt công tác Tổng điều tra trên địa bàn tỉnh. Hội nghị được tổ chức theo hình thức trực tiếp và trực tuyến. Tham dự tại điểm cầu UBND tỉnh có ông Nguyễn Thành Diệu - Phó chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng ban, BCĐ Tổng điều tra kinh tế năm 2026 tỉnh Đồng Tháp, chủ trì Hội nghị; bà Trần Thị Mỹ Hạnh, Trưởng Thống kê tỉnh, Phó trưởng Ban thường trực; các đồng chí thành viên BCĐ tỉnh; các đồng chí là thành viên tổ nghiệp vụ giúp việc BCĐ tỉnh. Tại điểm cầu 102 xã, phường có các đồng chí Trưởng BCĐ xã, phường; các thành viên BCĐ xã, phường và lãnh đạo các Thống kê các cơ sở.Ảnh: Ông Nguyễn Thành Diệu, phó Chủ tịch UBND tỉnh,Trưởng ban chỉ đạo điều hành Hội nghị. Hội nghị nhằm mục đích triển khai các Quyết định thành lập BCĐ tỉnh, tổ giúp việc BCĐ tỉnh, phân công nhiệm vụ thành viên BCĐ, tổ giúp việc thực hiện đồng bộ nhiệm vụ trên địa bàn tỉnh. Đồng thời nắm bắt tiến độ thực hiện trong giai đoạn đầu tổ chức điều tra, rút kinh nghiệm trong công tác chỉ đạo điều hành thực hiện trong thời gian tới. Theo báo cáo của BCĐ đến cuối ngày 14/01/2026, đã tiến hành thu thập thông tin được 10,4% số cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể trên địa bàn; 13,02% số cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng; 10,07 tổ hợp tác. Trong giai đoạn đầu, công tác tổ chức điều tra gặp phải một số khó khăn nhất định như: Phần mềm chưa ổn định; một số điều tra viên sau tập huấn thấy công tác điều tra khó khăn, nên không điều tra, phải tuyển chọn điều tra viên mới, phải tập huấn lại; hiện nay các xã, có quá nhiều công việc, trong đó tập trung cao điểm cho công bầu cử; … làm ảnh hưởng đến tiến độ thu thập thông tin. Ảnh: Hội nghị tại điểm cầu UBND tỉnh Đồng Tháp Kết luận Hội nghị, ông Nguyễn Thành Diệu, Trưởng BCĐ tỉnh yêu cầu BCĐ Tổng điều tra kinh tế các xã, phường phải tập trung cao độ cho công tác Tổng điều tra, xem đây làm nhiệm vụ chính trị quan trọng, các cấp, các ngành phải vào cuộc để thực hiện thắng lợi cuộc Tổng điều tra. Kết quả của cuộc Tổng điều tra là cơ sở đánh giá công tác lãnh đạo điều hành của các địa phương; là dữ liệu thống kê quan trọng phục vụ cho công tác qui hoạch, hoạch định chính sách lãnh đạo điều hành của các địa phương sau sáp nhập. Ông cũng chỉ đạo, phải tập trung cho công tác thu thập số liệu, phấn đấu đến ngày 15/02/2026 cơ bản hoàn thành công tác thu thập số liệu tại địa bàn, thời gian còn lại phục vụ cho công tác rà soát, xác minh số liệu, hoàn thành tiến độ theo qui định của trung ương. N.V.Tròn
Tổng điều tra Kinh tế năm 2026 trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp
- 13/01/2026 15:34
Năm 2026, ngành Thống kê tiến hành Tổng điều tra kinh tế 2026 thực hiện trên phạm vi toàn quốc theo Quyết định số 3100/QĐ-BTC ngày 04/9/2025 của Bộ trưởng Bộ Tài chính. Ban chỉ đạo Tổng điều tra Kinh tế năm 2026 tỉnh Đồng Tháp đồng loạt tổ chức ra quân từ ngày 07/01/2025 trên địa bàn tỉnh. Ban chỉ đạo tỉnh tổ chức ra quân tại phường Đạo Thạnh, đồng thời có 17 xã, phường tổ chức lễ ra quân trên tổng số 102 xã, phường. 1. Mục đích cuộc tổng điều tra kinh tế năm 2026 thu thập thông tin về các cơ sở kinh tế nhằm đáp ứng: Một là, đánh giá sự phát triển về số lượng, quy mô và lao động của các cơ sở kinh tế; kết quả sản xuất kinh doanh; mức độ ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số; cơ cấu, phân bố của các cơ sở và lao động theo địa phương, theo ngành kinh tế, theo loại hình kinh tế và theo hình thức sở hữu nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý, điều hành của Đảng, Nhà nước, các bộ, ngành và địa phương. Hai là, phục vụ biên soạn các chỉ tiêu thống kê liên quan thuộc Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia; nhất là chỉ tiêu tổng sản phẩm trong nước (GDP), tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (GRDP) và các chỉ tiêu thuộc Hệ thống chỉ tiêu thống kê khác có liên quan. Ba là, cập nhật thông tin và xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ chuyển đổi năm gốc so sánh phục vụ biên soạn các chỉ tiêu thống kê kinh tế - xã hội; làm dàn mẫu tổng thể về cơ sở kinh tế cho các cuộc điều tra chọn mẫu trong giai đoạn tiếp theo của ngành Thống kê, các bộ, ngành và địa phương. 2. Đối tượng điều tra: là đơn vị cơ sở hay còn được gọi là đơn vị ngành kinh tế theo địa bàn thuộc: Tập đoàn, Tổng công ty, doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, quỹ tín dụng nhân dân; đơn vị sự nghiệp ngoài công lập; hội, hiệp hội; cơ sở sản xuất kinh doanh trực thuộc cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập; cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể phi nông, lâm nghiệp và thủy sản; tổ hợp tác; chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp, tổ chức phi chính phủ nước ngoài được cấp giấy phép hoạt động tại Việt Nam; cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng. Tổng điều tra kinh tế năm 2026 không điều tra thu thập thông tin đối với: (1) Cơ quan hành chính, Đảng, đoàn thể, đơn vị sự nghiệp công lập; (2) cơ sở hoạt động thuộc lĩnh vực ngoại giao (đoàn ngoại giao, Đại sứ quán, Lãnh sự quán của nước ngoài); (3) các tổ chức và cơ quan quốc tế; (4) cơ sở sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản của hộ. 3. Nội dung: Tổng điều tra kinh tế năm 2026 bao gồm các nhóm thông tin sau: - Thông tin nhận dạng và phân loại đơn vị điều tra gồm: Thông tin định danh, ngành hoạt động sản xuất kinh doanh, loại hình kinh tế, khu vực thể chế. - Điều kiện sản xuất kinh doanh của đơn vị điều tra: Thông tin về lao động, tài sản, nguồn vốn của đơn vị điều tra. - Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị điều tra: Thông tin về sản phẩm, doanh thu, chi phí sản xuất kinh doanh, lợi nhuận, thuế và các khoản nộp ngân sách, tiêu dùng năng lượng và thông tin phục vụ biên soạn các chỉ tiêu thống kê chuyên ngành. - Ứng dụng khoa học công nghệ của đơn vị điều tra: Ứng dụng công nghệ hiện đại, nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo; ứng dụng công nghệ thông tin trong sản xuất kinh doanh; kinh tế số, thương mại điện tử. - Thông tin chuyên đề chuyên sâu 4. Thời kỳ thu thập thông tin: Chỉ tiêu thống kê theo thời điểm được thu thập thông tin phát sinh tại thời điểm ngày 01/01/2025, ngày 31/12/2025 hoặc tùy theo từng chỉ tiêu và đơn vị điều tra được quy định cụ thể trong từng loại phiếu điều tra. 5. Thời gian điều tra: Từ 05/01/2026 đến 31/8/2026, chia thành 2 giai đoạn: Giai đoạn 1: Từ 05/01/2026 đến hết ngày 31/3/2026: Cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể, tổ hợp tác; cơ sở tôn giáo tín ngưỡng. Giai đoạn 2: Từ 01/4/2026 đến 31/8/2026: Doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập, hiệp hội. Tính đến thời điểm điều tra, qua công tác lập bảng kê tại 1.927 địa bàn sơ bộ có 204.817 cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể, 1.590 cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng và 447 tổ hợp tác thuộc đối tượng thu thập thông tin trong giai đoạn 1 của cuộc Tổng điều tra. Toàn tỉnh huy động 1.540 điều tra viên và tổ trưởng cho công tác thu thập và giám sát điều tra. Ngọc Hân Tính đến thời điểm điều tra, có 1.927 địa bàn có cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể, rà soát sơ bộ 1.590 cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng và 447 tổ hợp tác thuộc đối tượng thu thập thông tin trong giai đoạn 1 của cuộc Tổng điều tra. Toàn tỉnh huy động 1.540 điều tra viên và tổ trưởng cho công tác thu thập và giám sát điều tra.
Đoàn Công tác của Cục Thống kê kiểm tra, giám sát Tổng Điều tra Kinh tế tại tỉnh Đồng Tháp
- 12/01/2026 14:31
Ngày 12/01/2026 Đoàn giám sát Tổng Điều tra kinh tế năm 2026 (Đoàn chỉ đạo số 5) do đồng chí Nguyễn Thanh Dương, Phó Cục trưởng Cục Thống kê làm trưởng đoàn đã đến Phường Mỹ Phước Tây và Phường Sa Đéc của tỉnh Đồng Tháp để giám sát công tác tổ chức, thực hiện.Tại buổi làm việc, đoàn đã nghe Ban chỉ đạo các phường báo cáo kết quả tổ chức thực hiện Tổng điều tra trên địa bàn. Các nội dung trọng tâm như: công tác tuyển chọn điều tra viên; Tổ chức tập huấn nghiệp vụ cho giám sát viên, tổ trưởng, điều tra viên; Công tác tuyên truyền; Công tác thành lập Ban chỉ đạo; Công tác triển khai thu thập thông tin; Kiểm tra giám sát trên địa bàn quản lý. Qua đó đoàn cũng lắng nghe những khó khăn mà địa phương đang vướng mắc trong việc triển khai thực hiện và đưa ra hướng giải quyết để tháo gở cho địa phương như công tác tuyên truyền, tuyển chọn điều tra viên, phần mềm điều tra.Tại buổi làm việc, đồng chí Nguyễn Thanh Dương đã đánh giá cao sự chủ động trong công tác chuẩn bị và tổ chức triển khai của địa phương. Công tác tuyển chọn điều tra viên có sự quan tâm từ các cấp nên phần lớn, các đồng chí tham gia điều tra là những người đang công tác tại các ấp, khu phố, khóm; giúp cho việc tiếp cận đơn vị điều tra thuận lợi hơn, đối tượng điều tra tin tưởng, sẳn sàng phối hợp cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác; công tác tập huấn được chuẩn bị chu đáo giúp điều tra viên nắm vững nghiệp vụ…Bên cạnh đó, đồng chí Nguyễn Thanh Dương cũng yêu cầu giám sát viên các cấp thường xuyên kiểm tra, giám sát công tác thu thập thông tin tại địa bàn. Trao đổi, xử lý ngay các lỗi phát sinh trên phần mềm thu thập thông tin CAPI, các vướng mắc trong quá trình thu thập các chỉ tiêu phiếu, các trường hợp đặc thù phát sinh trên địa bàn khi điều tra viên phản ánh, để đảm bảo chất lượng thông tin, dữ liệu đáng tin cậy phục vụ công tác quản lý, điều hành phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian tới.Ngọc Hân
Đồng Tháp tổ chức Lễ ra quân Tổng điều tra kinh tế năm 2026
- 07/01/2026 17:16
Ảnh: Đồng chí Lê Văn Niệm Phó Trưởng Thống kê tỉnh Đồng Tháp phát biểu Lễ ra quân tại phường Đạo ThạnhSáng ngày 07/01/2026 các xã, phường trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp đồng loạt tổ chức Lễ ra quân Tổng điều tra kinh tế năm 2026; Phường Đạo Thạnh được Thống kê tỉnh chọn làm điểm ra quân cấp tỉnh, đến dự buổi lễ có đồng chí Lê Văn Niệm phó trưởng thống kê tỉnh, các đồng chí là thành viên tổ nghiệp vụ của Ban chỉ đạo tỉnh, thành viên Ban chỉ đạo phường Đạo Thạnh và 65 điều tra viên và giám sát viên tham gia điều tra trên địa bàn phường Đạo Thạnh.Ảnh: Quang cảnh buổi Lễ ra quân tại phường Đạo ThạnhLễ ra quân nhằm tuyên truyền sâu rộng đến các cơ quan, đơn vị, tổ chức và cá nhân về mục đích, ý nghĩa và nội dung cơ bản của Tổng điều tra kinh tế năm 2026; qua đó nâng cao nhận thức, trách nhiệm trong việc cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời cho lực lượng điều tra, góp phần bảo đảm chất lượng và hiệu quả của cuộc Tổng điều tra.Tổng điều tra kinh tế năm 2026 được triển khai thực hiện qua hai giai đoạn theo kế hoạch Tổng điều tra kinh tế cả nước. Cụ thể, giai đoạn 1, từ ngày 5/01/2026 đến hết ngày 31/3/2026, tập trung thu thập thông tin đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh cá thể phi nông, lâm nghiệp và thủy sản; các tổ hợp tác; cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng. Qua kết quả lập bảng kê trên địa bàn tỉnh trong giai đoạn 1 điều tra 205.006 hộ sản xuất kinh doanh cá thể, 1.590 cơ sở tôn giáo tín ngưỡng và 408 tổ hợp tác. Giai đoạn 2, từ ngày 1/4/2026 đến hết ngày 31/8/2026, trong đó tỉnh Đồng Tháp được Trung ương quy định đến hết ngày 31/7/2026, tiến hành thu thập thông tin đối với doanh nghiệp; đơn vị sự nghiệp ngoài công lập; hội, hiệp hội; cơ sở sản xuất, kinh doanh trực thuộc cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập; các chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp; tổ chức phi chính phủ nước ngoài được cấp giấy phép hoạt động tại Việt Nam.Ảnh: Điều tra viên tiến hành thu thập thông tin cơ sở sản xuất kinh doanh cá thểCuộc Tổng điều tra nhằm thu thập thông tin toàn diện về các cơ sở kinh tế trên địa bàn tỉnh, tập trung vào một số nội dung chủ yếu như: đánh giá sự phát triển về số lượng, quy mô, lao động của các cơ sở kinh tế; kết quả sản xuất, kinh doanh; mức độ ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số; cơ cấu và sự phân bố của các cơ sở và lao động theo địa phương, theo ngành kinh tế, theo loại hình kinh tế và theo hình thức sở hữu.Ảnh: Điều tra viên tiến hành thu thập thông tin cơ sở tôn giáo.Kết quả Tổng điều tra là căn cứ quan trọng phục vụ công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành của Đảng, Nhà nước, các bộ, ngành và địa phương; đồng thời phục vụ biên soạn các chỉ tiêu thống kê thuộc Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia, đặc biệt là Tổng sản phẩm trong nước (GDP), Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) và các chỉ tiêu thống kê kinh tế - xã hội có liên quan.N.T. Thịnh