Thống kê tỉnh Đồng Tháp tổ chức Hội nghị sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026
- 09/07/2026 15:13
Sáng ngày 09/7/2026, Thống kê tỉnh Đồng Tháp tổ chức Hội nghị sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026. Đồng chí Trần Thị Mỹ Hạnh, Trưởng Thống kê tỉnh Đồng Tháp chủ trì hội nghị. Tham dự hội nghị có các Phó Trưởng Thống kê tỉnh: đồng chí Lê Văn Niệm, đồng chí Đinh Văn Đầy; lãnh đạo các phòng thuộc Thống kê tỉnh và lãnh đạo các Thống kê cơ sở.Ảnh: Đồng chí Trần Thị Mỹ Hạnh, Trưởng Thống kê tỉnh Đồng Tháp chủ trì Hội nghịTại hội nghị, đồng chí Lê Thị Ngọc Chiểu, Trưởng phòng Tổ chức - Hành chính trình bày báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ 6 tháng đầu năm và phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026. Theo nội dung báo cáo, trong 6 tháng đầu năm, Thống kê tỉnh Đồng Tháp đã bám sát chương trình công tác của Cục Thống kê, Tỉnh ủy và UBND tỉnh; triển khai đầy đủ các cuộc điều tra thống kê theo đúng phương án, bảo đảm tiến độ và chất lượng. Đơn vị đã hoàn thành tốt các nhiệm vụ trọng tâm, nổi bật là hoàn thành thu thập thông tin Tổng điều tra kinh tế năm 2026; cung cấp, công bố và phổ biến kịp thời thông tin thống kê kinh tế - xã hội; tham mưu xây dựng kịch bản tăng trưởng phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của tỉnh. Bên cạnh đó, việc ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số tiếp tục được đẩy mạnh trong công tác chuyên môn và quản lý, điều hành.Ảnh: Đồng chí Lê Thị Ngọc Chiểu, Trưởng phòng Tổ chức - Hành chính thông qua báo cáo kết quả thực hiện công tác 6 tháng đầu năm 2026Các đại biểu đã tập trung thảo luận, trao đổi những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, đồng thời đề xuất nhiều giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác trong 6 tháng cuối năm. Các ý kiến tập trung vào việc bảo đảm chất lượng thông tin thống kê phục vụ lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành; kiện toàn tổ chức bộ máy; triển khai Luật Thống kê và các văn bản hướng dẫn thi hành; đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI); tăng cường quản lý, bảo mật dữ liệu; phối hợp với các xã, phường trong việc cập nhật báo cáo kinh tế - xã hội hàng tháng lên phần mềm dùng chung; khai thác hiệu quả dữ liệu hành chính và tiếp tục triển khai hiệu quả Tổng điều tra kinh tế năm 2026.Phát biểu kết luận hội nghị, đồng chí Trần Thị Mỹ Hạnh, Trưởng Thống kê tỉnh Đồng Tháp ghi nhận và biểu dương những kết quả đạt được của toàn ngành trong 6 tháng đầu năm 2026. Đồng chí đề nghị các phòng chuyên môn và Thống kê cơ sở tiếp tục phát huy tinh thần trách nhiệm, tập trung thực hiện tốt các nhiệm vụ trọng tâm trong 6 tháng cuối năm như: tổ chức các cuộc điều tra thống kê theo kế hoạch; nâng cao chất lượng biên soạn, phân tích và phổ biến thông tin thống kê; triển khai hiệu quả Chiến lược phát triển Thống kê cùng các đề án lớn của Ngành; đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ thông tin; triển khai điều tra tính Tổng giá trị sản phẩm trên địa bàn các xã, phường, phục vụ công tác chỉ đạo điều hành của các địa phương; phấn đấu hoàn thành toàn diện các nhiệm vụ công tác năm 2026. N.T.Thịnh
Đồng Tháp công bố số liệu kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2026
- 02/07/2026 15:11
Sáng ngày 02/7/2026, Thống kê tỉnh Đồng Tháp tổ chức Họp báo công bố số liệu thống kê kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2026. Đồng chí Trần Thị Mỹ Hạnh, Trưởng Thống kê tỉnh Đồng Tháp chủ trì buổi họp báo. Tham dự có đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành của tỉnh cùng các cơ quan thông tấn, báo chí Trung ương và địa phương.Ảnh: Toàn cảnh buổi Họp báo Phát biểu tại buổi họp báo, đồng chí Trần Thị Mỹ Hạnh nhấn mạnh việc công bố kịp thời, đầy đủ, chính xác và minh bạch các chỉ tiêu thống kê kinh tế - xã hội có ý nghĩa quan trọng trong việc phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh; đồng thời cung cấp nguồn thông tin thống kê chính thức, tin cậy cho các cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp, nhà đầu tư và người dân.Ảnh: Đồng chí Trần Thị Mỹ Hạnh, Trưởng Thống kê thông báo một số nét chính tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2026 Trong bối cảnh nền kinh tế vẫn còn nhiều khó khăn và thách thức, kinh tế - xã hội của tỉnh trong 6 tháng đầu năm 2026 tiếp tục duy trì xu hướng phục hồi và tăng trưởng tích cực ở nhiều lĩnh vực. Nổi bật, tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) theo giá so sánh năm 2020 ước đạt 120.745 tỷ đồng, tăng 7,14% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, quý I tăng 6,66%, quý II tăng 7,67%; tốc độ tăng trưởng chung cao hơn 0,13 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước (6 tháng đầu năm 2025 tăng 7,01%). Với mức tăng trưởng 7,14%, Đồng Tháp xếp thứ 2 trong nhóm 5 tỉnh thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, tiếp tục khẳng định đà tăng trưởng ổn định và hiệu quả của nền kinh tế địa phương. Xét theo khu vực kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,15%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,52%; khu vực dịch vụ tăng 8,06%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 7,61% so với cùng kỳ năm trước, trong đó công nghiệp - xây dựng và dịch vụ tiếp tục là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng chung của tỉnh. Về tình hình ngân sách nhà nước, thu ngân sách trên địa bàn 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 13.523 tỷ đồng, bằng 56,9% dự toán năm và tăng 4,2% so với cùng kỳ. Trong đó, thu nội địa đạt 13.010 tỷ đồng, bằng 56% dự toán và tăng 3,8% so với cùng kỳ. Ở chiều ngược lại, tổng chi ngân sách nhà nước đạt 22.094 tỷ đồng. Trong đó, chi đầu tư phát triển đạt 4.022 tỷ đồng, bằng 46,1% dự toán, giảm 18,4%; chi thường xuyên đạt 13.486 tỷ đồng, bằng 54,7% dự toán và giảm 0,6% so với cùng kỳ. Về diễn biến giá cả thị trường, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6/2026 giảm 0,28% so với tháng trước, trong đó khu vực thành thị giảm 0,11%, khu vực nông thôn tăng 0,34%. So với tháng 6/2025, CPI tăng 4,86%; bình quân 6 tháng đầu năm 2026 tăng 4,21% so với cùng kỳ năm trước, phản ánh mặt bằng giá cơ bản được kiểm soát theo mục tiêu đề ra. Hoạt động đầu tư tiếp tục ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực. Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 34.872 tỷ đồng, bằng 37,4% kế hoạch năm và tăng 12,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong tổng nguồn vốn đầu tư, khu vực ngoài nhà nước đạt 18.195 tỷ đồng, chiếm 52,2% tổng vốn đầu tư; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 4.589 tỷ đồng, chiếm 13,1% và tăng mạnh 66,8% so với cùng kỳ; khu vực nhà nước đạt 12.088 tỷ đồng, chiếm 34,7% tổng vốn đầu tư và tăng 20% so với cùng kỳ. Đây là tín hiệu tích cực, cho thấy niềm tin của các nhà đầu tư đối với môi trường đầu tư, kinh doanh của tỉnh tiếp tục được củng cố. Tại buổi họp báo, bà Trần Thị Mỹ Hạnh, Trưởng Thống kê cũng đề xuất nhiều giải pháp trọng tâm nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2026. Theo đó, tỉnh cần tập trung chỉ đạo sản xuất vụ thu đông và chuẩn bị tốt các điều kiện xuống giống vụ đông xuân 2026 - 2027 phù hợp với diễn biến thời tiết, thủy văn và nhu cầu thị trường; tiếp tục phát triển các vùng sản xuất tập trung, cây trồng chủ lực gắn với cấp mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc để phục vụ xuất khẩu. Bên cạnh đó, tiếp tục triển khai hiệu quả các chính sách cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; tăng cường đối thoại, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh; đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp có lợi thế, công nghiệp hỗ trợ và công nghiệp công nghệ cao; triển khai hiệu quả các chính sách tín dụng, hỗ trợ lãi suất và tăng cường kết nối giữa ngân hàng với doanh nghiệp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh. Đồng thời, tỉnh tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại, kết nối cung cầu, phát triển thương mại điện tử, mở rộng thị trường tiêu thụ, nâng cao giá trị các sản phẩm nông nghiệp; tăng tốc giải ngân vốn đầu tư công, đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình, dự án trọng điểm để sớm đưa vào khai thác, phát huy hiệu quả đầu tư, góp phần tạo động lực tăng trưởng trong những tháng cuối năm.Ảnh: Đại diện Sở Tài chính và Sở Văn hoá thể thao và Du lịch phát biểu tại buổi Họp báo Buổi họp báo diễn ra trong không khí cởi mở, bà Trần Thị Mỹ Hạnh, Trưởng Thống kê đã trao đổi, thảo luận nhiều nội dung liên quan đến tình hình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh với đại diện Sở Tài chính, Sở Văn hoá thể thao và Du lịch. Bên cạnh đó, đã giải đáp các câu hỏi của báo chí, cung cấp thêm nhiều thông tin, số liệu phân tích chuyên sâu, góp phần giúp các cơ quan truyền thông phản ánh đầy đủ, khách quan bức tranh kinh tế - xã hội của tỉnh Đồng Tháp trong 6 tháng đầu năm 2026. Thông qua buổi họp báo, Thống kê tỉnh Đồng Tháp tiếp tục khẳng định vai trò là cơ quan cung cấp thông tin thống kê chính thức của Nhà nước trên địa bàn tỉnh, góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch của thông tin thống kê, phục vụ hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của các cấp chính quyền cũng như đáp ứng nhu cầu thông tin của cộng đồng doanh nghiệp và người dân.N.X.Trường
Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp 6 tháng đầu năm 2026 tăng 7,14%
- 02/07/2026 13:12
Đồng Tháp bước vào thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 trong điều kiện kinh tế của Tỉnh, cả nước và trên thế giới tiếp tục gặp nhiều khó khăn, thách thức: Cạnh tranh giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, gia tăng căng thẳng địa chính trị. Thiên tai, hạn hán, bão lũ, biến đổi khí hậu gây hậu quả nghiêm trọng; nguy cơ về an ninh năng lượng, an ninh lương thực, gia tăng... Lạm phát mặc dù hạ nhiệt nhưng vẫn cao hơn mục tiêu; nhiều nền kinh tế lớn tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ thắt chặt, duy trì mức lãi suất cao; thương mại, tiêu dùng và đầu tư toàn cầu phục hồi chậm... đã làm cho môi trường kinh tế không thuận lợi ảnh hưởng mạnh đến nền kinh tế vốn hướng mạnh về xuất khẩu của Việt Nam. Trên địa bàn tỉnh, với quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu đã đề ra, cả hệ thống chính trị đã vào cuộc, diều hành linh hoạt, đưa ra các giải pháp phù hợp cùng với sự đồng thuận của các doanh nghiệp, nhân dân trên trên địa bàn tỉnh, kinh tế của tỉnh tăng trưởng tích cực, quý sau tăng cao hơn quý trước. Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 120.745 tỷ đồng, (giá so sánh năm 2020) tăng 7,14% so với 6 tháng đầu năm 2025 (quý I tăng 6,66%, quý II tăng 7,67%), tăng cao hơn cùng kỳ 0,13% (cùng kỳ tăng 7,01%). Với tốc độ tăng trưởng 7,14%, Đồng Tháp xếp hạng thứ 2/5 tỉnh khu vực vùng đồng bằng sông Cửu Long (1. An Giang tăng 8,83%; 2. Đồng Tháp tăng 7,14%; 3. TP Cần Thơ tăng 6,70%; 4. Cà Mau tăng 6,60; 5. Vĩnh Long tăng 6,41%). Khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,15%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,52%, khu vực dịch vụ tăng 8,06% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 7,61% so cùng kỳ. Trong 7,14% tăng trưởng, khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản đóng góp 1,34%, khu vực công nghiệp và xây dựng đóng góp 2,44%, khu vực dịch vụ đóng góp 2,88% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đóng góp 0,48%. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản: 6 tháng đầu năm 2026 tăng 4,15% so với 6 tháng đầu năm 2025 (quý I tăng 3,66%, quý II tăngg 4,90%); trong đó nông nghiệp tăng 4,39%. Tình hình sản xuất nông nghiệp 6 tháng đầu năm thuận lợi, không chịu tác động nhiều của hạn mặn như những năm trước. Trên địa bàn tỉnh từng bước được cơ cấu lại theo hướng nâng cao giá trị, hiệu quả và phát triển bền vững; đã hình thành nhiều vùng chuyên canh quy mô lớn, hướng đến nền nông nghiệp công nghệ cao, hiện đại, nông dân đã chuyển đổi giống, mô hình canh tác xen canh, gối vụ với nhiều loại rau, củ, quả có giá trị kinh tế cao, dễ tiêu thụ; ứng dụng tiến bộ của khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất tiết kiệm chi phí, tăng năng suất, chuyển đổi diện tích đất lúa, đất màu kém hiệu quả sang trồng cây ăn quả có giá trị kinh tế cao hơn. Tuy nhiên trong 6 tháng đầu một số sản phẩm chủ lực của tỉnh như: lúa, sầu riêng, mít, thanh long… có giá bán thấp so cùng kỳ, cùng với tác động tăng giá xăng, dầu ảnh hưởng đến thu nhập của người dân. Ngành chăn nuôi tiếp tục duy trì sự ổn định và có nhiều yếu tố thuận lợi. Giá cả các sản phẩm chăn nuôi cơ bản ổn định giúp người dân yên tâm duy trì và phát triển đàn. Dịch bệnh còn xảy ra ở một số địa phương, nhưng do công tác phòng chống dịch bệnh được thực hiện chặt chẽ, tỷ lệ tiêm phòng đạt cao, góp phần giảm rủi ro và tăng khả năng tái đàn. Ngoài ra, việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật, mô hình chăn nuôi an toàn sinh học và sử dụng giống năng suất cao ngày càng phổ biến, giúp cải thiện hiệu quả sản xuất, chất lượng sản phẩm ngày càng nâng cao. Ngành thủy sản tăng trưởng 2,99% so cùng kỳ (quý I tăng 2,89%, quý II tăng 3,09%), nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản đều tăng. Giá cả ổn định, nên ngư dân đã tập trung đầu tư cho nuôi trồng và khai thác; nhu cầu tiêu thụ thủy sản của thị trường trong nước và phục vụ cho xuất khẩu tăng, kích thích ngư dân đầu tư cho sản xuất. Mặt khác, thời tiết thuận lợi, thủy sản bệnh ít, năng suất cao, sản lượng nuôi trồng tăng so cùng kỳ. Tuy nhiên thời điểm tháng 3, tháng 4 giá xăng dầu tăng cao, số lượng tàu đánh nằm bờ nhiều cũng làm chậm tốc độ tăng trưởng của ngành thuỷ sản. Hiện nay giá xăng dầu đã ổn định, ngư dân tiếp tục ra khơi, bám biển. Khu vực công nghiệp - xây dựng: Trong 6 tháng đầu năm 2026, khu vực công nghiệp – xây dựng trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng khá, trong bối cảnh giá năng lượng tăng làm tăng chi phí vận chuyển, giá nguyên liệu đầu vào, … do tác động của tình hình chiến sự ở Trung Đông, tạo áp lực lớn lên hoạt động sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh; 6 tháng đầu năm tăng 9,52% so với 6 tháng đầu năm 2025 (quý I tăng 8,20%, quý II tăngg 10,80%). Công nghiệp tăng 9,88% (quý I tăng 8,34%, quý II tăng 11,40%); động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ công nghiệp chế biến, chế tạo (tăng 10,20%) nhờ đơn hàng phục hồi, nhu cầu thị trường cải thiện và doanh nghiệp duy trì sản xuất ổn định và có một số đơn vị mới đi vào sản xuất kinh doanh. Một số ngành có chỉ số sản xuất tăng cao như: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 18,68%, sản xuất đồ uống tăng 28,89%, dệt tăng 12,98%, sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 52,31%,… Bên cạnh đó cũng có một số ngành có tỷ trọng lớn khó khăn về thị trường tiêu thụ, đơn hàng giảm so cùng kỳ như: Sản xuất trang phục giảm 3,85%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 5,42%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa, sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện giảm 21,24%; sản xuất hoá chất và các sản phẩm từ hoá chất giảm 6,39%, Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 24,0%,... Ngành xây dựng 6 tháng đầu năm 2026 ước tăngg 7,40% so với cùng (quý I tăng 7,23%, quý II ước tăng 7,54% so cùng kỳ). Trong lĩnh vực đầu tư công, trong 6 tháng đầu năm chủ yếu thực hiện các công trình chuyển tiếp từ năm 2025 chuyển sang, công trình mới chưa nhiều; Trong quý II với sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị, các chủ đầu tư tập trung đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình trọng điểm, đồng thời phối hợp với các địa phương đẩy mạnh đầu tư hạ tầng bệnh viện, trường học, giao thông nông thôn, chỉnh trang đô thị. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại các khó khăn mang tính đặc thù như biến động giá vật liệu xây dựng, thiếu nguồn cung cát, đá, vướng mắc giải phóng mặt bằng, ảnh hưởng đến tiến độ và hiệu quả đầu tư, ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng của ngành xây dựng. Khu vực dịch vụ: tăng 8,06% so cùng kỳ (cùng kỳ tăng 7,55%); hầu hết các ngành trong khu vực này đều tăng, nhu cầu tiêu dùng, mua sắm của người dân trong kỳ tăng cao nên hoạt động thương mại và dịch vụ diễn ra khá sôi động và có mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước. Tỉnh đã tổ chức nhiều sự kiện để thu hút du khách đến địa bàn tỉnh như: Festival Hoa – Kiểng Sa Đéc, chợ quê, khánh thành tượng đài Bác Hồ kết hợp với triển lãm, Lễ hội Trái cây tỉnh Đồng Tháp lần I, Lễ hội Sen Đồng Tháp … Một số ngành có tốc độ tăng trưởng khá so cùng kỳ như: Ngành thương mại ước tăng 9,11% so cùng kỳ năm trước; ngành vận tải, kho bãi tăng 9,06%; ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 10,64%; ngành thông tin và truyền thông tăng 6,94%; Hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ tăng 8,5%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 9,97%; … Cơ cấu kinh tế: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 31,0% (cùng kỳ 33,2%); khu vực công nghiệp, xây dựng chiếm 26,6% (cùng kỳ 25,2%); khu vực dịch vụ chiếm 36% (cùng kỳ 35,3%); thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 6,4 %, (cùng kỳ 6,3%). Mục tiêu tăng trưởng trong năm 2026 của tỉnh phấn đấu đạt từ 8,0 – 8,5%, với kết quả ước thực hiện 6 tháng đầu năm tăng 7,14%, để đạt mục tiêu tăng trưởng cả năm, thì 6 tháng cuối năm phải tăng từ 8,76% - 9,70%. Để đạt được mục tiêu tăng trưởng cả năm, trong 6 tháng cuối năm các Sở ngành, địa phương theo nhiệm vụ được phân công cần thực hiện tốt các giải pháp sau: Khu vực Nông - Lâm - Thủy sản: Tiếp tục triển khai thực hiện Chương trình Phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp giai đoạn 2026 - 2030; đề án Phát triển bền vững 01 triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030 nhằm tạo chuyển biến rõ nét về năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng trong sản xuất nông nghiệp. Tiếp tục chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi hợp lý, hiệu quả và thích ứng với thị trường. Tập trung quản lý mã số vùng trồng, an toàn thực phẩm, xây dựng cơ sở chăn nuôi an toàn dịch bệnh, sinh học. Đẩy mạnh phát triển sản phẩm OCOP gắn với thương hiệu nông sản đặc trưng. Phát triển kinh tế tập thể, liên kết sản xuất tiêu thụ góp phần ổn định sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế và phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững, lâu dài. Kêu gọi đầu tư phát triển công nghiệp chế biến nông lâm thủy sản, nâng cao tỷ trọng chế biến các mặt hàng nông sản có giá trị gia tăng cao. Tiếp tục phát huy vai trò cầu nối, giới thiệu, liên kết hợp tác sản xuất, tiêu thụ nông sản; hỗ trợ phát triển chuỗi cung ứng nông sản vào kênh phân phối trong và ngoài nước, nhất là đưa sản phẩm hàng hóa tham gia các sàn thương mại điện tử; chú trọng phát triển chuỗi cung ứng nông sản sạch, an toàn, sản phẩm OCOP, sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu vào kênh phân phối hiện đại. Đẩy mạnh việc hình thành và phát triển thêm các vùng chuyên canh cây ăn trái đặc sản, giá trị kinh tế cao, có lợi thế ngày càng cạnh tranh. Hiện toàn tỉnh có 1.147 vùng trồng cây ăn trái (gần 51.270 ha) được cấp 2.758 mã số được phê duyệt phục vụ xuất khẩu và đã xây dựng được 438 mã số cơ sở đóng gói đủ tiêu chuẩn xuất khẩu sang các thị trường khó tính như Mỹ, Úc, EU, Hàn Quốc và duy trì ưu thế tại Trung Quốc thông qua đường xuất khẩu chính ngạch. Hỗ trợ nông dân trong việc tiêu thụ hàng hoá, xuất khẩu, tránh trường hợp “được mùa mất giá, được giá mất mùa”, tạo động lực để nông dân tập trung đầu tư cho sản xuất. Khu vực Công nghiệp - Xây dựng Tiếp tục mở các Hội nghị gặp gỡ doanh nghiệp, nắm bắt tâm tư nguyện vọng của doanh, giải quyết kịp thời các đề xuất kiến nghị của doanh nghiệp. Hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu tham gia các hoạt động xúc tiến thương mại ở nước ngoài, các hội chợ, triển lãm chuyên ngành và chương trình kết nối giao thương nhằm tìm kiếm đối tác, mở rộng thị trường xuất khẩu. Đồng thời, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thông tin thị trường, cập nhật các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế, các quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật và yêu cầu của thị trường nhập khẩu; nâng cao năng lực tận dụng hiệu quả các Hiệp định thương mại tự do (FTA), đa dạng hóa thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy xuất khẩu bền vững. Đẩy nhanh tiến độ đầu tư hạ tầng, sớm đưa cụm công nghiệp đi vào hoạt động; kịp thời tháo gỡ khó khăn vướng mắc cho doanh nghiệp, nâng cao tỷ lệ lấp đầy cụm công nghiệp. Tạo dộng lực tăng trưởng trong 6 tháng cuối năm và là dư địa để tăng trưởng trong các năm tiếp theo. Tăng cường quản lý, giám sát chặt chẽ công tác đầu tư công; kịp thời tháo gỡ các khó khăn vướng mắc; đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công đã giao trong năm 2026. Tập trung tháo gỡ vướng mắc trong bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư; tạo chuyển biến rõ nét trong tiến độ thực hiện các dự án trọng điểm; bố trí nguồn lực cho hạ tầng kỹ thuật, giao thông, logistics… Tổ chức thực hiện hiệu quả các giải pháp tháo gỡ và thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển an toàn, lành mạnh, bền vững. Đẩy mạnh phát triển nhà ở xã hội, phấn đấu hoàn thành trong năm. Đẩy nhanh tiến độ triển khai các công trình giao thông trọng điểm, đột phá, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Chủ động phối hợp với các Bộ, ngành nhằm sớm triển khai đầu tư các công trình giao thông trọng điểm. Tập trung đẩy nhanh giải quyết thủ tục đất đai, khó khăn, vướng mắc, nhất là công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư; đẩy nhanh tiến độ các dự án đầu tư trên địa bàn do tỉnh quản lý. Tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp hoàn thiện thủ tục đầu tư xây dựng hạ tầng khu, cụm công nghiệp; thu hút dự án thứ cấp; đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án đã được chấp thuận chủ trương đầu tư. Khu vực Thương mại - Dịch vụ Hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng công nghệ thông tin và thương mại điện tử trong hoạt động sản xuất kinh doanh giúp phát triển giao dịch trên các sàn thương mại điện tử uy tín. Kêu gọi đầu tư phát triển hạ tầng logistics, trung tâm thương mại, siêu thị, chợ đầu mối… tại các đô thị trung tâm và khu cửa khẩu. Đổi mới hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại; mở rộng thị trường khách du lịch trong và ngoài nước; tăng cường liên kết phát triển du lịch liên vùng và liên ngành, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, quảng bá và cung cấp dịch vụ du lịch; triển khai các tiện ích số phục vụ khách du lịch và hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng nền tảng số trong hoạt động kinh doanh. Kích cầu tiêu dùng, đẩy mạnh thực hiện hiệu quả cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” góp phần mở rộng thị trường trong nước, hỗ trợ sản xuất, kinh doanh và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến thương mại và hỗ trợ doanh nghiệp thâm nhập thị trường có FTA với Việt Nam, thị trường mới, thị trường tiềm năng và mở rộng thị trường xuất khẩu…nhằm đa dạng hóa thị trường xuất khẩu. Xây dựng hình ảnh du lịch an toàn, thân thiện, hấp dẫn, thu hút du khách trên cơ sở phát huy các tiềm năng về du lịch sinh thái, các khu di tích lịch sử - văn hóa, các đô thị, du lịch văn hóa, cộng đồng, du lịch thể thao và liên kết phát triển với các tỉnh, thành trong khu vực. N.V.Tròn
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Tháp 6 tháng đầu năm 2026
- 30/06/2026 14:21
Năm 2026 có ý nghĩa rất quan trọng, là năm đầu tiên triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2026-2030, tạo đà phát triển cho cả giai đoạn. Tình hình chính trị thế giới trong những tháng đầu năm 2026 diễn biến phức tạp, cuộc chiến ở Trung Đông đã đẩy giá năng lượng, logistics và chuỗi cung ứng vào trạng thái biến động mạnh; giá nguyên liệu đầu vào tăng… ảnh hưởng đến phát triển kinh tế trong nước nói chung và tỉnh Đồng Tháp nói riêng… Ngay từ đầu năm Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã triển khai kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh, giao nhiệm vụ cụ thể cho từng ngành, từng địa phương; chỉ đạo, điều hành sâu sát, tập trung và có hiệu quả hơn, cùng sự nỗ lực phấn đấu của các ngành các cấp. Các hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh được tổ chức linh hoạt diễn ra sôi nổi, các doanh nghiệp đã chủ động tiết kiệm chi phí, tối ưu hóa quy trình sản xuất và tìm kiếm nguồn nguyên liệu phù hợp, qua đó hạn chế phần nào tác động tiêu cực từ việc tăng giá xăng dầu. Tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2026 tiếp tục phát triển ổn định, có nhiều chuyển biến tích cực; kết quả thực hiện trên các lĩnh vực như sau: I. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊU KINH TẾ 1. Tăng trưởng kinh tế (GRDP): Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 120.745 tỷ đồng, (giá so sánh năm 2020) tăng 7,14% so với 6 tháng đầu năm 2025 (quý I tăng 6,66%, quý II tăng 7,67%), tăng cao hơn cùng kỳ 0,13% (cùng kỳ tăng 7,01%). Với tốc độ tăng trưởng 7,14%, Đồng Tháp xếp hạng thứ 2/5 tỉnh khu vực vùng đồng bằng sông Cửu Long . Khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,15%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,52%, khu vực dịch vụ tăng 8,06% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 7,61% so cùng kỳ. Trong 7,14% tăng trưởng, khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản đóng góp 1,34%, khu vực công nghiệp và xây dựng đóng góp 2,44%, khu vực dịch vụ đóng góp 2,88% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đóng góp 0,48%. GRDP nếu tính theo giá hiện hành ước đạt 145.796 tỷ đồng, tăng 12,48% so cùng kỳ. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản: 6 tháng đầu năm 2026 tăng 4,15% so với 6 tháng đầu năm 2025 (quý I tăng 3,66%, quý II tăngg 4,90%); trong đó nông nghiệp tăng 4,39%. Tình hình sản xuất nông nghiệp 6 tháng đầu năm thuận lợi, không chịu tác động nhiều của hạn mặn như những năm trước. Trên địa bàn tỉnh từng bước được cơ cấu lại theo hướng nâng cao giá trị, hiệu quả và phát triển bền vững; đã hình thành nhiều vùng chuyên canh quy mô lớn, hướng đến nền nông nghiệp công nghệ cao, hiện đại, nông dân đã chuyển đổi giống, mô hình canh tác xen canh, gối vụ với nhiều loại rau, củ, quả có giá trị kinh tế cao, dễ tiêu thụ; ứng dụng tiến bộ của khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất tiết kiệm chi phí, tăng năng suất, chuyển đổi diện tích đất lúa, đất màu kém hiệu quả sang trồng cây ăn quả có giá trị kinh tế cao hơn. Tuy nhiên trong 6 tháng đầu một số sản phẩm chủ lực của tỉnh như: lúa, sầu riêng, mít, thanh long… có giá bán thấp so cùng kỳ, cùng với tác động tăng giá xăng, dầu ảnh hưởng đến thu nhập của người dân. Ngành chăn nuôi tiếp tục duy trì sự ổn định và có nhiều yếu tố thuận lợi. Giá cả các sản phẩm chăn nuôi cơ bản ổn định giúp người dân yên tâm duy trì và phát triển đàn. Dịch bệnh còn xảy ra ở một số địa phương, nhưng do công tác phòng chống dịch bệnh được thực hiện chặt chẽ, tỷ lệ tiêm phòng đạt cao, góp phần giảm rủi ro và tăng khả năng tái đàn. Ngoài ra, việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật, mô hình chăn nuôi an toàn sinh học và sử dụng giống năng suất cao ngày càng phổ biến, giúp cải thiện hiệu quả sản xuất, chất lượng sản phẩm ngày càng nâng cao. Ngành thủy sản tăng trưởng 2,99% so cùng kỳ (quý I tăng 2,89%, quý II tăng 3,09%, nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản đều tăng. Giá cả ổn định, nên ngư dân đã tập trung đầu tư cho nuôi trồng và khai thác; nhu cầu tiêu thụ thủy sản của thị trường trong nước và phục vụ cho xuất khẩu tăng, kích thích ngư dân đầu tư cho sản xuất. Mặt khác, thời tiết thuận lợi, thủy sản bệnh ít, năng suất cao, sản lượng nuôi trồng tăng so cùng kỳ. Tuy nhiên thời điểm tháng 3, tháng 4 giá xăng dầu tăng cao, số lượng tàu đánh nằm bờ nhiều cũng làm chậm tốc độ tăng trưởng của ngành thuỷ sản. Hiện giá xăng dầu đã ổn định, ngư dân tiếp tục ra khơi, bám biển. Khu vực công nghiệp - xây dựng: Trong 6 tháng đầu năm 2026, khu vực công nghiệp – xây dựng trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng khá, trong bối cảnh giá năng lượng tăng làm tăng chi phí vận chuyển, giá nguyên liệu đầu vào, … do tác động của tình hình chiến sự ở Trung Đông, tạo áp lực lớn lên hoạt động sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh; 6 tháng đầu năm tăng 9,52% so với 6 tháng đầu năm 2025 (quý I tăng 8,20%, quý II tăngg 10,80%). - Công nghiệp tăng 9,88% (quý I tăng 8,34%, quý II tăng 11,40%); động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm 95,48% giá trị ngành công nghiệp và chiếm 21,49% trong GRDP tăng 10,20% nhờ đơn hàng phục hồi, nhu cầu thị trường cải thiện và doanh nghiệp duy trì sản xuất ổn định và có một số đơn vị mới đi vào sản xuất kinh doanh. Một số ngành có chỉ số sản xuất tăng cao như: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 18,68%, sản xuất đồ uống tăng 28,89%, dệt tăng 12,98%, sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 52,31%,… Bên cạnh đó cũng có một số ngành có tỷ trọng lớn khó khăn về thị trường tiêu thụ, đơn hàng giảm so cùng kỳ như: Sản xuất trang phục giảm 3,85%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 5,42%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa, sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện giảm 21,24%; sản xuất hoá chất và các sản phẩm từ hoá chất giảm 6,39%, Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 24,0%,... - Ngành xây dựng 6 tháng đầu năm 2026 ước tăngg 7,40% so với cùng (quý I tăng 7,23%, quý II ước tăng 7,54% so cùng kỳ). Trong lĩnh vực đầu tư công, trong 6 tháng đầu năm chủ yếu thực hiện các công trình chuyển tiếp từ năm 2025 chuyển sang, công trình mới chưa nhiều; Trong quý II với sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị, các chủ đầu tư tập trung đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình trọng điểm, đồng thời phối hợp với các địa phương đẩy mạnh đầu tư hạ tầng bệnh viện, trường học, giao thông nông thôn, chỉnh trang đô thị. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại các khó khăn mang tính đặc thù như biến động giá vật liệu xây dựng, thiếu nguồn cung cát, đá, vướng mắc giải phóng mặt bằng, ảnh hưởng đến tiến độ và hiệu quả đầu tư, ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng của ngành xây dựng. Khu vực dịch vụ: tăng 8,06% so cùng kỳ (cùng kỳ tăng 7,55%); hầu hết các ngành trong khu vực này đều tăng, nhu cầu tiêu dùng, mua sắm của người dân trong kỳ tăng cao nên hoạt động thương mại và dịch vụ diễn ra khá sôi động và có mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước. Tỉnh đã tổ chức nhiều sự kiện để thu hút du khách đến địa bàn tỉnh như: Festival Hoa - Kiểng Sa Đéc, chợ quê, khánh thành tượng đài Bác Hồ kết hợp với triển lãm, Lễ hội Trái cây tỉnh Đồng Tháp lần I, Lễ hội Sen Đồng Tháp … Một số ngành có tốc độ tăng trưởng khá so cùng kỳ như: Ngành thương mại ước tăng 9,11% so cùng kỳ năm trước; ngành vận tải, kho bãi tăng 9,06%; ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 10,64%; ngành thông tin và truyền thông tăng 6,94%; Hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ tăng 8,5%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 9,97%; … Cơ cấu kinh tế: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 31,0% (cùng kỳ 33,2%); khu vực công nghiệp, xây dựng chiếm 26,6% (cùng kỳ 25,2%); khu vực dịch vụ chiếm 36% (cùng kỳ 35,3%); thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 6,4 %, (cùng kỳ 6,3%). 2. Tài chính - Ngân hàng: a. Tài chính: Thu ngân sách nhà nước: Ước thực hiện 6 tháng đầu năm 2026 thu ngân sách trên địa bàn được 13.523 tỷ đồng đạt 56,9% dự toán và tăng 4,2% so cùng kỳ; thu nội địa 13.010 tỷ đồng, đạt 56% dự toán, tăng 3,8% so cùng kỳ (thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 2.261 tỷ đồng, đạt 55,8% dự toán và tăng 11,2% so với cùng kỳ; khu vực công thương nghiệp - ngoài quốc doanh là 3.537 tỷ đồng, đạt 73,7% dự toán, tăng 36,4% so với cùng kỳ; thu từ hoạt động xổ số kiến thiết 3.018 tỷ đồng, đạt 65,1% dự toán, tăng 15,3% so cùng kỳ). Chi ngân sách nhà nước: Tổng chi ngân sách 6 tháng đầu năm 2026 là 22.094 tỷ đồng; trong đó: chi đầu tư phát triển 4.022 tỷ đồng, đạt 46,1% dự toán, giảm 18,4%; chi thường xuyên 13.486 tỷ đồng, đạt 54,7% dự toán và giảm 0,6% so cùng kỳ. b. Ngân hàng: Các tổ chức tín dụng trên địa tỉnh chấp hành tốt các quy định về lãi suất động. Ước tính đến cuối tháng 6/2026 vốn huy động đạt 219.619 tỷ đồng, tăng 5,49%; trong đó, tiền gửi đạt 216.293 tỷ đồng, chiếm 98,49% tổng vốn huy động và tăng 5,2% so với cuối năm 2025; tổng dư nợ toàn tỉnh đạt 249.238 tỷ đồng, tăng 2,39% so với cuối năm 2025. Nợ xấu: đến cuối tháng 04/2026 nợ xấu 6.153 tỷ đồng (bao gồm nợ quá hạn và nợ khoanh của NH Chính sách xã hội, trừ nợ xấu các chi nhánh bị kiểm soát đặc biệt) tỷ lệ nợ xấu 2,52%. 3. Giá cả, lạm phát: Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6/2026 giảm 0,28% (khu vực thành thị giảm 0,11%; khu vực nông thôn tăng 0,34%) so tháng 5/2026, tăng 4,86% so tháng 6/2025. Bình quân 6 tháng năm 2026 so cùng kỳ tăng 4,21%; Một số nhóm hàng có chỉ số tăng như: nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 7,02%, làm CPI chung tăng 1,29 điểm phần trăm do giá nhà ở thuê và giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở đều tăng (chỉ số giá giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 11,98%, chỉ số giá điện sinh hoạt tăng 7,94%); giao thông tăng 5,06%, tác động làm CPI chung tăng 0,51 điểm phần trăm, trong đó giá xăng dầu tăng 8,65%; hàng ăn uống và dịch vụ ăn uống tăng 3,83%, tác động làm CPI chung tăng 1,38 điểm phần trăm, trong đó nhóm thực phẩm tăng 4,27%, nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 4,38%, nhóm lương thực tăng 1,14%;… riêng nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,01% tác động không đáng kể đến chỉ số tiêu dùng bình quân chung. Chỉ số giá vàng tháng 6/2026 giảm 8,68% so với tháng 5/2026, giảm 3,2% so với tháng 12/2025, tăng 52,76% so với bình quân cùng kỳ, tương ứng giảm 1.327 ngàn đồng/chỉ đối với vàng nhẫn trơn 9999. Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng 6/2026 giảm 0,15% so tháng trước, tương đương giảm 3.923 đồng/100USD và giảm 1,37% so với tháng 12/2025, Bình quân sáu tháng tăng 1,32% so cùng kỳ. 4. Đầu tư và Xây dựng: Vốn đầu tư toàn xã hội 6 tháng đầu năm 2026 ước thực hiện 34.872 tỷ đồng, đạt 37,4% kế hoạch, tăng 12,5% so cùng kỳ; trong đó: vốn ngoài Nhà nước 18.195 tỷ đồng, chiếm 52,2% và tương đương cùng kỳ; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 4.589 tỷ đồng, chiếm 13,1% và tăng 66,8%; vốn đầu tư khu vực nhà nước 12.088 tỷ đồng, chiếm 34,7% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và tăng 20% so cùng kỳ Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện 6 tháng đầu năm 3.980 tỷ đồng, đạt 34,4% kế hoạch, giảm 34,8% so cùng kỳ. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 3.649 tỷ đồng, đạt 35,5% kế hoạch, giảm 39,5% so cùng kỳ. 5. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp: (Theo báo cáo của Sở Tài Chính) Trong 6 tháng đầu năm tiếp tục triển khai các giải pháp hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp, dự tính trong 6 tháng đầu năm 2026 số lượng doanh nghiệp thành lập mới; giải thể, tạm ngừng hoạt động và hoạt động trở lại: Thành lập mới: có 1.804 doanh nghiệp thành lập mới, đạt 61,13% so kế hoạch và tăng 39,7% so với cùng kỳ; tổng vốn đăng ký là 8.519 tỷ đồng, tăng 1% so với cùng kỳ; vốn đăng ký bình quân 4,7 tỷ đồng/doanh nghiệp. Giải thể, tạm ngừng hoạt động: có 297 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 63,2% so với cùng kỳ và 616 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, tăng 9,7% so với cùng kỳ. Hoạt động trở lại: có 255 doanh nghiệp hoạt động trở lại, bằng 86,3% so với cùng kỳ.6. Sản xuất nông - lâm nghiệp và thủy sản:a. Nông nghiệp: Trong 6 tháng đầu năm 2026, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn diễn ra trong điều kiện tương đối thuận lợi. * Trồng trọt: Cây lương thực có hạt: diện tích gieo trồng cộng dồn từ đầu vụ sản xuất ước đạt 462.423 ha, giảm 12,3% so cùng kỳ; sản lượng ước đạt 2.086.267 tấn, giảm 9,0%. Trong đó, cây lúa gieo sạ 458.390 ha, giảm 12,3% so cùng kỳ; sản lượng thu hoạch ước đạt 2.064.261, giảm 9,3%; - Cây lúa: + Vụ Đông xuân 2025 - 2026: diện tích gieo trồng chính thức 223.450 ha, đạt 99,6% kế hoạch và giảm 2,7% so cùng kỳ, tương ứng giảm 6.229 ha[4]. Lúa Đông xuân 2025-2026 đã thu hoạch 100% diện tích gieo trồng của vụ; Năng suất thu hoạch bình quân 72,5 tạ/ha, tăng 0,8% so cùng kỳ với sản lượng thu hoạch 1.620.142 tấn, đạt 98,8% so với kế hoạch, giảm 1,9% so với cùng kỳ do diện tích gieo trồng giảm. Cơ cấu giống lúa vụ Đông Xuân 2025 - 2026 tập trung vào các giống chất lượng cao, chịu mặn/phèn tốt, thời gian sinh trưởng ngắn (85-95 ngày) như: OM 18 (chiếm 36,0%); Đài Thơm 8 (chiếm 26,2%); OM 5451 (chiếm 4,2%); Nàng Hoa 9 (chiếm 2,3%); OM 380 (chiếm 1,9%); OM 4900 (chiếm 1,9%); các giống ST 24, ST 25 (chiếm 1,4%); IR50404 (chiếm 6,5%); các giống lúa nếp (chiếm 12,2%), giống lúa khác còn lại chiếm 7,4%. + Vụ Hè thu 2026: tính đến ngày 20/6, toàn tỉnh gieo sạ ước đạt 213.095 ha, đạt 98,7% so với kế hoạch, giảm 11,3% so với cùng kỳ; Diện tích thu hoạch ước đạt 67.188 ha, đạt 31,1% kế hoạch; Năng suất thu hoạch ước đạt 66,1 tạ/ha, tăng 1,1% với sản lượng thu hoạch ước đạt 444.119 tấn, giảm 28,1% so với cùng kỳ. + Vụ Thu đông 2026: tính đến ngày 20/6, toàn tỉnh gieo sạ ước đạt 21.845 ha, đạt 14,6% so với kế hoạch. Vụ lúa Thu đông đã bắt đầu xuống giống rải rác ở các xã: xã Thường Phước, xã Phương Thịnh, xã Trường Xuân, xã Mỹ Quí, xã Tháp Mười, xã Đốc Binh Kiều và xã Thanh Mỹ. Theo Sở NN&MT tỉnh Đồng Tháp, khuyến cáo nông dân xuống giống tập trung, đồng loạt, né rầy theo từng khu vực. Đối với vùng sản xuất 3 vụ, xuống giống đợt 1 từ ngày 10 đến 17/6/2026, đợt 2 từ ngày 09 đến 16/7/2026 và đợt 3 từ ngày 01 đến 10/9/2026. Riêng phân vùng kinh tế nông nghiệp biển thực hiện cắt vụ lúa Thu đông 2026 tại các khu vực cuối nguồn của dự án ngọt hóa Gò Công, vận động nông dân chuyển sang trồng rau màu ngắn ngày để đảm bảo sản xuất vụ Đông xuân 2026-2027 an toàn, hiệu quả, tránh hạn mặn và thiếu nước cuối vụ, vừa giúp đa dạng hoá cơ cấu cây trồng và tăng giá trị sản xuất góp phần tối ưu hoá lợi nhuận cho nông dân. - Cây ngô: tính đến ngày 20/6, diện tích gieo trồng ước đạt 4.032 ha, đạt 43,4% so với kế hoạch, tăng 0,2% so cùng kỳ; Diện tích thu hoạch ước đạt 2.879 ha, tăng 12,5% so với cùng kỳ; Sản lượng thu hoạch ước đạt 22.006 tấn, đạt 33,4% so với kế hoạch, tăng 38,3% so với cùng kỳ. - Cây rau đậu các loại: diện tích gieo trồng cộng dồn từ đầu vụ sản xuất ước đạt 47.096 ha, tăng 0,4% so cùng kỳ; trong đó: rau các loại 46.853 ha, tăng 0,4% so cùng kỳ. Sản lượng thu hoạch ước đạt 683.728 tấn, tăng 4,6% so cùng kỳ; trong đó: rau các loại ước đạt 683.131 tấn, tăng 4,6% so cùng kỳ. - Cây lâu năm: Tổng diện tích gieo trồng cây lâu năm trên toàn tỉnh ước đạt 161.684 ha, tăng 1,8% so với cùng kỳ (tương ứng tăng 2.914 ha). Trong đó, diện tích cây ăn quả ước đạt 134.425 ha, chiếm 83,1% tổng diện tích cây lâu năm, tăng 1,6% so cùng kỳ; Tổng sản lượng thu hoạch cây ăn quả ước đạt 1.347.147 tấn, tăng 5,2% so cùng kỳ. *Chăn nuôi: ước thời điểm 30/6/2026 tổng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh như sau: đàn trâu 2,1 nghìn con, giảm 26,6% so cùng kỳ; đàn bò 148,2 ngàn con, giảm 3,3%; đàn lợn 469,4 nghìn con, tăng 0,2%; đàn gia cầm 22,8 triệu con, tăng 2,9%. b. Lâm nghiệp: Diện tích rừng trồng mới tập trung: trong 6 tháng đầu năm 2026 có 111,3 ha rừng được trồng mới tập trung, giảm 0,6% tương đương giảm 0,7 ha so với cùng kỳ. Cây phân tán: trong 6 tháng đầu năm 2026 số lượng cây phân tán ước đạt 200,8 nghìn cây, giảm 1,0%, tương ứng giảm 2,0 nghìn cây so với cùng kỳ. Sản lượng gỗ khai thác: trong 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 85.772 m3 gỗ được khai thác, giảm 0,9% so với cùng kỳ. c. Thủy hải sản: Tổng diện tích thả nuôi thâm canh 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 8.788 ha, tăng 1,7% so cùng kỳ; sản lượng đạt 468.593 tấn, tăng 2,4% so cùng kỳ. Trong đó, sản lượng thủy sản nuôi trồng ước thu hoạch đạt 412.491 tấn, tăng 2,5% so cùng kỳ. 7. Sản xuất công nghiệp: Sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm 2026 trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì, tình hình sản xuất, tiêu thụ của doanh nghiệp tăng cao so với cùng kỳ. chỉ số sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm 2026 tăng 12,18% so với cùng kỳ. Chia ra, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,86%; kế đến là ngành khai khoáng tăng 19,59%; ngành sản xuất, phân phối điện tăng 5,02% và ngành cung cấp nước, quản lý rác thải tăng nhẹ 3,48% Sản phẩm công nghiệp 6 tháng đầu năm 2026: có 69/114 sản phẩm tăng so cùng kỳ: phi lê đông lạnh tăng 21,9%; bột mịn, bột thô và bột viên từ cá tăng 20,6%; quả và hạt ướp lạnh tăng 51,4%; gạo đã xát toàn bộ hoặc sơ bộ tăng 11,5%; thức ăn cho gia súc tăng 31,6%;…có 41/114 sản phẩm giảm so cùng kỳ: bia đóng chai giảm 19,2%; túi xách giảm 14,6%; giày, dép thể thao có mũ bằng da và có đế ngoài giảm 15,5%; các bộ phận của giày, dép bằng da, tấm lót bên trong có thể tháo rời giảm 26,6%;... * Tình hình tiêu thụ và tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo so cùng kỳ: Trong tháng 6/2026, tình hình tiêu thụ và tồn kho của ngành công nghiệp chế biến chế tạo đều tăng so với cùng kỳ: chỉ số tiêu thụ (CSTT) tăng 3,02% so với tháng trước và tăng 16,42% so cùng kỳ; chỉ số tồn kho (CSTK) tăng 10,23% so với tháng trước và tăng 44,26% so với cùng kỳ; Sáu tháng đầu năm, chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 10,86% so với cùng kỳ. Trong đó, một số ngành cấp II đóng góp làm tăng chỉ số chung gồm: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 14,96%; dệt tăng 5,68%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 4,43%; sản phẩm từ cao su và plastic tăng 33,62%; sản xuất kim loại tăng 7,43%; sản xuất thiết bị điện tăng 49,75%;... 8. Thương mại, dịch vụ: a. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng: Trong 6 tháng đầu năm trên địa bàn tỉnh đã tổ chức một số lễ hội như: Lễ khai mạc Đường hoa Xuân Bính Ngọ năm 2026 tại Quảng trường Hùng Vương (phường Đạo Thạnh) và đường Lý Thường Kiệt (phường Cao Lãnh); Lễ hội Trái cây Đồng Tháp lần thứ I năm 2026; Lễ hội Sen Đồng Tháp lần thứ III năm 2026;… đã tạo điều kiện cho doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất kinh doanh giới thiệu, quảng bá các sản phẩm và kích cầu tiêu dùng. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng sáu tháng đầu năm 2026 là 94.938 tỷ đồng, đạt 32,7% kế hoạch, tăng 14,5% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 70.753 tỷ đồng, tăng 14,4%; lưu trú, ăn uống 12.198 tỷ đồng, tăng 22,7%; du lịch lữ hành 194 tỷ đồng, tăng 19,8%; dịch vụ tiêu dùng 11.792 tỷ đồng, tăng 13,4% so cùng kỳ. b. Xuất - Nhập khẩu: (Theo báo cáo Sở Công Thương) * Xuất khẩu: giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng hóa có nhiều khởi sắc và đạt được nhiều kết quả tích cực sáu 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 4.851 triệu USD, đạt 48,5% kế hoạch, tăng 9,3% so cùng kỳ. * Nhập khẩu: Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 2.807 triệu USD, đạt 56,1% kế hoạch, tăng 12,5% so cùng kỳ. c. Vận tải: Tình hình hoạt động các tuyến xe trên địa bàn tỉnh tiếp tục được duy trì thông thoáng, đặc biệt các chủ cơ sở kinh doanh vận tải tự giác chấp hành tốt nội qui bến bãi, đã tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân đi lại và vận chuyển hàng hoá đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh, đồng thời góp phần hạn chế chống ùn tắc giao thông trong dịp lễ tết. Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải 6 tháng đầu năm 2026 thực hiện 4.438 tỷ đồng, tăng 17,3% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 1.517 tỷ đồng, tăng 23,2 % so cùng kỳ; vận tải hàng hóa thực hiện 2.162 tỷ đồng, tăng 15,3% so cùng kỳ. Vận chuyển hành khách 6 tháng đầu năm 2026 đạt 42.024 ngàn hành khách, tăng 15,2% và luân chuyển 1.527.540 ngàn hành khách.km, tăng 14,6% so cùng kỳ; trong đó: vận chuyển đường bộ 15.309 ngàn hành khách, tăng 19,4% và luân chuyển 1.513.121 ngàn hành khách.km, tăng 14,5% so cùng kỳ; vận chuyển đường thủy 26.715ngàn hành khách, tăng 12,9% và luân chuyển 14.419 ngàn hành khách.km, tăng 25,2% so cùng kỳ. Vận tải hàng hóa 6 tháng đầu năm 2026 đạt 15.760 ngàn tấn, tăng 17,3% và luân chuyển 2.935.740 ngàn tấn.km, tăng 18,6% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ thực hiện 3.034 ngàn tấn, tăng 1,6% và luân chuyển được 502.861 ngàn tấn.km, tăng 9,9% so cùng kỳ; vận tải đường thủy thực hiện 12.726 ngàn tấn, tăng 21,8% và luân chuyển 2.432.879 ngàn tấn.km, tăng 20,5% so cùng kỳ. d. Bưu chính viễn thông: Các doanh nghiệp bưu chính, viễn thông trên địa bàn tỉnh tiếp tục phát triển chuyển từ dịch vụ truyền thống sang hạ tầng số nhằm phụ vụ kinh tế số, không ngừng đầu tư nâng cấp phát triển mạng lưới, cung cấp nhiều loại hình dịch vụ phong phú, đa dạng … nhằm thu hút khách hàng tham gia sử dụng. Tổng số thuê bao điện thoại có trên mạng đến cuối tháng 6 năm 2026 là 3.642 ngàn thuê bao; thuê bao điện thoại bình quân đạt 107,01 thuê bao/100 dân (chỉ tính thuê bao cố định và di động trả sau). Tổng số thuê bao Internet trên mạng ước tính đến tháng 6 năm 2026 là 3.948 ngàn thuê bao; mật độ Internet bình quân ước đạt 115,98 thuê bao/100 dân. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Lao động, giải quyết việc làm: Tư vấn và giới thiệu việc làm: Trong 6 tháng, đã giải quyết việc làm cho 23.517 lao động, đạt 47% so với kế hoạch; lao động đi làm việc ở nước ngoài 1.518 lượt lao động, đạt 63,3% so với kế hoạch; đối với trợ cấp thất nghiệp có 10.512 lao động đăng ký hưởng trợ cấp; trong đó, có 9.862 lao động đã được giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp với tổng số tiền chi trả trên 227 tỷ đồng. Tình hình lao động thiếu việc làm và thất nghiệp: Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, tỷ lệ thiếu việc làm toàn tỉnh là 3,11%, giảm 0,92 điểm phần trăm so với cùng kỳ (năm 2025 là 4,03%); tỷ lệ thất nghiệp là 0,89%, giảm 0,10 điểm phần trăm so với cùng kỳ (năm 2025 là 0,99%); Tỷ trọng lao động thất nghiệp ở khu vực thành thị chiếm 34,4% trong tổng số người thất nghiệp toàn tỉnh. 2. Đời sống dân cư và an sinh xã hội: a. Đời sống dân cư: Trong 6 tháng đầu năm 2026, mặc dù tình hình kinh tế, chính trị thế giới còn nhiều biến động, trong nước sau khi sáp, xây dựng chính quyền địa phương hai cấp, đời sống dân cư trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp cơ bản ổn định. Hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp tiếp tục được duy trì, góp phần bảo đảm việc làm và thu nhập cho người lao động. Các chính sách an sinh xã hội tiếp tục được triển khai hiệu quả. Tỉnh đã cấp miễn phí 1.079 ngàn thẻ bảo hiểm y tế. Chính sách giảm thuế giá trị gia tăng từ 10% xuống 8% tiếp tục góp phần giảm chi phí tiêu dùng, hỗ trợ sản xuất kinh doanh và ổn định đời sống người dân. Đồng thời, tỉnh triển khai chương trình khám sức khỏe định kỳ, khám sức khỏe toàn dân, khám sàng lọc miễn phí cho người dân theo lộ trình giai đoạn 2026-2030, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe và giảm gánh nặng chi phí y tế. b. An sinh xã hội: Chính sách an sinh xã hội tiếp tục được thực hiện tốt, tạo điều kiện cho xã hội được phát triển bền vững trong 6 tháng đầu năm 2026. Đặc biệt, dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026, tỉnh đã triển khai đồng loạt các hoạt động chăm lo đời sống người có công, hộ nghèo, người cao tuổi, gia đình chính sách với quy mô rộng khắp: - Trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026, các cấp, các ngành trong tỉnh đã tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho trên 127.837 lượt người có công với cách mạng và gia đình chính sách, với tổng kinh phí trên 53 tỷ đồng; trong đó quà của Chủ tịch nước 55.179 suất, trị giá trên 16,9 tỷ đồng, ngân sách xã, phường trên 36,5 tỷ đồng. - Tỉnh thành lập 15 đoàn do các đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy làm trưởng đoàn đến thăm, chúc Tết và tặng quà 50 hộ gia đình chính sách tiêu biểu, hoàn cảnh khó khăn, với tổng kinh phí 150 triệu đồng từ nguồn bảo đảm xã hội. 3. Hoạt động giáo dục: Trong 6 tháng đầu năm 2026, công tác giáo dục và đào tạo trên địa bàn tỉnh tiếp tục được triển khai nghiêm túc, hiệu quả, bám sát kế hoạch năm học Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026, đã diễn ra từ ngày 10 đến 13/6/2026, tỉnh Đồng Tháp có 37.138 thí sinh đăng ký dự thi, gồm 32.052 thí sinh THPT, 3.636 thí sinh giáo dục thường xuyên và 1.450 thí sinh tự do. Toàn tỉnh bố trí 71 điểm thi với 1.580 phòng thi. 4. Hoạt động y tế: Sáu tháng đầu năm 2026, có 23/44 bệnh truyền nhiễm được ghi nhận. tăng 15 bệnh so với cùng kỳ; giảm 09 bệnh; 20 bệnh tương đương hoặc không xảy ra ca mắc. Đặc biệt các bệnh truyền nhiễm tăng cao trong 6 tháng đầu năm như: bệnh sốt xuất huyết 3.587 ca mắc, tăng 177,4% so cùng kỳ, 01 ca tử vong; bệnh tay - chân - miệng 2.663 ca, tăng 71,3%, 01 ca tử vong. Phòng chống HIV/AIDS trên địa bàn tỉnh tính đến nay là 16.164 người nhiễm HIV; 5.051 người chuyển sang AIDS; 3.931 người tử vong do AIDS. Khám chữa bệnh trong 6 tháng đầu năm 2026 trên 3,2 triệu lượt người, giảm 9,1% so cùng kỳ; trong đó, số người điều trị nội trú trên 200 nghìn lượt người, giảm 1,3%. Đến nay, toàn tỉnh xảy ra 06 vụ ngộ độc thực phẩm với trên 530 người mắc, làm tử vong 03 người, trong đó có 01 vụ ngộ độc trên 300 người. 5. Hoạt động văn hóa - thể thao: Hoạt động văn hóa - thể thao trên địa bàn tỉnh trong 6 tháng đầu năm 2026 thực hiện theo kế hoạch và đạt được nhiều điểm nổi bật. 6. Tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội (theo báo cáo của ngành Công an): Tình hình trật tự xã hội trên địa bàn tỉnh trong 6 tháng đầu năm 2026 cơ bản được đảm bảo. Điều tra khám phá 1.197 vụ (đạt 94,4%); phát hiện, xử lý 365 tụ điểm với 2.116 đối tượng tổ chức đánh bạc và đánh bạc, 04 vụ với 18 đối tượng mại dâm và môi giới mại dâm. Tội phạm và vi phạm pháp luật về ma túy trong 6 tháng đầu năm: phát hiện, xử lý 469 vụ với 668 đối tượng; trong đó, vận chuyển trái phép chất ma túy 02 vụ với 03 đối tượng, mua bán trái phép chất ma túy 20 vụ với 37 đối tượng, tàng trữ trái phép chất ma túy 130 vụ với 151 đối tượng; tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy 71 vụ với 228 đối tượng, sử dụng trái phép chất ma túy 246 vụ với 249 đối tượng. 7. Trật tự an toàn giao thông (theo báo cáo ngành công an tỉnh, số liệu tính từ ngày 15/12/2025 đến 14/6/2026): Tai nạn giao thông đường bộ: trong tháng, xảy ra 47 vụ, tăng 04 vụ so tháng trước và giảm 03 vụ so cùng kỳ. Hậu quả làm chết 40 người (tăng 04 người so tháng trước, giảm 01 người so cùng kỳ) và 14 người bị thương (tăng 02 người so tháng trước, giảm 04 người so cùng kỳ). Cộng dồn từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh đã xảy ra 279 vụ, giảm 45 vụ so với cùng kỳ; làm chết 230 người (tăng 09 người) và làm bị thương 98 người (giảm 71 người). Các nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông chủ yếu vẫn do ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông như: không đi đúng phần đường, làn đường; không nhường đường, lỗi của người đi bộ, vượt đèn đỏ, thiếu quan sát… Tai nạn giao thông đường thủy: trong tháng không xảy ra. Cộng dồn từ đầu năm đến nay, xảy ra 03 vụ làm chết 02 người, tương đương về số vụ và số người chết so với cùng kỳ. 8. Tình hình cháy nổ, môi trường và thiên tai: Cháy, nổ: trong 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh ghi nhận 23 vụ cháy, tăng 11 vụ so với cùng kỳ; 02 người tử vong (giảm 02 người). Tổng thiệt hại về tài sản ước tính trên 4,3 tỷ đồng. Lĩnh vực môi trường: trong 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 11 vụ vi phạm, giảm 27 vụ so cùng kỳ; đã xử lý 13 vụ, giảm 26 vụ so với cùng kỳ, với tổng số tiền xử phạt trên 1,3 tỷ đồng. Tình hình thiên tai: 6 tháng đầu năm 2026, trên địa bàn tỉnh xảy ra 20 vụ thiên tai gồm mưa lớn kèm giông lốc và sạt lở. Tuy không gây thiệt hại về người nhưng tổng tài sản thiệt hại khá lớn. Sạt lở xảy ra 11 vụ, trong đó có 03 vụ sạt lở sông Tiền và 08 vụ sạt lở nội đồng. Mưa kèm theo giông lốc xảy ra 09 vụ, làm sập 11 căn nhà, tốc mái 171 căn (trong đó có 79 căn tốc mái hoàn toàn), làm 7,3 ha hoa màu thiệt hại với tổng giá trị ước tính khoảng 05 tỷ đồng. III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 6 THÁNG CUỐI NĂM 2026 Để đảm bảo thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026, ngay từ đầu năm, Tỉnh ủy, UBND tỉnh tổ chức triển khai kế hoạch và giao nhiệm vụ cụ thể cho từng ngành, từng địa phương, phấn đấu đạt mức tăng trưởng từ 8 - 8,5%. Trên cơ sở phát huy kết quả đã đạt được và khắc phục những hạn chế khó khăn trong 6 tháng đầu năm. Trong 6 tháng cuối năm 2026 cần thực hiện một số giải pháp trọng tâm như sau:Theo kết quả điều tra xu hướng của 172 doanh nghiệp dự báo sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp quý III/2026 so quý II/2026 như sau: - Xu hướng sản xuất kinh doanh, có 56,98% doanh nghiệp dự báo tình hình sản xuất kinh doanh tốt lên; có 33,14% dự báo giữ ổn định; có 9,88% dự báo tình hình sản xuất kinh doanh khó khăn hơn. - Khối lượng sản xuất, có 56,40% doanh nghiệp dự báo tăng, có 36,63% doanh nghiệp dự báo giữ ổn định, có 6,98% doanh nghiệp dự báo giảm. - Đơn đặt hàng mới, có 48,81% doanh nghiệp dự báo tăng, 39,88% doanh nghiệp giữ nguyên đơn hàng và có 11,31% doanh nghiệp dự báo giảm đơn hàng. - Biến động lao động, có 20,93% doanh nghiệp dự báo tăng, có 75% doanh nghiệp giữ nguyên và có 4,07% doanh nghiệp giảm. Để thực hiện đạt kế hoạch năm 2026 Thống kê Tỉnh đề xuất các giải pháp sau: Tập trung chỉ đạo sản xuất vụ Thu Đông, chuẩn bị điều kiện xuống giống vụ Đông Xuân 2026 - 2027 phù hợp với diễn biến thời tiết, thủy văn, thị trường và khả năng tiêu thụ sản phẩm. Phát triển vùng sản xuất tập trung, cây trồng chủ lực, được cấp mã số vùng trồng (MSVT) gắn truy xuất nguồn gốc đáp ứng xuất khẩu. Tiếp tục đẩy nhanh tiến độ thiết lập và cấp mới MSVT cho các loại cây trồng chủ lực có tiềm năng xuất khẩu của tỉnh; duy trì và giám sát MSVT đã được cấp để đáp ứng nhu cầu xuất khẩu, nâng cao hiệu quả trong liên kết và tiêu thụ sản phẩm nông sản tại các vùng trồng. Tập trung triển khai hiệu quả Nghị quyết số 13-NQ/TU ngày 07/4/2026 của Tỉnh ủy và các kế hoạch của UBND tỉnh về tiếp tục cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh; tăng cường đối thoại, lắng nghe, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh và các dự án đầu tư. Tập trung phát triển các ngành, sản phẩm công nghiệp có lợi thế cạnh tranh, có thị trường tiêu thụ sản phẩm; đẩy mạnh phát triển công nghiệp hỗ trợ nguyên liệu phục vụ sản phẩm thức ăn chăn nuôi, cơ khí, điện tử,...; ngành công nghiệp công nghệ cao, có giá trị gia tăng. Triển khai thực hiện đồng bộ, linh hoạt các chính sách về lãi suất, gói hỗ trợ lãi suất cho vay, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh; tập trung vốn vào các lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên. Tăng cường công tác kết nối ngân hàng - doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi trong vay vốn tín dụng ngân hàng cho doanh nghiệp và người dân. Triển khai hiệu quả các hoạt động xúc tiến thương mại, kết nối cung cầu, tháo gỡ rào cản, tạo thuận lợi cho tiêu thụ và xuất khẩu các sản phẩm nông, lâm nghiệp, thủy sản; đồng thời ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất, nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm để mở rộng thị trường tiêu thụ, thúc đẩy xuất khẩu.Thực hiện có hiệu quả các Chương trình xúc tiến thương mại, thúc đẩy phân phối hàng hóa qua nền tảng số, thương mại điện tử; thúc đẩy kết nối giữa nhà sản xuất và các kênh phân phối hiện đại để mở rộng tiêu thụ sản phẩm nội địa; có các chính sách miễn, giảm, gia hạn thuế, phí, lệ phí và tiền thuê đất… để hỗ trợ người dân, doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh. Sớm phân bổ vốn; đẩy nhanh tiến độ các công trình đang thi công, kịp thời nghiệm thu đưa vào sử dụng các công trình đã hoàn thành để phát huy hiêu quả các công trình. Tăng cường công tác an ninh trật tự, an toàn xã hội, an ninh quốc phòng.
Hội nghị Sơ kết hoạt động Đảng bộ Thống kê tỉnh 6 tháng đầu năm 2026
- 25/06/2026 15:43
Thực hiện Chương trình công tác năm 2026, sáng ngày 25/6/2026, Đảng bộ Thống kê tỉnh Đồng Tháp tổ chức Hội nghị sơ kết hoạt động Đảng bộ Thống kê tỉnh 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026. Đồng chí Trần Thị Mỹ Hạnh, Bí thư Đảng ủy, Trưởng Thống kê tỉnh Đồng Tháp chủ trì Hội nghị.Ảnh: Toàn cảnh Hội nghị Tham dự Hội nghị có các đồng chí trong Ban Chấp hành Đảng bộ, cấp ủy các Chi bộ, cùng toàn thể đảng viên đang sinh hoạt tại các Chi bộ Cơ quan Thống kê tỉnh, các chi bộ thuộc cụm thi đua 61.Ảnh: Đoàn Chủ tịch Trong 6 tháng đầu năm 2026, Đảng ủy Thống kê tỉnh Đồng Tháp đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng theo chương trình, kế hoạch đề ra. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng được quan tâm triển khai thường xuyên; việc học tập, quán triệt các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng được thực hiện nghiêm túc, kịp thời. Công tác tổ chức xây dựng Đảng, kiểm tra, giám sát, dân vận và lãnh đạo các đoàn thể tiếp tục được tăng cường, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng và đảng viên. Đảng ủy đã lãnh đạo cơ quan hoàn thành tốt nhiệm vụ chuyên môn, bảo đảm cung cấp thông tin thống kê phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của cấp ủy, chính quyền địa phương; triển khai hiệu quả các cuộc điều tra thống kê thường xuyên và đột xuất; tích cực đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo trong hoạt động thống kê; chuẩn bị chu đáo các điều kiện phục vụ thực hiện thành công Tổng điều tra kinh tế năm 2026. Bên cạnh những kết quả đạt được, Hội nghị cũng thẳng thắn chỉ ra một số tồn tại, hạn chế cần khắc phục, như chất lượng sinh hoạt chi bộ ở một số thời điểm chưa đồng đều, việc nắm bắt tư tưởng đảng viên có lúc chưa kịp thời,...Ảnh: Các đại biểu tham luận tại Hội nghị Hội nghị cũng đã nghe 02 tham luận và 01 thảo luận của các Chi bộ trực thuộc. Cũng trong Hội nghị, Đảng bộ Thống kê tỉnh đã khen thưởng cho 02 tập thể và 04 cá nhân đã có thành tích trong thực hiện Họp mặt kỷ niệm 80 năm thành lập ngành Thống kê Việt Nam và 50 năm thành lập ngành Thống kê tỉnh Đồng Tháp.Ảnh: Các tập thể và cá nhân được khen thưởng tại Hội nghị Phát biểu kết luận Hội nghị, đồng chí Trần Thị Mỹ Hạnh, Bí thư Đảng ủy, Trưởng Thống kê tỉnh Đồng Tháp ghi nhận và biểu dương những kết quả mà các chi bộ và toàn thể đảng viên đã đạt được trong 6 tháng đầu năm 2026. Đồng chí đề nghị trong thời gian tới, các cấp ủy, chi bộ tiếp tục phát huy tinh thần đoàn kết, trách nhiệm, tập trung thực hiện tốt các nhiệm vụ trọng tâm như: tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng; nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ; thực hiện nghiêm công tác kiểm tra, giám sát; đẩy mạnh chuyển đổi số; hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chuyên môn được giao.Ảnh: Đ/c Trần Thị Mỹ Hạnh, Bí thư Đảng uỷ, Trưởng Thống kê phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị Hội nghị sơ kết công tác xây dựng Đảng 6 tháng đầu năm 2026 là dịp để đánh giá toàn diện kết quả đạt được, nhìn nhận những khó khăn, hạn chế và đề ra các giải pháp thiết thực nhằm hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ công tác Đảng và nhiệm vụ chính trị năm 2026, góp phần xây dựng Đảng bộ Thống kê tỉnh Đồng Tháp ngày càng trong sạch, vững mạnh.N.X.Trường
Chi bộ Thống kê Tổng hợp - Tổ chức, Đảng bộ Thống kê tỉnh Đổng Tháp long trọng tổ chức kết nạp Đảng viên mới
- 23/06/2026 16:29
Bồi dưỡng, kết nạp Đảng viên mới từ quần chúng ưu tú là nhiệm vụ thường xuyên và có ý nghĩa chiến lược trong công tác xây dựng Đảng, nhằm bổ sung sức trẻ, năng lực và nhiệt huyết cho tổ chức. Trong không khí trang nghiêm, chiều ngày 23/6/2026, tại Hội trường Thống kê tỉnh, Chi bộ Thống kê Tổng hợp - Tổ chức trực thuộc Đảng bộ Thống kê tỉnh đã long trọng tổ chức Lễ kết nạp Đảng viên mới. Ảnh: Đ/c Bí thư Chi bộ trao Quyết định cho Đảng viên mới Dưới cờ Tổ quốc, cờ Đảng và chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, đồng chí Nguyễn Tiến Thịnh là Đảng viên mới đã xúc động đọc lời tuyên thệ của người Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Lời thề thiêng liêng vang lên giữa hội trường là lời hứa tuyệt đối trung thành với mục đích lý tưởng cách mạng của Đảng, quyết tâm không ngừng học tập, rèn luyện để xứng đáng là người chiến sĩ tiên phong. Phát biểu giao nhiệm vụ tại buổi lễ, đồng chí Nguyễn Văn Tròn, Bí thư Chi bộ đã chúc mừng, biểu dương những nỗ lực vượt bậc của đồng chí Thịnh, đồng thời căn dặn là Đảng viên mới cần tiếp tục giữ vững phẩm chất đạo đức, tính tiên phong gương mẫu trong thực hiện nhiệm vụ được giao. Chi bộ cũng đã phân công Đảng viên chính thức tiếp tục theo dõi, giúp đỡ Đảng viên dự bị trong thời gian 12 tháng thử thách. Ảnh: Đ/c Bí thư Chi bộ trao Quyết định cho Đảng viên chính thức Cũng tại buổi lễ này Chi bộ Thống kê Tổng hợp - Tổ chức đã trao quyết định Đảng viên chính thức cho đồng chí Nguyễn Thị Hồng Huệ, đã hoàn thành 12 tháng thử thách, đủ điều kiện là Đảng viên chính thức.Một số hình ảnh tại buỗi Lễ N.V.Tròn
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Tháp tháng 05 năm 2026
- 30/05/2026 14:21
Trong tháng, kinh tế - xã hội của tỉnh tiếp tục phát triển, các hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh có nhiều khởi sắc, hầu hết các ngành, lĩnh vực đều tăng so cùng kỳ. Kết quả thực hiện trên các lĩnh vực đạt được như sau:I. SẢN XUẤT NÔNG LÂM NGHIỆP VÀ THỦY SẢN1. Nông nghiệp* Trồng trọt:Cây lương thực có hạt: diện tích gieo trồng cộng dồn từ đầu vụ sản xuất ước đạt 382.843 ha, giảm 12,3% so cùng kỳ; trong đó cây lúa gieo sạ 379.654 ha, giảm 12,4%- Cây lúa:+ Vụ Đông xuân 2025 – 2026: diện tích gieo trồng ước tính 223.450 ha, đạt 98,4% kế hoạch và giảm 2,7% so cùng kỳ, tương ứng giảm 6.229 ha; do chậm tiến độ sản xuất nên khoảng 4.022 ha không gieo sạ vụ Đông Xuân, chuyển đổi sang cây lâu năm 1.594 ha, cây hàng năm khác 533 ha, nuôi trồng thủy sản 55 ha, đất phi nông nghiệp là 25 ha. Lúa Đông xuân 2025-2026 đã thu hoạch 221.080 ha, chiếm 98,9% diện tích gieo trồng của vụ; Năng suất thu hoạch bình quân ước đạt 72,5 tạ/ha, tăng 0,8% so cùng kỳ với sản lượng thu hoạch ước đạt 1.602.830 tấn, giảm 3,0% sản lượng so với cùng kỳ. Cơ cấu giống lúa vụ Đông Xuân 2025 - 2026 tập trung vào các giống chất lượng cao, chịu mặn/phèn tốt, thời gian sinh trưởng ngắn (85-95 ngày) như: OM 18 (chiếm 36,0%); Đài Thơm 8 (chiếm 26,2%); OM 5451 (chiếm 4,2%); Nàng Hoa 9 (chiếm 2,3%); OM 380 (chiếm 1,9%); OM 4900 (chiếm 1,9%); các giống ST 24, ST 25 (chiếm 1,4%); IR50404 (chiếm 6,5%); các giống lúa nếp (chiếm 12,2%), giống lúa khác còn lại chiếm 7,4%.+ Vụ Hè thu 2026: tính đến ngày 20/5, toàn tỉnh gieo sạ được 156.203 ha, đạt 69,0% so với kế hoạch, giảm 36,1% so với cùng kỳ. Lịch xuống giống được triển khai theo từng vùng, đảm bảo né rầy, thích ứng điều kiện thời tiết và nguồn nước như: đối với vùng sản xuất 3 vụ, xuống giống đợt 1 từ ngày 17 đến 24-2-2026, đợt 2 từ ngày 18 đến 25-3-2026 và đợt 3 từ ngày 10 đến 20-5-2026. Đối với vùng sản xuất 2 vụ, xuống giống đợt 1 từ ngày 18 đến 25-3-2026 và đợt 2 từ ngày 17 đến 24-4-2026. Riêng khu vực ven biển xuống giống từ ngày 10 đến 25-5-2026 và chỉ thực hiện khi mùa mưa bắt đầu, đảm bảo nguồn nước ngọt. Năm nay, do tình hình nắng nóng kéo dài nên một số khu vực xuống giống chậm hơn kế hoạch. Do lịch xuống giống khác nhau cho từng khu vực nên tình hình thu hoạch lúa cũng không đồng loạt. Vụ lúa Hè thu đã bắt đầu thu hoạch ở các xã, phường như: phường Hồng Ngự, phường An Bình, xã An Hòa, xã Long Khánh, xã Phương Thịnh, xã Trường Xuân, xã Mỹ Quí, xã Tháp Mười, xã Đốc Binh Kiều, xã Thanh Mỹ và xã Hậu Mỹ với diện tích thu hoạch 24.587 ha; Năng suất thu hoạch ước đạt 65,1 tạ/ha với sản lượng thu hoạch ước đạt 162.520 tấn, giảm 55,9% so với cùng kỳ. Hình 1. Diện tích gieo trồng một số cây hàng năm tính đến 20/5/2026- Cây ngô: diện tích gieo trồng tính đến ngày 20/5/2026 ước đạt 3.189 ha, tăng 14,4% so cùng kỳ, tương ứng tăng 400,3 ha. - Cây rau đậu các loại: diện tích gieo trồng tính đến 20/5/2026 ước đạt 39.827 ha, tăng 0,5% so với cùng kỳ; trong đó rau các loại đạt 39.615 ha, chiếm 99,5% so với tổng diện tích cây rau đạu các loại, tăng 0,4%. *Chăn nuôi: ước tổng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh tại thời điểm 31/5/2026 như sau: đàn trâu 2,1 nghìn con, giảm 27,2%; đàn bò 145,8 nghìn con, giảm 4,4% so cùng kỳ; đàn lợn 426,5 nghìn con, giảm 2,5%; đàn gia cầm 22,4 triệu con, tăng 1,5%. Đàn trâu giảm chủ yếu do hiệu quả kinh tế thấp, thời gian nuôi kéo dài trong khi diện tích chăn thả ngày càng thu hẹp. Đàn bò giảm do hiệu quả chăn nuôi chưa tương xứng với chi phí đầu tư nên người chăn nuôi còn thận trọng trong tái đàn. Đàn lợn giảm do giá thức ăn chăn nuôi duy trì ở mức cao. Đàn gia cầm tăng nhờ dịch bệnh được kiểm soát tốt, nhu cầu tiêu dùng tăng; các cơ sở chăn nuôi chủ động tái đàn gắn với kiểm soát con giống, tiêm phòng và áp dụng mô hình chăn nuôi an toàn sinh học. *Tình hình dịch bệnh trên vật nuôi trong tháng (theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đồng Tháp): + Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: trong tháng xảy ra 03 trường hợp với 38 con lợn bệnh (tổng đàn 134 con) tại 02 xã (xã Tân Hộ Cơ và Bình Ninh). Cộng dồn từ đầu năm đến tháng báo cáo xảy ra 56 trường hợp với số lợn mắc bệnh 967 con (tổng đàn 1.979 con), đã tiêu huỷ 1.822 con với khối lượng tiêu huỷ là 82.349 kg. + Bệnh Lở mồm long móng: trong tháng không phát sinh. Cộng dồn từ đầu năm đến tháng báo cáo xảy ra 03 trường hợp lợn bệnh tại cơ sở giết mổ xã Mỹ Lợi, đã tiêu hủy 09 con lợn trên với khối lượng 1.190 kg. + Bệnh viêm da nổi cục: trong tháng không phát sinh. Cộng dồn từ đầu năm đến tháng báo cáo xảy ra 02 hộ với 03 con bò bệnh (tổng đàn 07 con) tại xã Lương Hòa Lạc. Hình 2. Chăn nuôi tại thời điểm 31/5/2026 2. Lâm nghiệp: Diện tích rừng trồng mới tập trung: trong tháng có 9,0 ha rừng được trồng mới tập trung, giảm 8,2% tương đương giảm 0,8 ha so với cùng kỳ. Cộng dồn đến tháng 5/2026 có 100,4 ha rừng được trồng mới tập trung, giảm 0,5% tương đương giảm 0,5 ha so với cùng kỳ. Cây phân tán: trong tháng, toàn tỉnh thực hiện trồng mới được 37,8 ngàn cây phân tán các loại, tăng 6,0% so cùng kỳ. Cộng dồn đến tháng 5/2026 số lượng cây phân tán ước đạt 145,8 nghìn cây, giảm 3,0%, tương đương giảm 4,5 nghìn cây so với cùng kỳ. Sản lượng gỗ khai thác: trong tháng sản lượng gỗ khai thác ước đạt 13.527 m3; giảm 7,0% so với cùng kỳ. Cộng dồn đến tháng báo cáo ước đạt 61.083 m3 gỗ được khai thác, giảm 3,4% so với cùng kỳ. 3. Thủy hải sản: Tổng diện tích thả nuôi thâm canh trong tháng ước đạt 309 ha, tăng 2,5% so cùng kỳ. Tổng diện tích thả nuôi thâm canh 5 tháng đầu năm 2026 ước đạt 6.621 ha, tăng 2,8% so cùng kỳ, trong đó: cá tra đạt 1.634 ha (tăng 4,0%), tôm sú 2.836 ha (tăng 0,6%), tôm thẻ chân trắng 2.150 ha (tăng 4,8%). Sản lượng thủy sản nuôi và khai thác biển trong tháng ước đạt 98.999 tấn, tổng số sản lượng thủy sản nuôi và khai thác biển từ đầu năm đến tháng báo cáo ước đạt 401.167 tấn, tăng 1,4% so cùng kỳ, bao gồm: - Sản lượng thủy sản nuôi trong tháng ước đạt 88.477 tấn, tăng 4,5% so cùng kỳ. Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, thu hoạch ước đạt 350.252 tấn, tăng 1,3% so cùng kỳ, trong đó: sản lượng cá đạt 317.070 tấn (tăng 1,3%); sản lượng tôm đạt 18.220 tấn (tăng 2,0%);…. Sản lượng nuôi cơ bản ổn định nhờ thời tiết tương đối thuận lợi, dịch bệnh được kiểm soát, năng suất nuôi duy trì ở mức khá. - Sản lượng thủy sản khai thác biển trong tháng ước đạt 10.522 tấn, tăng 3,7% so cùng kỳ. Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, thu hoạch ước đạt 50.915 tấn, tăng 1,8% so cùng kỳ, trong đó: cá đạt 34.289 tấn (tăng 1,0%); tôm đạt 3.629 tấn (tăng 1,7%);…. Sản lượng khai thác biển cơ bản ổn định, nguồn lợi thuỷ sản phong phú, đa dạng. II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP Ước tính chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 5/2026 tăng 4,19% so với tháng trước và tăng 13,43% so với cùng kỳ. Trong đó, ngành khai khoáng tăng tăng 25,24% so với cùng kỳ; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,69% so với cùng kỳ; ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước, điều hoà không khí tăng 15,08% so với cùng kỳ; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý, xử lý rác thải, nước thải giảm 1,54% so với cùng kỳ. Cộng dồn 5 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 11,49% so với cùng kỳ năm trước. Sự tăng trưởng này được dẫn dắt chủ lực bởi ngành công nghiệp chế biến, chế tạo với tốc độ tăng đạt 12,29%, tiếp theo là ngành khai khoáng tăng 12,75%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 3,43%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,15%. Chỉ số sản xuất sản phẩm 5 tháng đầu năm 2026 so cùng kỳ như sau: Có 70/111 sản phẩm có chỉ số sản xuất tăng so cùng kỳ: cát đen tăng 12,7%; phi lê đông lạnh tăng 23,6%; bột mịn, bột thô và bột viên từ cá tăng 41,7%; quả và hạt ướp lạnh tăng 58,1%; gạo đã xát toàn bộ hoặc sơ bộ tăng 8,5%; thức ăn cho gia súc tăng 17,0%; thức ăn cho gia cầm tăng 44,1%; thức ăn cho thủy sản tăng 13,1%; bia đóng lon tăng 22,8%; bộ com lê, quần áo cho người lớn dệt kim hoặc đan móc tăng 1,4%; áo phông, áo may ô và các loại áo lót khác cho người lớn dệt kim hoặc đan móc tăng 87,3%; giày, dép không thấm nước có đế ngoài và mũ bằng cao su hay plastic tăng 33,8%; thuốc và dược phẩm các loại tăng mạnh; bao và túi từ plastic khác tăng 53,1%; ống và ống dẫn bằng đồng tăng 11,8%; điện mặt trời tăng 29,4%;… Có 39/111 sản phẩm có chỉ số sản xuất giảm so cùng kỳ: bia đóng chai giảm 18,5%; thuốc lá có đầu lọc giảm 28,9%; bộ com-lê, quần áo cho người lớn không dệt kim hoặc đan móc giảm 36,3%; túi xách giảm 17,7%; giày, dép các loại giảm từ 0,4% đến 25,7%; thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm giảm 17,8%; nước uống được giảm 0,5%;… Hình 3. Chỉ số sản xuất công nghiệp 5 tháng đầu năm 2026 * Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Trong tháng 5/2026, tình hình tiêu thụ và tồn kho của ngành công nghiệp chế biến chế tạo đều tăng so với cùng kỳ: chỉ số tiêu thụ (CSTT) tăng 2,01% so với tháng trước và tăng 8,37% so cùng kỳ; chỉ số tồn kho (CSTK) tăng 19,89% so với tháng trước và tăng 92,97% so với cùng kỳ; cụ thể như sau: - Các ngành có CSTT tăng, CSTK tăng cao hơn CSTT phản ánh xu hướng nhu cầu tiêu dùng tăng trong thời gian tới, doanh nghiệp gia tăng sản xuất đáp ứng các đơn hàng, tăng hàng tồn kho: sản xuất chế biến thực phẩm (CSTT tăng 13,11%, CSTK tăng 55,47%) nhờ sự phục hồi của các đơn hàng thủy sản và nông sản xuất khẩu; sản xuất đồ uống (CSTT tăng 18,51%, CSTK tăng 95,97%) do tác động tích cực từ yếu tố thời tiết nắng nóng làm sức mua tăng mạnh; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu (CSTT tăng 6,72%, CSTK tăng 55,74%); sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic (CSTT tăng 30,50%, CSTK tăng 30,77%) do Công ty TNHH Lốp Advance Việt Nam đi vào vận hành ổn định. Riêng ngành sản xuất thiết bị điện tăng đột biến (CSTT tăng 298,01%, CSTK tăng 59,42%) chủ yếu do năng lực sản xuất và tiêu thụ tăng cao tại Công ty TNHH Nissei Electric Mỹ Tho. - Các ngành có tình hình sản xuất tốt, tiêu thụ tăng, tồn kho giảm: ngành dệt có sự chuyển biến thuận lợi từ nữa cuối năm trước đến nay (CSTT tăng 2,86% trong khi CSTK giảm mạnh 34,97%); sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất (CSTT tăng 2,59% trong khi CSTK giảm 15,45%). - Các ngành có lượng tiêu thụ giảm, tồn kho tăng so với tháng trước: sản xuất trang phục (CSTT giảm 12,20%, trong khi CSTK tăng 94,44%) và sản xuất da và các sản phẩm có liên quan (CSTT giảm 10,02%, CSTK tăng 11,50%) vì chịu tác động tiêu cực kép từ chi phí đầu vào tăng cùng với rào cản thương mại từ thị trường quốc tế. Ngành sản xuất sản phẩm thuốc lá (CSTT giảm 49,69%, CSTK tăng đến 184,06%) do xu hướng sụt giảm tiêu dùng dài hạn của thị trường; in, sao chép bản ghi các loại (CSTT giảm 13,61%; CSTK tăng 54,31%); sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (CSTT giảm 22,49%; CSTK tăng 39,76%). - Các ngành có CSTT và CSTK đều giảm do tiêu thụ giảm, doanh nghiệp thu hẹp sản xuất: sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy (CSTT giảm 42,73%, CSTK giảm 58,88%); công nghiệp chế biến, chế tạo khác (CSTT giảm 19,82%, CSTK giảm 8,73%). Tính chung 5 tháng đầu năm, chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 9,28% so với cùng kỳ. Trong đó, một số ngành cấp II đóng góp làm tăng chỉ số chung gồm: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 14,98%; dệt tăng 5,01%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 16,05%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 7,94%; sản phẩm từ cao su và plastic tăng 33,89%; sản xuất thiết bị điện tăng 95,90;... * Tình hình thu hút đầu tư và phát triển các khu công nghiệp, khu kinh tế cửa khẩu (KCN, KKTCK): Trong tháng 5/2026, các KCN có 02 dự án đầu tư tư nhân (DDI) mới với vốn đầu tư 108,6 tỷ đồng, có 06 dự án thực hiện điều chỉnh, trong đó điều chỉnh tăng vốn cho 04 lượt dự án với tổng vốn đầu tư tăng thêm là 1,3 nghìn tỷ đồng. Lũy kế đến tháng 5/2026: Các KCN thu hút được 183 dự án (trong đó, có 102 dự án FDI, 81 dự án DDI) với tổng vốn đầu tư là 92,7 nghìn tỷ đồng (trong đó, vốn đầu tư FDI là 3,5 tỷ USD và vốn đầu tư DDI là 13,3 nghìn tỷ đồng); diện tích đất đã cho thuê là 743,6 ha, tỷ lệ lấp đầy 93,0%. Các KKTCK thu hút được 08 dự án DDI, với tổng số vốn đầu tư 198,9 tỷ đồng, diện tích đất 14,2 ha/32,76 ha, tỷ lệ lấp đầy đạt 43,4%. III. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP (Theo báo cáo của Sở Tài Chính)Thành lập mới: trong tháng có 287 doanh nghiệp thành lập mới, giảm 21,4% so với tháng trước; với tổng vốn đăng ký là 1.089 tỷ đồng, giảm 46,2% so với tháng trước. Tính từ đầu năm 2026 đến nay, có 1.468 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 109,4% so với cùng kỳ, đạt 48,9% so với kế hoạch, với tổng vốn đăng ký là 5.678 tỷ đồng, tăng 12,1% so với cùng kỳ.Giải thể, tạm ngừng hoạt động, tái hoạt động: Trong tháng, có 44 doanh nghiệp đã giải thể, giảm 10,2% so với tháng trước; 46 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, giảm 16,4% so với tháng trước; 21 doanh nghiệp hoạt động trở lại, giảm 4,5% so với tháng trước. Tính từ đầu năm đến nay, có 210 doanh nghiệp giải thể, tăng 78,0% so với cùng kỳ; 540 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, tăng 9,8% so với cùng kỳ; 228 doanh nghiệp hoạt động trở lại, bằng 90,1% so với cùng kỳ.IV. ĐẦU TƯ - XÂY DỰNG Tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 5/2026 ước đạt 806 tỷ đồng, tăng 8,4% so với tháng trước và giảm 30,6% so cùng kỳ. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 742 tỷ đồng, tăng 9,0% so tháng trước và giảm 35,5% so cùng kỳ. Tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý 5 tháng đầu năm 2026 ước đạt 3.172 tỷ đồng, bằng 27,9% kế hoạch năm, giảm 30,9% so với cùng kỳ. Trong đó: nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 2.904 tỷ đồng, bằng 28,9% kế hoạch và giảm 36,3% so với cùng kỳ.V. THƯƠNG MẠI - GIÁ CẢ - DỊCH VỤ1. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng: Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trong tháng thực hiện 16.061 tỷ đồng, tăng 2,8% so tháng trước và tăng 14,7% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 11.923 tỷ đồng, tăng 14,3%; lưu trú 62 tỷ đồng, tăng 33%; ăn uống 2.001 tỷ đồng, tăng 14,4%; du lịch lữ hành 28 tỷ đồng, tăng 2,8%; dịch vụ tiêu dùng khác 2.047 tỷ đồng, tăng 17% so cùng kỳ. Năm tháng năm 2026, tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thực hiện 78.780 tỷ đồng, đạt 27,1% kế hoạch, tăng 13,8% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 58.890 tỷ đồng, tăng 14,1%; lưu trú 292 tỷ đồng, tăng 22,4%; ăn uống 9.834 tỷ đồng, tăng 15,1%; du lịch lữ hành 166 tỷ đồng, tăng 29,9%; dịch vụ tiêu dùng khác 9.598 tỷ đồng, tăng 10,5% so cùng kỳ. Hình 4. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng 2. Xuất - Nhập khẩu (Theo báo cáo Sở Công Thương) a. Xuất khẩu: Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng ước thực hiện 855 triệu USD, tăng 0,4% so tháng trước và tăng 3,9% so cùng kỳ. Năm tháng xuất khẩu 4.020 triệu USD, đạt 40,2% kế hoạch, tăng 10% so cùng kỳ. Tình hình xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của tỉnh như sau: - Gạo: sản lượng ước tính 274 ngàn tấn, giảm 8,7% so tháng trước và tăng 31,7% so cùng kỳ; giá trị đạt 125 triệu USD, bằng 86,2% so tháng trước và tăng 14,3% so cùng kỳ. Năm tháng xuất 1.222 ngàn tấn, đạt 52% kế hoạch và tăng 10,9%; giá trị xuất đạt 565 triệu USD, đạt 47,9% kế hoạch và tăng 0,8% so cùng kỳ. - Thuỷ sản chế biến: sản lượng xuất đạt 48 ngàn tấn, tăng 14,3% tháng trước và tăng 1,3% so cùng kỳ; giá trị xuất đạt 115 triệu USD, tăng 15% so tháng trước và tăng 0,9% so cùng kỳ. Năm tháng ước tính sản lượng xuất 201 ngàn tấn, đạt 38,7% kế hoạch và tăng 2,3%; giá trị xuất đạt 493 triệu USD, đạt 41,1% kế hoạch và tăng 3,6% so cùng kỳ. - Hàng rau quả: ước đạt 6,8 ngàn tấn, tăng 8,3% so tháng trước và tăng 14,3% so cùng kỳ; kim ngạch xuất đạt 13 triệu USD, tăng 8,3% so tháng trước và tăng 1,8% so cùng kỳ. Năm tháng xuất 28 ngàn tấn, đạt 23,5% kế hoạch và tăng 26,3%; về trị giá đạt 59 triệu USD, đạt 18,6 kế hoạch tăng 42,5% so cùng kỳ. - Sản phẩm công nghiệp: nhóm hàng công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong xuất khẩu của tỉnh ước tính đến cuối tháng 05/2026: kim loại thường khác và sản phẩm (kể cả đồng) đạt 844 triệu USD, tăng 20,7%; sản phẩm từ chất dẻo 449 triệu USD, tăng 12,4%; giày dép 428 triệu USD, tăng 0,1% so cùng kỳ,… b. Nhập khẩu: Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 05/2026 ước đạt 480 triệu USD, tăng 1,6% so tháng trước và tăng 34,1% so cùng kỳ. Năm tháng, kim ngạch nhập khẩu 2.386 triệu USD, đạt 47,7% kế hoạch, tăng 10,8% so cùng kỳ. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của tỉnh trong tháng 05/2026 như: kim loại thường khác (nguyên liệu đồng) ước đạt 802 triệu USD, tăng 17,7%; nguyên phụ liệu dệt may, da giày, túi xách ước đạt 263 triệu USD, tăng 4,4%; chất dẻo nguyên liêu 129 triệu USD, tăng 27,4%; mặt hàng khác ước đạt 724 triệu USD, giảm 5,5%; sắt thép các loại ước đạt 201 triệu USD, giảm 2,7% so cùng kỳ… 3. Chỉ số giá: Thời tiết trong tháng nắng nóng kéo dài nhu cầu sử dụng điện và nước sinh hoạt của người dân tăng nên giá điện sinh hoạt và nước sinh hoạt tăng. Giá xăng dầu, giá gas điều chỉnh theo giá nhiên liệu thế giới; giá nguyên vật liệu đầu vào tăng là nguyên nhân dẫn đến tăng giá các mặt hàng ăn uống ngoài gia đình và nhiều mặt hàng thiết yếu khác đó cũng là những nguyên nhân chính làm cho chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 5/2026 tăng 0,68% (thành thị tăng 0,53%, nông thôn tăng 0,72%) so tháng 4/2026; tăng 5,57% so cùng kỳ. So với tháng 4/2026, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 10 nhóm tăng: nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,41%; Giao thông tăng 1,1%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,78%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,56%; văn hóa, giải trí và du lịch 0,44%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,30%; thông tin và truyền thông tăng 0,28%; may mặc, mũ nón và giầy dép tăng 0,15%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,06%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,12%. Nhóm Giáo dục có chỉ số ổn định. Nguyên nhân do tác động của một số mặt hàng có chỉ số giá tăng so với tháng trước: - Nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,41%; tác động làm tăng CPI chung 0,26 điểm phần trăm, tác động chủ yếu của một số mặt hàng như: Chỉ số giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,89% do điều chỉnh giá xăng dầu tăng nên chi phí vận chuyển tăng theo làm giá các loại VLXD như xi măng, sắt, thép, cát... có giá tăng so với tháng trước; chỉ số giá dịch vụ sửa chữa nhà tăng 0,02% do nhu cầu xây dựng nhà ở đầu năm tăng; chỉ số giá điện tăng 4,84%; nước sinh hoạt tăng 0,03% so với tháng trước do thời tiết nắng nóng oi bức kéo dài nên nhu cầu sử dụng điện, nước sinh hoạt tăng; giá gas petrolimex bình 12kg tăng 4,95% so tháng trước do điều chỉnh theo giá nhiên liệu thế giới. - Nhóm giao thông tăng 1,10%; tác động làm tăng CPI chung 0,11 điểm phần trăm, giá xăng dầu trong nước điều chỉnh theo giá xăng dầu thế giới. Từ 26/4 đến 25/5/2026 có 4 lần điều chỉnh giá xăng dầu cụ thể như: có 2 lần điều chỉnh tăng vào các ngày 29/4 và 21/5; 2 lần điều chỉnh giảm 7/5 và 14/5; trong đó giá xăng tăng 2,06%, giá dầu diezen giảm 16,44%. - Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,78%, tác động làm tăng CPI chung 0,03 điểm phần trăm, chủ yếu ở các nhóm hàng: rượu các loại tăng 0,32%, bia các loại tăng 1,22%, thuốc hút tăng 0,72% so với tháng trước. - Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,56%; + Chỉ số giá nhóm hàng lương thực tăng 0,43%, góp phần làm CPI chung tăng 0,02 điểm phần trăm. Cụ thể như: giá gạo bán lẻ tăng 0,46%, do chi phí sản xuất tăng, nguồn cung chưa dồi dào nên giá lúa có tăng nhẹ; giá ngô tăng 0,41%; khoai lang tăng 0,06%; sắn tăng 0,43% so với tháng trước. + Chỉ số giá nhóm hàng thực phẩm tăng 0,69%, góp phần làm CPI chung tăng 0,15 điểm phần trăm. Giá thịt lợn tăng 0,46% do nguồn cung giảm cộng thêm chí phí chăn nuôi tăng; thịt chế biến tăng 0,19%, trong đó thịt quay, giò, chả tăng 0,19%, thịt hợp tăng 0,36%,... Giá rau tươi, khô và chế biến tăng 2,86%, do nguồn cung rau, củ, quả giảm (ảnh hưởng của thời tiết nắng nóng kéo dài), chi phí đầu vào như: hạt giống, phân bón, điện... tăng làm chi phí sản xuất tăng cao. Cụ thể như sau: Bắp cải tăng 0,09%, su hào tăng 1,99%, cà chua tăng 17,74%, giá khoai tây tăng 0,20%, rau muống tăng 2,76%, đỗ quả tươi tăng 7,56%; rau dạng quả, củ tăng 1,22%; rau tươi khác tăng 0,92%... Giá thịt gia cầm tăng 0,32%, trong đó thịt gà tăng 0,24%; thịt gia cầm khác tăng 0,42%, thịt gia cầm đông lạnh tăng 0,52%,... do nhu cầu tiêu thụ của người dân tăng. Giá thủy sản tươi sống tăng 0,44%, trong đó nhóm cá tươi hoặc ướp lạnh tăng 0,52%, tôm tươi hoặc ướp lạnh tăng 0,35%, nhóm thủy hải sản chế chiến khác tăng 0,13%. Chỉ số giá quả tươi và chế biến giảm 0,10% do đang vào vụ thu hoạch của nhiều loại trái cây như xoài, nhãn, táo,.... nên giá bán lẻ tại chợ giảm như sau: xoài giảm 5,22%,... + Nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 0,35%, do giá gas và giá xăng dầu điều chỉnh theo giá nhiêu liệu thế giới, giá nguyên liệu đầu vào tăng nên nhóm hàng ăn uống ngoài gia đình tăng theo, ăn ngoài gia đình tăng 0,30%, uống ngoài gia đình tăng 0,35%, đồng ăn nhanh mang đi tăng 0,55%. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 05 tháng năm 2026 tăng 4,09% so với cùng kỳ, Một số chỉ số tăng như: nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,82%, làm CPI chung tăng 1,25 điểm phần trăm do giá nhà ở thuê và giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở đều tăng (chỉ số giá giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 11,90%, chỉ số giá điện sinh hoạt tăng 8,33%); giao thông tăng 5,02%, tác động làm CPI chung tăng 0,50 điểm phần trăm, trong đó giá xăng dầu tăng 8,59%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 4,80%, làm CPI chung tăng 0,28 điểm phần trăm do giá dịch vụ y tế tăng theo Nghị quyết 126/NQ-HĐND ngày 23/12/2025 về quy định giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh trên địa bàn tỉnh; hàng ăn uống và dịch vụ ăn uống tăng 3,71%, tác động làm CPI chung tăng 1,34 điểm phần trăm, trong đó nhóm thực phẩm tăng 4,26%, nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 4,15%, nhóm lương thực tăng 0,79%; giáo dục 3,53%, làm CPI chung tăng 0,15 điểm phần trăm do một số trường đại học, trung học dân lập, mầm non tư thục điều chỉnh học phí;.... chỉ riêng nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,07% tác động không đáng kể đến chỉ số tiêu dùng bình quân chung. Chỉ số giá vàng tháng 5/2026 giảm 3,79% so với tháng 4/2026, tăng 6% so với tháng 12/2025, tăng 60,35% so với bình quân cùng kỳ, tương ứng giảm 602 ngàn đồng/chỉ đối với vàng nhẫn trơn 9999. Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng 5/2026 giảm 0,83% so tháng trước, tương đương giảm 22.195 đồng/100USD và giảm 1,22% so với tháng 12/2025, Bình quân năm tháng tăng 1,65% so cùng kỳ. 4. Vận tải: Tình hình vận tải trên địa bàn tỉnh ổn định, đường bộ và đường thủy đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa và đi lại của người dân. Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trong tháng thực hiện 710 tỷ đồng, tăng 1,6% so tháng trước và tăng 11,3% so cùng kỳ. Năm tháng thực hiện 3.622 tỷ đồng, tăng 15,1% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 1.259 tỷ đồng, tăng 23,1%; doanh thu vận tải hàng hóa thực hiện 1.738 tỷ đồng, tăng 11,4%. Doanh thu vận tải đường bộ thực hiện 1.799 tỷ đồng, tăng 20,9%; doanh thu vận tải đường thủy thực hiện 1.198 tỷ đồng, tăng 9,4%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 357 tỷ đồng, tăng 9,4% so cùng kỳ. Vận tải hành khách trong tháng đạt 6.561 ngàn hành khách, tăng 3,1% so tháng trước và tăng 6,6% so cùng kỳ; luân chuyển 216.561 ngàn hành khách.km, tăng 6,4% so tháng trước và giảm 3,7% so cùng kỳ. Năm tháng, vận chuyển 33.502 ngàn hành khách, tăng 10,5%; luân chuyển 1.337.001 ngàn hành khách.km, tăng 20,7% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 13.059 ngàn hành khách, tăng 22,7% và luân chuyển 1.327.164 ngàn hành khách.km, tăng 20,9%; vận tải đường thủy 20.443 ngàn hành khách, tăng 3,9% và luân chuyển 9.837 ngàn hành khách.km, tăng 2,7%. Vận tải hàng hóa trong tháng đạt 2.504 ngàn tấn, tăng 1,7% so tháng trước và tăng 11% so cùng kỳ; luân chuyển 490.891 ngàn tấn.km, tăng 0,9% so tháng trước và tăng 17,6% so cùng kỳ. Năm tháng, vận tải 13.067 ngàn tấn hàng hóa, tăng 16,9%; luân chuyển 2.403.462 ngàn tấn.km, tăng 16,8% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 2.443 ngàn tấn, giảm 1,5% và luân chuyển 414.476 ngàn tấn.km, tăng 9,1% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 10.624 ngàn tấn, tăng 22,2% và luân chuyển 1.988.986 ngàn tấn.km, tăng 18,5% so cùng kỳ. Trong tháng đăng ký mới 10.738 chiếc mô tô xe máy và 1.039 chiếc xe ô tô. Tổng số xe đang quản lý trên địa bàn tỉnh là 3.530.489 chiếc, trong đó mô tô xe máy: 3.524.273 chiếc; 113.748 xe ô tô, 169 xe ba bánh, 666 xe đạp điện và 3.372 xe khác. 5. Bưu chính viễn thông: Ngành bưu chính viễn thông đang phát triển mạnh mẽ theo hướng hiện đại hóa, số hóa và tích hợp sâu rộng. Hạ tầng thông tin được nâng cấp, cung cấp các dịch vụ bưu chính số và viễn thông tốc độ cao, đóng vai trò nền tảng cho kinh tế số và xã hội số. Đến cuối tháng 05 năm 2026 tổng số thuê bao điện thoại có trên mạng là 3.629 ngàn thuê bao, thuê bao điện thoại bình quân đạt 106,6 thuê bao/100 dân (bao gồm: hữu tuyến, vô tuyến, trả trước, trả sau). Số thuê bao điện thoại di động có sử dụng Internet (3G, 4G) đến cuối tháng 5 là: 2.905 ngàn thuê bao. Thuê bao internet có trên mạng là 3.723 ngàn thuê bao, mật độ Internet bình quân ước đạt 109,37 thuê bao/100 dân. VI. TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG 1. Tài chính: Tổng thu ngân sách nhà nước trong tháng thực hiện 2.941 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn 2.060 tỷ đồng, thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 281 tỷ đồng. Năm tháng, thu 30.468 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn thực hiện 12.254 tỷ đồng, đạt 51,5% dự toán và tăng 7,8% so cùng kỳ; thu nội địa 11.816 tỷ đồng, đạt 50,9% dự toán, tăng 7,5% so cùng kỳ (trong thu ngân sách trên địa bàn: thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 1960 tỷ đồng, đạt 50,9% dự toán, tăng 7,5% so cùng kỳ; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 3.223 tỷ đồng, đạt 67,1% dự toán, tăng 34,5% so cùng kỳ, thu từ hoạt động xổ số kiến thiết 2.868 tỷ đồng, đạt 61,9% dự toán, tăng 19,6% so cùng kỳ...). Tổng chi ngân sách nhà nước trong tháng 2.855 tỷ đồng; trong đó: chi đầu tư phát triển 728 tỷ đồng. Năm tháng, chi 15.304 đồng, đạt 38,1% dự toán, bằng 87.6% so cùng kỳ; trong đó: chi đầu tư phát triển 1.637 tỷ đồng, đạt 18,8% dự toán, bằng 30,9% so cùng kỳ; chi hành chính sự nghiệp 8.651 tỷ đồng, đạt 38,4% dự toán và bằng 91,4% so cùng kỳ. 2. Ngân hàng: Mặt bằng lãi suất trên địa bàn tỉnh ổn định tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn vay với chi phí hợp lý. Lãi suất huy động: đến cuối tháng 4/2026, đối với tiền gửi bằng VND có kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng dao động từ 1,85%-8,9%/năm đối với khách hàng cá nhân; từ 2,5%-8,6%/năm đối với khách hàng pháp nhân; tiền gửi trên 12 tháng: dao động từ 2,9%-8,9%/năm đối với khách hàng cá nhân, từ 2,5%-8,2%/năm đối với khách hàng pháp nhân. Lãi suất cho vay: Các tổ chức tín dụng trên địa bàn chấp hành nghiêm mức trần lãi suất cho vay ngắn hạn đối với các lĩnh vực ưu tiên theo quy định của ngân hàng nhà nước. Đến cuối tháng 4/2026 lãi suất cho vay bình quân bằng VND trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp là 8,79%/năm, tăng 1,03%/năm so với cuối năm 2025. Đến cuối tháng 4/2026, vốn huy động ước đạt 215 ngàn tỷ, tăng 7 ngàn tỷ và tăng 3,36% so với cuối năm 2025, tổng dư nợ cho vay của các TCTD trong tỉnh ước đạt 249 ngàn tỷ, tăng 5 ngàn tỷ đồng và tăng 2,24% so với cuối năm 2025. Dự tính đến cuối tháng 5/2026 vốn huy động đạt 217 ngàn tỷ tăng 4,40%; dư nợ cho vay đạt 251 ngàn tỷ tăng 3,26% so với cuối năm 2025. Nợ xấu: đến cuối tháng 04/2026 tỷ lệ nợ xấu/Tổng dư nợ (không bao gồm nợ xấu của các ngân hàng thương mại bị kiểm soát đặc biệt) chiếm 2,5%, giảm 0,01% so cuối năm 2025. Ước thực hiện tháng 05/2026 tỷ lệ nợ xấu/Tổng dư nợ nhỏ hơn 3%. Quỹ tín dụng nhân dân: Đến cuối tháng 4/2026 tổng nguồn vốn huy động 2.778 tỷ đồng, giảm 80 tỷ đồng và giảm 2,80% so với cuối năm 2025. Dư nợ 2.300 tỷ đồng, giảm 39 tỷ đồng, tương đương giảm 1,67% so với cuối năm 2025. Tỷ lệ nợ xấu là 1%. VII. KHOA HỌC CÔNG NGHỆ Trong tháng Hội đồng khoa học và công nghệ thực hiện nhiệm vụ tuyển chọn, xét duyệt, thẩm định, đánh giá, nghiệm thu các nhiệm vụ khoa học và công nghệ theo quy định. Tiếp tục quy trình xây dựng Quyết định phân cấp thẩm quyền quản lý nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo sử dụng ngân sách nhà nước, tạo thuận lợi trong công tác quản lý. Họp Hội đồng tư vấn tuyển chọn thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh: 05 nhiệm vụ; lũy kế 17 nhiệm vụ. Thẩm định dự toán kinh phí thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ: 04 nhiệm vụ cấp tỉnh. Hội đồng khoa học và công nghệ chuyên ngành đánh giá, nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ: 01 nhiệm vụ cấp tỉnh, lũy kế: 07 nhiệm vụ cấp tỉnh và 03 nhiệm vụ cấp cơ sở. Góp ý về công nghệ dự án đầu tư: 06 dự án, luỹ kế 31 dự án; Tư vấn 02 hồ sơ thành lập doanh nghiệp khoa học và công nghệ. VIII. CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Lao động việc làm: Trong tháng, đã giải quyết việc làm cho 6.177 lao động; tổng số lao động được giải quyết việc làm từ đầu năm đến nay là 23.517 lao động đạt 47% so với kế hoạch. Tổ chức 12 phiên giao dịch việc làm, ngày hội việc làm và buổi tư vấn cho người lao động thất nghiệp, người đang hưởng bảo hiểm thất nghiệp để kết nối doanh nghiệp đang có nhu cầu tuyển dụng; tổng số phiên từ đầu năm đến nay là 50 phiên, có 99 đơn vị, doanh nghiệp tham gia trực tiếp và trực tuyến, thu hút hơn 22.209 lao động tham dự. Lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài trong tháng là 206 lao động. Tổng số lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài từ đầu năm đến nay là 1.518 lao động, đạt 63,3% kế hoạch, trong đó Hàn Quốc: 779 lao động, Nhật Bản: 559 lao động, Đài Loan: 124 lao động,.... Về trợ cấp thất nghiệp, từ đầu năm đến nay có 9.862 lao động được giải quyết chế độ trợ cấp thất nghiệp, với tổng kinh phí chi trả khoảng 227,4 tỷ đồng, góp phần hỗ trợ kịp thời đời sống, giúp người lao động ổn định trong giai đoạn tìm kiếm việc làm mới. 2. Chính sách xã hội: Trong tháng, các chế độ ưu đãi đối với người có công được thực hiện đầy đủ, kịp thời. Cụ thể: trợ cấp 1 lần cho người thờ cúng liệt sĩ và chuyển đổi người thờ cúng liệt sĩ, số lượng 28 trường hợp; giải quyết trợ cấp tuất 02 trường hợp; trợ cấp mai táng phí và trợ cấp 01 lần 03 tháng trợ cấp: 72 trường hợp;... Ngoài ra, tổ chức đưa 40 Cựu chiến binh đi tham quan nhà tù Phú Quốc và tổ chức đưa 30 Cựu chiến binh đi tham quan nhà tù Côn Đảo. 3. Hoạt động giáo dục: Trong tháng, ngành Giáo dục tiếp tục triển khai đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ giáo dục, bám sát kế hoạch năm học với nhiều hoạt động chuyên môn nổi bật, đặc biệt là công tác chuẩn bị và tổ chức kỳ thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh lớp 10 năm học 2026 – 2027. Kỳ thi tuyển sinh lớp 10 năm học 2026 – 2027 có trên 44,3 nghìn thí sinh đăng ký dự thi, được tổ chức tại 76 Hội đồng coi thi với 1.890 phòng thi, trong đó có 11 điểm thi phụ. Kỳ thi diễn ra trong 2 ngày 27 và 28/5/2026. Đối với các môn không chuyên, thí sinh dự thi 3 môn gồm Ngữ văn, Tiếng Anh và Toán; trong đó môn Tiếng Anh và Toán thi theo hình thức trắc nghiệm khách quan. Công tác chuẩn bị cho kỳ thi được triển khai nghiêm túc, chặt chẽ từ khâu cơ sở vật chất, nhân sự coi thi đến đảm bảo an ninh, an toàn, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho thí sinh tham gia dự thi. 4. Hoạt động y tế: Trong tháng có 17/44 bệnh truyền nhiễm được ghi nhận. Cộng dồn số ca mắc so với cùng kỳ, có 15 bệnh tăng (Bệnh do liên cầu lợn ở người, Rubella, Sốt xuất huyết Dengue, Tay - chân - miệng, Viêm màng não do não mô cầu, Dại, Liệt mềm cấp nghi bại liệt, Lao phổi, Thương hàn, Uốn ván khác, Viêm gan vi rút A, Viêm gan vi rút B, Xoắn khuẩn vàng da, Quai bị, Thủy đậu); 7 bệnh giảm (Sởi, Viêm gan vi rút C, Viêm não vi rút khác, Cúm, Lỵ trực trùng, Tiêu chảy, Viêm gan vi rút khác); 22 bệnh tương đương hoặc không xảy ra ca mắc. Các bệnh truyền nhiễm trong tháng ghi nhận: bệnh sốt xuất huyết 925 ca mắc, không có ca tử vong; bệnh tay - chân - miệng 720 ca, không có ca tử vong. Cộng dồn số ca mắc bệnh sốt xuất huyết: 2.996 ca, tăng 1,96 lần so cùng kỳ, 01 ca tử vong (cùng kỳ không có ca tử vong); bệnh tay – chân – miệng: 1.949 ca, tăng 1,24 lần so cùng kỳ. Phòng chống HIV/AIDS trên địa bàn tỉnh tính đến nay là 16.117 người nhiễm HIV; 5.051 người chuyển sang AIDS; 3.928 người tử vong do AIDS. Khám chữa bệnh trong tháng cho 628 nghìn lượt người, giảm 9,9% so cùng kỳ; trong đó, số người điều trị nội trú là 43,4 nghìn lượt người, tăng 3,1%. Cộng dồn từ đầu năm đến tháng báo cáo, đã khám chữa bệnh trên 2,5 triệu lượt người, giảm 10,9%; trong đó, số người điều trị nội trú là 159 nghìn lượt người, giảm 2,3%. Công suất sử dụng giường bệnh bình quân trong tháng đạt 83,9%. 5. Hoạt động văn hóa - thể thao: Hoạt động văn hóa nghệ thuật: trong tháng, tổ chức biểu diễn 04 chương trình nghệ thuật phục vụ khoảng 1.600 lượt người xem. Tiêu biểu như chương trình nghệ thuật chào mừng Kỷ niệm 50 năm thành lập Trại giam Phước Hòa năm 2026; chương trình nghệ thuật phục vụ Lễ Giỗ Quốc Tổ Hùng Vương tại Bảo tàng tỉnh; chương trình nghệ thuật phục vụ Kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026) tại Quảng trường Hùng Vương. Hoạt động thư viện: trong tháng, hệ thống thư viện đã phục vụ 73.659 lượt người với 229.395 lượt tài liệu; trong đó phục vụ tại chỗ đạt 53.752 lượt người với 169.674 lượt tài liệu, phục vụ lưu động đạt 19.907 lượt người với 59.721 lượt tài liệu; số lượt truy cập phục vụ qua không gian mạng đạt 493.647 lượt. Hoạt động bảo tàng: trong tháng, tổ chức trưng bày các chuyên đề “Mỹ Tho - Cao Lãnh xưa và nay”, “Sưu tập Đèn dầu (cuối thế kỷ XIX - thế kỷ XX)” phục vụ Kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh; đồng thời tổ chức triển lãm ảnh “Đồng Tháp - Vẻ đẹp di sản” phục vụ Lễ hội vía Bà Chúa Xứ Gò Tháp. Các hoạt động tham quan, trưng bày đã phục vụ 2.875 lượt khách, gồm 25 đoàn khách và 04 lượt khách quốc tế. Hoạt động thể dục, thể thao: Trong tháng, tỉnh phối hợp tổ chức Cuộc đua xe đạp toàn quốc tranh Cúp Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ 38 năm 2026 với các chặng đi qua địa bàn tỉnh; đồng thời phối hợp Hiệp hội Thể thao dưới nước Việt Nam xây dựng kế hoạch tổ chức Giải Bơi và Giải Lặn vô địch các nhóm tuổi quốc gia năm 2026, dự kiến diễn ra từ ngày 20 - 30/5/2026. Công tác đào tạo vận động viên thể thao thành tích cao tiếp tục được duy trì ở 26 môn thể thao. Trong tháng, các đội tuyển thể thao của tỉnh tham dự nhiều giải đấu khu vực, quốc gia và quốc tế, kết quả đạt 119 huy chương các loại, gồm 26 huy chương vàng, 44 huy chương bạc và 49 huy chương đồng. 6. Tình hình trật tự an toàn xã hội (theo báo cáo ngành Công an): Trong tháng xảy ra 116 vụ phạm tội về trật tự xã hội, tăng 11,5% vụ so cùng kỳ; Hậu quả là 03 người chết, 45 người bị thương, tài sản thiệt hại khoảng 8,1 tỷ đồng; Cơ quan chức năng đã điều tra, khám phá 108 vụ (đạt tỷ lệ 93,1%), bắt giữ và xử lý 205 đối tượng. Về tội phạm ma túy trong tháng, lực lượng chức năng đã phát hiện và xử lý 76 vụ với 99 đối tượng; trong đó, tàng trữ trái phép chất ma túy 26 vụ với 30 đối tượng; vận chuyển trái phép chất ma túy 01 vụ với 01 đối tượng; mua bán trái phép chất ma túy 04 vụ với 07 đối tượng; tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy 09 vụ với 25 đối tượng; sử dụng trái phép chất ma túy 36 vụ với 36 đối tượng. 7. Trật tự an toàn giao thông (theo báo cáo ngành công an tỉnh, số liệu tính từ ngày 15/4/2026 đến 14/5/2026): Tai nạn giao thông đường bộ: trong tháng, xảy ra 42 vụ, giảm 03 vụ so tháng trước và giảm 07 vụ so cùng kỳ. Hậu quả làm chết 35 người (giảm 07 người so tháng trước, giảm 02 người so cùng kỳ) và 12 người bị thương (tương đương so tháng trước, giảm 05 người so cùng kỳ). Cộng dồn từ đầu năm đến tháng báo cáo, toàn tỉnh đã xảy ra 232 vụ, giảm 44 vụ so với cùng kỳ; làm chết 188 người (tăng 06 người) và làm bị thương 85 người (giảm 66 người). Các nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông chủ yếu vẫn do ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông như: Không đi đúng phần đường, làn đường; chuyển hướng, tốc độ, vượt xe khác, thiếu quan sát… Tai nạn giao thông đường thủy: trong tháng xảy ra 01 vụ tai nạn giao thông. Cộng dồn từ đầu năm đến nay là 03 vụ làm chết 02 người, tương đương về số vụ và số người chết so với cùng kỳ. 8. Tình hình cháy nổ, môi trường và thiên tai: - Cháy, nổ: trong tháng, xảy ra 03 vụ cháy, tăng 01 vụ so cùng kỳ; thiệt hại về tài sản khoảng 685 triệu đồng. Cộng dồn từ đầu năm đến nay xảy ra 22 vụ cháy, tăng 13 vụ so cùng kỳ; làm 02 người tử vong; thiệt hại tài sản 4,2 tỷ đồng. - Môi trường: trong tháng, 02 vụ vi phạm môi trường (gồm: 01 vụ xả nước thải ra môi trường, 01 vụ khai thác tài nguyên đất trái phép), đã xử lý 02 vụ, tổng số tiền xử phạt là 93,75 triệu đồng. Tính từ đầu năm, xảy ra 06 vụ vi phạm môi trường, giảm 15 vụ so cùng kỳ; đã xử lý 08 vụ với tổng số tiền xử phạt là 912,3 triệu đồng. - Thiên tai: trong tháng trên địa bàn tỉnh xảy ra 03 vụ giông lốc tại các xã Thanh Bình, Trường Xuân, Long Phú Thuận, Tân Long, Ba Sao và Long Định; không gây thiệt hại về người, không ảnh hưởng đến sản xuất, chăn nuôi, nhưng gây thiệt hại về tài sản với tổng giá trị thiệt hại ước tính 1,6 tỷ đồng, cụ thể: sập 06 căn nhà, tốc mái 91 căn; làm gãy, ngã 07 trụ điện cùng nhiều cây xanh trên các tuyến đường chính bị đổ ngã; làm ảnh hưởng khu nhà màng, mái chòi canh và khoảng 200 cây chuối cấy mô của Viện Cây ăn quả Miền Nam.
Thống kê tỉnh Đồng Tháp tổ chức họp mặt kỷ niệm 50 năm ngày thành lập ngành
- 28/05/2026 09:44
Trong không khí cả nước tổ chức các hoạt động kỷ niệm 80 năm ngày thành lập ngành Thống kê Việt Nam (06/5/2076 - 06/5/2026); sáng ngày 28/5/2026 Thống kê tỉnh Đồng Tháp tổ chức họp mặt kỷ niệm 50 năm thành lập ngành Thống kê tỉnh Đồng Tháp (28/5/1976-28/5/2026).Ảnh: Toàn cảnh Hội nghị Tham dự buổi họp mặt có các đồng chí lãnh đạo Thống kê tỉnh Đồng Tháp; các đồng chí nguyên lãnh đạo ngành Thống kê tỉnh Đồng Tháp, Tiền Giang qua các thời kỳ; lãnh đạo các phòng chuyên môn, Thống kê cơ sở cùng toàn thể công chức, người lao động ngành Thống kê tỉnh Đồng Tháp. Ảnh: Lãnh đạo ngành qua các thời kỳ, chụp ảnh lưu niệm Tại buổi họp mặt, các đại biểu đã cùng xem lại những hình ảnh, tư liệu về chặng đường 50 năm hình thành và phát triển của ngành Thống kê tỉnh Đồng Tháp. Thay mặt lãnh đạo Thống kê tỉnh, đồng chí Trần Thị Mỹ Hạnh báo cáo tóm tắt quá trình hình thành và phát triển Ngành Thống kê tỉnh Đồng Tháp. Ảnh: Đồng chí Trần Thị Mỹ Hạnh, Trưởng Thống kê tỉnh báo cáo tại buổi họp mặt Ngày 28-5-1976 được xác định là Ngày thành lập ngành Thống kê tỉnh Tiền Giang. Đối với tỉnh Đồng Tháp cũ, sau ngày đất nước thống nhất, bộ máy thống kê ban đầu trực thuộc Ban Kinh tế tỉnh; đến tháng 4-1976, Chi cục Thống kê tỉnh Đồng Tháp được thành lập với 6 phòng chuyên môn và 6 phòng thống kê cấp huyện. Trải qua nhiều giai đoạn thay đổi mô hình tổ chức, tên gọi và cơ cấu bộ máy, ngành Thống kê tỉnh Đồng Tháp từng bước được củng cố, kiện toàn, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước và phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ. Đặc biệt, từ năm 1994, hệ thống thống kê được tổ chức trở lại theo ngành dọc từ Trung ương đến địa phương, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả hoạt động chuyên môn. Ảnh: Tập thể cán bộ, công chức chụp ảnh lưu niệm Trong 50 năm qua, Thống kê tỉnh Đồng Tháp đã không ngừng đổi mới phương pháp thu thập, xử lý và phân tích số liệu; từng bước hiện đại hóa hoạt động thống kê, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số. Từ năm 2019, toàn bộ các cuộc điều tra thống kê được thực hiện bằng bảng hỏi điện tử trên thiết bị thông minh, góp phần rút ngắn thời gian xử lý và nâng cao chất lượng dữ liệu. Thông tin thống kê ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của các cấp ủy, chính quyền; phục vụ hiệu quả công tác hoạch định chính sách, xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu khai thác thông tin của tổ chức, cá nhân. Trong buổi họp mặt đồng chí Đinh Việt Cường nguyên Cục trưởng Cục Thống kê tỉnh Đồng Tháp đã chia sẽ những kỷ niệm trong giai đoạn đầu khi mới thành lập ngành Thống kê Đồng Tháp. Đồng chí cũng chia sẽ những khó khăn hiện nay của ngành Thống kê trong giai đoạn mới sáp nhập hai tỉnh và kêu gọi cán bộ công chức, người lao động ngành Thống kê tỉnh Đồng Tháp đoàn kết, đồng lòng, quyết tâm thực hiện tốt nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao.Ảnh: Đồng chí Đinh Việt Cường nguyên Cục trưởng Cục Thống kê tỉnh Đồng Tháp phát biểu trong buổi họp mặt Quá trình xây dựng và phát triển, ngành Thống kê tỉnh Đồng Tháp trong 50 năm qua đã đạt được những thành tích quan trọng, được Đảng, Nhà nước ghi nhận và xã hội tôn vinh. Nhiều tập thể, công chức, người lao động đã được tặng thưởng nhiều bằng khen của UBND tỉnh, Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài Chính, của Chính phủ, Huân chương các loại. Cục Thống kê tỉnh Đồng Tháp vinh dự được tặng Huân chương lao động hạng ba vào năm 2001; Cục Thống kê tỉnh Tiền Giang được tặng Huân chương Độc lập hạng nhì vào năm 2014. Phát biểu tại buổi họp mặt, đồng chí Trần Thị Mỹ Hạnh, Trưởng Thống kê tỉnh Đồng Tháp gửi lời tri ân đến các thế hệ lãnh đạo, công chức, người lao động ngành Thống kê qua các thời kỳ đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển của ngành. Đồng thời khẳng định, tập thể cán bộ, công chức ngành Thống kê sẽ tiếp tục phát huy truyền thống, nâng cao trình độ chuyên môn, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới. Sau phần họp mặt, các đại biểu, công chức và người lao động tham gia các trò chơi dân gian như: Nhảy bao bố, bịt mắt đập lon, kéo co trong không khí vui tươi, đoàn kết. N.V.TrònMột số hình ảnh tổ chức các hoạt động tại buổi họp mặt