0273.3 872582 | dongthap@nso.gov.vn
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Tháp năm 2025
  •   02/01/2026 09:08

Cả nước nói chung, Đồng Tháp nói riêng bước vào thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2025, trong điều kiện tình hình kinh tế - chính trị thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường,… Bên cạnh đó thiên tai, bão lũ,… diễn biến phức tạp làm ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp và người dân. Trong năm Đảng bộ, chính quyền các cấp trên địa bàn tỉnh cùng với cả nước tập trung sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống chính trị theo Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban chấp hành Trung ương khóa XII; sắp xếp tổ chức bộ máy đơn vị hành chính và tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp hoạt động hiệu lực, hiệu quả; lãnh đạo đại hội Đảng cấp tỉnh cấp xã, phường đồng thời xây dựng kế hoạch, chương trình hành động, đưa ra các giải pháp cụ thể phấn đấu thực hiện hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra trong năm 2025. I. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊU KINH TẾ 1. Tăng trưởng kinh tế Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) năm 2025 ước đạt 147.216 tỷ đồng (giá so sánh 2010), tăng 7,38% so với cùng kỳ năm trước (sơ bộ năm 2024 tăng 6,75%); tăng trưởng quý sau cao hơn quý trước: quý I tăng 6,76%, quý II tăng 7,30%, quý III tăng 7,23% và quý IV tăng 8,20%, xếp hạng thứ 2/5 tỉnh khu vực vùng đồng bằng sông Cửu Long (sau tỉnh An Giang) và hạng 23 cả nước. Phân theo khu vực kinh tế: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 5,01% (cùng kỳ tăng 4,12%); khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,99% (cùng kỳ tăng 9,65%), khu vực dịch vụ bao gồm thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 6,95% (cùng kỳ tăng 7,16%), nếu tách riêng thuế sản phẩm thì khu vực dịch vụ tăng 7,26% (cùng kỳ tăng 7,33%), thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 5,15% (cùng kỳ tăng 6,18%). So với cùng kỳ năm 2024 tốc độ tăng trưởng năm 2025 tăng cao hơn 0,63%. Trong 7,38% tăng trưởng, khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản đóng góp 1,70%, khu vực công nghiệp và xây dựng đóng góp 2,97%, khu vực dịch vụ đóng góp 2,41% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đóng góp 0,3%. GRDP tính theo giá hiện hành năm 2025 đạt: 286.053 tỷ đồng, tăng 9,59% so cùng kỳ (tương đương tăng 25.023 tỷ đồng); xét về qui mô GRDP của Đồng Tháp chiếm tỷ trọng 21,4%, đứng thứ 3/5 trong các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. GRDP bình quân đầu người đạt 84,04 triệu đồng/người/năm, tăng 7,2 triệu đồng/người/năm so năm 2024, xếp thứ 2/5 trong tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Tính theo tỷ giá USD, GRDP bình quân đầu người năm 2025 đạt 3.186 USD/người/năm, tăng 4,42%, tương đương tăng 135 USD so năm 2024 (năm 2024 đạt 3.051 USD/người/năm). Cơ cấu kinh tế: chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng nông lâm nghiệp và thuỷ sản, tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ; Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 34,60% (cùng kỳ 36,27%); khu vực công nghiệp, xây dựng chiếm 25,48% (cùng kỳ 24,12%); khu vực dịch vụ chiếm 34,44% (cùng kỳ 34,01%); thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 5,48% (cùng kỳ chiếm 5,60%). 2. Tài chính - Ngân hàng 2.1. Tài chính: Trong năm 2025, tình hình kinh tế còn nhiều khó khăn thách thức như: thiên tai, biến đổi khí hậu là nguy cơ tiềm ẩn, diễn biến phức tạp, khó lường; các yếu tố chi phí đầu vào tăng; lạm phát, lãi suất ngân hàng và tỷ giá tác động đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và đời sống người dân. Tuy nhiên các ngành, các cấp thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho người dân và doanh nghiệp, nên thu ngân sách của tỉnh tăng so cùng kỳ. - Thu ngân sách nhà nước: năm 2025 ước thu ngân sách nhà nước trên địa bàn được 22.199 tỷ đồng, đạt 107,3% dự toán và tăng 2,6% so cùng kỳ; trong đó: thu nội địa 21.318 tỷ đồng, đạt 107,3% dự toán, tăng 2,6% so cùng kỳ. - Chi ngân sách nhà nước: năm 2025 ước chi 49.226 tỷ đồng, đạt 112,3% dự toán, tăng 44,3% so cùng kỳ. + Chi đầu tư phát triển: thực hiện giao dự toán vốn đầu tư ngay từ đầu năm và các Chủ đầu tư dự án trên địa bàn tỉnh chủ động triển khai thực hiện. Ước chi đầu tư phát triển năm 2025 là 17.092 tỷ đồng, đạt 101,6% dự toán năm, tăng 26,3% so cùng kỳ. + Chi thường xuyên là 23.775 tỷ đồng, đạt 101,3% so với dự toán, tăng 15,5% so với cùng kỳ: 2.2. Ngân hàng: Ngành Ngân hàng trên địa bàn tỉnh tập trung mọi nguồn lực đồng hành cùng doanh nghiệp, người dân vượt qua khó khăn, mặt bằng lãi suất huy động và lãi suất cho vay ổn định, tỷ giá được điều hành chủ động, linh hoạt, góp phần góp phần tích cực vào phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội. Ước đến cuối tháng 12/2025, nguồn vốn huy động đạt 203.874 tỷ, tăng 11,94% so với cuối năm 2024; tổng dư nợ đạt 247.613 tỷ, tăng 10%. Nợ xấu: Ước đến cuối tháng 12/2025 tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ dưới 3%. Quỹ tín dụng nhân dân: Đến cuối tháng 11/2025, tổng nguồn vốn huy động đạt 2.873 tỷ đồng, tăng 9,17% so với cuối năm 2024. tổng dư nợ đạt 2.332 tỷ đồng giảm 1,52% và tỷ lệ nợ xấu là 0,68%. 3. Giá cả, lạm phát Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 12 tháng năm 2025 so cùng kỳ năm trước tăng 2,42% (khu vực thành thị tăng 2,6% và khu vực nông thôn tăng 2,37%); một số nhóm hàng có chỉ số giá tăng trong năm 2025 so cùng kỳ như: thuốc và dịch vụ y tế tăng 11,9% (trong đó: dịch vụ khám sức khoẻ tăng 14,08%); nhóm hàng hoá dịch vụ khác tăng 6,04%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,99%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,57%; giáo dục tăng 2,1%;... Có hai nhóm giảm: nhóm hàng bưu chính viễn thông giảm 0,05% và nhóm giao thông giảm 2,82% so cùng kỳ đã kiềm hãm tốc độ tăng chung. Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ: - Chỉ số giá vàng tháng 12 tăng 1% so với tháng trước, tăng 62,64% so với tháng 12/2024 và bình quân mười hai tháng so cùng kỳ tăng 49,41%. - Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng giảm 1,87% so với tháng trước, tăng 3,72% so với tháng 12/2024 và bình quân mười hai tháng so cùng kỳ tăng 4,28%. 4. Đầu tư và Xây dựng a) Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội Trong năm 2025, hoạt động đầu tư phát triển được đẩy mạnh, các dự án hạ tầng giao thông trọng điểm. Vốn đầu tư toàn xã hội năm 2025 ước thực hiện 85.515 tỷ đồng, tăng 15,1% so cùng kỳ. Phân theo thành phần: vốn đầu tư của dân cư và tư nhân 50.707 tỷ đồng, tăng 11,2%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 6.673 tỷ đồng, tăng 35,4%; vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước 28.135 tỷ đồng, tăng 18,1% so với năm trước. Phân theo khoản mục đầu tư: vốn đầu tư xây dựng cơ bản 49.595 tỷ đồng, chiếm 58,0% và tăng 0,5% so cùng kỳ; vốn đầu tư mua sắm tài sản cố định dùng cho sản xuất không qua xây dựng cơ bản 18.437 tỷ đồng chiếm 21,5% và tăng 36,3% so cùng kỳ; vốn đầu tư sử chữa lớn, nâng cấp tài sản cố định 13.642 tỷ đồng, chiếm 16,0% tổng nguồn vốn và tăng 33,8% so cùng kỳ; còn lại là vốn đầu tư bổ sung vốn lưu động và vốn đầu tư khác, chiếm 4,5% (tương đương 3.841 tỷ đồng). Hình 1. Vốn đầu tư toàn xã hội năm 2025 b) Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý Vốn đầu tư từ nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý năm 2025 là 16.367 tỷ đồng, đạt 99,8% kế hoạch, tăng 31,8% so cùng kỳ; gồm có: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 16.080 tỷ đồng, tăng 31,0%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 287 tỷ đồng, tăng 92,1%. c) Tình hình phát triển các khu, cụm công nghiệp Năm 2025 tình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu của các doanh nghiệp trong các khu, cụm công nghiệp đạt kế hoạch đề ra. Các doanh nghiệp duy trì hoạt động và ổn định sản xuất; một số doanh nghiệp bổ sung thêm nguồn vốn đầu tư, điều chỉnh mục tiêu hoạt động để phù hợp với tình hình phát triển sản xuất. Khu công nghiệp (KCN): Trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp hiện nay có 06 KCN đang hoạt động. Trong năm 2025, các KCN thu hút 10 dự án (07 dự án FDI, 03 dự án DDI); điều chỉnh tăng vốn đầu tư cho 29 lượt dự án; chấm dứt hoạt động 01 dự án FDI, 01 dự án DDI. Tổng vốn đầu tư đăng ký đến tháng 12 năm 2025 là 270,2 triệu USD và 629,4 tỷ đồng. Lũy kế đến cuối năm 2025: các KCN và khu kinh tế thu hút được 187 dự án (trong đó, có 101 dự án FDI, 86 dự án DDI) với tổng vốn đầu tư là 87,3 nghìn tỷ đồng (trong đó, vốn đầu tư FDI là 3,3 tỷ USD và vốn đầu tư DDI là 12,3 nghìn tỷ đồng); diện tích đất đã cho thuê là 754,8 ha, tỷ lệ lấp đầy 94,4%. Cụm công nghiệp (CCN): Trên địa bàn tỉnh có 62 CCN được quy hoạch với diện tích 3.009,5 ha được chấp thuận chủ trương đầu tư. Hiện có 23 CCN được thành lập với tổng diện tích 779,9 ha; trong đó: 18 CCN đã đi vào hoạt động với diện tích 511,7 ha, 5 cụm công nghiệp còn lại đang thực hiện thủ tục đầu tư xây dựng hạ tầng. 5. Tình hình phát triển của doanh nghiệp (Theo báo cáo của Sở Tài Chính) Phát triển doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh trong năm 2025 đạt nhiều kết quả tích cực. Số doanh nghiệp thành lập mới tăng cao, vượt kế hoạch đề ra; quy mô vốn đăng ký, đơn vị trực thuộc doanh nghiệp và số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tăng hơn so với cùng kỳ đã góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.Theo báo cáo của Sở Tài chính, cả năm 2025 có 2.790 doanh nghiệp thành lập mới, đạt 155% so kế hoạch và tăng 75% so cùng kỳ; Tổng vốn đăng ký 16,2 nghìn tỷ đồng, tăng 68,0% so cùng kỳ, vốn đăng ký thành lặp mới bình quân trong năm 5,8 tỷ đồng/doanh nghiệp. Bên cạnh đó, trong năm 2025 có 420 doanh nghiệp hoạt động trở lại, tăng 15% so cùng kỳ; 830 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn, tăng 14% so cùng kỳ và 470 doanh nghiệp hoàn tất giải thể, tăng 36% so cùng kỳ. 6. Sản xuất Nông - Lâm nghiệp và Thủy sản:Trong năm 2025, hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh cơ bản phát triển ổn định; tỉnh đã chủ động triển khai đồng bộ, kịp thời các giải pháp phòng, chống hạn hán và xâm nhập mặn ngay từ đầu năm, qua đó bảo vệ hiệu quả diện tích sản xuất nông nghiệp và đảm bảo ổn định đời sống người dân. 6.1. Nông nghiệp: * Trồng trọt: Cây lương thực có hạt: diện tích gieo trồng năm 2025 ước đạt 618.765 ha, đạt 102,7% so kế hoạch và giảm 0,8% so cùng kỳ; sản lượng thu hoạch ước đạt 4.157.113 tấn, đạt 103,1% so kế hoạch, tăng 0,6% so cùng kỳ. Cụ thể: - Cây lúa: gieo trồng ước đạt 611.653 ha, đạt 102,8% kế hoạch, giảm 0,7% so cùng kỳ; năng suất bình quân ước đạt 67,2 tạ/ha, tăng 1,5%; sản lượng thu hoạch ước đạt 4.107.556 tấn, đạt 103,3% so kế hoạch, tăng 0,7% so cùng kỳ; - Cây ngô: diện tích gieo trồng năm 2025 ước đạt 7.100 ha, giảm 1,9% so cùng kỳ, tương ứng giảm 135 ha; thu hoạch 100% diện tích; năng suất bình quân ước đạt 69,7 tạ/ha, giảm 4,5%; sản lượng ước đạt 49.524 tấn, giảm 6,3% so cùng kỳ, chủ yếu do năng suất thu hoạch và diện tích gieo trồng giảm. Hình 2. Diện tích gieo trồng lúa năm 2025 Cây rau, đậu các loại: diện tích gieo trồng năm 2025 ước đạt 56.231 ha, tăng 0,2% so cùng kỳ; trong đó: rau các loại 55.848 ha, tăng 0,3% so cùng kỳ. Sản lượng thu hoạch ước đạt 1.597.201 tấn, tăng 22,2% so cùng kỳ; trong đó: rau các loại ước đạt 1.596.044 tấn, tăng 22,2% so cùng kỳ. Cây lâu năm: Diện tích cây lâu năm toàn tỉnh năm 2025 ước đạt 162.341 ha, đạt 102,4% kế hoạch, tăng 2,2% so cùng kỳ, tương ứng tăng 3.570 ha, trong đó: diện tích cây ăn quả là 134.904 ha, chiếm 83,1% trong tổng diện tích cây lâu năm, đạt 100,3% kế hoạch, tăng 2,2% so cùng kỳ, tương ứng tăng 2.943 ha. Tổng sản lượng thu hoạch cây lâu năm đạt 2.949.844 tấn, đạt 108,2% kế hoạch, tăng 7,4% so cùng kỳ, tương ứng tăng 202.804 tấn. Trong đó sản lượng thu hoạch cây ăn quả đạt 2.503.709 tấn, đạt 106% kế hoạch và tăng 6,8% so cùng kỳ, tương ứng tăng 159.344 tấn. * Chăn nuôi: ước thời điểm 31/12/2025 tổng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh như sau: đàn trâu 3,1 nghìn con, tăng 5,8% so cùng kỳ; đàn bò 153,5 nghìn con, giảm 0,1%; đàn lợn 473 nghìn con, tăng 0,1%; đàn gia cầm 24,6 triệu con, tương đương so cùng kỳ. Hình 3. Chăn nuôi tại thời điểm 31/12/2025 *Tình hình dịch bệnh trên vật nuôi trong năm 2025 (theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đồng Tháp): - Trên gia cầm: năm 2025, toàn tỉnh xảy ra 04 hộ có gia cầm nhiễm vi rút cúm A/H5N1 với số lượng 9.461 con (tổng đàn 11.200 con) tại 03 xã/phường (xã Phú Thành, xã Tân Phước 3 và phường Sơn Qui). Đã tiêu hủy toàn bộ số gia cầm 11.200 con. - Trên gia súc: + Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: năm 2025, toàn tỉnh xảy ra 87 hộ có 1.159 con lợn bệnh (tổng đàn 3.349 con) tại 29 xã/phường (Vĩnh Bình, Bình Ninh, Vĩnh Hựu, Tân Phước 3, Hội Cư, Bình Trưng, Long Định, Tân Phú, Kim Sơn, Mỹ Tịnh An, Hậu Mỹ, Mỹ Thành, Lương Hoà Lạc, Tân Hồng, Thạnh Phú, phường Trung An, Thanh Bình, Chợ Gạo, Mỹ Thiện, Hiệp Đức, Long Hưng, Phú Thọ, Tân Thới, Cái Bè, phường Nhị Quý, An Hoà, An Thạnh Thuỷ, Tân Phú Đông và Tân Hộ Cơ). Đã tiêu hủy 2.588 con (khối lượng 113.857 kg). + Bệnh viêm da nổi cục: năm 2025, toàn tỉnh xảy ra 03 hộ tại 03 xã (Hậu Mỹ, Tân Thuận Bình và Chợ Gạo) với 04 con bò có dấu hiệu bệnh (tổng đàn 18 con). Đã tiêu hủy 01 con bò (khối lượng 215 kg). + Bệnh Lở mồm long móng: năm 2025, toàn tỉnh xảy ra 01 con lợn bệnh tại cơ sở giết mổ ở xã Hậu Mỹ. Đã tiêu hủy lợn bệnh (khối lượng 110 kg). 6.2. Lâm nghiệp: Tổng diện tích rừng trên địa bàn tỉnh là 6.999,6 ha (không bao gồm diện tích rừng thuộc đất an ninh quốc phòng); trong đó, diện tích rừng đặc dụng 2.717,6 ha; rừng phòng hộ 2.244,3 ha và rừng sản xuất 2.037,7 ha. Trong năm, toàn tỉnh thực hiện trồng được 691,1 ngàn cây phân tán các loại, tăng 1,1% so cùng kỳ. Sản lượng gỗ khai thác trong năm ước đạt 155.832 m3, tăng 3,7% so cùng kỳ. 6.3. Thủy sản: Diện tích thả nuôi thâm canh trong năm 2025 ước đạt 7.599 ha, giảm 1,6% so cùng kỳ. Trong đó: cá tra 3.161 ha, tăng 0,2% so cùng kỳ, tôm thẻ chân trắng 4.112 ha, giảm 2,1% cùng kỳ do hộ chuyển diện tích đầm nuôi tôm ven đê biển Tân Thành sang đầu tư khu du lịch sinh thái, ẩm thực vườn quê.... Nuôi tôm thẻ chân trắng là ngành kinh tế quan trọng mang lại nguồn thu nhập cao cho bà con nông dân. 7. Sản xuất công nghiệp Trong năm 2025, sản xuất công nghiệp vẫn giữ được xu hướng tăng trưởng tích cực, tạo nền tảng thuận lợi để phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch năm. Các doanh nghiệp đã chủ động thích ứng với tình hình, linh hoạt trong điều hành sản xuất, góp phần phát huy tiềm năng thế mạnh vùng nguyên liệu, thúc đẩy công nghiệp phát triển. Qua đó, công nghiệp tiếp tục là khu vực tăng trưởng cao và là động lực quan trọng của kinh tế tỉnh. Chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2025 tăng 13,15% so cùng kỳ; trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 14,11%; ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 2,73%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,98%; ngành khai khoáng giảm 41,69% so cùng kỳ. Hình 4. Chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2025 - Nhóm ngành tăng trưởng mạnh gồm: Sản xuất trang phục tăng 29,64% (do các doanh nghiệp may trên địa bàn sản xuất ổn định trở lại, đơn hàng tăng so với năm 2024, đồng thời doanh nghiệp chủ động mở rộng thị trường, tối ưu hóa sản xuất); Sản xuất kim loại tăng 26,86% (do nhu cầu tiêu thụ sản phẩm kim loại tăng cao, đặc biệt các kim loại như đồng, lithium và kẽm là nguồn vật liệu quan trọng trong việc chuyển đổi sang sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo).- Nhóm tăng trưởng ổn định (do sự phục hồi sản xuất, nhu cầu tiêu thụ tăng trong năm 2025), gồm: Sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 7,53%; Dệt tăng 7,67%; Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 2,05%; Sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 1,71%; - Nhóm sụt giảm gồm: Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 5,10% (do Chính phủ Mỹ tạm áp mức thuế quan mới và nhu cầu tiêu dùng giảm); Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 9,61% (chủ yếu do Công ty Dược phẩm Tipharco giảm sản xuất, đặc biệt là đơn hàng các sản phẩm thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng viên giảm mạnh so với cùng kỳ); Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 19,73% (do nhu cầu tiêu thụ giảm so với cùng kỳ).Tình hình sản xuất các sản phẩm công nghiệp năm 2025 như sau:- Có 73/119 sản phẩm tăng so cùng kỳ, trong đó nhóm sản phẩm tăng trên 30% gồm: thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm tăng 215,0%; mỡ và dầu động vật khác và các phân đoạn của chúng tăng 198,6%; bột mịn, bột thô và bột viên từ cá tăng 164,4%; quả và hạt ướp lạnh tăng 64,2%; thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng lỏng tăng 44,2%; áo phông, áo may ô và các loại áo lót khác cho người lớn dệt kim hoặc đan móc tăng 40,4%; bóng thể thao khác tăng 37,2%. Các sản phẩm có mức tăng dưới 30% gồm: gỗ cưa hoặc xẻ tăng 26,9%; thức ăn cho gia cầm tăng 23,8%; bia đóng lon tăng 22,3%; thùng chứa, bể và các loại đồ chứa tương tự dung tích trên 300 lít bằng plastic tăng 19,4%; cấu kiện làm sẵn cho xây dựng hoặc kỹ thuật dân dụng tăng 15,7%; thức ăn cho thủy sản tăng 14,6%; phi lê đông lạnh tăng 7,5%; ống và ống dẫn bằng đồng tăng 6,0%; gạo đã xát toàn bộ hoặc sơ bộ tăng 3,8%; bộ com lê, quần áo cho người lớn dệt kim hoặc đan móc tăng 2,1%;... - Có 43/119 sản phẩm giảm so cùng kỳ, gồm: cát khai thác giảm 41,7%; thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng bột/cốm giảm 31,3%; bia đóng chai giảm 14,4%; giày, dép có đế ngoài và mũ bằng cao su hoặc plastic giảm 13,0%; giày, dép các loại, các bộ phận của giày dép giảm từ 4,1% đến 18,2%; plastic dạng thanh, que giảm 4,4%; miến, hủ tiếu, bánh đa khô và các loại tương tự giảm 2,0%; thức ăn cho gia súc giảm 2,0%;…* Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Chỉ số tiêu thụ tháng 12/2025 so với tháng trước giảm 0,20%, so với cùng kỳ tăng 7,75% (lũy kế cả năm tăng 10,49%); Chỉ số tồn kho so với tháng trước tăng 4,30%, so với cùng kỳ tăng mạnh 20,79%. Cụ thể tình hình tiêu thụ và tồn kho một số ngành cấp II trong tháng 12/2025 so với cùng kỳ như sau:- Nhóm có nhu cầu tiêu thụ tăng, lượng tồn kho giảm gồm:In, sao chép bản ghi các loại: tiêu thụ tăng 48,73%, tồn kho giảm 21,07%; Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị): tiêu thụ tăng 10,04%, tồn kho giảm đến 53,18%; Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic: tiêu thụ tăng 8,61%, tồn kho giảm 10,93%.- Nhóm có chỉ số tiêu thụ và tồn kho tăng (do nhu cầu tiêu thụ tăng, doanh nghiệp tăng tồn kho để chủ động nguồn cung):Chế biến thực phẩm: tiêu thụ tăng nhẹ 0,19%, tồn kho tăng 17,56%; Sản xuất trang phục: tiêu thụ tăng 34,09, tồn kho tăng 46,42%; Sản xuất kim loại: tiêu thụ tăng 41,93%, tồn kho tăng 58,17%.- Nhóm có chỉ số tiêu thụ giảm nhưng tồn kho tăng:Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan: tiêu thụ giảm 12,67%, tồn kho tăng 42,0%; sản xuất thuốc lá: tiêu thụ giảm 32,24%, tồn kho tăng 54,28%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất: tiêu thụ giảm 18,96%, tồn kho tăng 43,71%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu: tiêu thụ giảm 8,16% và tồn kho tăng 27,42%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa: tiêu thụ giảm 30,43%, tồn kho tăng 10,91%.- Nhóm có chỉ số tiêu thụ và tồn kho giảm: + Dệt: tiêu thụ giảm 24,90%, tồn kho giảm 19,24%; Sản xuất thiết bị điện: tiêu thụ giảm 11,74% và tồn kho giảm 6,57%. 8. Thương mại, dịch vụ a. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng: Nhằm thúc đẩy các hoạt động thương mại dịch vụ trên địa bàn tỉnh phát triển. Trong thời gian qua tỉnh đã kêu gọi đầu tư xây dựng phát triển hạ tầng thương mại và có những bước tiến đáng kể, đưa Đồng Tháp trở thành điểm giao thương năng động, đáp ứng nhu cầu kinh doanh, sinh hoạt của người dân trên địa bàn và các khu vực lân cận. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng năm 2025 là 249.227 tỷ đồng, đạt 97,8% kế hoạch, tăng 9,5% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 193.692 tỷ đồng, tăng 8,6%; lưu trú, ăn uống 33.090 tỷ đồng, tăng 14,4%; du lịch lữ hành 402 tỷ đồng, tăng 27,8%; dịch vụ tiêu dùng 22.042 tỷ đồng, tăng 10,1% so cùng kỳ. Hình 5. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng b. Xuất - Nhập khẩu (Theo báo cáo Sở Công Thương) Kinh tế và chính trị thế giới diễn biến phức tạp, căng thẳng thương mại Mỹ - Trung và một số quốc gia khác dẫn tới những xáo trộn lớn với thương mại toàn cầu. Đối mặt với các thách thức, nhưng nhờ các biện pháp tích cực và đồng bộ nhằm tháo gỡ khó khăn để hỗ trợ sản xuất trong nước, xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường trong nước và xuất khẩu được triển khai mạnh mẽ nên hoạt động xuất, nhập khẩu trên địa bàn tỉnh đạt được kết quả như sau: * Xuất khẩu: Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa năm 2025 ước tính xuất khẩu 9.276 triệu USD, đạt 100,8% kế hoạch, tăng 2% so cùng kỳ. * Nhập khẩu: Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa năm 2025 ước đạt 4.801 triệu USD, đạt 108,4% kế hoạch và tăng 8,4% so với cùng kỳ. c. Vận tải: Ngành vận tải tiếp tục duy trì hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về vận tải trên địa bàn tỉnh. Kết quả đạt được trong năm 2025 như: Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải năm 2025 thực hiện 7.704 tỷ đồng, tăng 13,7% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 2.509 tỷ đồng, tăng 14,6% so cùng kỳ; vận tải hàng hóa thực hiện 3.824 tỷ đồng, tăng 12,7% so cùng kỳ. Vận tải đường bộ thực hiện 3.651 tỷ đồng, tăng 16,4%; vận tải đường thủy thực hiện 2.682 tỷ đồng, tăng 9,6%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 791 tỷ đồng, tăng 14,6% so cùng kỳ. Năm 2025, vận chuyển hành khách 73.364 ngàn hành khách, tăng 11,9% và luân chuyển 2.717.450 ngàn hành khách.km, tăng 26,2% so cùng kỳ; trong đó: vận chuyển đường bộ 23.118 ngàn hành khách, tăng 21,5% và luân chuyển 2.694.103 ngàn hành khách.km, tăng 26,7% so cùng kỳ; vận chuyển đường thủy 50.246 ngàn hành khách, tăng 7,9% và luân chuyển 23.347 ngàn hành khách.km, giảm 13,2% so cùng kỳ. Năm 2025, vận tải hàng hóa 27.895 ngàn tấn, tăng 6,4% và luân chuyển 5.124.689 ngàn tấn.km, tương đương so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ thực hiện 6.693 ngàn tấn, tăng 20,5% và luân chuyển được 924.517 ngàn tấn.km, giảm 19,1% so cùng kỳ; vận tải đường thủy thực hiện 21.202 ngàn tấn, tăng 2,6% và luân chuyển 4.200.172 ngàn tấn.km, tăng 5,6% so cùng kỳ. * Phương tiện giao thông: Trong tháng đăng ký mới 2.784 chiếc mô tô xe máy và 515 chiếc xe ô tô. Tổng số xe đang quản lý trên địa bàn tỉnh là 3.102.409 chiếc, trong đó mô tô xe máy: 2.965.576 chiếc, 129.890 xe ô tô, 169 xe ba bánh, 666 xe đạp điện, 1.063 xe khác và 1.309 xe lam. d. Bưu chính - Viễn thông: Doanh thu bưu chính - viễn thông đến cuối tháng 12/2025 đạt 6.171 tỷ đồng, tăng 4,9% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính 580 tỷ đồng, tăng 8,6% so cùng kỳ, doanh thu viễn thông 5.591 tỷ đồng, tăng 4,54% so cùng kỳ. Tổng số thuê bao điện thoại trên mạng ước đến cuối năm 2025 là 3.908 ngàn thuê bao, mật độ bình quân đạt 114,82 thuê bao/100 dân. Tổng số thuê bao internet trên mạng đến cuối năm 2025 là 4.095 ngàn thuê bao, mật độ internet bình quân ước đạt 120,31 thuê bao/100 dân. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Dân số, lao động, giải quyết việc làm a. Một số chỉ tiêu về dân số: Ước tính năm 2025, dân số trung bình tỉnh Đồng Tháp là 3.403.776 người, tăng 0,2% so cùng kỳ năm trước; dân số nam là 1.693.270 người, tăng 0,4% và chiếm 49,7%; dân số nữ là 1.710.506 người, giảm 0,1% và chiếm 50,3%. Dân số thành thị là 816.080 người, tăng 29,3% và chiếm 24,0%; dân số nông thôn là 2.587.696 người, giảm 6,4% và chiếm 76,0%. b. Tư vấn và giới thiệu việc làm: Năm 2025, toàn tỉnh đã giải quyết việc làm 55.145 người, đạt 110% so với kế hoạch; riêng lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài là 2.610 người, đạt 102% so với kế hoạch, trong đó Nhật Bản: 1.792 người, Hàn Quốc: 598 người, Đài Loan: 211 người,... Về trợ cấp thất nghiệp năm 2025, có 22.726 lao động được giải quyết chế độ trợ cấp thất nghiệp, với tổng kinh phí chi trả trên 409,9 tỷ đồng, hỗ trợ học nghề cho 292 người lao động góp phần hỗ trợ kịp thời đời sống, giúp người lao động ổn định trong giai đoạn tìm kiếm việc làm mới. Các hoạt động kết nối cung – cầu lao động tiếp tục được chú trọng. Trong năm 2025, tổ chức 104 phiên giao dịch việc làm, với sự tham gia của 740 lượt doanh nghiệp, thu hút trên 20.000 lượt người tham gia và 2.860 lao động được kết nối. Các phiên giao dịch đã tạo cơ hội thuận lợi để doanh nghiệp tuyển dụng nhân lực, đồng thời mở rộng cơ hội việc làm, học nghề và đi làm việc ở nước ngoài cho người lao động. c. Tình hình thiếu việc làm, thất nghiệp: Theo kết quả sơ bộ cuộc điều tra lao động việc làm tình hình lao động thiếu việc làm và thất nghiệp như sau: Năm 2025, tỷ lệ thiếu việc làm toàn tỉnh là 3,64%, giảm 0,8 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước (4,44%). Trong đó, khu vực thành thị là 4,50% (giảm 0,74 điểm phần trăm) và khu vực nông thôn là 3,22% (giảm 0,84 điểm phần trăm). Tỷ lệ thất nghiệp của tỉnh năm 2025 là 0,83%, giảm 0,14 điểm phần trăm so với cùng kỳ (0,97%); riêng khu vực thành thị là 1,29% (giảm 0,03 điểm phần trăm) và khu vực nông thôn là 0,60% (giảm 0,21 điểm phần trăm). Tỷ trọng lao động thất nghiệp ở khu vực thành thị chiếm 51,46% trong tổng số người thất nghiệp toàn tỉnh. 2. Đời sống dân cư và an sinh xã hội: a. Đời sống dân cư: Năm 2025, đời sống dân cư trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định, thu nhập và mức sống từng bước được cải thiện. Công tác an sinh xã hội và chăm sóc sức khỏe nhân dân tiếp tục được chú trọng; các chương trình y tế cộng đồng, phòng chống dịch bệnh được triển khai hiệu quả như: Sởi, Sốt xuất huyết, Tay - chân - miệng... Trong năm 2025, tổng số lao động làm việc tại các doanh nghiệp trong khu công nghiệp (KCN), khu kinh tế (KKT) có 108.779 người, trong đó có 1.351 lao động nước ngoài (chiếm 1,2%). Dự báo nhu cầu tuyển dụng lao động năm 2026 của các doanh nghiệp trong KCN, KTT khoảng 3.000 lao động. Tuy nhiên, công tác kết nối cung – cầu lao động còn gặp khó khăn, các doanh nghiệp trong KCN Long Giang, KCN Sa Đéc và KCN Tân Hương có nhu cầu tuyển dụng lớn, chủ yếu là lao động phổ thông ở các lĩnh vực may mặc, giày da, điện tử, cơ khí, sản xuất lốp xe, chế biến thủy sản, thức ăn thủy sản, thức ăn chăn nuôi... do mở rộng quy mô sản xuất. b. An sinh xã hội: - Chế độ trợ cấp hưu trí xã hội được áp dụng cho những người từ đủ 75 tuổi trở lên không hưởng lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng, người từ đủ 70 tuổi đến dưới 75 tuổi thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo không hưởng lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng (mức trợ cấp hưu trí xã hội cho các đối tượng được quy định với số tiền là 500.000 đồng/tháng). - Chính sách tặng quà cho nhân dân nhân dịp kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9 trên địa bàn tỉnh như sau: + Đối tượng: Công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam chưa xác định được quốc tịch nhưng đã được cấp giấy chứng nhận căn cước đang cư trú tại Việt Nam và đã được thu thập, cập nhật, cấp số định danh cá nhân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, được xác lập tại thời điểm hết ngày 30/8/2025. + Mức quà tặng: 100.000 đồng/người, bằng tiền.  - Tặng quà gia đình chính sách nhân dịp Tết Nguyên đán 2025 và kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2025). Nhân dịp Tết Nguyên đán Ất Tỵ năm 2025, tỉnh Đồng Tháp đã tổ chức thăm và tặng quà đối với người có công với cách mạng và thân nhân của họ từ các nguồn ngân sách nhà nước và kinh phí địa phương với 148.940 suất, với tổng số tiền trên 56,1 tỷ đồng. - Ngày 23/4/2025 Chủ tịch nước ban hành Quyết định số 689/QĐ-CTN về việc tặng quà cho người có công với cách mạng nhân kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và 80 năm Ngày Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Địa phương tặng quà của Chủ tịch nước cho người có công đang hưởng trợ cấp hàng tháng và người thờ cúng liệt sĩ, số lượng 55.096 người, mỗi suất quà tiền mặt 500.000 đồng/người, với số tiền trên 27,5 tỷ đồng. - Thăm, tặng quà gia đình chính sách nhân kỷ niệm 78 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947- 27/7/2025). Đồng Tháp đã tổ chức thăm và tặng quà đối với người có công với cách mạng và thân nhân của họ từ các nguồn ngân sách nhà nước và kinh phí vận động từ cộng đồng với tổng số 54.282 suất, với tổng số tiền trên 16,4 tỷ đồng. - Nhà ở cho người có công: + Thực hiện Quyết định số 21/2024/QĐ-TTg ngày 22/11/2024 của Thủ tướng Chính phủ về mức hỗ trợ xây dựng mới hoặc cải tạo, sửa chữa nhà ở đối với người có công với cách mạng, thân nhân liệt sĩ và tỷ lệ phân bổ vốn hỗ trợ từ ngân sách trung ương, tỷ lệ đối ứng vốn hỗ trợ từ ngân sách địa phương, vốn xã hội hóa giai đoạn 2023-2025 và triển khai xoá nhà tạm, nhà dột nát trên địa bàn tỉnh đã hoàn thành hỗ trợ 741 căn nhà cho người có công với cách mạng (xây mới 240 căn, sửa chữa 501 căn). + Thực hiện công tác nhà ở người có công trên cơ sở Kế hoạch số 107/KH-UBND ngày 20/3/2025 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp (cũ) về thực hiện hỗ trợ an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp năm 2025 từ nguồn ngân sách, nguồn thu xổ số kiến thiết và nguồn tài trợ hợp pháp khác, tính đến ngày 25/6/2025, tổng số nhà ở đã hoàn thành và đã bàn giao là 605 căn (xây mới 207 căn; sữa chữa 398 căn). + Thực hiện Nghị quyết số 28/2021/NQ-HĐND ngày 08/12/2021 của Hội đồng nhân dân tỉnh Tiền Giang về việc quy định mức hỗ trợ kinh phí để xây dựng, sửa chữa nhà ở cho Người có công và thân nhân người có công với cách mạng trên địa bàn tỉnh Tiền Giang, giai đoạn 2022-2025. Tính đến ngày 30/6/2025, tỉnh Tiền Giang (trước khi hợp nhất) đã hoàn thành hỗ trợ nhà ở cho người có công và thân nhân người có công với cách mạng 1.206 căn (xây mới 258 căn, sửa chữa 948 căn). 3. Hoạt động giáo dục Trong năm, hoạt động ngành giáo dục thực hiện theo kế hoạch và đạt được nhiều điểm nổi bật như: Hiện nay, toàn tỉnh có 368 trường mầm non (340 trường công lập, 28 trường ngoài công lập) và 273 cơ sở giáo dục mầm non độc lập, tư thục; 386 trường tiểu học (385 trường công lập, 01 trường tư thục), 01 Trung tâm Hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật cấp tỉnh và 01 trường chuyên biệt dạy trẻ khuyết tật; 254 trường trung học cơ sở (gồm 223 trường THCS và 31 trường TH&THCS); 81 trường trung học phổ thông (66 trường THPT, 13 trường THCS&THPT và 02 trường tư thục); 06 trung tâm giáo dục thường xuyên; 14 cơ sở giáo dục nghề nghiệp (05 trường cao đẳng, 06 trường trung cấp và 03 trung tâm giáo dục nghề nghiệp, trong đó có 02 trung tâm tư thục); cùng 02 trường đại học (01 trường thuộc Trung ương quản lý). Mạng lưới cơ sở giáo dục được đầu tư, sắp xếp hợp lý, cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập của Nhân dân trên địa bàn tỉnh. Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia tiếp tục duy trì và tăng trưởng ổn định ở các cấp học, trong đó: mầm non đạt 75,5%; tiểu học đạt 76,6%; trung học cơ sở đạt 73,2%; trung học phổ thông đạt 80,0%. Kết quả này góp phần nâng cao chất lượng cơ sở vật chất, điều kiện dạy và học, từng bước thực hiện mục tiêu chuẩn hóa, hiện đại hóa hệ thống giáo dục của tỉnh. Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2025 trên địa bàn tỉnh được tổ chức nghiêm túc, an toàn, đúng quy chế, với 33.666 thí sinh dự thi; trong đó, có 33.446 thí sinh đỗ tốt nghiệp, đạt tỷ lệ 99,35%. 4. Hoạt động y tế Trong năm, công tác y tế và chăm sóc sức khỏe Nhân dân luôn được chú trọng. Các bệnh truyền nhiễm ghi nhận: trong năm, bệnh Sốt - xuất - huyết 7.788 ca, tăng 124,9% so cùng kỳ (01 ca tử vong, tương đương so cùng kỳ); bệnh Tay - chân - miệng 7.569 ca, giảm 7,9%. Bệnh HIV/AIDS: năm 2025, phát hiện 498 trường hợp nhiễm HIV mới, 46 trường hợp tử vong. Đến nay, tổng số nhiễm HIV toàn tỉnh là 15.924 trường hợp, tổng số AIDS là 5.051 trường hợp và tử vong do AIDS là 3.899 trường hợp. Tình hình khám chữa bệnh trong năm 2025: ghi nhận 8.054.620 lượt người khám bệnh, giảm 1,6% và 478.170 lượt người điều trị nội trú, tăng 1,1%. 5. Hoạt động văn hóa - thể thao Năm 2025, các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao trên địa bàn tỉnh diễn ra phong phú, sôi nổi, gắn liền với những sự kiện lịch sử, chính trị trọng đại của đất nước và địa phương. 6. Tình hình an ninh trật tự an toàn xã hội (theo báo cáo ngành Công an) Tình hình an ninh trật tự năm 2025 trên địa bàn tỉnh được đảm bảo. Trong năm, xảy ra 1.264 vụ phạm tội về trật tự xã hội trên địa bàn tỉnh, giảm 37,9% so với cùng kỳ. Hậu quả làm chết 43 người; bị thương 415 người; tài sản thiệt hại khoảng 531 tỷ đồng. Cơ quan chức năng điều tra khám phá 1.070 vụ (đạt 84,6%); xử lý 1.824 đối tượng, đồng thời thu hồi tài sản trị giá khoảng 7,1 tỷ đồng. Về tội phạm ma túy trong năm 2025, lực lượng chức năng đã phát hiện và xử lý 469 vụ, 768 đối tượng phạm tội về ma túy. 7. Trật tự an toàn giao thông (theo báo cáo ngành công an tỉnh, số liệu tính đến 14/12/2025) a. Tai nạn giao thông đường bộ: Năm 2025, toàn tỉnh đã xảy ra 587 vụ, giảm 79 vụ so với cùng kỳ; làm chết 437 người (giảm 30 người) và làm bị thương 273 người (giảm 73 người). Các nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông chủ yếu vẫn do ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông như: uống rượu say, điều khiển xe khi có rượu bia, phóng nhanh vượt ẩu, không làm chủ tốc độ; không đi đúng phần đường, làn đường; không nhường đường, vượt đèn đỏ, thiếu quan sát… b. Tai nạn giao thông đường thủy: trong tháng, xảy ra 01 vụ làm 01 người chết. Năm 2025, xảy ra 03 vụ làm chết 02 người, tương đương về số vụ và số người chết so với cùng kỳ. 8. Tình hình cháy nổ, môi trường và thiên tai a. Về cháy, nổ: năm 2025, ghi nhận 26 vụ, giảm 02 vụ so cùng kỳ; làm chết 05 người; tài sản thiệt hại ước tính khoảng 276,9 tỷ đồng. b. Về môi trường: năm 2025, xảy ra 57 vụ vi phạm, (tăng 38 vụ so cùng kỳ); đã xử lý 55 vụ (tăng 38 vụ) số tiền xử phạt trên 1,8 tỷ đồng. c. Về thiên tai: năm 2025, trên địa bàn tỉnh xảy ra 285 vụ thiên tai, làm 02 người chết, 23 người bị thương; tổng thiệt hại về tài sản ước tính trên 543,2 tỷ đồng. Trong đó, mưa lớn, giông lốc, bão và áp thấp nhiệt đới xảy ra 25 vụ, làm 02 người chết, 23 người bị thương, sập và tốc mái nhiều nhà ở, gây thiệt hại diện tích lúa và hoa màu, với giá trị thiệt hại ước khoảng 34,9 tỷ đồng. Lũ và triều cường xảy ra 04 vụ, gây ngập úng cục bộ tại một số địa phương, làm thiệt hại diện tích lúa, cây kiểng, vườn cây ăn trái và ao nuôi thủy sản, ước thiệt hại khoảng 74 tỷ đồng. Sạt lở, sụt lún xảy ra 256 vụ, chủ yếu là sạt lở nội đồng và bờ sông, gây thiệt hại nghiêm trọng về nhà ở và hạ tầng, với tổng giá trị thiệt hại ước 434,3 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thiệt hại do thiên tai trên địa bàn tỉnh. III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2026 Tình hình kinh tế, chính trị thế giới vẫn còn biến động phức tạp, khó lường, nhưng với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự chỉ đạo, điều hành kịp thời, quyết liệt, sát sao của lãnh đạo tỉnh và nỗ lực của các cấp, các ngành, các địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân. Sản xuất kinh doanh của các ngành, lĩnh vực trên địa bàn tỉnh năm 2025 tăng hơn so cùng kỳ, GRDP của tỉnh đạt 7,38%. Bên cạnh đó, các chỉ số thống kê cho thấy kinh tế của tỉnh tiếp tục ổn định, lạm phát được kiểm soát; cung cầu hàng hóa thiết yếu được bảo đảm, hoạt động mua sắm hàng hóa, tiêu dùng nội địa duy trì mức tăng khá. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng ổn định, bảo đảm nguồn cung lương thực, thực phẩm, hàng hóa thiết yếu và gia tăng xuất khẩu. Tiến độ giải ngân vốn đầu tư công được cải thiện rõ rệt, tốc độ tăng vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước đạt mức cao, an sinh xã hội được quan tâm kịp thời, hiệu quả. Tuy nhiên, bước sang năm 2026 dự báo, kinh tế - xã hội của tỉnh tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức; các biến động về kinh tế, chính trị của thế giới, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, thiên tai, biến đổi khí hậu và dịch bệnh khó dự báo. Do đó, các ngành, các cấp tăng cường dự báo, chủ động điều hành linh hoạt, phù hợp với tình hình mới, kịp thời ứng phó với các tình huống phát sinh, tập trung triển khai hiệu quả đồng bộ các chính sách hỗ trợ phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội.  Theo kết quả điều tra xu hướng dự báo sản xuất kinh doanh quý I/2026 so với quý IV/2025 như sau: - Dự báo xu hướng sản xuất kinh doanh, có 56% số doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo dự báo tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tốt lên; 30,86% dự báo giữ ổn định và có 13,14% doanh nghiệp dự báo tình hình sản xuất kinh doanh khó khăn hơn. - Về khối lượng sản xuất, có 51,43% doanh nghiệp dự báo tăng; 36,57% doanh nghiệp dự báo ổn định và 12% doanh nghiệp dự báo giảm. - Về đơn đặt hàng mới, có 50% doanh nghiệp dự báo đơn hàng tăng; 38,55% doanh nghiệp dự báo giữ nguyên đơn hàng và 11,45% doanh nghiệp dự báo giảm. - Về biến động lao động, có 18,29% doanh nghiệp dự báo tăng; 74,86% doanh nghiệp dự báo giữ nguyên và 6,86% doanh nghiệp dự báo giảm. Để thực hiện đạt kế hoạch năm 2026 Thống kê Tỉnh đề xuất các giải pháp sau: - Tập trung hoàn thành khối lượng công việc trong thực hiện cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy, sắp xếp lại đơn vị hành chính các cấp và xây dựng tổ chức chính quyền địa phương hai cấp. Tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số. - Phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại, xanh, sạch, sinh thái, tuần hoàn chuỗi giá trị bền vững, ứng dụng công nghệ cao, gắn với xây dựng thương hiệu sản phẩm; đẩy mạnh liên kết sản xuất. Ngoài ra theo dõi diễn biến tình hình khí tượng thủy văn, xâm nhập mặn; chủ động thực hiện các biện pháp đảm bảo nguồn nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt cho Nhân dân vào mùa khô và biện pháp phòng, tránh hạn chế thiệt hại khi thiên tai xảy ra. - Tăng cường giám sát dịch bệnh và kiểm soát hoạt động chăn nuôi, giết mổ, tiêu thụ để bảo đảm an toàn dịch bệnh và thực phẩm. Đồng thời cần chú trọng ứng dụng khoa học công nghệ trong chăn nuôi, phát triển mô hình chăn nuôi an toàn sinh học, mở rộng liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, đẩy mạnh tái đàn có kiểm soát, bảo đảm nguồn cung ổn định và hướng tới phát triển nông nghiệp bền vững, nâng cao giá trị gia tăng. - Tập trung phát triển các ngành, sản phẩm công nghiệp có lợi thế cạnh tranh, có thị trường tiêu thụ sản phẩm; đẩy mạnh phát triển công nghiệp hỗ trợ nguyên liệu phục vụ sản phẩm thức ăn chăn nuôi, cơ khí, điện tử... Thường xuyên rà soát kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, đẩy mạnh hoạt động sản xuất, kinh doanh. Cần có giải pháp hỗ trợ hiệu quả các doanh nghiệp thiếu vốn, giá nguyên liệu đầu vào tăng cao, khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm và một số ngành, lĩnh vực bị tác động bất lợi do nhu cầu của thị trường suy giảm như: da giày, dệt may, sản xuất và chế biến gỗ... - Sớm hoàn thành công tác qui hoạch tình Đồng Tháp Giai đoạn 2021 - 2030 tầm nhìn đến năm 2050; triển khai thực hiện để phát huy hiệu quả, tạo động ực phát triển kinh tế của tỉnh. - Đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình trên địa bàn tỉnh; kiểm tra, giám sát trong quá trình thực hiện, nhằm đảm bảo tiến độ và hiệu quả theo kế hoạch đề ra. Đẩy nhanh tiến độ giải ngân kịp thời vốn đầu tư công, kịp thời quyết toán các công trình hoàn thành đảm bảo đúng theo quy định. Tiếp tục phối hợp nhà đầu tư xử lý những khó khăn, vướng mắc, đẩy mạnh các giải pháp bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, hoàn thành công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. - Đổi mới nội dung, phương thức xúc tiến, quảng bá du lịch; có các giải pháp đột phá, liên tục làm mới sản phẩm, tập trung nghiên cứu kỹ thị trường, đặc biệt là những thị trường mới, có nhiều tiềm năng để đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách du lịch, không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng sản phẩm. - Triển khai thực hiện đồng bộ, chủ động, linh hoạt chính sách về lãi suất, gói hỗ trợ lãi suất cho vay, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh; tập trung vốn vào các lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên; tiếp tục triển khai chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn. Tăng cường công tác kết nối ngân hàng - doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi trong vay vốn tín dụng ngân hàng cho doanh nghiệp và người dân. - Các ngành chức năng đẩy mạnh xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường xuất khẩu. Tiếp tục phát triển xuất khẩu các mặt hàng có lợi thế; chuyển dần sang xuất khẩu sản phẩm chế biến sâu, phát triển xuất khẩu sản phẩm có chất lượng cao, có sức cạnh tranh và có thương hiệu mạnh. - Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền để nhân dân hiểu rõ về tình hình và chính sách của Đảng, Nhà nước; từ đó tạo sự đồng thuận, chung sức chung lòng thực hiện các mục tiêu kế hoạch đã đề ra. - Tăng cường công tác an ninh trật tự, an toàn xã hội, an ninh quốc phòng.

Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp năm 2025 đạt 7,38%
  •   31/12/2025 15:49

Năm 2025 là năm cuối của Kế hoạch 5 năm, giai đoạn 2020 – 2025, Đồng Tháp nói riêng và cả nước nói chung thực hiện nhiệm vụ trong bối cảnh khó khăn, thách thức nhiều hơn thuận lợi, các nhân tố ảnh hưởng biến động khó lường. Tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp; tình trạng bất ổn an ninh, chính trị leo thang tại một số quốc gia, khu vực, tiềm ẩn rủi ro tới sự ổn định và phát triển kinh tế toàn cầu; nền kinh tế vẫn còn chịu áp lực từ chính sách thương mại toàn cầu về thuế quan, rào cản phi thuế quan; biến động thị trường vốn, chuỗi cung ứng quốc tế, tác động đến luồng vốn FDI; kinh tế thế giới bước đầu phục hồi nhưng còn chậm; thiên tai, biến đổi khí hậu tác động tới kinh tế - xã hội của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Trong bối cảnh đó, hệ thống chính trị tỉnh Đồng Tháp đã chủ động vào cuộc với tinh thần trách nhiệm cao, kịp thời nhận diện khó khăn, thách thức và triển khai nhiều giải pháp phù hợp, sát thực tiễn. Các cấp, các ngành phối hợp chặt chẽ, duy trì sự điều hành thông suốt, bảo đảm ổn định kinh tế - xã hội trong giai đoạn chuyển đổi bộ máy. Nhờ đó, tỉnh đã tổ chức thành công nhiều sự kiện chính trị, kinh tế, văn hóa quan trọng; đồng thời tham mưu ban hành và thực thi hiệu quả các chủ trương, chính sách lớn của Trung ương và của tỉnh, góp phần tạo lực đẩy mới cho quá trình phục hồi, tăng trưởng và ổn định đời sống nhân dân. Với sự quyết tâm cao, nỗ lực lớn của cả hệ thống chính trị, kinh tế - xã hội của tỉnh tiếp tục phát triển, hầu hết các chỉ tiêu đều tăng so cùng kỳ, tăng trưởng kinh tế quý sau cao hơn quý trước, quý I tăng 6,76%, quý II tăng 7,30%, quý III tăng 7,23% và quý IV tăng 8,20%, cả năm tăng 7,38%. Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) năm 2025 ước đạt 147.216 tỷ đồng (giá so sánh năm 2010) tăng 7,38% so với năm 2024; khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản tăng 5,01%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,99% và khu vực dịch vụ tăng 6,95 % (bao gồm thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm); Nếu tách riêng thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm thì khu vực dịch vụ tăng 7,26% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 5,15% so cùng kỳ. Với mức tăng 7,38%, tốc độ tăng trưởng năm 2025 tăng cao hơn năm 2024 là 0,63%. Xét về tốc độ tăng trưởng, năm 2025 tỉnh Đồng Tháp xếp thứ 23 cả nước và xếp thứ 2 vùng Đồng bằng sông Cửu Long (sau tỉnh An Giang); tăng cao hơn tốc tốc độ tăng chung của Vùng đồng bằng sông Cửu Long 0,14% (tốc độ tăng chung của vùng là 7,24%)  Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản (Kế hoạch tăng 4,0%) Ước tính năm 2025 tăng 5,01% so cùng kỳ (năm 2024 tăng 4,12%), tăng cao hơn 0,89% so với năm 2024. Ngành nông nghiệp tăng 5,07% so cùng kỳ (năm 2024 tăng 4,08%). Tình hình sản xuất nông nghiệp trong năm thuận lợi, không chịu tác động của hạn mặn như những năm trước; tuy nhiên ở thời điểm tháng 10, tháng 11 lũ đầu nguồn dâng cao đã gây ngập lụt ở một số khu vực, cũng có ảnh hưởng đến sản xuất của nông dân. Với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, nông dân đã ứng dụng vào trong sản xuất lúa, tiết kiệm được chi phí, sản lượng lúa cả năm ước đạt 4.107.556 tấn tăng 0,7% so với năm 2024 (năm 2024 đạt 4.078.106 tấn); năng suất lúa bình quân cả năm 2025 đạt 67,2 tạ/ha, tăng 1,5 tạ/ha so cùng kỳ (năm 2024 tạ 65,7 tạ/ha). Tuy nhiên diện lúa gieo sạ năm nay chỉ đạt 611.653 ha, bằng 99,3% so cùng kỳ (tương đương giảm 4.610 ha) Trên địa bàn tỉnh đã hình thành nên nhiều vùng chuyên canh, nông dân đã chuyển đổi giống, mô hình canh tác xen canh, gối vụ với nhiều loại rau, củ, quả có giá trị kinh tế cao, dễ tiêu thụ; ứng dụng tiến bộ của khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất, tiết kiệm chi phí, cho năng suất cao, chuyển đổi diện tích đất lúa, đất màu kém hiệu quả sang trồng cây ăn quả có giá trị kinh tế cao hơn. Trên địa bàn tỉnh có nhiều loại trái cây đã được xây dựng thương hiệu, xuất khẩu đi các nước như: sầu riêng, thanh long, vú sữa, xoài cát Hòa Lộc… Tổng diện tích trồng cây lâu năm của tỉnh ước tính đến cuối năm 2025 ước đạt 162.341 ha, tăng 2,2% so với năm 2024 (tương ứng tăng 3.570 ha); sản lượng thu hoạch cây lâu năm đạt 2.949.844 tấn, tăng 7,4% so cùng kỳ, tương ứng tăng 202.804 tấn (trong đó sản lượng thu hoạch cây ăn quả đạt 2.503.709 tấn, tăng 6,8% so cùng kỳ, tương ứng tăng 159.344 tấn). Giá bán các sản phẩm trồng trọt trong năm tăng, giảm theo từng thời điểm, nhưng vẫn đảm bảo người sản xuất có lãi, thu nhập ổn định đã kích thích nông dân tập trung đầu tư cho sản xuất, nên ngành nông nghiệp có tốc độ tăng khá cao so cùng kỳ. Tình hình chăn nuôi gia súc-gia cầm trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì sự ổn định và có nhiều yếu tố thuận lợi. Giá cả các sản phẩm chăn nuôi cơ bản ổn định giúp người dân yên tâm duy trì và phát triển đàn. Công tác phòng chống dịch bệnh được thực hiện chặt chẽ, tỷ lệ tiêm phòng đạt cao, góp phần giảm rủi ro và tăng khả năng tái đàn. Ngoài ra, việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật, mô hình chăn nuôi an toàn sinh học và sử dụng giống năng suất cao ngày càng phổ biến, giúp cải thiện hiệu quả sản xuất. Các hộ chăn nuôi tích cực tái đàn trông chờ giá cả tăng những tháng cuối năm và Tết Nguyên đán 2026. Mặc dù dịch bệnh được kiểm soát, chỉ phát sinh một số ổ dịch nhỏ lẻ, tuy nhiên, dịch bệnh vẫn là thách thức lớn nhất của ngành chăn nuôi, đặc biệt là Dịch tả lợn Châu Phi, bệnh cúm gia cầm… làm ảnh hưởng đến tổng đàn nếu không được kiểm soát tốt. Ước tính đến cuối năm 2025: đàn trâu 3,1 nghìn con, tăng 5,8% so cùng kỳ; đàn bò đạt 153,5 nghìn con, giảm 0,1% so cùng kỳ; đàn lợn 374 nghìn con, tăng 0,1%; đàn gia cầm 24,6 triệu con, tương đương so cùng kỳ. Ngành thủy sản tăng 4,82% so cùng kỳ (năm 2024 tăng 4,37%), sản lượng thủy sản năm 2025 ước đạt 1.080.037 tấn, tăng 8,2% so cùng kỳ. Sản lượng nuôi trồng đạt 945.370 tấn, tăng 7,7% so cùng kỳ, sản lượng thủy sản khai thác đạt 134.667 tấn, tăng 11,9% so cùng kỳ. Nhu cầu tiêu thụ thủy sản của thị trường trong nước và phục vụ cho xuất khẩu tăng. Mặt khác, nhờ điều kiện thời tiết thuận lợi, ít chịu ảnh hưởng bởi bão và áp thấp nhiệt đới, tạo điều kiện cho tàu cá hoạt động hiệu quả; các ngư trường dồi dào nguồn lợi, thủy sản nuôi sinh trưởng tốt, ít dịch bệnh, năng suất cao. Khu vực công nghiệp - xây dựng: (Kế hoạch tăng 12,0%) Ước tính năm 2025 tăng 10,99% so cùng kỳ (năm 2024 tăng 9,65%), tăng cao hơn năm 2024 là 1,34% tốc độ tăng trưởng các ngành trong khu vực này như sau: Tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp tăng 10,70% so cùng kỳ (năm 2024 tăng 9,27%) đạt được kết quả trên là nhờ sự tập trung chỉ đạo của lãnh đạo Tỉnh, cùng các ngành, các cấp thường xuyên tổ chức các Hội nghị tiếp xúc doanh nghiệp, nắm bắt những khó khăn của doanh nghiệp, hỗ trợ sản xuất trong nước và xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường trong nước và xuất khẩu được triển khai mạnh mẽ; kịp thời đưa ra các giải pháp hiệu quả giúp công nghiệp của tỉnh nhà tăng cao. Sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh tăng trưởng tốt, tốc độ tăng trưởng quý sau luôn cao hơn quý trước, đóng góp 2,37% trong 7,38% tăng trưởng của tỉnh. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò chủ lực với mức tăng năm 2025 là 10,89% so cùng kỳ (cùng kỳ năm 2024 tăng 9,22%), tương đương 3.106 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng trên 94,74% toàn ngành. Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 6,11% (chiếm 2,89%). Cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 10,25% (chiếm 2,18%); Một số ngành chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị công nghiệp có tốc độ tăng trưởng khá: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 11,79% (chiếm tỷ trọng 46,16% trong tổng giá trị gia tăng của ngành công nghiệp); Sản xuất trang phục tăng 20,75% (chiếm 7,91%); Sản xuất kim loại tăng 23,58% (chiếm 8,32%). Tuy nhiên cũng có một số ngành do khó khăn về thị trường tiêu thụ nên sản xuất trong năm giảm so với cùng kỳ: sản xuất sản phẩm thuốc lá giảm 2,74% (chiếm 0,06%); sản xuất xe có động cơ, rơ móc giảm 22,03% (chiếm 0,07%); sản xuất tủ bàn ghế giảm 1,82% (chiếm 0,61%). Nhìn chung tăng trưởng ngành công nghiệp tích cực, song vẫn chưa đạt như kỳ vọng do đơn hàng xuất khẩu của một số ngành hàng giảm, đặc biệt tại các thị trường chủ lực như Mỹ và EU, người tiêu dùng ưu tiên chi tiêu cho các mặt hàng thiết yếu, ảnh hưởng đến đơn hàng của doanh nghiệp trong ngành. Ngành xây dựng tăng 12,35% (năm 2024 tăng 11,48%) là một trong những ngành có tốc độ tăng trưởng tốt nhất trong năm 2025, chiếm tỷ trọng 5,01% trong cơ cấu GRDP, là ngành trong 03 năm liên tiếp tăng trưởng trên 10% (năm 2023 tăng 10,23%, năm 2024 tăng 11,48%). Đạt được kết quả trên là do lãnh đạo tỉnh chú trọng giao vốn sớm cho các chủ đầu tư và thường xuyên kiểm tra, đôn đốc tiến độ thực hiện của các dự án, nhất là các dự án thuộc chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội. Trên địa bàn tỉnh có nhiều công trình trọng điểm của địa phương và trung ương đang được triển khai thi công, cộng với sự tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt trong việc giải quyết những khó khăn, vướng mắt, đẩy nhanh tiến độ đầu tư công đã góp phần làm cho hoạt động xây dựng trên địa bàn tỉnh tăng khá so cùng kỳ. Khu vực dịch vụ: (Kế hoạch tăng 9,15%) Ước năm 2025 tăng 6,95 % so cùng kỳ (bao gồm thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm); Nếu tách riêng thuế sản phẩm thì khu vực dịch vụ tăng 7,26% so cùng kỳ (năm 2024 tăng 7,33%) hầu hết các ngành trong khu vực này đều tăng so với cùng kỳ, nhưng chưa có sự đột biến, do đó khu vực này chưa đạt kế hoạch đã đề ra. Giá cả hàng hóa trong năm được kiểm soát tốt, không xảy ra tình trạng nâng giá bất hợp lý, hàng hóa dồi dào, đáp nhu cầu tiêu dùng của nhân dân, một số ngành tăng trưởng khá như: Vận tải kho bãi tăng 14,40%, do nhu cầu vận chuyển tăng; ngoài ra để đáp ứng nhu cầu đi lại cho cán bộ công chức di chuyển về trung tâm hành chính tỉnh công tác sau sáp nhập, trong năm nhà xe Quốc Hoàng mở thêm tuyến xe khách từ Cao lãnh đi Mỹ Tho và ngược lại, góp phần làm cho ngành này tăng. Hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 17,35%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 7,49%; nghệ thuật vui chơi và giải trí tăng 8,22%; …Tổng sản phẩm bình quân đầu người GRDP năm 2025 tính theo giá hiện hành đạt: 286.053 tỷ đồng, tăng 9,59% so cùng kỳ (tương đương tăng 25.023 tỷ đồng); GRDP bình quân đầu người năm 2025 đạt 84,04 triệu đồng/người/năm, tăng 7,20 triệu đồng/người/năm so năm 2024 (năm 2024 đạt 76,84 triệu đồng/người/năm). Tính theo giá USD, GRDP bình quân đầu người năm 2025 đạt 3.186 USD/người/năm, tăng 4,42%, tương đương tăng 135 USD so năm 2024 (năm 2024 đạt 3.051 USD/người/năm). Nếu so với các tỉnh trong vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, GRDP bình quân đầu người năm 2025 của Đồng Tháp thấp hơn bình chung của vùng 276 ngàn đồng/người/năm; đứng thứ 02/5 tỉnh trong khu vực. Năng suất lao động Với việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất, năng suất lao động của tỉnh tăng dần qua các năm; năm 2025 năng suất lao động bình quân/người năm 2025 (giá hiện nhành) ước tính đạt 145,96 triệu đồng/người, tăng 9,15% so với năm 2024, gấp 1,56 lần năm 2020. Nếu xem xét năng suất lao động theo ngành kinh tế, có thể thấy khu vực Nông, lâm nghiệp và thủy sản có năng suất lao động cao nhất, đạt 162,63 triệu đồng/người, tăng 3,44% so cùng kỳ (gấp 1,11 lần NSLĐ chung); kế đến là khu vực Thương mại - dịch vụ có năng suất lao động 152,16 triệu đồng/người tăng 13,95% so cùng kỳ (gấp 1,04 lần NSLĐ chung); thấp nhất là khu vực Công nghiệp - xây dựng với 121,32 triệu đồng/người, tăng 10,89% so cùng kỳ (chỉ bằng 0,83 lần NSLĐ chung). Năng suất lao động phân theo khu vực kinh tế (giá hiện hành) Nếu tính theo giá so sánh 2010, năng suất lao động bình quân đầu người năm 2025 ước đạt 75,12 triệu đồng/người, tăng 1,07% so với năm 2024. Trong đó, khu vực Nông, lâm nghiệp và thủy sản là khu vực có năng suất lao động cao nhất - đạt 80,53 triệu đồng/người, tăng 1,04% so cùng kỳ; kế đến là khu vực thương mại - dịch vụ có năng suất lao động 76,14 triệu đồng/người, tăng 1,10% so cùng kỳ; khu vực Công nghiệp - xây dựng có năng suất lao động 68,36 triệu đồng/người, tăng 1,06% so cùng kỳ. Cơ cấu kinh tế Mục tiêu phát triển kinh tế giai đoạn 2020-2025 của tỉnh là đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng dần tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp, thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Năm 2025 khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 34,60%, giảm 1,66% so năm 2024 (cùng kỳ 36,27%); khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm 25,48 %, tăng 1,36% so năm 2024 (cùng kỳ 24,12%); khu vực dịch vụ chiếm 34,44%, tăng 0,43% so năm 2024 ((cùng kỳ 24,01%); thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 5,48%, giảm 0,12 so năm 2024 (cùng kỳ 5,60%). BIỂU ĐỒ CƠ CẤU GRDP NĂM 2024-2025(Theo giá hiện hành) Năm 2025 cơ cấu kinh tế của tỉnh chuyển dịch chậm so với kế hoạch là do khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản của tỉnh tăng trưởng tốt (tăng vượt kế hoạch).Với điều kiện tự nhiên của tỉnh thích hợp cho phát triển kinh tế nông nghiệp. Trong những năm qua nông dân chuyển đổi mạnh cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng sản xuất các loại cây, con có giá trị kinh tế cao; chuyển đổi nhanh diện tích trồng cây hàng năm sang trồng cây lâu năm, nên ngành nông lâm nghiệp và thủy sản vẫn chiếm tỷ trọng cao trong GRDP của tỉnh.                                                                              N.V.Tròn

Bài 4: Bước chuyển mạnh mẽ của hệ thống pháp luật thống kê Việt Nam
  •   18/12/2025 10:56

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thống kê do Cục Thống kê chủ trì soạn thảo đã được Quốc hội thông qua tại kỳ họp 10, Quốc hội khóa XV ngày 10/12 có nhiều điểm mới. Phóng viên Tạp chí Kinh tế - Tài chính đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Văn Liệu - nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê (nay là Cục Thống kê), nguyên thành viên thường trực Ban Soạn thảo, Tổ trưởng Tổ biên tập Dự án Luật Thống kê (sửa đổi) 2015 về một số điểm mới trong văn bản Luật.100% đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết thông qua dự án LuậtPhóng viên: Thưa ông, Luật Thống kê được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 23/11/2015, tại kỳ họp thứ 10. Luật cũng đã được sửa đổi, bổ sung vào năm 2021 nhằm kịp thời cập nhật các nội dung mới của Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030 và nhiều chính sách phát triển mới. Ông đánh giá như thế nào về hiệu quả Luật Thống kê sau 10 năm đi vào cuộc sống?Ông Nguyễn Văn Liệu, Nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê (nay là Cục Thống kê), nguyên thành viên thường trực Ban Soạn thảo, Tổ trưởng Tổ biên tập Dự án Luật Thống kê (sửa đổi) 2015.Ông Nguyễn Văn Liệu: Sau một thập kỷ triển khai, Luật Thống kê năm 2015 đã khẳng định vai trò nền tảng trong việc nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về thống kê, đồng thời thúc đẩy chất lượng và tính kịp thời của thông tin thống kê phục vụ công tác lãnh đạo, điều hành phát triển kinh tế - xã hội của Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương các cấpTôi cho rằng một trong những điểm quan trọng của Luật Thống kê là quy định về điều phối việc kết nối, cung cấp dữ liệu, thông tin giữa các hệ thống thông tin thống kê nhà nước, đảm bảo sự kết nối giữa cơ quan thống kê trung ương với hệ thống thống kê của các bộ, ngành và địa phương. Luật cũng xác lập rõ vai trò của dữ liệu hành chính trong hoạt động thống kê, đồng thời ưu tiên ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thống kê và kiểm tra việc sử dụng thông tin thống kê đã được công bố chính thức.Thực tiễn triển khai cho thấy, Luật Thống kê 2015 cùng các văn bản hướng dẫn đã tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động thống kê. Chất lượng số liệu ngày càng được nâng cao, phục vụ hiệu quả cho các cơ quan Đảng, Chính phủ và chính quyền địa phương. Số liệu thống kê Việt Nam được nhiều tổ chức quốc tế ghi nhận, góp phần nâng cao uy tín của ngành Thống kê.Hệ thống thông tin thống kê quốc gia, bộ, ngành và địa phương từng bước được củng cố, với những hoạt động kết nối và chia sẻ dữ liệu bước đầu mang lại hiệu quả. Công tác tuyên truyền, phổ biến Luật được triển khai đồng bộ, góp phần nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong việc cung cấp và sử dụng thông tin thống kê.Hạ tầng thống kê tiếp tục được hoàn thiện, đặc biệt là hệ thống chỉ tiêu thống kê, chế độ báo cáo thống kê, chương trình điều tra thống kê và các bảng danh mục, phân loại thống kê. Đây là nền tảng quan trọng giúp nâng cao chất lượng số liệu và hiệu quả hoạt động thống kê nhà nước. Với xu thế chuyển đổi số mạnh mẽ trong hoạt động quản lý nhà nước, thời gian qua, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong toàn bộ quy trình sản xuất thông tin thống kê được chú trọng, từ thu thập, xử lý và phổ biến số liệu, xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên ngành và khai thác hồ sơ hành chính. Tôi đặc biệt đánh giá cao việc ngành Thống kê đã đẩy mạnh thực hiện thu thập thông tin các cuộc điều tra, tổng điều tra bằng hình thức sử dụng phiếu điều tra điện tử CAPI trên máy tính bảng, điện thoại thông minh hay phiếu điều tra trực tuyến webform, để các cuộc điều tra, tổng điều tra không bị gián đoạn, nhất là trong giai đoạn dịch Covid-19 bùng nổ và giai đoạn hậu sau đó.Hoạt động thanh tra việc thực hiện pháp luật thống kê cũng được duy trì nền nếp, chú trọng kiểm tra việc sử dụng số liệu đã công bố, đảm bảo tính nhất quán và minh bạch trong sử dụng thông tin. Bộ máy tổ chức của hệ thống thống kê tập trung được kiện toàn, hoạt động hiệu quả từ Trung ương đến địa phương. Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ thống kê được nâng cao, đáp ứng yêu cầu phân tích, dự báo và hoạch định chính sách.Một điểm sáng là Tổng cục Thống kê (nay là Cục Thống kê) đã ký kết thỏa thuận chia sẻ thông tin với 9 bộ, ngành, tận dụng hiệu quả dữ liệu hành chính để biên soạn nhiều chỉ tiêu thống kê quốc gia. Việc khai thác dữ liệu hành chính không chỉ giúp giảm trùng lặp, nâng cao độ tin cậy và tính kịp thời của số liệu mà còn giảm gánh nặng cho người cung cấp thông tin. Bên cạnh đó, thống kê bộ, ngành đã xây dựng hệ thống chỉ tiêu, chế độ báo cáo và lịch phổ biến thông tin riêng, đảm bảo đầy đủ, minh bạch và kịp thời. Có thể nói, thời gian qua sự phối hợp giữa các bộ, ngành với Tổng cục Thống kê (nay là Cục Thống kê) ngày càng chặt chẽ, hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác thống kê quốc gia.Phóng viên: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thống kê lần này tập trung sửa đổi, bổ sung các nội dung: hệ thống thông tin thống kê nhà nước; hệ thống chỉ tiêu thống kê; việc nghiên cứu, ứng dụng phương pháp thống kê, chuyển đổi số trong hoạt động thống kê nhà nước; tổ chức thống kê nhà nước… Ông đánh giá như thế nào về những nội dung sửa đổi, bổ sung này của Luật Thống kê (sửa đổi), về việc phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp, về đổi mới hoạt động thống kê nhà nước trong bối cảnh mới?Ông Nguyễn Văn Liệu: Luật Thống kê sửa đổi, bổ sung năm 2025 đánh dấu một bước chuyển mình mạnh mẽ của hệ thống pháp luật thống kê Việt Nam, với quy mô sửa đổi lớn: 35 trong tổng số 72 điều được điều chỉnh, chỉ giữ nguyên 37 điều so với Luật Thống kê năm 2015. Những thay đổi này phản ánh nỗ lực đồng bộ hóa pháp luật, cập nhật thực tiễn và thích ứng với xu thế mới của thế giới.Các nội dung sửa đổi, bổ sung có thể được chia thành ba nhóm chính:Nhóm sửa đổi mang tính kỹ thuậtNhóm này tập trung vào việc điều chỉnh để phù hợp với mô hình tổ chức hành chính nhà nước hiện hành, đặc biệt là mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, các sửa đổi cũng nhằm đảm bảo sự thống nhất với các luật chuyên ngành như Luật Dữ liệu, Luật Thanh tra, Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân… Những nội dung điều chỉnh bao gồm: hệ thống thông tin thống kê bộ, ngành; hệ thống thông tin thống kê cấp tỉnh, cấp xã; hệ thống chỉ tiêu thống kê các cấp; tổ chức của hệ thống thống kê tập trung. Nhóm này góp phần đảm bảo hoạt động thống kê được vận hành trơn tru, đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành.Nhóm sửa đổi phù hợp với thực tiễn Việt Nam và thông lệ quốc tếCác điều chỉnh trong nhóm này phản ánh sự cập nhật với thực tiễn hoạt động thống kê tại Việt Nam và tiệm cận với thông lệ quốc tế. Một số điểm nổi bật gồm: bổ sung giai đoạn “đánh giá chất lượng” vào quy trình thống kê; xác định rõ vai trò của hệ thống chỉ tiêu thống kê bộ, ngành trong việc hình thành hệ thống thông tin thống kê quốc gia; xác định rõ vai trò của hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh trong việc hình thành hệ thống thông tin thống kê bộ, ngành; bổ sung hệ thống chỉ tiêu liên ngành, liên lĩnh vực, liên kết vùng; bổ sung chế độ báo cáo thống kê cấp xã; quy định trách nhiệm hướng dẫn thu thập thông tin bằng phiếu điện tử trực tuyến của điều tra viên. Những sửa đổi này giúp nâng cao tính thực tiễn, tính hội nhập và hiệu quả của hoạt động thống kê nhà nước.Nhóm sửa đổi mang tính đổi mới, bắt kịp xu hướng thời đạiĐây là nhóm sửa đổi quan trọng, thể hiện tầm nhìn chiến lược trong việc hiện đại hóa hoạt động thống kê. Các nội dung liên quan đến nghiên cứu, ứng dụng phương pháp thống kê mới, chuyển đổi số trong sản xuất và phổ biến thông tin thống kê được đưa vào luật. Những thay đổi này tạo hành lang pháp lý thuận lợi để hệ thống thống kê nhà nước sản xuất ra các sản phẩm thống kê chất lượng cao, kịp thời, đáp ứng yêu cầu thông tin mới nổi trong bối cảnh thế giới biến động phức tạp như: thiên tai, biến đổi khí hậu, chiến tranh thương mại… đang tác động sâu rộng đến đời sống kinh tế - xã hội của Việt Nam. Bên cạnh đó sự đổi mới này cũng làm giảm sự trùng lặp trong thu thập thông tin, giảm gánh nặng cho cả người sản xuất thông tin và người cung cấp thông tin thống kê, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động thống kê nhà nước.Có thể nói, việc sửa đổi, bổ sung Luật Thống kê lần này là một bước đi đồng bộ, toàn diện, vừa phù hợp với thực tiễn trong nước, vừa mang tính thời đại. Đây là tiền đề quan trọng để nâng cao năng lực thống kê quốc gia, phục vụ hiệu quả công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách trong giai đoạn phát triển mới.Phóng viên: Luật Thống kê sửa đổi, bổ sung năm 2025 bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/1/2026. Vậy theo ông, ngành Thống kê cần quan tâm thực hiện những vấn đề gì?Ông Nguyễn Văn Liệu: Luật Thống kê sửa đổi, bổ sung năm 2025 là một bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động thống kê nhà nước, đáp ứng yêu cầu quản lý hiện đại, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Sau khi Luật được Quốc hội thông qua, việc triển khai thực thi hiệu quả các quy định của Luật là nhiệm vụ cấp thiết. Trong số nhiều nội dung cần quan tâm, tôi nhận thấy có ba vấn đề nổi bật cần đặc biệt chú trọng:Thứ nhất, tăng cường hệ thống thông tin thống kê cấp xã:Trong bối cảnh tổ chức chính quyền theo mô hình hai cấp (tỉnh và xã), đơn vị hành chính cấp xã hiện nay đã mở rộng đáng kể về quy mô địa lý, dân số và hoạt động kinh tế. Điều này đặt ra yêu cầu cao hơn đối với công tác thống kê tại cấp xã. Luật Thống kê sửa đổi, bổ sung năm 2025 quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị trên địa bàn cấp xã trong việc tổ chức thực hiện công tác thống kê phục vụ yêu cầu quản lý của cấp xã và phối hợp, thực hiện điều tra thống kê và chế độ báo cáo thống kê của nhà nước.Một điểm mới đáng chú ý trong dự thảo Luật là quy định về Chế độ báo cáo thống kê cấp xã. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để hình thành hệ thống thông tin thống kê cấp tỉnh từ cấp cơ sở, bảo đảm tính đầy đủ, kịp thời và chính xác của dữ liệu. Tuy nhiên, để thực hiện hiệu quả hoạt động thống kê trên địa bàn cấp xã, bên cạnh quan tâm đến tăng cường năng lực và điều kiện hoạt động cho hệ thống thống kê tập trung cần chú trọng đến công tác thống kê của các cơ quan trên địa bàn cấp xã. Tôi nghĩ cấp có thẩm quyền cần ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể nhằm bảo đảm các điều kiện thực thi, bao gồm:Bố trí đủ nguồn nhân lực để thực hiện công tác thống kê trên địa bàn cấp xã; phân bổ ngân sách hợp lý cho hoạt động thống kê cấp xã; xây dựng chính sách đào tạo và bồi dưỡng người làm công tác thống kê trên địa bàn cấp xã; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong thu thập, xử lý và báo cáo dữ liệu, thông tin thống kê tại cấp cơ sở; thiết lập quy trình phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp xã với Thống kê cơ sở cũng như với các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh trong hoạt động thống kê trên địa bàn cấp xã; trách nhiệm của UBND cấp xã là phối hợp với Thống kê cơ sở để thực hiện Chế độ báo cáo thống kê cấp xã.Thứ hai, sử dụng hiệu quả dữ liệu hành chính cho hoạt động thống kê nhà nướcDữ liệu hành chính là thông tin được hình thành trong quá trình giải quyết thủ tục hành chính của các cơ quan nhà nước, hiện nay chủ yếu được lưu trữ dưới dạng cơ sở dữ liệu số. Việc khai thác dữ liệu hành chính cho mục đích thống kê mang lại nhiều lợi ích, đã được cộng đồng thống kê quốc tế công nhận, bao gồm: Giảm chi phí sản xuất số liệu thống kê; giảm gánh nặng trả lời cho người dân và doanh nghiệp; tăng tính kịp thời và tần suất công bố số liệu; mở rộng phạm vi và độ đầy đủ của thông tin; nâng cao mức độ phù hợp của số liệu thống kê.Luật Thống kê 2015 đã đặt nền móng cho việc sử dụng dữ liệu hành chính trong thống kê nhà nước. Tuy nhiên, thực tế triển khai còn hạn chế, chủ yếu mới khai thác từ các cơ quan quản lý trong các lĩnh vực như thuế, hải quan, đăng ký kinh doanh. Trong khi đó, nhiều cơ sở dữ liệu quốc gia và chuyên ngành đã được xây dựng và vận hành hiệu quả, là nguồn tài nguyên quý giá nếu được khai thác đúng cách.Sau khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thống kê được Quốc hội thông qua, tôi thiết nghĩ cần có các quy định cụ thể trong văn bản hướng dẫn thi hành để thúc đẩy việc sử dụng dữ liệu hành chính. Cụ thể: Cục Thống kê cần chủ động ký kết thỏa thuận chia sẻ dữ liệu với các bộ, ngành quản lý cơ sở dữ liệu; đồng thời khẩn trương xây dựng và vận hành Cơ sở dữ liệu thống kê quốc gia theo quy định tại Điều 51b của dự thảo Luật. Cần thiết lập cơ chế tiếp nhận dữ liệu hành chính dưới dạng bản ghi, bảo đảm ẩn danh và bảo vệ thông tin cá nhân theo quy định của pháp luật; đối với các cơ quan quản lý dữ liệu cần tích cực phối hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho việc kết nối, chia sẻ dữ liệu với cơ quan thống kê; chỉ khi dữ liệu hành chính được khai thác hiệu quả, Luật Thống kê mới thực sự phát huy vai trò trong thực tiễn quản lý nhà nước.Thứ ba, đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số trong hoạt động thống kêChuyển đổi số là xu thế tất yếu trong quản lý nhà nước, sản xuất kinh doanh và đời sống xã hội. Đối với ngành Thống kê, chuyển đổi số không chỉ là công cụ hỗ trợ mà còn là động lực để đổi mới phương pháp, nâng cao hiệu quả và chất lượng số liệu. Công nghệ số hiện đại như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), Internet vạn vật (IoT), điện toán đám mây (Cloud Computing), blockchain… cho phép thu thập, xử lý, lưu trữ và truyền tải dữ liệu nhanh chóng, chính xác và tiết kiệm chi phí.Tôi cho rằng trong thời gian tới, ngành Thống kê cần nghiên cứu, ứng dụng các công nghệ này vào hoạt động chuyên môn, đặc biệt là: Khai thác dữ liệu lớn và dữ liệu địa không gian để xây dựng các chỉ tiêu thống kê mới, các chỉ tiêu thống kê được phân tổ theo khu vực địa lý nhỏ; tự động hóa quy trình thu thập và xử lý dữ liệu; phân tích dữ liệu theo thời gian thực để phục vụ điều hành chính sách; tăng cường bảo mật và bảo vệ thông tin cá nhân trong quá trình xử lý dữ liệu.Việc đẩy mạnh chuyển đổi số sẽ giúp ngành Thống kê đáp ứng tốt hơn các yêu cầu mới, giảm gánh nặng trả lời cho người dân và doanh nghiệp trong điều tra thống kê, đồng thời nâng cao năng lực dự báo và phân tích chính sách.Phóng viên: Xin cảm ơn Ông!Nguồn: https://tapchikinhtetaichinh.vn/bai-4-buoc-chuyen-manh-me-cua-he-thong-phap-luat-thong-ke-viet-nam-130438.html&link=autochanger

Hoàn thiện Luật Thống kê
  •   18/12/2025 10:47

Phóng viên: Xin bà cho biết, thực hiện Luật Thống kê năm 2015 và văn bản Luật sửa đổi sau đó, ngành Thống kê đã phục vụ như thế nào công tác chỉ đạo, điều hành của Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, chính quyền địa phương các cấp cũng như mang đến gì cho các nhà nghiên cứu, doanh nghiệp, người dùng tin nói chung?Cục trưởng Nguyễn Thị Hương: Luật Thống kê năm 2015 được Quốc hội khóa XIII thông qua tại Kỳ họp thứ 10 ngày 23/11/2015 và có hiệu lực từ ngày 1/7/2016. Việc ban hành Luật cùng các văn bản sửa đổi sau đó đã tạo chuyển biến tích cực trong toàn bộ hoạt động thống kê.Với vai trò là công cụ quản lý vĩ mô quan trọng, Luật Thống kê đã thiết lập hành lang pháp lý đầy đủ và thống nhất, giúp Hệ thống Thống kê Nhà nước vận hành chuyên nghiệp hơn, bảo đảm chất lượng thông tin và tăng cường tính minh bạch của dữ liệu thống kê.Đối với Lãnh đạo Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương, số liệu thống kê trở thành căn cứ trọng yếu trong đánh giá, dự báo tình hình, hoạch định chiến lược và xây dựng kế hoạch, quy hoạch, chính sách phát triển. Các chỉ tiêu then chốt như GDP, GRDP, CPI, năng suất lao động hay thu nhập bình quân đầu người được biên soạn theo chuẩn mực quốc tế, bảo đảm tính so sánh, khách quan và kịp thời phục vụ cho quá trình xây dựng nghị quyết, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và đánh giá kết quả thực hiện ở cả trung ương lẫn địa phương.Ngoài việc phục vụ công tác quản lý nhà nước, Luật Thống kê còn mở rộng khả năng tiếp cận thông tin cho các nhà nghiên cứu, cộng đồng doanh nghiệp và người dùng tin. Ngành Thống kê đã đa dạng hóa các kênh cung cấp dữ liệu, đẩy mạnh chia sẻ thông tin qua Cổng thông tin điện tử của Cục Thống kê và các ấn phẩm chuyên đề dưới dạng điện tử và bản in như Niên giám Thống kê; Kết quả Tổng điều tra kinh tế; Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp; Sách trắng Doanh nghiệp hay Báo cáo điều tra mức sống dân cư…Việc chuẩn hóa và cập nhật dữ liệu thường xuyên giúp giới nghiên cứu phân tích chính sách sâu hơn, hỗ trợ doanh nghiệp đưa ra quyết định đầu tư, xây dựng chiến lược kinh doanh và tạo điều kiện để người dân tiếp cận nguồn thông tin chính thống, đáng tin cậy.Nhờ hành lang pháp lý do Luật Thống kê thiết lập, hoạt động thu thập và cung cấp thông tin thống kê ngày càng bảo đảm tính trung thực, khách quan, chính xác và kịp thời. Dữ liệu thống kê trở thành nguồn thông tin chính thức phục vụ hiệu quả cho cơ quan Đảng, Quốc hội, Chính phủ và chính quyền các cấp trong quản lý, điều hành phát triển kinh tế - xã hội.Có thể khẳng định rằng Luật Thống kê đã và đang đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng thông tin, góp phần củng cố nền tảng cho việc xây dựng và thực thi chính sách trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.Phóng viên: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thống kê vừa được Quốc hội thông qua có nhiều điểm mới để phù hợp với bối cảnh mới. Bà có thể nói rõ hơn về các điểm mới này, đặc biệt là để phù hợp với mô hình chính quyền hai cấp?Cục trưởng Nguyễn Thị Hương: Luật Thống kê sửa đổi, bổ sung vừa được Quốc hội thông qua đã đưa vào nhiều điểm mới nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt phù hợp với chủ trương sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp.Quá trình xây dựng Luật dựa trên việc rà soát kỹ lưỡng và tập trung điều chỉnh 4 nhóm vấn đề trọng tâm, bao gồm: tổ chức bộ máy thống kê nhà nước; công tác thanh tra, kiểm tra chuyên ngành; các nghiệp vụ thống kê phát sinh từ thực tiễn; và ứng dụng phương pháp thống kê, công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động thống kê nhà nước.Để bảo đảm tính đồng bộ với chủ trương tinh gọn tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, Luật đã có những điều chỉnh quan trọng đối với hệ thống thông tin thống kê và cơ cấu tổ chức thống kê ở địa phương. Một thay đổi đáng chú ý là việc thay thế hệ thống thông tin thống kê cấp huyện bằng hệ thống thông tin thống kê cấp xã. Việc chuyển cấp này nhằm bảo đảm thu thập đầy đủ, kịp thời thông tin kinh tế - xã hội phục vụ công tác quản lý, điều hành ngay tại địa bàn cơ sở. Theo đó, Điều 16 của Luật hiện hành về “Hệ thống thông tin thống kê cấp huyện” được thay thế hoàn toàn bằng “Hệ thống thông tin thống kê cấp xã”, phù hợp với mô hình chính quyền hai cấp.Bên cạnh đó, các quy định mới sẽ góp phần hình thành một hệ thống thông tin thống kê nhà nước đầy đủ, thông suốt theo cả chiều dọc và chiều ngang, từ Trung ương đến cấp xã; từ các Bộ, ngành đến Bộ Tài chính; từ Sở, ngành đến Cục Thống kê tỉnh, thành phố. Hệ thống này sau khi hoàn thiện sẽ gồm: hệ thống thông tin thống kê quốc gia; hệ thống thông tin thống kê Bộ, ngành; hệ thống thông tin thống kê cấp tỉnh; và hệ thống thông tin thống kê cấp xã.Thêm một điểm mới trong lần sửa đổi này là các cụm từ liên quan đến cấp hành chính cũng được điều chỉnh thống nhất, như bãi bỏ “cấp huyện” trong một số điều và thay bằng “cấp xã” hoặc “cấp cơ sở” tại Điều 42.Luật cũng bổ sung chế độ báo cáo thống kê cấp xã (Điều 42b) nhằm bảo đảm thu thập thông tin phục vụ quản lý, điều hành ngay tại cấp cơ sở. Thẩm quyền ban hành chế độ báo cáo thống kê cấp tỉnh và cấp xã được giao cho Bộ trưởng Bộ Tài chính. Bộ Tài chính khẳng định việc bổ sung này không làm tăng khối lượng công việc của cấp xã, bởi nhiệm vụ sẽ do cơ quan Thống kê cơ sở thực hiện.Luật sửa đổi lần này còn bổ sung một số nội dung quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động thống kê. Điểm mới nổi bật là Điều 51b về việc xây dựng Cơ sở dữ liệu thống kê quốc gia, nhằm thể chế hóa chủ trương của Bộ Chính trị và Chính phủ về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Cơ sở dữ liệu này sẽ tạo nền tảng thông tin tập trung, thống nhất, đồng bộ, hạn chế tình trạng dữ liệu phân tán tại các bộ, ngành, địa phương, đồng thời nâng cao khả năng kết nối và chia sẻ dữ liệu.Một nội dung quan trọng khác là bổ sung hệ thống chỉ tiêu thống kê liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và liên kết vùng. Quy định này phản ánh đúng thực tiễn thống kê hiện nay, đặc biệt đối với các hệ thống chỉ tiêu về phát triển bền vững hay kinh tế số, đồng thời bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và khả năng so sánh của thông tin thống kê.Luật cũng thay thế cụm từ “Thanh tra chuyên ngành thống kê” bằng “Kiểm tra chuyên ngành thống kê” tại Điều 8 nhằm phù hợp với Kết luận của Bộ Chính trị về sắp xếp hệ thống cơ quan thanh tra và với Luật Thanh tra năm 2025.Nhìn chung, các sửa đổi của Luật Thống kê lần này hướng tới củng cố tính thống nhất, chuyên nghiệp của hoạt động thống kê và tái cấu trúc hệ thống thống kê ở cấp cơ sở theo mô hình chính quyền hai cấp. Đồng thời, Luật cũng mở rộng hành lang pháp lý cho việc ứng dụng công nghệ thông tin và thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực thống kê, qua đó nâng cao chất lượng dữ liệu phục vụ quản lý, điều hành trong bối cảnh phát triển mới của đất nước.Phóng viên: Sau khi được Quốc hội thông qua, Cục Thống kê sẽ triển khai những công việc gì tiếp theo để Luật Thống kê nhanh chóng đi vào cuộc sống, thưa Bà?Cục trưởng Nguyễn Thị Hương: Ngay sau khi Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, việc đưa các quy định mới nhanh chóng đi vào cuộc sống là nhiệm vụ mang tính chiến lược, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của toàn ngành Thống kê. Với vai trò là người đứng đầu Cục Thống kê, tôi xác định đây là trọng tâm và chúng tôi sẽ triển khai theo ba nhóm đột phá lớn.Thứ nhất, đột phá về nền tảng pháp lý và hướng dẫn nghiệp vụ. Ở giai đoạn đầu, nhiệm vụ quan trọng nhất là thể chế hóa kịp thời các quy định mới thông qua hệ thống văn bản dưới luật. Cơ quan thống kê sẽ khẩn trương xây dựng và trình ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết, đặc biệt những nội dung liên quan đến thu thập, tích hợp và xử lý thông tin trong bối cảnh chuyển đổi số.Luật sửa đổi xác định rõ vai trò của Cơ quan thống kê cơ sở, vì vậy chúng tôi sẽ hoàn thiện hướng dẫn về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, cũng như cơ chế phối hợp giữa cấp xã và cấp tỉnh nhằm bảo đảm dữ liệu được chuẩn hóa và liên thông. Song song, dù Danh mục chỉ tiêu thống kê quốc gia chưa thay đổi, nhưng cơ quan thống kê sẽ triển khai các giải pháp nghiệp vụ nhằm thống nhất cách hiểu, phương pháp tính và nguồn dữ liệu để tránh khác biệt số liệu giữa các ngành và địa phương.Thứ hai, đột phá về công nghệ, dữ liệu và giảm gánh nặng báo cáo. Đây được xem là trụ cột quan trọng nhất để hiện đại hóa hoạt động thống kê theo tinh thần của Luật sửa đổi. Cơ sở dữ liệu thống kê quốc gia thống nhất sẽ được xây dựng do cơ quan thống kê trung ương chủ trì, bảo đảm kết nối - tích hợp - chuẩn hóa dữ liệu trên toàn quốc, phục vụ quản lý nhà nước và nhu cầu của xã hội.Cùng với đó, việc khai thác dữ liệu hành chính từ các bộ, ngành và địa phương sẽ được đẩy mạnh. Tận dụng tối đa nguồn dữ liệu hành chính không chỉ nâng cao chất lượng thông tin mà còn giảm đáng kể gánh nặng báo cáo cho doanh nghiệp và người dân.Ngành Thống kê cũng ứng dụng mạnh mẽ chuyển đổi số, đầu tư mạnh mẽ vào hạ tầng công nghệ, nền tảng lưu trữ và xử lý dữ liệu lớn, đồng thời triển khai hiệu quả các quy định mới về báo cáo thống kê điện tử, hướng tới tự động hóa và nâng cao tính kịp thời của dữ liệu.Thứ ba, đột phá về tổ chức, đào tạo và triển khai thống kê cấp xã. Vai trò của cấp xã trong thống kê được xác định rõ hơn trong Luật sửa đổi lần này, vì vậy việc triển khai ở cơ sở được xem là yếu tố then chốt. Ngành Thống kê sẽ phân định rõ vai trò của Cơ quan thống kê cơ sở là chịu trách nhiệm quản lý, vận hành hệ thống thông tin thống kê cấp xã, còn UBND cấp xã sẽ thực hiện thống kê và cung cấp dữ liệu hành chính.Đội ngũ công chức kiêm nhiệm thống kê cấp xã sẽ được đào tạo bài bản, liên tục, với trọng tâm là kỹ năng thu thập, tổng hợp dữ liệu và vận hành hệ thống thông tin theo hướng số hóa, phù hợp với bối cảnh cấp xã không phát sinh biên chế chuyên trách. Cùng với đó là tăng cường giám sát chất lượng dữ liệu, bảo đảm tuân thủ phương pháp luận thống kê và các quy định về bảo mật thông tin cá nhân, an toàn dữ liệu.Thực hiện các giải pháp trên, Cục Thống kê sẽ tập trung huy động nguồn lực để hoàn thiện khung pháp lý, hiện đại hóa hạ tầng dữ liệu - công nghệ và nâng cao năng lực thống kê ngay từ cấp cơ sở để đưa các nội dung cải cách của Luật sửa đổi đi vào cuộc sống một cách đồng bộ, hiệu quả và hiện đại, góp phần nâng cao chất lượng thông tin thống kê phục vụ công tác quản lý, điều hành và phát triển kinh tế – xã hội của địa phương và cả nước. Qua đó, góp phần đưa đất nước tự tin bước vào kỷ nguyên phát triển mới, dựa trên dữ liệu, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số toàn diện.Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn Cục trưởng!Nguồn: https://tapchikinhtetaichinh.vn/bai-3-emagazine-hoan-thien-luat-thong-ke-buoc-dot-pha-cho-he-thong-du-lieu-quoc-gia-130249.html

Bài 2: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thống kê phù hợp với thực tiễn, xu thế phát triển
  •   18/12/2025 10:42

Chiều 10/12, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Vũ Hồng Thanh, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thống kê, với 440/440 tổng số ĐBQH có mặt tán thành, đạt 100%. TS. Nguyễn Hoàng Đan - Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã có những chia sẻ với Tạp chí Kinh tế - Tài chính xoay quanh Luật Thống kê.Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thống kê với 100% đại biểu có mặt tán thànhPhóng viên: Thưa Ông, Luật Thống kê được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 23/11/2015, tại kỳ họp thứ 10. Luật cũng đã được sửa đổi, bổ sung vào năm 2021 nhằm đáp ứng kịp thời các nội dung mới của Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030 và nhiều chính sách phát triển mới. Xin Ông cho biết việc thực hiện Luật Thống kê tại Bộ Nông nghiệp và Môi trường như thế nào. Ông có đánh giá gì về hiệu quả hoạt động thống kê nhà nước trong thời gian qua?TS. Nguyễn Hoàng Đan: Việc triển khai, thực hiện Luật Thống kê tại Bộ Nông nghiệp và Môi trường có thể nói gọn lại là ngay sau khi Luật Thống kê được Quốc hội thông qua và có hiệu lực, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã tổ chức thông tin, phổ biến các nội dung của Luật tới các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ và trong ngành dưới nhiều hình thức khác nhau; ban hành Kế hoạch thực hiện cụ thể để phân công và chỉ đạo đồng bộ cả hệ thống cơ quan chuyên môn, quản lý và các đơn vị sự nghiệp liên quan thuộc ngành ở Trung ương và địa phương triển khai thực hiện các nhiệm vụ được giao; tích cực, chủ động tổ chức triển khai các nhiệm vụ về thống kê theo quy định của Luật, nổi bật là:TS. Nguyễn Hoàng Đan Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số, Bộ Nông nghiệp và Môi trường.Tích cực tham gia xây dựng, hoàn thiện pháp luật về thống kê, thời gian qua Bộ Nông nghiệp và môi trường đã phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư (nay là Bộ Tài chính) và các Bộ, ngành khác có liên quan tham gia xây dựng, góp ý hoàn thiện nhiều văn bản quy phạm pháp luật về thống kê; chủ động nghiên cứu xây dựng và ban hành 12 Thông tư và nhiều Quyết định quy định về công tác thống kê ngành nông nghiệp và môi trường, gồm: 7 Thông tư quy định về thống kê nông nghiệp và phát triển nông thôn và 5 Thông tư quy định về thống kê tài nguyên và môi trường, cùng nhiều quyết định của Bộ trưởng.Đẩy mạnh tổ chức thu thập, tổng hợp các chỉ tiêu thống kê và thực hiện chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia (được giao) và ngành nông nghiệp và môi trường, trong đó đã đẩy mạnh thực hiện chế độ báo cáo và tăng cường điều tra thống kê; tích cực phổ biến thông tin thống kê theo quy định.Đầu tư nâng cấp trang thiết bị, hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu thống kê; đổi mới nội dung, hình thức thu thập, tổng hợp số liệu, phát hành ấn phẩm thống kê; đưa vào vận hành hệ thống thông tin thống kê ngành và thực hiện chế độ báo cáo thống kê trực tuyến, hệ thống thư viện điển tử, phát hành Niên giám thống kê ngành hàng năm dưới dạng file điện tử, số hóa...Đến nay, có thể nói Bộ đã cơ bản hoàn thiện cơ sở pháp lý, quy định về công tác thống kê ngành nông nghiệp và môi trường, góp phần tích cực vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật thống kê; chất lượng thông tin và hiệu quả công tác thống kê được nâng lên một bước; thông tin thống kê được công bố, chia sẻ đầy đủ, kịp thời, chính xác hơn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu thông tin phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của Bộ và ngành.Về hiệu quả hoạt động thống kê nhà nước trong thời gian qua, Tôi cho rằng Luật Thống kê đã đem lại những hiệu quả rõ rệt, tạo ra hành lang pháp lý quan trọng, rõ ràng, đồng bộ cho hoạt động thống kê của Nhà nước, giúp khẳng định vị trí, vai trò của hoạt động thống kê trong công tác quản lý, điều hành kinh tế - xã hội.Qua thực hiện Luật Thống kê, hệ thống chỉ tiêu, chế độ báo cáo, các bảng phân loại và chương trình điều tra thống kê được xây dựng đồng bộ và từng bước được hoàn thiện, làm giảm sự trùng lặp trong thu thập, tổng hợp số liệu thống kê, tiết kiệm chi phí điều tra. Bên cạnh đó, việc ứng dụng công nghệ thông tin, truyền thông vào hoạt động thống kê được tăng cường, hạ tầng thống kê được cải thiện giúp khai thác hiệu quả hơn các loại dữ liệu mới (như dữ liệu hành chính, dữ liệu không gian); từng bước nâng cao chất lượng thông tin và hiệu quả công tác thống kê; thông tin thống kê được công bố, chia sẻ đầy đủ, kịp thời, chính xác hơn; đáp ứng tốt hơn nhu cầu thông tin phục vụ chỉ đạo điều hành của các cơ quan Nhà nước.Tuy vậy sau 10 năm thực hiện, Luật Thống kê 2015 cũng đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập. Một số quy định của Luật không còn phù hợp với thực tiễn, xu thế phát triển (khoa học công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh) và các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành rất đòi hỏi cần có điều chỉnh cho phù hợp. Do vậy, việc sửa đổi Luật Thống kê là rất cần thiết trong giai đoạn đổi mới hiện nay.Phóng viên: Thời gian qua, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thống kê đã được Bộ Tài chính (trực tiếp là Cục Thống kê) xây dựng và hoàn thiện sau khi lấy ý kiến từ các bộ, ngành và các chuyên gia. Ông đánh giá như thế nào về quá trình xây dựng hoàn thiện Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thống kê?TS. Nguyễn Hoàng Đan: Với những gì tôi biết, tôi cho rằng quá trình xây dựng, hoàn thiện dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thống kê thời gian qua được tiến hành một cách bài bản, chặt chẽ, công phu, tuân thủ đúng các quy định về xây dựng Luật, cụ thể là: Bộ Tài chính (trực tiếp là Cục Thống kê) đã tiến hành tổng kết tình hình thực hiện Luật Thống kê năm 2015 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều và Phụ lục Danh mục chỉ tiêu thống kê quốc gia của Luật Thống kê năm 2021; tổ chức nghiên cứu, rà soát các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước liên quan đến công tác thống kê; tham khảo Luật Thống kê của một số nước tiên tiến trên thế giới; tổ chức nhiều vòng lấy ý kiến đa chiều từ tổ chức hội thảo khoa học để lấy ý kiến của các chuyên gia, nhà khoa học về dự thảo Luật; đến đăng tải công khai dự thảo Luật trên các Cổng thông tin điện tử để lấy ý kiến nhân dân và gửi xin ý kiến bằng văn bản tới các bộ, ngành, UBND các tỉnh, thành phố; sau đó tổng hợp tiếp thu, giải trình ý kiến góp ý và hoàn thiện dự thảo Luật, gửi Bộ Tư pháp thẩm định. Trên cơ sở ý kiến thẩm định, đã nghiên cứu tiếp thu, giải trình và tiếp tục hoàn thiện dự thảo Luật trình Chính phủ xem xét, cho ý kiến để hoàn thiện, trình Quốc hội.Phóng viên: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thống kê vừa được Quốc hội thông qua tập trung vào sửa đổi, bổ sung những nội dung để phù hợp hơn với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp hiện nay, ví dụ như bỏ hệ thống thông tin thống kê cấp huyện, bỏ hệ thống chỉ tiêu cấp huyện thay vào đó là hệ thống thông tin thống kê cấp xã, hệ thống chỉ tiêu cấp xã. Ông đánh giá như thế nào về những nội dung sửa đổi này?TS. Nguyễn Hoàng Đan: Tôi cho rằng, việc sửa đổi Luật Thống kê lần này là một bước quan trọng để nâng cao hiệu quả công tác thống kê trong bối cảnh mới.Về nội dung: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thống kê vừa được Quốc hội thông qua đã kế thừa các quy định còn giá trị trong Luật trước đó, khắc phục những bất cập, nâng cao vai trò của thống kê, đảm bảo phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Đồng thời, đã cập nhật những nội dung mới về: sắp xếp, tinh gọn bộ máy nhà nước; mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp; ứng dụng công nghệ thông tin - chuyển đổi số trong thống kê, xây dựng cơ sở dữ liệu thống kê quốc gia.Những nội dung được sửa đổi, bổ sung nổi bật gồm: Điều chỉnh, bổ sung tên gọi, chức năng, tổ chức của các bộ, ngành mới, đơn vị thống kê, tổ chức thuộc chính quyền địa phương phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp; bổ sung quy định về hệ thống thông tin thống kê cấp xã (cấp cơ sở) và chế độ báo cáo thống kê cấp tỉnh, cấp xã; điều chỉnh “thanh tra chuyên ngành thống kê” thành “kiểm tra chuyên ngành thống kê” cho phù hợp với Luật Thanh tra mới; cập nhật quy định về phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông, bổ sung quy định về chuyển đổi số và xây dựng cơ sở dữ liệu thống kê quốc gia; lược bỏ các điều khoản không còn phù hợp (như hệ thống chỉ tiêu, hệ thống thông tin cấp huyện) để tương thích với việc tổ chức lại chính quyền địa phương hai cấpNội dung được sửa đổi, bổ sung lần này nhìn chung phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp, cụ thể là: Việc điều chỉnh cụm từ “cấp huyện” thành “cấp xã hoặc cấp cơ sở” trong các điều khoản liên quan đã phản ánh đúng thực tế tổ chức của chính quyền địa phương theo mô hình 2 cấp (cấp tỉnh và cấp cơ sở); bổ sung quy định về hệ thống thông tin thống kê ở cấp xã và chế độ báo cáo cấp tỉnh/cấp xã giúp nâng cao khả năng thu thập dữ liệu và cung cấp thông tin từ cơ sở; việc chuyển từ “thanh tra” sang “kiểm tra chuyên ngành thống kê” giúp thống nhất với quy định hiện hành, tránh chồng chéo. Cụ thể, Luật sửa đổi, bổ sung cũng phù hợp với xu thế phát triển và đổi mới hoạt động thống kê nhà nước trong bối cảnh mới, cụ thể: Việc bổ sung quy định về công nghệ thông tin, chuyển đổi số và cơ sở dữ liệu thống kê quốc gia là phù hợp với xu hướng hiện nay: chuyển đổi số, quản trị dựa trên dữ liệu và cải cách hành chính.Tuy nhiên, để Luật đi vào cuộc sống, đem lại hiệu lực, hiệu quả cao, cần triển khai đồng bộ: việc phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền, đặc biệt ở cấp cơ sở, làm rõ nhiệm vụ, trách nhiệm và nguồn lực đi kèm; việc giao thêm nhiệm vụ cho cấp xã (qua chế độ báo cáo, hệ thống thông tin thống kê cấp xã) đặt ra yêu cầu mới về nhân lực, cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật - cần được bố trí kịp thời, đồng bộ, nếu không có thể ảnh hưởng đến chất lượng thông tin thống kê và tính khả thi trong thực hiện các quy định của Luật.Phóng viên: Từ những điểm mới trên, Ông kỳ vọng điều gì từ Luật Thống kê sửa đổi, bổ sung lần này?TS. Nguyễn Hoàng Đan: Như tôi đã trao đổi ở trên, mong muốn lớn nhất của tôi là không còn khó khăn, vướng mắc, bất cập trong tổ chức triển khai thực hiện các quy định của Luật, nâng cao được chất lượng thông tin thống kê và hiệu quả công tác thống kê.Điều này, tôi nghĩ là khả thi vì Luật mới đã điều chỉnh bổ sung các quy định để phù hợp với việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy nhà nước và mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp. Hơn nữa, việc điều chỉnh, bổ sung quy định về Hệ thống chỉ tiêu thống kê bộ, ngành theo hướng làm rõ nội hàm hệ thống chỉ tiêu và bổ sung quy định về hệ thống chỉ tiêu thống kê đa ngành, đa lĩnh vực, có tính chất tổng hợp, liên kết vùng… sẽ giúp thể chế hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho các Bộ, ngành thu thập, tổng hợp các chỉ tiêu thống kê đa ngành, đa lĩnh vực, có tính chất tổng hợp phục giám sát, đánh giá thực hiện pháp luật chuyên ngành, chiến lược, chính sách, chương trình, mục tiêu quốc gia được phân công quản lý; việc bổ sung quy định về Hệ thống chỉ tiêu, Chế độ báo cáo thống kê cấp xã sẽ giúp cho việc cung cấp thông tin từ cơ sở được nề nếp, thông tin thống kê có cơ sở và sát thực tiễn hơn; đặc biệt là việc bổ sung các quy định về Phát triển, ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số, trong đó có Cơ sở dữ liệu thống kê quốc gia, Cơ sở dữ liệu thống kê của bộ, ngành… sẽ giúp cho việc khai thác các loại dữ liệu mới được hiệu quả hơn, nâng cao được chất lượng thông tin và hiệu quả công tác thống kê.Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn Ông!Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thống kê được Quốc hội thông qua chiều ngày 10/12 phù hợp với các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành và phù hợp với thực tiễn, xu thế phát triển (khoa học công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh) trong giai đoạn đổi mới hiện nay.TS. Nguyễn Hoàng ĐanPhó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số, Bộ Nông nghiệp và Môi trườngNguồn: https://tapchikinhtetaichinh.vn/bai-2-luat-sua-doi-bo-sung-mot-so-dieu-cua-luat-thong-ke-phu-hop-voi-thuc-tien-xu-the-phat-trien-130042.html&link=autochanger

Bài 1: Thông qua sửa Luật Thống kê: Xây dựng hệ thống thông tin thông suốt từ trung ương đến tận cấp xã
  •   18/12/2025 10:37

Với 100% đại biểu tán thành, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thống kê, tạo cơ sở pháp lý cho việc xây dựng hệ thống thông tin thống kê nhà nước thông suốt, đồng bộ từ trung ương đến cấp xã. Luật mới nhấn mạnh chuẩn hóa số liệu, tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong hoạt động thống kê. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2026.100% đại biểu tham gia biểu quyết thông qua dự án Luật.Luật quy định, cơ sở dữ liệu thống kê quốc gia là cơ sở dữ liệu thống kê tổng hợp từ các dữ liệu thống kê, các cơ sở dữ liệu liên quan trên phạm vi toàn quốc, được kết nối, tích hợp, chuẩn hóa, lưu trữ, cập nhật, quản lý tập trung và vận hành thống nhất. Cơ sở dữ liệu thống kê quốc gia do Cơ quan thống kê trung ương chủ trì xây dựng, quản lý và cập nhật; bộ, ngành, địa phương có trách nhiệm cung cấp, cập nhật dữ liệu thống kê được phân công.Cơ sở này được cập nhật định kỳ từ các nguồn: Điều tra thống kê, chế độ báo cáo thống kê, dữ liệu hành chính, cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, địa phương và các nguồn dữ liệu hợp pháp khác; bảo đảm tính chuẩn hóa, thống nhất, đầy đủ, chính xác và kịp thời. Đồng thời, được kết nối, chia sẻ với cơ sở dữ liệu chuyên ngành và cơ sở dữ liệu quốc gia theo quy định của pháp luậtBáo cáo tiếp thu, chỉnh lý dự án Luật trước khi Quốc hội biểu quyết, Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng cho biết, Chính phủ đề xuất nội dung sửa đổi tập trung vào 4 nhóm vấn đề cấp thiết gồm: nhóm các quy định liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước và tổ chức thống kê nhà nước, tổ chức chính quyền địa phương hai cấp; nhóm các quy định liên quan đến thanh tra chuyên ngành thống kê, kiểm tra chuyên ngành thống kê; nhóm các quy định liên quan đến chuyên môn nghiệp vụ thống kê phát sinh trong thực tiễn; Nhóm các quy định liên quan đến ứng dụng phương pháp thống kê, công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong hoạt động thống kê nhà nước. "Đối với các nội dung sửa đổi bổ sung, Chính phủ đã rà soát và bảo đảm thống nhất với các quy định của pháp luật hiện hành", Bộ trưởng khẳng định.Về tính thống nhất của thông tin số liệu thống kê, Bộ trưởng cho hay, Luật Thống kê hiện hành đã có những quy định bảo đảm số liệu thống kê thống nhất, bảo đảm so sánh quốc tế như: tuân thủ thực hiện theo các chuẩn mực thống kê quốc tế về nguyên tắc thống kê chính thức, các hướng dẫn nghiệp vụ của Thống kê Liên hợp quốc trong biên soạn số liệu tài khoản thống kê, số liệu thống kê chuyên ngành bao gồm có thống kê thương mại, xuất nhập khẩu, dịch vụ, giá... Đồng thời, áp dụng các bảng phân loại chuẩn để bảo đảm bóc tách, phân chia số liệu theo chuẩn và bảo đảm và so sánh quốc tế; ban hành các tiêu chuẩn chuẩn mực chung áp dụng trên phạm vi toàn quốc, tiến hành thẩm định các chương trình thống kê theo quy định.Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng báo cáo tại phiên họp.Thực tế còn xuất hiện tình trạng chênh lệch số liệu giữa các bộ ngành và địa phương xuất phát từ sự khác nhau về khái niệm, phạm vi số liệu, phương pháp tính toán biên soạn, thời kỳ, thời điểm của các số liệu khác nhau, mục đích biên soạn... Bộ trưởng nhấn mạnh, Chính phủ sẽ đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số để kết nối, khai thác, chia sẻ thống nhất số liệu giữa các bộ, ngành, địa phương.Liên quan đến hệ thống thông tin, hệ thống chỉ tiêu thống kê, chế độ báo cáo thống kê, dự thảo Luật đã quy định việc hình thành hệ thống thông tin thống kê nhà nước thông suốt đồng bộ từ trung ương đến cấp xã, từ Bộ ngành đến Bộ Tài chính và từ Sở Ngành đến Thống kê tỉnh, thành phố. Theo thẩm quyền, Bộ trưởng Bộ Tài chính sẽ ban hành hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh cấp xã, chế độ báo cáo thống kê cấp tỉnh cấp xã, trong đó phân công cụ thể cơ quan chịu trách nhiệm thu thập, tổng hợp số liệu của từng chỉ tiêu với các biểu mẫu tương ứng áp dụng thống nhất trên phạm vi toàn quốc.Đối với các chỉ tiêu thống kê mới phát sinh, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế số, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, phát triển bền vững, xanh, tuần hoàn, Bộ trưởng cho biết, Chính phủ sẽ liên tục rà soát, cập nhật và cụ thể hóa tại các văn bản hướng dẫn thi hành. Về trách nhiệm phạm vi thẩm quyền phân công thu thập, tổng hợp số liệu, Chính phủ sẽ tiếp thu và sẽ quy định cụ thể trong các văn bản hướng dẫn thi hành luật đối với từng số liệu, từng chỉ tiêu cụ thể.Liên quan đến việc triển khai chế độ báo cáo cấp xã, Bộ trưởng nêu rõ, việc triển khai này không làm tăng biên chế cấp xã, không làm tăng khối lượng công việc cho cấp xã vì Ủy ban nhân dân cấp xã chỉ là đơn vị thực hiện thu thập một số chỉ tiêu cấp xã. Ngoài ra còn có các cơ quan như thống kê cơ sở, thuế cơ sở, kho bạc cơ sở, tòa án khu vực, kiểm sát khu vực thực hiện. Chính phủ cũng tiếp thu ý kiến về điều tra thống kê theo hướng tăng cường khai thác sử dụng dữ liệu hành chính, dữ liệu từ hệ thống thông tin. Các thông tin có thể tự động tích hợp từ hệ thống thông tin hiện có sẽ không tổ chức điều tra để giảm chi phí, hạn chế trùng lắp và nâng cao hiệu quả hoạt động thống kê.

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Tháp tháng 11 năm 2025
  •   02/12/2025 15:41

Trong tháng, tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh tiếp tục tăng trưởng. Hoạt động sản xuất kinh doanh của các ngành, lĩnh vực đạt được nhiều kết quả khả quan tích cực. Kết quả thực hiện trên các lĩnh vực như sau: I. SẢN XUẤT NÔNG LÂM NGHIỆP VÀ THỦY SẢN Trong tháng, thời tiết nhìn chung thuận lợi, cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt. Tình hình sâu bệnh duy trì ở mức thấp đến trung bình nhờ công tác dự báo và hướng dẫn phòng trừ kịp thời, dịch bệnh trên đàn vật nuôi được kiểm soát chặt chẽ. Hoạt động nuôi trồng thủy sản tiếp tục đạt kết quả tích cực. Tuy nhiên thời điểm đầu tháng 11 triều cường dân cao, đỉnh lũ cao hơn các năm trước, gây ngập lụt ở một số nơi của một số địa phương vùng đầu nguồn ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt của người dân. 1. Nông nghiệp Cây lương thực có hạt: diện tích gieo sạ năm 2025 ước đạt 618.752 ha, giảm 0,8% so cùng kỳ; trong đó: cây lúa gieo sạ 611.652 ha, giảm 0,8%. - Cây lúa: + Vụ Đông xuân 2024 - 2025: diện tích gieo trồng chính thức 229.680 ha, giảm 1,7% so cùng kỳ. Thu hoạch 100% diện tích, năng suất thu hoạch bình quân đạt 71,9 tạ/ha với sản lượng thu hoạch 1.651.864 tấn, giảm 1,5% so cùng kỳ. + Vụ Hè thu 2025: diện tích gieo trồng chính thức 244.290 ha, giảm 2,1% so cùng kỳ. Thu hoạch 100% diện tích, năng suất bình quân đạt 65,2 tạ/ha với sản lượng thu hoạch 1.592.801 tấn, giảm 0,1% so cùng kỳ. + Vụ Thu đông 2025: diện tích gieo sạ ước đạt 137.682 ha, tăng 3,6% so cùng kỳ. - Cây ngô: Diện tích gieo trồng cả năm 2025 ước đạt 7.100 ha, giảm 1,9%, tương ứng giảm 135,2 ha. Năng suất thu hoạch bình quân ước đạt 69,8 tạ/ha, giảm 4,7%, tương ứng giảm 3,4 tạ/ha. Sản lượng thu hoạch ước đạt 49.524 tấn, giảm 6,4%, tương ứng giảm 3.405 tấn. Hiện nay nông dân trong tỉnh đã gieo trồng cây ngô vụ Đông xuân 2025-2026, diện tích gieo trồng tính đến 20/11/2025 ước đạt 1.044 ha, giảm 2,5%, tương ứng giảm 26,5 ha (số liệu được tính cho kỳ sản xuất năm 2026). Hình 1. Diện tích gieo trồng lúa gieo trồng qua 2 năm - Cây rau đậu các loại: Diện tích gieo trồng cả năm 2025 ước đạt 56.231 ha, tăng 0,2% so cùng kỳ; Sản lượng thu hoạch 1.570.351 tấn, tăng 20,9% so cùng kỳ. Trong đó, rau các loại gieo trồng ước đạt 55.848 ha, tăng 0,3% so cùng kỳ; sản lượng thu hoạch ước đạt 1.569.223 tấn, tăng 20,9% so cùng kỳ. Hiện nay nông dân đã gieo trồng vụ đông xuân 2025-2026, diện tích gieo trồng tính đến 20/11/2025 ước đạt 8.852 ha, giảm 2,1% so cùng kỳ (số liệu được tính cho kỳ sản xuất năm 2026); trong đó: rau các loại 8.802 ha, giảm 1,9% so cùng kỳ. Tận dụng nguồn đất đai màu mỡ, nông dân tranh thủ thời gian, thời tiết thuận lợi trồng xen canh, trồng gối vụ các loại rau, củ, quả có giá trị kinh tế cao, dễ tiêu thụ như: rau muống, bầu, mướp, bí xanh, mướp đắng, dưa leo, cải các loại, hành lá, dưa hấu và các loại rau cải ngắn ngày khác... - Chăn nuôi: ước thời điểm 30/11/2025 tổng đàn gian súc, gia cầm của tỉnh như sau: đàn trâu 3,1 nghìn con, tăng 4,3% so cùng kỳ; đàn bò 159,1 nghìn con, giảm 0,9%; đàn lợn 450,1 nghìn con, tăng 4,7%; đàn gia cầm 24,5 triệu con, giảm 2,2%. Đàn trâu tăng nhờ nguồn thức ăn tại chỗ dồi dào, giúp giảm chi phí và duy trì đàn ổn định. Ngược lại, chăn nuôi bò giảm do chi phí cao, hiệu quả thấp, làm nhiều hộ cắt giảm số lượng nuôi hoặc chuyển sang trồng trọt. Đàn lợn tiếp tục tăng, chủ yếu ở các gia trại và trang trại, nhờ kiểm soát dịch bệnh tốt, tạo điều kiện cho người dân yên tâm tái đàn. Mặc dù giảm so với năm trước, đàn gia cầm đang phục hồi dần nhờ dịch bệnh được kiểm soát, chi phí thức ăn ổn định, nhu cầu thị trường cải thiện. *Tình hình dịch bệnh trên vật nuôi: theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đồng Tháp Gia cầm: Bệnh cúm gia cầm trong tháng không phát sinh. Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh có 03 hộ có gia cầm nhiễm vi rút cúm A/H5N1 với số lượng 6.161 con (tổng đàn 7.200 con) tại 02 xã (Phú Thành và Tân Phước 3). Đã tiêu hủy toàn bộ số gia cầm 7.200 con. Gia súc: Bệnh dịch tả lợn Châu Phi: trong tháng phát sinh 17 hộ với số lợn bệnh 31 con (tổng đàn 809 con). Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh xảy ra 41 hộ có 658 con lợn bệnh (tổng đàn 1.456 con) tại 24 xã, phường (Vĩnh Bình, Bình Ninh, Vĩnh Hựu, Tân Phước 3, Hội Cư, Bình Trưng, Long Định, Tân Phú, Kim Sơn, Mỹ Tịnh An, Hậu Mỹ, Mỹ Thành, Lương Hoà Lạc, Tân Hồng, Thạnh Phú, Phường Trung An, Thanh Bình, Chợ Gạo, Mỹ Thiện, Hiệp Đức, Long Hưng, Phú Thọ, Tân Thới và Cái Bè). Đã tiêu hủy 1.232 con (khối lượng 52.055,5 kg). Bệnh viêm da nổi cục: trong tháng không phát sinh. Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh xảy ra 03 hộ tại 03 xã (Hậu Mỹ, Tân Thuận Bình, Chợ Gạo) với 04 con bò có dấu hiệu bệnh (tổng đàn 18 con). Đã tiêu hủy 01 con bò (khối lượng 215 kg). Bệnh lở mồm long móng: trong tháng không phát sinh. Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh xảy ra 01 con lợn bệnh tại cơ sở giết mổ ở xã Hậu Mỹ. Đã tiêu hủy lợn bệnh (khối lượng 110 kg). Hình 2. Chăn nuôi tại thời điểm 30/11/2025 2. Lâm nghiệp: Tổng diện tích rừng trên địa bàn tỉnh là 6.999,6 ha (không bao gồm diện tích rừng thuộc đất an ninh quốc phòng); trong đó, diện tích rừng đặc dụng 2.717,6 ha; rừng phòng hộ 2.244,3 ha và rừng sản xuất 2.037,7 ha. Trong tháng, toàn tỉnh thực hiện trồng mới được 47,0 ngàn cây phân tán. Nâng tổng số cây phân tán trồng được 848,0 ngàn cây các loại, giảm 0,1% so cùng kỳ. 3. Thủy hải sản: Diện tích thả nuôi thâm canh trong tháng ước đạt 819 ha. Tổng diện tích thả nuôi thâm canh 11 tháng ước đạt 7.098 ha, tăng 1,8% so cùng kỳ chủ yếu là diện tích nuôi cá tra do giá xuất khẩu cá tra tương đối ổn định nên doanh nghiệp tăng diện tích nuôi (cá tra 2.834 ha tăng 8,1%), ngược lại tôm thẻ chân trắng 3.939 ha (giảm 1,1%). Sản lượng thủy sản nuôi trong tháng ước đạt 132.602 tấn. Tính chung 11 tháng năm 2025, thu hoạch ước đạt 839.943 tấn, tăng 4,4% so cùng kỳ, tương ứng tăng 35.095 tấn, trong đó: sản lượng cá đạt 768.285 tấn (tăng 4,6%); sản lượng tôm đạt 43.048 tấn (tăng 11,7%);…. Sản lượng tăng chủ yếu nhờ thời tiết thuận lợi, tình hình dịch bệnh được kiểm soát, giúp năng suất nuôi đạt cao. Sản lượng thủy sản khai thác biển trong tháng ước đạt 9.826 tấn. Tính chung 11 tháng năm 2025, thu hoạch ước đạt 106.887 tấn, tăng 14,5% so cùng kỳ, tương ứng tăng 13.553 tấn, trong đó: cá đạt 72.155 tấn (tăng 5,0%); tôm đạt 3.034 tấn (tăng 13,2%);…. Sản lượng khai thác tăng nhờ nguồn lợi thủy sản xuất hiện nhiều tại ngư trường, thời tiết thuận lợi, giúp ngư dân khai thác hiệu quả hơn so với cùng kỳ. II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP Trong tháng 11/2025, hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh duy trì đà tăng trưởng ổn định. Các doanh nghiệp công nghiệp chủ động thích ứng thị trường, mở rộng sản xuất và nâng cao năng suất. Một số ngành chế biến, chế tạo, sản xuất (thực phẩm, trang phục, giấy, kim loại) ghi nhận mức tăng khá so với cùng kỳ. Tuy còn khó khăn về tiêu thụ và chi phí đầu vào, nhưng nhìn chung sản xuất công nghiệp vẫn phục hồi tích cực, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương. Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 11/2025 tăng 2,25% so với tháng trước và tăng 16,88% so cùng kỳ (ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 18,61%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 2,46%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng giảm 0,21% và ngành khai khoáng giảm 70,56% so cùng kỳ). Ngành chủ lực là sản xuất chế biến thực phẩm tăng 16,70%. Bên cạnh đó, một số ngành có chỉ số sản xuất tăng cao so cùng kỳ như: sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 33,3%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 53,47%; sản xuất đồ uống tăng 46,81%; sản xuất kim loại tăng 42,08%; sản xuất trang phục tăng 28,35%. Ở chiều ngược lại, một số ngành giảm so cùng kỳ như: khai khoáng khác giảm 70,56%; sản xuất sản phẩm thuốc lá giảm 34,10%; sản xuất xe có động cơ giảm 16,80%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 61,16%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 11,08%;... Tính chung 11 tháng đầu năm chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 13,19% so cùng kỳ; trong đó: khai khoáng giảm 33,73% (do trong 6 tháng cuối năm 2025 nhiều công trình qua giai đoạn sử dụng cát nền, nhu cầu sử dụng cát giảm; một số doanh nghiệp đã hết hạn cấp phép, hiện đang làm thủ tục cấp phép khai thác tiếp, nên số liệu giảm so cùng kỳ); ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 14,15%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 2,66%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,0%. Hình 3. Chỉ số sản xuất công nghiệp 11 tháng năm 2025 Chỉ số sản xuất sản phẩm trong 11 tháng so cùng kỳ như sau: - Có 71/119 sản phẩm tăng: Phi lê đông lạnh tăng 6,3%; Quả và hạt ướp lạnh tăng 66,7%; Gạo đã xát toàn bộ hoặc sơ bộ tăng 5,2%; Bánh làm từ bột khác bảo quản được tăng 23,2%; Thức ăn gia cầm tăng 27,0%; Thức ăn thủy sản tăng 16,2%; Bia đóng lon tăng 23,8%; Bộ com lê, quần áo người lớn dệt kim hoặc đan móc tăng 3,0%; Gỗ cưa xẻ tăng 28,2%; Thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh dạng lỏng tăng 44,3%; Thùng, bể chứa dung tích trên 300 lít bằng plastic tăng 16,3%; Cấu kiện làm sẵn bằng xi măng, bê tông cho xây dựng tăng 15,8%; Bê tông tươi tăng 8,3%; Ống và ống dẫn bằng đồng tăng 5,9%; Dịch vụ sản xuất thiết bị điện chiếu sáng tăng 54,5%; Tàu thuyền lớn chuyên chở người và hàng hóa có động cơ đẩy tăng 15,8%; Điện mặt trời tăng 5,8%; Dịch vụ thu gom rác thải không độc hại có thể tái chế tăng 13,3% so cùng kỳ; ... - Có 47/119 sản phẩm giảm: Cát đen giảm 33,7%; Miến, hủ tiếu, bánh đa khô giảm 2,2%; Thuốc lá có đầu lọc giảm 14,2%; Thức ăn gia súc giảm 1,4%; Bộ com lê, quần áo người lớn không dệt kim hoặc đan móc giảm 25,5%; Giày, dép thể thao có đế ngoài và mũ giày bằng cao su và plastic giảm 1,6%; Thuốc và dược phẩm dạng viên giảm 10,0%; Thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh dạng bột/cốm giảm 34,9%; Tàu chở khách trọng tải 26 đến 500 tấn giảm 21,2%; Điện gió giảm 5,5% so cùng kỳ; ... * Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Hoạt động sản xuất công nghiệp của tỉnh Đồng Tháp tiếp tục duy trì, ổn định nên tình hình sản xuất, tiêu thụ của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh trong tháng 11 năm 2025 tăng so với cùng kỳ: Chỉ số tiêu thụ so với tháng trước giảm 0,16%, so với cùng kỳ tăng 8,61% (lũy kế 11 tháng tăng 10,59%); Chỉ số tồn kho so với tháng trước tăng 8,36%, so với cùng kỳ tăng mạnh 19,59%. Cụ thể tình hình tiêu thụ và tồn kho một số sản phẩm như sau: - Nhóm có nhu cầu tiêu thụ tăng, lượng tồn kho giảm gồm: + Giấy và sản phẩm từ giấy: chỉ số tiêu thụ tăng 21,76%, chỉ số tồn kho giảm mạnh (giảm 28,97%); + Dệt: tiêu thụ tăng 14,20%, tồn kho giảm sâu 66,54% (do doanh nghiệp chủ động đa dạng hóa thị trường, đổi mới công nghệ, cùng với sự phục hồi nhu cầu từ các thị trường lớn); + In, sao chép bản ghi: tiêu thụ tăng 59,91%, tồn kho giảm 31,50%. - Nhóm có chỉ số tiêu thụ giảm nhưng tồn kho tăng: + Thuốc, hoá dược và dược liệu: tiêu thụ giảm 18,63%, nhưng tồn kho lại tăng 18,51%; + Sản phẩm thuốc lá: tiêu thụ giảm 17,14%, tồn kho tăng 9,49%; + Da và các sản phẩm liên quan: tiêu thụ giảm 4,21%, nhưng tồn kho tăng cao 49,56%. - Nhóm có chỉ số tiêu thụ và tồn kho tăng (do nhu cầu tiêu thụ tăng, doanh nghiệp tăng tồn kho để chủ động nguồn cung): + Sản xuất kim loại: tiêu thụ tăng 36,18%, tồn kho tăng đến 120,69%; + Sản xuất trang phục: tiêu thụ tăng 22,04%, tồn kho tăng 47,03%; + Chế biến thực phẩm: tiêu thụ tăng 2,24% và tồn kho tăng ở mức trung bình 10,8%. - Nhóm có chỉ số tiêu thụ và tồn kho giảm: Cao su và plastic: cả tiêu thụ và tồn kho đều giảm (lần lượt giảm 2,91% và 18,79%), cho thấy cầu giảm, doanh nghiệp đang thu hẹp quy mô sản xuất. III. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP: (Theo báo cáo của Sở Tài Chính) Doanh nghiệp (DN) thành lập mới: Trong tháng 11, có 272 DN thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 936,7 tỷ đồng. Lũy kế 11 tháng đầu năm 2025, có 2.413 DN thành lập mới, tăng 69,2% so với cùng kỳ năm 2024 và đạt 134% so kế hoạch phát triển DN năm 2025 (kế hoạch 1.800 DN); với tổng vốn đăng ký là 14.177,2 tỷ đồng, tăng 60,4% so với cùng kỳ năm 2024. Giải thể, tạm ngừng hoạt động, tái hoạt động: Trong tháng, có 44 DN giải thể, 30 DN tạm ngừng hoạt động, 17 DN hoạt động trở lại. Lũy kế từ đầu năm 2025, có 403 DN giải thể (tăng 36,1%), 775 DN tạm ngừng hoạt động (tăng 10,9%), 382 DN hoạt động trở lại (tăng 24,8% so với cùng kỳ năm 2024). IV. ĐẦU TƯ - XÂY DỰNG Tình hình thực hiện vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tiếp tục được lãnh đạo tỉnh quan tâm chỉ đạo quyết liệt. Mặc dù gặp nhiều khó khăn như thời tiết mưa bão, công tác giải phóng mặt bằng còn chậm, khan hiếm nguồn cung vật liệu xây dựng, nhưng các sở, ban, ngành được giao nhiệm vụ đã nỗ lực duy trì tiến độ và đẩy nhanh thực hiện kế hoạch đầu tư công trên địa bàn. Tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trong tháng là 1.630 tỷ đồng, tăng 14,6% so cùng kỳ. Tính chung 11 tháng đầu năm 2025 ước thực hiện 14.406 tỷ đồng, đạt 87,9% kế hoạch, tăng 31,2% so cùng kỳ. Chia ra: - Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh thực hiện 14.161 tỷ đồng, bằng 88,2% kế hoạch và tăng 30,6% so cùng kỳ, chiếm 98,3% tổng số. Trong đó: vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu: 4.774 tỷ đồng, tăng 42,9%; vốn xổ số kiến thiết: 3.347 tỷ đồng, tăng 4,7% so cùng kỳ. Các ngành các cấp phối hợp với các chủ đầu tư khắc phục khó khăn đẩy nhanh tiến độ thực hiện công trình nhằm đạt kế hoạch đề ra, nhiều công trình đã hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng, các công trình còn lại thi công đúng theo tiến độ đề ra. - Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp xã thực hiện 245 tỷ đồng, bằng 74,6% kế hoạch và tăng 81,5% so cùng kỳ; trong đó: vốn cân đối ngân sách cấp xã 54 tỷ đồng, tăng 7,9 lần so cùng kỳ. Nguồn vốn ngân sách cấp xã ưu tiên bố trí các dự án khởi công mới thuộc lĩnh vực giao thông, phòng, chống thiên tai, xử lý sạt lở bờ sông, bờ biển, biến đổi khí hậu, giáo dục, y tế. Tình hình thu hút đầu tư nước ngoài: Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh thu hút 51 dự án đầu tư mới, trong đó có 13 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với vốn đầu tư 171 triệu USD và 38 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư đăng ký là 17 nghìn tỷ đồng. Công tác giải ngân vốn đầu tư công: Theo số liệu của Sở Tài chính, ước tính đến cuối tháng 11/2025, lũy kế giá trị giải ngân nguồn vốn đầu tư công đạt 8.777 tỷ đồng và đạt 53,5% so với kế hoạch (16.393 tỷ đồng). V. THƯƠNG MẠI - GIÁ CẢ - DỊCH VỤ 1. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng: Nhìn chung, hoạt động thương mại dịch vụ tiếp tục tăng trưởng, hàng hoá cung ứng đồi dào, hoạt trao đổi mua bán khá sôi động, nhất là các mặt hàng nhóm lương thực, thực phẩm, hàng may mặc... có mức tăng khá cao đã đáp ứng nhu cầu mua sắm của người dân. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trong tháng thực hiện 21.278 tỷ đồng, tăng 1,3% so tháng trước và tăng 11% so cùng kỳ. Mười một tháng năm 2025, tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thực hiện 227.022 tỷ đồng, tăng 9,2% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 176.280 tỷ đồng, tăng 8,2%; lưu trú 795 tỷ đồng, tăng 14,5%; ăn uống 29.405 tỷ đồng, tăng 14,2%; du lịch lữ hành 387 tỷ đồng, tăng 32,3%; dịch vụ tiêu dùng khác 20.155 tỷ đồng, tăng 11,1% so cùng kỳ. Hình 4. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng 2. Xuất - Nhập khẩu (Theo báo cáo Sở Công Thương) a. Xuất khẩu: Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng ước thực hiện 810 triệu USD, tăng 1,1% so tháng trước và tăng 11% so cùng kỳ. Mười một tháng ước tính xuất khẩu 8.631 triệu USD, đạt 93,8% kế hoạch, tăng 3,9% so cùng kỳ. b. Nhập khẩu: Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 11/2025 ước đạt 400 triệu USD, tăng 0,9% so tháng trước và bằng 85,5% so cùng kỳ. Mười một tháng ước đạt 4.466 triệu USD, đạt 100,8% kế hoạch và tăng 11,1% so với cùng kỳ. 3. Chỉ số giá: Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 11/2025 tăng 0,47% (thành thị tăng 0,62%, nông thôn tăng 0,42%) so tháng 10/2025, tăng 3,05% so tháng 11/2024. Bình quân 11 tháng năm 2025 tăng 2,35% so cùng kỳ năm trước. So với tháng 10/2025, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 07 nhóm tăng: Giao thông tăng 0,86%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,73%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,62%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,27%; may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,07%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,06%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%. Có 03 nhóm giảm: thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,02%; bưu chính viễn thông giảm 0,05%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,07%. Riêng nhóm hàng giáo dục chỉ số ổn định so với tháng trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 11 tháng năm 2025 so cùng kỳ tăng 2,35%; một số nhóm hàng có chỉ số tăng như: thuốc và dịch vụ y tế tăng 11,92%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 6,25%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,94%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,63%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,73% so với cùng kỳ … Có hai nhóm giảm: nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,02% và nhóm giao thông giảm 3,08% so cùng kỳ. Chỉ số giá vàng trong tháng 11/2025 tăng 0,2% so tháng trước, tăng 59,3% so với cùng kỳ. Bình quân 11 tháng đầu năm 2025 so với cùng kỳ tăng 48,26%. Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng 11/2025 tăng 1,33% so tháng trước và tăng 4,87% so với cùng kỳ. Bình quân 11 tháng năm 2025 so với cùng kỳ tăng 4,34%.  4. Vận tải: Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trong tháng thực hiện 654 tỷ đồng, tăng 1,9% so tháng trước và tăng 14,3% so cùng kỳ. Mười một tháng thực hiện 6.990 tỷ đồng, tăng 13,2% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 2.274 tỷ đồng, tăng 14,3%; doanh thu vận tải hàng hóa thực hiện 3.471 tỷ đồng, tăng 12,1% so cùng kỳ. Doanh thu vận tải đường bộ thực hiện 3.301 tỷ đồng, tăng 15,1%; doanh thu vận tải đường thủy thực hiện 2.244 tỷ đồng, tăng 9,5%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 714 tỷ đồng, tăng 14,1% so cùng kỳ. Vận tải hành khách trong tháng đạt 6.006 ngàn hành khách, tăng 3,3% so tháng trước và tăng 4,7% so cùng kỳ; luân chuyển 289.614 ngàn hành khách.km, tăng 1% so tháng trước và tăng 52,8% so cùng kỳ. Mười một tháng, vận chuyển 65.264 ngàn hành khách, tăng 9,3% so cùng kỳ; luân chuyển 2.577.171 ngàn hành khách.km, tăng 31,5% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 21.094 ngàn hành khách, tăng 22,1% và luân chuyển 2.556.663 ngàn hành khách.km, tăng 32,1% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 44.170 ngàn hành khách, tăng 4,1% và luân chuyển 20.508 ngàn hành khách.km, bằng 83,9% so cùng kỳ. Vận tải hàng hóa trong tháng đạt 2.191 ngàn tấn, bằng 99,1% so tháng trước và giảm 3,5% so cùng kỳ; luân chuyển 4.721.014 ngàn tấn.km, tăng 2,1% so tháng trước và bằng 89,3% so cùng kỳ. Mười một tháng, vận tải 25.531 ngàn tấn hàng hóa, tăng 6,8% so cùng kỳ; luân chuyển 4.721.014 ngàn tấn.km, tăng 1,1% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 6.154 ngàn tấn, tăng 21,8% và luân chuyển 859.805 ngàn tấn.km, bằng 82,3% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 19.377 ngàn tấn, tăng 2,8% và luân chuyển 3.861.209 ngàn tấn.km, tăng 6,5% so cùng kỳ. 5. Bưu chính viễn thông: Doanh thu trong tháng 11/2025 đạt 523 tỷ đồng, tăng 1,5% so tháng trước. Mười một tháng doanh thu dịch vụ bưu chính, viễn thông đạt 5.642 tỷ đồng, tăng 10,2% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính đạt 528 tỷ đồng, tăng 11,1% và viễn thông 5.115 tỷ đồng, tăng 10,1% so cùng kỳ. Đến cuối tháng 11 năm 2025 tổng số thuê bao điện thoại có trên mạng (bao gồm: hữu tuyến, vô tuyến, trả trước, trả sau) ước tính 3.907.874 thuê bao. Thuê bao điện thoại bình quân đạt 114,8 thuê bao/100 dân. Số thuê bao điện thoại di động có sử dụng Internet (3G, 4G) đến cuối tháng 11 là: 3.264.599 thuê bao. Tổng số thuê bao Internet trên mạng là 4.095.165 thuê bao (bao gồm: băng rộng di động 3G, 4G; MyTV và Cáp; băng rộng cố định FTTH, xDSL, Leased-line, CATV), mật độ Internet bình quân ước đạt 120,3 thuê bao/100 dân. VI. TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG 1. Tài chính: Tổng thu ngân sách nhà nước tháng 11/2025 thực hiện 2.549 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn 1.618 tỷ đồng; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 262 tỷ đồng. Mười một tháng, thu 57.012 tỷ đồng; trong đó, thu ngân sách trên địa bàn thực hiện 22.133 tỷ đồng, đạt 107% dự toán và tăng 14,1% so cùng kỳ; thu nội địa 21.273 tỷ đồng, đạt 107,1% dự toán, tăng 14,2% so cùng kỳ. (trong thu ngân sách trên địa bàn: thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 3.599 tỷ đồng, tăng 32,1% dự toán, tăng 12,8% so cùng kỳ; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 4.636 tỷ đồng, tăng 58,8% dự toán và tăng 51,5% so cùng kỳ...). Tổng chi ngân sách nhà nước trong tháng 3.628 tỷ đồng; trong đó: chi đầu tư phát triển 1.400 tỷ đồng; chi hành chính sự nghiệp 2.137 tỷ đồng. Mười một tháng, chi 36.974 tỷ đồng, đạt 84,4% dự toán và tăng 22,7% so cùng kỳ; trong đó: chi đầu tư phát triển 11.644 tỷ đồng, đạt 105,1% dự toán và bằng 92,3% so cùng kỳ; chi hành chính sự nghiệp 22.047 tỷ đồng, đạt 99,4% dự toán và tăng 42,2% so cùng kỳ. 2. Ngân hàng: Hoạt động tiền tệ, ngân hàng, ngoại hối thực hiện theo chỉ đạo của Ngân hàng nhà nước (NHNN) đồng thời bám sát định hướng phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại địa phương. Mặt bằng lãi suất ổn định và có xu hướng giảm, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận vốn vay. Lãi suất huy động: Hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn chấp hành tốt các quy định về lãi suất huy động theo quy định của NHNN Việt Nam.Lãi suất cho vay: Bằng Việt Nam đồng đến cuối tháng 9/2025, lãi suất cho vay bình quân chung là 7,41%/năm, giảm 0,53%/năm. Bằng USD lãi suất cho vay bình quân là 3,82%/năm, giảm 0,24%/năm so với cuối năm 2024. Đến cuối tháng 10/2025, vốn huy động đạt 199.493 tỷ, tăng 9,54% so với cuối năm 2024, tổng dư nợ cho vay của các TCTD trong tỉnh đạt 237.743 tỷ, tăng 5,62% so với cuối năm 2024. Ước đến cuối tháng 12/2025, nguồn vốn huy động đạt 203.874tỷ, tăng 11,94% so với cuối năm 2024; tổng dư nợ đạt 247.613 tỷ, tăng 10%. Nợ xấu: đến cuối tháng 9/2025 nợ xấu đạt 6.451 tỷ đồng, tăng 3.159 tỷ đồng; tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là 2,74%, tăng 1,26% so với cuối năm 2024. Ước đến cuối tháng 12/2025 tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ dưới 3%. Quỹ tín dụng nhân dân: Tháng 10/2025 dư nợ đạt 237.743 tỷ đồng, tăng 12.641 tỷ, tăng 5,62% so với cuối năm 2024 và tỷ lệ nợ xấu là 2,74%. Ước thực hiện tháng 12/2025, đạt 247.613 tỷ đồng, tăng 10% so với cuối năm 2024. VII. KHOA HỌC CÔNG NGHỆ Trong tháng, Hội đồng tư vấn tuyển chọn thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ thẩm định kinh phí 01 nhiệm vụ cấp tỉnh; nghiệm thu kết quả thực hiện 03 nhiệm vụ cấp tỉnh; kiểm tra, đánh giá tiến độ thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ: 06 cấp tỉnh, 01 cấp cơ sở. Tuyển chọn thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ đến nay tổng cộng 11 nhiệm vụ cấp tỉnh; Quyết định phê duyệt triển khai 14 nhiệm vụ cấp tỉnh, 01 nhiệm vụ cấp cơ sở; Thẩm định các kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ không sử dụng ngân sách nhà nước 01 nhiệm vụ. Đến hết tháng 11/2025 thẩm định kinh phí 14 nhiệm vụ cấp tỉnh; Nghiệm thu kết quả thực hiện 22 nhiệm vụ cấp tỉnh, 12 nhiệm vụ cấp cơ sở; Kiểm tra, đánh giá tiến độ thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ: 06 cấp tỉnh, 01 cấp cơ sở. Tuyển chọn thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ đến nay tổng cộng 11 nhiệm vụ cấp tỉnh; Quyết định phê duyệt triển khai 14 nhiệm vụ cấp tỉnh, 01 nhiệm vụ cấp cơ sở; Thẩm định các kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ không sử dụng ngân sách nhà nước 01 nhiệm vụ. VIII. CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Lao động việc làm: Trong tháng, toàn tỉnh đã giải quyết việc làm cho 5.965 lao động, trong đó có 325 lao động xuất cảnh làm việc ở nước ngoài. Tính từ đầu năm đến nay, tổng số lao động được giải quyết việc làm đạt 55.125 người, đạt 110% so với kế hoạch; riêng lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài là 2.610 người, đạt 102% so với kế hoạch, trong đó Nhật Bản: 1.792 người, Hàn Quốc: 598 người, Đài Loan: 211 người,.... Về trợ cấp thất nghiệp, trong tháng có 2.034 lao động được hưởng trợ cấp. Từ đầu năm đến nay, có 22.726 lao động được giải quyết chế độ trợ cấp thất nghiệp, với tổng kinh phí chi trả trên 409,9 tỷ đồng, góp phần hỗ trợ kịp thời đời sống, giúp người lao động ổn định trong giai đoạn tìm kiếm việc làm mới. Các hoạt động kết nối cung – cầu lao động tiếp tục được chú trọng. Trong tháng, tổ chức 22 phiên giao dịch việc làm, với sự tham gia của 228 lượt doanh nghiệp, thu hút hơn 6.463 lượt người tham gia và 1.473 lao động được kết nối. Các phiên giao dịch đã tạo cơ hội thuận lợi để doanh nghiệp tuyển dụng nhân lực, đồng thời mở rộng cơ hội việc làm, học nghề và đi làm việc ở nước ngoài cho người lao động. 2. Chính sách xã hội: Trong tháng, các chế độ, chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng được thực hiện kịp thời, đúng quy định. Toàn tỉnh đã giải quyết trợ cấp một lần cho 80 trường hợp thân nhân thờ cúng và chuyển thờ cúng liệt sĩ; trợ cấp hàng tháng cho 04 người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, đồng thời thực hiện trợ cấp tuất cho 05 trường hợp. Bên cạnh đó, chi trả trợ cấp mai táng phí cho 115 trường hợp và cấp lại 22 giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh. 3. Hoạt động giáo dục: Trong tháng, ngành Giáo dục tiếp tục đạt nhiều kết quả tích cực, đặc biệt là các hoạt động chào mừng Ngày Nhà giáo Việt Nam 20 tháng 11. Thực hiện công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, kiểm định chất lượng giáo dục và chuẩn bị cho các kỳ tuyển sinh, kỳ thi quan trọng trong năm 2026. 4. Hoạt động y tế: Trong tháng có 15/44 bệnh truyền nhiễm được ghi nhận. Cộng dồn số ca mắc có 10 bệnh tăng so cùng kỳ (Rubella, Sốt xuất huyết Dengue, Sởi, Ho gà, Thương hàn, Cúm, Lỵ trực trùng, Quai bị, Thủy đậu, Viêm gan vi rút khác); 13 bệnh giảm so cùng kỳ (Bệnh do liên cầu lợn ở người, Tay - chân - miệng, Liệt mềm cấp nghi bại liệt, Lao phổi, Uốn ván khác, Viêm gan vi rút A, Viêm gan vi rút B, Viêm gan vi rút C, Viêm não Nhật Bản, Bệnh do vi rút Adeno, Lỵ amíp, Tiêu chảy, Bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona); 21 bệnh tương đương hoặc không xảy ra ca mắc. Các bệnh truyền nhiễm ghi nhận trong tháng: bệnh Sốt - xuất - huyết ghi nhận 1.598 ca (01 ca tử vong); bệnh Tay - chân - miệng ghi nhận 1.502 ca. Tính từ đầu năm đến nay, bệnh Sốt - xuất - huyết ghi nhận 6.729 ca, tăng 38,0% so cùng kỳ (01 ca tử vong, tương đương so cùng kỳ); bệnh Tay - chân - miệng ghi nhận 5.872 ca, giảm 45,4%. Phòng chống HIV/AIDS: hiện nay, toàn tỉnh ghi nhận 15.876 người nhiễm HIV; 5.051 người chuyển sang AIDS; tử vong do AIDS: 3.896 người. Tình hình khám chữa bệnh: khám chữa bệnh trong tháng cho 773.176 lượt người; trong đó, số người điều trị nội trú là 52.222 lượt người. Cộng dồn từ đầu năm đến nay, đã khám chữa bệnh cho 7.400.451 lượt người, giảm 1,8%; trong đó, số người điều trị nội trú là 435.247 lượt người, tăng 2,4%. Trong tháng xảy ra 01 vụ ngộ độc thực phẩm tại chi nhánh Công ty TNHH may Túi xách Thái Dương Phường An Thạnh với 19 người mắc, không có ca tử vong. 5. Hoạt động văn hóa - thể thao: a. Hoạt động văn hóa nghệ thuật: trong tháng, các hoạt động văn hóa, nghệ thuật được tổ chức sôi nổi, góp phần tuyên truyền, giáo dục truyền thống cách mạng và bảo tồn giá trị văn hóa địa phương. Tổ chức chương trình nghệ thuật: Họp mặt 95 năm thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (20/10/1930 – 20/10/2025) và 15 năm ngày Phụ nữ Việt Nam (20/10/2010 – 20/10/2025), biểu dương các tập thể, cá nhân tiêu biểu năm 2025 tại Trường Chính trị tỉnh; Đại hội Thi đua yêu nước tỉnh Đồng Tháp lần thứ 1, giai đoạn 2025 – 2030; Cầu truyền hình “Đường lên đỉnh Olympia” Điểm cầu Đồng Tháp tại Công viên Lạc Hồng. b. Hoạt động thư viện: trong tháng, hệ thống thư viện trong tỉnh phục vụ hiệu quả nhu cầu đọc và tra cứu tài liệu của người dân, thu hút 56.180 lượt người với 177.501 lượt tài liệu được phục vụ, đồng thời có 359.274 lượt truy cập trên các kênh thông tin thư viện. c. Hoạt động bảo tàng: trong tháng, công tác trưng bày, giới thiệu hiện vật và phục vụ khách tham quan được duy trì thường xuyên. Nhiều chuyên đề trưng bày được tổ chức tại Khu di tích Mộ cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, như “Ân tình xứ Nghệ”, “Hồ Chí Minh – những nét phác họa chân dung”... Khu trưng bày ngoài trời với các hiện vật lớn tiếp tục thu hút đông đảo khách tham quan. d. Hoạt động thể dục, thể thao: thể thao Đồng Tháp tham dự tham gia thi đấu 09 giải thể thao đạt 30 huy chương các loại (5 HCV, 13 HCB, 12 HCĐ). Luỹ kế 11 tháng, có 64 vận động viên ở các môn Bắn cung, Bơi lội, Canoeing, Cầu mây, Điền kinh, Judo, Karate, Kickboxing, Boxing, Kurash, Taekwondo và Xe đạp được triệu tập vào các đội tuyển quốc gia thi đấu các giải quốc tế. Tổng thành tích tham gia thi đấu 96 giải thể thao quốc gia, quốc tế đạt 605 huy chương quốc gia các loại (131 HCV, 182 HCB, 292 HCĐ); 58 huy chương quốc tế các loại (35 HCV, 13 HCB, 10 HCĐ). 6. Tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội (Theo báo cáo của ngành công an): Trong tháng xảy ra 99 vụ phạm tội về trật tự xã hội, giảm 19 vụ so cùng kỳ. Hậu quả là 03 người chết, 36 người bị thương, tài sản thiệt hại khoảng 05 tỷ đồng. Cơ quan chức năng đã điều tra, khám phá 89 vụ (đạt tỷ lệ 89,9%), bắt giữ và xử lý 204 đối tượng. Tính từ đầu năm đến nay, tổng số vụ phạm tội là 1.156, giảm 37,7%. Vụ việc đã làm 40 người chết, 381 người bị thương, tổng giá trị tài sản thiệt hại khoảng 522 tỷ đồng. Đã điều tra, khám phá được 975 vụ (đạt tỷ lệ 84,3%), xử lý 1.824 đối tượng. Về tội phạm ma túy trong tháng, lực lượng chức năng đã phát hiện và xử lý 66 vụ với 97 đối tượng. 7. Trật tự an toàn giao thông (theo báo cáo ngành công an tỉnh, số liệu tính từ ngày 15/10/2025 đến 14/11/2025): Tai nạn giao thông đường bộ: trong tháng, xảy ra 38 vụ, giảm 10 vụ so tháng trước và giảm 42 vụ so cùng kỳ. Hậu quả làm chết 28 người (giảm 10 người so tháng trước, giảm 18 người so cùng kỳ) và 22 người bị thương (tăng 06 người so tháng trước, giảm 26 người so cùng kỳ). Lũy kế từ đầu năm đến kỳ báo cáo, toàn tỉnh đã xảy ra 523 vụ, giảm 102 vụ so với cùng kỳ; làm chết 385 người (giảm 54 người) và làm bị thương 247 người (giảm 83 người). Các nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông chủ yếu vẫn do ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông như: uống rượu say, điều khiển xe khi có rượu bia, phóng nhanh vược ẩu, không làm chủ tốc độ; không đi đúng phần đường, làn đường; không nhường đường, vượt đèn đỏ, thiếu quan sát… Tai nạn giao thông đường thủy: trong tháng xảy ra 01 vụ. Lũy kế từ đầu năm đến kỳ báo cáo là 02 vụ (giảm 01 vụ), làm chết 01 người (tương đương so cùng kỳ). 8. Tình hình cháy nổ, môi trường và thiên tai: Cháy, nổ: trong tháng, trên địa bàn tỉnh xảy ra 02 vụ cháy, gây thiệt hại tài sản khoảng 1,2 tỷ đồng. Tính từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh ghi nhận tổng cộng 24 vụ cháy, giảm 02 vụ so với cùng kỳ, số người tử vong do cháy là 05 người và tổng thiệt hại tài sản khoảng 276,4 tỷ đồng. Lĩnh vực môi trường trên địa bàn tỉnh trong tháng xảy ra 05 vụ vi phạm. Từ đầu năm đến nay, xảy ra 55 vụ vi phạm môi trường (tăng 37 vụ), đã xử lý 50 vụ (tăng 33 vụ) với số tiền xử phạt khoảng 1,5 tỷ đồng. Trong tháng, trên địa bàn tỉnh xảy ra 04 vụ thiên tai với tổng thiệt hại ước khoảng 45,8 tỷ đồng. Trong đó, lũ kết hợp triều cường gây thiệt hại 86 ha lúa, 22 ha hoa màu, nhiều diện tích cây lâu năm, cùng nhiều tuyến đường nông thôn, trụ điện và đê bao bị hư hỏng; một số khu dân cư vùng trũng ngập sâu, ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt, thiệt hại ước tính 45,2 tỷ đồng. Thiên tai do mưa giông, lốc làm sập 01 căn nhà, tốc mái 06 căn với thiệt hại ước tính 61 triệu đồng. Ngoài ra, 2 vụ sạt lở – sụt lún bờ sông Tiền với chiều dài khoảng 50m, lấn sâu vào đất liền khoảng 30m, làm 04 căn nhà sụp xuống sông, thiệt hại ban đầu ước tính 510 triệu đồng. Cộng dồn từ đầu năm, toàn tỉnh xảy ra 52 vụ thiệt hại thiên tai, làm chết 02 người, bị thương 22 người, sập 106 căn nhà, tốc mái 738 căn, 428,5 ha lúa bị thiệt hại, 39,8 ha hoa màu bị hư,…. Tổng giá trị thiệt hại ước tính khoảng 131 tỷ đồng.