0273.3 872582 | dongthap@nso.gov.vn
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Tháp Tháng 10 năm 2025
  •   02/11/2025 08:30

Trong tháng, kinh tế - xã hội của tỉnh tiếp tục phát triển, các hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh có nhiều khởi sắc, hầu hết các ngành, lĩnh vực đều tăng so cùng kỳ. Kết quả thực hiện trên các lĩnh vực đạt được như sau:I. SẢN XUẤT NÔNG LÂM NGHIỆP VÀ THỦY SẢN  Trong tháng, thời tiết nhìn chung thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp; cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt. Sâu bệnh xuất hiện ở mức thấp đến trung bình nhờ công tác dự báo và hướng dẫn phòng trừ kịp thời; dịch bệnh trên đàn vật nuôi được kiểm soát chặt chẽ. Tuy nhiên, mưa lớn kết hợp triều cường và lũ từ thượng nguồn làm mực nước sông, kênh rạch dâng cao, gây ngập cục bộ và sạt lở, vỡ đê bao tại một số nơi, ảnh hưởng đến diện tích lúa và cây ăn trái. Nhìn chung, sản xuất nông, lâm, thủy sản trên địa bàn tỉnh vẫn duy trì ổn định; các ngành chức năng và người dân đã chủ động ứng phó, hạn chế thiệt hại, đảm bảo tiến độ sản xuất. 1. Nông nghiệpCây lương thực có hạt: diện tích gieo sạ niên vụ 2024 - 2025 ước đạt 614.594 ha, giảm 1,3% so cùng kỳ; trong đó: cây lúa gieo sạ 608.522 ha, giảm 1,3%. - Cây ngô: Hiện nay nông dân trong tỉnh đã bắt đầu gieo trồng cây ngô vụ Đông xuân 2025–2026, diện tích gieo trồng ước đạt 548 ha, giảm 3,6% và đây là vụ sản xuất mở đầu cho chu kỳ sản xuất năm 2026. Ngô thuộc loại cây ngắn ngày, dễ trồng, dễ chăm sóc, trồng được nhiều vụ trong năm. Bên cạnh lấy trái bán cho thương lái; lá, thân ngô khi thu hoạch có thể tận dụng làm thức ăn cho gia súc như trâu, bò…Hình 1. Diện tích gieo trồng lúa gieo trồng qua 2 nămCây rau đậu các loại: Vụ đông xuân 2025-2026 diện tích gieo trồng ước đạt 4.462 ha, tăng 1,2% so cùng kỳ; trong đó: rau các loại 4.437 ha, tăng 1,4% so cùng kỳ. Tận dụng nguồn đất đai màu mỡ, nông dân tranh thủ thời gian, thời tiết thuận lợi trồng xen canh, trồng gối vụ các loại rau, củ, quả có giá trị kinh tế cao, dễ tiêu thụ như: rau muống, bầu, mướp, bí xanh, mướp đắng, dưa leo, cải các loại, hành lá, dưa hấu và các loại rau cải ngắn ngày khác... Chăn nuôi: ước thời điểm 31/10/2025 tổng đàn gian súc, gia cầm của tỉnh như sau: đàn trâu hiện có 3,2 nghìn con, giảm 3,0% so cùng kỳ; đàn bò hiện có 156,5 nghìn con, tăng 1,1%; đàn lợn có 445,2 nghìn con, tăng 5,6%; đàn gia cầm có 23,8 triệu con, giảm 1,5%. Đàn trâu giảm chủ yếu do diện tích chăn thả bị thu hẹp và hiệu quả kinh tế không cao. Giá bò hơi ổn định và nhu cầu tiêu thụ thịt bò tăng đã tạo điều kiện thuận lợi để người chăn nuôi duy trì, tái đàn và phát triển ổn định đàn bò. Chăn nuôi lợn tăng nhờ công tác kiểm soát dịch bệnh được thực hiện tốt, giúp người dân yên tâm tái đàn. Đàn gia cầm giảm so với cùng kỳ do đã đến kỳ xuất bán, người nuôi vệ sinh chuồng trại chuẩn bị tái đàn trở lại. Hình 2. Chăn nuôi tại thời điểm 31/10/2025 2. Lâm nghiệp: Tổng diện tích rừng trên địa bàn tỉnh là 6.999,6 ha (không bao gồm diện tích rừng thuộc đất an ninh quốc phòng); trong đó, diện tích rừng đặc dụng 2.717,6 ha; rừng phòng hộ 2.244,3 ha và rừng sản xuất 2.037,7 ha. Trong tháng, toàn tỉnh thực hiện trồng mới được 50,0 ngàn cây phân tán. Nâng tổng số cây phân tán trồng được 801,0 ngàn cây các loại, giảm 1,6% so cùng kỳ. 3. Thủy hải sản: Tổng diện tích thả nuôi thâm canh 10 tháng ước đạt 6.279 ha, tăng 3,9% so cùng kỳ chủ yếu là diện tích nuôi cá tra do giá xuất khẩu cá tra tương đối ổn định nên doanh nghiệp tăng diện tích nuôi; trong đó: cá tra 2.457 ha, tăng 26,6% so cùng kỳ, tôm thẻ chân trắng 3.497 ha, giảm 6,3% cùng kỳ do hộ chuyển diện tích đầm nuôi tôm ven đê biển Tân Thành sang đầu tư khu du lịch sinh thái, ẩm thực vườn quê.... Sản lượng thủy sản nuôi trồng trong tháng ước đạt 69.347 tấn. Tính chung 10 tháng năm 2025, thu hoạch ước đạt 700.342 tấn, tăng 2,6% so cùng kỳ, tương ứng tăng 17.554 tấn, trong đó: sản lượng cá đạt 638.102 tấn (tăng 3,3%); sản lượng tôm đạt 38.376 tấn (tăng 4,6%);…. Sản lượng tăng chủ yếu nhờ thời tiết thuận lợi, tình hình dịch bệnh được kiểm soát, giúp năng suất nuôi trồng đạt cao. Sản lượng thủy sản khai thác biển trong tháng ước đạt 10.002 tấn. Tính chung 10 tháng năm 2025, thu hoạch ước đạt 96.633 tấn, tăng 15,3% so cùng kỳ, tương ứng tăng 12.821 tấn, trong đó: cá đạt 65.732 tấn (tăng 6,0%); tôm đạt 2.739 tấn (tăng 17%);…. Sản lượng khai thác tăng nhờ nguồn lợi thủy sản xuất hiện nhiều tại ngư trường, thời tiết thuận lợi, giúp ngư dân khai thác hiệu quả hơn so với cùng kỳ. II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 10/2025 tăng 2,31% so với tháng trước và tăng 15,08% so cùng kỳ (ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 16,02%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 7,59%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,97% và ngành khai khoáng giảm 60,72% so cùng kỳ). Ngành chủ lực là sản xuất chế biến thực phẩm tăng 10,85%. Bên cạnh đó, một số ngành có chỉ số sản xuất tăng cao trên 30% so cùng kỳ như: sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu 31,38%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu 35,16%; sản xuất đồ uống 32,68%; sản xuất kim loại 46,62%; sản xuất thiết bị điện 36,24%. Ở chiều ngược lại, một số ngành giảm so cùng kỳ như: khai khoáng khác giảm 60,72%; sản xuất xe có động cơ giảm 34,93%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 33,43%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 8,55%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 1,65%;... Sản xuất công nghiệp 10 tháng đầu năm 2025 tăng trưởng khá do nhu cầu tiêu thụ của các ngành chủ lực như chế biến thực phẩm, sản xuất đồ uống, dệt may, sản xuất kim loại, giấy, thiết bị điện. Tuy nhiên, hoạt động sản xuất trong các tháng cuối năm vẫn đối diện với nhiều rủi ro tiềm ẩn như: áp lực lạm phát toàn cầu, xung đột địa chính trị, những ảnh hưởng từ chính sách thuế quan mới của Mỹ đã làm ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp của Việt Nam nói chung và tỉnh Đồng Tháp nói riêng. Tính chung 10 tháng đầu năm chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 13,24% so cùng kỳ; trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 14,12%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 3,33%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,69%... Chỉ số sản xuất sản phẩm trong 10 tháng so cùng kỳ như sau: - Có 72/119 sản phẩm tăng: phi lê đông lạnh tăng 5,7%; quả và hạt ướp lạnh tăng 66,2%; gạo đã xát toàn bộ hoặc sơ bộ tăng 7,3%; bánh làm từ bột khác bảo quản được tăng 24,3%; thức ăn gia cầm tăng 26,9%; thức ăn thủy sản tăng 15,5%; bia đóng lon tăng 21,8%; bộ com lê, quần áo người lớn dệt kim hoặc đan móc tăng 4,0%; gỗ cưa xẻ tăng 29,0%; thuốc và dược phẩm dạng lỏng tăng 35,7%; thùng, bể chứa dung tích trên 300 lít bằng plastic tăng 20,6%; cấu kiện làm sẵn bằng xi măng, bê tông cho xây dựng tăng 15,4%; bê tông tươi tăng 4,4%; ống và ống dẫn bằng đồng tăng 5,4%; dịch vụ sản xuất thiết bị điện chiếu sáng tăng 91,3%; tàu thuyền lớn chuyên chở người và hàng hóa có động cơ đẩy tăng 13,6%; điện mặt trời tăng 4,0%; dịch vụ thu gom rác thải không độc hại có thể tái chế tăng 13,1% so cùng kỳ;... - Có 47/119 sản phẩm giảm: cát đen giảm 24,6%; miến, hủ tiếu, bánh đa khô giảm 2,2%; thuốc lá có đầu lọc giảm 14,2%; thức ăn gia súc giảm 1,4%; bộ com lê, quần áo người lớn không dệt kim hoặc đan móc giảm 24,4%; giày, dép thể thao có đế ngoài và mũ giày bằng cao su và plastic giảm 1%; thuốc và dược phẩm dạng viên giảm 11,3%; thuốc và dược phẩm dạng bột cốm giảm 36,96%; tàu chở khách trọng tải 26 đến 500 tấn giảm 4,6%; điện gió giảm 2,7% so cùng kỳ; ... Hình 3. Chỉ số sản xuất công nghiệp 10 tháng năm 2025 * Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 10 năm 2025 so với tháng trước giảm 0,97% và tăng 10,24% so cùng kỳ. Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cộng dồn từ đầu năm đến cuối tháng 10 năm 2025 tăng 11,04%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 1,87%; sản xuất đồ uống tăng 3,18%; dệt tăng 12,43%; sản xuất trang phục tăng 22,65%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 2,77%; in, sao chép bản ghi các loại tăng 71,96%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 76,31%; sản xuất kim loại tăng 36,38%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 23,59% và công nghiệp chế biến chế tạo khác tăng 6,89%;…. Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm so cùng kỳ: sản xuất sản phẩm thuốc lá giảm 20,33%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 2,09%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu giảm 18,53%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 3,11%; sản xuất phụ tùng xe có động cơ giảm 23,07%;... Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 10/2025 tăng 2,53% so với tháng trước và giảm 2,68% so với cùng kỳ. Một số ngành có chỉ số tồn kho giảm so cùng kỳ: dệt giảm 43,48%; sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện giảm 4,65%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 28,97%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 30,63%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 13,7%; sản xuất kim loại giảm 51,48%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẳn giảm 55,69%; sản xuất thiết bị điện giảm 1,51% và công nghiệp chế biến, chế tạo khác gồm sản xuất đồ chơi, trò chơi giảm 88,67%;…Bên cạnh đó, một số ngành có chỉ số tồn kho tăng so với cùng kỳ là: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 6,31%; sản xuất trang phục tăng 17,61%; sản xuất kim loại tăng 28,39%;... * Tình hình thu hút đầu tư và phát triển các khu - cụm công nghiệp: - Khu công nghiệp, khu kinh tế: Trong tháng, không cấp mới Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư mới, điều chỉnh 06 dự án (trong đó tăng vốn đầu tư cho 01 dự án với tổng vốn đầu tư tăng thêm là 11,4 triệu USD). Lũy kế đến hết tháng 10/2025, các khu Công nghiệp và khu Kinh tế thu hút được 186 dự án (trong đó, có 101 dự án FDI) với tổng vốn đầu tư là 3,2 tỷ USD vốn FDI và 12.229,3 tỷ đồng vốn DDI; diện tích đất đã cho thuê là 748,7 ha, tỷ lệ lấp đầy 93,6%.- Cụm công nghiệp: Trên địa bàn tỉnh có 62 cụm công nghiệp (CCN) được quy hoạch với diện tích 3.009,5 ha được chấp thuận chủ trương đầu tư. Hiện có 23 CCN được thành lập với tổng diện tích 779,9 ha; trong đó: 18 CCN đã đi vào hoạt động với diện tích 511,7 ha, 5 cụm công nghiệp còn lại đang thực hiện thủ tục đầu tư xây dựng hạ tầng.Tổng số dự án đầu tư tại các cụm công nghiệp hiện nay là 126 dự án (trong đó: có 11 dự án đầu tư nước ngoài) với tổng vốn đầu tư 207,9 triệu USD và 14.481 tỷ đồng. III. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP: (Theo báo cáo của Sở Tài Chính)Tính đến ngày 19/10/2025 có 146 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 545,7 tỷ đồng; thành lập mới đơn vị trực thuộc có 143 đơn vị, trong đó; 20 chi nhánh; 119 địa điểm kinh doanh và 4 văn phòng đại diện; giải thể và tạm ngừng hoạt động, có 26 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, 45 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động. Lũy kế đến hết tháng 10/2025 có 2.185 doanh nghiệp thành lập mới, đạt 121,3% kế hoạch và tăng 68,5% so với cùng kỳ; đơn vị trực thuộc có 1.625 đơn vị trực thuộc doanh nghiệp thành lập mới tăng 51,7% so cùng kỳ, trong đó; 265 chi nhánh; 1.319 địa điểm kinh doanh và 41 văn phòng đại diện. Giải thể và tạm ngừng hoạt động có 360 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 34,3% và 744 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, tăng 11,7% so với cùng kỳ.IV. ĐẦU TƯ - XÂY DỰNG Tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trong tháng là 1.798 tỷ đồng, tăng 53,9% so cùng kỳ. Mười tháng đầu năm 2025 ước thực hiện được 12.959 tỷ đồng, đạt 73,8% kế hoạch, tăng 35,6% so cùng kỳ. Chia ra: - Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh thực hiện 12.742 tỷ đồng, đạt 74,1% kế hoạch và tăng 35,0% so cùng kỳ, chiếm 98,3% tổng số. Trong đó: vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu: 4.343 tỷ đồng, tăng 60,8%; vốn xổ số kiến thiết: 3.036 tỷ đồng, tăng 6,2% so cùng kỳ. Lãnh đạo tỉnh chỉ đạo quyết liệt các sở, ngành liên quan chủ đầu tư phải nỗ lực tháo gỡ khó khăn, quyết tâm, thực hiện công tác giải phóng mặt bằng, sớm đưa công trình vào khai thác sử dụng, thúc đẩy phát triển kinh tế của tỉnh.- Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp xã trong tháng thực hiện 43 tỷ đồng, luỹ kế 10 tháng thực hiện 218 tỷ đồng, đạt 61,6% kế hoạch và tăng 79,7% so cùng kỳ; trong đó: vốn cân đối ngân sách cấp xã 48 tỷ đồng, tăng 6,9 lần so cùng kỳ. Nguồn vốn được ưu tiên bố trí các dự án khởi công mới thuộc lĩnh vực giao thông, phòng, chống thiên tai, xử lý sạt lở bờ sông, bờ biển, biến đổi khí hậu, giáo dục, y tế, xây dựng nông thôn mới nhằm phục vụ đời sống người dân. V. THƯƠNG MẠI - GIÁ CẢ - DỊCH VỤ 1. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng: Nhìn chung, hoạt động thương mại dịch vụ tiếp tục tăng trưởng, hàng hoá cung ứng đồi dào, đáp ứng nhu cầu mua sắm của người dân. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trong tháng thực hiện 21.125 tỷ đồng, tăng 1,7% so tháng trước và tăng 10% so cùng kỳ. Mười tháng năm 2025, tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thực hiện 205.870 tỷ đồng, tăng 9,3% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 159.932 tỷ đồng, tăng 8,3%; lưu trú 721 tỷ đồng, tăng 14,8%; ăn uống 26.644 tỷ đồng, tăng 14,1%; du lịch lữ hành 347 tỷ đồng, tăng 28,8%; dịch vụ tiêu dùng khác 18.226 tỷ đồng, tăng 10,9% so cùng kỳ. Hình 4. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng2. Xuất - Nhập khẩu (Theo báo cáo Sở Công Thương)Kinh tế và chính trị thế giới diễn biến phức tạp, căng thẳng thương mại Mỹ - Trung và một số quốc gia khác có thể dẫn tới những xáo trộn lớn với thương mại toàn cầu. Tuy nhiên hoạt động xuất khẩu của Tỉnh tiếp tục duy trì ổn định, nhưng bức tranh chung vẫn tiềm ẩn nhiều khó khăn. a. Xuất khẩu:Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng ước thực hiện 870 triệu USD, tăng 1,2% so tháng trước và tăng 10,4% so cùng kỳ. Mười tháng ước tính xuất khẩu 7.873 triệu USD, đạt 85,6% kế hoạch, tăng 3,8% so cùng kỳ.b. Nhập khẩu:Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 10/2025 ước đạt 360 triệu USD, tăng 2,1% so tháng trước và bằng 95,3% so cùng kỳ. Mười tháng ước đạt 4.028,9 triệu USD, đạt 90,9% kế hoạch và tăng 13,4% so với cùng kỳ.3. Chỉ số giá: Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10/2025 tăng 0,23% (thành thị tăng 0,31%, nông thôn tăng 0,21%) so tháng 9/2025, tăng 2,77% so tháng 10/2024. Bình quân 10 tháng năm 2025 tăng 2,28% so cùng kỳ năm trước. So với tháng 9/2025, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 09 nhóm tăng: giáo dục tăng 2,68%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,59%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,3%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,28%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,24%; may mặc, mũ nón và giầy dép tăng 0,20%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,06%; văn hóa giải trí và du lịch tăng 0,01%. Có 02 nhóm giảm: bưu chính viễn thông giảm 0,04%; giao thông giảm 0,90%. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 10 tháng năm 2025 so cùng kỳ tăng 2,28%; một số nhóm hàng có chỉ số tăng như: thuốc và dịch vụ y tế tăng 11,92%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 6,52%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,82%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,67%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,7% so với cùng kỳ … Chỉ riêng nhóm giao thông giảm 3,47% so cùng kỳ. Chỉ số giá vàng 24 kara Ngọc Thẩm trong tháng 10/2025 tăng 12,09% so tháng trước, tăng 64,17% so với cùng kỳ. Bình quân 10 tháng đầu năm 2025 so với cùng kỳ tăng 47,2%. Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng 10/2025 giảm 0,36% so tháng trước và tăng 5,98% so với cùng kỳ. Bình quân 10 tháng năm 2025 so với cùng kỳ tăng 4,28%.  4. Du lịch: Ngay từ đầu năm du lịch của tỉnh đã tập trung triển khai đồng bộ các giải pháp phát triển du lịch. Đồng thời bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, làng nghề với quyết tâm thực hiện mục tiêu phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng, tạo bước đột phá tăng tốc phát triển du lịch, góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Lượng khách du lịch đến tham quan trên địa bàn trong tháng 10/2025 ước tính 352 ngàn lượt khách, tăng 2% tháng trước và tăng 12,2% so cùng kỳ, trong đó khách quốc tế 54 ngàn lượt khách, tăng 31,9% so cùng kỳ.Nhiều khu, điểm du lịch trong tỉnh đã mở rộng quy mô và dịch vụ vui chơi để đón đông đảo lượng khách đến tham quan, trải nghiệm. Doanh thu lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành trong tháng đạt 2.828 tỷ đồng, tăng 1,4% so tháng trước và tăng 15,1% so cùng kỳ. Tính chung mười tháng năm 2025, lượt khách du lịch đến tham quan trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp là 3.522 ngàn lượt khách, tăng 6,8% so cùng kỳ; trong đó: khách quốc tế 457 ngàn lượt khách, tăng 12,4% so cùng kỳ. Tổng doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, dịch vụ lữ hành và dịch vụ tiêu dùng khác đạt 45.938 tỷ đồng, tăng 12,9% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu dịch vụ ăn uống chiếm tỷ trọng 58%, ước đạt 26.644 tỷ đồng, tăng 14,1% so cùng kỳ; lưu trú đạt 721 tỷ đồng, tăng 14,8% so cùng kỳ... 5. Vận tải: Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trong tháng thực hiện 653 tỷ đồng, tăng 1,4% so tháng trước và tăng 14,6% so cùng kỳ. Mười tháng thực hiện 6.347 tỷ đồng, tăng 13,3% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 2.075 tỷ đồng, tăng 14,1%; doanh thu vận tải hàng hóa thực hiện 3.153 tỷ đồng, tăng 12,3% so cùng kỳ. Doanh thu vận tải đường bộ thực hiện 2.994 tỷ đồng, tăng 15%; doanh thu vận tải đường thủy thực hiện 2.234 tỷ đồng, tăng 10,5%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 644 tỷ đồng, tăng 12,9% so cùng kỳ. Vận tải hành khách trong tháng đạt 5.995 ngàn hành khách, tăng 1,6% so tháng trước và tăng 8,2% so cùng kỳ; luân chuyển 213.518 ngàn hành khách.km, tăng 2,7% so tháng trước và tăng 16,9% so cùng kỳ. Mười tháng, vận chuyển 59.438 ngàn hành khách, tăng 10,1% so cùng kỳ; luân chuyển 2.214 ngàn hành khách.km, tăng 25,1% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 19.317 ngàn hành khách, tăng 24% và luân chuyển 2.196 ngàn hành khách.km, tăng 25,6% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 40.121 ngàn hành khách, tăng 4,5% và luân chuyển 18.825 ngàn hành khách.km, bằng 85,3% so cùng kỳ. Vận tải hàng hóa trong tháng đạt 2.236 ngàn tấn, tăng 1,2% so tháng trước và tăng 1,9% so cùng kỳ; luân chuyển 394.598 ngàn tấn.km, tăng 1,8% so tháng trước và bằng 92,1% so cùng kỳ. Mười tháng, vận tải 23.365 ngàn tấn hàng hóa, tăng 8% so cùng kỳ; luân chuyển 4.334.280 ngàn tấn.km, tăng 2,5% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 5.639 ngàn tấn, tăng 23,6% và luân chuyển 786.587 ngàn tấn.km, bằng 82,9% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 17.726 ngàn tấn, tăng 3,8% và luân chuyển 3.547.693 ngàn tấn.km, tăng 8,1% so cùng kỳ. 6. Bưu chính viễn thông: Doanh thu trong tháng 10/2025 đạt 518 tỷ đồng, tăng 0,3% so tháng trước. Mười tháng doanh thu dịch vụ bưu chính, viễn thông đạt 5.122 tỷ đồng, tăng 11,3% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính đạt 475,1tỷ đồng, tăng 12,1% và viễn thông 4.647 tỷ đồng, tăng 11,2% so cùng kỳ. Đến cuối tháng 10 năm 2025 tổng số thuê bao điện thoại có trên mạng (bao gồm: hữu tuyến, vô tuyến, trả trước, trả sau) ước tính 3.879.195 thuê bao. Thuê bao điện thoại bình quân đạt 113,97 thuê bao/100 dân. Số thuê bao điện thoại di động có sử dụng Internet (3G, 4G) đến cuối tháng 10 là: 3.218.673 thuê bao. Tổng số thuê bao Internet trên mạng là 4.228.666 thuê bao (bao gồm: băng rộng di động 3G, 4G; MyTV và Cáp; băng rộng cố định FTTH, xDSL, Leased-line, CATV), mật độ Internet bình quân ước đạt 124,44 thuê bao/100 dân. VI. TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG 1. Tài chính: Tổng thu ngân sách nhà nước tháng 10/2025 thực hiện 5.014 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn 1.878 tỷ đồng; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 288 tỷ đồng. Mười tháng, thu 52.547 tỷ đồng; trong đó, thu ngân sách trên địa bàn thực hiện 19.809 tỷ đồng, đạt 95,7% dự toán và tăng 15,4% so cùng kỳ; thu nội địa 19.037 tỷ đồng, đạt 95,8% dự toán, tăng 15,5% so cùng kỳ (trong thu ngân sách trên địa bàn: thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 3.129 tỷ đồng, tăng 14,8% dự toán, tăng 6,7% so cùng kỳ; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 4.035 tỷ đồng, tăng 38,2% dự toán và tăng 47,3% so cùng kỳ...). Tổng chi ngân sách nhà nước trong tháng 3.978 tỷ đồng; trong đó: chi đầu tư phát triển 1.400 tỷ đồng; chi hành chính sự nghiệp 2.487 tỷ đồng. Mười tháng, chi 34.252 tỷ đồng, đạt 78,1 dự toán và tăng 23,5% so cùng kỳ; trong đó: chi đầu tư phát triển 10.741 tỷ đồng, đạt 96,9% dự toán và bằng 90,8% so cùng kỳ; chi hành chính sự nghiệp 20.253 tỷ đồng, đạt 91,4% dự toán và tăng 45,2% so cùng kỳ. 2. Ngân hàng: Đến cuối tháng 9/2025, vốn huy động đạt 200.842 tỷ, tăng 10,28% so với cuối năm 2024, tổng dư nợ cho vay của các TCTD trong tỉnh đạt 239.665 tỷ, tăng 6,47% so với cuối năm 2024. Ước đến cuối tháng 10/2025, nguồn vốn huy động đạt 203.031 tỷ, tăng 11,48% so với cuối năm 2024; tổng dư nợ đạt 241.343 tỷ, tăng 7,21%. Nợ xấu: đến cuối tháng 9/2025 nợ xấu đạt 6.603 tỷ đồng, tăng 2.971 tỷ đồng; tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là 2,81%, tăng 1,33% so với cuối năm 2024. Ước đến cuối tháng 10/2025 nợ xấu đạt 6.733 tỷ đồng, tăng 3.102 tỷ đồng; tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là 2.79%, tăng 1,31% so với cuối năm 2024. Quỹ tín dụng nhân dân: Tháng 9/2025 tổng nguồn vốn huy động 2.840 tỷ đồng, tăng 7,93% so với cuối năm 2024. Dư nợ 2.328 tỷ đồng, giảm 1,66% so với cuối năm 2024. Tỷ lệ nợ xấu đến cuối tháng 9/2025 là 0,62%. VII. KHOA HỌC CÔNG NGHỆ Trong tháng, Hội đồng tư vấn tuyển chọn thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh: 02 nhiệm vụ cấp tỉnh; Quyết định phê duyệt triển khai 01 nhiệm vụ cấp tỉnh; Thẩm định kinh phí 02 nhiệm vụ cấp tỉnh (lũy kế 10 nhiệm vụ cấp tỉnh); Nghiệm thu kết thúc 04 nhiệm vụ cấp tỉnh, 01 nhiệm vụ cấp cơ sở (lũy kế 15 nhiệm vụ cấp tỉnh, 13 nhiệm vụ cấp cơ sở); Thẩm định các kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ không sử dụng ngân sách nhà nước tổng cộng đến nay là 01 nhiệm vụ. Đến hết tháng 10/2025 thực hiện 10 nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh; quyết định phê duyệt triển khai 14 nhiệm vụ cấp tỉnh, 01 nhiệm vụ cấp cơ sở; thẩm định kinh phí 10 nhiệm vụ cấp tỉnh; nghiệm thu kết thúc 15 nhiệm vụ cấp tỉnh, 13 nhiệm vụ cấp cơ sở. VIII. CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Lao động việc làm: Trong tháng, toàn tỉnh đã tạo việc làm cho 1.510 lao động, trong đó có 558 lao động xuất cảnh làm việc ở nước ngoài. Tính từ đầu năm đến nay, tổng số lao động được giải quyết việc làm đạt 49.160 người; riêng lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài là 2.285 người, đạt 89,6% so với kế hoạch, trong đó Nhật Bản: 1.492 người, Hàn Quốc: 598 người, Đài Loan: 175 người,.... Về trợ cấp thất nghiệp, trong tháng có 1.460 lao động được hưởng trợ cấp. Từ đầu năm đến nay, có 20.680 lao động được giải quyết chế độ trợ cấp thất nghiệp, với tổng kinh phí chi trả trên 436,4 tỷ đồng, góp phần hỗ trợ kịp thời đời sống, giúp người lao động ổn định trong giai đoạn tìm kiếm việc làm mới. Các hoạt động kết nối cung – cầu lao động tiếp tục được chú trọng. Trong tháng, tổ chức 13 phiên giao dịch việc làm, với sự tham gia của 143 lượt doanh nghiệp, thu hút hơn 4.100 lượt người tham gia và 1.095 lao động được kết nối. Các phiên giao dịch đã tạo cơ hội thuận lợi để doanh nghiệp tuyển dụng nhân lực, đồng thời mở rộng cơ hội việc làm, học nghề và đi làm việc ở nước ngoài cho người lao động. 2. Chính sách xã hội: Trong tháng, các chế độ, chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng được thực hiện kịp thời, đúng quy định. Toàn tỉnh đã giải quyết trợ cấp một lần cho 72 trường hợp thân nhân thờ cúng và chuyển thờ cúng liệt sĩ; trợ cấp hàng tháng cho 02 người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, 02 liệt sĩ mới được công nhận và tiếp nhận từ tỉnh khác, đồng thời thực hiện trợ cấp tuất cho 04 trường hợp. Bên cạnh đó, chi trả trợ cấp mai táng phí cho 102 trường hợp và cấp lại 25 giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh. 3. Hoạt động giáo dục: Trong tháng, ngành Giáo dục tiếp tục đạt nhiều kết quả tích cực; chất lượng giáo dục toàn diện được nâng cao, mạng lưới trường, lớp được củng cố, cơ sở vật chất được đầu tư theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa. Ngành đã triển khai hiệu quả chương trình giáo dục mầm non và phổ thông, đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và phong trào học tập suốt đời. Đặc biệt, tại Chung kết Đường lên đỉnh Olympia năm thứ 25 diễn ra ngày 26/10, em Nguyễn Nhựt Lam, học sinh Trường THPT Cái Bè, tỉnh Đồng Tháp, đã đạt giải Ba chung cuộc, ghi dấu ấn với phong thái tự tin, kiến thức vững vàng và tinh thần cầu tiến, góp phần quảng bá hình ảnh học sinh Đồng Tháp năng động, hiếu học. 4. Hoạt động y tế: Trong tháng có 15/44 bệnh truyền nhiễm được ghi nhận. Cộng dồn số ca mắc có 11 bệnh tăng so cùng kỳ (Rubella, Sốt xuất huyết Dengue, Sởi, Ho gà, Thương hàn, Bệnh do vi rút Adeno, Lỵ amíp, Lỵ trực trùng, Quai bị, Thủy đậu, Viêm gan vi rút khác); 12 bệnh giảm so cùng kỳ (Bệnh do liên cầu lợn ở người, Tay - chân - miệng, Liệt mềm cấp nghi bại liệt, Lao phổi, Uốn ván khác, Viêm gan vi rút A, Viêm gan vi rút B, Viêm gan vi rút C, Viêm não Nhật Bản, Cúm, Tiêu chảy, Bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona); 21 bệnh tương đương hoặc không xảy ra ca mắc. Các bệnh truyền nhiễm ghi nhận trong tháng: bệnh Sốt - xuất - huyết ghi nhận 1.370 ca; bệnh Tay - chân - miệng ghi nhận 651 ca. Tính từ đầu năm đến nay, bệnh Sốt - xuất - huyết ghi nhận 5.118 ca, tăng 95,6% so cùng kỳ; bệnh Tay - chân - miệng ghi nhận 4.348 ca, giảm 14,6%. Phòng chống HIV/AIDS: hiện nay, toàn tỉnh ghi nhận 15.833 người nhiễm HIV; 5.051 người chuyển sang AIDS; tử vong do AIDS: 3.885 người.Tình hình khám chữa bệnh: khám chữa bệnh trong tháng cho 678.482 lượt người; trong đó, số người điều trị nội trú là 44.212 lượt người. Cộng dồn từ đầu năm đến nay, đã khám chữa bệnh cho 6.646.935 lượt người, giảm 1,0%; trong đó, số người điều trị nội trú là 383.802 lượt người, tăng 2,1%. 5. Hoạt động văn hóa - thể thao:a. Hoạt động văn hóa nghệ thuật: trong tháng, các hoạt động văn hóa, nghệ thuật được tổ chức sôi nổi, góp phần tuyên truyền, giáo dục truyền thống cách mạng và bảo tồn giá trị văn hóa địa phương. Tổ chức chiếu các phim tài liệu tiêu biểu về lịch sử, cách mạng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; thực hiện chương trình “Dạ khúc tri âm” quý III năm 2025 tại Rạp Thầy Năm Tú với nhiều tiết mục đặc sắc, mang đậm bản sắc nghệ thuật sân khấu Cải lương truyền thống, góp phần phát huy giá trị Di tích văn hóa cấp tỉnh Rạp hát Thầy Năm Tú. Bên cạnh đó, tổ chức 04 chương trình nghệ thuật chào mừng Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ I tại Quảng trường Hùng Vương, gồm: âm nhạc đường phố, xiếc – ảo thuật – ca nhạc – nhảy hiện đại, Đờn ca tài tử và biểu diễn các ban nhạc. b. Hoạt động thư viện: trong tháng, hệ thống thư viện trong tỉnh phục vụ hiệu quả nhu cầu đọc và tra cứu tài liệu của người dân, thu hút 55.480 lượt người với 173.501 lượt tài liệu được phục vụ, đồng thời có 358.988 lượt truy cập trên các kênh thông tin thư viện. c. Hoạt động bảo tàng: trong tháng, công tác trưng bày, giới thiệu hiện vật và phục vụ khách tham quan được duy trì thường xuyên. Nhiều chuyên đề trưng bày được tổ chức tại Khu di tích Mộ cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, như “Ân tình xứ Nghệ”, “Hồ Chí Minh – những nét phác họa chân dung”... Khu trưng bày ngoài trời với các hiện vật lớn tiếp tục thu hút đông đảo khách tham quan. d. Hoạt động thể dục, thể thao: trong tháng, tổ chức thành công Giải Marathon Đất Sen Hồng – Đồng Tháp năm 2025 với hơn 12.000 người tham dự, tạo hiệu ứng lan tỏa rộng rãi trong và ngoài nước, góp phần quảng bá hình ảnh Đồng Tháp năng động, thân thiện và phát triển du lịch xanh. Thể thao Đồng Tháp tham dự 11 giải khu vực, quốc gia, đạt 17 HCV, 17 HCB, 34 HCĐ; tham dự 01 giải quốc tế đạt 02 HCV. Lũy kế 10 tháng năm 2025, tỉnh đã đăng cai tổ chức 06 giải cấp quốc gia và có 64 vận động viên được triệu tập vào các đội tuyển quốc gia. Tổng thành tích đạt được 575 huy chương quốc gia (126 HCV, 169 HCB, 280 HCĐ) và 58 huy chương quốc tế (35 HCV, 13 HCB, 10 HCĐ). 6. Tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội (Theo báo cáo của ngành công an): Trong tháng xảy ra 118 vụ phạm tội về trật tự xã hội, giảm 52 vụ so cùng kỳ. Hậu quả là 03 người chết, 46 người bị thương, tài sản thiệt hại khoảng 02 tỷ đồng. Cơ quan chức năng đã điều tra, khám phá 109 vụ (đạt tỷ lệ 92,4%), bắt giữ và xử lý 203 đối tượng, đồng thời thu hồi tài sản trị giá khoảng 378 triệu đồng. Tính từ đầu năm đến nay, tổng số vụ phạm tội là 1.057, giảm 35,2%. Vụ việc đã làm 37 người chết, 345 người bị thương, tổng giá trị tài sản thiệt hại lên đến khoảng 517 tỷ đồng. Đã điều tra, khám phá được 882 vụ (đạt tỷ lệ 83,4%), xử lý 1.613 đối tượng. Về tội phạm ma túy trong tháng, lực lượng chức năng đã phát hiện và xử lý 69 vụ với 97 đối tượng. 7. Trật tự an toàn giao thông (theo báo cáo ngành công an tỉnh, số liệu tính từ ngày 15/9/2025 đến 14/10/2025): Tai nạn giao thông đường bộ: trong tháng, xảy ra 48 vụ, tăng 02 vụ so tháng trước và giảm 01 vụ so cùng kỳ. Hậu quả làm chết 36 người (tương đương so tháng trước, tăng 02 người so cùng kỳ) và 16 người bị thương (tương đương so tháng trước, giảm 08 người so cùng kỳ). Lũy kế từ đầu năm đến kỳ báo cáo, toàn tỉnh đã xảy ra 485 vụ, giảm 63 vụ so với cùng kỳ; làm chết 357 người (giảm 36 người) và làm bị thương 225 người (giảm 57 người). Các nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông chủ yếu vẫn do ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông như: uống rượu say, điều khiển xe khi có rượu bia, phóng nhanh vược ẩu, không làm chủ tốc độ; không đi đúng phần đường, làn đường; không nhường đường, vượt đèn đỏ, thiếu quan sát… Tai nạn giao thông đường thủy: trong tháng không xảy ra. Lũy kế từ đầu năm đến kỳ báo cáo là 01 vụ (không phát sinh người chết và bị thương). 8. Tình hình cháy nổ, môi trường và thiên tai: Cháy, nổ: trong tháng, trên địa bàn tỉnh xảy ra 03 vụ cháy, gây thiệt hại tài sản khoảng 287 triệu đồng. Tính từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh ghi nhận tổng cộng 22 vụ cháy, giảm 04 vụ so với cùng kỳ, số người tử vong do cháy là 05 người và tổng thiệt hại tài sản vượt mức 275 tỷ đồng. Lĩnh vực môi trường trên địa bàn tỉnh trong tháng xảy ra 04 vụ vi phạm. Từ đầu năm đến nay, xảy ra 50 vụ vi phạm môi trường, tăng 77,8% so cùng kỳ với số tiền xử phạt khoảng 997,1 triệu đồng. Tình hình thiên tai trong tháng, trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp xảy ra 10 vụ thiệt hại thiên tai, làm 01 người bị thương, tổng số tiền thiệt hại tài sản là 42.705 triệu đồng, gồm:  - Mưa lớn, lũ, triều cường (03 vụ): mưa lớn kéo dài kết hợp với lũ và triều cường gây ngập úng cục bộ làm nhiều tuyến bờ bao bị tràn tại nhiều địa phương, gây nhiều thiệt hại cho sản xuất kinh doanh. Ước tính tổng số tiền thiệt hại khoảng 23.834 triệu đồng, cụ thể như sau:  + Đợt 1: từ ngày 08-10/10/2025 làm tràn khoảng 07 km đê; gây ngập 375,9 ha vườn cây ăn trái; 4,4 ha hoa màu; ảnh hưởng 510 m² ao nuôi cá và 05 phòng học; với tổng thiệt hại ước khoảng 8.355 triệu đồng.  + Đợt 2: từ ngày 11-14/10/2025 gây thiệt hại hoàn toàn 3,3 ha hoa màu và 88 ha lúa vừa xuống giống; ảnh hưởng 70,85 ha vườn cây ăn trái; ảnh hưởng 1,6 ha nuôi trồng thủy sản. Ước tổng thiệt hại khoảng 7.284 triệu đồng.   + Đợt 3: từ ngày 20-24/10/2025: điển hình là vỡ đê bao lớn ở khu vực xã Trường Xuân và xã Phương Thịnh, làm thiệt hại hoàn toàn 1,8 ha hoa màu, 124 ha cây ăn trái và 273 ha lúa vừa xuống giống. Ước tổng thiệt hại của đợt 3 khoảng 8.195 triệu đồng.  - Mưa kèm theo giông lốc (01 vụ): làm 01 người bị thương, làm sập 07 căn nhà, tốc mái 61 căn nhà, ngoài ra làm 05 cây sầu riêng (cây từ 4 - 6 năm tuổi) bị gãy hoàn toàn; 300 cây mít (từ 2 - 4 năm tuổi) bị gãy hoàn toàn. Ước tính thiệt hại khoảng 681 triệu đồng.  - Sạt lở sông Tiền (06 vụ): tổng chiều dài các điểm sạt là 333 m, trong đó có 01 vụ lớn với chiều dài sạt lở khoảng 200 m, làm ảnh hưởng đến khu vực bờ ao nuôi cá của Công ty Thanh Bình (thuộc Tập đoàn Vĩnh Hoàn) và khu đất bãi bồi ven sông với ước tính thiệt hại khoảng 10.000 triệu đồng; bên cạnh đó cùng 04 hộ dân nuôi cá diêu hồng (tổng cộng 49 vèo) với thiệt hại ước tính khoảng 8.190 triệu đồng. Ước tính tổng thiệt hại ban đầu các vụ sạt lở khoảng 18.190 triệu đồng. Cộng dồn từ đầu năm, toàn tỉnh xảy ra 48 vụ thiệt hại thiên tai, làm chết 02 người, bị thương 22 người, sập 101 căn nhà, tốc mái 732 căn, 342,5 ha lúa bị thiệt hại, 17,8 hoa màu bị hư,…. Tổng giá trị thiệt hại ước tính khoảng 85,1 tỷ đồng.

Hội nghị Đoàn viên Chi đoàn cơ sở Thống kê tỉnh Đồng Tháp
  •   16/10/2025 08:54

Sáng ngày 16/10/2025, Chi đoàn cơ sở Thống kê tỉnh Đồng Tháp đã tổ chức thành công Hội nghị Đoàn viên. Đại biểu khách mời tham dự gồm:+ Đồng chí Lê Thị Ngọc Xuân - Uỷ viên Ban Thường vụ Đoàn UBND tỉnh; Đại biểu Thống kê tỉnh tham dự gồm:+ Đồng chí Lê Văn Niệm - Phó Bí thư Đảng uỷ, Phó Trưởng Thống kê Tỉnh; Cùng toàn thể Đoàn viên Chi đoàn cơ sở Thống kê tỉnh. Ảnh: Toàn cảnh Hội nghịẢnh: Đoàn Chủ tịch Hội nghị Đoàn viên Hội nghị Đoàn viên đã thông qua các nội dung gồm: Đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội nhiệm kỳ 2024 - 2027; xây dựng phương hướng nhiệm vụ nhiệm kỳ mới 2025 - 2027; bầu Đoàn đại biểu dự Đại hội cấp trên.Ảnh: Bầu Đoàn đại biểu dự Đại hội cấp trên. Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, đồng chí Lê Văn Niệm, Phó Bí thư Đảng uỷ, Phó Trưởng Thống kê Tỉnh ghi nhận và biểu dương những kết quả Chi đoàn cơ sở Thống kê tỉnh đã đạt được trong nhiệm kỳ qua; đồng thời định hướng mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể để Chi đoàn triển khai thực hiện trong nhiệm kỳ 2025 - 2027. Phát biều chỉ đạo hội nghị đồng chí Lê Thị Ngọc Xuân, Uỷ viên Ban Thường vụ Đoàn UBND tỉnh đã ghi nhận, đánh giá cao sự nỗ lực của Chi đoàn trong thời gian qua, đồng thời định hướng một số hoạt động trong thời gian tới để có thể đóng góp nhiều hơn nữa vào công tác Đoàn và phong trào thanh niên. Cũng tại Hội nghị, đoàn viên Chi đoàn sôi nổi tham luận, bàn bạc đưa ra phương hướng nhằm tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; phấn đấu 100% đoàn viên, thanh niên hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn được giao, 100% đoàn viên thanh niên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; giới thiệu 01- 02 đoàn viên ưu tú cho Đảng.         Với tinh thần tập trung dân chủ, trách nhiệm cao, Hội nghị Đoàn viên Chi đoàn cơ sở Thống kê tỉnh Đồng Tháp đã diễn ra thành công tốt đẹp./.N.X.Trường

Bộ chỉ tiêu kinh tế - xã hội phục vụ xây dựng và đánh giá thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng cấp tỉnh
  •   14/10/2025 15:03

1. Sự cần thiết, ý nghĩa, mục đích xây dựng bộ chỉ tiêu kinh tế – xã hội phục vụ Đại hội Đảng cấp tỉnhQuá trình phát triển của đất nước nói chung và địa phương nói riêng luôn gắn liền với từng giai đoạn phát triển kinh tế – xã hội. Nghị quyết Đại hội Đảng qua từng thời kỳ luôn xác định mục tiêu, phương hướng và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của cả nước cũng như từng địa phương. Trong bối cảnh công cuộc đổi mới đất nước bước sang giai đoạn phát triển mới, việc xây dựng bộ chỉ tiêu kinh tế – xã hội một cách khoa học, khách quan, toàn diện phục vụ đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng cấp tỉnh là yêu cầu cấp thiết, góp phần cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng bằng hệ thống chỉ tiêu định lượng phục vụ theo dõi, đo lường, giám sát và đánh giá việc hoàn thành các mục tiêu đặt ra trong mỗi nhiệm kỳ.Bộ chỉ tiêu kinh tế – xã hội phục vụ Đại hội Đảng cấp tỉnh phản ánh đầy đủ, toàn diện các lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường; đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất, tính so sánh và khả thi trong việc đo lường, định lượng; đồng thời làm cơ sở để đánh giá kết quả nhiệm kỳ qua và xác định phương hướng, mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ phát triển cho nhiệm kỳ tới.Bộ chỉ tiêu được xây dựng nhằm hiện thực hóa mục tiêu: (1) Cụ thể hóa các nội dung của Nghị quyết: Thay vì đặt ra các mục tiêu chung chung, khó đo đếm, các nội dung của Nghị quyết sẽ được chuyển hóa thành những chỉ tiêu rõ ràng, có mốc thời gian, đơn vị đo lường cụ thể; (2) Làm cơ sở xây dựng kế hoạch hành động: Dựa vào bộ chỉ tiêu, chính quyền địa phương xây dựng kế hoạch triển khai phù hợp với chức năng, nhiệm vụ.2. Quá trình xây dựng bộ chỉ tiêu kinh tế – xã hộiThực hiện Kết luận số 160-KL/TW ngày 31/5/2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về việc thực hiện nhiệm vụ sắp xếp tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính, bảo đảm tiến độ, yêu cầu theo các nghị quyết, kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư; Hướng dẫn số 32-HD/TBVK ngày 11/6/2025 của Tiểu ban Văn kiện về việc hướng dẫn xây dựng văn kiện đại hội đảng bộ cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương sau sáp nhập, hợp nhất, Bộ Tài chính đã chủ động phối hợp với các bộ, ngành và địa phương:(1) Nghiên cứu, đề xuất bộ chỉ tiêu thống kê kinh tế – xã hội chủ yếu cấp tỉnh phục vụ xây dựng văn kiện đại hội Đảng bộ của các địa phương đồng bộ, thống nhất trên cả nước.(2) Biên soạn số liệu các chỉ tiêu thống kê kinh tế – xã hội của 34 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giai đoạn 2010-2025 làm căn cứ đánh giá thực trạng và xác định chỉ tiêu mục tiêu của các địa phương theo địa giới hành chính mới.(3) Tổ chức hội nghị trực tiếp và trực tuyến toàn quốc vào ngày 24/6/2025 để (i) Giới thiệu bộ chỉ tiêu thống kê kinh tế – xã hội cấp tỉnh; (ii) Hướng dẫn hoàn thiện bộ số liệu.3. Cấu trúc của bộ chỉ tiêu kinh tế – xã hộiBộ chỉ tiêu kinh tế – xã hội cấp tỉnh gồm 28 chỉ tiêu thuộc ba nhóm lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường. Trong đó, Cục Thống kê phụ trách biên soạn 17 chỉ tiêu, sở/ngành phụ trách tính toán 11 chỉ tiêu. Đây là bộ chỉ tiêu cốt lõi, các địa phương có thể linh hoạt bổ sung 3-5 chỉ tiêu cấp tỉnh để phản ánh tính đặc thù, riêng có, qua đó làm rõ hơn đặc điểm tình hình kinh tế – xã hội của địa phương trong từng giai đoạn.a) Nhóm chỉ tiêu kinh tếNhóm chỉ tiêu kinh tế gồm 07 chỉ tiêu, trong đó Cục Thống kê phụ trách 06 chỉ tiêu, sở/ngành phụ trách 01 chỉ tiêu. Cụ thể: (1) Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP); (2) Tốc độ tăng GRDP theo giá so sánh; (3) GRDP bình quân đầu người; (4) Tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GRDP; (5) Ngân sách Nhà nước; (6) Vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn theo giá hiện hành; (7) Tỷ lệ vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn so với GRDP.b) Nhóm chỉ tiêu xã hộiNhóm chỉ tiêu xã hội gồm có 16 chỉ tiêu, trong đó Cục Thống kê phụ trách 10 chỉ tiêu, sở/ngành phụ trách 06 chỉ tiêu. Cụ thể: (8) Dân số trung bình; (9) Tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh; (10) Chỉ số phát triển con người; (11) Số lao động có việc làm trong nền kinh tế; (12) Tỷ trọng lao động có việc làm trong nền kinh tế; (13) Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo; (14) Tỷ lệ thất nghiệp; (15) Năng suất lao động; (16) Số bác sỹ trên 1 vạn dân; (17) Số giường bệnh trên 1 vạn dân; (18) Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế so với dân số; (19) Tỷ lệ trường học các cấp đạt chuẩn quốc gia; (20) Tỷ lệ nghèo đa chiều; (21) Thu nhập bình quân đầu người 01 tháng; (22) Tỷ lệ dân số được sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh; (23) Tỷ lệ xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới.c) Nhóm chỉ tiêu môi trườngNhóm chỉ tiêu môi trường gồm có 05 chỉ tiêu do sở/ngành phụ trách: (24) Tỷ lệ che phủ rừng; (25) Tỷ lệ chất thải nguy hại được thu gom, xử lý; (26) Tỷ lệ chất thải y tế được xử lý; (27) Tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn; (28) Tỷ lệ khu công nghiệp, khu chế xuất đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường.Ngày 07/8/2025, Bộ Tài chính đã gửi Công văn số 12067/BTC-CTK để báo cáo Chính phủ về bộ chỉ tiêu và đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo các sở, ngành phối hợp với Thống kê tỉnh tiếp tục bổ sung, hoàn thiện đầy đủ các chỉ tiêu còn thiếu số liệu của giai đoạn trước và xác định chỉ tiêu mục tiêu cho giai đoạn tiếp theo của 28 chỉ tiêu; cung cấp cho Bộ Tài chính(Cục Thống kê) chậm nhất ngày 31/10/2025 để xây dựng bộ dữ liệu dùng chung. Bộ chỉ tiêu kinh tế – xã hội được xây dựng và sử dụng trong Nghị quyết Đại hội Đảng cấp tỉnh đã góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững trong thời kỳ mới./.

Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp 9 tháng đầu năm 2025 đạt 6,98%
  •   02/10/2025 20:06

Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục tiềm ẩn nhiều rủi ro, nhất là biến động giá nguyên, nhiên vật liệu, xung đột địa chính trị và sự suy giảm tăng trưởng của một số nền kinh tế lớn, kinh tế Việt Nam vẫn duy trì ổn định nhờ sự điều hành linh hoạt của Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương. Các giải pháp tập trung vào giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, hỗ trợ sản xuất - kinh doanh và bảo đảm an sinh xã hội đã phát huy hiệu quả, tạo nền tảng quan trọng để các địa phương phục hồi và phát triển. Trên địa bàn tỉnh Đồng tháp, kinh tế 9 tháng đầu năm 2025, tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định trên các lĩnh vực. Việc hợp nhất hai địa phương tỉnh Tiền Giang và tỉnh Đồng Tháp thành tỉnh Đồng Tháp từ ngày 01/7/2025 đã tạo nên một không gian rộng lớn, thúc đẩy liên kết vùng và mở ra nhiều cơ hội phát triển mới cho toàn khu vực. Với quyết tâm cao, lãnh đạo tỉnh và các ngành, các cấp tập trung lãnh đạo, kịp thời giải quyết khó khăn, vướng mắc trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp;  đồng thời chủ động ứng phó với chính sách thuế quan của Mỹ; xuất khẩu nông sản ở một số thời điểm gặp khó khăn... giúp doanh nghiệp an tâm sản xuất, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế của tỉnh. Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) 9 tháng đầu năm 2025 ước đạt 108.232 tỷ đồng (giá so sánh năm 2010); quý I tăng 6,85%, quý II tăng 7,33%, quí III tăng 6,81%, tính chung 9 tháng tăng 6,98% so với 9 tháng đầu năm 2024 (Tiền Giang tăng 7,43%, Đồng Tháp cũ tăng 6,50%); khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,19%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,52%, khu vực dịch vụ tăng 7,26% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 5,48% so cùng kỳ. Trong 6,98% tăng trưởng thì khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản đóng góp 1,44%, khu vực công nghiệp và xây dựng đóng góp 2,85%, khu vực dịch vụ đóng góp 2,37% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đóng góp 0,32%. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản: 9 tháng đầu năm 2025 tăng 4,19% so với 9 tháng đầu năm 2024; trong đó nông nghiệp tăng 4,15%. Sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh trong 9 tháng đầu năm 2025, thuận lợi hơn các năm trước, không chịu tác động nhiều của hạn mặn. Sản lượng các loại rau màu, cây quả đều tăng so với cùng kỳ. Các vườn cây ăn trái bị thiệt hại do hạn mặn năm 2020 gây ra đã được nông dân chăm sóc, trồng mới đến nay đã cho sản phẩm, góp phần làm cho nông nghiệp của tỉnh tăng. Tuy nhiên những tháng đầu năm xuất khẩu nông sản gặp khó khăn, giá một số sản phẩm nông nghiệp như: lúa, mít, sầu riêng … thấp hơn so cùng kỳ, ảnh hưởng đến thu nhập của nông dân. Lĩnh vực chăn nuôi, dịch bệnh còn xảy ra ở một số địa phương, gây tâm lý lo lắng cho người nuôi; giá cả lên xuống thất thường, nông dân khó dự báo trong sản xuất; nhìn chung trong 9 tháng đầu năm giá bán các sản phẩm chăn nuôi bình quân có cao hơn cùng kỳ, giá lợn hơi trong 6 tháng đầu năm tăng mạnh, giao động từ 7 - 8,2 triệu đồng/tạ, sau đó giảm xuống, đến thời điểm tháng 9 giao động ở mức 5,5 -5,8 đồng/tạ, nông dân vẫn có lãi nhưng không nhiều. Do giá tăng cao ở những tháng đầu năm, nông dân mở rộng đầu tư sản xuất nên tổng đàn gia súc, gia cầm ở thời điểm tháng 6 đều tăng so cùng kỳ. Nhưng đến thời điểm hiện tại tổng đàn gia súc, gia cầm giảm, chỉ còn đàn lợn tăng 0,5% so cùng kỳ (ước thời điểm 30/9/2025 đàn trâu hiện 3,2 nghìn con, đàn bò hiện 153,8 nghìn con, đàn lợn 435,7 nghìn con, đàn gia cầm có 23,3 triệu con). Ngành thủy sản tăng 4,42% so cùng kỳ, sản lượng nuôi trồng và khai thác đều tăng. Thời tiết trong 9 tháng đầu năm thuận lợi, ít ảnh hưởng bởi bão và áp thấp nhiệt đới, tạo điều kiện cho tàu cá hoạt động hiệu quả; thủy sản nuôi sinh trưởng tốt, ít dịch bệnh, cho năng suất cao. Mặt khác mô hình nuôi hàu tại vùng ven biển thuộc các xã khu vực Gò Công thả nuôi năm 2023 đến nay đã thu hoạch, góp phần làm cho ngành thuỷ sản của tỉnh tăng. Khu vực công nghiệp - xây dựng: tăng 10,52% so với 9 tháng đầu năm 2024; trong đó công nghiệp tăng 10,23% (cùng kỳ tăng 12,17%). Sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh trong 9 tháng đầu năm có mức tăng thấp hơn cùng kỳ (cùng kỳ tăng 12,17%) nhưng duy trì tốc độ tăng ổn định ở các quý (quý I tăng 11,52%, quí II tăng 9,22%, quý III tăng 10,07%). Theo dự báo có thể trong quý IV tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp sẽ chậm lại, do tác động của chính sách thương mại, áp thuế đối ứng của các nước, đơn hàng giảm, sản xuất hàng xuất khẩu khó khăn hơn, nhu cầu của thế giới giảm. Một số ngành có chỉ số sản xuất tăng cao trong 9 tháng đầu năm như: Sản xuất trang phục tăng 39,85%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 86,23%; sản xuất kim loại tăng 22,2%; sản xuất thiết bị điện tăng 20,82%, …Bên cạnh đó cũng có một số ngành có chỉ số sản xuất giảm so cùng kỳ do gặp khó khăn trong tìm kiếm thị trường tiêu thụ như: sản xuất da và các sản phẩm có liên quan bằng 92,86%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu bằng 84,84%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẳn bằng 78,97%; sản xuất xe có động bằng 54,73… Ngành xây dựng tăng 11,96%, là một trong những ngành có tốc độ tăng trưởng tốt nhất trong 9 tháng đầu năm 2025. Tình hình sản xuất của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh từng bước khôi phục, ổn định trở lại sau dịch covid – 19  nên mở rộng qui mô đầu tư cho sản xuất. Năm 2025 là năm cuối của nhiệm kỳ Đại hội đảng các cấp giai đoạn 2020 - 2025, lãnh các đạo địa phương, các ngành các cấp tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt trong việc đẩy nhanh tiến độ đầu tư công và các công trình chào mừng Đại hội. Việc sáp nhập xã, phường, tỉnh theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đi vào hoạt động từ ngày 01/7/2025, nhu cầu sữa chữa nâng cấp các trụ sở làm việc của các cơ quan cũng góp phần tăng trưởng ngành xây dựng. Hiện tại trên địa bàn tỉnh có nhiều công trình trọng điểm của trung ương đang được triển khai đã góp phần làm cho hoạt động xây dựng trên địa bàn tỉnh tăng khá so cùng kỳ. Khu vực dịch vụ: tăng 7,26% so cùng kỳ. Sau thời gian dài chịu ảnh hưởng của dịch Covid-19, tác động của suy giảm kinh tế thế giới, kinh tế của tỉnh dần hồi phục; công nhân có việc làm ổn định, thu nhập tăng, làm cho hầu hết các ngành trong khu vực này điều tăng so với cùng kỳ. Tuy nhiên tốc độ tăng của khu vực này có xu hướng chậm lại (quý I tăng 7,98%, quý II tăng 7,53%, quý III tăng 6,33%). Việc tăng lương cơ sở từ ngày 01/7/2024, làm cho thu nhập của người lao động tăng, kéo theo tiêu dùng, mua sắm của người dân bắt đầu tăng cao từ quý III/2024, do đó trong 6 tháng đầu năm 2025 tốc độ tăng trưởng của khu vực này tăng cao so cùng kỳ, đến quý III có xu hướng bảo hoà. Nhìn chung các hoạt động thương mại và dịch vụ trên địa bàn tỉnh diễn ra khá sôi động; các hoạt động hội chợ, triển lãm, sự kiện, lễ hội … thường xuyên được tổ chức để kích cầu tiêu dùng. Một số ngành tăng khá như: Dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 8,05%; hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 16,93%; hoạt động của Đảng cộng sản, tổ chức chính trị - xã hội, quản lý nhà nước, an ninh quốc phòng tăng 10,92%; Hoạt động vận tải kho bãi tăng 13,13% so với cùng kỳ... Thực hiện Nghị định 168/2024/NĐ-CP ngày 26/12/2024 quy định xử phạt vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông trong lĩnh vực giao thông đường bộ; trừ điểm, phục hồi điểm giấy phép lái xe; người dân đã ý thức hơn khi tham giao thông, nên nhu cầu sử phương tiện vận tải công cộng tăng, đã thúc đẩy dịch vụ vận tải đường bộ trên địa bàn tỉnh tăng. Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 5,48% so 9 tháng đầu năm 2024. GRDP 9 tháng đầu năm nếu tính theo giá hiện hành đạt 210.027 tỷ đồng. Cơ cấu kinh tế của tỉnh chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, giảm tỷ trọng các ngành nông lâm nghiệp và thuỷ sản. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 34,7% (cùng kỳ 36,6%); khu vực công nghiệp, xây dựng chiếm 25,6% (cùng kỳ 24,1%); khu vực dịch vụ chiếm 34,1% (cùng kỳ 33,6%); thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 5,6%,  (cùng kỳ 5,7%).                                                                                      N.V.Tròn

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Tháp 9 tháng đầu năm 2025
  •   02/10/2025 07:45

Tình hình kinh tế - chính trị thế giới diễn biến phức tạp; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gây gắt hơn; xung đột Nga - Ucraina kéo dài, chính sách thắt chặt tiền tệ của các nước; chính sách bảo hộ thương mại của Hoa Kỳ tiếp tục gia tăng… đã làm ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh  các doanh nghiệp của Việt Nam nói chung và tỉnh Đồng Tháp nói riêng. Trong những tháng đầu năm 2025 Đảng bộ, chính quyền các cấp trên địa bàn tỉnh tập trung sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống chính trị theo Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban chấp hành Trung ương khóa XII. Đảng bộ, chính quyền các cấp trên địa bàn tỉnh tập trung lãnh đạo Đại hội Đảng bộ cấp xã, phường. Sắp xếp tổ chức bộ máy đơn vị hành chính và tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp hoạt động hiệu lực, hiệu quả phấn đấu thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra trong năm 2025. Với sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị, kinh tế - xã hội của tỉnh tiếp tục phát triển, hầu hết các chỉ tiêu đều tăng so cùng kỳ. Kết quả thực hiện trên các lĩnh vực như sau: I. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊU KINH TẾ 1. Tăng trưởng kinh tế (GRDP): Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) 9 tháng đầu năm 2025 ước đạt 108.232 tỷ đồng (giá so sánh năm 2010); quý I tăng 6,85%, quý II tăng 7,33%,  quý III tăng 6,81%; tính chung 9 tháng tăng 6,98% (Tiền Giang tăng 7,43%, Đồng Tháp cũ tăng 6,50%); khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,19%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,52%, khu vực dịch vụ tăng 7,26% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 5,48% so cùng kỳ. Trong 6,98% tăng trưởng thì khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản đóng góp 1,44%, khu vực công nghiệp và xây dựng đóng góp 2,85%, khu vực dịch vụ đóng góp 2,37% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đóng góp 0,32%. GRDP nếu tính theo giá hiện hành đạt 210.027 tỷ đồng.  Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản: 9 tháng đầu năm 2025 tăng 4,19% so với 9 tháng đầu năm 2024; trong đó nông nghiệp tăng 4,15%. Sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh trong 9 tháng đầu năm 2025, thuận lợi hơn các năm trước, không chịu tác động nhiều của hạn mặn. Sản lượng các loại rau màu, cây ăn quả đều tăng so với cùng kỳ. Các vườn cây ăn trái bị thiệt hại do hạn mặn năm 2020 gây ra đã được nông dân chăm sóc, trồng mới đến nay đã cho sản phẩm, góp phần làm cho nông nghiệp của tỉnh tăng. Tuy nhiên những tháng đầu năm xuất khẩu nông sản gặp khó khăn, giá một số sản phẩm nông nghiệp như: lúa, mít, sầu riêng … thấp hơn so cùng kỳ, ảnh hưởng đến thu nhập của nông dân. Lĩnh vực chăn nuôi, dịch bệnh còn xảy ra ở một số địa phương, gây tâm lý lo lắng cho người nuôi; giá cả lên xuống thất thường, nông dân khó dự báo trong sản xuất; nhìn chung trong 9 tháng đầu năm giá bán các sản phẩm chăn nuôi bình quân có cao hơn cùng kỳ, giá lợn hơi trong 6 tháng đầu năm tăng mạnh, giao động từ 7 - 8,2 triệu đồng/tạ, sau đó giảm xuống, đến thời điểm tháng 9 giao động ở mức 5,5 -5,8 đồng/tạ, nông dân vẫn có lãi nhưng không nhiều. Do giá tăng cao ở những tháng đầu năm, nông dân mở rộng đầu tư sản xuất nên tổng đàn gia súc, gia cầm ở thời điểm tháng 6 đều tăng so cùng kỳ. Nhưng đến thời điểm hiện tại tổng đàn gia súc, gia cầm giảm, chỉ còn đàn lợn tăng 0,5% so cùng kỳ. Ngành thủy sản tăng 4,42% so cùng kỳ, sản lượng nuôi trồng và khai thác đều tăng. Thời tiết trong 9 tháng đầu năm thuận lợi, ít ảnh hưởng bởi bão và áp thấp nhiệt đới, tạo điều kiện cho tàu cá hoạt động hiệu quả; thủy sản nuôi sinh trưởng tốt, ít dịch bệnh, cho năng suất cao. Mặt khác mô hình nuôi hàu tại vùng ven biển thuộc các xã khu vực Gò Công thả nuôi năm 2023 đến nay đã thu hoạch, góp phần làm cho ngành thuỷ sản của tỉnh tăng. Khu vực công nghiệp - xây dựng: tăng 10,52% so với 9 tháng đầu năm 2024; trong đó công nghiệp tăng 10,23% (cùng kỳ tăng 12,17%). Sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh trong 9 tháng đầu năm có mức tăng thấp hơn cùng kỳ nhưng duy trì tốc độ tăng ổn định ở các quý (quý I tăng 11,52%,  quý II tăng 9,22%, quý III tăng 10,07%). Theo dự báo có thể trong quý IV tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp sẽ chậm lại, do tác động của chính sách thương mại, áp thuế đối ứng của các nước, đơn hàng giảm, sản xuất hàng xuất khẩu khó khăn hơn, nhu cầu của thế giới giảm. Một số ngành có chỉ số sản xuất tăng cao trong 9 tháng đầu năm như: Sản xuất trang phục tăng 39,85%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 86,23%; sản xuất kim loại tăng 22,2%; sản xuất thiết bị điện tăng 20,82%, …Bên cạnh đó cũng có một số ngành có chỉ số sản xuất giảm so cùng kỳ do gặp khó khăn trong tìm kiếm thị trường tiêu thụ như: sản xuất da và các sản phẩm có liên quan bằng 92,86%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu bằng 84,84%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẳn bằng 78,97%; sản xuất xe có động bằng 54,73… Ngành xây dựng tăng 11,96%, là một trong những ngành có tốc độ tăng trưởng tốt nhất trong 9 tháng đầu năm 2025. Tình hình sản xuất của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh từng bước khôi phục, ổn định trở lại sau dịch covid – 19 nên mở rộng qui mô đầu tư cho sản xuất. Năm 2025 là năm cuối của nhiệm kỳ Đại hội đảng các cấp giai đoạn 2020 - 2025, lãnh các đạo địa phương, các ngành các cấp tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt trong việc đẩy nhanh tiến độ đầu tư công và các công trình chào mừng Đại hội. Việc sáp nhập xã, phường, tỉnh theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đi vào hoạt động từ ngày 01/7/2025, nhu cầu sữa chữa nâng cấp các trụ sở làm việc của các cơ quan cũng góp phần tăng trưởng ngành xây dựng. Hiện tại trên địa bàn tỉnh có nhiều công trình trọng điểm của trung ương đang được triển khai đã góp phần làm cho hoạt động xây dựng trên địa bàn tỉnh tăng khá so cùng kỳ. Khu vực dịch vụ: tăng 7,26% so cùng kỳ. Sau thời gian dài chịu ảnh hưởng của dịch Covid-19, tác động của suy giảm kinh tế thế giới, kinh tế của tỉnh dần hồi phục; công nhân có việc làm ổn định, thu nhập tăng, làm cho hầu hết các ngành trong khu vực này tăng so với cùng kỳ. Tuy nhiên tốc độ tăng của khu vực này có xu hướng chậm lại (quý I tăng 7,98%, quý II tăng 7,53%, quý III tăng 6,33%). Việc tăng lương cơ sở từ ngày 01/7/2024, làm cho thu nhập của người lao động tăng, kéo theo tiêu dùng, mua sắm của người dân bắt đầu tăng cao từ quý III/2024, do đó trong 6 tháng đầu năm 2025 tốc độ tăng trưởng của khu vực này tăng cao so cùng kỳ, đến quý III có xu hướng bảo hoà. Nhìn chung các hoạt động thương mại và dịch vụ trên địa bàn tỉnh diễn ra khá sôi động; các hoạt động hội chợ, triển lãm, sự kiện, lễ hội … thường xuyên được tổ chức để kích cầu tiêu dùng. Một số ngành tăng khá như: Dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 8,05%; hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 16,93%; hoạt động của Đảng cộng sản, tổ chức chính trị - xã hội, quản lý nhà nước, an ninh quốc phòng tăng 10,92%; Hoạt động vận tải kho bãi tăng 13,13% so với cùng kỳ... Thực hiện Nghị định 168/2024/NĐ-CP ngày 26/12/2024 quy định xử phạt vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông trong lĩnh vực giao thông đường bộ; trừ điểm, phục hồi điểm giấy phép lái xe; người dân đã ý thức hơn khi tham giao thông, nên nhu cầu sử phương tiện vận tải công cộng tăng, đã thúc đẩy dịch vụ vận tải đường bộ trên địa bàn tỉnh tăng. Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 5,48% so 9 tháng đầu năm 2024. Cơ cấu kinh tế: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 34,7% (cùng kỳ 36,6%); khu vực công nghiệp, xây dựng chiếm 25,6% (cùng kỳ 24,1%); khu vực dịch vụ chiếm 34,1% (cùng kỳ 33,6%); thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 5,6%, (cùng kỳ 5,7%). 2. Tài chính - Ngân hàng: a. Tài chính: Thu ngân sách nhà nước: 9 tháng đầu năm 2025 ước thu được 46.551 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn thực hiện 18.393 tỷ đồng, đạt 88,9% dự toán, tăng 15,2% so cùng kỳ; thu nội địa 17.739 tỷ đồng, đạt 89,3% dự toán, tăng 15,8% so cùng kỳ. Các khoản thu chủ yếu như sau: - Thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 2.832 tỷ đồng, đạt 103,9% dự toán, tăng 14,3% so cùng kỳ. - Thu từ hoạt động xổ số kiến thiết 3.836 tỷ đồng, đạt 92,4% dự toán, tăng 22,3% so cùng kỳ. - Thu thuế công thương nghiệp ngoài quốc doanh 3.363 tỷ đồng đạt 115,2% dự toán, tăng 31,2% so cùng kỳ. Chi ngân sách nhà nước: Tổng chi ngân sách 9 tháng đầu năm 2025 là 32.665 tỷ đồng, tăng 29,5% so cùng kỳ, trong đó: chi đầu tư phát triển 10.439 tỷ đồng, đạt 94,2% dự toán, bằng 84,7%; chi hành chính sự nghiệp 21.220 tỷ đồng, đạt 95,7% dự toán và tăng 72,7% so cùng kỳ. b. Ngân hàng: Kinh tế toàn cầu diễn biến phức tạp, rủi ro bất ổn thị trường tài chính tăng cao, nhiều quốc gia tiếp tục tăng lãi suất để kiềm chế lạm phát. Các ngân hàng trên địa bàn tỉnh tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chắc chắn, linh hoạt, chủ động, kịp thời, hiệu quả. Đến cuối tháng 8/2025, vốn huy động đạt 193.844 tỷ đồng, tăng 6,44% so với cuối năm 2024; tổng dư nợ cho vay thực hiện là 234.730 tỷ đồng, tăng 4,28% so với cuối năm 2024. Ước tính đến cuối tháng 9/2025, nguồn vốn huy động đạt 194.708 tỷ đồng, tăng 6,91% so với cuối năm 2024; tổng dư nợ cho vay đạt 236.346 tỷ, tăng 4,99% so với cuối năm 2024. Nợ xấu: đến cuối tháng 8/2025 là 5.692 tỷ đồng, tỷ lệ 2,49%, tăng 1,01% so với cuối năm 2024. Ước đến cuối tháng 9/2025, nợ xấu là 5.542 tỷ, tỷ lệ nợ xấu 2,34%, tăng 0,86% so với cuối năm 2024. Quỹ tín dụng nhân dân:Hệ thống quỹ tín dụng nhân dân trên địa bàn hoạt động ổn định, sát với mục tiêu góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội. Đến cuối 8/2025, tổng nguồn vốn huy động 2.823 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 7,29% so với cuối năm 2024. Dư nợ cho vay đạt 2.340 tỷ đồng, tỷ lệ giảm 1,17% so với cuối năm 2024. Tỷ lệ nợ xấu 0,59% so với cuối năm 2024. 3. Giá cả, lạm phát: Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9/2025 tăng 0,29% so tháng 8/2025 (khu vực thành thị tăng 0,41%, nông thôn tăng 0,26%); so cùng kỳ tăng 2,59%. So với tháng 8/2025, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 11 nhóm tăng: hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,17% (lương thực tăng 0,08%, thực phẩm tăng 0,22%, ăn uống ngoài gia đình tăng 0,1%); đồ uống và thuốc lá tăng 0,14%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,3%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,41%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,1%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%; giao thông tăng 0,78%; bưu chính viễn thông tăng 0,1%; giáo dục tăng 0,73%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,01% và nhóm hàng hóa dịch vụ khác tăng 0,45%. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân quý III năm 2025 so cùng kỳ tăng 2,27%; một số nhóm hàng có chỉ số giá tăng nhiều trong quý như: thuốc và dịch vụ y tế tăng 11,91%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 4,69%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,33%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,29%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 11,91%;... Chỉ riêng nhóm giao thông giảm 2,04% so cùng kỳ. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 9 tháng năm 2025 so cùng kỳ tăng 2,22%; Chỉ số giá tiêu dùng 9 tháng đầu năm 2025 tăng chủ yếu ở một số nhóm hàng như: thuốc và dịch vụ y tế tăng 11,91%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 6,85%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,61%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,70%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,72% so với cùng kỳ … Chỉ riêng nhóm giao thông giảm 3,84% so cùng kỳ. Chỉ số giá vàng 24 kara Ngọc Thẩm trong tháng 9/2025 tăng 7,29% so tháng trước, tăng 43,37% so với tháng 12/2024, tăng 55,79% so với cùng kỳ. Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng 09/2025 tăng 0,7% so tháng trước, tăng 3,85% so với tháng 12/2024 và tăng 6,99% so với cùng kỳ. 4. Đầu tư và Xây dựng: Vốn đầu tư toàn xã hội quý III/2025, ước thực hiện được 23.531 tỷ đồng, tăng 13,3% so cùng kỳ; trong đó: vốn đầu tư ngoài nhà nước 13.656 tỷ đồng, tăng 7,4% và chiếm 58%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 1.745 tỷ đồng, tăng 31,4% và chiếm 7,4%; vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước 8.130 tỷ đồng, tăng 20,9% và chiếm 34,6%. Chín tháng đầu năm 2025, vốn đầu tư toàn xã hội ước thực hiện 59.469 tỷ đồng, đạt 67% kế hoạch, tăng 12,6% so cùng kỳ; trong đó: vốn đầu tư của dân cư và tư nhân 36.358 tỷ đồng, tăng 11,6%, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 4.496 tỷ đồng, tăng 28,9%, vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước 18.615 tỷ đồng, tăng 11,4% so cùng kỳ. Hình 1. Vốn đầu tư toàn xã hội 9 tháng năm 2025 Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý quý III/2025 là 5.065 tỷ đồng, tăng 58,2% so cùng kỳ; gồm có: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 4.960 tỷ đồng, tăng 57% và vốn ngân sách nhà nước cấp xã 105 tỷ đồng, tăng 1,5 lần so cùng kỳ. Ước 9 tháng đầu năm 2025, vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý là 11.171 tỷ đồng, đạt 63,6% kế hoạch, tăng 33,2% so cùng kỳ; gồm có: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 10.997 tỷ đồng, tăng 32,8% và vốn ngân sách nhà nước cấp xã 174 tỷ đồng, tăng 62,4% so cùng kỳ. Kết quả thực hiện một số dự án trọng điểm từ nguồn vốn ngân sách trên địa bàn tỉnh[1]. 5. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp: (Theo báo cáo của Sở Tài Chính) Tính đến hết tháng 9/2025 trên địa bàn tỉnh có 1.928 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, đạt 107,1% kế hoạch và tăng 72% so với cùng kỳ; tổng vốn đăng ký là 12.516,9 tỷ đồng, tăng 67,4% so với cùng kỳ; vốn đăng ký bình quân một doạnh nghiệp là 6,5 tỷ đồng/doanh nghiệp. Thành lập đơn vị trực thuộc doanh nghiệp có 1.320 đơn vị thành lập mới, tăng 47,3% so với cùng kỳ. Tạm ngừng hoạt động 679 doanh nghiệp tăng 8,3%; có 304 doanh nghiệp hoàn tất giải thể, tăng 28,8% so với cùng kỳ. Bên cạnh đó có 340 doanh nghiệp hoạt động trở lại, tăng 28,3% so với cùng kỳ. 6. Sản xuất nông - lâm nghiệp và thủy sản: a. Nông nghiệp [2]Cây lương thực có hạt: diện tích gieo trồng cộng dồn từ đầu vụ sản xuất ước đạt 591.032 ha, giảm 4,0% so cùng kỳ, tương ứng giảm 24.866 ha; sản lượng ước đạt 3.316.832 tấn, tăng 0,1%, tương ứng tăng 3.093 tấn. Trong đó cây lúa gieo sạ ước đạt 584.960 ha, giảm 4,0% so cùng kỳ; sản lượng thu hoạch ước đạt 3.274.775 tấn, tăng 0,1%, cụ thể: - Cây lúa:+ Vụ Đông xuân 2024 - 2025: diện tích gieo trồng chính thức 229.680 ha, giảm 1,7% so cùng kỳ, tương ứng giảm 4.087 ha do chuyển đổi sang cây lâu năm 3.591 ha, không sản xuất 425 ha, cây hàng năm khác 147 ha, đất phi nông nghiệp là 44 ha, nuôi trồng thủy sản 33 ha và tăng 153 ha từ diện tích cây hằng năm khác. Thu hoạch 100% diện tích với năng suất thu hoạch bình quân đạt 71,9 tạ/ha, tăng 0,3% so cùng kỳ, tương ứng tăng 0,2 tạ/ha; sản lượng thu hoạch 1.651.864 tấn, giảm 1,5% so cùng kỳ, tương ứng giảm 24.518 tấn. Nguyên nhân do diện tích gieo trồng giảm. + Vụ Hè thu: đến ngày 20/9, diện tích gieo trồng của vụ sơ bộ đạt 244.290 ha, giảm 2,1% so cùng kỳ, tương ứng giảm 5.334 ha; thu hoạch 242.303 ha, chiếm 99,2% diện tích gieo trồng; sản lượng thu hoạch ước đạt 1.622.911 tấn, tăng 1,8% so cùng kỳ với năng suất thu hoạch bình quân ước đạt 67 tạ/ha. Diện tích gieo trồng giảm do chuyển đổi sang đất trồng cây lâu năm là 3.232 ha, thời tiết, bỏ vụ là 1.596 ha, nuôi trồng thủy sản là 500 ha, cây hàng năm khác là 369 ha, đất phi nông nghiệp là 123 ha và tăng 486 ha từ diện tích cây hàng năm khác. + Vụ Thu Đông: đến ngày 20/9, diện tích gieo trồng của vụ ước đạt 110.990 ha, giảm 12% so cùng kỳ, diện tích xuống giống chủ yếu ở Tháp Mười, Cao Lãnh, Tam Nông, Lấp Vò... trà lúa đang giai đoạn mạ - đẻ nhánh. Hình 2. Diện tích gieo trồng lúa và hoa màu tính đến 20/9/2025 - Cây ngô: diện tích gieo trồng cộng dồn từ đầu vụ sản xuất là 6.072 ha, giảm 5,5%, tương ứng giảm 350 ha. Sản lượng thu hoạch ước đạt 42.057 tấn, giảm 2,5% so cùng kỳ, tương ứng giảm 1.069 tấn. Ngô là cây trồng ngắn ngày, kỹ thuật canh tác đơn giản, dễ chăm sóc và có thể sản xuất nhiều vụ trong năm. Ngoài giá trị kinh tế từ việc bán trái, cây ngô còn mang lại lợi ích từ phụ phẩm: thân, lá sau thu hoạch là nguồn thức ăn giàu dinh dưỡng cho gia súc (trâu, bò…), góp phần giảm chi phí chăn nuôi và nâng cao hiệu quả kinh tế hộ gia đình. - Cây rau đậu các loại: diện tích gieo trồng cộng dồn từ đầu vụ sản xuất ước đạt 64.269 ha, tăng 2,3% so cùng kỳ; trong đó: rau các loại 63.912 ha, tăng 2,3% so cùng kỳ. Sản lượng thu hoạch ước đạt 996.414 tấn, tăng 10,1% so cùng kỳ; trong đó: rau các loại ước đạt 995.482 tấn, tăng 10,1% so cùng kỳ. Diện tích rau màu tăng chủ yếu do nông dân chuyển đổi từ đất trồng cây kém hiệu quả, đặc biệt là những diện tích không đủ điều kiện sản xuất lúa sang trồng rau màu. Tận dụng lợi thế đất đai màu mỡ, thời tiết thuận lợi, bà con đã linh hoạt áp dụng mô hình xen canh, gối vụ với nhiều loại rau, củ, quả có giá trị kinh tế cao, dễ tiêu thụ như: rau muống, bầu, mướp, bí xanh, khổ qua, dưa leo, các loại cải, hành lá, dưa hấu và các loại rau ngắn ngày khác. Công tác sản xuất và tiêu thụ nông sản ngày càng được chú trọng, sản phẩm chủ yếu được tiêu thụ thông qua thương lái, bên cạnh đó một số hợp tác xã đã liên kết với hệ thống bán lẻ hiện đại (chuỗi Bách Hóa Xanh) để cung ứng rau sạch với giá bán ổn định, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế cho nông dân. Cây lâu năm: trong 9 tháng năm 2025, các loại cây lâu năm trên địa bàn tỉnh tiếp tục phát triển ổn định, xu hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng ngày càng rõ nét. Nhiều địa phương đã thực hiện chuyển đổi diện tích đất lúa, đất màu kém hiệu quả sang trồng cây ăn quả như sầu riêng, mít Thái, thanh long, dừa…, làm cho diện tích cây ăn quả của tỉnh không ngừng gia tăng. Nhiều loại cây ăn quả chủ lực đã được xây dựng thương hiệu và khẳng định vị thế trên thị trường trong nước cũng như xuất khẩu sang nhiều quốc gia, điển hình như sầu riêng, thanh long, vú sữa, xoài cát Hòa Lộc… Đây là hướng đi phù hợp, góp phần nâng cao giá trị kinh tế và cải thiện thu nhập cho nông dân. Tổng diện tích gieo trồng cây lâu năm trên toàn tỉnh ước đạt 160.997 ha, đạt 101,6% kế hoạch năm, tăng 3,7% so với cùng kỳ (tương ứng tăng 5.695 ha). Trong đó, diện tích cây ăn quả ước đạt 134.128 ha, chiếm 83,3% tổng diện tích cây lâu năm, tăng 3,2% so cùng kỳ. Tổng sản lượng thu hoạch cây lâu năm toàn tỉnh ước đạt 2.056.625 tấn, đạt 75,5% kế hoạch năm, tăng 4,8% so với cùng kỳ (tương ứng tăng 93.434 tấn). Trong đó, tổng sản lượng thu hoạch cây ăn quả ước đạt 1.836.487 tấn, tăng 5,0% so cùng kỳ. Sự gia tăng sản lượng này phản ánh hiệu quả của việc mở rộng diện tích, cải thiện kỹ thuật canh tác và đầu tư thâm canh ngày càng cao của người dân. Chăn nuôi: ước thời điểm 30/9/2025 tổng đàn gian súc, gia cầm của tỉnh như sau: đàn trâu hiện có 3,2 nghìn con, giảm 1,2% so cùng kỳ; đàn bò hiện có 153,8 nghìn con, giảm 4,4%; đàn lợn có 435,7 nghìn con, tăng 0,5%; đàn gia cầm có 23,3 triệu con, giảm 5,7%. Đàn trâu tiếp tục giảm do hiệu quả kinh tế thấp, giá bán không ổn định, thời gian nuôi kéo dài, khiến người dân chuyển sang các mô hình chăn nuôi khác có giá trị kinh tế cao hơn. Đàn bò cũng giảm chủ yếu vì chi phí đầu vào tăng trong khi giá bán đầu ra bấp bênh, nhiều hộ phải thu hẹp quy mô hoặc ngừng nuôi để hạn chế rủi ro. Ngược lại, đàn lợn tăng nhẹ nhờ người chăn nuôi đầu tư vào mô hình trang trại quy mô lớn, áp dụng tiến bộ kỹ thuật và quy trình an toàn sinh học, qua đó nâng cao năng suất, hiệu quả sản xuất và kiểm soát dịch bệnh. Tổng đàn gia cầm giảm so với cùng kỳ, chủ yếu do đàn vịt giảm vì đã đến kỳ xuất bán vịt thịt chạy đồng, trong khi người nuôi chưa tái đàn. Tuy nhiên, đàn gà tăng mạnh, góp phần ổn định nguồn cung thịt và trứng gia cầm trên thị trường, không gây biến động lớn về giá cả. *Tình hình dịch bệnh trên vật nuôi (Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đồng Tháp): Gia cầm: Bệnh cúm gia cầm: trong tháng không phát sinh. Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh xảy ra 03 hộ có cầm nhiễm vi rút cúm A/H5N1 với số lượng 6.161 con (tổng đàn 7.200 con) tại 02 xã (Phú Thành và Tân Phước 3). Đã tiêu hủy toàn bộ số gia cầm 7.200 con. Gia súc: Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: trong tháng phát sinh 1 hộ có lợn bệnh trên tổng đàn 72 con. Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh xảy ra 20 hộ nuôi có lợn mắc bệnh tại 13 xã (Vĩnh Bình, Bình Ninh, Vĩnh Hựu, Long Hưng, Tân Phước 3, Hội Cư, Bình Trưng, Long Định, Tân Phú, Kim Sơn, Mỹ Tịnh An, Mỹ Thành và Hậu Mỹ). Đã tiêu hủy 540 con (khối lượng khoảng 17.697 kg). Bệnh viêm da nổi cục: trong tháng không phát sinh. Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh xảy ra 03 hộ tại 03 xã (Hậu Mỹ, Tân Thuận Bình, Chợ Gạo) với 04 con bò có dấu hiệu bệnh (tổng đàn 18 con). Đã tiêu hủy 01 con bò (khối lượng 215 kg). Bệnh Lở mồm long móng: trong tháng không phát sinh. Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh xảy ra 01 con lợn bệnh tại cơ sở giết mổ ở xã Hậu Mỹ. Đã tiêu hủy lợn bệnh (khối lượng 110 kg). Hình 3. Chăn nuôi tại thời điểm 30/9/2025 b. Lâm nghiệp: Tổng diện tích đất có rừng trên địa bàn tỉnh hiện đạt 8.006,6 ha. Trong 9 tháng năm 2025, số cây phân tán được trồng mới ước đạt 751 nghìn cây, giảm 2,2% so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu do nhiều tuyến đường đã được trồng cây từ các năm trước, nên nhu cầu bổ sung cây mới không còn nhiều. Sản lượng gỗ khai thác ước đạt 131.160 m³, tăng 0,6% so với cùng kỳ; sản lượng củi khai thác ước đạt 303.089 ste, giảm 5,2% so với cùng kỳ năm trước. c. Thủy hải sản: Sản lượng thủy sản trong quý III/2025 ước đạt 250.072 tấn. Tính chung sản lượng thủy sản 9 tháng năm 2025 ước đạt 699.400 tấn, tăng 14,8% so cùng kỳ; trong đó: sản lượng thu hoạch từ nuôi 603.954 tấn, tăng 14,3%; sản lượng khai thác 95.446 tấn, tăng 17,9%. Kết quả khả quan này nhờ điều kiện thời tiết thuận lợi, ít chịu ảnh hưởng bởi bão và áp thấp nhiệt đới, tạo điều kiện cho tàu cá hoạt động hiệu quả; các ngư trường dồi dào nguồn lợi, thủy sản nuôi sinh trưởng tốt, ít dịch bệnh, năng suất cao. d. Nông thôn mới: Đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận tỉnh hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới năm 2024[3]. 7. Sản xuất công nghiệp: Chỉ số sản xuất công nghiệp quý III/2025 tăng 14,66% so với cùng kỳ, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,49%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 7,51%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,28%; riêng ngành khai khoáng bằng 54,34% so cùng kỳ. Chỉ số sản xuất công nghiệp 9 tháng đầu năm 2025 tăng 13,29% so cùng kỳ; trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 14,11%; ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 3,8%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,04% so cùng kỳ; chỉ riêng ngành khai khoáng bằng 90,22% so cùng kỳ. Sản phẩm sản xuất công nghiệp 9 tháng năm 2025: Có 76/115 sản phẩm tăng so cùng kỳ: giấy vệ sinh tăng 86,2%; dịch vụ sản xuất thiết bị điện chiếu sáng tăng 77%; thịt cá đông lạnh tăng 72,7%; quả và hạt ướp lạnh tăng 67,5%; bóng thể thao khác tăng 34,8%; thanh nhôm, que nhôm, nhôm ở dạng hình tăng 30,8%; máy thu hoạch khác chưa được phân vào đâu tăng 30,2%; cáp đồng trục và dây dẫn điện đồng trục khác tăng 29%; thức ăn cho gia cầm tăng 28,8%; thùng chứa, bể và các loại đồ chứa tương tự dung tích trên 300 lít bằng plastic tăng 26,9%; bánh làm từ bột khác bảo quản được tăng 23,5%; máy chế biến thịt gia súc hoặc gia cầm tăng 22,2%; bia đóng lon tăng 21,6%; thức ăn cho thủy sản tăng 14,4%; mỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền tăng 12,9%; … Có 39/115 sản phẩm giảm so cùng kỳ: bia hơi giảm 99,7%; máy gặt đập liên hợp giảm 83,3%; màn bằng vải khác giảm 64,5%; giày, dép không thấm nước có đế ngoài và mũ bằng cao su hay plastic giảm 37,8%; máy bừa, máy xới, máy cào, máy làm cỏ, máy cuốc giảm 36,4%; tấm giảm 35,9%; dịch vụ sản xuất giày, dép giảm 31,3%; thuốc cỏ cú đầu lọc giảm 23,5%; bia đóng chai giảm 16,9%; thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng viên giảm 14,6%; dịch vụ tiện các bộ phận kim loại giảm 11,4%; ba lô giảm 11,4%;…. Hình 4. Chỉ số sản xuất công nghiệp 9 tháng năm 2025 * Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: - Chỉ số tiêu thụ tháng 9/2025 so với tháng trước tăng 1,54% và tăng 9,05% so cùng kỳ. Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cộng dồn từ đầu năm đến cuối tháng 9 năm 2025 tăng 10,58%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao: sản xuất đồ uống tăng 2,07%, trong đó sản xuất bia tăng 2,11%; dệt tăng 14,31%; sản xuất trang phục tăng 24,63%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ tăng 7,5%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 86,41%; sản xuất kim loại tăng 32,83%; sản xuất thiết bị điện tăng 2,78%, trong đó sản xuất ,ô tơ, máy phát, biến thế điện, thiết bị phân phối và điều khiển điện tăng 11,29%;… Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm so cùng kỳ: sản xuất sản phẩm thuốc lá giảm 24,79%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu giảm 54,27%; sản xuất sản phẩm cao su và plastic giảm 21,03%; sản xuất xe có động cơ giảm 45,7%; … - Chỉ số tồn kho tháng 9/2025 so với tháng trước tăng 4,32% so với tháng trước và tăng 4,37% so với cùng kỳ. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so với cùng kỳ: sản xuất trang phục tăng 18,08%; sản xuất da tăng 42,57%, trong đó sản xuất vali, túi xách… tăng 111,02% và sản xuất giày dép tăng 37,29%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng hơn 2 lần (tăng 212,26%); sản xuất kim loại tăng 28,39%;... Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tồn kho giảm: sản xuất đồ uống giảm 76,06%; dệt giảm 40,4%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 35,58%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẳn giảm 38%; sản xuất thiết bị điện giảm 19,55% so cùng kỳ… 8. Thương mại, dịch vụ: a. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng: Hoạt động kinh doanh trên địa bàn tỉnh diễn ra ổn định và tăng hơn so cùng kỳ, lượng hàng hóa dồi dào, các đơn vị kinh doanh chủ động dự trữ hàng hóa để phục vụ nhu cầu mua sắm của người dân trong các dịp lễ, Tết. Nắm bắt nhu cầu, sức mua của người tiêu dùng tăng mạnh vào các dịp lễ, nhiều hệ thống siêu thị và trung tâm thương mại đã tổ chức các chương trình khuyến mãi, giảm giá lớn nhằm tăng doanh số bán hàng cũng như phục vụ người tiêu dùng trong đợt nghỉ dài ngày. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng quý III/2025 thực hiện 61.781 tỷ đồng, tăng 9,5% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 47.715 tỷ đồng, tăng 8%; lưu trú 250 tỷ đồng, tăng 32,6%; ăn uống 8.172 tỷ đồng, tăng 17%; du lịch lữ hành 144 tỷ đồng, tăng 79,5%; dịch vụ tiêu dùng 5.500 tỷ đồng, tăng 10,4% so cùng kỳ. Hoạt động mua bán trên địa bàn tỉnh tiếp tục diễn ra ổn định, các dịp Lễ Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh mùng 2/9, nhu cầu, sức mua của người tiêu dùng tăng mạnh trong đợt nghỉ dài ngày. Chín tháng đầu năm 2025, tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng 184.849 tỷ đồng, tăng 9,3% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 143.756 tỷ đồng, tăng 8,4%; lưu trú, ăn uống 24.503 tỷ đồng, tăng 13,8%; du lịch lữ hành 326 tỷ đồng, tăng 34%; dịch vụ tiêu dùng khác 16.264 tỷ đồng, tăng 10,2% so cùng kỳ. Hình 5. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng b. Xuất - Nhập khẩu: (Theo báo cáo Sở Công Thương) Kinh tế và chính trị thế giới diễn biến phức tạp, căng thẳng thương mại Mỹ - Trung và một số quốc gia khác có thể dẫn tới những xáo trộn lớn với thương mại toàn cầu. Hoạt động xuất khẩu của Tỉnh tiếp tục duy trì ổn định, tuy nhiên bức tranh chung vẫn tiềm ẩn nhiều khó khăn do tác động từ các yếu tố bên ngoài. Cụ thể như: Philippines thông báo tạm ngừng nhập khẩu gạo trong 60 ngày kể từ ngày 01/9/2025; chính sách bảo hộ thương mại của Hoa Kỳ, đặc biệt là áp mức thuế 20% đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam, đã làm cho đơn hàng của nhiều doanh nghiệp bị ảnh hưởng, gây áp lực lớn đến kim ngạch xuất khẩu của tỉnh trong những tháng còn lại của năm 2025. a. Xuất khẩu: Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng ước thực hiện 730 triệu USD, giảm 13,9% so tháng trước và giảm 10,8% so cùng kỳ. Chín tháng xuất khẩu ước tính 6.865 triệu USD, đạt 74,6% kế hoạch, tăng 1,1% so cùng kỳ. b. Nhập khẩu: Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 9/2025 ước đạt 360 triệu USD, giảm 15,9% so tháng trước và tăng 1,8% so cùng kỳ. Chín tháng ước đạt 3.676 triệu USD, đạt 82,9% kế hoạch và tăng 15,8% so với cùng kỳ. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu trong tổng kim ngạch nhập khẩu của tỉnh 9 tháng năm 2025 như: Kim loại thường khác (nguyên liệu đồng) ước đạt 1.012 triệu USD, tăng 2,6%; Sắt thép các loại ước đạt 334 triệu USD, bằng 86,2%; Nguyên phụ liệu dệt may, da giày, túi xách ước đạt 271 triệu USD, bằng 83,7%; Vải may mặc ước đạt 193 triệu USD, bằng 94,6%; Chất dẻo nguyên liệu ước đạt 141 triệu USD, bằng 70,6% so cùng kỳ;… c. Vận tải: Hiện nay tình hình hoạt động của các tuyến xe cố định trên địa bàn tỉnh tiếp tục được duy trì thông thoáng, đặc biệt các chủ cơ sở kinh doanh vận tải tự giác chấp hành tốt nội qui bến bãi, đã tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân đi lại và vận chuyển hàng hoá đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh... Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải quý III/2025 thực hiện 1.929 tỷ đồng, tăng 14% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 635 tỷ đồng, tăng 14,7% so cùng kỳ; vận tải hàng hóa thực hiện 962 tỷ đồng, tăng 13,7% so cùng kỳ. Chín tháng đầu năm 2025, doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải thực hiện 5.723 tỷ đồng, tăng 13,8% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 1.861 tỷ đồng, tăng 13,7% so cùng kỳ; vận tải hàng hóa thực hiện 2.854 tỷ đồng, tăng 13,2% so cùng kỳ. Vận tải đường bộ thực hiện 2.670 tỷ đồng, tăng 14%; vận tải đường thủy thực hiện 2.045 tỷ đồng, tăng 12,6%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 584 tỷ đồng, tăng 14,3% so cùng kỳ. Vận chuyển hành khách quý III/2025 đạt 18.267 ngàn hành khách, tăng 11,6% và luân chuyển 674.810 ngàn hành khách.km, tăng 10,7% so cùng kỳ; trong đó: vận chuyển đường bộ 6.097 ngàn hành khách, tăng 14,5% và luân chuyển 669.031 ngàn hành khách.km, tăng 10,7% so cùng kỳ; vận chuyển đường thủy 12.170 ngàn hành khách, tăng 10,2% và luân chuyển 5.779 ngàn hành khách.km, tăng 7% so cùng kỳ. Chín tháng đầu năm 2025, vận chuyển hành khách đạt 54.012 ngàn hành khách, tăng 11,5% và luân chuyển 2.028.824 ngàn hành khách.km, tăng 27,8% so cùng kỳ, Trong đó: vận chuyển đường bộ 17.714 ngàn hành khách, tăng 26,6% và luân chuyển 2.011.460 ngàn hành khách.km, tăng 28,3% so cùng kỳ; vận chuyển đường thủy 36.298 ngàn hành khách, tăng 5,4% và luân chuyển 17.364 ngàn hành khách.km, bằng 88% so cùng kỳ. Vận tải hàng hóa quý III/2025 đạt 7.052 ngàn tấn, tăng 12% và luân chuyển được 1.322.484 ngàn tấn.km, tăng 9,4% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ thực hiện 1.726 ngàn tấn,tăng 13% và luân chuyển được 237.515 ngàn tấn.km, tăng 2,4% so cùng kỳ; vận tải đường thủy thực hiện 5.326 ngàn tấn, tăng 11,7% và luân chuyển được 1.084.969 ngàn tấn.km, tăng 11,1% so cùng kỳ. Chín tháng đầu năm 2025, vận tải hàng hóa đạt 21.326 ngàn tấn, tăng 9,7% và luân chuyển 3.983.736 ngàn tấn.km, tăng 4,8% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ thực hiện 5.108 ngàn tấn, tăng 24,9% và luân chuyển được 716.357 ngàn tấn.km, bằng 84% so cùng kỳ; vận tải đường thủy thực hiện 16.218 ngàn tấn, tăng 5,6% và luân chuyển 3.267.379 ngàn tấn.km, tăng 10,8% so cùng kỳ. * Phương tiện giao thông: Trong tháng đăng ký mới 4.315 chiếc mô tô xe máy và 455 chiếc xe ô tô. Tổng số xe đang quản lý trên địa bàn tỉnh là 3.079.233 chiếc, trong đó mô tô xe máy: 2.949.145 chiếc, 126.839 xe ô tô, 169 xe ba bánh, 666 xe đạp điện, 1.063 xe khác và 1.309 xe lam. d. Du lịch: Chín tháng đầu năm 2025, lượng khách du lịch đến tỉnh 2.879 ngàn lượt, tăng 5,4% so cùng kỳ; trong đó khách quốc tế 394 ngàn lượt, tăng 7,8% so cùng kỳ. Doanh thu hoạt động lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành 24.829 tỷ đồng, tăng 14% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống chiếm 97,6%.e. Bưu chính - Viễn thông: Doanh thu tháng 9 đạt 516,9 tỷ đồng, giảm 1,2% so tháng trước, do các nhà mạng đang siết chặc các thuê bao Sim rác; mặc khác nhiều nhà mạng cạnh tranh khuyến mãi dịp nghỉ lễ 02/9, dẫn đến doanh thu giảm; trong đó: doanh thu bưu chính 50,4 tỷ đồng, tương đương so tháng trước; viễn thông 466,5 tỷ đồng, giảm 1,35% so tháng trước. Cộng dồn 9 tháng doanh thu 4.603,6 tỷ đồng, tăng 4,9% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính 423,8 tỷ đồng, tăng 8,2% so cùng kỳ, doanh thu viễn thông 4.479,8 tỷ đồng, tăng 4,5% so cùng kỳ. Tổng số thuê bao điện thoại có trên mạng ước tính đến cuối tháng 9 năm 2025 là 3.879.717 thuê bao, mật độ bình quân đạt 113,99 thuê bao/100 dân (chỉ tính hữu tuyến, vô tuyến, trả trước, trả sau). Số thuê bao điện thoại di động có sử dụng Internet (3G, 4G) đến cuối tháng 9 là: 3.213.908 thuê bao. Tổng số thuê bao Internet trên mạng ước tính đến cuối tháng 9 năm 2025 là 4.222.019 thuê bao (bao gồm: băng rộng di động 3G, 4G; MyTV và Cáp; băng rộng cố định FTTH, xDSL, Leased-line, CATV). Mật độ Internet bình quân ước đạt 124,04 thuê bao/100 dân. Các doanh nghiệp bưu chính, viễn thông trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì trên đà phát triển ổn định, không ngừng đầu tư nâng cấp phát triển mạng lưới, cung cấp nhiều loại hình dịch vụ phong phú, đa dạng để duy trì tốc độ phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng của khách hàng. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Lao động, giải quyết việc làm: a. Tư vấn và giới thiệu việc làm: Trong 9 tháng, giải quyết việc làm cho 47.650 lao động đạt 95,3% kế hoạch (50.000 lao động); tổ chức 63 phiên giao dịch việc làm, ngày hội việc làm với 678 lượt doanh nghiệp tham gia, thu hút trên 15.000 lượt người tham gia, có trên 3.700 lao động được kết nối. Công tác đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo hợp đồng đạt nhiều kết quả tích cực. Trong 9 tháng, có 1.727 lao động đi làm việc ở nước ngoài (Nhật Bản: 1.063 lao động; Hàn Quốc: 597 lao động; Đài Loan: 54 lao động; các nước khác 13 lao động), đạt 67,7% so với kế hoạch năm (2.550 lao động). Về trợ cấp thất nghiệp trong 9 tháng, số người lao động đăng ký hưởng trợ cấp thất nghiệp 19.657 người, giảm 18% so với cùng kỳ. Có 18.685 người được hưởng trợ cấp thất nghiệp với số tiền tương ứng 393,9 tỷ đồng. Cơ quan chức năng cũng đã kịp thời nắm bắt và xử lý các vấn đề liên quan đến quan hệ lao động. Cụ thể, ghi nhận 01 vụ ngừng việc tập thể với sự tham gia của 1.100 công nhân tại Công ty TNHH May mặc Ecotank (ấp Quý Trình, phường Nhị Quý), do phản ánh về chế độ tiền lương và các chính sách an sinh xã hội. Các ngành chức năng đã phối hợp với lãnh đạo công ty tổ chức đối thoại, giải quyết kịp thời các kiến nghị chính đáng, giúp công nhân ổn định tâm lý và trở lại làm việc bình thường. b. Tình hình thiếu việc làm, thất nghiệp: Theo kết quả sơ bộ cuộc điều tra lao động việc làm quý III năm 2025, tình hình lao động thiếu việc làm và thất nghiệp như sau: Trong quý III/2025, tỷ lệ lao động thiếu việc làm toàn tỉnh là 3,56%, giảm 0,51 điểm phần trăm so với quý II và giảm 0,01 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2024 (3,57%). Tỷ lệ thiếu việc làm khu vực nông thôn là 3,19%, giảm 0,28 điểm phần trăm so quý trước và giảm 0,14 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước (3,33%). Trong khi đó, khu vực thành thị có tỷ lệ thiếu việc làm là 4,31%, giảm 0,94 điểm phần trăm so với quý trước, nhưng tăng 0,22 điểm phần trăm so cùng kỳ năm trước (4,09%). Đáng chú ý, lao động thiếu việc làm tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn, chiếm 60,36% tổng số lao động thiếu việc làm toàn tỉnh. Tỷ lệ thất nghiệp quý III/2025 là 0,61%, giảm 0,39 điểm phần trăm so quý II và giảm 0,29 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2024 (0,90%). Xét theo khu vực, khu vực thành thị có tỷ lệ thất nghiệp là 0,87%, giảm 0,75 điểm phần trăm so quý trước và giảm 0,14 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước (1,01%). Khu vực nông thôn có tỷ lệ thất nghiệp 0,47%, giảm 0,21 điểm phần trăm so quý trước và giảm 0,38 điểm phần trăm so với cùng kỳ (0,85%). Lao động thất nghiệp ở khu vực nông thôn chiếm tỷ trọng 52,63% trong tổng số người thất nghiệp của tỉnh. Tính chung 9 tháng năm 2025, tỷ lệ thiếu việc làm toàn tỉnh là 3,87%, tăng 0,26 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước (3,61%). Trong đó, khu vực thành thị là 4,71% (tăng 0,38 điểm phần trăm) và khu vực nông thôn là 3,47% (tăng 0,19 điểm phần trăm). Tỷ lệ thất nghiệp của tỉnh 9 tháng năm 2025 là 0,86%, giảm 0,09 điểm phần trăm so với cùng kỳ (0,95%); riêng khu vực thành thị là 1,36% (tăng 0,01 điểm phần trăm) và khu vực nông thôn là 0,62% (giảm 0,14 điểm phần trăm). Tỷ trọng lao động thất nghiệp ở khu vực thành thị chiếm 51,85% trong tổng số người thất nghiệp toàn tỉnh. 2. Đời sống dân cư và an sinh xã hội: a. Đời sống dân cư: Trong 9 tháng năm 2025, đời sống dân cư trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định, thu nhập và mức sống từng bước được cải thiện. Công tác an sinh xã hội và chăm sóc sức khỏe nhân dân tiếp tục được chú trọng; các chương trình y tế cộng đồng, phòng chống dịch bệnh được triển khai hiệu quả, đặc biệt bệnh sốt xuất huyết trong 9 tháng tăng 80,3% so với cùng kỳ nhưng đã được kiểm soát, không ghi nhận ca tử vong. Tình hình biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp, hoàn lưu bão số 03 (WIPHA) đã gây thiệt hại về người và tài sản. Trong mùa khô 2024–2025, nhờ triển khai đồng bộ, kịp thời các giải pháp phòng, chống hạn mặn ngay từ đầu vụ, tỉnh đã bảo vệ hiệu quả diện tích sản xuất nông nghiệp và đảm bảo ổn định đời sống nhân dân. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản nhìn chung duy trì ổn định; các mặt hàng nông sản cơ bản đáp ứng nhu cầu thị trường trong và ngoài tỉnh. Tuy nhiên, trong 9 tháng qua, giá nông sản gặp nhiều khó khăn do nguồn cung dồi dào, đầu ra hạn chế; thời tiết mưa bão kéo dài trong quý III ảnh hưởng đến chất lượng và khâu vận chuyển. Bên cạnh đó, yêu cầu ngày càng khắt khe về tiêu chuẩn chất lượng, sự phụ thuộc vào một số thị trường nhập khẩu lớn (gạo, sầu riêng, mít, thanh long…) cùng với biến động thị trường trong và ngoài nước đã tác động đáng kể đến giá cả nông sản của tỉnh. Hoạt động thương mại – dịch vụ tiếp tục ổn định và phát triển trên nhiều mặt. Chính sách giảm 2% thuế VAT đến hết năm 2026 đã góp phần kích thích tiêu dùng trong nước, thúc đẩy cầu nội địa. Trên địa bàn tỉnh, giao thương, buôn bán diễn ra sôi nổi; nguồn cung hàng hóa dồi dào, giá cả ít biến động, không xảy ra tình trạng khan hiếm. Đây là tín hiệu tích cực, tạo phấn khởi cho tiểu thương, doanh nghiệp bán lẻ và phân phối, đồng thời thúc đẩy tăng trưởng ngành thương mại – dịch vụ, tạo động lực cho những tháng cuối năm 2025. Trong tháng 9 năm 2025, tổng số lao động làm việc tại các doanh nghiệp trong khu công nghiệp (KCN), khu kinh tế (KKT) đạt 107.598 người, trong đó có 1.371 lao động nước ngoài (chiếm 1,3%). Nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp trong khu đạt khoảng 4.296 lao động, tập trung nhiều tại các công ty như: Giày Apache Việt Nam, Freview Industrial (Việt Nam), Hansae TG, Goleader Việt Nam, Bestway Việt Nam, Đồng Iinhong Việt Nam, Topknit, Xuất Nhập Khẩu Cỏ May, Thực phẩm QVD Đồng Tháp, Liên Doanh Nghị Phong… Tuy nhiên, công tác kết nối cung – cầu lao động còn gặp khó khăn. Tại các KCN Long Giang và Tân Hương, nhu cầu tuyển dụng gần 5.000 lao động, chủ yếu là lao động phổ thông trong các ngành may mặc, giày da, điện tử, cơ khí, sản xuất lốp xe… do mở rộng sản xuất, trong khi nguồn cung trong tỉnh tăng không đáng kể, số người có nhu cầu tìm việc thấp, dẫn đến tình trạng thiếu hụt lao động cục bộ. b. An sinh xã hội: - Ngày 29/8/2025, Chính phủ ban hành Nghị quyết 263/NQ-CP năm 2025 về việc tặng quà nhân dân nhân dịp kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9. Theo đó, nội dung chính sách tặng quà cho nhân dân nhân dịp kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9 như sau: + Đối tượng: Công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam chưa xác định được quốc tịch nhưng đã được cấp giấy chứng nhận căn cước đang cư trú tại Việt Nam và đã được thu thập, cập nhật, cấp số định danh cá nhân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, được xác lập tại thời điểm hết ngày 30/8/2025. + Mức quà tặng: 100.000 đồng/người, bằng tiền. - Tặng quà gia đình chính sách nhân dịp Tết Nguyên đán 2025 và kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2025). Nhân dịp Tết Nguyên đán Ất Tỵ năm 2025, tỉnh Đồng Tháp đã tổ chức thăm và tặng quà đối với người có công với cách mạng và thân nhân của họ từ các nguồn ngân sách nhà nước và kinh phí địa phương với 148.940 suất, với tổng số tiền trên 56,1 tỷ đồng. Ngày 23/4/2025 Chủ tịch nước ban hành Quyết định số 689/QĐ-CTN về việc tặng quà cho người có công với cách mạng nhân kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và 80 năm Ngày Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Địa phương tặng quà của Chủ tịch nước cho người có công đang hưởng trợ cấp hàng tháng và người thờ cúng liệt sĩ, số lượng 55.096 người, mỗi suất quà tiền mặt 500.000 đồng/người, với số tiền trên 27,5 tỷ đồng. - Thăm, tặng quà gia đình chính sách nhân kỷ niệm 78 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947- 27/7/2025). Đồng Tháp đã tổ chức thăm và tặng quà đối với người có công với cách mạng và thân nhân của họ từ các nguồn ngân sách nhà nước và kinh phí vận động từ cộng đồng với tổng số 54.282 suất, với tổng số tiền trên 16,4 tỷ đồng. - Nhà ở cho người có công: + Thực hiện Quyết định số 21/2024/QĐ-TTg ngày 22/11/2024 của Thủ tướng Chính phủ về mức hỗ trợ xây dựng mới hoặc cải tạo, sửa chữa nhà ở đối với người có công với cách mạng, thân nhân liệt sĩ và tỷ lệ phân bổ vốn hỗ trợ từ ngân sách trung ương, tỷ lệ đối ứng vốn hỗ trợ từ ngân sách địa phương, vốn xã hội hóa giai đoạn 2023-2025 và triển khai xoá nhà tạm, nhà dột nát trên địa bàn tỉnh đã hoàn thành hỗ trợ 741 căn nhà cho người có công với cách mạng (xây mới 240 căn, sửa chữa 501 căn). + Thực hiện công tác nhà ở người có công trên cơ sở Kế hoạch số 107/KH-UBND ngày 20/3/2025 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp (cũ) về thực hiện hỗ trợ an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp năm 2025 từ nguồn ngân sách, nguồn thu xổ số kiến thiết và nguồn tài trợ hợp pháp khác, tổng số nhà ở đã phân bổ về địa phương, hoàn thành và đã bàn giao là 605 căn (xây mới 207 căn; sữa chữa 398 căn). + Thực hiện Nghị quyết số 28/2021/NQ-HĐND ngày 08/12/2021 của Hội đồng nhân dân tỉnh Tiền Giang về việc quy định mức hỗ trợ kinh phí để xây dựng, sửa chữa nhà ở cho Người có công và thân nhân người có công với cách mạng trên địa bàn tỉnh Tiền Giang, giai đoạn 2022-2025, hoàn thành hỗ trợ nhà ở cho người có công và thân nhân người có công với cách mạng 1.206 căn (xây mới 258 căn, sửa chữa 948 căn). 3. Hoạt động giáo dục: Trong 9 tháng năm 2025, ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh đã triển khai đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ trọng tâm, từ tổ chức Lễ khai giảng năm học mới, tổ chức các kỳ thi học sinh giỏi đến đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số. Ngày 21/8/2025, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 509/QĐ-UBND về khung kế hoạch thời gian năm học 2025-2026 đối với giáo dục mầm non, phổ thông và thường xuyên. Theo đó, học sinh các khối lớp 1, 9 và 12 tựu trường từ ngày 22/8; các khối lớp còn lại tựu trường từ ngày 29/8; Lễ khai giảng chính thức diễn ra vào ngày 5/9/2025. Tổ chức thành công Kỳ thi chọn đội tuyển học sinh giỏi dự thi cấp quốc gia (16-17/9/2025) tại Trường THPT Chuyên Nguyễn Quang Diêu và Trường THPT Chuyên Tiền Giang. Đồng thời, thành tích nổi bật của em Nguyễn Nhựt Lam, học sinh lớp 12, Trường THPT Cái Bè khi xuất sắc giành vòng nguyệt quế cuộc thi quý II Đường lên đỉnh Olympia năm 2025, qua đó góp mặt tại Chung kết năm (dự kiến diễn ra vào ngày 26/10/2025, phát sóng trực tiếp trên kênh VTV3), đã trở thành niềm tự hào của cá nhân em, nhà trường và tỉnh Đồng Tháp. Đây không chỉ là thành tích giáo dục mà còn là dấu ấn quảng bá hình ảnh “Đất Sen hồng” hiếu học, giàu truyền thống văn hóa – lịch sử đến bạn bè cả nước. Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2025 trên địa bàn tỉnh có 33.666 thí sinh dự thi, trong đó 33.446 thí sinh đỗ tốt nghiệp, đạt tỷ lệ 99,35%. Trường THPT Trương Định (tiền thân là Trường Trung học Gò Công), phường Long Thuận, tỉnh Đồng Tháp, đã long trọng tổ chức lễ kỷ niệm 70 năm thành lập vào ngày 27/9/2025. Buổi lễ thu hút sự tham dự của hàng ngàn thế hệ học sinh từ khắp mọi miền đất nước. Đặc biệt, buổi lễ vinh dự đón tiếp ông Nguyễn Trọng Nghĩa, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương; bà Trương Mỹ Hoa, nguyên Phó Chủ tịch nước; bà Nguyễn Thị Hoài Thu, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội; cùng lãnh đạo tỉnh, các thế hệ cán bộ, giáo viên và học sinh của trường. 4. Hoạt động y tế: Hoạt động chăm sóc sức khỏe nhân dân trên địa bàn tỉnh trong 9 tháng năm 2025 được đảm bảo. Mạng lưới cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đủ năng lực cung ứng dịch vụ y tế có chất lượng đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân. Trong 9 tháng, trên địa bàn tỉnh ghi nhận 20 bệnh truyền nhiễm. So với cùng kỳ cộng dồn: có 11 bệnh tăng (Rubella, Sốt xuất huyết Dengue, Sởi, Tay - chân - miệng, Ho gà, Thương hàn, Bệnh do vi rút Adeno, Lỵ trực trùng, Quai bị, Thủy đậu, Viêm gan vi rút khác), có 11 bệnh giảm so cùng kỳ (Bệnh do liên cầu lợn ở người, Liệt mềm cấp nghi bại liệt, Lao phổi, Uốn ván khác, Viêm gan vi rút A, Viêm gan vi rút B, Viêm gan vi rút C, Cúm, Lỵ amíp, Tiêu chảy, Bệnh viêm đường hô hấp cấp) và 22 bệnh tương đương so cùng kỳ. Các bệnh truyền nhiễm ghi nhận trong tháng 9: bệnh Sốt - xuất - huyết ghi nhận 1.143 ca; bệnh Tay - chân - miệng ghi nhận 553 ca. Tính từ đầu năm đến nay, bệnh Sốt - xuất - huyết ghi nhận 3.715 ca, tăng 80,3% so cùng kỳ; bệnh Tay - chân - miệng ghi nhận 3.678 ca, tăng 20,9%. Phòng chống HIV/AIDS: toàn tỉnh có 15.785 người nhiễm HIV; 5.051 người chuyển sang AIDS; tử vong do AIDS: 3.874 người. An toàn vệ sinh thực phẩm trong 9 tháng xảy ra 02 vụ với 56 người mắc ngộ độc thực phẩm, không có ca tử vong. Tình hình khám chữa bệnh trong 9 tháng: tổng số lần khám bệnh 5.988.369 lượt người, giảm 1,1% so cùng kỳ; tổng số người điều trị nội trú 337.741 lượt người, tăng 1,4% so cùng kỳ. 5. Hoạt động văn hóa - thể thao: Trong 9 tháng năm 2025, các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao trên địa bàn tỉnh diễn ra phong phú, sôi nổi, gắn liền với những sự kiện lịch sử, chính trị trọng đại của đất nước và địa phương. a. Hoạt động văn hóa nghệ thuật: Kỷ niệm 78 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ; 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công (19/8/1945 - 19/8/2025) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945 - 02/9/2025); 80 năm Ngày truyền thống Công an nhân dân Việt Nam và 20 năm Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc. Lễ giỗ Anh hùng dân tộc Trương Định, kỷ niệm 161 năm ngày ông tuẫn tiết (20/8/1864 - 20/8/2025). UBND phường Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp long trọng tổ chức lễ giỗ lần thứ 205 ông, bà Đỗ Công Tường – bậc tiền hiền có công khai khẩn đất hoang, lập chợ, đặt nền móng hình thành vùng đất Cao Lãnh ngày nay, diễn ra từ ngày 1 đến 3-8 (nhằm ngày 8, 9 và 10 tháng 6 âm lịch). Tổ chức chương trình nghệ thuật đặc sắc và màn bắn pháo hoa rực rỡ chào mừng 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 02/9 tại Quảng trường Hùng Vương (phường Đạo Thạnh) vào tổi ngày 02/9, mang đến cho người dân một không khí hào hùng, sôi động và đầy tự hào dân tộc. b. Hoạt động thư viện: Các hoạt động của hệ thống thư viện trên địa bàn tỉnh diễn ra sôi nổi, đa dạng, góp phần lan tỏa văn hóa đọc trong cộng đồng. Nổi bật là việc triển khai Cuộc thi “Bác Hồ trong trái tim tôi” (lần thứ 4) năm 2025, chương trình “Hè vui đọc sách” cùng với cuộc thi “Đọc sách cùng Xích Lô” được phát động trên toàn tỉnh, tạo sân chơi bổ ích, khuyến khích thói quen đọc sách, rèn luyện kỹ năng và bồi đắp tri thức cho các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thanh thiếu nhi. Các hoạt động thư viện như trưng bày, triển lãm tài liệu nhân kỷ niệm 80 năm Ngày Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thực hiện không gian trưng bày sách, báo, tài liệu và mô hình sách nghệ thuật tại Trung tâm Triển lãm Quốc gia Hà Nội, đồng thời phục vụ tại Thư viện tỉnh và các cơ sở lưu động tại các địa phương. c. Hoạt động bảo tàng: Công tác trưng bày và phục vụ khách tham quan được thực hiện với nhiều chuyên đề cố định và ngoài trời như: Lịch sử, văn hóa và xã hội Tiền Giang trước năm 1930; Lịch sử Tiền Giang từ khi có Đảng lãnh đạo; Lịch sử Khu 8; Văn hóa Óc Eo, nông nghiệp truyền thống; Thiên nhiên – đất nước – con người Đồng Tháp xưa; các chuyên đề về kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cùng trưng bày chuyên đề “Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo – Giai điệu và cuộc đời”; Triển lãm thành tựu kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Tháp tại Thành phố Hà Nội chủ đề “Tự hào truyền thống - Vững bước kiến tạo tương lai”; Triển lãm ảnh chủ đề “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý” tại Bảo tàng tỉnh (phường Cao Lãnh); Trưng bày, triển lãm ảnh các chuyên đề: “Hồ Chí Minh những nét phác họa chân dung”; “Ân tình xứ Nghệ”; “Khu di tích Xẻo Quít - Bảo tồn lịch sử, gìn giữ hồn quê” tại Khu di tích Nguyễn Sinh Sắc, Khu di tích Xẻo Quít; Triển lãm ảnh thành tựu quốc phòng, an ninh, kinh tế - xã hội và xây dựng Đảng kỷ niệm 80 năm Ngày Cách mạng Tháng Tám thành công và Ngày Quốc khánh Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Ngày truyền thống Lực lượng vũ trang tỉnh tại Bảo tàng tỉnh (phường Mỹ Tho). d. Hoạt động thể dục, thể thao: Tổ chức 06 giải cấp quốc gia trong 9 tháng qua: Giải Bơi - Lặn vô địch các nhóm tuổi Quốc gia; Cuộc đua xe đạp toàn quốc tranh Cúp Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ 37 – 2025; Giải vô địch Trẻ Roller Sports; Giải Petanque vô địch quốc gia năm 2025; Giải Vô địch Judo quốc gia năm 2025 và Giải vô địch Cầu mây trẻ quốc gia năm 2025. Thể thao thành tích cao đạt nhiều kết quả ấn tượng trong 9 tháng như: có 64 vận động viên ở các môn Bắn cung, Bơi lội, Canoeing, Cầu mây, Điền kinh, Judo, Karate, Kickboxing, Boxing, Kurash, Taekwondo và Xe đạp được triệu tập vào các đội tuyển quốc gia thi đấu các giải quốc tế; tham dự thi đấu trên 75 giải thể thao quốc gia, quốc tế đạt 507 huy chương quốc gia các loại (109 HCV, 152 HCB, 246 HCĐ); 56 huy chương quốc tế các loại (33 HCV, 13 HCB, 10 HCĐ). 6. Tình hình trật tự an toàn xã hội (theo báo cáo của ngành Công an): Tình hình an ninh trật tự trong 9 tháng năm 2025 trên địa bàn tỉnh được đảm bảo. Ghi nhận 939 vụ, giảm 35,7% (giảm 522 vụ) so với cùng kỳ. Hậu quả làm chết 34 người; bị thương 299 người; tài sản thiệt hại khoảng 515,2 tỷ đồng. Cơ quan chức năng điều tra khám phá 773 vụ (đạt 82,3%); xử lý 1.411 đối tượng, đồng thời thu hồi tài sản trị giá khoảng 3,9 tỷ đồng. Về tội phạm ma túy trong 9 tháng, lực lượng chức năng đã phát hiện và xử lý 264 vụ, 479 đối tượng có hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và xử lý hành chính 1.106 đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. 7. Trật tự an toàn giao thông (theo báo cáo ngành công an tỉnh, số liệu tính từ ngày 15/8/2025 đến 14/9/2025): Tai nạn giao thông đường bộ: trong tháng xảy ra 42 vụ, tăng 06 vụ so tháng trước và giảm 27 vụ so cùng kỳ; làm chết 38 người, tăng 06 người so tháng trước và giảm 14 người so cùng kỳ; bị thương 16 người, tăng 04 người so tháng trước và giảm 25 người so cùng kỳ. Nâng tổng số vụ từ đầu năm đến nay, xảy ra 437 vụ, giảm 59 vụ so cùng kỳ; làm 319 người chết, giảm 37 người so cùng kỳ và bị thương 209 người, giảm 49 người so cùng kỳ. Các nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông chủ yếu vẫn do ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông như: điều khiển xe khi có rượu bia, phóng nhanh vược ẩu, không làm chủ tốc độ; không đi đúng phần đường, làn đường; không nhường đường, vượt đèn đỏ, thiếu quan sát… Tai nạn giao thông đường thủy: trong tháng không xảy ra. Tổng số vụ từ đầu năm đến nay là 01 vụ (không phát sinh người chết và bị thương), giảm 02 vụ, làm thiệt hại ước khoảng 0,4 tỷ đồng. Tai nạn giao thông trong dịp Lễ 2/9 (tính từ ngày 30/8/2025 đến ngày 02/9/2025): xảy ra 10 vụ, tương đương so cùng kỳ; làm chết 09 người, tăng 02 người; số người bị thương 05 người, giảm 02 người. 8. Tình hình cháy nổ, môi trường và thiên tai: Cháy, nổ: trong tháng, trên địa bàn tỉnh xảy ra 02 vụ cháy, gây thiệt hại tài sản khoảng 1,6 tỷ đồng. Cộng dông từ đầu năm, toàn tỉnh ghi nhận tổng cộng 19 vụ cháy, giảm 06 vụ so với cùng kỳ, số người tử vong do cháy là 05 người và tổng thiệt hại tài sản khoảng 275 tỷ đồng. Môi trường: trong tháng đã xảy ra 04 vụ vi phạm. Cộng dồn từ đầu năm, toàn tỉnh xảy ra 46 vụ vi phạm môi trường, tăng 55,6% so với cùng kỳ. Tổng số tiền đã xử phạt hành chính trên 697 triệu đồng. Thiên tai: tình hình biến đổi khí hậu trong 9 tháng diễn biến phức tạp. Đặc biệt do ảnh hưởng của hoàn lưu bão số 03 WIPHA đã gây thiệt hại lớn về người và tài sản. Cộng dồn từ đầu năm, toàn tỉnh xảy ra 24 cơn mưa giông, lốc xoáy, 11 vụ sạt lỡ, chịu ảnh hưởng của 03 cơn bão, làm chết 02 người, bị thương 21 người, sập 94 căn nhà, tốc mái 671 căn, 26,5 ha lúa bị thiệt hại, 8,3 hoa màu bị hư, hư hỏng 10 phòng học, 6 nhà kho và 34 trụ điện bị ngã đổ; gây thiệt hại 5,7 ha cây ăn trái, khoảng 3 tấn trái cây bị rụng hư. Tổng giá trị thiệt hại ước tính khoảng 42,5 tỷ đồng. III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI QUÝ IV NĂM 2025 Trên cơ sở phát huy những kết quả đã đạt được trong những tháng đầu năm 2025 đồng thời khắc phục hạn chế, những việc chưa thực hiện được. Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh trong lãnh và chỉ đạo, các ngành, các cấp, địa phương chủ động đề ra các giải pháp, vượt qua khó khăn, thách thức, khai thác tốt những cơ hội để phục hồi, phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội,… phấn đấu thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra trong năm 2025 tăng trưởng (GRDP) từ 8% trở lên. Trong quý IV năm 2025 cần thực hiện một số giải pháp trọng tâm như sau: Tiếp tục theo dõi tình hình khí tượng thủy văn (mưa, bão, áp thấp nhiệt đới,...); mực nước nội đồng và tình hình vận hành công trình phục vụ sản xuất các vùng dự án. Tình hình sản xuất vụ Hè Thu năm 2025, hướng dẫn lịch thời vụ, cơ cấu giống vụ lúa Đông xuân 2025 – 2026, tình hình sản xuất và thu hoạch các loại cây trồng; tình hình chăn nuôi và kiểm tra, giám sát dịch bệnh trên động vật nuôi và chủ động áp dụng các giải pháp phòng chống an toàn hiệu quả. Hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất, chế biến để tăng khối lượng sản xuất và tiêu thụ. Có thể hướng dẫn, gợi ý cho doanh nghiệp chuyển đổi sản phẩm sang các phân khúc ngách (chế biến sâu, sản phẩm hữu cơ, ít phát thải) và mở rộng kho lạnh, logistics phục vụ xuất khẩu. Tăng cường kết nối giữa ngân hàng với doanh nghiệp, đảm bảo nguồn vốn tín dụng cho sản xuất kinh doanh. Triển khai thực hiện đồng bộ, linh hoạt các chính sách về lãi suất, gói hỗ trợ lãi suất cho vay, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh; tập trung vốn vào các lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên; tiếp tục triển khai chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn. Tăng cường công tác kết nối ngân hàng - doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi trong vay vốn tín dụng ngân hàng cho doanh nghiệp và người dân. Kiểm soát giá cả trên địa bàn thông qua các chương trình bình ổn giá của tỉnh, tăng cường kiểm tra giám sát và xử lý sai phạm pháp luật về giá.Thực hiện có hiệu quả các Chương trình xúc tiến thương mại, thúc đẩy phân phối hàng hóa qua nền tảng số, thương mại điện tử để mở rộng tiêu dùng nội địa; vận động người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam; đẩy mạnh phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, các ngành, lĩnh vực mới nổi, các mô hình kinh doanh mới, hiệu quả.Tăng cường xúc tiến đầu tư, ưu tiên lựa chọn các dự án du lịch có chất lượng cao, thân thiện với môi trường và các điểm đến có tiềm năng phát triển du lịch gắn với quy hoạch phát triển du lịch của tỉnh. Đẩy mạnh chuyên nghiệp hóa hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch; tập trung xúc tiến quảng bá theo trọng điểm, phù hợp với định hướng phát triển sản phẩm, thương hiệu du lịch. Chú trọng chuyển đổi số trong ngành du lịch; số hóa các thông tin, tài liệu về điểm đến, hướng tới hình thành và phát triển hệ sinh thái du lịch thông minh.Đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình trên địa bàn tỉnh; kiểm tra, giám sát trong quá trình thực hiện, nhằm đảm bảo tiến độ và hiệu quả theo kế hoạch đề ra. Tập trung hoàn thành hồ sơ cho các công trình còn lại theo danh mục năm 2025 để sớm triển khai thi công. Đẩy nhanh tiến độ giải ngân kịp thời vốn đầu tư công, kịp thời quyết toán các công trình hoàn thành đảm bảo đúng theo quy định. Tiếp tục phối hợp nhà đầu tư xử lý những khó khăn, vướng mắc, đẩy mạnh các giải pháp bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, hoàn thành công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường xuất khẩu. Tiếp tục phát triển xuất khẩu các mặt hàng có lợi thế; chuyển dần sang xuất khẩu sản phẩm chế biến sâu, phát triển xuất khẩu sản phẩm có chất lượng cao, có sức cạnh tranh và có thương hiệu mạnh.Tăng cường công tác an ninh trật tự, an toàn xã hội, an ninh quốc phòng. [1] - Dự án thành phần 2 thuộc dự án Xây dựng công trình đường bộ cao tốc Cao Lãnh - An Hữu, giai đoạn 1. Tổng mức đầu tư: 3.856 tỷ đồng. Kế hoạch vốn giao năm 2025 là 860 tỷ đồng, giải ngân  9 tháng năm  2025 được 495  tỷ đồng, đạt 57,6% kế hoạch. Lũy kế giao vốn từ đầu dự án 1.976,5 tỷ đồng và giải ngân được 1.612 tỷ đồng đạt 81,5% kế hoạch vốn giao. - Đường giao thông hai bên bờ sông Bảo Định, tổng mức đầu tư 1.999,9 tỷ đồng. Kế hoạch vốn giao năm 2025 là 642,4 tỷ đồng, Giải ngân 9 tháng năm 2025 được 254,2 tỷ đồng, đạt 39,6% kế hoạch năm. Giao vốn từ đầu dự án đến hết tháng 9 năm 2025 là 882,3 tỷ đồng và giải ngân được 494,1 tỷ đồng đạt 56% tổng mức đầu tư đươc giao.- Dự án Trung tâm Văn hóa - Nghệ thuật và Hội chợ - Triển lãm tỉnh, tổng mức đầu tư: 149,9 tỷ đồng. Kế hoạch vốn giao năm 2025 là 139 tỷ đồng, giải ngân chín tháng đầu năm 2025 đươc 89,7 tỷ đồn đạt 64,5% kế hoạch. Lũy kế giao vốn từ đầu dự án đến nay là 141,5 tỷ đồng, giải ngân từ đầu dự án đến nay là 92,2 tỷ đồng, đạt 65% kế hoạch vốn giao từ đầu dự án.[2] Đầu vụ sản xuất từ ngày 01/10/2024 đến 20/9/2025.[3] - Tỉnh Tiền Giang được công nhận tại Quyết định số 1038/QĐ-TTg ngày 30/5/2025 - Tỉnh Đồng Tháp (cũ) được công nhận tại Quyết định số 1360/QĐ-TTg ngày 26/6/2025

Hội nghị công bố Quyết định về công tác tồ chức và cán bộ Đảng bộ Thống kê tỉnh Đồng Tháp
  •   19/09/2025 17:01

Sáng ngày 17/9/2025 tại Hội trường Thống kê tỉnh, Đảng bộ Thống kê tỉnh Đồng Tháp công bố Quyết định thành lập Đảng bộ Thống kê tỉnh Đồng Tháp với 111 đảng viên, 20 chi bộ trực thuộc. Đây là bước ngoặt quan trọng nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao sức chiến đấu của tổ chức cơ sở, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới. Ảnh: Ban Chấp hành Đảng bộ Thống kê tỉnh Đồng Tháp nhiệm kỳ 2025 - 2030. Thực hiện Nghị quyết, kết luận của Trung ương và chỉ đạo của Tỉnh ủy về sắp xếp, kiện toàn tổ chức Đảng tại các cơ quan quản lý theo ngành dọc, Đảng bộ Thống kê tỉnh Đồng Tháp tổ chức Hội nghị công bố các Quyết định thành lập Đảng bộ và Chi bộ trực thuộc. Hội nghị diễn ra trang trọng với sự chủ trì của đồng chí Trần Thị Mỹ Hạnh - Bí thư Đảng ủy, Trưởng Thống kê tỉnh Đồng Tháp. Tham dự Hội nghị có các đồng chí Phó Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành, Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy; Bí thư và Phó Bí thư các Chi bộ trực thuộc cùng toàn thể đảng viên ngành Thống kê tỉnh Đồng Tháp.Ảnh: Ban Thường vụ Đảng uỷ Thống kê Tỉnh  Ảnh: Ủy ban kiểm tra Đảng ủy Thống kê tỉnh Đồng Tháp Ảnh: Bí thư Chi bộ trực thuộc Phát biểu tại Hội nghị, đồng chí Trần Thị Mỹ Hạnh - Bí thư Đảng ủy Thống kê tỉnh Đồng Tháp khẳng định việc thành lập Đảng bộ Thống kê Tỉnh là dấu mốc quan trọng, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng; đồng thời, yêu cầu toàn Đảng bộ phát huy tinh thần đoàn kết, kỷ luật, kỷ cương, nêu cao trách nhiệm, đẩy mạnh đổi mới, sáng tạo, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; xây dựng ngành Thống kê trung thực, khách quan, chính xác, đầy đủ và kịp thời, phục vụ hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh. Sự ra đời của Đảng bộ Thống kê tỉnh Đồng Tháp thể hiện sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Tỉnh ủy và Đảng ủy UBND Tỉnh đối với công tác xây dựng Đảng trong các cơ quan chuyên môn. Với khí thế mới, niềm tin mới, Đảng bộ Thống kê tỉnh Đồng Tháp quyết tâm hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ chính trị được giao, góp phần vào sự phát triển chung của địa phương trong giai đoạn mới.N.X.Trường

Tình hình kinh tế - xã hội Tháng 8 và 8 tháng năm 2025
  •   02/09/2025 13:57

Trong tháng Đảng bộ, chính quyền các cấp trên địa bàn tỉnh tập trung lãnh đạo Đại hội Đảng bộ cấp xã, phường; đồng thời triển khai thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội với mục tiêu phấn đấu năm 2025 đạt mức tăng trưởng kinh tế 8%; kịp thời giải quyết những khó khăn trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp... cùng sự đoàn kết, trách nhiệm, nỗ lực phấn đấu của cả hệ thống chính trị. Tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh tiếp tục phát triển, các hoạt động sản xuất kinh doanh có nhiều khởi sắc, hầu hết các ngành, lĩnh vực đều tăng so cùng kỳ. Kết quả thực hiện trên các lĩnh vực đạt được như sau:I. SẢN XUẤT NÔNG LÂM NGHIỆP VÀ THỦY SẢNTrong tháng, lượng mưa đạt mức trung bình, đảm bảo nguồn nước trên các tuyến sông đầu nguồn phục vụ tốt cho sản xuất nông nghiệp. Dịch bệnh trong chăn nuôi gia súc trong tháng có phát sinh, nhưng được kiểm soát chặt chẽ. Hoạt động nuôi trồng thủy sản đạt kết quả khả quan, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế và thu nhập cho người dân.1. Nông nghiệp[1] Cây lương thực có hạt: diện tích gieo trồng từ đầu vụ sản xuất đến ngày 20/8/2025 ước đạt 568.447 ha, giảm 3,0% so cùng kỳ, tương ứng giảm 17.617 ha. Trong đó cây lúa gieo sạ 562.482 ha, giảm 3,0% so cùng kỳ.- Cây lúa:+ Vụ Đông xuân 2024 – 2025: chính thức gieo trồng 229.680 ha, giảm 1,7% so cùng kỳ, tương ứng giảm 4.086 ha; Năng suất thu hoạch bình quân đạt 71,9 tạ/ha, tăng 0,3%, tương ứng tăng 0,2 tạ/ha; Sản lượng thu hoạch 1.651.864 tấn, giảm 1,5% so cùng kỳ, tương ứng giảm 24.518 tấn.+ Vụ Hè thu (gồm Xuân hè và Hè thu): tính đến ngày 20/8, diện tích gieo trồng của vụ sơ bộ đạt 244.284 ha, giảm 2,1% so cùng kỳ, tương ứng giảm 5.340 ha. Thu hoạch 185.955 ha (chiếm 76,1% diện tích gieo trồng của vụ) với năng suất ước đạt 60 tạ/ha.+ Vụ Thu đông: đến ngày 20/8, diện tích gieo trồng của vụ ước đạt 88.518 ha, giảm 8,3% so cùng kỳ, diện tích xuống giống chủ yếu ở Tháp Mười, Cao Lãnh, Tam Nông, Lấp Vò... trà lúa đang giai đoạn mạ - đẻ nhánh. - Cây ngô: diện tích gieo trồng từ đầu vụ sản xuất ước đạt 5.965 ha, giảm 3,1%, tương ứng giảm 189 ha. Ngô thuộc loại cây ngắn ngày, dễ trồng, dễ chăm sóc, trồng được nhiều vụ trong năm. Bên cạnh lấy trái bán cho thương lái; lá, thân ngô khi thu hoạch có thể tận dụng làm thức ăn cho gia súc như trâu, bò… Hình 1. Diện tích gieo trồng lúa và hoa màu tính đến 20/8/2025 Cây rau đậu các loại: từ đầu vụ đến nay, diện tích gieo trồng rau đậu các loại ước đạt 60.340 ha, tăng 4,6% so với cùng kỳ; trong đó rau các loại ước đạt 60.024 ha, tăng 4,7%. Diện tích rau màu trên địa bàn tăng chủ yếu do người dân chuyển đổi từ những diện tích đất trồng cây kém hiệu quả, đặc biệt là diện tích không đáp ứng điều kiện sản xuất lúa. Tận dụng lợi thế đất đai màu mỡ, cùng với thời tiết thuận lợi, nông dân đã đẩy mạnh trồng xen canh, gối vụ nhiều loại rau, củ, quả có giá trị kinh tế cao và dễ tiêu thụ trên thị trường như rau muống, bầu, mướp, bí xanh, khổ qua, dưa leo, các loại cải, hành lá, dưa hấu và nhiều loại rau cải ngắn ngày khác. Chăn nuôi: ước thời điểm 31/8/2025, tổng đàn gia súc, gia cầm toàn tỉnh như sau: đàn trâu 3,2 nghìn con, tăng 13,3%; đàn bò 153,3 nghìn con, giảm 3,3%; đàn lợn 438,5 nghìn con, tăng 9,9% và đàn gia cầm 23,3 triệu con, giảm 2,1% so với cùng kỳ. Đàn bò tiếp tục giảm do hiệu quả kinh tế chưa cao, thời gian sinh trưởng dài và chu kỳ sản xuất kéo dài, chưa tạo được sức hấp dẫn đối với người chăn nuôi. Ngược lại, đàn lợn có xu hướng phục hồi nhanh và phát triển ổn định nhờ giá cả duy trì ở mức hợp lý; nhiều mô hình chăn nuôi khép kín, áp dụng biện pháp an toàn sinh học được nhân rộng, góp phần kiểm soát dịch bệnh, giảm chi phí đầu vào và nâng cao hiệu quả sản xuất. Đàn gia cầm giảm so với cùng kỳ, nguyên nhân chủ yếu do biến động thời vụ, nhất là vào các dịp lễ lớn khi nhu cầu tiêu thụ tăng cao, nông hộ trong giai đoạn xuất bán nhiều. *Tình hình dịch bệnh trên vật nuôi (theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đồng Tháp): Bệnh cúm gia cầm: trong tháng không phát sinh. Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh xảy ra 03 hộ có cầm nhiễm vi rút cúm A/H5N1 với số lượng 6.161 con (tổng đàn 7.200 con) tại 02 xã (Phú Thành và Tân Phước 3). Đã tiêu hủy toàn bộ số gia cầm 7.200 con. Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: trong tháng không phát sinh. Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh xảy ra 18 hộ nuôi có lợn mắc bệnh tại 12 xã (Vĩnh Bình, Bình Ninh, Vĩnh Hựu, Long Hưng, Tân Phước 3, Hội Cư, Bình Trưng, Long Định, Tân Phú, Kim Sơn, Mỹ Tịnh An và Mỹ Thành) với tổng đàn 463 con và tiêu hủy, khối lượng khoảng 16.980 kg. Bệnh viêm da nổi cục: trong tháng phát sinh 01 con bò bệnh (tổng đàn 09 con) tại 01 hộ trên địa bàn xã Chợ Gạo. Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh xảy ra 03 hộ tại 03 xã (Hậu Mỹ, Tân Thuận Bình, Chợ Gạo) với 04 con bò có dấu hiệu bệnh (tổng đàn 18 con). Đã tiêu hủy 01 con bò (khối lượng 215 kg). Bệnh lở mồm long móng: trong tháng không phát sinh. Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh xảy ra 01 con lợn bệnh tại cơ sở giết mổ ở xã Hậu Mỹ. Đã tiêu hủy lợn bệnh (khối lượng 110 kg). Hình 2. Chăn nuôi tại thời điểm 31/8/2025 2. Lâm nghiệp: Tổng diện tích rừng trên địa bàn tỉnh là 6.999,6 ha (không bao gồm diện tích rừng thuộc đất an ninh quốc phòng); Cụ thể, diện tích rừng đặc dụng 2.717,6 ha (chiếm 38,8% so tổng diện tích rừng), rừng phòng hộ 2.244,3 ha (chiếm 32,1%) và rừng sản xuất 2.037,7 ha (chiếm 29,1%). Trong tháng, thực hiện trồng mới ước đạt 41,8 ngàn cây phân tán các loại. Tổng số cây phân tán trồng được từ đầu năm đến nay là 665,4 ngàn cây, giảm 1,2% so cùng kỳ. 3. Thủy hải sản: Sản lượng thủy sản nuôi trồng trong tháng ước đạt 64.266 tấn. Tính chung 8 tháng năm 2025, thu hoạch ước đạt 579.347 tấn, tăng 7,1% so cùng kỳ, tương ứng tăng 38.355 tấn, bao gồm: sản lượng cá đạt 531.215 tấn (tăng 7,3%); sản lượng tôm đạt 30.412 tấn (tăng 18,1%); các loại thủy sản khác đạt 17.720 tấn (giảm 11,5%). Do thời tiết thuận lợi, thủy sản bệnh ít, năng suất cao.Sản lượng thủy sản khai thác biển trong tháng ước đạt 10.208 tấn. Tính chung 8 tháng năm 2025, thu hoạch ước đạt 76.156 tấn, tăng 17,4% so cùng kỳ, tương ứng tăng 11.266 tấn, bao gồm: cá đạt 50.761 tấn (tăng 4,3%); tôm đạt 2.097 tấn (tăng 21,7%); thủy sản khác đạt 23.298 tấn (tăng 60,9%) do thời tiết biển ổn định, nhiều đàn thủy sản xuất hiện (cua, ghẹ, mực,…), ngư dân khai thác mạnh hơn nhóm này. Thủy sản biển xuất hiện nhiều hơn ở ngư trường nên ngư dân thu hoạch khá góp phần tăng sản lượng so cùng kỳ. II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆPChỉ số sản xuất công nghiệp tháng 8/2025[2] tăng 0,84% so với tháng trước và tăng 13,14% so cùng kỳ (ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 14,06%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 3,58%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,42% và ngành khai khoáng giảm 19,91% so cùng kỳ). Các ngành có chỉ số sản xuất tăng cao so cùng kỳ như: sản xuất trang phục tăng 62,92%; in, sao chép bản ghi các loại tăng 96,62%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 30,45%; sản xuất đồ uống tăng 60,65%; dệt tăng 14,95% ...Tuy nhiên cũng có một số ngành giảm sâu so cùng kỳ như: khai khoáng khác giảm 19,91%; sản xuất sản phẩm thuốc lá giảm 40,03%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất 20,75%; sản xuất xe có động cơ giảm 22,8%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 6,49%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 10,87%;...Tính chung 8 tháng đầu năm chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 12,92% so cùng kỳ; trong đó: khai khoáng tăng 41,78%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,74%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 2,78%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,10%.Hình 3. Chỉ số sản xuất công nghiệp - 8 tháng năm 2025Chỉ số sản xuất sản phẩm trong 8 tháng so cùng kỳ như sau: - Có 55/80 sản phẩm tăng so cùng kỳ: dịch vụ sản xuất thiết bị điện chiếu sáng tăng 82,5%; giấy vệ sinh tăng 75,8%; quả và hạt ướp lạnh tăng 67%; các bộ phận của bi, bánh răng, hộp số, các bộ phận điều khiển và truyền chuyển động khác tăng 51,3%; cát đen tăng 41,8%; máy thu hoạch khác chưa được phân vào đâu tăng 34,1%; thanh nhôm, que nhôm, nhôm ở dạng hình tăng 33,2%; bóng thể thao khác tăng 29,2%; bánh làm từ bột khác bảo quản được tăng 27,2%; lốp hơi mới bằng cao su, loại dùng cho xe buýt, xe tải hoặc máy bay tăng 22,6%; cáp đồng trục và dây dẫn điện đồng trục khác tăng 21,3%; bia đóng lon tăng 20,2%; dây thép không gỉ tăng 16,3%; nước uống được tăng 9%; túi xách tăng 8,4%; nước tinh khiết tăng 5,9%; áo sơ mi cho người lớn dệt kim hoặc đan móc tăng 5,8%; giày, dép thể thao có đế ngoài và mũ giày bằng cao su và plastic tăng 5,7%; gạo đã xát toàn bộ hoặc sơ bộ, đã hoặc chưa đánh bóng hạt hoặc hồ tăng 5,6%; phi lê đông lạnh tăng 5,2%; ống và ống dẫn bằng đồng tăng 4,3%; bộ com lê, quần áo đồng bộ, áo jacket, quần dài, quần yếm, quần soóc cho người lớn dệt kim hoặc đan móc tăng 3,4%;… - Có 25/80 sản phẩm giảm so cùng kỳ: các hàng dệt may đã hoàn thiện khác giảm 98%; máy gặt đập liên hợp giảm 83,3%; màn bằng vải khác giảm 64%; phụ tùng khác của xe có động cơ giảm 53%; thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng bột/cốm giảm 47,9%; giày, dép không thấm nước có đế ngoài và mũ bằng cao su hay plastic giảm 42,2%; thuốc lỏ cú đầu lọc giảm 21,5%; dịch vụ tiện các bộ phận kim loại giảm 14,4%; bia đóng chai giảm 13,7%; thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng viên giảm 12,3%; thức ăn cho gia súc giảm 8,6%; giày, dép thể thao có mũ bằng da và có đế ngoài giảm 7,7%; khăn mặt, khăn tắm và khăn khác dùng trong phòng vệ sinh, nhà bếp giảm 4,3%; điện gió giảm 3,1%; dược phẩm chứa hoóc môn nhưng không có kháng sinh dạng viên giảm 2,5%;…* Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 8 năm 2025 so với tháng trước giảm 2,75% và tăng 2,59% so cùng kỳ. Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cộng dồn từ đầu năm đến cuối tháng 8 năm 2025 tăng 10,73%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao: dệt tăng 15,11%; sản xuất trang phục tăng 22,2%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa… tăng 12,22%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 75,74%; sản xuất kim loại tăng 35,95%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 27,71%;…Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm so cùng kỳ là: sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu giảm 20,19%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 4,3%; sản xuất phụ tùng xe có động cơ giảm 34,79%;… III. ĐẦU TƯ - XÂY DỰNG Để thực hiện giải ngân tốt kế hoạch đầu tư công năm 2025, Ủy ban nhân dân tỉnh chủ động quản lý, điều hành, phân bổ vốn cho các công trình cấp thiết nhưng chưa có danh mục công trình cụ thể trong Nghị quyết Hội đồng nhân dân tỉnh... theo tình hình thực tế phát sinh; được phép điều chỉnh, điều chuyển vốn giữa các công trình có giá trị khối lượng thực hiện và giải ngân thấp, sang công trình hoàn thành hoặc có giá trị khối lượng thực hiện cao đã được Hội đồng nhân dân tỉnh thông qua. Tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trong tháng là 1.774 tỷ đồng, tăng 63,3% so cùng kỳ. Tám tháng đầu năm 2025 ước thực hiện 9.525 tỷ đồng, đạt 57,9% kế hoạch, tăng 30,2% so cùng kỳ. Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh thực hiện 9.386 tỷ đồng, tăng 29,9% so cùng kỳ, chiếm 98,5% tổng số; trong đó: vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 3.218 tỷ đồng, tăng 63%, vốn xổ số kiến thiết thực hiện 2.317 tỷ đồng, tăng 3,8% so cùng kỳ... Các ngành các cấp yêu cầu các Ban quản lý dự án, Chủ đầu tư khắc phục khó khăn đẩy nhanh tiến độ đầu tư công, hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng, thúc đẩy phát triển kinh tế của tỉnh.Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp xã thực hiện 139 tỷ đồng, tăng 48,9% so cùng kỳ; trong đó: vốn cân đối ngân sách cấp xã 27 tỷ đồng, tăng 3,4 lần so cùng kỳ... Các Ban quản lý dự án tập trung điều kiện đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình sớm đưa các công trình vào sử dụng nhằm phát huy hiệu quả công trình. Các địa phương vận động, huy động nguồn vốn nhân dân đóng góp để tiến hành thi công các danh mục công trình đăng ký thuộc nguồn vốn phân cấp phường, xã. Các xã tập trung điều kiện đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình xây dựng nông thôn mới nhằm phục vụ đi lại và vận chuyển hàng hóa của người dân. IV. THƯƠNG MẠI - GIÁ CẢ - DỊCH VỤ1. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng: Nhìn chung, hoạt động thương mại dịch vụ của tỉnh trong tháng tiếp tục giữ được đà tăng trưởng, hàng hoá cung ứng đồi dào, đáp ứng nhu cầu mua sắm của người dân. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trong tháng thực hiện 20.902 tỷ đồng, tăng 1,5% so tháng trước và tăng 9,9% so cùng kỳ. Tám tháng năm 2025, tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thực hiện 164.323 tỷ đồng, tăng 9,6% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 127.607 tỷ đồng, tăng 8,6%; lưu trú 579 tỷ đồng, tăng 16,2%; ăn uống 21.318 tỷ đồng, tăng 14,4%; du lịch lữ hành 291 tỷ đồng, tăng 33,5%; dịch vụ tiêu dùng khác 14.528 tỷ đồng, tăng 11,8% so cùng kỳ. Hình 4. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng2. Xuất - Nhập khẩu (Theo báo cáo Sở Công Thương)a. Xuất khẩu: Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng ước thực hiện 850 triệu USD, tăng 0,5% so tháng trước và giảm 4,1% so cùng kỳ. Tám tháng ước tính xuất khẩu 6.137 triệu USD, đạt 66,7% kế hoạch, tăng 2,7% so cùng kỳ. Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của tỉnh như sau: - Gạo: ước tính tháng 8/2025 xuất 248 ngàn tấn, tăng 4,6% so tháng trước và tăng 49,8% so cùng kỳ; giá trị đạt 115 triệu USD, tăng 4,6% so tháng trước và tăng 11% so cùng kỳ. Tám tháng xuất 1.743 ngàn tấn, đạt 94.8% kế hoạch, tăng 93,1% so cùng kỳ; giá trị xuất 862 triệu USD, đạt 74,9% kế hoạch và tăng 51,4% so cùng kỳ. - Hàng rau quả: về lượng ước đạt 8,8 ngàn tấn, tăng 36,4% so tháng trước và tăng 8,1% so cùng kỳ; kim ngạch xuất đạt 15 triệu USD, tăng 36,4% so tháng trước và tăng 59,3% so cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng, sản lượng xuất ước đạt 50 ngàn tấn, đạt 85% kế hoạch và bằng 87% so cùng kỳ; giá trị xuất khẩu đạt với 87 triệu USD, bằng 54,6% kế hoạch và bằng 96,4% so cùng kỳ. - Thuỷ sản chế biến: về lượng ước đạt 38 ngàn tấn, tăng 5,6% so tháng trước và giảm 6,6% so cùng kỳ; kim ngạch xuất đạt 90 triệu USD, tăng 5,9% so tháng trước và giảm 10% so cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng, sản lượng xuất ước đạt 275 ngàn tấn, đạt 63,4% kế hoạch và bằng 95% so cùng kỳ; giá trị xuất khẩu đạt với 674 triệu USD, bằng 61,9% kế hoạch và bằng 99,5% so cùng kỳ. - Sản phẩm công nghiệp: nhóm hàng công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong xuất khẩu của tỉnh đến cuối tháng 8/2025, như: kim loại thường khác và sản phẩm (kể cả đồng) ước đạt 1.063 triệu USD, đạt 75,9% kế hoạch và tăng 0,2%; sản phẩm ngành may ước đạt 666 triệu USD, đạt 50,9% kế hoạch và bằng 76,6%; giày dép các loại ước đạt 622 triệu USD, đạt 66,9% kế hoạch và bằng 96,2%; Sắt thép và sản phẩm từ sắt thép ước đạt 341 triệu USD, đạt 58,7% kế hoạch và bằng 86,6%;... b. Nhập khẩu: Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 8/2025 ước đạt 340 triệu USD, giảm 13,6% so tháng trước và tăng 4,2% so cùng kỳ. Tám tháng ước đạt 3.228 triệu USD, đạt 72,9% kế hoạch và tăng 14,4% so với cùng kỳ. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu trong tổng kim ngạch nhập khẩu của tỉnh như: Kim loại thường khác (nguyên liệu đồng) ước đạt 961,9 triệu USD; Sắt thép các loại ước đạt 314,9 triệu USD; Nguyên phụ liệu dệt may, da giày, túi xách ước đạt 240,7 triệu USD; Vải may mặc ước đạt 177 triệu USD; Chất dẻo nguyên liệu ước đạt 119 triệu USD;… 3. Chỉ số giá: Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 8/2025 tăng 0,04% (thành thị tăng 0,06%, nông thôn tăng 0,03%) so tháng 7/2025, tăng 2,27% so tháng 8/2024. Bình quân 8 tháng đầu năm 2025 tăng 2,18% so cùng kỳ năm trước. So với tháng 7/2025, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 09 nhóm tăng: đồ uống và thuốc lá tăng 0,26%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và VLXD tăng 0,25%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,22%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,22%; may mặc, mũ nón và giầy dép tăng 0,21%; giáo dục tăng 0,07%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,04%; văn hóa giải trí và du lịch tăng 0,02%; giao Thông tăng 0,01%. Có 02 nhóm giảm: bưu chính viễn thông giảm 0,12%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,16% Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 8 tháng năm 2025 so cùng kỳ tăng 2,18%; Chỉ số giá tiêu dùng 8 tháng đầu năm 2025 tăng chủ yếu ở một số nhóm hàng như: thuốc và dịch vụ y tế tăng 11,91%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 7,32%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,48%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,76%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,79% so với cùng kỳ … Chỉ riêng nhóm giao thông giảm 4,47% so cùng kỳ. Chỉ số giá vàng 24 kara Ngọc Thẩm trong tháng 8/2025 tăng 0,91% so tháng trước, tăng 33,63% so với tháng 12/2024 và tăng 47,86% so với bình quân cùng kỳ. Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng 8/2025 tăng 0,10% so tháng trước và tăng 4,49% so với cùng kỳ. 4. Du lịch: Ngay từ đầu năm du lịch của tỉnh đã tập trung triển khai đồng bộ các giải pháp phát triển du lịch, trọng điểm đẩy mạnh phát triển du lịch nông nghiệp, nông thôn, sản phẩm OCOP trên nền tảng tăng trưởng xanh, gắn với tiềm năng, thế mạnh đặc trưng từng địa phương; tiếp tục thực hiện Chương trình liên kết hợp tác phát triển du lịch giữa TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long. Đồng thời bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, làng nghề với quyết tâm thực hiện mục tiêu phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng, tạo bước đột phá tăng tốc phát triển du lịch, góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Lượng khách du lịch đến tham quan trên địa bàn trong tháng 8/2025 ước tính 327 ngàn lượt khách, tăng 6,8% tháng trước và tăng 6,8% so cùng kỳ, trong đó khách quốc tế 44 ngàn lượt khách, tăng 19% so cùng kỳ. Nhiều khu, điểm du lịch trong tỉnh đã mở rộng quy mô và dịch vụ vui chơi để đón đông đảo lượng khách đến tham quan, trải nghiệm. Doanh thu lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành trong tháng 8 đạt 2.811 tỷ đồng, tăng 0,4% so tháng trước và tăng 15,1% so cùng kỳ.Tính chung Tám tháng đầu năm 2025, lượt khách du lịch đến tham quan trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp là 2.565 ngàn lượt khách, tăng 5,7% so cùng kỳ; trong đó: khách quốc tế 348,1 ngàn lượt khách, tăng 6,3% so cùng kỳ. Tổng doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, dịch vụ lữ hành và dịch vụ tiêu dùng khác đạt 36.716 tỷ đồng, tăng 13% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu dịch vụ ăn uống chiếm tỷ trọng 58,1%, ước đạt 21.318 tỷ đồng, tăng 14,4% so cùng kỳ; lưu trú đạt 579 tỷ đồng, tăng 16,2% so cùng kỳ... 5. Vận tải: Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trong tháng thực hiện 648 tỷ đồng, tăng 1,5% so tháng trước và tăng 11,7% so cùng kỳ, do trong tháng đang là thời gian nghỉ hè nhu cầu du lịch tăng; giá nhiên liệu ổn định; hoạt động sản xuất kinh doanh phục hồi... Tám tháng thực hiện 5.037 tỷ đồng, tăng 13,1% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 1.642 tỷ đồng, tăng 13,1%; doanh thu vận tải hàng hóa thực hiện 2.500 tỷ đồng, tăng 13,4% so cùng kỳ. Doanh thu vận tải đường bộ thực hiện 2.324 tỷ đồng, tăng 13,2%; doanh thu vận tải đường thủy thực hiện 1.819 tỷ đồng, tăng 13,4%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 521 tỷ đồng, tăng 14,9% so cùng kỳ. Vận tải hành khách trong tháng đạt 5.975 ngàn hành khách, tăng 1,7% so tháng trước và tăng 13,8% so cùng kỳ; luân chuyển 226.064 ngàn hành khách.km, tăng 1,1% so tháng trước và tăng 11,2% so cùng kỳ. Tám tháng, vận chuyển 47.158 ngàn hành khách, tăng 13% so cùng kỳ; luân chuyển 1.785.863 ngàn hành khách.km, tăng 13% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 15.348 ngàn hành khách, tăng 12,6% và luân chuyển 1.770.443 ngàn hành khách.km, tăng 13% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 31.810 ngàn hành khách, tăng 13,3% và luân chuyển 15.420 ngàn hành khách.km, tăng 12,4% so cùng kỳ. Vận tải hàng hóa trong tháng đạt 2.866 ngàn tấn, tăng 1,9% so tháng trước và tăng 13,3% so cùng kỳ; luân chuyển 494.714 ngàn tấn.km, tăng 2,4% so tháng trước và tăng 12,2% so cùng kỳ. Tám tháng, vận tải 19.432 ngàn tấn hàng hóa, tăng 12,6% so cùng kỳ; luân chuyển 3.622.764 ngàn tấn.km, tăng 12,8% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 5.046 ngàn tấn, tăng 13,6% và luân chuyển 695.626 ngàn tấn.km, tăng 13% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 14.386 ngàn tấn, tăng 12,2% và luân chuyển 2.927.138 ngàn tấn.km, tăng 12,7% so cùng kỳ. 6. Bưu chính viễn thông: Doanh thu trong tháng 8/2025 đạt 523 tỷ đồng, tăng 1,9% so tháng trước; trong đó: doanh thu bưu chính đạt 50,4 tỷ đồng, tăng 1,82% và viễn thông 472,9 tỷ đồng, tăng 1,9% so tháng trước. Tám tháng doanh thu dịch vụ bưu chính, viễn thông đạt 4.086,6 tỷ đồng, tăng 4,86% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính đạt 373,4 tỷ đồng, tăng 8,21% và viễn thông 3.713,3 tỷ đồng, tăng 4,5% so cùng kỳ. Đến cuối tháng 8 năm 2025 tổng số thuê bao điện thoại có trên mạng (bao gồm: hữu tuyến, vô tuyến, trả trước, trả sau) ước tính 3.874.942 thuê bao. Thuê bao điện thoại bình quân đạt 113,85 thuê bao/100 dân. Số thuê bao điện thoại di động có sử dụng Internet (3G, 4G) đến cuối tháng 8 là: 3.216.678 thuê bao. Tổng số thuê bao Internet trên mạng là 4.224.523 thuê bao (bao gồm: băng rộng di động 3G, 4G; MyTV và Cáp; băng rộng cố định FTTH, xDSL, Leased-line, CATV), mật độ Internet bình quân ước đạt 124,12 thuê bao/100 dân. V. TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG 1. Tài chính: Tổng thu ngân sách nhà nước trong tháng thực hiện 3.438 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn 1.818 tỷ đồng; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 276 tỷ đồng. Tám tháng, thu 43.139 tỷ đồng; trong đó, thu ngân sách trên địa bàn thực hiện 16.487 tỷ đồng, đạt 79,7% dự toán và tăng 11,6% so cùng kỳ; thu nội địa 15.889 tỷ đồng, đạt 79,9% dự toán, tăng 11,8% so cùng kỳ (trong thu ngân sách trên địa bàn: thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 2.581 tỷ đồng, đạt 94,7% dự toán, tăng 14,3% so cùng kỳ; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 3.102 tỷ đồng, đạt 106,2% dự toán, tăng 27,6% so cùng kỳ...). Tổng chi ngân sách nhà nước trong tháng 3.982 tỷ đồng; trong đó: chi đầu tư phát triển 1.400 tỷ đồng; chi hành chính sự nghiệp 2.487 tỷ đồng. Tám tháng, chi 27.916 tỷ đồng, đạt 63,7 dự toán và tăng 52,7% so cùng kỳ; trong đó: chi đầu tư phát triển 9.051 tỷ đồng, đạt 81,7% dự toán, tăng 2,6% so cùng kỳ; chi hành chính sự nghiệp 15.817 tỷ đồng, đạt 71,3% dự toán và tăng 1 lần so cùng kỳ. 2. Ngân hàng: Từ đầu năm đến nay, lãi suất ổn định tạo điều kiện cho tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn từ Ngân hàng nhà nước (NHNN), tiếp tục khuyến khích TCTD tiết giảm chi phí để giảm mặt bằng lãi suất cho vay. Đến cuối tháng 7/2025, các mức lãi suất trên địa bàn tỉnh như sau: Đến cuối tháng 7/2025, vốn huy động đạt 190.243 tỷ, tăng 4,46% so với cuối năm 2024, tổng dư nợ cho vay của các tổ chức tín dụng (TCTD) trong tỉnh đạt 231.046 tỷ, tăng  2,46% so với cuối năm 2024. Ước đến cuối tháng 8/2025, nguồn vốn huy động đạt 191.442 tỷ, tăng 5,12% so với cuối năm 2024; tổng dư nợ đạt 231.900 tỷ, tăng 3,02%.Nợ xấu: đến cuối tháng 7/2025 nợ xấu đạt 5.324 tỷ đồng, tăng 46,59% so cuối năm 2024; tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là 2,31%, tăng 0,83% so với cuối năm 2024. Ước đến cuối tháng 8/2025 nợ xấu đạt 5.874 tỷ đồng, tăng 61,73% so cuối năm 2024; tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là 2,53%, tăng 1,05% so với cuối năm 2024.Quỹ tín dụng nhân dân: Tháng 7/2025 dư nợ giảm 1.644 tỷ đồng so với tháng 6/2025 và đạt 231.046 tỷ đồng, tăng 5.943 tỷ, tăng 2,64% so với cuối năm 2024, chiếm 46%. Ước đến cuối tháng 8/2025 dư nợ đạt 231.900 tỷ đồng, tăng 3,02% so với cuối năm 2024. VI. KHOA HỌC CÔNG NGHỆ Trong tháng, tham mưu Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh tiếp tục triển khai các nhiệm vụ khoa học và công nghệ được phê duyệt danh mục nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh 2025 - 2026 (theo Quyết định số 2304/QĐ-UBND ngày 30/6/2025 của UBND tỉnh Tiền Giang trước đây). Đã thực hiện tuyển chọn 08 nhiệm vụ cấp tỉnh (thẩm định nội dung); Quyết định phê duyệt triển khai 13 nhiệm vụ cấp tỉnh, 01 nhiệm vụ cấp cơ sở; Thẩm định kinh phí 10 nhiệm vụ cấp tỉnh; Nghiệm thu kết thúc 27 nhiệm vụ (15 cấp tỉnh, 12 cơ sở); Thẩm định các kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ không sử dụng ngân sách nhà nước 01 nhiệm vụ. Trình UBND Tỉnh xử lý, thu hồi kinh phí đối với đề tài đã được đánh giá nghiệm thu xếp loại không đạt (đề tài cấp tỉnh: Nghiên cứu quy trình chế tạo vật liệu đạt tiêu chuẩn sản xuất túi bao trái phục vụ canh tác xoài xuất khẩu tỉnh Đồng Tháp). VII. CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Lao động việc làm: Trong tháng, toàn tỉnh đã tạo việc làm cho 3.150 lao động, trong đó có 69 lao động xuất cảnh làm việc ở nước ngoài. Tính từ đầu năm đến nay, tổng số lao động được giải quyết việc làm đạt 46.712 người; riêng lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài là 1.628 người, đạt 63,8% so với kế hoạch (Hàn Quốc: 589 lao động; Nhật Bản: 76 lao động; Đài Loan: 50 lao động; các nước khác 13 lao động). Về trợ cấp thất nghiệp, trong tháng có 2.659 lao động được hưởng trợ cấp. Lũy kế từ đầu năm, có 17.791 lao động được giải quyết chế độ trợ cấp thất nghiệp, với tổng kinh phí chi trả trên 384 tỷ đồng, góp phần hỗ trợ kịp thời đời sống, giúp người lao động ổn định trong giai đoạn tìm kiếm việc làm mới. Các hoạt động kết nối cung – cầu lao động tiếp tục được chú trọng. Trong tháng, tổ chức 05 phiên giao dịch việc làm, với sự tham gia của 25 lượt doanh nghiệp, thu hút hơn 2.150 lượt người tham gia. Các phiên giao dịch đã tạo cơ hội thuận lợi để doanh nghiệp tuyển dụng nhân lực, đồng thời mở rộng cơ hội việc làm, học nghề và đi làm việc ở nước ngoài cho người lao động. 2. Chính sách xã hội: Trong tháng, công tác thực hiện chính sách đối với người có công và các đối tượng xã hội tiếp tục được quan tâm, triển khai kịp thời. Trợ cấp một lần cho thân nhân thờ cúng liệt sĩ và thực hiện chuyển thờ cúng 57 hồ sơ; chi trả trợ cấp hằng tháng cho 03 người hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù đày, 03 người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; trợ cấp một lần cho 01 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng và 01 thương binh mới được công nhận; giải quyết trợ cấp tuất đối với 06 trường hợp và trợ cấp mai táng phí cho 209 trường hợp. Các chế độ, chính sách được thực hiện đúng quy định, bảo đảm kịp thời, góp phần chăm lo tốt hơn đời sống vật chất và tinh thần cho các đối tượng chính sách trên địa bàn tỉnh. 3. Hoạt động y tế: Trong tháng có 13/44 bệnh truyền nhiễm được ghi nhận. Cộng dồn số ca mắc, có 11 bệnh tăng so cùng kỳ (Rubella, Sốt xuất huyết Dengue, Sởi, Tay - chân - miệng, Ho gà, Thương hàn, Bệnh do vi rút Adeno, Lỵ trực trùng, Quai bị, Thủy đậu, Viêm gan vi rút khác); 12 bệnh giảm so cùng kỳ (Bệnh do liên cầu lợn ở người, Liệt mềm cấp nghi bại liệt, Lao phổi, Uốn ván khác, Viêm gan vi rút A, Viêm gan vi rút B, Viêm gan vi rút C, Viêm não Nhật bản, Cúm, Lỵ amíp, Tiêu chảy, Bệnh viêm đường hô hấp cấp); 21 bệnh tương đương hoặc không xảy ra ca mắc. Các bệnh truyền nhiễm ghi nhận trong tháng: bệnh Sốt xuất huyết 831 ca. bệnh Tay chân miệng 650 ca. Tính từ đầu năm đến nay, bệnh Sốt xuất huyết ghi nhận 2.540 ca, tăng 49,4% so cùng kỳ; bệnh Tay chân miệng ghi nhận 3.093 ca, tăng 24,2% so cùng kỳ. Phòng chống HIV/AIDS: toàn tỉnh hiện có 15.803 người nhiễm HIV; 5.051 người chuyển sang AIDS; tử vong do AIDS: 3.866 người.Khám chữa bệnh trong tháng cho 735.448 lượt người; trong đó, số người điều trị nội trú là 45.184 lượt người. Cộng dồn từ đầu năm đến nay, đã khám chữa bệnh cho 5.203.496 lượt người, giảm 1,7%; trong đó, số người điều trị nội trú là 297.188 lượt người, tăng 3,4%.4. Hoạt động giáo dục:Trong tháng, ngành Giáo dục và Đào tạo triển khai toàn diện các nhiệm vụ trọng tâm theo kế hoạch năm học, đồng thời chuẩn bị các điều kiện để bước vào năm học mới 2025 - 2026. Ngày 21/8/2025, UBND tỉnh Đồng Tháp ban hành Quyết định số 509/QĐ-UBND về khung Kế hoạch thời gian năm học 2025-2026 đối với giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên. Theo đó, học sinh các khối lớp 1, 9 và 12 tựu trường từ ngày 22-8-2025, các khối lớp còn lại tựu trường từ ngày 29-8-2025. Lễ khai giảng năm học mới diễn ra vào ngày 5-9-2025. 5. Hoạt động văn hóa - thể thao: Trong tháng, các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao trên địa bàn tỉnh diễn ra phong phú, sôi nổi, gắn liền với những sự kiện lịch sử, chính trị trọng đại của đất nước và địa phương. a. Hoạt động văn hóa nghệ thuật: kỷ niệm 78 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ; 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công (19/8/1945 - 19/8/2025) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945 - 02/9/2025); 80 năm Ngày truyền thống Công an nhân dân Việt Nam và 20 năm Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc. Đặc biệt, lễ giỗ Anh hùng dân tộc Trương Định, kỷ niệm 161 năm ngày ông tuẫn tiết (20/8/1864 - 20/8/2025) được tổ chức trang nghiêm tại Mộ và đền thờ Trương Định (phường Gò Công), đền thờ Trương Định, Đám lá tối trời (xã Gia Thuận). Sự kiện đã thu hút đông đảo người dân trong và ngoài tỉnh đến dâng hương, tưởng niệm, bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đối với công lao to lớn của vị anh hùng dân tộc trong sự nghiệp chống giặc ngoại xâm. UBND phường Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp long trọng tổ chức lễ giỗ lần thứ 205 ông, bà Đỗ Công Tường – bậc tiền hiền có công khai khẩn đất hoang, lập chợ, đặt nền móng hình thành vùng đất Cao Lãnh ngày nay, diễn ra từ ngày 1 đến 3-8 (nhằm ngày 8, 9 và 10 tháng 6 âm lịch), thu hút đông đảo nhân dân và du khách tham gia. Ngoài ra, vào tối 02/9/2025, tỉnh đã xây dựng kế hoạch tổ chức chương trình nghệ thuật đặc sắc và màn bắn pháo hoa rực rỡ chào mừng 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 02/9 tại Quảng trường Hùng Vương (phường Đạo Thạnh) vào tổi ngày 02/9, mang đến cho người dân một không khí hào hùng, sôi động và đầy tự hào dân tộc. b. Hoạt động thư viện: trong tháng, các hoạt động của hệ thống thư viện trên địa bàn tỉnh diễn ra sôi nổi, đa dạng, góp phần lan tỏa văn hóa đọc trong cộng đồng. Nổi bật là việc triển khai Cuộc thi “Bác Hồ trong trái tim tôi” (lần thứ 4) năm 2025, chương trình “Hè vui đọc sách” cùng với cuộc thi “Đọc sách cùng Xích Lô” được phát động trên toàn tỉnh, tạo sân chơi bổ ích, khuyến khích thói quen đọc sách, rèn luyện kỹ năng và bồi đắp tri thức cho các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thanh thiếu nhi. Kết quả, trong tháng, hệ thống thư viện đã phục vụ 56.428 lượt bạn đọc, với 166.630 lượt tài liệu được luân chuyển và 39.558 lượt truy cập trực tuyến, cho thấy sức hút và hiệu quả lan tỏa ngày càng rộng rãi của các hoạt động khuyến đọc. c. Hoạt động bảo tàng: trong tháng, công tác trưng bày và phục vụ khách tham quan tiếp tục được duy trì với nhiều chuyên đề cố định và ngoài trời như: Lịch sử, văn hóa và xã hội Tiền Giang trước năm 1930; Lịch sử Tiền Giang từ khi có Đảng lãnh đạo; Lịch sử Khu 8; Văn hóa Óc Eo, nông nghiệp truyền thống; Thiên nhiên – đất nước – con người Đồng Tháp xưa; các chuyên đề về kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cùng trưng bày chuyên đề “Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo – Giai điệu và cuộc đời”. Ngoài ra, khu trưng bày ngoài trời với nhiều hiện vật lớn như máy bay, tàu chiến, súng thần công tiếp tục thu hút khách tham quan. d. Hoạt động thể dục, thể thao: thể thao đạt nhiều kết quả ấn tượng. Kết quả, đã cử 22 lượt huấn luyện viên và 197 lượt vận động viên tham gia thi đấu 09 giải quốc gia và 04 giải quốc tế, xuất sắc giành tổng cộng 27 Huy chương Vàng (HCV), 40 Huy chương Bạc (HCB), 40 Huy chương Đồng (HCĐ). Trong đó, các môn thể thao có thành tích nổi bậc trong tháng như: Cờ vua tham dự thi đấu giải Vô địch trẻ các nhóm tuổi Đông Nam Á năm 2025 (đạt 04 HCV); Judo tham dự thi đấu giải Vô địch và Vô địch trẻ Đông Nam Á năm 2025 (đạt 01 HCV, 03 HCB); Cầu mây tham dự thi đấu giải Vô địch thế giới (đạt 01 HCV, 02 HCB); Kurash tham dự thi đấu giải Vô địch và Vô địch trẻ châu Á năm 2025 (đạt 02 HCB, 02 HCĐ). 6. Tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội (theo báo cáo của ngành công an): Công an tỉnh Đồng Tháp tổ chức Lễ ra quân cao điểm tấn công, trấn áp tội phạm, vi phạm pháp luật, bảo đảm an ninh, trật tự Đại hội Đảng các cấp và các hoạt động kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9, 80 năm Ngày truyền thống Công an nhân dân (CAND), đợt cao điểm diễn ra từ ngày 1/8 đến 15/9.  Trong tháng xảy ra 123 vụ phạm tội về trật tự xã hội, tăng 17 vụ so với tháng trước, giảm 43 vụ so cùng kỳ. Hậu quả là 03 người chết, 36 người bị thương, tài sản thiệt hại khoảng 6,9 tỷ đồng. Cơ quan chức năng đã điều tra, khám phá 111 vụ (đạt tỷ lệ 90,2%), bắt giữ và xử lý 156 đối tượng, đồng thời thu hồi tài sản trị giá khoảng 1,7 tỷ đồng. Tính từ đầu năm đến nay, tổng số vụ phạm tội là 839, giảm 424 vụ. Vụ việc đã làm 31 người chết, 263 người bị thương, tổng giá trị tài sản thiệt hại lên đến khoảng 511 tỷ đồng. Đã điều tra, khám phá được 687 vụ (đạt tỷ lệ 81,88%), xử lý 1.274 đối tượng. Về tội phạm ma túy trong tháng, lực lượng chức năng đã phát hiện và xử lý 48 vụ với 76 đối tượng. Ngoài ra, 171 đối tượng có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy cũng đã bị xử lý hành chính. 7. Trật tự an toàn giao thông (theo báo cáo ngành công an tỉnh, số liệu tính từ ngày 15/7/2025 đến 14/8/2025): Tai nạn giao thông đường bộ: trong tháng, xảy ra 36 vụ, tăng 03 vụ so tháng trước và giảm 21 vụ so cùng kỳ. Hậu quả làm chết 32 người (tăng 06 người so tháng trước, tương đương so cùng kỳ) và 12 người bị thương (tương đương so tháng trước, giảm 28 người so cùng kỳ). Lũy kế từ đầu năm đến kỳ báo cáo, toàn tỉnh đã xảy ra 395 vụ, giảm 35 vụ so với cùng kỳ; làm chết 281 người (giảm 23 người so với cùng kỳ) và làm bị thương 193 người (giảm 24 người). Các nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông chủ yếu vẫn do ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông như: uống rượu say, điều khiển xe khi có rượu bia, phóng nhanh vược ẩu, không làm chủ tốc độ; không đi đúng phần đường, làn đường; không nhường đường, vượt đèn đỏ, thiếu quan sát… Tai nạn giao thông đường thủy: trong tháng không xảy ra. Lũy kế từ đầu năm đến kỳ báo cáo là 01 vụ (không phát sinh người chết và bị thương). 8. Tình hình cháy nổ, môi trường: Cháy, nổ: trong tháng, trên địa bàn tỉnh xảy ra 04 vụ cháy, gây thiệt hại tài sản khoảng 661 triệu đồng; nguyên nhân được xác định là do sự cố hệ thống, thiết bị điện. Tính từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh ghi nhận tổng cộng 17 vụ cháy, giảm 07 vụ so với cùng kỳ, số người tử vong do cháy là 04 người và tổng thiệt hại tài sản vượt mức 273 tỷ đồng. Môi trường: trong tháng đã xảy ra 01 vụ vi phạm. Cộng dồn từ đầu năm, toàn tỉnh xảy ra 42 vụ vi phạm môi trường, tăng 47,1% so với cùng kỳ. Tổng số tiền đã xử phạt hành chính là 639,6 triệu đồng. Thiên tai: trong tháng, do ảnh hưởng của cơn bão số 5, trên địa bàn tỉnh xuất hiện mưa lớn kèm dông lốc làm 02 người bị thương, 19 căn nhà bị sập, 105 căn nhà tốc mái, đồng thời gây thiệt hại 11,5 ha lúa và 1,3 ha hoa màu với tổng giá trị ước tính khoảng 10,7 tỷ đồng. Sạt lở đất xảy ra 04 vụ, trong đó sông Tiền có 03 vụ tại Phường Cao Lãnh, xã Thường Phước và Tân Long với tổng chiều dài 348 m, diện tích 1.176 m²; sạt lở nội đồng có 01 vụ tại xã Mỹ Hiệp với 05 điểm sạt lở, tổng chiều dài 186 m và diện tích 551 m². Lũy kế từ đầu năm đến nay, hoàn lưu bão cùng 20 cơn mưa giông, lốc, sét đã làm 02 người chết (do sét đánh), 21 người bị thương, 73 căn nhà sập, 653 căn tốc mái; làm hư hỏng 11 phòng học, 6 nhà kho chuồng trại và 34 trụ điện. Sản xuất nông nghiệp bị ảnh hưởng với 5,68 ha cây ăn trái, 26,5 ha lúa, 4,3 ha hoa màu bị thiệt hại. Ngoài ra, trên địa bàn đã xảy ra 19 vụ sạt lở với tổng chiều dài 1.072 m, diện tích 4.597 m², làm sập 01 căn nhà và ảnh hưởng đến đời sống của nhiều hộ dân. Tổng thiệt hại do thiên tai từ đầu năm đến nay ước tính khoảng 34,9 tỷ đồng. [1] Đầu vụ sản xuất từ ngày 01/10/2024 đến 20/8/2025. [2]  Chỉ số sản xuất công nghiệp 8 tháng năm 2025: Tiền Giang tăng 15,35%; Đồng Tháp (cũ) tăng 9,69% so cùng kỳ.