0273.3 872582 | dongthap@nso.gov.vn
Từ đầu năm 2026, Việt Nam sẽ Tổng điều tra một lĩnh vực trên phạm vi toàn quốc
  •   23/08/2025 20:54

Việc này được thực hiện trên phạm vi toàn quốc kể từ ngày 5/1/2026.Ảnh minh họaMới đây, Bộ Tài chính vừa ban hành Quyết định số 2837 về việc tổ chức Tổng điều tra kinh tế năm 2026 trên phạm vi toàn quốc.Theo đó, cuộc tổng điều tra này sẽ được thực hiện trên phạm vi cả nước, nhằm thu thập thông tin về các đơn vị sản xuất kinh doanh. Những thông tin này phục vụ việc đánh giá thực trạng và xu hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; đồng thời làm cơ sở đánh giá tình hình, xây dựng kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước.Đối tượng điều tra sẽ bao gồm:Thứ nhất, tập đoàn, Tổng công ty, doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, quỹ tín dụng nhân dân (viết gọn là doanh nghiệp).Thứ hai, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập.Thứ ba, hội, hiệp hội.Thứ tư, cơ sở sản xuất kinh doanh trực thuộc cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập.Thứ năm, cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể phi nông, lâm nghiệp và thủy sản.Thứ sáu, tổ hợp tác.Thứ bảy, chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp, tổ chức phi chính phủ nước ngoài được cấp giấy phép hoạt động tại Việt Nam.Cuối cùng, cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng.Cuộc tổng điều tra trên phạm vi sẽ tập trung thu thập 5 nhóm thông tin chính sau: Thông tin định danh, ngành hoạt động sản xuất kinh doanh, loại hình kinh tế; Thông tin về lao động, tài sản, nguồn vốn của đơn vị điều tra; Thông tin về sản phẩm, doanh thu, chi phí sản xuất kinh doanh; Mức độ ứng dụng công nghệ hiện đại, nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo; ứng dụng công nghệ thông tin trong sản xuất kinh doanh; kinh tế số, thương mại điện tử; Các thông tin chuyên đề chuyên sâu.Thời gian thu thập thông tin sẽ được chia làm 2 giai đoạn, bao gồm giai đoạn 1 (từ 5/1/2026 đến 31/3/2026) và giai đoạn 2 (từ 1/4/2026 đến 31/8/2026).Kết quả sơ bộ của cuộc tổng điều tra này dự kiến sẽ được công bố vào tháng 01/2027 và kết quả chính thức sẽ được công bố vào quý III năm 2027.Thủ tướng sẽ thành lập Ban chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế năm 2026 ở cấp Trung ươngTình hình kinh tế - xã hội 7 tháng đầu năm 2025 của Việt Nam có nhiều tín hiệu tích cực. Ảnh minh họaMột điểm quan trọng của cuộc tổng điều tra kinh tế lần này là việc khai thác tối đa cơ sở dữ liệu hành chính sẵn có và ứng dụng triệt để công nghệ thông tin trong toàn bộ quá trình từ thu thập đến xử lý dữ liệu.Để đảm bảo việc triển khai thống nhất, Thủ tướng sẽ thành lập Ban chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế năm 2026 ở cấp Trung ương. Cụ thể, Bộ Tài chính được giao chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành và địa phương xây dựng phương án chi tiết, tổ chức thực hiện và xây dựng cơ sở dữ liệu tổng điều tra để phục vụ chia sẻ dùng chung.Các bộ, ngành liên quan như Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Nội vụ sẽ có trách nhiệm phối hợp cũng như cung cấp dữ liệu liên quan và tổ chức điều tra trong phạm vi quản lý của mình. UBND các cấp tại địa phương sẽ thành lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh, cấp xã và tổ chức thực hiện trên địa bàn.Ngoài ra, các tổ chức, cá nhân được điều tra thống kê có trách nhiệm cung cấp thông tin trung thực, chính xác, đầy đủ và đúng thời hạn theo yêu cầu của điều tra viên; đồng thời không được phép từ chối hoặc cản trở việc cung cấp thông tin điều tra thống kê.Nguồn: https://soha.vn/tu-dau-nam-2026-viet-nam-se-tong-dieu-tra-mot-linh-vuc-tren-pham-vi-toan-quoc-198250821130412612.htm?gidzl=bhWS5o06c3ALhnyJ81sGC9Ug41Cv591cZg14HMWVocMA_av4E1sPP8-ZJHTj5vaptQ8OH3A0XxOM9m-QD0

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Tháp tháng 7 năm 2025
  •   02/08/2025 09:55

Trong tháng Đảng bộ, chính quyền các cấp trên địa bàn tỉnh tập trung sắp xếp tổ chức bộ máy đơn vị hành chính và tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp hoạt động hiệu lực, hiệu quả nhằm phát huy tinh thần đoàn kết, quyết tâm, phấn đấu thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra. Tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh tiếp tục phát triển, các hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh có nhiều khởi sắc, hầu hết các ngành, lĩnh vực đều tăng so cùng kỳ. Kết quả thực hiện trên các lĩnh vực đạt được như sau:I. SẢN XUẤT NÔNG LÂM NGHIỆP VÀ THỦY SẢN1. Nông nghiệpTrong tháng, tình hình thời tiết trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp nhìn chung tương đối thuận lợi cho hoạt động sản xuất nông nghiệp. Mực nước trên các tuyến sông đầu nguồn đảm bảo cung ứng cho nhu cầu sản xuất, giúp lúa Hè Thu và cây hoa màu sinh trưởng, phát triển tốt; sâu bệnh chỉ xuất hiện rải rác, mức độ nhẹ, không gây thiệt hại đáng kể. Chăn nuôi tiếp tục duy trì ổn định, dịch bệnh được kiểm soát chặt chẽ. Lĩnh vực nuôi trồng thủy sản đạt kết quả tích cực và hiệu quả kinh tế cho người nuôi. Tuy nhiên, vẫn xuất hiện một số diễn biến bất thường do ảnh hưởng hoàn lưu bão số 3 (Wipha), gây ra mưa lớn và dông lốc tại một số địa phương, cơ sở hạ tầng và một phần diện tích cây trồng, đặc biệt là lúa và cây ăn trái… ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân. * Trồng trọt:Cây lương thực có hạt: diện tích gieo trồng từ đầu vụ sản xuất đến ngày 20/7/2025 là 551.278 ha, giảm 4,4% so cùng kỳ, tương ứng giảm 25.658 ha. Trong đó cây lúa gieo sạ 545.664 ha, giảm 4,5% so cùng kỳ.- Cây lúa: + Vụ Đông xuân 2024 – 2025: diện tích gieo trồng 229.680 ha, đạt 100,7% kế hoạch, nhưng giảm 1,7% so cùng kỳ, tương ứng giảm 4.086 ha; Năng suất thu hoạch bình quân đạt 71,9 tạ/ha, tăng 0,3%, tương ứng tăng 0,2 tạ/ha; Sản lượng thu hoạch 1.651.864 tấn, giảm 1,5% so cùng kỳ, tương ứng giảm 24.518 tấn.+ Vụ Hè thu (gồm Xuân hè và Hè thu): đến ngày 20/7, diện tích gieo trồng của vụ sơ bộ đạt 243.847 ha, giảm 2,3%, tương ứng giảm 5.779 ha. Thu hoạch 106.407 ha với năng suất ước đạt 60 tạ/ha, diện tích còn lại đang trong các giai đoạn sinh trưởng khác nhau như làm đòng, trổ và chín, do lịch thời vụ xuống giống không đồng đều giữa các khu vực. Nhằm đảm bảo năng suất và hiệu quả sản xuất, ngay từ đầu vụ, nông dân đã chủ động áp dụng đồng bộ các tiến bộ kỹ thuật như: mô hình “3 giảm, 3 tăng”, “1 phải, 5 giảm”, bón vùi phân hợp lý, quản lý sức khỏe cây trồng tổng hợp (IPHM), sử dụng phân hữu cơ và điều tiết nước khoa học. Việc ứng dụng các biện pháp này đã góp phần giúp cây lúa sinh trưởng, phát triển tốt, hạn chế sâu bệnh gây hại, tiết giảm chi phí sản xuất và tạo ra sản phẩm nông nghiệp an toàn, bền vững. + Vụ Thu đông: đến ngày 20/7, diện tích gieo trồng của vụ ước đạt 72.138 ha, giảm 17,9% so cùng kỳ, diện tích xuống giống chủ yếu ở Tháp Mười, Cao Lãnh, Tam Nông, Lấp Vò. Hiện lúa đang giai đoạn mạ, đẻ nhánh. Hình 1. Diện tích gieo trồng lúa và hoa màu tính đến 20/7/2025 - Cây ngô: diện tích gieo trồng từ đầu vụ sản xuất ước đạt 5.613 ha, giảm 1,1%, tương ứng giảm 64 ha. - Cây rau đậu các loại: từ đầu vụ đến nay, diện tích gieo trồng rau đậu các loại ước đạt 55.976 ha, tăng 6,0% so với cùng kỳ; riêng rau các loại ước đạt 55.697 ha, tăng 6,1%. Tận dụng lợi thế đất đai màu mỡ và thời tiết thuận lợi, nông dân đẩy mạnh sản xuất rau màu bằng hình thức xen canh, gối vụ các loại rau, củ, quả có giá trị kinh tế cao, dễ tiêu thụ như: rau muống, bầu, mướp, bí xanh, khổ qua, dưa leo, cải các loại, hành lá, dưa hấu và nhiều loại rau cải ngắn ngày khác. *Chăn nuôi: ước thời điểm 31/7/2025, tổng đàn gia súc, gia cầm toàn tỉnh như sau: đàn trâu 2.652 con, tăng 31,7%; đàn bò 152.739 con, tăng 1,7%; đàn lợn 437.195 con, tăng 8,9% và đàn gia cầm 24,6 triệu con, tăng 8,4% so với cùng kỳ. Đàn bò tăng nhẹ nhờ người dân tận dụng diện tích đất nông nghiệp kém hiệu quả để trồng cỏ, phát triển mô hình nuôi bò sinh sản và bò thịt. Đàn lợn phục hồi nhanh và phát triển bền vững nhờ giá cả ổn định, mô hình chăn nuôi quy mô lớn ngày càng phổ biến và công tác phòng chống dịch bệnh được chú trọng nên đàn lợn duy trì tăng trưởng tốt. Đàn gia cầm tiếp tục tăng do thị trường tiêu thụ ổn định, các trang trại, gia trại và doanh nghiệp duy trì, mở rộng quy mô chăn nuôi, mô hình chăn nuôi tập trung, ứng dụng công nghệ cao, thân thiện môi trường và an toàn dịch bệnh ngày càng được nhân rộng. Hình 2. Chăn nuôi tại thời điểm 31/7/2025 *Tình hình dịch bệnh trên vật nuôi (theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đồng Tháp): Bệnh cúm gia cầm: trong tháng không phát sinh. Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh xảy ra 03 hộ có cầm nhiễm vi rút cúm A/H5N1 với số lượng 6.161 con (tổng đàn 7.200 con) tại 02 xã (Phú Thành và Tân Phước 3). Đã tiêu hủy toàn bộ số gia cầm 7.200 con. Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: trong tháng xảy ra 04 hộ có lợn mắc bệnh với 56 con (tổng đàn 149 con); đã tiêu hủy 110 con (khối lượng 6.910,5 kg). Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh xảy ra 18 hộ nuôi có lợn mắc bệnh tại 12 xã (Vĩnh Bình, Bình Ninh, Vĩnh Hựu, Long Hưng, Tân Phước 3, Hội Cư, Bình Trưng, Long Định, Tân Phú, Kim Sơn, Mỹ Tịnh An và Mỹ Thành) với 232 con lợn bệnh (tổng đàn 463 con). Đã tiêu hủy là 395 con (khối lượng 13.117,5 kg). Bệnh viêm da nổi cục: trong tháng không phát sinh. Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh xảy ra 02 hộ tại 02 xã (Hậu Mỹ và Tân Thuận Bình) với 03 con bò bệnh có dấu hiệu bệnh (tổng đàn 09 con). Đã tiêu hủy 01 con bò (khối lượng 215 kg). Bệnh lở mồm long móng: trong tháng không phát sinh. Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh xảy ra 01 con lợn bệnh tại cơ sở giết mổ ở xã Hậu Mỹ. Đã tiêu hủy lợn bệnh (khối lượng 110 kg). 2. Lâm nghiệp: Tổng diện tích rừng trên địa bàn tỉnh là 6.999,6 ha (không bao gồm diện tích rừng thuộc đất an ninh quốc phòng); Cụ thể, diện tích rừng đặc dụng 2.717,6 ha (chiếm 38,8% so tổng diện tích rừng), rừng phòng hộ 2.244,3 ha (chiếm 32,1%) và rừng sản xuất 2.037,7 ha (chiếm 29,1%). Trong tháng, thực hiện trồng mới ước đạt 323,7 ngàn cây phân tán các loại. Tổng số cây phân tán trồng được từ đầu năm đến nay là 623,6 ngàn cây, giảm 1,1% so cùng kỳ. 3. Thủy hải sản: Sản lượng thủy sản nuôi trồng trong tháng ước đạt 103.914 tấn. Tính chung 7 tháng năm 2025, thu hoạch ước đạt 515.081 tấn, tăng 7,5% so cùng kỳ, tương ứng tăng 35.797 tấn, bao gồm: sản lượng cá đạt 471.327 tấn (tăng 7,7%); sản lượng tôm đạt 27.843 tấn (tăng 18,4%); các loại thủy sản khác đạt 15.911 tấn (giảm 11,7%). Do thời tiết thuận lợi, thủy sản bệnh ít, năng suất cao. Sản lượng thủy sản khai thác biển trong tháng ước đạt 10.000 tấn. Tính chung 7 tháng năm 2025, thu hoạch ước đạt 65.089 tấn, tăng 18,1% so cùng kỳ, tương ứng tăng 9.975 tấn, bao gồm: cá đạt 43.399 tấn (tăng 4,0%); tôm đạt 1.743 tấn (tăng 24,2%); thủy sản khác đạt 19.946 tấn (tăng 66,3%). Thủy sản biển xuất hiện nhiều hơn ở ngư trường nên ngư dân thu hoạch khá góp phần tăng sản lượng so cùng kỳ. II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆPChỉ số sản xuất công nghiệp tháng 7/2025 giảm 0,3% so với tháng trước và tăng 14,18% so cùng kỳ (ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,27%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 1,97%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 4,09% và ngành khai khoáng giảm 11,67% so cùng kỳ). Các ngành có chỉ số sản xuất tăng cao so cùng kỳ như: sản xuất trang phục tăng 60,81%; in, sao chép bản ghi các loại tăng 57,79%; sản xuất thiết bị điện tăng 25,93%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 24,9%...Tuy nhiên cũng có một số ngành giảm sâu so cùng kỳ như: khai khoáng khác giảm 11,67%; dệt giảm 0,63%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 11,12%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 7,93%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 6,53%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 7,55%... Tính chung 7 tháng đầu năm chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 12,8% so cùng kỳ; trong đó: khai khoáng tăng 62,15%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,66%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 1,99%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,25%.Hình 3. Chỉ số sản xuất công nghiệp - 7 tháng năm 2025 * Tình hình thu hút đầu tư và phát triển các khu - cụm công nghiệp: - Khu công nghiệp: Trong tháng, Ban Quản lý các khu công nghiệp không cấp mới giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 04 lượt dự án; trong đó, có 02 dự án điều chỉnh tăng vốn với tổng vốn đầu tư tăng thêm là 48,5 triệu USD. - Khu kinh tế: Trong tháng, Ban Quản lý Khu kinh tế không cấp mới giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 03 lượt dự án; trong đó, có 01 lượt dự án điều chỉnh tăng vốn đầu tư với tổng vốn đầu tư tăng thêm là 2,5 triệu USD. Đến cuối tháng 7/2025, các khu công nghiệp, khu kinh tế thu hút được 186 dự án; trong đó, có 101 dự án FDI. Tổng vốn đầu tư là 3,1 tỷ USD và 17.384,8 tỷ đồng. - Cụm công nghiệp: trên địa bàn tỉnh có 62 cụm công nghiệp (CCN) được quy hoạch với diện tích 3.009,5 ha được chấp thuận chủ trương đầu tư. Hiện có 23 CCN được thành lập, với tổng diện tích 830 ha, trong đó có 17 CCN đã đi vào hoạt động với diện tích 544,2 ha (diện tích đất công nghiệp là 366,1 ha) đã cho thuê 286,4 ha, tỷ lệ lấp đầy 78,2% diện tích đất công nghiệp. Tổng số dự án đầu tư tại các cụm công nghiệp hiện nay là 126 dự án (trong đó: có 11 dự án đầu tư nước ngoài) với tổng vốn đầu tư 207,9 triệu USD và 14.481 tỷ đồng.III. ĐẦU TƯ - XÂY DỰNG Để thực hiện giải ngân tốt kế hoạch đầu tư công năm 2025, Ủy ban nhân dân tỉnh chủ động quản lý, điều hành, phân bổ vốn cho các công trình cấp thiết nhưng chưa có danh mục công trình cụ thể trong Nghị quyết Hội đồng nhân dân tỉnh... theo tình hình thực tế phát sinh; được phép điều chỉnh, điều chuyển vốn giữa các công trình có giá trị khối lượng thực hiện và giải ngân thấp, sang công trình hoàn thành hoặc có giá trị khối lượng thực hiện cao đã được Hội đồng nhân dân tỉnh thông qua. Tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trong tháng là 1.599 tỷ đồng, tăng 53% so cùng kỳ. Bảy tháng đầu năm 2025 ước thực hiện 7.704 tỷ đồng, đạt 46,8% kế hoạch, tăng 23,7% so cùng kỳ. Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh thực hiện 7.600 tỷ đồng, tăng 23,6% so cùng kỳ, chiếm 98,7% tổng số; trong đó: vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 2.621 tỷ đồng, tăng 58,6%, vốn xổ số kiến thiết thực hiện 1.888 tỷ đồng, tăng 0,2% so cùng kỳ... Các ngành các cấp yêu cầu các Ban quản lý dự án, Chủ đầu tư khắc phục khó khăn đẩy nhanh tiến độ đầu tư công, hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng, thúc đẩy phát triển kinh tế của tỉnh.Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp xã thực hiện 104 tỷ đồng, tăng 31,2% so cùng kỳ; trong đó: vốn cân đối ngân sách cấp xã 18 tỷ đồng, tăng 1,9 lần so cùng kỳ... Các Ban quản lý dự án tập trung điều kiện đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình sớm đưa các công trình vào sử dụng nhằm phát huy hiệu quả công trình. Các địa phương vận động, huy động nguồn vốn nhân dân đóng góp để tiến hành thi công các danh mục công trình đăng ký thuộc nguồn vốn phân cấp phường, xã. Các xã tập trung điều kiện đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình xây dựng nông thôn mới nhằm phục vụ đi lại và vận chuyển hàng hóa của người dân. IV. THƯƠNG MẠI - GIÁ CẢ - DỊCH VỤ1. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng:Nhìn chung, hoạt động thương mại dịch vụ của tỉnh trong tháng tiếp tục giữ được đà tăng trưởng, hàng hoá cung ứng đồi dào, đáp ứng nhu cầu mua sắm của người dân. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trong tháng thực hiện 20.593 tỷ đồng, tăng 0,7% so tháng trước và tăng 8,1% so cùng kỳ. Bảy tháng đầu năm 2025, tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thực hiện 143.414 tỷ đồng,tăng 9,6% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 111.174 tỷ đồng, tăng 8,4%; lưu trú 502 tỷ đồng, tăng 15,4%; ăn uống 18.703 tỷ đồng, tăng 14,8%; du lịch lữ hành 237 tỷ đồng, tăng 25,2%; dịch vụ tiêu dùng khác 12.799 tỷ đồng, tăng 12,5% so cùng kỳ. Hình 4. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng – 7 tháng năm 20252. Xuất - Nhập khẩu (Theo báo cáo Sở Công Thương)a. Xuất khẩu:Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng ước thực hiện 790 triệu USD, tăng 0,6% so tháng trước và giảm 6,6% so cùng kỳ. Bảy tháng ước xuất khẩu 5.232 triệu USD, đạt 56,87% kế hoạch, tăng 2,8% so cùng kỳ. b. Nhập khẩu: Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 7/2025 ước đạt 320 triệu USD, giảm 5,8% so tháng trước và giảm 11,1% so cùng kỳ. Bảy tháng ước đạt 2.814 triệu USD, đạt 63,5% kế hoạch và tăng 12,8% so với cùng kỳ; trong đó, doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước chiếm 6,2%, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 93,8% trên tổng kim ngạch nhập khẩu. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu trong tổng kim ngạch nhập khẩu của tỉnh như: kim loại thường khác (kể cả nguyên liệu đồng) chiếm 31,2%; sắt thép các loại chiếm 9,6%; nguyên phụ liệu dệt may, da giày, túi xách chiếm 7,2%; vải nguyên liệu chiếm 5,5%; chất dẻo nguyên liệu chiếm 3,4%; còn lại nguyên vật liệu khác (thức ăn gia súc, nguyên liệu dược phẩm và máy móc thiết bị…). 3. Chỉ số giá: Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 7/2025 tăng 0,13% (thành thị tăng 0,06%, nông thôn tăng 0,14%) so tháng 6/2025, tăng 1,96% so tháng 7/2024. Bình quân 7 tháng đầu năm 2025 tăng 2,24% so cùng kỳ năm trước. So với tháng 6/2025, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 08 nhóm tăng: nhà ở, điện, nước, chất đốt và VLXD tăng 0,52%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,25%; may mặc, mũ nón và giầy dép tăng 0,24%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,11%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,08%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,05%; văn hóa giải trí và du lịch tăng 0,03%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%. Có 02 nhóm giảm: bưu chính viễn thông giảm 0,01%; giao thông giảm 0,38%. Riêng nhóm giáo dục chỉ số giá ổn định. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 7 tháng năm 2025 so cùng kỳ tăng 2,24%; Chỉ số giá tiêu dùng 7 tháng đầu năm 2025 tăng chủ yếu ở một số nhóm hàng như: thuốc và dịch vụ y tế tăng 11,9%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 7,95%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,29%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,81%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,86% so với cùng kỳ … Chỉ riêng nhóm giao thông giảm 4,75% so cùng kỳ. Chỉ số giá vàng 24 kara Ngọc Thẩm trong tháng 7/2025 tăng 0,85% so tháng trước, tăng 32,42% so với tháng 12/2024 và tăng 49,25% so với bình quân cùng kỳ. Giá vàng bình quân 11.241 ngàn đồng/chỉ, tăng 3.709 ngàn đồng/chỉ so cùng kỳ. Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng 7/2025 tăng 0,42% so tháng trước và tăng 3,51% so với cùng kỳ. Hiện nay giá bình quân Đô la Mỹ duy trì ở mức 26.384 đồng/USD, tăng 895 đồng/USD so cùng kỳ. 4. Du lịch: Khách du lịch đến trong tháng 7/2025 ước tính 316 ngàn lượt khách, tương đương tháng trước và tăng 13,3% so cùng kỳ, trong đó khách quốc tế 39 ngàn lượt khách, tăng 56,1%. Hiện nay du lịch đang bước vào mùa cao điểm trong khoảng thời gian nghỉ hè, các doanh nghiệp lữ hành chào bán hàng loạt sản phẩm mới cho mùa hè 2025. Nhiều khu, điểm du lịch trong tỉnh đã mở rộng quy mô và dịch vụ vui chơi để đón đông đảo lượng khách đến tham quan, trải nghiệm. Doanh thu lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành trong tháng 7 đạt 2.865 tỷ đồng, tăng 0,2% so tháng trước và tăng 17,9% so cùng kỳ. Tính chung bảy tháng đầu năm 2025, lượt khách du lịch đến Đồng Tháp là 2.248 ngàn lượt khách, tăng 6% so cùng kỳ; trong đó: khách quốc tế 308 ngàn lượt khách, tăng 6,1% so cùng kỳ. Tổng doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, dịch vụ lữ hành và dịch vụ tiêu dùng khác đạt 32.240 tỷ đồng, tăng 14% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu dịch vụ ăn uống chiếm tỷ trọng 58%, ước đạt 18.702 tỷ đồng, tăng 14,8% so cùng kỳ; lưu trú đạt 502 tỷ đồng, tăng 15,4% so cùng kỳ... 5. Vận tải: Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trong tháng thực hiện 662 tỷ đồng, tăng 1,8% so tháng trước và tăng 13,5% so cùng kỳ, do hiện nay đang thời gian nghỉ hè nhu cầu du lịch tăng; giá nhiên liệu ổn định; hoạt động sản xuất kinh doanh phục hồi... Bảy tháng thực hiện 4.424 tỷ đồng, tăng 13,8% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 1.438 tỷ đồng, tăng 13,4%; doanh thu vận tải hàng hóa thực hiện 2.181 tỷ đồng, tăng 13,1% so cùng kỳ. Doanh thu vận tải đường bộ thực hiện 2.030 tỷ đồng, tăng 12,3%; doanh thu vận tải đường thủy thực hiện 1.588 tỷ đồng, tăng 14,3%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 469 tỷ đồng, tăng 18,9% so cùng kỳ. Vận tải hành khách trong tháng đạt 6.008 ngàn hành khách, tăng 1,9% so tháng trước và tăng 14,6% so cùng kỳ; luân chuyển 229.945 ngàn hành khách.km, tăng 1,7% so tháng trước và tăng 13,2% so cùng kỳ. Bảy tháng, vận chuyển 41.317 ngàn hành khách, tăng 15,6% so cùng kỳ; luân chuyển 1.566.084 ngàn hành khách.km, tăng 12,5% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 13.466 ngàn hành khách, tăng 13,5% và luân chuyển 1.552.432 ngàn hành khách.km, tăng 12,5% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 27.851 ngàn hành khách, tăng 16,6% và luân chuyển 13.652 ngàn hành khách.km, tăng 15,3% so cùng kỳ. Vận tải hàng hóa trong tháng đạt 2.506 ngàn tấn, tăng 2,8% so tháng trước và tăng 11,5% so cùng kỳ; luân chuyển 463.740 ngàn tấn.km, tăng 1,4% so tháng trước và tăng 11,7% so cùng kỳ (trong đó: sản lượng vận chuyển ngoài nước là 166,24 ngàn tấn, là do công ty xăng dầu Đồng Tháp tỉnh chở bán hàng qua Camphuchia). Bảy tháng, vận tải 16.259 ngàn tấn hàng hóa, tăng 11,5% so cùng kỳ; luân chuyển 3.108.455 ngàn tấn.km, tăng 12,4% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 3.600 ngàn tấn, tăng 13% và luân chuyển 531.565 ngàn tấn.km, tăng 10,7% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 12.659 ngàn tấn, tăng 11% (trong đó sản lượng xăng dầu vận chuyển ngoài nước là 1.048 ngàn tấn) và luân chuyển 2.576.890 ngàn tấn.km, tăng 12,8% so cùng kỳ. * Công tác quản lý phương tiện giao thông: Trong tháng đăng ký mới 179 chiếc mô tô xe máy. Tổng số xe đang quản lý trên địa bàn tỉnh 3.055.926 chiếc, trong đó mô tô xe máy: 2.928.882 chiếc, 123.837 xe ô tô, 169 xe ba bánh, 666 xe đạp điện và 1.063 xe khác và 1.309 xe lam. 6. Bưu chính viễn thông: Doanh thu trong tháng 7/2025 đạt 676,9 tỷ đồng, tăng 0,52% so tháng trước; trong đó: doanh thu bưu chính đạt 54,5 tỷ đồng, tăng 0,93% và viễn thông 622,4 tỷ đồng, tăng 0,48% so tháng trước. Bảy tháng doanh thu dịch vụ bưu chính, viễn thông đạt 4.713 tỷ đồng, tăng 3,5% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính đạt 368,3 tỷ đồng, tăng 7,7% và viễn thông 4.344,3 tỷ đồng, tăng 3,14% so cùng kỳ. Tổng số thuê bao điện thoại có 4.178 vị trí trạm BTS; có 3.878.066 thuê bao điện thoại (trong đó: 56.832 thuê bao điện thoại cố định và 3.821.234 thuê bao điện thoại di động); có 4.022.490 thuê bao internet băng rộng (trong đó: 821.224 thuê bao băng rộng cố định và 3.201.266 thuê bao băng rộng di động). có 100% khóm, ấp trên địa bàn tỉnh đã phủ sóng thông tin di động 3G, 4G và có đường truyền internet cáp quang FTTx V. TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG 1. Tài chính: Tổng thu ngân sách nhà nước trong tháng thực hiện 4.516 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn 1.901 tỷ đồng; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 327 tỷ đồng. Bảy tháng, thu 40.887 tỷ đồng; trong đó, thu ngân sách trên địa bàn thực hiện 14.882 tỷ đồng, đạt 71,9% dự toán và tăng 26,5% so cùng kỳ; thu nội địa 14.369 tỷ đồng, đạt 72,3% dự toán, tăng 26,3% so cùng kỳ (trong thu ngân sách trên địa bàn: thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 2.360 tỷ đồng, đạt 86,6% dự toán, tăng 14% so cùng kỳ; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 2.886 tỷ đồng, đạt 98,85% dự toán, tăng 71,8% so cùng kỳ...). Tổng chi ngân sách nhà nước trong tháng 3.721 tỷ đồng; trong đó: chi đầu tư phát triển 1.143 tỷ đồng. Bảy tháng, chi 26.975 tỷ đồng, đạt 61,5 dự toán và tăng 89,3% so cùng kỳ; trong đó: chi đầu tư phát triển 8.427 tỷ đồng, đạt 76,1% dự toán, tăng 15,5% so cùng kỳ; chi hành chính sự nghiệp 15.505 tỷ đồng, đạt 69,9% dự toán và tăng 1,8 lần so cùng kỳ. 2. Ngân hàng: Từ đầu năm đến nay, lãi suất ổn định tạo điều kiện cho tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn từ Ngân hàng nhà nước (NHNN) với chi phí thấp, tiếp tục khuyến khích TCTD tiết giảm chi phí để giảm mặt bằng lãi suất cho vay. Đến cuối tháng 6/2025, các mức lãi suất trên địa bàn tỉnh như sau: Lãi suất huy động: Hệ thống các TCTD trên địa bàn chấp hành tốt các quy định về lãi suất huy động theo quy định của NHNN Việt Nam. Lãi suất cho vay: Các tổ chức tín dụng trên địa bàn chấp hành nghiêm mức trần lãi suất cho vay ngắn hạn đối với các lĩnh vực ưu tiên (hiện là 4%/năm áp dụng tại các chi nhánh ngân hàng và 5% áp dụng tại Quỹ tín dụng nhân dân, Tổ chức tài chính vi mô). Mặt bằng lãi suất cho vay VNĐ tiếp tục có xu hướng giảm, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận vốn vay với chi phí hợp lý. Đến cuối tháng 5/2025, lãi suất cho vay bình quân trên địa bàn là 7,78%/năm, giảm 0,56%/năm so với cuối năm 2024. Đến cuối tháng 6/2025, vốn huy động đạt 193.216 tỷ, tăng 6,09% so với cuối năm 2024, tổng dư nợ cho vay của các tổ chức tín dụng (TCTD) trong tỉnh đạt 232.690 tỷ, tăng 3,37% so với cuối năm 2024. Ước đến cuối tháng 7/2025, nguồn vốn huy động đạt 194.646 tỷ, tăng 6,88% so với cuối năm 2024; tổng dư nợ đạt 235.147 tỷ, tăng 4,47%. Nợ xấu: đến cuối tháng 6/2025 nợ xấu đạt 5.816 tỷ đồng, tăng 60,14% so cuối năm 2024; tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là 2,54%, tăng 0,91% so với cuối năm 2024. Ước đến cuối tháng 7/2025 nợ xấu đạt 5.874 tỷ đồng, tăng 61,73% so cuối năm 2024; tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là 2,5%, tăng 0,87% so với cuối năm 2024. Quỹ tín dụng nhân dân: đến cuối tháng 6/2025, tổng nguồn vốn hoạt động đạt 2.794 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 6,15% so tháng 12/2024; Tổng dư nợ cho vay đạt 2.360 tỷ đồng, giảm 0,36% so cuối năm 2024. Tỷ lệ nợ xấu tăng 0,57% so tháng 12/2024. VI. KHOA HỌC CÔNG NGHỆ - Quản lý công nghệ: Góp ý 10 hồ sơ về công nghệ các dự án đầu tư. - Sở hữu trí tuệ: + Tổ chức hội thảo với chủ đề “Giải pháp tăng đơn sáng chế và thương mại hóa sáng chế thành công”. Tập huấn chuyên đề “Các quy định pháp luật về đăng ký sáng chế - Hướng dẫn hồ sơ đăng ký sáng chế” + Ban hành Quyết định phê duyệt danh sách tổ chức, cá nhân được hỗ trợ kinh phí đăng ký bảo hộ tài sản trí tuệ năm 2025 trên địa bàn tỉnh Tiền Giang (Đợt 2) (01 Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu, 01 Quyết định chấp nhận đơn hợp lệ sáng chế với tổng số tiền 45 triệu đồng). + Tiếp nhận 07 hồ sơ đề nghị hỗ trợ về thiết kế và bảo hộ nhãn hiệu của các tổ chức kinh tế theo Nghị quyết số 44/2021/NQ-HĐND ngày 17/8/2021 của Hội đồng nhân dân Tỉnh Đồng Tháp về ban hành quy định một số chính sách khuyến khích các tổ chức kinh tế đầu tư vào hoạt động khoa học và công nghệ. + Xác lập thành công Chỉ dẫn địa lý “Đồng Tháp” cho sản phẩm sen: ngày 25/6/2025 Cục Sở hữu trí tuệ ban hành Quyết định số 442/QĐ-SHTT về việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý số 00145 cho sản phẩm sen “Đồng Tháp”. - Hoạt động sáng kiến: Thành lập Hội đồng xét công nhận hiệu quả áp dụng và phạm vi ảnh hưởng của sáng kiến lĩnh vực Giáo dục và Đào tạo năm 2025; đã tiếp nhận 1.258 sáng kiến đề nghị xét công nhận hiệu quả áp dụng và phạm vi ảnh hưởng của sáng kiến lĩnh vực Giáo dục và Đào tạo năm 2025 (đang rà soát thẩm định trước khi Hội đồng đánh giá). Đồng thời trình UBND Tỉnh sửa đổi, bổ sung Quyết định số 28/2023/QĐ-UBND ngày 20/6/2023 ban hành Quy định xét, công nhận sáng kiến và các biện pháp thúc đẩy hoạt động sáng kiến trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp. - An toàn bức xạ và hạt nhân: Cấp giấy phép mới 03 hồ sơ; cấp gia hạn giấy phép: 02 hồ sơ; Cấp sửa đổi, bổ sung giấy phép: 01 giấy phép; Cấp chứng chỉ nhân viên bức xạ: 02; Tiếp nhận chưa giải quyết: 05 hồ sơ lĩnh vực an toàn bức xạ, trong đó 03 hồ sơ đề nghị 3 cấp giấy phép tiến hành công việc bức xạ - Sử dụng thiết bị X-quang chẩn đoán trong y tế và 02 hồ sơ đề nghị cấp chứng chỉ nhân viên bức xạ cho người phụ trách an toàn. VII. CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Lao động việc làm: Trong tháng, toàn tỉnh đã tạo việc làm cho 7.509 lao động, trong đó có 113 lao động xuất cảnh làm việc tại các thị trường nước ngoài. Tính từ đầu năm đến nay, tổng số lao động được giải quyết việc làm đạt 43.562 người; riêng lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài là 1.555 người, một tín hiệu tích cực trong nỗ lực mở rộng thị trường lao động. Các hoạt động giao dịch việc làm, ngày hội việc làm được tổ chức, đóng vai trò quan trọng trong kết nối cung – cầu lao động, đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp và tạo cơ hội việc làm cho người lao động. Trong tháng, đã tổ chức 6 phiên giao dịch việc làm với sự tham gia của 61 lượt doanh nghiệp, thu hút hơn 1.570 lượt người, chủ yếu là học sinh, sinh viên và người lao động. Tính chung từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh đã tổ chức 43 phiên giao dịch việc làm với 167 lượt doanh nghiệp tham gia, thu hút trên 18.000 lượt người quan tâm tham gia, góp phần giảm áp lực giải quyết việc làm tại địa phương. 2. Chính sách xã hội: Trong tháng, tỉnh tiếp tục triển khai hiệu quả các chính sách đối với người có công, góp phần chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho các đối tượng chính sách trên địa bàn sau khi chính quyền địa phương 2 cấp đi vào hoạt động: - Các chế độ ưu đãi dành cho người có công với cách mạng tiếp tục được giải quyết đầy đủ, đúng đối tượng và kịp thời. trong đó: lập quyết định trợ cấp một lần cho thân nhân và chuyển thờ cúng liệt sĩ: 132 hồ sơ; giải quyết chế độ cho người tham gia kháng chiến, dân giúp cách mạng: 4 trường hợp; trợ cấp tuất: 5 trường hợp; giải quyết chế độ cho vợ liệt sĩ tái giá, con liệt sĩ tàn tật: 4 trường hợp; nạn nhân chất độc hóa học mới được công nhận: 6 trường hợp;... - Nhân dịp kỷ niệm 78 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 – 27/7/2025), nhiều hoạt động tri ân được tổ chức trang trọng và ý nghĩa. Tiêu biểu như: tổ chức Lễ đặt tràng hoa, viếng mộ liệt sĩ tại Nghĩa trang liệt sĩ tỉnh; tổ chức đoàn thăm các đồng chí nguyên lãnh đạo Bộ đội Biên phòng tỉnh và cán bộ chiến sĩ Đoàn 217 Quảng Ninh từng tăng cường Công an vũ trang tỉnh Gò Công năm 1975, nhân kỷ niệm 50 năm Ngày truyền thống Bộ đội Biên phòng tỉnh Tiền Giang (16/6/1975 – 16/6/2025). - Tỉnh đã tổ chức các chuyến đi cho 30 cựu chiến binh tham quan Nhà tù Phú Quốc và 30 cựu chiến binh tham quan Nhà tù Côn Đảo; tổ chức 3 đợt đưa 210 người có công và cựu thanh niên xung phong đi viếng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, tham quan Thủ đô Hà Nội; đồng thời triển khai 5 đợt điều dưỡng tập trung cho người có công trong năm 2025. 3. Hoạt động giáo dục: Hệ thống giáo dục trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp (mô hình chính quyền hai cấp vận hành) được tổ chức lại một cách khoa học nhằm phát huy tối đa nguồn lực sẵn có, triển khai đồng bộ từ tỉnh đến cơ sở. Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2025, tỉnh Đồng Tháp có 33.666 thí sinh dự Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2025, kết quả có 33.446 thí sinh tốt nghiệp (đạt 99,35%). Thí sinh đăng ký nguyện vọng trực tuyến: Từ 16/7 đến 28/7 và đây là giai đoạn quyết định cơ hội trúng tuyển đại học của thí sinh. Tất cả thí sinh (bao gồm cả thí sinh được xét tuyển thẳng) phải thực hiện đăng ký nguyện vọng xét tuyển trực tuyến trên Hệ thống hỗ trợ tuyển sinh chung của Bộ GD&ĐT tại địa chỉ http://thisinh.thitotnghiepthpt.edu.vn hoặc gián tiếp thông qua Cổng dịch vụ công quốc gia. 4. Hoạt động y tế: Mô hình chính quyền hai cấp tỉnh và xã được triển khai đồng bộ từ ngày 1/7, hệ thống y tế tỉnh Đồng Tháp tiếp tục được củng cố và hoạt động ổn định, thông suốt, đảm bảo đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân. Các hoạt động giám sát dịch bệnh, phòng chống dịch tiếp tục được duy trì hiệu quả, góp phần giữ vững tình hình y tế trên địa bàn tỉnh. Trong tháng có 12/44 bệnh truyền nhiễm được ghi nhận. So với cùng kỳ cộng dồn, có 13 bệnh tăng (Bệnh do vi rút Adeno, Cúm, Ho gà, Lỵ trực trùng, Quai bị, Sởi, Sốt xuất huyết Dengue, Tay - chân - miệng, Thương hàn, Thủy đậu, Tiêu chảy, Viêm gan vi rút khác, Viêm não vi rút khác,); 09 bệnh giảm (Bệnh do liên cầu lợn ở người, Lao phổi, Lỵ amíp, Uốn ván khác, Viêm gan vi rút A, Viêm gan vi rút B, Viêm gan vi rút C, Viêm não Nhật bản, Bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Covid-19 gây ra); 22 không xảy ra ca mắc. Các bệnh truyền nhiễm trong tháng ghi nhận: bệnh sốt xuất huyết 385 ca mắc; bệnh tay - chân - miệng 853 ca. Cộng dồn số ca mắc bệnh sốt xuất huyết: 1.905 ca, tăng 21,8% so cùng kỳ; bệnh tay – chân – miệng: 2.798 ca, tăng 0,2% so cùng kỳ. Phòng chống HIV/AIDS trên địa bàn tỉnh tính đến nay là 15.758 người nhiễm HIV; 5.051 người chuyển sang AIDS; 3.866 người tử vong do AIDS.An toàn vệ sinh thực phẩm, trong tháng ghi nhận 01 vụ ngộ độc thực phẩm với 23 người mắc, không có ca tử vong; tổng số cộng dồn: 02 vụ (tăng 01 vụ so cùng kỳ), số người bị ngộ độc 56 người (tăng 47 người), không có ca tử vong.Khám chữa bệnh trong tháng cho 749.410 lượt người; trong đó, số người điều trị nội trú là 42.264 lượt người. Cộng dồn từ đầu năm đến nay, đã khám chữa bệnh cho 4.650.614 lượt người, tăng 1,5%; trong đó, số người điều trị nội trú là 266.247 lượt người, tăng 2,6%. 5. Hoạt động văn hóa - thể thao: Trong tháng, các hoạt động văn hóa nghệ thuật diễn ra sôi nổi, góp phần tạo không khí phấn khởi, vui tươi trong nhân dân. Cụ thể: a. Hoạt động văn hóa nghệ thuật: tổ chức 6 buổi biểu diễn nghệ thuật với khoảng 1.700 lượt người xem, các sự kiện lớn như: kỷ niệm 50 năm Ngày truyền thống Bộ đội Biên phòng Tiền Giang, 100 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam, Đại hội Đảng các cấp,… Đặc biệt, chương trình “Dạ khúc tri âm” quý II được tổ chức tại Rạp hát Thầy Năm Tú tạo điểm nhấn văn hóa độc đáo. Ngoài ra, tổ chức 15 buổi tuyên truyền lưu động – chiếu phim đã thu hút trên 13.700 lượt người xem, góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng về các vấn đề xã hội. b. Hoạt động thư viện: tổ chức chương trình “Hè vui đọc sách” và phát động cuộc thi “Đọc sách cùng Xích Lô” năm 2025 trên toàn tỉnh. Trong tháng, thư viện phục vụ 57.830 lượt bạn đọc với 154.355 lượt tài liệu, đồng thời tổ chức nhiều hoạt động ngoại khóa, tương tác trực tuyến, phục vụ sách cho người khuyết tật, tạo điều kiện tiếp cận tri thức đa dạng cho mọi đối tượng. c. Hoạt động bảo tàng: trưng bày chuyên đề tại các nhà trưng bày lịch sử, khu di tích và hiện vật ngoài trời. Đặc biệt, hai lễ hội truyền thống tại huyện Tháp Mười đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. d. Hoạt động thể dục, thể thao: trong 7 tháng đầu năm, 64 vận động viên của tỉnh ở các môn thể thao trọng điểm như: Bắn cung, Bơi lội, Cầu mây, Canoeing, Karate, Judo, Taekwondo, Xe đạp... đã được triệu tập vào các đội tuyển quốc gia, tham gia thi đấu tại các giải quốc tế. Tỉnh cũng đăng cai tổ chức 6 giải đấu cấp quốc gia tiêu biểu như: Giải Bơi – Lặn vô địch các nhóm tuổi, Giải Judo vô địch quốc gia, Cuộc đua xe đạp toàn quốc tranh Cúp Truyền hình TP. Hồ Chí Minh, Giải Petanque, Giải Cầu mây trẻ và Giải Roller Sports trẻ. 6. Tình hình trật tự an toàn xã hội (theo báo cáo ngành Công an): Sau khi tỉnh Đồng Tháp chính thức vận hành mô hình chính quyền hai cấp, công tác bảo đảm trật tự an toàn xã hội tiếp tục được triển khai đồng bộ từ tỉnh đến cơ sở. Lực lượng chức năng tăng cường tuần tra, kiểm soát địa bàn, kịp thời phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường ổn định phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Trong tháng xảy ra 87 vụ phạm tội về trật tự xã hội, giảm 17 vụ so với tháng trước. Hậu quả là 03 người chết, 34 người bị thương, tài sản thiệt hại khoảng 24 triệu đồng. Cơ quan chức năng đã điều tra, khám phá 62 vụ (đạt tỷ lệ 71,3%), bắt giữ và xử lý 130 đối tượng, đồng thời thu hồi tài sản trị giá khoảng 224 triệu đồng. Tính từ đầu năm đến nay, tổng số vụ phạm tội là 716. Vụ việc đã làm 28 người chết, 227 người bị thương, tổng giá trị tài sản thiệt hại lên đến khoảng 504,8 tỷ đồng. Đã điều tra, khám phá được 576 vụ (đạt tỷ lệ 80,4%), xử lý 1.119 đối tượng. Về tội phạm ma túy trong tháng, lực lượng chức năng đã phát hiện và xử lý 17 vụ với 25 đối tượng. Ngoài ra, 197 đối tượng có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy cũng đã bị xử lý hành chính. 7. Trật tự an toàn giao thông (theo báo cáo ngành Công an, số liệu tính từ ngày 15/6/2025 đến 14/7/2025): Tai nạn giao thông đường bộ: trong tháng, xảy ra 33 vụ, giảm 17 vụ so tháng trước và giảm 23 vụ so cùng kỳ. Hậu quả làm chết 26 người (giảm 15 người so tháng trước, giảm 13 người so cùng kỳ) và 12 người bị thương (giảm 06 người so tháng trước, giảm 24 người so cùng kỳ). Lũy kế từ đầu năm đến kỳ báo cáo, toàn tỉnh đã xảy ra 359 vụ, giảm 01 vụ so với cùng kỳ; làm chết 249 người (giảm 18 người so với cùng kỳ) và làm bị thương 181 người (tăng 19 người). Các nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông chủ yếu vẫn do ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông như: uống rượu say, điều khiển xe khi có rượu bia, phóng nhanh vược ẩu, không làm chủ tốc độ; không đi đúng phần đường, làn đường; không nhường đường, vượt đèn đỏ, thiếu quan sát… Tai nạn giao thông đường thủy: trong tháng không xảy ra. Lũy kế từ đầu năm đến kỳ báo cáo là 01 vụ (không phát sinh người chết và bị thương). 8. Tình hình cháy nổ, môi trường và thiên tai: Cháy, nổ: trong tháng, trên địa bàn tỉnh xảy ra 01 vụ cháy, gây thiệt hại tài sản khoảng 497 triệu đồng; nguyên nhân được xác định là do sự cố hệ thống, thiết bị điện. Tính từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh ghi nhận tổng cộng 13 vụ cháy, giảm 08 vụ so với cùng kỳ, số người tử vong do cháy là 04 người, và tổng thiệt hại tài sản đã vượt mức 272,7 tỷ đồng. Môi trường: trong tháng đã xảy ra 3 vụ vi phạm (khai thác cát trái phép). Cộng dồn từ đầu năm, toàn tỉnh xảy ra 41 vụ vi phạm môi trường, tăng 73,3% so với cùng kỳ. Tổng số tiền xử phạt hành chính là 622,1 triệu đồng. Thiên tai: trong tháng, do ảnh hưởng từ hoàn lưu bão 3 Wipha, xảy ra mưa lớn kèm theo dông lốc trên địa bàn tỉnh; đã làm 19 người bị thương (xã Ba Sao 10 người, phường Mỹ Ngãi 9 người), sập 52 căn nhà, tốc mái 458 căn, hư hỏng 10 phòng học, 6 nhà kho và 34 trụ điện bị ngã đổ; gây thiệt hại 5,68 ha cây ăn trái, 15 ha lúa, 3 ha đậu đũa, ngã đổ 2.369 cây ăn trái các loại, 600 bụi môn, 363 cây xanh bị ngã, tét nhánh. Thiệt hại ước tính khoảng 21,2 tỷ đồng. Lũy kế từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh xả ra 20 cơn mưa giông, lốc, sét làm 02 người chết (do bị sét đánh); 19 người bị thương; sập 54 căn nhà, tốc mái 548 căn, hư hỏng 10 phòng học, 6 nhà kho; 34 trụ điện bị ngã đổ; thiệt hại 5,68 ha cây ăn trái, 15 ha lúa, sập 3 ha đậu đũa, 600 bụi môn; ngã đổ 350 cây chuối, 363 cây xanh và 3,035 cây ăn trái các loại, khoảng 3,04 tấn trái cây bị rụng hư (phần lớn là sầu riêng). Thiệt hại ước tính khoảng 22,9 tỷ đồng. Sạt lở xảy ra 15 vụ với tổng chiều dài 538m, diện tích 2,870 m2, làm sập 01 căn nhà. Thiệt hại ước tính khoảng 1,248 tỷ đồng. Như vậy, tổng thiệt hại do thiên tai gây ra trong 7 tháng năm 2025 vượt mức 24 tỷ đồng.

Thống kê tỉnh Đồng Tháp - Triển khai công tác Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025 và trao đổi chỉ tiêu Văn kiện Đại hội Đảng bộ cấp xã nhiệm kỳ 2025 - 2030
  •   17/07/2025 17:29

Để tiếp tục lãnh đạo công tác tổ chức Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025 trên phạm vi tỉnh Đồng Tháp sau sáp nhập, sáng ngày 17/7/2025 tại Trụ sở chính Thống kê tỉnh Đồng Tháp, Thường trực Ban Chỉ đạo TĐTNN 2025 tỉnh đã tổ chức Hội nghị trực tiếp và trực tuyến đến 16 điểm cầu Thống kê cơ sở. Bà Trần Thị Mỹ Hạnh, Trưởng Thống kê tỉnh, Phó Trưởng Ban thường trực tỉnh Đồng Tháp chủ trì Hội nghị. Đại biểu tham dự gồm: - Thành viên Tổ Thường trực tỉnh; - Chủ tịch UBND và Phó Trưởng ban BCĐ TĐTNN 2025 cấp xã (102 xã, phường); - Lãnh đạo và công chức tại 17 Thống kê cơ sở.Ảnh: Toàn cảnh Hội nghịẢnh: Các đại biểu phát biểu tại Hội nghịẢnh: Đ/c Trần Thị Mỹ Hạnh, Thống kê trưởng, Phó Trưởng Ban thường trực tỉnh Đồng Tháp, phát biểu kết luận Hội nghị Hội nghị nhằm quán triệt công tác tổ chức chỉ đạo TĐTNN 2025 trên địa bàn tỉnh, trong đó khẩn trương hoàn thành công tác kiện toàn BCĐ các cấp, tăng cường công tác kiểm tra giám sát, cập nhật tiến độ thu thập thông tin theo địa bàn và đơn vị hành chính, …); đồng thời triển khai một số nội dung liên quan đến hoạt động Thống kê theo mô hình chính quyền địa phương 02 cấp; trao đổi chỉ tiêu Văn kiện Đại hội Đảng bộ cấp xã nhiệm kỳ 2025 - 2030, trọng tâm là chỉ tiêu Tổng giá trị sản phẩm và chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người trên địa bàn xã, phường./.N.X.Trường

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Tiền Giang 6 tháng đầu năm 2025
  •   02/07/2025 14:57

Tình hình kinh tế - chính trị thế giới trong những tháng đầu năm 2025 diễn biến phức tạp; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gây gắt hơn; xung đột Nga - Ucraina tiếp tục kéo dài, đặc biệt là xung đột tại Biển Đỏ, dải Gaza leo thang đã gia tăng rủi ro với an toàn hàng hải, chuỗi cung ứng hàng hóa đã làm ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Ngoài ra chính sách thắt chặt tiền tệ của các nước ảnh hưởng đến xuất khẩu của các doanh nghiệp của Việt Nam nói chung và Tiền Giang nói riêng. Trong những tháng đầu năm 2025 Đảng bộ, chính quyền các cấp trên địa bàn tỉnh tập trung sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống chính trị theo Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban chấp hành Trung ương khóa XII hoạt động hiệu lực, hiệu quả nhằm phát huy tinh thần đoàn kết, quyết tâm, phấn đấu thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra trong năm 2025; tăng trưởng từ 8% trở lên, hướng tới kế hoạch tăng trưởng hai con số trong những năm tiếp theo… Ngay từ đầu năm 2025 Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã triển khai kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh, giao nhiệm vụ cụ thể cho từng ngành, từng địa phương; chỉ đạo, điều hành sâu sát, tập trung và có hiệu quả hơn, cùng sự nỗ lực phấn đấu của các ngành các cấp; tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2025 tiếp tục phát triển ổn định, có nhiều chuyển biến tích cực; một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội có tăng trưởng hơn cùng kỳ năm trước. Kết quả thực hiện trên các lĩnh vực như sau: I. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊU KINH TẾ 1. Tăng trưởng kinh tế (GRDP): Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) 6 tháng đầu năm 2025 ước đạt 36.129 tỷ đồng (giá so sánh năm 2010); quý I tăng 7,47%, quý II tăng 8,13%, tính chung 6 tháng tăng 7,81% so với 6 tháng đầu năm 2024; khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,17 %, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 12,27%, khu vực dịch vụ tăng 8,12 % và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 4,96% so cùng kỳ. Trong 7,81% tăng trưởng thì khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản đóng góp 1,44%, khu vực công nghiệp và xây dựng đóng góp 3,69%, khu vực dịch vụ đóng góp 2,38% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đóng góp 0,3%. GRDP nếu tính theo giá hiện hành GRDP đạt 71.776 tỷ đồng.  Cơ cấu kinh tế: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 35,7% (cùng kỳ 37,4%); khu vực công nghiệp, xây dựng chiếm 29,1% (cùng kỳ 27,5%); khu vực dịch vụ chiếm 29,4% (cùng kỳ 29,1%); thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 5,8%, (cùng kỳ 6%). 2. Tài chính - Ngân hàng: a. Tài chính: Thu ngân sách nhà nước: Ước thực hiện 6 tháng đầu năm 2025 thu được 17.670 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn thực hiện 7.650 tỷ đồng, đạt 72,2% dự toán và tăng 29,9% so cùng kỳ; thu nội địa 7.450 tỷ đồng, đạt 72,5% dự toán, tăng 30,7% so cùng kỳ (thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 1.945 tỷ đồng, đạt 73,3% dự toán năm và tăng 14,3% so với cùng kỳ; khu vực công thương nghiệp - ngoài quốc doanh là 1.621 tỷ đồng, đạt 118,29% dự toán, tăng 70,4% so với cùng kỳ; thu từ hoạt động xổ số kiến thiết 1.473 tỷ đồng, đạt 71,8% dự toán, tăng 25,2% so cùng kỳ). Chi ngân sách nhà nước: Tổng chi ngân sách 6 tháng đầu năm 2025 là 10.750 tỷ đồng; trong đó: chi đầu tư phát triển 2.674 tỷ đồng, đạt 41% dự toán, giảm 33,2%; chi hành chính sự nghiệp 5.699 tỷ đồng, đạt 57,8% dự toán và tăng 1,8 lần so cùng kỳ. b. Ngân hàng: Đến cuối tháng 5/2025, vốn huy động đạt 110.961 tỷ đồng, tăng 3.829 tỷ, tăng 3,57% so với cuối năm 2024. Tổng dư nợ toàn tỉnh đạt 110.525 tỷ đồng, tăng 4.086 tỷ, tăng 3,84% so với cuối năm 2024. Ước tính đến cuối tháng 6/2025 vốn huy động đạt 113.088 tỷ đồng, tăng 5,56% so với cuối năm 2024; tổng dư nợ toàn tỉnh đạt 112.477 tỷ đồng, tăng 5,67% so với cuối năm 2024. Nợ xấu: cuối tháng 5/2025, tỷ lệ nợ xấu 1,97%, tăng 0,18% so với cuối năm 2024. Quỹ tín dụng nhân dân: đến cuối 5/2025, tổng nguồn vốn huy động đạt 1.608 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 6,58 % so với cuối năm 2024; Tổng dư nợ cho vay đạt 1.294 tỷ đồng, giảm 0,01%, tỷ lệ nợ xấu 0,45% so với cuối năm 2024. 3. Giá cả, lạm phát: Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6/2025 tăng 0,54% (khu vực thành thị tăng 0,61%; khu vực nông thôn tăng 0,53%) so tháng 5/2025, tăng 2,79% so tháng 6/2024. Bình quân 6 tháng đầu năm 2025 tăng 2,93% so cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 11 nhóm tăng so tháng 5/2025: hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,2% (trong đó: thực phẩm tăng 0,26%, ăn uống ngoài gia đình tăng 0,52% và lương thực giảm 0,6%); đồ uống và thuốc lá tăng 0,25%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,14%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,38%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,08%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%; giao thông tăng 1,85%; bưu chính viễn thông tăng 0,02%; giáo dục tăng 0,01%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,18% và hàng hóa dịch vụ khác tăng 0,15%. Một số nhóm hàng có chỉ số giá tăng trong 6 tháng năm 2025 so cùng kỳ : Chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,26%, tác động làm CPI chung tăng 1,11 điểm phần trăm, trong đó chỉ số giá nhóm thịt lợn tăng 12,37% do nguồn cung hạn chế trong khi nhu cầu tiêu dùng tăng cao trong các dịp Lễ, Tết, tác động làm CPI chung tăng 0,37 điểm phần trăm; chỉ số giá thực phẩm tăng 3,38%, tác động làm CPI chung tăng 0,71 điểm phần trăm. Chỉ số giá nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,53%, làm CPI chung tăng 0,67 điểm phần trăm. Trong đó, giá nhà ở thuê tăng 3,97%, tác động làm CPI chung tăng 0,35 điểm phần trăm; giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 2,31%, tác động tăng 0,09 điểm phần trăm; giá nhóm sửa chữa nhà ở tăng 2%, tác động tăng 0,02 điểm phần trăm; giá nhóm điện sinh hoạt tăng 4,65%, tác động tăng 0,13 điểm phần trăm; giá nhóm nước sinh hoạt tăng 4,31%, tác động tăng 0,04 điểm phần trăm. Chỉ số giá nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 10,77%, làm CPI chung tăng 0,6 điểm phần trăm do giá dịch vụ y tế được điều chỉnh theo Thông tư số 21/2024/TT-BYT ngày 17/10/2024 của Bộ Y tế. Một số nhóm hàng có chỉ số giá giảm trong 6 tháng năm 2025 so cùng kỳ Chỉ số nhóm giao thông giảm 4,71%, góp phần làm CPI chung giảm 0,43 điểm phần trăm, trong đó giá xăng giảm 12,59%, giá dầu giảm 10,53%. Bên cạnh đó, cũng có một số mặt hàng tăng giá như: bảo dưỡng phương tiện đi lại tăng 6,24%; dịch vụ rửa, bơm xe tăng 4,07%... Chỉ số giá vàng 24 kara Ngọc Thẩm trong tháng 6/2025 giảm 0,87% so tháng trước, giá vàng bình quân 11.487 ngàn đồng/chỉ, tăng 3.939 ngàn đồng/chỉ so cùng kỳ. Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng 6/2025 giảm 0,54% so tháng trước, giá bình quân 26.342 đồng/USD, tăng 876 đồng/USD so cùng kỳ. 4. Đầu tư và Xây dựng: Ước 6 tháng đầu năm 2025, vốn đầu tư toàn xã hội ước thực hiện 22.261 tỷ đồng, đạt 41% kế hoạch, tăng 12,6% so cùng kỳ; trong đó: vốn đầu tư của dân cư và tư nhân 14.086 tỷ đồng, tăng 17,9%, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 2.371 tỷ đồng, tăng 11,9%, vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước 5.804 tỷ đồng, tăng 1,6% so cùng kỳ. Ước 6 tháng đầu năm 2025, vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý là 2.567 tỷ đồng, đạt 44,7% kế hoạch, tăng 18,3% so cùng kỳ; gồm có: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 2.184 tỷ đồng, tăng 31,7%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện 338 tỷ đồng, bằng 75,9%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 45 tỷ đồng, bằng 68,7% so cùng kỳ. Kết quả thực hiện một số dự án trọng điểm từ nguồn vốn ngân sách trên địa bàn tỉnh. Hình 1. Vốn đầu tư toàn xã hội 6 tháng đầu năm 2025 5. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp: Theo số liệu báo cáo của sở Tài Chính, trong 6 tháng đầu năm 2025 dự tính có 528 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 16,1% so cùng kỳ và đạt 58% kế hoạch. Tổng vốn đăng ký mới 3.219,6 tỷ đồng, tăng 7,7% so cùng kỳ. Vốn đăng ký bình quân một doạnh nghiệp trong 6 tháng đầu năm 2025 là 6,1 tỷ đồng/doanh nghiệp. Có 565 đơn vị trực thuộc của doanh nghiệp (chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh) thành lập mới, tăng 37,8% so cùng kỳ. Ngoài ra, còn có 157 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động. Có 63 doanh nghiệp hoàn tất giải thể, giảm 10% so cùng kỳ và có 266 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn. Như vậy, trong 6 tháng đầu năm 2025, số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động tăng 2,1 lần so với số doanh nghiệp giải thể và tạm ngừng kinh doanh. Đến cuối tháng 6/2025, toàn tỉnh có khoảng 6.653 doanh nghiệp đang hoạt động. 6. Sản xuất nông - lâm nghiệp và thủy sản: a. Nông nghiệp: Mùa khô năm 2024–2025, xâm nhập mặn trên địa bàn tỉnh xuất hiện sớm hơn trung bình nhiều năm khoảng 10 ngày, bắt đầu ảnh hưởng từ cuối tháng 12/2024 và kết thúc vào cuối tháng 5/2025. Tuy nhiên, mức độ xâm nhập mặn được đánh giá thấp hơn so cùng kỳ của các năm. Nhờ chủ động triển khai đồng bộ các giải pháp phòng, chống hạn mặn từ sớm, tỉnh đã kịp thời bảo vệ sản xuất nông nghiệp và ổn định đời sống người dân. Nhìn chung, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trong 6 tháng đầu năm vẫn duy trì ổn định và có bước phát triển tích cực. Cây trồng sinh trưởng tốt, các loại sâu bệnh gây hại xuất hiện ở mức thấp đến trung bình nhờ người dân chủ động theo dõi thông tin dự báo dịch hại và thực hiện các biện pháp phòng trừ kịp thời. Trong chăn nuôi, một số địa phương vẫn phát sinh dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm (như viêm da nổi cục, dịch tả lợn châu Phi…), song đã được ngành chức năng kiểm soát hiệu quả, không để lây lan diện rộng. Hoạt động nuôi trồng và khai thác thủy sản tiếp tục đạt được kết quả khả quan so với cùng kỳ năm trước, góp phần quan trọng vào tăng trưởng ngành nông nghiệp của tỉnh. * Trồng trọt: Cây lương thực có hạt: diện tích gieo trồng cộng dồn từ đầu vụ sản xuất là 100.461 ha, giảm 4,1% so cùng kỳ, tương ứng giảm 4.291 ha; sản lượng ước đạt 291.653 tấn, giảm 8,6%, tương ứng giảm 27.472 tấn. Trong đó cây lúa gieo sạ 98.870 ha, giảm 4,3% so cùng kỳ; sản lượng thu hoạch ước đạt 287.369, giảm 8,8%, cụ thể: - Cây lúa: + Vụ Đông xuân 2024 – 2025: diện tích gieo trồng chính thức 42.513 ha, đạt 103,7% kế hoạch (kế hoạch 41.000 ha) và giảm 5,3% so cùng kỳ, tương ứng giảm 2.369 ha do chuyển đổi sang cây lâu năm 2.286 ha, cây hàng năm khác 116 ha, đất phi nông nghiệp là 44 ha, nuôi trồng thủy sản 33 ha, không sản xuất 15 ha và tăng 125 ha từ diện tích cây hằng năm khác.Thu hoạch 100% diện tích với năng suất thu hoạch bình quân cả vụ ước đạt 67,6 tạ/ha, tương ứng giảm 2,6 tạ/ha so cùng kỳ; Sản lượng thu hoạch ước cả vụ đạt 287.369 tấn, giảm 8,8% so cùng kỳ, tương ứng giảm 27.662 tấn. Nguyên nhân do diện tích gieo trồng và năng suất bình quân đều giảm. + Vụ Hè thu (gồm vụ Xuân hè + Hè thu): trong tháng, gieo sạ được 29.778 ha lúa Hè Thu tính đến ngày 20/6, nâng tổng diện tích gieo sạ của vụ lên 56.357 ha. Diện tích chủ yếu tập trung tại các huyện như: Cai Lậy 11.051 ha, Tân Phước 10.215 ha, Gò Công Đông 8.869 ha, Cái Bè 8.592 ha, Gò Công Tây 7.800 ha,… mùa mưa năm nay bắt đầu từ trung tuần tháng 5, người dân được khuyến cáo thận trọng trong việc xuống giống, nhất là những khu vực chưa đảm bảo điều kiện sản xuất. Việc bố trí thời điểm gieo sạ phù hợp, đặc biệt ở các khu vực cuối nguồn hoặc vùng trũng thấp, sẽ góp phần giảm thiểu rủi ro, bảo vệ năng suất và hiệu quả sản xuất của cả vụ. Hình 2. Diện tích gieo trồng lúa và hoa màu tính đến 20/6/2025 - Cây ngô: diện tích gieo trồng cộng dồn từ đầu vụ sản xuất là 1.591 ha, tăng 12,9%, tương ứng tăng 181 ha. Ước tính sản lượng thu hoạch ước đạt 4.284 tấn, tăng 4,6% so cùng kỳ, tương ứng tăng 190 tấn. Ngô là cây trồng ngắn ngày, kỹ thuật canh tác đơn giản, dễ chăm sóc và có thể trồng nhiều vụ trong năm. Bên cạnh giá trị kinh tế từ việc thu trái bán cho thương lái, cây ngô còn có lợi thế tận dụng tối đa phụ phẩm: thân, lá ngô sau thu hoạch là nguồn thức ăn giàu dinh dưỡng cho gia súc như trâu, bò…, góp phần giảm chi phí chăn nuôi và nâng cao hiệu quả kinh tế hộ gia đình. Cây rau đậu các loại: diện tích gieo trồng cộng dồn từ đầu vụ sản xuất là 40.178 ha, tăng 12,1% so cùng kỳ; trong đó: rau các loại 40.007 ha, tăng 12,2% so cùng kỳ. Sản lượng thu hoạch ước đạt 494.832 tấn, tăng 9,3% so cùng kỳ; trong đó: rau các loại ước đạt 494.446 tấn, tăng 9,3% so cùng kỳ. Diện tích rau màu trên địa bàn tỉnh tiếp tục tăng, chủ yếu do nông dân chuyển đổi từ những diện tích đất trồng cây kém hiệu quả, đặc biệt là các vùng không đủ điều kiện sản xuất lúa. Nhờ lợi thế đất đai màu mỡ và thời tiết thuận lợi, nông dân đã tích cực ứng dụng mô hình trồng xen canh, gối vụ nhằm tối ưu hóa hiệu quả sử dụng đất, tập trung vào các loại rau, củ, quả có giá trị kinh tế cao, dễ tiêu thụ như: rau muống, bầu, mướp, bí xanh, mướp đắng, dưa leo, cải các loại, hành lá, dưa hấu và một số loại rau ngắn ngày khác. Rau màu cơ bản phát triển tốt, ít sâu bệnh hơn cùng kỳ năm trước. Thời gian sinh trưởng ngắn (30–40 ngày), kết hợp với thị trường tiêu thụ thuận lợi, dù giá bán có giảm nhẹ so với cùng kỳ nhưng nông dân vẫn đảm bảo thu lãi từ 25–40 triệu đồng/ha tùy thời điểm, góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống. Tình hình sâu, bệnh gây hại trên rau màu được kiểm soát hiệu quả, diện tích bị ảnh hưởng không đáng kể, cây trồng sinh trưởng bình thường, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất rau màu phát triển ổn định. Cây lâu năm: Tổng diện tích gieo trồng cây lâu năm trên toàn tỉnh ước đạt 113.370 ha, đạt 101,3% kế hoạch năm, tăng 3,9% so với cùng kỳ năm trước (tương ứng tăng 4.263 ha). Trong đó, diện tích cây ăn quả chiếm tỷ trọng lớn với 88.475 ha, tương đương 78% tổng diện tích cây lâu năm, tăng 3,5% so cùng kỳ. Tổng sản lượng thu hoạch cây lâu năm toàn tỉnh ước đạt 1.194.678 tấn, đạt 54% kế hoạch năm, tăng 9% so với cùng kỳ (tăng 98.827 tấn). Trong đó, tổng sản lượng thu hoạch cây ăn quả ước đạt 990.444 tấn, tăng 7,7% so cùng kỳ, tương ứng tăng 70.542 tấn. Sự gia tăng sản lượng này phản ánh hiệu quả của việc mở rộng diện tích, cải thiện kỹ thuật canh tác, và đầu tư thâm canh ngày càng cao của người dân. *Chăn nuôi: ước thời điểm 30/6/2025 tổng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh như sau: đàn bò 120,5 ngàn con, tăng 0,4% so cùng kỳ; đàn lợn 340 ngàn con, tăng 17,2%; đàn gia cầm 16,9 triệu con, tăng 8,3%. Hình 3. Chăn nuôi tại thời điểm 30/6/2025 *Tình hình dịch bệnh trên vật nuôi: theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Tiền Giang: Bệnh cúm gia cầm: trong tháng không phát sinh. Sáu tháng đầu năm 2025, phát hiện 3 hộ chăn nuôi tại 2 xã thuộc huyện Tân Phước và Gò Công Tây có gà nhiễm vi rút cúm A/H5N1 với tổng số 6.161 con mắc bệnh trên tổng đàn 7.200 con. Toàn bộ số gia cầm đã được tiêu hủy theo đúng quy định nhằm ngăn chặn nguy cơ lây lan. Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: trong tháng, phát hiện 5 hộ tại 5 xã thuộc 2 huyện với tổng số 211 con lợn mắc bệnh. Sáu tháng đầu năm 2025, toàn tỉnh có 331 con lợn bệnh/14 hộ tại 11 xã thuộc 6 địa phương gồm Gò Công Tây, Chợ Gạo, Tân Phước, Châu Thành, Cái Bè và TX. Cai Lậy; tổng số lợn bị tiêu hủy là 331 con, tương đương 11.433 kg. Bệnh viêm da nổi cục: trong tháng không phát sinh. Sáu tháng đầu năm 2025, có 2 hộ nuôi bò với tổng đàn 9 con (trong đó có 3 con mắc bệnh) tại 2 xã thuộc huyện Cái Bè và Chợ Gạo. Đã tiêu hủy 1 con bò bị bệnh (215 kg) tại huyện Cái Bè. Bệnh lở mồm long móng: trong tháng không phát sinh, toàn tỉnh có 01 con lợn bệnh tại cơ sở giết mổ ở xã Hậu Mỹ Bắc A, huyện Cái Bè. Đã tiêu hủy lợn bệnh với khối lượng 110 kg. b. Lâm nghiệp: Tổng diện tích đất có rừng trên địa bàn tỉnh là 1.549,6 ha (không bao gồm diện tích rừng thuộc đất an ninh quốc phòng), trong đó rừng phòng hộ 1.317,4 ha (huyện Gò Công Đông 379,6 ha; huyện Tân Phú Đông 884,2 ha và huyện Tân Phước 53,6 ha), rừng sản xuất 232,2 ha. Cây phân tán: ước 6 tháng đầu năm thực hiện trồng mới 104,4 ngàn cây, giảm 18,6% so cùng kỳ, tương ứng giảm 23,2 ngàn cây, được trồng cặp ranh, kênh, trồng trên những tuyến đường đi, đường giao thông mới mở, nâng cấp ở huyện Cai Lậy, Chợ Gạo và Gò Công Tây. Khai thác gỗ: sản lượng gỗ khai thác trong 6 tháng đầu năm ước đạt 17.484,7 m3, tăng 14,4% so cùng kỳ, tương ứng tăng 2.202,2 m3; sản lượng gỗ khai thác chủ yếu từ các loại cây như: bạch đàn cao sản, dầu gió, tràm lanh. Khai thác củi: sản lượng củi khai thác 6 tháng đầu năm 2025 ước đạt 29.692 ste củi các loại, giảm 54,6% so cùng kỳ; khai thác chủ yếu một số cây ăn quả đã già, cỗi không cho trái, cho trái ít. c. Thủy hải sản: Những năm gần đây, ngành thủy sản tỉnh Tiền Giang có bước phát triển mạnh mẽ, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm và nâng cao đời sống người dân, đặc biệt là khu vực ven biển. Diện tích nuôi trồng không ngừng mở rộng, sản lượng tăng cao. Trong đó, mô hình nuôi hàu tại vùng ven biển huyện Gò Công Đông tiếp tục được duy trì và mở rộng. Hiện có khoảng 597,8 ha mặt nước với 73 hộ tham gia nuôi. Sản lượng thu hoạch lũy kế ước đạt 170 tấn trên diện tích 34 ha, giá bán bình quân đạt 27.500 đồng/kg. Khi toàn bộ diện tích vào thời điểm thu hoạch, sản lượng dự kiến đạt từ 1.500–2.000 tấn/năm. Tuy nhiên, do chưa được cấp phép chính thức, công tác quản lý còn gặp nhiều khó khăn, nhất là việc tiếp cận thông tin và hộ nuôi. Địa phương đã triển khai Kế hoạch số 310/KH-UBND ngày 21/8/2024 về phát triển nuôi biển đến năm 2030 nhằm định hướng phát triển lâu dài, hiệu quả và đúng quy định. Sản lượng thủy sản trong quý II/2025 ước đạt 106.180 tấn, tăng 8,2% so cùng kỳ; trong đó: sản lượng thu hoạch từ nuôi 65.501 tấn, tăng 10,4%; sản lượng khai thác 40.679 tấn, tăng 4,8%. Tính chung sản lượng thủy sản 6 tháng đầu năm 2025 ước đạt 168.617 tấn, tăng 7,5% so cùng kỳ; trong đó: sản lượng thu hoạch từ nuôi 105.391 tấn, tăng 7,0%; sản lượng khai thác 63.226 tấn, tăng 8,3%. Kết quả khả quan này nhờ điều kiện thời tiết thuận lợi, ít ảnh hưởng bởi bão và áp thấp nhiệt đới, tạo điều kiện cho tàu cá hoạt động hiệu quả; các ngư trường dồi dào nguồn lợi, thủy sản nuôi sinh trưởng tốt, ít dịch bệnh, năng suất cao. d. Nông thôn mới: Trong 6 tháng đầu năm 2025, dự kiến có thêm 05 xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao và 05 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu; Ngày 13/6, UBND tỉnh Tiền Giang tổ chức lễ công bố Quyết định của Thủ tướng Chính phủ công nhận tỉnh Tiền Giang hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới năm 2024 (Theo Quyết định số 1038/QĐ-TTg ngày 30/5/2025). Toàn tỉnh có 135/135 xã (đạt 100%) số xã trên địa bàn tỉnh được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới; trong đó, có 73 xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao (đạt 54,1%); 19 xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu (đạt 14,1%); 03/03 đô thị hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới; 08/08 huyện đạt chuẩn huyện nông thôn mới và 02/08 huyện đạt chuẩn huyện nông thôn mới nâng cao. Tất cả các xã, huyện, thị, thành đã được công nhận đều đảm bảo đạt chuẩn theo Bộ Tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới các cấp giai đoạn 2021 – 2025. 7. Sản xuất công nghiệp: Chỉ số công nghiệp 6 tháng đầu năm 2025 tăng 16,13% so cùng kỳ; trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 17,29%; ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 2,61%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 14,22% so cùng kỳ. Hình 4. Chỉ số sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm 2025 Sản phẩm sản xuất công nghiệp 6 tháng năm 2025: Có 38/54 sản phẩm tăng so cùng kỳ: ống và ống dẫn bằng đồng tăng 18,7%; giày, dép thể thao có mũ bằng da và có đế ngoài tăng 18,4%; dây thép không gỉ tăng 17,5%; nước uống được tăng 15,5%; giày, dép thể thao có đế ngoài và mũ giày bằng cao su và plastic tăng 10,9%; các sản phẩm bằng vật liệu tết bện khác tăng 9,7%; bia đóng lon tăng 9%; dịch vụ sửa chữa, bảo dưỡng tàu, thuyền tăng 8,7%; cấu kiện làm sẵn cho xây dựng hoặc kỹ thuật dân dụng, bằng xi măng, bê tông hoặc đá nhân tạo tăng 8,6%; điện thương phẩm tăng 5,4%;… Có 16/54 sản phẩm giảm so cùng kỳ: các hàng dệt may đã hoàn thiện khác giảm 96,5%; máy gặt đập liên hợp giảm 83,3%; thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng viên giảm 62,9%; màn bằng vải khác giảm 53,5%; dịch vụ tiện các bộ phận kim loại giảm 14,4%; điện gió giảm 14,1%; thức ăn cho thủy sản giảm 10,6%; bia đóng chai giảm 8,6%; phi lê đông lạnh giảm 6%; thức ăn cho gia súc tăng 5,8%; cửa ra vào, cửa sổ bằng sắt, thép giảm 2,3%; bộ com lê, quần áo đồng bộ, áo jacket, quần dài, quần yếm, quần soóc cho người lớn dệt kim hoặc đan móc giảm 0,7%;… * Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: - Chỉ số tiêu thụ tháng 6/2025 so với tháng trước tăng 2,33% và tăng 15,99% so cùng kỳ. Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cộng dồn từ đầu năm đến cuối tháng 6 năm 2025 tăng 19,65%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao: sản xuất đồ uống tăng 2,54%, trong đó sản xuất bia tăng 2,54%; dệt tăng 11,7%; sản xuất trang phục tăng 28,77%; sản xuất da tăng 12,95%, trong đó sản xuất vali, túi xách… tăng 22,57%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ tăng 11,07%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 40,52%; sản xuất kim loại tăng 47,26%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 4,03%; sản xuất thiết bị điện tăng 15,6%, trong đó sản xuất dây cáp, dây điện và điện tử khác tăng 13,48%;… Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm so cùng kỳ là: sản xuất chế biến thực phẩm giảm 10,59%, trong đó sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thuỷ sản giảm 14,6%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu giảm 54,27%; sản xuất sản phẩm cao su và plastic giảm 4,04%;… - Chỉ số tồn kho tháng 6/2025 so với tháng trước tăng 26,89% và giảm 8,56% so với cùng kỳ. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so với cùng kỳ là: sản xuất trang phục tăng 3,56%; sản xuất da tăng 45,33%, trong đó sản xuất giày dép tăng 39%; sản xuất kim loại tăng 15,14%; sản xuất thiết bị điện tăng 58,68%, trong đó sản xuất mô tơ điện tăng 58,77%;…. Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tồn kho giảm so cùng kỳ là: sản xuất chế biến thực phẩm giảm 28,51%, trong đó chế biến, bảo quản thuỷ sản và các sản phẩm từ thuỷ sản giảm 49,69%; dệt giảm 39,36%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu giảm 58,31%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 0,31%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẳn giảm 58,98%;… 8. Thương mại, dịch vụ: a. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng: Hoạt động thương mại trên địa bàn tỉnh diễn ra ổn định, lượng hàng hóa cung ứng cho thị trường dồi dào, các đơn vị phân phối lớn đã chủ động dự trữ hàng hóa thiết yếu và hàng hóa khác phục vụ nhu cầu mua sắm của người dân trong dịp lễ, Tết. Giá cả thị trường được kiểm soát, mặc dù một vài mặt hàng có tăng hoặc giảm giá nhưng ở mức biến độ không lớn. Sáu tháng đầu năm 2025, tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng 47.422 tỷ đồng, đạt 49,1% kế hoạch, tăng 10,5% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 36.312 tỷ đồng, tăng 8,8%; lưu trú, ăn uống 4.769 tỷ đồng, tăng 19,4%; du lịch lữ hành 122 tỷ đồng, tăng 16,8%; dịch vụ tiêu dùng 6.219 tỷ đồng, tăng 14,3% so cùng kỳ. Hình 5. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng b. Xuất - Nhập khẩu: (Theo báo cáo Sở Công Thương) Tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gây gắt hơn; xung đột Nga - Ucraina tiếp tục kéo dài, đặc biệt là xung đột tại Biển Đỏ, dải Gaza leo thang gia tăng rủi ro với an toàn hàng hải. Các hãng vận tải biển tăng giá cước vận tải nhằm đắp chi phí gia tăng do chuyển hướng tàu khỏi Biển Đỏ đã ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng hàng hóa xuất khẩu của doanh nghiệp. Do đó xuất khẩu đối mặt với các thách thức, nhưng nhờ các biện pháp tích cực và đồng bộ nhằm tháo gỡ khó khăn để hỗ trợ sản xuất trong nước, xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường trong nước và xuất khẩu được triển khai mạnh mẽ nên hoạt động xuất, nhập khẩu trên địa bàn tỉnh đạt được kết quả như sau: * Xuất khẩu: Giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng hóa có nhiều khởi sắc và đạt được nhiều kết quả tích cực. Hoạt động xuất khẩu của tỉnh trong quý I/2025 đạt 1,42 tỷ USD, tăng 3% so với cùng kỳ, Đầu quý II/2025, tình hình xuất khẩu gặp nhiều khó khăn khi Hoa Kỳ công bố áp thuế đối ứng với hàng hóa Việt Nam ở mức 46%. Tuy nhiên, hiện Hoa Kỳ hoãn áp dụng thuế đối ứng trong vòng 90 ngày đối với nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, cho nên tình hình xuất khẩu có nhiều khả quan hơn, do doanh nghiệp tranh thủ xuất trong thời gian này, dự tính quý II/2025 xuất đạt 1,9 tỷ USD tăng 14,9% so cùng kỳ. Hoạt động xuất khẩu trong 6 tháng đầu năm 2025 ước đạt 3,4 triệu USD, đạt 47,9% kế hoạch, tăng 9,5% so cùng kỳ, tăng chủ yếu các nhóm hàng công nghiệp chế biến chế tạo như: giày dép các loại; túi xách, ví, vali, mũ và ô dù; sản phẩm từ chất dẻo; xơ sợi dệt các loại,...; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 84,2%, tổng kim ngạch xuất khẩu. * Nhập khẩu: Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa 6 tháng đầu năm 2025 ước đạt 1,8 tỷ USD, đạt 50% kế hoạch, tăng 6,4% so cùng kỳ; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 93,8%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước chiếm 6,2%, trong tổng kim ngạch nhập khẩu. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu như: kim loại thường khác (kể cả nguyên liệu đồng) chiếm 50,96%; sắt thép các loại chiếm 14,47%; vải nguyên liệu chiếm 7,06%; nguyên phụ liệu dệt may, da giày, túi chiếm 7,45%; còn lại nguyên vật liệu (thức ăn gia súc, nguyên liệu dược phẩm, hạt nhựa…). c. Vận tải: Tiếp tục duy trì hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về vận tải trên địa bàn tỉnh. Thường xuyên tổ chức kiểm tra, giám sát các bến xe, các doanh nghiệp kinh doanh vận tải trong việc chấp hành các quy định của pháp luật về điều kiện kinh doanh vận tải và dịch vụ vận tải. Tình hình hoạt động các tuyến xe cố định trên địa bàn tỉnh tiếp tục được duy trì thông thoáng, đặc biệt các chủ cơ sở kinh doanh vận tải tự giác chấp hành tốt nội qui bến bãi, đã tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân đi lại và vận chuyển hàng hoá đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh, đồng thời góp phần hạn chế chống ùn tắc giao thông trong dịp lễ tết. Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải 6 tháng đầu năm 2025 thực hiện 1.689 tỷ đồng, tăng 14,3% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 382 tỷ đồng, tăng 15,3 % so cùng kỳ; vận tải hàng hóa thực hiện 1.020 tỷ đồng, tăng 15,4% so cùng kỳ. Vận tải đường bộ thực hiện 605 tỷ đồng, tăng 14,8%; vận tải đường thủy thực hiện 798 tỷ đồng, tăng 15,9%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 135 tỷ đồng, tăng 10% so cùng kỳ. Vận chuyển hành khách 6 tháng đầu năm 2025 đạt 11.141 ngàn hành khách, tăng 15,5% và luân chuyển 529.926 ngàn hành khách.km, tăng 15,1% so cùng kỳ; trong đó: vận chuyển đường bộ 5.612 ngàn hành khách, tăng 14,9% và luân chuyển 524.799 ngàn hành khách.km, tăng 15,1% so cùng kỳ; vận chuyển đường thủy 5.529 ngàn hành khách, tăng16,1% và luân chuyển 5.127 ngàn hành khách.km, tăng 15,7% so cùng kỳ. Vận tải hàng hóa 6 tháng đầu năm 2025 đạt 9.706 ngàn tấn, tăng 16,7% và luân chuyển 1.821.959 ngàn tấn.km, tăng 16,6% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ thực hiện 1.469 ngàn tấn, tăng 14,6% và luân chuyển được 162.681 ngàn tấn.km, tăng 11,8% so cùng kỳ; vận tải đường thủy thực hiện 8.237 ngàn tấn, tăng 17,1% và luân chuyển 1.659.278 ngàn tấn.km, tăng 17,1% so cùng kỳ. d. Du lịch: Trong những tháng đầu năm là thời điểm Tết Nguyên đán và nhiều ngày lễ như: Giỗ Tổ mùng 10/3, dịp Lễ kỷ niệm chiến thắng giải phóng miền Nam 30/4 và ngày Quốc tế lao động 1/5… nhiều hoạt động được tổ chức để phục vụ nhân dân trong các dịp lễ, tết và các sự kiện trọng đại của đất nước, địa phương, bên cạnh đó năm nay số ngày nghĩ dài nên hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Tiền Giang tăng so với cùng kỳ. Ước tính 6 tháng đầu năm 2025, ước lượng khách du lịch đến tỉnh 851 ngàn lượt, đạt 40,5% kế hoạch, tăng 5,3% so cùng kỳ; trong đó khách quốc tế 275 ngàn lượt, tăng 4,3%. Doanh thu hoạt động lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành 4.891tỷ đồng, tăng 19,3% so cùng kỳ; trong đó doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống chiếm 97,5%. e. Bưu chính viễn thông: Doanh thu bưu chính, viễn thông 6 tháng đầu năm 2025, đạt 1.807 tỷ đồng, tăng 7,5% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính 151 tỷ đồng, tăng 8,1%; doanh thu viễn thông 1.655 tỷ đồng, tăng 7,5%; Các doanh nghiệp bưu chính, viễn thông trên địa bàn tỉnh tiếp tục phát triển, không ngừng đầu tư nâng cấp phát triển mạng lưới, cung cấp nhiều loại hình dịch vụ phong phú, đa dạng … nhằm thu hút khách hàng tham gia sử dụng. Tổng số thuê bao điện thoại có trên mạng đến cuối tháng 6 năm 2025 là 130.256 thuê bao; thuê bao điện thoại bình quân đạt 7,25 thuê bao/100 dân (chỉ tính thuê bao cố định và di động trả sau). Tổng số thuê bao Internet trên mạng ước tính đến tháng 6 năm 2025 là 445.438 thuê bao; mật độ Internet bình quân ước đạt 24,8 thuê bao/100 dân. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Lao động, giải quyết việc làm: Tư vấn và giới thiệu việc làm: Tư vấn, giới thiệu việc làm 6 tháng đầu năm 2025: thực hiện tư vấn nghề, việc làm, pháp luật lao động và tư vấn khác cho 9.476 lượt lao động, giảm 16,3% so với cùng kỳ. Giới thiệu việc làm cho 1.762 lượt lao động, tăng 24,4% so với cùng kỳ, trong đó có 616 lao động có việc làm ổn định. Trong 6 tháng, tư vấn đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài cho 511 lượt lao động, tăng 7,4% so với cùng kỳ (có 02 lao động đăng ký tham gia đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài); có 232 lao động xuất cảnh đi làm việc ở nước ngoài, giảm 6,4% so cùng kỳ, đạt 42,2% kế hoạch năm. Trong đó: thị trường Nhật Bản chiếm đa số 181 lao động, tiếp đến là Đài Loan 33 lao động, Hàn Quốc 08 lao động và các thị trường khác. Đối với trợ cấp thất nghiệp, 6 tháng đầu năm có 7.585 hồ sơ lao động đăng ký hưởng trợ cấp, giảm 26,9% so với cùng kỳ; trong đó có 6.512 lao động đã được giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp, giảm 23% so cùng kỳ với tổng số tiền chi trả trên 146 tỷ đồng, giảm 29% so với cùng kỳ. Tính từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 01 vụ ngừng việc tập thể tại 01 doanh nghiệp (giảm 50% so với cùng kỳ) với 240 lao động. Được sự hướng dẫn của các sở, ngành, địa phương, doanh nghiệp đã tổ chức cuộc đối thoại với người lao động nên các vụ ngừng việc đã được giải quyết ổn thỏa và tình hình sản xuất đã hoạt động bình thường. Tình hình lao động thiếu việc làm và thất nghiệp: Tính chung 6 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ thiếu việc làm toàn tỉnh là 5,07%, giảm 2,12 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước (7,19%). Trong đó, khu vực thành thị là 6,38% (giảm 2,64 điểm phần trăm) và khu vực nông thôn là 4,42% (giảm 1,94 điểm phần trăm). Tỷ lệ thất nghiệp của tỉnh 6 tháng đầu năm là 1,05%, giảm 0,31 điểm phần trăm so với cùng kỳ (1,36%); riêng khu vực thành thị là 1,90% (giảm 0,64 điểm phần trăm) và khu vực nông thôn là 0,62% (giảm 0,19 điểm phần trăm). Tỷ trọng lao động thất nghiệp ở khu vực thành thị chiếm 41,77% trong tổng số người thất nghiệp toàn tỉnh. 2. Đời sống dân cư và an sinh xã hội: a. Đời sống dân cư: Trong 6 tháng đầu năm 2025, tình hình xâm nhập mặn mùa khô tuy vẫn xuất hiện nhưng mức độ xâm nhập mặn thấp hơn năm 2016 và năm 2024, nhờ vào sự chủ động, quyết liệt của tỉnh trong công tác phòng, chống hạn mặn từ sớm, từ xa, các giải pháp như điều tiết nước hợp lý, đóng mở cống linh hoạt, trữ ngọt trong nội đồng và vận hành hệ thống thủy lợi đã phát huy hiệu quả, góp phần bảo vệ sản xuất nông nghiệp, duy trì ổn định đời sống người dân. Giá cả các mặt hàng thiết yếu cơ bản ổn định, đảm bảo nhu cầu tiêu dùng của người dân, các chương trình bình ổn thị trường, hỗ trợ tiêu dùng, nhất là dịp Tết Nguyên đán, đã phát huy hiệu quả, góp phần giữ ổn định mức sống người dân, nhất là nhóm hộ thu nhập trung bình và thấp. Chất lượng dịch vụ y tế và giáo dục tiếp tục được nâng cao. Các cơ sở y tế chú trọng nâng cao năng lực khám – chữa bệnh, cải thiện điều kiện cơ sở vật chất, triển khai các biện pháp phòng ngừa dịch bệnh theo mùa. Công tác tuyên truyền phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm như sốt xuất huyết, tay chân miệng được đẩy mạnh, đặc biệt trong mùa cao điểm, tạo sự an tâm cho người dân trong sinh hoạt, học tập và sản xuất. Bên cạnh đó, tình hình đời sống người lao động tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Tiền Giang tiếp tục có nhiều chuyển biến tích cực, phản ánh qua mức thu nhập tăng, thưởng Tết cải thiện và nhu cầu lao động tăng cao. Cụ thể, theo báo cáo từ 113 doanh nghiệp đang hoạt động với tổng số 104.641 lao động, trong đó lao động tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) chiếm tỷ lệ 84,67% (tương ứng 88.609 người), mức lương thực nhận bình quân của người lao động trong năm 2024 đạt 9,026 triệu đồng/người/tháng, bao gồm lương, phụ cấp và các khoản bổ sung khác theo quy định. So với năm 2023, mức lương bình quân đã tăng 5,06%, cho thấy xu hướng cải thiện thu nhập ổn định. Trong đó, mức lương cơ bản (chưa bao gồm phụ cấp, thưởng…) đạt 6,847 triệu đồng/người/tháng, tăng 6,26% so với năm trước.Mức thưởng Tết cũng ghi nhận nhiều điểm sáng:+ Thưởng Tết Dương lịch năm 2025 (thống kê từ 48 doanh nghiệp, 22.401 lao động) đạt bình quân 1,818 triệu đồng/người. + Thưởng Tết Nguyên đán Ất Tỵ (thống kê từ 105 doanh nghiệp, 102.696 lao động) đạt bình quân 8,160 triệu đồng/người, tương đương 1 tháng thu nhập, tăng 9,15% so với Tết Giáp Thìn năm trước. Điều này thể hiện nỗ lực của doanh nghiệp trong việc chăm lo đời sống tinh thần cho người lao động, dù vẫn còn không ít khó khăn trong sản xuất, kinh doanh. Tính đến ngày 10/6/2025, lực lượng lao động tại các khu công nghiệp (KCN) trong tỉnh đạt 91.555 người (trong đó 1.299 lao động người nước ngoài), tăng thêm 4.813 lao động so với cùng kỳ năm trước. Phân bố cụ thể như: KCN Mỹ Tho: 5.447 lao động (23 người nước ngoài); KCN Tân Hương: 54.724 lao động (383 người nước ngoài); KCN Long Giang: 31.147 lao động (893 người nước ngoài); KCN Dầu khí Soài Rạp: 237 lao động. Hiện nay, nhiều doanh nghiệp đang tăng tốc sản xuất để đáp ứng đơn hàng xuất khẩu, kéo theo nhu cầu tuyển dụng lao động lớn trong 6 tháng cuối năm 2025. Ước tính có khoảng 4.831 vị trí cần tuyển, tập trung ở các ngành như may mặc, giày da, điện tử, cơ khí, sản xuất lốp xe… Các doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng lớn gồm: Công ty TNHH Giày Apache Việt Nam, Công ty TNHH Lốp Advance Việt Nam, Công ty TNHH Túi xách Simone Việt Nam TG, Công ty TNHH Hansae TG,... b. An sinh xã hội: Chính sách an sinh xã hội tiếp tục được thực hiện tốt, tạo điều kiện cho xã hội được phát triển bền vững trong 6 tháng đầu năm 2025. Đặc biệt, dịp Tết Nguyên đán Ất Tỵ, tỉnh đã triển khai đồng loạt các hoạt động chăm lo đời sống người có công, hộ nghèo, người cao tuổi, gia đình chính sách với quy mô rộng khắp: Tổ chức tặng quà Tết Nguyên đán Ất Tỵ năm 2025:  - Thăm, tặng quà, trợ cấp người có công với cách mạng: trợ cấp của tỉnh cho 70.973 người có công với tổng số tiền trên 28,1 tỷ đồng (kinh phí địa phương) và tặng quà của Chủ tịch nước cho 37.299 người có công với tổng số tiền 11,3 tỷ đồng (kinh phí Trung ương).  - Thăm, tặng quà, trợ cấp người cao tuổi, hộ nghèo và thăm các đơn vị tập trung (kinh phí địa phương): + Tặng quà người cao tuổi: 172 người (100 tuổi) với số tiền 357,8 triệu đồng; 1.591 người (90 tuổi) với số tiền 1,9 tỷ đồng. + Trợ cấp hộ nghèo cho 4.035 hộ nghèo với tổng số tiền 2 tỷ đồng. + Thăm hộ gia đình chính sách và đơn vị với tổng số tiền 811,8 triệu đồng. + Riêng 19 suất quà cho gia đình quân nhân đang làm nhiệm vụ tại Trường Sa, mức 2 triệu đồng/hộ, kèm túi quà 1triệu đồng/phần. + Tổ chức bữa ăn cho trại viên, học viên các đơn vị (Cơ sở Cai nghiện ma túy, Trung tâm Công tác Xã hội, Hội Người mù) cho 2.030 người với tổng số tiền 246 triệu đồng. Bên cạnh đó, tỉnh đã triển khai hỗ trợ xây mới, sửa chữa nhà tạm, nhà dột nát cho 608 hộ gia đình đủ điều kiện (trong đó: xây mới 370 căn, sửa chữa 238 căn), hoàn thành trong tháng 6; bao gồm: 136 căn cho hộ gia đình người có công, thân nhân liệt sĩ; 472 căn cho hộ gia đình nghèo, cận nghèo, góp phần ổn định chỗ ở, nâng cao chất lượng sống cho người dân. 3. Hoạt động giáo dục: Trong 6 tháng đầu năm 2025, công tác giáo dục và đào tạo trên địa bàn tỉnh tiếp tục được triển khai nghiêm túc, hiệu quả, bám sát kế hoạch năm học và các mục tiêu phát triển toàn diện học sinh. Ngay sau khi tổ chức thành công Kỳ thi tuyển sinh lớp 10 vào các ngày 04, 05 và 06/6/2025, các trường trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh đã nhanh chóng chuyển trọng tâm sang công tác chuẩn bị cho Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2025, diễn ra từ ngày 25 đến 28/6/2025. Bên cạnh việc chuẩn bị đầy đủ cơ sở vật chất, các trường đặc biệt chú trọng công tác ôn tập, hỗ trợ học sinh lớp 12, nhất là những em có học lực yếu, nhằm nâng cao chất lượng tốt nghiệp và tạo đà thuận lợi cho học sinh bước vào giai đoạn tiếp theo. Trong kỳ thi tuyển sinh lớp 10 năm học 2025–2026, toàn tỉnh có hơn 15.000 thí sinh tham gia tại 33 Hội đồng thi. Kết quả bước đầu cho thấy chất lượng bài thi tương đối cao, phản ánh tốt năng lực học sinh theo định hướng Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Trong đó, Môn Ngữ văn: 12.969 thí sinh đạt điểm trên trung bình (chiếm 86,06%), có 01 điểm 10. Môn Tiếng Anh: 9.588 thí sinh trên trung bình (chiếm 63,64%), có 221 điểm 10. Môn Toán: 10.530 thí sinh trên trung bình (chiếm 69,89%), có 224 điểm 10. Tại Kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia trung học phổ thông năm học 2024 - 2025, Tiền Giang có 44/90 thí sinh đạt giải trên tất cả 9/9 dự môn thi, trong đó: giải Nhì 06 thí sinh (tăng 02 giải so với năm học 2023-2024), giải Ba 13 thí sinh (tăng 01 giải), giải Khuyến khích 25 thí sinh (giảm 05 giải). Với kết quả này, tỉnh xếp thứ 3/13 tỉnh, thành phố khu vực Đồng bằng sông Cửu Long về số lượng giải đạt được, cho thấy sự ổn định về chất lượng đào tạo trong khu vực. Tổ chức kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh THPT năm học 2024 – 2025 khóa ngày 11/02/2025 với 1.727 thí sinh dự thi của 37 đơn vị dự thi. Kết quả có 607 thí sinh đạt giải, tỷ lệ 35,15%. Trong đó, đạt giải Nhất: 23 thí sinh (tỷ lệ 1,33%); giải Nhì: 146 thí sinh (tỷ lệ 8,45%); giải Ba: 185 thí sinh (tỷ lệ 10,71%); Khuyến khích: 253 thí sinh (tỷ lệ 14,65%). Các trường có nhiều học sinh đạt giải gồm: THPT Chuyên 133 giải, THPT Nguyễn Đình Chiểu 56 giải, THPT Chợ Gạo 51 giải, THPT Cái Bè 40 giải. Bên cạnh các kỳ thi học thuật, Cuộc thi Khoa học kỹ thuật cấp tỉnh dành cho học sinh trung học năm học 2024 – 2025 được tổ chức từ ngày 03 đến 15/01/2025, thu hút 86 dự án dự thi. Ban tổ chức đã trao 42 giải, gồm: 04 giải nhất; 08 giải nhì; 12 giải ba và 18 giải khuyến khích. Đồng thời, tuyển chọn 03 dự án tiêu biểu tham gia Cuộc thi Khoa học kỹ thuật cấp quốc gia, tổ chức tại TP. Hồ Chí Minh từ ngày 19 đến 21/3/2025. 4. Hoạt động y tế: Hoạt động chăm sóc sức khỏe nhân dân trên địa bàn tỉnh trong 6 tháng đầu năm 2025 tiếp tục được duy trì ổn định. Mạng lưới y tế cơ sở được đầu tư mở rộng, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận dịch vụ y tế chất lượng. Hệ thống trang thiết bị, máy móc y tế cơ bản đáp ứng yêu cầu khám, chữa bệnh và được khai thác hiệu quả. Công tác giám sát, phát hiện và xử lý dịch bệnh được triển khai chủ động, kịp thời, góp phần khống chế không để dịch lây lan trong cộng đồng. Hoạt động truyền thông, tuyên truyền phòng, chống dịch tiếp tục được đẩy mạnh. Đến nay, tình hình dịch bệnh được kiểm soát tốt; các biện pháp ứng phó với dịch sốt xuất huyết được triển khai quyết liệt trong bối cảnh dịch có xu hướng gia tăng. Sáu tháng đầu năm 2025, có 11/44 bệnh truyền nhiễm được ghi nhận. So với cùng kỳ có 06 bệnh tăng (Sởi, Sốt xuất huyết Dengue, Thương hàn, Thủy đậu, Tiêu chảy, Viêm gan vi rút C); 08 bệnh giảm (Bệnh do liên cầu lợn ở người, Ho gà, Lao phổi, Quai bị, Tay - chân - miệng, Uốn ván khác, Viêm gan vi rút B, Bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona); 30 bệnh tương đương hoặc không xảy ra ca mắc. Các bệnh truyền nhiễm trong 6 tháng đầu năm như: bệnh sốt xuất huyết 859 ca mắc, tăng 11,4%; bệnh tay - chân - miệng 1.097 ca, giảm 26,2%. Phòng chống HIV/AIDS trên địa bàn tỉnh tính đến nay là 7.214 người nhiễm HIV; 1.819 người chuyển sang AIDS; 1.387 người tử vong do AIDS.  Khám chữa bệnh trong 6 tháng đầu năm 2025 cho 2.231.877 lượt người, giảm 3,9% so cùng kỳ; trong đó, số người điều trị nội trú là 110.978 lượt người, giảm 0,6%. Công suất sử dụng giường bệnh bình quân trong tháng đạt 89,1%. 5. Hoạt động văn hóa - thể thao: Trong 6 tháng đầu năm 2025, các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao được tổ chức phong phú, thiết thực, góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho người dân, nhất là vào các dịp lễ, tết. Toàn tỉnh có 462.854/486.976 hộ đạt danh hiệu Gia đình văn hóa (95,04%); 1.004/1.005 ấp, khu phố đạt danh hiệu văn hóa (99,9%); 08/164 xã, phường, thị trấn được công nhận “xã, phường, thị trấn tiêu biểu” (4,88%) và 20/29 phường, thị trấn đạt chuẩn đô thị văn minh (68,97%). Về xây dựng nếp sống văn hóa nơi công cộng, toàn tỉnh có 71 chợ văn hóa, 18 công viên văn hóa, 967 con đường văn hóa và 575 cơ sở thờ tự văn hóa. a. Hoạt động văn hóa nghệ thuật: trong 6 tháng đầu năm, hoạt động văn hóa nghệ thuật diễn ra rộng khắp, sôi nổi với 40 buổi biểu diễn nghệ thuật, thu hút khoảng 57.550 lượt người xem; 4 buổi tuyên truyền lưu động (1.050 lượt người xem) và 37 buổi chiếu phim lưu động (4.550 lượt người xem). Hoạt động tuyên truyền cổ động trực quan được tăng cường với 790 cờ phướn, 15 pano, 45 ụ cờ và 6 lượt xe loa cổ động. Đặc biệt, chương trình nhạc nước tại Quảng trường Hùng Vương tổ chức 79 suất, phục vụ khoảng 88.910 lượt người. Trong dịp Tết Nguyên đán Ất Tỵ, Tiền Giang có 8 địa phương trong tỉnh đăng ký tổ chức bắn pháo hoa đêm giao thừa Tết Nguyên đán Ất Tỵ năm 2025, gồm có: thành phố Mỹ Tho, thành phố Gò Công, Thị xã Cai Lậy, huyện Cái Bè, huyện Chợ Gạo, huyện Gò Công Tây, huyện Gò Công Đông và huyện Tân Phú Đông. b. Hoạt động thư viện: trong 6 tháng đầu năm, hoạt động thư viện tiếp tục được duy trì hiệu quả. Hội Báo Xuân Ất Tỵ được tổ chức tại Thư viện tỉnh và các trại giam Phước Hòa, Mỹ Phước. Nhiều hoạt động trưng bày sách theo chủ đề gắn với các ngày lễ lớn được triển khai. Mô hình “Cà phê sách” trong khuôn viên Thư viện thu hút 2.425 lượt bạn đọc. Tổng lượt bạn đọc tại Thư viện tỉnh trong 6 tháng đầu năm đạt 282.978 lượt, tăng 64% so với cùng kỳ; với 372.084 lượt sách báo lưu hành. c. Hoạt động bảo tàng: trong 6 tháng đầu năm, hoạt động bảo tàng tiếp tục có nhiều đổi mới về nội dung trưng bày, với 13 chuyên đề mới, như: Đảng Cộng sản Việt Nam - Những mùa xuân lịch sử, Tiền Giang - Nơi cuối nguồn Mekong, Kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước… Tổng lượt khách tham quan tại Bảo tàng và các di tích trực thuộc trong 6 tháng đạt 270.947 lượt người. d. Hoạt động thể dục, thể thao: trong 6 tháng đầu năm, đạt được nhiều kết quả nổi bật. Tỉnh đăng cai tổ chức 2 giải thể thao cấp tỉnh và quốc gia; tham gia 26 giải đấu cấp quốc tế, quốc gia và khu vực, giành tổng cộng 74 huy chương (14 Vàng, 23 Bạc, 37 Đồng). Đáng chú ý, vận động viên Trần Dương Thiện Huy phá kỷ lục quốc gia lứa tuổi 14–15 ở nội dung 200m và 400m chân vịt đôi. Có 61 vận động viên được phong đẳng cấp, trong đó 27 vận động viên Kiện tướng, 34 Cấp 1 và 24 Cấp 2 quốc gia. 6. Tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội (theo báo cáo của ngành Công an): Tình hình an ninh trật tự trên địa bàn tỉnh trong 6 tháng đầu năm 2025 được đảm bảo nhất là trong dịp Tết Nguyên đán 2025, Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương, Lễ 30/4 và 01/5 năm 2025. Tội phạm về trật tự xã hội xảy ra 320 vụ, giảm 129 vụ so với cùng kỳ. Hậu quả làm chết 13 người, bị thương 74 người, tài sản thiệt hại khoảng 451,7 tỷ đồng. Cơ quan chức năng đã điều tra, khám phá 240 vụ (đạt 75%), bắt xử lý 508 đối tượng, đồng thời thu hồi tài sản trị giá khoảng 1,4 tỷ đồng. Về tội phạm ma túy, lực lượng chức năng đã phát hiện và xử lý 55 vụ (giảm 39 vụ so cùng kỳ) với 74 đối tượng (giảm 48 đối tượng) tàng trữ, vận chuyển, mua bán, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Ngoài ra, 776 đối tượng có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy cũng đã bị xử lý hành chính. 7. Trật tự an toàn giao thông (theo báo cáo ngành công an tỉnh, số liệu tính từ ngày 15/12/2024 đến 14/6/2025): Giao thông đường bộ: tai nạn giao thông trong tháng xảy ra 27 vụ tương đương so với tháng trước và tăng 05 vụ so cùng kỳ. Hậu quả làm chết 21 người (tương đương so với tháng trước và tăng 05 người so cùng kỳ) và bị thương 15 người (tăng 09 người so tháng trước và tăng 07 người so cùng kỳ). Cộng dồn đến tháng báo cáo, xảy ra 147 vụ (giảm 06 vụ so cùng kỳ); làm 112 người chết (tăng 05 người so cùng kỳ) và bị thương 60 người (giảm 17 người so cùng kỳ). Các nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông chủ yếu vẫn do ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông như: chuyển hướng không đúng quy định 5 vụ; đi không đúng phần đường, làn đường 4 vụ; đang điều tra 3 vụ; lỗi do người đi bộ 01 vụ; vượt không đảm bảo an toàn 01 vụ và nguyên khác 13 vụ. 8. Tình hình cháy nổ, môi trường và thiên tai: Cháy, nổ: trong 6 tháng đầu năm 2025, tình hình cháy, nổ trên địa bàn tỉnh được kiểm soát tốt hơn so với cùng kỳ. Toàn tỉnh ghi nhận 09 vụ cháy, giảm 03 vụ so với cùng kỳ. Tuy nhiên, số vụ cháy tuy giảm nhưng thiệt hại về người tăng, với 04 người tử vong (tăng 04 người). Tổng thiệt hại về tài sản ước tính trên 270 tỷ đồng. Lĩnh vực môi trường: trong tháng, cơ quan chức năng đã phát hiện và xử lý 10 vụ vi phạm môi trường, xử phạt với tổng số tiền trên 38,3 triệu đồng. Tính từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh ghi nhận 35 vụ vi phạm, giảm 27 vụ so với cùng kỳ, với tổng số tiền xử phạt trên 465 triệu đồng. Tình hình thiên tai: 6 tháng đầu năm 2025, trên địa bàn tỉnh xảy ra 02 cơn mưa giông, 02 cơn lốc xoáy; làm tốc mái 24 căn nhà (tăng 05 căn, tương đương tăng 29,4% so cùng kỳ), ngã đổ 26 cây ăn trái (giảm 235 cây, tương đương giảm 90,0%), khoảng 3,04 tấn trái cây bị rụng hư (giảm 139,2 tấn, tương đương giảm 97,9%). Tổng giá trị thiệt hại ước tính khoảng 282,1 triệu đồng so với cùng kỳ (giảm 62.967,9 triệu đồng, tương đương giảm 99,6%). Mức giảm sâu này phản ánh rõ rệt sự hiệu quả của công tác dự báo, phòng ngừa và ứng phó thiên tai, đồng thời cho thấy 6 tháng đầu năm nay thiên tai ít gay gắt hơn về quy mô và mức độ ảnh hưởng.

Tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp 6 tháng đầu năm 2025
  •   02/07/2025 14:35

Tình hình kinh tế - chính trị thế giới trong những tháng đầu năm 2025 diễn biến phức tạp; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gây gắt hơn; xung đột Nga - Ucraina tiếp tục kéo dài, đặc biệt là xung đột tại Biển Đỏ, dải Gaza leo thang đã gia tăng rủi ro với an toàn hàng hải, chuỗi cung ứng hàng hóa đã làm ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Ngoài ra chính sách thắt chặt tiền tệ của các nước ảnh hưởng đến xuất khẩu của các doanh nghiệp của Việt Nam nói chung và tỉnh Đồng Tháp nói riêng.  Với sự tập trung lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, điều hành của UBND tỉnh, sự nỗ lực của các ngành, các cấp, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân trong tỉnh, tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2025 đạt nhiều kết quả tích cực trên các lĩnh vực, cụ thể như sau: I. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊU KINH TẾ 1. Tăng trưởng kinh tế (GRDP): Tổng sản phẩm nội tỉnh (GRDP) của tỉnh trong 6 tháng đầu năm 2025 ước đạt 69.544 tỷ đồng, tăng 7,16% so với cùng kỳ năm 2024 (6 tháng đầu năm 2024 tăng 6,45%), các khu vực kinh tế đều tăng trưởng khá tốt, trong đó, khu vực Nông - Lâm - Thuỷ sản tăng 3,94%, đóng góp 1,3 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung; khu vực Công nghiệp - Xây dựng tăng 10,54%, đóng góp 2,86 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung (Công nghiệp tăng 10,59%; Xây dựng tăng 10,28%); khu vực Thương mại - Dịch vụ (kể cả thuế) tăng 7,53%, đóng góp 3,0 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung (Dịch vụ tăng 7,88%; Thuế sản phẩm tăng 5,74%). Hình 1. Tốc độ tăng GRDP 6 tháng đầu năm 2025 - % 2. Tài chính - Ngân hàng: a. Tài chính: Thu ngân sách nhà nước: trên địa bàn 6 tháng đầu năm 2025 đạt 12.977 tỷ đồng, đạt 62,74% dự toán năm, tăng 18,21% so cùng kỳ; trong đó, thu nội địa 12.533 tỷ đồng, đạt 63,09% dự toán năm, tăng 18,63% so cùng kỳ Chi ngân sách nhà nước: thực hiện 23.173 tỷ đồng, đạt 59,65% dự toán năm, tăng 42,64% so cùng kỳ; trong đó, chi đầu tư phát triển thực hiện 9.506 tỷ đồng, đạt 69,98% dự toán năm, tăng 83,12% so cùng kỳ. b. Ngân hàng: Kinh tế toàn cầu diễn biến phức tạp, rủi ro bất ổn thị trường tài chính tăng cao, nhiều quốc gia tiếp tục tăng lãi suất để kiềm chế lạm phát. Các ngân hàng trên địa bàn tỉnh tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chắc chắn, linh hoạt, chủ động, kịp thời, hiệu quả; phối hợp đồng bộ, chặt chẽ với chính sách tài khóa mở rộng và các chính sách khác. Hoạt động tiền tệ ổn định, mức lãi suất tiếp tục giữ nguyên tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng (TCTD) tiếp cận nguồn vốn từ Ngân hàng nhà nước (NHNN) với chi phí thấp để góp phần hỗ trợ nền kinh tế. Về lãi suất huy động: Các tổ chức tín dụng trên địa tỉnh chấp hành tốt các quy định về lãi suất huy động. Mặt bằng lãi suất cho vay Việt Nam đồng tiếp tục có xu hướng giảm, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận vốn vay với chi phí hợp lý. Ước tính đến cuối tháng 6/2025 vốn huy động đạt 191.588 tỷ đồng, trong đó; Tiền Giang đạt 113.088 tỷ đồng, tăng 5,56%; Đồng Tháp (trước sáp nhập) đạt 78.500 tỷ đồng, tăng 4,68% so với cuối năm 2024. Tổng dư nợ toàn tỉnh đạt 234.977 tỷ đồng, trong đó Tiền Giang 112.477 tỷ đồng, tăng 5,67%; Đồng Tháp (trước sáp nhập) đạt 122.500 tỷ đồng, tăng 3,09% so với cuối năm 2024. Nợ xấu: Tiền Giang tỷ lệ nợ xấu 1,97%, tăng 0,18%; Đồng Tháp (trước sáp nhập) là 2,45%, tăng 0,92 điểm phần trăm so với cuối năm 2024. 3. Giá cả, lạm phát: Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 6 tháng đầu năm 2025 trên địa bàn tỉnh Tiền Giang tăng 2,93% so cùng kỳ năm trước.  Đồng Tháp (trước sáp nhập) tăng 1,22% so cùng kỳ năm trước. 4. Thực hiện vốn đầu tư phát triển: Vốn đầu tư toàn xã hội ước 6 tháng đầu năm 2025, thực hiện 35.525 tỷ đồng, đạt 39,5% kế hoạch và tăng 10,9% so cùng kỳ; trong đó: vốn đầu tư của dân cư và tư nhân 23.192 tỷ đồng, tăng 16,7% và chiếm 65,3% tổng số, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 2.518 tỷ đồng, tăng 16,6% và chiếm 7,1% tổng số, vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước 9.815 tỷ đồng, chiếm 27,6% tổng số.  Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước: Công tác phân khai chi tiết vốn đầu tư công năm 2025 được triển khai khẩn trương, nghiêm túc. Đến nay, UBND tỉnh đã phân bổ chi tiết kế hoạch vốn đầu tư công tỉnh năm 2025 với tổng số vốn là 16.829 tỷ đồng, trong đó, vốn cân đối ngân sách địa phương là 11.060 tỷ đồng; vốn ngân sách Trung ương là 5.769 tỷ đồng. Tập trung thực hiện giải pháp đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công ngay từ đầu năm để thúc đẩy ngành xây dựng nói riêng và các ngành khác tăng trưởng. Tổng giá trị giải ngân kế hoạch đầu tư công năm 2025 đến ngày 30/6/2025 đạt 30,9% kế hoạch (5.193/16.829 tỷ đồng). Chương trình mục tiêu quốc gia phân bổ 288 tỷ đồng, đã giải ngân 107 tỷ đồng, đạt 37,2% kế hoạch. Hình 2. Cơ cấu vốn đầu tư trên toàn xã hội 6 tháng đầu năm 2025 5. Sản xuất nông - lâm nghiệp và thủy sản: a. Nông nghiệp: Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trong 6 tháng đầu năm vẫn duy trì ổn định và có bước phát triển tích cực. Cây trồng sinh trưởng tốt, các loại sâu bệnh gây hại xuất hiện ở mức thấp đến trung bình nhờ người dân chủ động theo dõi thông tin dự báo dịch hại và thực hiện các biện pháp phòng trừ kịp thời. Trong chăn nuôi, một số địa phương vẫn phát sinh dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm (như viêm da nổi cục, dịch tả lợn châu Phi…), song đã được ngành chức năng kiểm soát hiệu quả, không để lây lan diện rộng. Hoạt động nuôi trồng và khai thác thủy sản tiếp tục đạt được kết quả khả quan so với cùng kỳ năm trước, góp phần quan trọng vào tăng trưởng ngành nông nghiệp của tỉnh. Giá trị sản xuất nông - lâm - thủy sản trong 6 tháng đầu năm ước đạt 50.680 tỷ đồng (theo giá so sánh năm 2010), tăng 4,03% so với cùng kỳ. Giá trị tăng thêm (GRDP) khu vực nông - lâm - thủy sản (theo giá so sánh năm 2010) đạt 22.260 tỷ đồng, tăng 3,94% so với cùng kỳ (tương đương 844 tỷ đồng), đóng góp 1,3 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung. * Trồng trọt: Cây lương thực có hạt: diện tích gieo trồng cộng dồn từ đầu vụ sản xuất là 475.227 ha, giảm 1,9% so cùng kỳ, tương ứng giảm 9.121 ha; sản lượng ước đạt 2.210.149 tấn, giảm 3,5%, tương ứng giảm 80.108 tấn. Trong đó cây lúa gieo sạ 469.788 ha, giảm 1,9% so cùng kỳ; sản lượng thu hoạch ước đạt 2.186.419, giảm 3,4%, cụ thể: - Cây lúa: + Vụ Đông xuân 2024 – 2025: diện tích gieo trồng 229.680 ha, giảm 1,7% so cùng kỳ, tương ứng giảm 4.087 ha. Thu hoạch 100% diện tích với năng suất thu hoạch bình quân cả vụ ước đạt 71,9 tạ/ha, tăng 0,3%, tương ứng tăng 0,2 tạ/ha; Sản lượng thu hoạch ước cả vụ đạt 1.651.864 tấn, giảm 1,5% so cùng kỳ, tương ứng giảm 24.518 tấn do diện tích gieo trồng giảm 1,7% so cùng kỳ. + Vụ Hè thu: tính đến ngày 20/6, diện tích gieo sạ của vụ ước tính đạt 240.109 ha, giảm 2,1%, tương ứng giảm 5.092 ha; diện tích thu hoạch ước đạt 95.449 ha với sản lượng thu hoạch 534.555 tấn. Hình 3. Diện tích gieo trồng lúa và hoa màu tính đến 20.6 - Cây ngô: diện tích gieo trồng cộng dồn từ đầu vụ sản xuất là 5.439 ha, tăng 1,1%, tương ứng tăng 57 ha. Ước tính sản lượng thu hoạch ước đạt 23.730 tấn, giảm 14,0% so cùng kỳ, tương ứng giảm 3.852 tấn. Ngô là cây trồng ngắn ngày, kỹ thuật canh tác đơn giản, dễ chăm sóc và có thể trồng nhiều vụ trong năm. Bên cạnh giá trị kinh tế từ việc thu trái bán cho thương lái, cây ngô còn có lợi thế tận dụng tối đa phụ phẩm: thân, lá ngô sau thu hoạch là nguồn thức ăn giàu dinh dưỡng cho gia súc như trâu, bò…, góp phần giảm chi phí chăn nuôi và nâng cao hiệu quả kinh tế hộ gia đình. Cây rau đậu các loại: diện tích gieo trồng cộng dồn từ đầu vụ sản xuất là 52.316 ha, tăng 10,2% so cùng kỳ; trong đó: rau các loại 52.040 ha, tăng 10,2% so cùng kỳ. Sản lượng thu hoạch ước đạt 707.330 tấn, tăng 9,8% so cùng kỳ; trong đó: rau các loại ước đạt 706.794 tấn, tăng 9,8% so cùng kỳ. Cây ăn trái: hiện có 133.370 ha, đạt 99,21% kế hoạch, tăng 2,7% so với cùng kỳ; sản lượng trái cây các loại đạt 1.346.402 tấn, đạt 57% so kế hoạch, tăng 6,5 % so cùng kỳ. *Chăn nuôi: Đàn heo tăng mạnh đạt 485 ngàn con, vượt 8,65% so với kế hoạch và tăng 17,4% so với cùng kỳ, sản lượng thịt heo hơi đạt 69.337 tấn, tăng 26,4%. Đàn bò đạt 164,26 ngàn con, xấp xỉ kế hoạch và tăng nhẹ 1,4% so với cùng kỳ, tuy nhiên sản lượng thịt bò hơi giảm mạnh 41%, còn 11.369 tấn. Đàn gia cầm tiếp tục duy trì quy mô lớn với 24,55 triệu con, tăng 5,3% so với cùng kỳ; sản lượng thịt gia cầm hơi đạt 33.806 tấn, tăng 4,7% so với cùng kỳ. Tính chung sản lượng thịt hơi xuất chuồng 6 tháng đầu năm 2025 ước đạt 114.695 tấn, tăng 7,6% so với cùng kỳ, góp phần đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong tỉnh và khu vực. b. Lâm nghiệp: Trong 6 tháng đầu năm thực hiện trồng mới 24,48 ha rừng, tổng diện tích rừng hiện có 5.663 ha. Tỷ lệ diện tích rừng sản xuất được quản lý bền vững có xác nhận đạt 2.352 ha. c. Thủy hải sản: Những năm gần đây, ngành thủy sản có bước phát triển mạnh mẽ, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm và nâng cao đời sống người dân, đặc biệt là khu vực ven biển. Diện tích nuôi trồng không ngừng mở rộng, sản lượng tăng cao. Sản lượng thủy sản 6 tháng đầu năm 2025 ước đạt 447.006 tấn, tăng 7,5% so cùng kỳ; trong đó: sản lượng thu hoạch từ nuôi 385.999 tấn, tăng 8,8%; sản lượng khai thác 61.007 tấn, tăng 0,2%. 6. Sản xuất công nghiệp: Hoạt động sản xuất công nghiệp khởi sắc ngay từ đầu năm, duy trì đà tăng trưởng tích cực; doanh nghiệp của ngành luôn chủ động thích ứng với tình hình biến động của thị trường. Phát huy tiềm năng thế mạnh vùng nguyên liệu của địa phương, ngành công nghiệp phát triển theo hướng ứng dụng công nghệ mới, công nghệ cao, gia tăng hàm lượng khoa học công nghệ vào sản xuất, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt phát triển công nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng GRDP khu vực công nghiệp 6 tháng đầu năm ước đạt 10,6% với giá trị sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm ước đạt 97.038 tỷ đồng, tăng 10,7% so với cùng kỳ, đạt 47% kế hoạch năm (kế hoạch 206.589 tỷ đồng). Sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm 2025 trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp trước sáp nhặp tăng 8,51% so với cùng kỳ năm trước. Chủ yếu do ngành Chế biến chế tạo tăng 8,69%; ngành Sản xuất và phân phối điện tăng 5,31%; ngành Cung cấp nước, hoạt động quản lý xử lý rác thải tăng 4,44%; ngành Khai khoáng tăng 101,82% so với cùng kỳ. Trên địa bàn tỉnh Tiền Giang tăng 16,13% so cùng kỳ; trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 17,29%; ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 2,61%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 14,22% so cùng kỳ. 7. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp: Trong 6 tháng đầu năm 2025, toàn tỉnh có 1.217 doanh nghiệp thành lập mới, với tổng vốn đăng ký là 8.185,1 tỷ đồng, đạt 75,3% kế hoạch năm 2025, tăng 57,8% về số lượng và tăng 47,8% về vốn đăng ký so cùng kỳ 2024. Có 923 đơn vị trực thuộc của doanh nghiệp (chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh) thành lập mới, tăng 75,5% so cùng kỳ. Ngoài ra, còn có 286 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động. Có 170 doanh nghiệp hoàn tất giải thể, giảm 3% so cùng kỳ và có 508 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn. Như vậy, trong 6 tháng đầu năm 2025, số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động cao gấp 2,22 lần so với số doanh nghiệp giải thể và tạm ngừng kinh doanh. Đến cuối tháng 6/2025, toàn tỉnh có khoảng 11.843 doanh nghiệp đang hoạt động. 8. Thương mại, dịch vụ: a. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng: Trong 6 tháng đầu năm, hoạt động thương mại dịch vụ diễn ra khá sôi động, đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng của người dân, nhất là vào cao điểm mua sắm Tết Nguyên đán Ất Tỵ 2025, sức mua hàng hoá dịp Tết Nguyên đán tăng khoảng 10%. Giá cả các mặt hàng thiết yếu tương đối ổn định, không có biến động lớn, không xảy ra tình trạng đầu cơ, găm hàng. Hàng hóa cung ứng tại các siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện ích, chợ truyền thống khá dồi dào, đa dạng đáp ứng tốt nhu cầu của người dân. Tăng trưởng GRDP khu vực thương mại - dịch vụ (bao gồm thuế sản phẩm) 6 tháng đầu năm ước đạt 7,5%. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 123.536 tỷ đồng, tăng 10,5% so với cùng kỳ năm trước và đạt 48,5% so với kế hoạch năm (254.900 tỷ đồng). Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 96.027 tỷ đồng, tăng 9,6%; lưu trú 427 tỷ đồng, tăng 14,9%; ăn uống 15.972 tỷ đồng, tăng 14,5%; du lịch lữ hành 186 tỷ đồng, tăng 17,7%; dịch vụ tiêu dùng 10.924 tỷ đồng, tăng 12,7% so cùng kỳ. Hình 4. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng 6 tháng đầu năm 2025 b. Xuất - Nhập khẩu: * Xuất khẩu: Hoạt động xuất khẩu trong 6 tháng đầu năm 2025 ước đạt 4.387 triệu USD, tăng 11,4% so với cùng kỳ năm trước, đạt 47,7% so kế hoạch năm (9.200 triệu USD)  * Nhập khẩu: Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa 6 tháng đầu năm 2025 ước đạt 1.848 triệu USD, tăng 9,04% so với cùng kỳ, đạt 51,3% kế hoạch năm (3.600 triệu USD) c. Du lịch: Hoạt động du lịch tiếp tục phát triển, lượng khách và doanh thu từ du lịch tăng so với cùng kỳ. Hoạt động quảng bá, xúc tiến du lịch được thực hiện đa dạng, hiệu quả. Tổ chức Hội nghị giới thiệu, quảng bá du lịch tỉnh đến các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch TP. Hồ Chí Minh nhằm tăng cường kết nối, hợp tác giữa doanh nghiệp du lịch của tỉnh và TP. Hồ Chí Minh; thường xuyên cập nhật, đăng tải thông tin, bài viết quảng bá điểm đến du lịch, di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, làng nghề truyền thống và những sản phẩm du lịch nổi bật của tỉnh trên các ứng dụng du lịch thông minh, các phương tiện truyền thông đại chúng. Trong 6 tháng đầu năm 2025, du lịch tỉnh tăng trưởng tích cực với tổng lượt khách du lịch hơn 4 triệu lượt khách, tăng 17,8% so cùng kỳ, đạt 55,5% kế hoạch năm; trong đó, khách quốc tế hơn 330 ngàn lượt, tăng 4,9% so cùng kỳ, đạt 40,8% kế hoạch năm. Tổng thu du lịch đạt 2.770 tỷ đồng, tăng 21,1% so cùng kỳ, đạt 67,3% kế hoạch năm. d. Vận tải: Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải 6 tháng đầu năm 2025 thực hiện 3.761 tỷ đồng, tăng 13,9% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 1.204 tỷ đồng, tăng 14,1% so cùng kỳ; vận tải hàng hóa thực hiện 1.865 tỷ đồng, tăng 12,8% so cùng kỳ. Vận chuyển hành khách 6 tháng đầu năm 2025 đạt 35.345 ngàn hành khách, tăng 11,5% và luân chuyển 1.344.314 ngàn hành khách.km, tăng 10,9% so cùng kỳ; trong đó: vận chuyển đường bộ 11.417 ngàn hành khách, tăng 13% và luân chuyển 1.332.429 ngàn hành khách.km, tăng 11% so cùng kỳ; vận chuyển đường thủy 23.928 ngàn hành khách, tăng10,9% và luân chuyển 11.88 ngàn hành khách.km, tăng 9,8% so cùng kỳ. Vận tải hàng hóa 6 tháng đầu năm 2025 đạt 14.284 ngàn tấn, tăng 14,2% và luân chuyển 2.641.252 ngàn tấn.km, tăng 14,8% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ thực hiện 3.802 ngàn tấn, tăng 13,9% và luân chuyển được 419.842 ngàn tấn.km, tăng 5,2% so cùng kỳ; vận tải đường thủy thực hiện 10.482 ngàn tấn, tăng 14,3% và luân chuyển 2.221.410 ngàn tấn.km, tăng 16,8% so cùng kỳ. II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 6 THÁNG CUỐI NĂM 2025 Để đảm bảo thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2025, UBND tỉnh chỉ đạo các sở, ngành tỉnh và địa phương tổ chức thực hiện thắng lợi mục tiêu tăng trưởng GRDP năm 2025 đạt 8% trở lên, trong đó, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng GRDP 6 tháng cuối năm từ 8,8% trở lên; tập trung cao độ để khắc phục mọi khó khăn, vượt qua thách thức, giữ vững tinh thần đoàn kết, tự lực, tự cường, phát huy mạnh mẽ quyết tâm đổi mới, đột phá, sáng tạo, sự chủ động, dám nghĩ, dám làm, tăng cường tính chủ động phối hợp và tập trung thực hiện tốt một số giải pháp trọng tâm như sau: Thường xuyên theo dõi, thông tin tình hình khí tượng, thủy văn, chủ động các biện pháp phòng, tránh hạn chế thiệt hại khi thiên tai xảy ra. Thực hiện các giải pháp phòng, chống dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi; tăng cường công tác kiểm tra hoạt động giết mổ, kinh doanh, vận chuyển gia súc, gia cầm, sản phẩm gia súc, gia cầm. Duy trì kiểm tra định kỳ về điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm của các cơ sở sản xuất, kinh doanh nông lâm thủy sản; kịp thời phát hiện để phòng trị dịch bệnh và xử lý môi trường Tập trung phát triển các ngành, sản phẩm công nghiệp có lợi thế cạnh tranh, có thị trường tiêu thụ sản phẩm; đẩy mạnh phát triển công nghiệp hỗ trợ nguyên liệu phục vụ sản phẩm thức ăn chăn nuôi, cơ khí, điện tử,...; ngành công nghiệp công nghệ cao, chuyển biến sâu, có giá trị gia tăng. Thường xuyên rà soát kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, đẩy mạnh hoạt động sản xuất, kinh doanh. Cần có giải pháp hỗ trợ hiệu quả các doanh nghiệp thiếu vốn, trong tiêu thụ sản phẩm … Triển khai thực hiện đồng bộ, linh hoạt các chính sách về lãi suất, gói hỗ trợ lãi suất cho vay, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh; tập trung vốn vào các lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên; tiếp tục triển khai chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn. Tăng cường công tác kết nối ngân hàng - doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi trong vay vốn tín dụng ngân hàng cho doanh nghiệp và người dân. Tập trung triển khai hiệu quả các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu. Đẩy mạnh xuất khẩu sang các thị trường lớn, tiềm năng, phát huy hiệu quả các hiệp định, thỏa thuận thương mại đã ký kết. Triển khai hiệu quả các hoạt động xúc tiến thương mại, kết nối cung cầu, tháo gỡ rào cản, tạo thuận lợi cho tiêu thụ và xuất khẩu các sản phẩm nông, lâm nghiệp, thủy sản. Cung cấp thông tin, hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng tiêu chuẩn mới của thị trường xuất khẩu, hỗ trợ doanh nghiệp trong các vụ kiện chống bán phá giá; tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn, ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất, nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm để mở rộng thị trường tiêu thụ, thúc đẩy xuất khẩu.Đẩy mạnh tiêu dùng, tập trung phát triển thị trường. Thực hiện có hiệu quả các Chương trình xúc tiến thương mại, thúc đẩy phân phối hàng hóa qua nền tảng số, thương mại điện tử; thúc đẩy kết nối giữa nhà sản xuất và các kênh phân phối hiện đại để mở rộng tiêu thụ sản phẩm nội địa; có các chính sách miễn, giảm, gia hạn thuế, phí, lệ phí và tiền thuê đất… để hỗ trợ người dân, doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh. Đẩy mạnh xúc tiến, quảng bá du lịch, nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, tạo điểm nhấn để thu hút khách du lịch đến nhiều hơn. Đẩy nhanh tiến độ các công trình đang thi công, kịp thời nghiệm thu đưa vào sử dụng và quyết toán các công trình đã hoàn thành. Các ngành địa phương có công trình xây dựng tập trung theo dõi, đôn đốc việc chuẩn bị hồ sơ, thường xuyên kiểm tra, giám sát đảm bảo tiến độ và chất lượng công trình; kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình lập hồ sơ và triển khai thi công; thực hiện tốt công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng xây dựng công trình, đảm bảo đúng trình tự, thủ tục theo quy định.

Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh Tiền Giang 6 tháng đầu năm 2025 đạt 7,81%
  •   02/07/2025 10:25

Kinh tế Tiền Giang 6 tháng đầu năm nay diễn ra trong bối cảnh cùng với cả nước đẩy mạnh cải cách thể chế, tinh gọn tổ chức-bộ máy, thực hiện hợp nhất tỉnh, vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp từ 1/7/2025, đồng thời chủ động ứng phó với chính sách thuế quan của Mỹ; xuất khẩu nông sản ở một số thời điểm gặp khó khăn... Bối cảnh này vẫn đặt trong quyết tâm kinh tế của tỉnh phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng 8% trở lên trong năm 2025 này. Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) 6 tháng đầu năm 2025 ước đạt 36.129 tỷ đồng (giá so sánh năm 2010); quý I tăng 7,47%, quý II tăng 8,13%, tính chung 6 tháng tăng 7,81% so với 6 tháng đầu năm 2024, là năm có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong 5 năm gần đây; khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,17 %, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 12,27%, khu vực dịch vụ tăng 8,12 % và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 4,96% so cùng kỳ. Trong 7,81% tăng trưởng thì khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản đóng góp 1,44%, khu vực công nghiệp và xây dựng đóng góp 3,69%, khu vực dịch vụ đóng góp 2,38% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đóng góp 0,3%. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản: 6 tháng đầu năm 2025 tăng 4,17% so với 6 tháng đầu năm 2024; trong đó nông nghiệp tăng 4,32%. Sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh trong 6 tháng đầu năm 2025, thuận lợi hơn các năm trước, không chịu tác động nhiều của hạn mặn. Sản lượng các loại rau màu, cây quả đều tăng so với cùng kỳ. Các vườn cây ăn trái bị thiệt hại do hạn mặn năm 2020 gây ra đã được nông dân chăm sóc, trồng mới đến nay đã cho sản phẩm, góp phần làm cho nông nghiệp của tỉnh tăng. Tuy nhiên những tháng đầu năm xuất khẩu nông sản gặp khó khăn, giá một số sản phẩm nông nghiệp như: lúa, mít, sầu riêng … thấp hơn so cùng kỳ, ảnh hưởng đến thu nhập của nông dân. Lĩnh vực chăn nuôi, dịch bệnh còn xảy ra ở một số địa phương, gây tâm lý lo lắng cho người nuôi; tuy nhiên giá bán các sản phẩm chăn nuôi trong 6 tháng đầu năm cao hơn cùng kỳ (giá lợn hơi giao động từ 7 - 8,2 triệu đồng/tạ), nông dân mở rộng qui mô sản xuất, đến thời điểm 30/6/2025 tổng đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh đều tăng, xuất hiện nhiều gia trại chăn nuôi theo qui mô lớn (nuôi lợn với qui mô trên 100 con).  Ngành thủy sản tăng 3,36% so cùng kỳ, sản lượng nuôi trồng và khai thác đều tăng, sản lượng nuôi trồng tăng 7% và sản lượng khai thác tăng 8,3%. Thời tiết trong 6 tháng đầu năm thuận lợi, ít ảnh hưởng bởi bão và áp thấp nhiệt đới, tạo điều kiện cho tàu cá hoạt động hiệu quả; thủy sản nuôi sinh trưởng tốt, ít dịch bệnh, cho năng suất cao. Mặt khác mô hình nuôi hàu tại vùng ven biển huyện Gò Công Đông tiếp tục được duy trì và mở rộng. Hiện có khoảng 597,8 ha mặt nước với 73 hộ tham gia nuôi. Diện tích thả nuôi năm 2023 đến nay đã thu hoạch, góp phần làm cho ngành thuỷ sản của tỉnh tăng. Khu vực công nghiệp - xây dựng: tăng 12,27% so với 6 tháng đầu năm 2024; trong đó công nghiệp tăng 11,87%. Sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh trong 6 tháng đầu năm tăng trưởng tích cực, sản lượng sản xuất và đơn hàng mới tăng mạnh trong quý I, với mức tăng 13,28%; đến quý II mức tăng có dấu hiệu chậm lại, với mức tăng 10,85%, do tác động của chính sách thương mại của các nước, sản xuất hàng xuất khẩu khó khăn hơn, nhu cầu của thế với giảm. Một ngành có chỉ số sản xuất tăng cao trong 6 tháng đầu năm như: Sản xuất trang phục tăng 30,3%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 40,5%; sản xuất kim loại tăng 29,02%; sản xuất thiết bị điện tăng 29,33%, …Bên cạnh đó cũng có một số ngành có chỉ số sản xuất giảm so cùng kỳ do gặp khó khăn trong tìm kiếm thị trường tiêu thụ như: Sản xuất chế biến thực phẩm bằng 95,81%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan bằng 99,48%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu bằng 46,50%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẳn bằng 52,47%; … Ngành xây dựng tăng 14,92%, là một trong những ngành có tốc độ tăng trưởng tốt nhất trong 6 tháng đầu năm 2025. Tình hình sản xuất của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh từng bước khôi phục, ổn định trở lại nên mở rộng qui mô đầu tư cho sản xuất. Năm 2025 là năm cuối của nhiệm kỳ Đại hội đảng các cấp giai đoạn 2020 - 2025, lãnh đạo địa phương, các ngành các cấp tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt trong việc đẩy nhanh tiến độ đầu tư công và các công trình chào mừng Đại hội; cộng với trên địa bàn tỉnh có nhiều công trình trọng điểm của trung ương đang được triển khai đã góp phần làm cho hoạt động xây dựng trên địa bàn tỉnh tăng khá so cùng kỳ. Khu vực dịch vụ: tăng 8,12% so cùng kỳ. Sau thời gian dài chịu ảnh hưởng của dịch Covid-19, tác động của suy giảm kinh tế thế giới, kinh tế của tỉnh dần hồi phục; công nhân có việc làm ổn định, thu nhập tăng, cộng với việc tăng lương cơ sở từ ngày 01/7/2024 nên nhu cầu tiêu dùng, mua sắm của người dân trong kỳ tăng cao. Các hoạt động thương mại và dịch vụ diễn ra khá sôi động và có mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung hầu hết các ngành đều tăng so với cùng kỳ; một số ngành tăng khá như: Dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 12,75%; hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 22,31%; Hoạt động động vận tải kho bãi tăng 16,09% so với cùng kỳ... Thực hiện Nghị định 168/2024/NĐ-CP ngày 26/12/2024 quy định xử phạt vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông trong lĩnh vực giao thông đường bộ; trừ điểm, phục hồi điểm giấy phép lái xe; người dân đã ý thức hơn khi tham giao thông, nên nhu cầu sử phương tiện vận tải công cộng tăng, đã thúc đẩy dịch vụ vận tải đường bộ trên địa bàn tỉnh tăng. Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 4,96% so 6 tháng đầu năm 2024. GRDP tính theo giá hiện hành đạt 135.103 tỷ đồng. Cơ cấu kinh tế của tỉnh 6 tháng đầu năm chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông lâm nghiệp và thuỷ sản. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 33,7% (cùng kỳ 35,5%); khu vực công nghiệp, xây dựng chiếm 25,2% (cùng kỳ 24%); khu vực dịch vụ chiếm 34,8% (cùng kỳ 34,2%); thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 6,3%, (cùng kỳ 6,4%).                                                                                          N.V.Tròn

Đại hội Chi bộ Chi cục Thống kê lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2025 - 2030
  •   25/06/2025 17:20

Sáng ngày 25-6, Chi bộ Chi cục Thống kê tổ chức Đại hội nhiệm kỳ 2025 - 2030 tại Hội trường Chi cục Thống kê. Tham dự Đại hội Chi bộ Chi cục Thống kê lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2025 - 2030 gồm các đồng chí: 1. Trần Thị Mỹ Hạnh, Bí thư Chi bộ, Chi cục trưởng Chi cục Thống kê; 2. Lê Văn Niệm, Phó Bí thư Chi bộ, Phó Chi cục trưởng Chi cục Thống kê; Cùng toàn thể đảng viên Chi bộ Chi cục Thống kê.Ảnh: Toàn cảnh Đại hội Đại hội Chi bộ Chi cục Thống kê lân thứ XIX nhiệm kỳ 2025 - 2030 diễn ra trong bối cảnh toàn Đảng, toàn quân và toàn dân đang ra sức thi đua lập thành tích chào mừng Đại hội Đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Đại hội có nhiệm vụ đánh giá một cách toàn diện việc thực hiện Nghị quyết Đại hội Chi bộ Chi cục Thống kê nhiệm kỳ 2020 - 2025, những mặt làm được, chưa được; rút ra những kinh nghiệm thực tiễn trong lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy; đồng thời, tìm ra nguyên nhân những mặt làm được và những mặt còn hạn chế, yếu kém; trên cơ sở đó xác định mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ 2025 - 2030 một cách thiết thực. Đại hội còn có nhiệm vụ quan trọng khác là kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Chi bộ nhiệm kỳ qua. Mỗi đảng viên đều được nghiên cứu học tập đầy đủ các chuyên đề về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và viết cam kết, tu dưỡng rèn luyện. Chi bộ quan tâm đưa đảng viên học lớp cao cấp, trung cấp chính trị; thường xuyên tổ chức thông tin thời sự, tình hình trong nước và thế giới, phổ biến các vấn đề mới có liên quan đến công tác xây dựng Đảng... giúp cho đảng viên và quần chúng nhận thức đúng đắn tình hình, nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; nêu cao ý thức cảnh giác cách mạng trước âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, giữ vững lập trường, quan điểm, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng. Đại hội đã thống nhất thông qua các dự thảo văn kiện gồm: Báo cáo tổng kết việc thực hiện Nghị quyết Đại hội Chi bộ nhiệm kỳ 2020 - 2025 và phương hướng, nhiệm vụ của Chi bộ nhiệm kỳ 2025 - 2030; Báo cáo kiểm điểm của cấp ủy nhiệm kỳ 2020 - 2025; báo cáo tổng hợp ý kiến đóng góp của đảng viên vào các dự thảo văn kiện Đại hội Đảng các cấp và thống nhất thông qua Nghị quyết Đại hội Chi bộ Chi cục Thống kê nhiệm kỳ 2025 - 2030. Tiếp tục thực hiện hiệu quả các chủ trương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên; siết chặt kỷ luật phát ngôn, giữ gìn bí mật nhà nước và sử dụng mạng xã hội đúng quy định. Nâng cao năng lực dự báo, định hướng dư luận, xử lý kịp thời các vấn đề nhạy cảm để tạo đồng thuận xã hội. Kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và các quan điểm sai trái, thù địch.Ảnh: Các đảng viên tham luận tại Đại hội Hơn nữa, đây là thời điểm cả nước đang thực hiện sắp xếp, tổ chức bộ máy, sáp nhập tỉnh, tổ chức chính quyền 02 cấp song song với mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Trong bối cảnh đó, bà Trần Thị Mỹ Hạnh, Bí thư Chi bộ nhấn mạnh, việc thực hiện song song hai nhiệm vụ này đòi hỏi mỗi đảng viên phải có bản lĩnh vững vàng, phát huy tinh thần đoàn kết, trách nhiệm, khát vọng vươn lên với quyết tâm cao để hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao.Ảnh: Toàn thể Đảng viên Chi bộ Chi cục Thống kêN.X.Trường