0273.3 872582 | dongthap@nso.gov.vn

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Tháp Tháng 10 năm 2025

02/11/2025 08:30

Trong tháng, kinh tế - xã hội của tỉnh tiếp tục phát triển, các hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh có nhiều khởi sắc, hầu hết các ngành, lĩnh vực đều tăng so cùng kỳ. Kết quả thực hiện trên các lĩnh vực đạt được như sau:

I. SẢN XUẤT NÔNG LÂM NGHIỆP VÀ THỦY SẢN

 Trong tháng, thời tiết nhìn chung thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp; cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt. Sâu bệnh xuất hiện ở mức thấp đến trung bình nhờ công tác dự báo và hướng dẫn phòng trừ kịp thời; dịch bệnh trên đàn vật nuôi được kiểm soát chặt chẽ. Tuy nhiên, mưa lớn kết hợp triều cường và lũ từ thượng nguồn làm mực nước sông, kênh rạch dâng cao, gây ngập cục bộ và sạt lở, vỡ đê bao tại một số nơi, ảnh hưởng

đến diện tích lúa và cây ăn trái. Nhìn chung, sản xuất nông, lâm, thủy sản trên địa bàn tỉnh vẫn duy trì ổn định; các ngành chức năng và người dân đã chủ động ứng phó, hạn chế thiệt hại, đảm bảo tiến độ sản xuất.

1. Nông nghiệp

Cây lương thực có hạt:

diện tích gieo sạ niên vụ 2024 - 2025 ước đạt 614.594 ha, giảm 1,3% so cùng kỳ; trong đó: cây lúa gieo sạ 608.522 ha, giảm 1,3%.

- Cây ngô:

Hiện nay nông dân trong tỉnh đã bắt đầu gieo trồng cây ngô vụ Đông xuân 2025–2026, diện tích gieo trồng ước đạt 548 ha, giảm 3,6% và đây là vụ sản xuất mở đầu cho chu kỳ sản xuất năm 2026. Ngô thuộc loại cây ngắn ngày, dễ trồng, dễ chăm sóc, trồng được nhiều vụ trong năm. Bên cạnh lấy trái bán cho thương lái; lá, thân ngô khi thu hoạch có thể tận dụng làm thức ăn cho gia súc như trâu, bò…

nh 1. Diện tích gieo trồng lúa gieo trồng qua 2 năm

Cây rau đậu các loại: Vụ đông xuân 2025-2026 diện tích gieo trồng ước đạt 4.462 ha, tăng 1,2% so cùng kỳ; trong đó: rau các loại 4.437 ha, tăng 1,4% so cùng kỳ. Tận dụng nguồn đất đai màu mỡ, nông dân tranh thủ thời gian, thời tiết thuận lợi trồng xen canh, trồng gối vụ các loại rau, củ, quả có giá trị kinh tế cao, dễ tiêu thụ như: rau muống, bầu, mướp, bí xanh, mướp đắng, dưa leo, cải các loại, hành lá, dưa hấu và các loại rau cải ngắn ngày khác...

Chăn nuôi: ước thời điểm 31/10/2025 tổng đàn gian súc, gia cầm của tỉnh như sau: đàn trâu hiện có 3,2 nghìn con, giảm 3,0% so cùng kỳ; đàn bò hiện có 156,5 nghìn con, tăng 1,1%; đàn lợn có 445,2 nghìn con, tăng 5,6%; đàn gia cầm có 23,8 triệu con, giảm 1,5%. Đàn trâu giảm chủ yếu do diện tích chăn thả bị thu hẹp và hiệu quả kinh tế không cao. Giá bò hơi ổn định và nhu cầu tiêu thụ thịt bò tăng đã tạo điều kiện thuận lợi để người chăn nuôi duy trì, tái đàn và phát triển ổn định đàn bò. Chăn nuôi lợn tăng nhờ công tác kiểm soát dịch bệnh được thực hiện tốt, giúp người dân yên tâm tái đàn. Đàn gia cầm giảm so với cùng kỳ do đã đến kỳ xuất bán, người nuôi vệ sinh chuồng trại chuẩn bị tái đàn trở lại.

Hình 2. Chăn nuôi tại thời điểm 31/10/2025

2. Lâm nghiệp:

Tổng diện tích rừng trên địa bàn tỉnh là 6.999,6 ha (không bao gồm diện tích rừng thuộc đất an ninh quốc phòng); trong đó, diện tích rừng đặc dụng 2.717,6 ha; rừng phòng hộ 2.244,3 ha và rừng sản xuất 2.037,7 ha.

Trong tháng, toàn tỉnh thực hiện trồng mới được 50,0 ngàn cây phân tán. Nâng tổng số cây phân tán trồng được 801,0 ngàn cây các loại, giảm 1,6% so cùng kỳ.

3. Thủy hải sản:

Tổng diện tích thả nuôi thâm canh 10 tháng ước đạt 6.279 ha, tăng 3,9% so cùng kỳ chủ yếu là diện tích nuôi cá tra do giá xuất khẩu cá tra tương đối ổn định nên doanh nghiệp tăng diện tích nuôi; trong đó: cá tra 2.457 ha, tăng 26,6% so cùng kỳ, tôm thẻ chân trắng 3.497 ha, giảm 6,3% cùng kỳ do hộ chuyển diện tích đầm nuôi tôm ven đê biển Tân Thành sang đầu tư khu du lịch sinh thái, ẩm thực vườn quê....

Sản lượng thủy sản nuôi trồng trong tháng ước đạt 69.347 tấn. Tính chung 10 tháng năm 2025, thu hoạch ước đạt 700.342 tấn, tăng 2,6% so cùng kỳ, tương ứng tăng 17.554 tấn, trong đó: sản lượng cá đạt 638.102 tấn (tăng 3,3%); sản lượng tôm đạt 38.376 tấn (tăng 4,6%);…. Sản lượng tăng chủ yếu nhờ thời tiết thuận lợi, tình hình dịch bệnh được kiểm soát, giúp năng suất nuôi trồng đạt cao.

Sản lượng thủy sản khai thác biển trong tháng ước đạt 10.002 tấn. Tính chung 10 tháng năm 2025, thu hoạch ước đạt 96.633 tấn, tăng 15,3% so cùng kỳ, tương ứng tăng 12.821 tấn, trong đó: cá đạt 65.732 tấn (tăng 6,0%); tôm đạt 2.739 tấn (tăng 17%);…. Sản lượng khai thác tăng nhờ nguồn lợi thủy sản xuất hiện nhiều tại ngư trường, thời tiết thuận lợi, giúp ngư dân khai thác hiệu quả hơn so với cùng kỳ.

II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP

Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 10/2025 tăng 2,31% so với tháng trước và tăng 15,08% so cùng kỳ (ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 16,02%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 7,59%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,97% và ngành khai khoáng giảm 60,72% so cùng kỳ). Ngành chủ lực là sản xuất chế biến thực phẩm tăng 10,85%. Bên cạnh đó, một số ngành có chỉ số sản xuất tăng cao trên 30% so cùng kỳ như: sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu 31,38%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu 35,16%; sản xuất đồ uống 32,68%; sản xuất kim loại 46,62%; sản xuất thiết bị điện 36,24%. Ở chiều ngược lại, một số ngành giảm so cùng kỳ như: khai khoáng khác giảm 60,72%; sản xuất xe có động cơ giảm 34,93%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 33,43%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 8,55%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 1,65%;...

Sản xuất công nghiệp 10 tháng đầu năm 2025 tăng trưởng khá do nhu cầu tiêu thụ của các ngành chủ lực như chế biến thực phẩm, sản xuất đồ uống, dệt may, sản xuất kim loại, giấy, thiết bị điện. Tuy nhiên, hoạt động sản xuất trong các tháng cuối năm vẫn đối diện với nhiều rủi ro tiềm ẩn như: áp lực lạm phát toàn cầu, xung đột địa chính trị, những ảnh hưởng từ chính sách thuế quan mới của Mỹ đã làm ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp của Việt Nam nói chung và tỉnh Đồng Tháp nói riêng. Tính chung 10 tháng đầu năm chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 13,24% so cùng kỳ; trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 14,12%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 3,33%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,69%...

Chỉ số sản xuất sản phẩm trong 10 tháng so cùng kỳ như sau:

- Có 72/119 sản phẩm tăng: phi lê đông lạnh tăng 5,7%; quả và hạt ướp lạnh tăng 66,2%; gạo đã xát toàn bộ hoặc sơ bộ tăng 7,3%; bánh làm từ bột khác bảo quản được tăng 24,3%; thức ăn gia cầm tăng 26,9%; thức ăn thủy sản tăng 15,5%; bia đóng lon tăng 21,8%; bộ com lê, quần áo người lớn dệt kim hoặc đan móc tăng 4,0%; gỗ cưa xẻ tăng 29,0%; thuốc và dược phẩm dạng lỏng tăng 35,7%; thùng, bể chứa dung tích trên 300 lít bằng plastic tăng 20,6%; cấu kiện làm sẵn bằng xi măng, bê tông cho xây dựng tăng 15,4%; bê tông tươi tăng 4,4%; ống và ống dẫn bằng đồng tăng 5,4%; dịch vụ sản xuất thiết bị điện chiếu sáng tăng 91,3%; tàu thuyền lớn chuyên chở người và hàng hóa có động cơ đẩy tăng 13,6%; điện mặt trời tăng 4,0%; dịch vụ thu gom rác thải không độc hại có thể tái chế tăng 13,1% so cùng kỳ;...

- Có 47/119 sản phẩm giảm: cát đen giảm 24,6%; miến, hủ tiếu, bánh đa khô giảm 2,2%; thuốc lá có đầu lọc giảm 14,2%; thức ăn gia súc giảm 1,4%; bộ com lê, quần áo người lớn không dệt kim hoặc đan móc giảm 24,4%; giày, dép thể thao có đế ngoài và mũ giày bằng cao su và plastic giảm 1%; thuốc và dược phẩm dạng viên giảm 11,3%; thuốc và dược phẩm dạng bột cốm giảm 36,96%; tàu chở khách trọng tải 26 đến 500 tấn giảm 4,6%; điện gió giảm 2,7% so cùng kỳ; ...

Hình 3. Chỉ số sản xuất công nghiệp 10 tháng năm 2025

* Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo:

Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 10 năm 2025 so với tháng trước giảm 0,97% và tăng 10,24% so cùng kỳ. Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cộng dồn từ đầu năm đến cuối tháng 10 năm 2025 tăng 11,04%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 1,87%; sản xuất đồ uống tăng 3,18%; dệt tăng 12,43%; sản xuất trang phục tăng 22,65%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 2,77%; in, sao chép bản ghi các loại tăng 71,96%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 76,31%; sản xuất kim loại tăng 36,38%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 23,59% và công nghiệp chế biến chế tạo khác tăng 6,89%;…. Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm so cùng kỳ: sản xuất sản phẩm thuốc lá giảm 20,33%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 2,09%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu giảm 18,53%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 3,11%; sản xuất phụ tùng xe có động cơ giảm 23,07%;...

Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 10/2025 tăng 2,53% so với tháng trước và giảm 2,68% so với cùng kỳ. Một số ngành có chỉ số tồn kho giảm so cùng kỳ: dệt giảm 43,48%; sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện giảm 4,65%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 28,97%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 30,63%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 13,7%; sản xuất kim loại giảm 51,48%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẳn giảm 55,69%; sản xuất thiết bị điện giảm 1,51% và công nghiệp chế biến, chế tạo khác gồm sản xuất đồ chơi, trò chơi giảm 88,67%;…Bên cạnh đó, một số ngành có chỉ số tồn kho tăng so với cùng kỳ là: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 6,31%; sản xuất trang phục tăng 17,61%; sản xuất kim loại tăng 28,39%;...

* Tình hình thu hút đầu tư và phát triển các khu - cụm công nghiệp:

- Khu công nghiệp, khu kinh tế: Trong tháng, không cấp mới Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư mới, điều chỉnh 06 dự án (trong đó tăng vốn đầu tư cho 01 dự án với tổng vốn đầu tư tăng thêm là 11,4 triệu USD). Lũy kế đến hết tháng 10/2025, các khu Công nghiệp và khu Kinh tế thu hút được 186 dự án (trong đó, có 101 dự án FDI) với tổng vốn đầu tư là 3,2 tỷ USD vốn FDI và 12.229,3 tỷ đồng vốn DDI; diện tích đất đã cho thuê là 748,7 ha, tỷ lệ lấp đầy 93,6%.

- Cụm công nghiệp:

Trên địa bàn tỉnh có 62 cụm công nghiệp (CCN) được quy hoạch với diện tích 3.009,5 ha được chấp thuận chủ trương đầu tư. Hiện có 23 CCN được thành lập với tổng diện tích 779,9 ha; trong đó: 18 CCN đã đi vào hoạt động với diện tích 511,7 ha, 5 cụm công nghiệp còn lại đang thực hiện thủ tục đầu tư xây dựng hạ tầng.Tổng số dự án đầu tư tại các cụm công nghiệp hiện nay là 126 dự án (trong đó: có 11 dự án đầu tư nước ngoài) với tổng vốn đầu tư 207,9 triệu USD và 14.481 tỷ đồng.

III. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP: (Theo báo cáo của Sở Tài Chính)

Tính đến ngày 19/10/2025 có 146 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 545,7 tỷ đồng; thành lập mới đơn vị trực thuộc có 143 đơn vị, trong đó; 20 chi nhánh; 119 địa điểm kinh doanh và 4 văn phòng đại diện; giải thể và tạm ngừng hoạt động, có 26 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, 45 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động. Lũy kế đến hết tháng 10/2025 có 2.185 doanh nghiệp thành lập mới, đạt 121,3% kế hoạch và tăng 68,5% so với cùng kỳ; đơn vị trực thuộc có 1.625 đơn vị trực thuộc doanh nghiệp thành lập mới tăng 51,7% so cùng kỳ, trong đó; 265 chi nhánh; 1.319 địa điểm kinh doanh và 41 văn phòng đại diện. Giải thể và tạm ngừng hoạt động có 360 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 34,3% và 744 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, tăng 11,7% so với cùng kỳ.

IV. ĐẦU TƯ - XÂY DỰNG

Tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trong tháng là 1.798 tỷ đồng, tăng 53,9% so cùng kỳ. Mười tháng đầu năm 2025 ước thực hiện được 12.959 tỷ đồng, đạt 73,8% kế hoạch, tăng 35,6% so cùng kỳ. Chia ra:

- Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh thực hiện 12.742 tỷ đồng, đạt 74,1% kế hoạch và tăng 35,0% so cùng kỳ, chiếm 98,3% tổng số. Trong đó: vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu: 4.343 tỷ đồng, tăng 60,8%; vốn xổ số kiến thiết: 3.036 tỷ đồng, tăng 6,2% so cùng kỳ. Lãnh đạo tỉnh chỉ đạo quyết liệt các sở, ngành liên quan chủ đầu tư phải nỗ lực tháo gỡ khó khăn, quyết tâm, thực hiện công tác giải phóng mặt bằng, sớm đưa công trình vào khai thác sử dụng, thúc đẩy phát triển kinh tế của tỉnh.

- Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp xã trong tháng thực hiện 43 tỷ đồng, luỹ kế 10 tháng thực hiện 218 tỷ đồng, đạt 61,6% kế hoạch và tăng 79,7% so cùng kỳ; trong đó: vốn cân đối ngân sách cấp xã 48 tỷ đồng, tăng 6,9 lần so cùng kỳ. Nguồn vốn được ưu tiên bố trí các dự án khởi công mới thuộc lĩnh vực giao thông, phòng, chống thiên tai, xử lý sạt lở bờ sông, bờ biển, biến đổi khí hậu, giáo dục, y tế, xây dựng nông thôn mới nhằm phục vụ đời sống người dân.

V. THƯƠNG MẠI - GIÁ CẢ - DỊCH VỤ

1. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng:

Nhìn chung, hoạt động thương mại dịch vụ tiếp tục tăng trưởng, hàng hoá cung ứng đồi dào, đáp ứng nhu cầu mua sắm của người dân. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trong tháng thực hiện 21.125 tỷ đồng, tăng 1,7% so tháng trước và tăng 10% so cùng kỳ. Mười tháng năm 2025, tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thực hiện 205.870 tỷ đồng, tăng 9,3% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 159.932 tỷ đồng, tăng 8,3%; lưu trú 721 tỷ đồng, tăng 14,8%; ăn uống 26.644 tỷ đồng, tăng 14,1%; du lịch lữ hành 347 tỷ đồng, tăng 28,8%; dịch vụ tiêu dùng khác 18.226 tỷ đồng, tăng 10,9% so cùng kỳ.

Hình 4. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng

2. Xuất - Nhập khẩu (Theo báo cáo Sở Công Thương)

Kinh tế và chính trị thế giới diễn biến phức tạp, căng thẳng thương mại Mỹ - Trung và một số quốc gia khác có thể dẫn tới những xáo trộn lớn với thương mại toàn cầu. Tuy nhiên hoạt động xuất khẩu của Tỉnh tiếp tục duy trì ổn định, nhưng bức tranh chung vẫn tiềm ẩn nhiều khó khăn.

a. Xuất khẩu:

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng ước thực hiện 870 triệu USD, tăng 1,2% so tháng trước và tăng 10,4% so cùng kỳ. Mười tháng ước tính xuất khẩu 7.873 triệu USD, đạt 85,6% kế hoạch, tăng 3,8% so cùng kỳ.

b. Nhập khẩu:

Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 10/2025 ước đạt 360 triệu USD, tăng 2,1% so tháng trước và bằng 95,3% so cùng kỳ. Mười tháng ước đạt 4.028,9 triệu USD, đạt 90,9% kế hoạch và tăng 13,4% so với cùng kỳ.

3. Chỉ số giá:

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10/2025 tăng 0,23% (thành thị tăng 0,31%, nông thôn tăng 0,21%) so tháng 9/2025, tăng 2,77% so tháng 10/2024. Bình quân 10 tháng năm 2025 tăng 2,28% so cùng kỳ năm trước.

So với tháng 9/2025, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 09 nhóm tăng: giáo dục tăng 2,68%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,59%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,3%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,28%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,24%; may mặc, mũ nón và giầy dép tăng 0,20%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,06%; văn hóa giải trí và du lịch tăng 0,01%. Có 02 nhóm giảm: bưu chính viễn thông giảm 0,04%; giao thông giảm 0,90%.

Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 10 tháng năm 2025 so cùng kỳ tăng 2,28%; một số nhóm hàng có chỉ số tăng như: thuốc và dịch vụ y tế tăng 11,92%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 6,52%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,82%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,67%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,7% so với cùng kỳ … Chỉ riêng nhóm giao thông giảm 3,47% so cùng kỳ.

Chỉ số giá vàng 24 kara Ngọc Thẩm trong tháng 10/2025 tăng 12,09% so tháng trước, tăng 64,17% so với cùng kỳ. Bình quân 10 tháng đầu năm 2025 so với cùng kỳ tăng 47,2%.

Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng 10/2025 giảm 0,36% so tháng trước và tăng 5,98% so với cùng kỳ. Bình quân 10 tháng năm 2025 so với cùng kỳ tăng 4,28%.

 4. Du lịch:

Ngay từ đầu năm du lịch của tỉnh đã tập trung triển khai đồng bộ các giải pháp phát triển du lịch. Đồng thời bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, làng nghề với quyết tâm thực hiện mục tiêu phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng, tạo bước đột phá tăng tốc phát triển du lịch, góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Lượng khách du lịch đến tham quan trên địa bàn trong tháng 10/2025 ước tính 352 ngàn lượt khách, tăng 2% tháng trước và tăng 12,2% so cùng kỳ, trong đó khách quốc tế 54 ngàn lượt khách, tăng 31,9% so cùng kỳ.Nhiều khu, điểm du lịch trong tỉnh đã mở rộng quy mô và dịch vụ vui chơi để đón đông đảo lượng khách đến tham quan, trải nghiệm. Doanh thu lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành trong tháng đạt 2.828 tỷ đồng, tăng 1,4% so tháng trước và tăng 15,1% so cùng kỳ.

Tính chung mười tháng năm 2025, lượt khách du lịch đến tham quan trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp là 3.522 ngàn lượt khách, tăng 6,8% so cùng kỳ; trong đó: khách quốc tế 457 ngàn lượt khách, tăng 12,4% so cùng kỳ. Tổng doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, dịch vụ lữ hành và dịch vụ tiêu dùng khác đạt 45.938 tỷ đồng, tăng 12,9% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu dịch vụ ăn uống chiếm tỷ trọng 58%, ước đạt 26.644 tỷ đồng, tăng 14,1% so cùng kỳ; lưu trú đạt 721 tỷ đồng, tăng 14,8% so cùng kỳ...

5. Vận tải:

Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trong tháng thực hiện 653 tỷ đồng, tăng 1,4% so tháng trước và tăng 14,6% so cùng kỳ. Mười tháng thực hiện 6.347 tỷ đồng, tăng 13,3% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 2.075 tỷ đồng, tăng 14,1%; doanh thu vận tải hàng hóa thực hiện 3.153 tỷ đồng, tăng 12,3% so cùng kỳ. Doanh thu vận tải đường bộ thực hiện 2.994 tỷ đồng, tăng 15%; doanh thu vận tải đường thủy thực hiện 2.234 tỷ đồng, tăng 10,5%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 644 tỷ đồng, tăng 12,9% so cùng kỳ.

Vận tải hành khách trong tháng đạt 5.995 ngàn hành khách, tăng 1,6% so tháng trước và tăng 8,2% so cùng kỳ; luân chuyển 213.518 ngàn hành khách.km, tăng 2,7% so tháng trước và tăng 16,9% so cùng kỳ. Mười tháng, vận chuyển 59.438 ngàn hành khách, tăng 10,1% so cùng kỳ; luân chuyển 2.214 ngàn hành khách.km, tăng 25,1% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 19.317 ngàn hành khách, tăng 24% và luân chuyển 2.196 ngàn hành khách.km, tăng 25,6% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 40.121 ngàn hành khách, tăng 4,5% và luân chuyển 18.825 ngàn hành khách.km, bằng 85,3% so cùng kỳ.

Vận tải hàng hóa trong tháng đạt 2.236 ngàn tấn, tăng 1,2% so tháng trước và tăng 1,9% so cùng kỳ; luân chuyển 394.598 ngàn tấn.km, tăng 1,8% so tháng trước và bằng 92,1% so cùng kỳ. Mười tháng, vận tải 23.365 ngàn tấn hàng hóa, tăng 8% so cùng kỳ; luân chuyển 4.334.280 ngàn tấn.km, tăng 2,5% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 5.639 ngàn tấn, tăng 23,6% và luân chuyển 786.587 ngàn tấn.km, bằng 82,9% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 17.726 ngàn tấn, tăng 3,8% và luân chuyển 3.547.693 ngàn tấn.km, tăng 8,1% so cùng kỳ.

6. Bưu chính viễn thông:

Doanh thu trong tháng 10/2025 đạt 518 tỷ đồng, tăng 0,3% so tháng trước. Mười tháng doanh thu dịch vụ bưu chính, viễn thông đạt 5.122 tỷ đồng, tăng 11,3% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính đạt 475,1tỷ đồng, tăng 12,1% và viễn thông 4.647 tỷ đồng, tăng 11,2% so cùng kỳ.

Đến cuối tháng 10 năm 2025 tổng số thuê bao điện thoại có trên mạng (bao gồm: hữu tuyến, vô tuyến, trả trước, trả sau) ước tính 3.879.195 thuê bao. Thuê bao điện thoại bình quân đạt 113,97 thuê bao/100 dân. Số thuê bao điện thoại di động có sử dụng Internet (3G, 4G) đến cuối tháng 10 là: 3.218.673 thuê bao. Tổng số thuê bao Internet trên mạng là 4.228.666 thuê bao (bao gồm: băng rộng di động 3G, 4G; MyTV và Cáp; băng rộng cố định FTTH, xDSL, Leased-line, CATV), mật độ Internet bình quân ước đạt 124,44 thuê bao/100 dân.

VI. TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG

1. Tài chính:

Tổng thu ngân sách nhà nước tháng 10/2025 thực hiện 5.014 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn 1.878 tỷ đồng; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 288 tỷ đồng. Mười tháng, thu 52.547 tỷ đồng; trong đó, thu ngân sách trên địa bàn thực hiện 19.809 tỷ đồng, đạt 95,7% dự toán và tăng 15,4% so cùng kỳ; thu nội địa 19.037 tỷ đồng, đạt 95,8% dự toán, tăng 15,5% so cùng kỳ (trong thu ngân sách trên địa bàn: thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 3.129 tỷ đồng, tăng 14,8% dự toán, tăng 6,7% so cùng kỳ; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 4.035 tỷ đồng, tăng 38,2% dự toán và tăng 47,3% so cùng kỳ...).

Tổng chi ngân sách nhà nước trong tháng 3.978 tỷ đồng; trong đó: chi đầu tư phát triển 1.400 tỷ đồng; chi hành chính sự nghiệp 2.487 tỷ đồng. Mười tháng, chi 34.252 tỷ đồng, đạt 78,1 dự toán và tăng 23,5% so cùng kỳ; trong đó: chi đầu tư phát triển 10.741 tỷ đồng, đạt 96,9% dự toán và bằng 90,8% so cùng kỳ; chi hành chính sự nghiệp 20.253 tỷ đồng, đạt 91,4% dự toán và tăng 45,2% so cùng kỳ.

2. Ngân hàng:

Đến cuối tháng 9/2025, vốn huy động đạt 200.842 tỷ, tăng 10,28% so với cuối năm 2024, tổng dư nợ cho vay của các TCTD trong tỉnh đạt 239.665 tỷ, tăng 6,47% so với cuối năm 2024. Ước đến cuối tháng 10/2025, nguồn vốn huy động đạt 203.031 tỷ, tăng 11,48% so với cuối năm 2024; tổng dư nợ đạt 241.343 tỷ, tăng 7,21%.

Nợ xấu: đến cuối tháng 9/2025 nợ xấu đạt 6.603 tỷ đồng, tăng 2.971 tỷ đồng; tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là 2,81%, tăng 1,33% so với cuối năm 2024. Ước đến cuối tháng 10/2025 nợ xấu đạt 6.733 tỷ đồng, tăng 3.102 tỷ đồng; tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là 2.79%, tăng 1,31% so với cuối năm 2024.

Quỹ tín dụng nhân dân: Tháng 9/2025 tổng nguồn vốn huy động 2.840 tỷ đồng, tăng 7,93% so với cuối năm 2024. Dư nợ 2.328 tỷ đồng, giảm 1,66% so với cuối năm 2024. Tỷ lệ nợ xấu đến cuối tháng 9/2025 là 0,62%.

VII. KHOA HỌC CÔNG NGHỆ

Trong tháng, Hội đồng tư vấn tuyển chọn thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh: 02 nhiệm vụ cấp tỉnh; Quyết định phê duyệt triển khai 01 nhiệm vụ cấp tỉnh; Thẩm định kinh phí 02 nhiệm vụ cấp tỉnh (lũy kế 10 nhiệm vụ cấp tỉnh); Nghiệm thu kết thúc 04 nhiệm vụ cấp tỉnh, 01 nhiệm vụ cấp cơ sở (lũy kế 15 nhiệm vụ cấp tỉnh, 13 nhiệm vụ cấp cơ sở); Thẩm định các kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ không sử dụng ngân sách nhà nước tổng cộng đến nay là 01 nhiệm vụ. Đến hết tháng 10/2025 thực hiện 10 nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh; quyết định phê duyệt triển khai 14 nhiệm vụ cấp tỉnh, 01 nhiệm vụ cấp cơ sở; thẩm định kinh phí 10 nhiệm vụ cấp tỉnh; nghiệm thu kết thúc 15 nhiệm vụ cấp tỉnh, 13 nhiệm vụ cấp cơ sở.

VIII. CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Lao động việc làm:

Trong tháng, toàn tỉnh đã tạo việc làm cho 1.510 lao động, trong đó có 558 lao động xuất cảnh làm việc ở nước ngoài. Tính từ đầu năm đến nay, tổng số lao động được giải quyết việc làm đạt 49.160 người; riêng lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài là 2.285 người, đạt 89,6% so với kế hoạch, trong đó Nhật Bản: 1.492 người, Hàn Quốc: 598 người, Đài Loan: 175 người,....

Về trợ cấp thất nghiệp, trong tháng có 1.460 lao động được hưởng trợ cấp. Từ đầu năm đến nay, có 20.680 lao động được giải quyết chế độ trợ cấp thất nghiệp, với tổng kinh phí chi trả trên 436,4 tỷ đồng, góp phần hỗ trợ kịp thời đời sống, giúp người lao động ổn định trong giai đoạn tìm kiếm việc làm mới.

Các hoạt động kết nối cung – cầu lao động tiếp tục được chú trọng. Trong tháng, tổ chức 13 phiên giao dịch việc làm, với sự tham gia của 143 lượt doanh nghiệp, thu hút hơn 4.100 lượt người tham gia và 1.095 lao động được kết nối. Các phiên giao dịch đã tạo cơ hội thuận lợi để doanh nghiệp tuyển dụng nhân lực, đồng thời mở rộng cơ hội việc làm, học nghề và đi làm việc ở nước ngoài cho người lao động.

2. Chính sách xã hội:

Trong tháng, các chế độ, chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng được thực hiện kịp thời, đúng quy định. Toàn tỉnh đã giải quyết trợ cấp một lần cho 72 trường hợp thân nhân thờ cúng và chuyển thờ cúng liệt sĩ; trợ cấp hàng tháng cho 02 người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, 02 liệt sĩ mới được công nhận và tiếp nhận từ tỉnh khác, đồng thời thực hiện trợ cấp tuất cho 04 trường hợp. Bên cạnh đó, chi trả trợ cấp mai táng phí cho 102 trường hợp và cấp lại 25 giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh.

3. Hoạt động giáo dục:

Trong tháng, ngành Giáo dục tiếp tục đạt nhiều kết quả tích cực; chất lượng giáo dục toàn diện được nâng cao, mạng lưới trường, lớp được củng cố, cơ sở vật chất được đầu tư theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa. Ngành đã triển khai hiệu quả chương trình giáo dục mầm non và phổ thông, đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và phong trào học tập suốt đời.

Đặc biệt, tại Chung kết Đường lên đỉnh Olympia năm thứ 25 diễn ra ngày 26/10, em Nguyễn Nhựt Lam, học sinh Trường THPT Cái Bè, tỉnh Đồng Tháp, đã đạt giải Ba chung cuộc, ghi dấu ấn với phong thái tự tin, kiến thức vững vàng và tinh thần cầu tiến, góp phần quảng bá hình ảnh học sinh Đồng Tháp năng động, hiếu học.

4. Hoạt động y tế:

Trong tháng có 15/44 bệnh truyền nhiễm được ghi nhận. Cộng dồn số ca mắc có 11 bệnh tăng so cùng kỳ (Rubella, Sốt xuất huyết Dengue, Sởi, Ho gà, Thương hàn, Bệnh do vi rút Adeno, Lỵ amíp, Lỵ trực trùng, Quai bị, Thủy đậu, Viêm gan vi rút khác); 12 bệnh giảm so cùng kỳ (Bệnh do liên cầu lợn ở người, Tay - chân - miệng, Liệt mềm cấp nghi bại liệt, Lao phổi, Uốn ván khác, Viêm gan vi rút A, Viêm gan vi rút B, Viêm gan vi rút C, Viêm não Nhật Bản, Cúm, Tiêu chảy, Bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona); 21 bệnh tương đương hoặc không xảy ra ca mắc.

Các bệnh truyền nhiễm ghi nhận trong tháng: bệnh Sốt - xuất - huyết ghi nhận 1.370 ca; bệnh Tay - chân - miệng ghi nhận 651 ca. Tính từ đầu năm đến nay, bệnh Sốt - xuất - huyết ghi nhận 5.118 ca, tăng 95,6% so cùng kỳ; bệnh Tay - chân - miệng ghi nhận 4.348 ca, giảm 14,6%.

Phòng chống HIV/AIDS: hiện nay, toàn tỉnh ghi nhận 15.833 người nhiễm HIV; 5.051 người chuyển sang AIDS; tử vong do AIDS: 3.885 người.Tình hình khám chữa bệnh: khám chữa bệnh trong tháng cho 678.482 lượt người; trong đó, số người điều trị nội trú là 44.212 lượt người. Cộng dồn từ đầu năm đến nay, đã khám chữa bệnh cho 6.646.935 lượt người, giảm 1,0%; trong đó, số người điều trị nội trú là 383.802 lượt người, tăng 2,1%.

5. Hoạt động văn hóa - thể thao:

a. Hoạt động văn hóa nghệ thuật: trong tháng, các hoạt động văn hóa, nghệ thuật được tổ chức sôi nổi, góp phần tuyên truyền, giáo dục truyền thống cách mạng và bảo tồn giá trị văn hóa địa phương. Tổ chức chiếu các phim tài liệu tiêu biểu về lịch sử, cách mạng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; thực hiện chương trình “Dạ khúc tri âm” quý III năm 2025 tại Rạp Thầy Năm Tú với nhiều tiết mục đặc sắc, mang đậm bản sắc nghệ thuật sân khấu Cải lương truyền thống, góp phần phát huy giá trị Di tích văn hóa cấp tỉnh Rạp hát Thầy Năm Tú. Bên cạnh đó, tổ chức 04 chương trình nghệ thuật chào mừng Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ I tại Quảng trường Hùng Vương, gồm: âm nhạc đường phố, xiếc – ảo thuật – ca nhạc – nhảy hiện đại, Đờn ca tài tử và biểu diễn các ban nhạc.

b. Hoạt động thư viện: trong tháng, hệ thống thư viện trong tỉnh phục vụ hiệu quả nhu cầu đọc và tra cứu tài liệu của người dân, thu hút 55.480 lượt người với 173.501 lượt tài liệu được phục vụ, đồng thời có 358.988 lượt truy cập trên các kênh thông tin thư viện.

c. Hoạt động bảo tàng: trong tháng, công tác trưng bày, giới thiệu hiện vật và phục vụ khách tham quan được duy trì thường xuyên. Nhiều chuyên đề trưng bày được tổ chức tại Khu di tích Mộ cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, như “Ân tình xứ Nghệ”, “Hồ Chí Minh – những nét phác họa chân dung”... Khu trưng bày ngoài trời với các hiện vật lớn tiếp tục thu hút đông đảo khách tham quan.

d. Hoạt động thể dục, thể thao: trong tháng, tổ chức thành công Giải Marathon Đất Sen Hồng – Đồng Tháp năm 2025 với hơn 12.000 người tham dự, tạo hiệu ứng lan tỏa rộng rãi trong và ngoài nước, góp phần quảng bá hình ảnh Đồng Tháp năng động, thân thiện và phát triển du lịch xanh.

Thể thao Đồng Tháp tham dự 11 giải khu vực, quốc gia, đạt 17 HCV, 17 HCB, 34 HCĐ; tham dự 01 giải quốc tế đạt 02 HCV. Lũy kế 10 tháng năm 2025, tỉnh đã đăng cai tổ chức 06 giải cấp quốc gia và có 64 vận động viên được triệu tập vào các đội tuyển quốc gia. Tổng thành tích đạt được 575 huy chương quốc gia (126 HCV, 169 HCB, 280 HCĐ) và 58 huy chương quốc tế (35 HCV, 13 HCB, 10 HCĐ).

6. Tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội (Theo báo cáo của ngành công an):

Trong tháng xảy ra 118 vụ phạm tội về trật tự xã hội, giảm 52 vụ so cùng kỳ. Hậu quả là 03 người chết, 46 người bị thương, tài sản thiệt hại khoảng 02 tỷ đồng. Cơ quan chức năng đã điều tra, khám phá 109 vụ (đạt tỷ lệ 92,4%), bắt giữ và xử lý 203 đối tượng, đồng thời thu hồi tài sản trị giá khoảng 378 triệu đồng. Tính từ đầu năm đến nay, tổng số vụ phạm tội là 1.057, giảm 35,2%. Vụ việc đã làm 37 người chết, 345 người bị thương, tổng giá trị tài sản thiệt hại lên đến khoảng 517 tỷ đồng. Đã điều tra, khám phá được 882 vụ (đạt tỷ lệ 83,4%), xử lý 1.613 đối tượng.

Về tội phạm ma túy trong tháng, lực lượng chức năng đã phát hiện và xử lý 69 vụ với 97 đối tượng.

7. Trật tự an toàn giao thông (theo báo cáo ngành công an tỉnh, số liệu tính từ ngày 15/9/2025 đến 14/10/2025):

Tai nạn giao thông đường bộ: trong tháng, xảy ra 48 vụ, tăng 02 vụ so tháng trước và giảm 01 vụ so cùng kỳ. Hậu quả làm chết 36 người (tương đương so tháng trước, tăng 02 người so cùng kỳ) và 16 người bị thương (tương đương so tháng trước, giảm 08 người so cùng kỳ). Lũy kế từ đầu năm đến kỳ báo cáo, toàn tỉnh đã xảy ra 485 vụ, giảm 63 vụ so với cùng kỳ; làm chết 357 người (giảm 36 người) và làm bị thương 225 người (giảm 57 người). Các nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông chủ yếu vẫn do ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông như: uống rượu say, điều khiển xe khi có rượu bia, phóng nhanh vược ẩu, không làm chủ tốc độ; không đi đúng phần đường, làn đường; không nhường đường, vượt đèn đỏ, thiếu quan sát…

Tai nạn giao thông đường thủy: trong tháng không xảy ra. Lũy kế từ đầu năm đến kỳ báo cáo là 01 vụ (không phát sinh người chết và bị thương).

8. Tình hình cháy nổ, môi trường và thiên tai:

Cháy, nổ: trong tháng, trên địa bàn tỉnh xảy ra 03 vụ cháy, gây thiệt hại tài sản khoảng 287 triệu đồng. Tính từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh ghi nhận tổng cộng 22 vụ cháy, giảm 04 vụ so với cùng kỳ, số người tử vong do cháy là 05 người và tổng thiệt hại tài sản vượt mức 275 tỷ đồng.

Lĩnh vực môi trường trên địa bàn tỉnh trong tháng xảy ra 04 vụ vi phạm. Từ đầu năm đến nay, xảy ra 50 vụ vi phạm môi trường, tăng 77,8% so cùng kỳ với số tiền xử phạt khoảng 997,1 triệu đồng.

Tình hình thiên tai trong tháng, trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp xảy ra 10 vụ thiệt hại thiên tai, làm 01 người bị thương, tổng số tiền thiệt hại tài sản là 42.705 triệu đồng, gồm:

 - Mưa lớn, lũ, triều cường (03 vụ): mưa lớn kéo dài kết hợp với lũ và triều cường gây ngập úng cục bộ làm nhiều tuyến bờ bao bị tràn tại nhiều địa phương, gây nhiều thiệt hại cho sản xuất kinh doanh. Ước tính tổng số tiền thiệt hại khoảng 23.834 triệu đồng, cụ thể như sau:

 + Đợt 1: từ ngày 08-10/10/2025 làm tràn khoảng 07 km đê; gây ngập 375,9 ha vườn cây ăn trái; 4,4 ha hoa màu; ảnh hưởng 510 m² ao nuôi cá và 05 phòng học; với tổng thiệt hại ước khoảng 8.355 triệu đồng.

 + Đợt 2: từ ngày 11-14/10/2025 gây thiệt hại hoàn toàn 3,3 ha hoa màu và 88 ha lúa vừa xuống giống; ảnh hưởng 70,85 ha vườn cây ăn trái; ảnh hưởng 1,6 ha nuôi trồng thủy sản. Ước tổng thiệt hại khoảng 7.284 triệu đồng.

  + Đợt 3: từ ngày 20-24/10/2025: điển hình là vỡ đê bao lớn ở khu vực xã Trường Xuân và xã Phương Thịnh, làm thiệt hại hoàn toàn 1,8 ha hoa màu, 124 ha cây ăn trái và 273 ha lúa vừa xuống giống. Ước tổng thiệt hại của đợt 3 khoảng 8.195 triệu đồng.

 - Mưa kèm theo giông lốc (01 vụ): làm 01 người bị thương, làm sập 07 căn nhà, tốc mái 61 căn nhà, ngoài ra làm 05 cây sầu riêng (cây từ 4 - 6 năm tuổi) bị gãy hoàn toàn; 300 cây mít (từ 2 - 4 năm tuổi) bị gãy hoàn toàn. Ước tính thiệt hại khoảng 681 triệu đồng.

 - Sạt lở sông Tiền (06 vụ): tổng chiều dài các điểm sạt là 333 m, trong đó có 01 vụ lớn với chiều dài sạt lở khoảng 200 m, làm ảnh hưởng đến khu vực bờ ao nuôi cá của Công ty Thanh Bình (thuộc Tập đoàn Vĩnh Hoàn) và khu đất bãi bồi ven sông với ước tính thiệt hại khoảng 10.000 triệu đồng; bên cạnh đó cùng 04 hộ dân nuôi cá diêu hồng (tổng cộng 49 vèo) với thiệt hại ước tính khoảng 8.190 triệu đồng. Ước tính tổng thiệt hại ban đầu các vụ sạt lở khoảng 18.190 triệu đồng.

Cộng dồn từ đầu năm, toàn tỉnh xảy ra 48 vụ thiệt hại thiên tai, làm chết 02 người, bị thương 22 người, sập 101 căn nhà, tốc mái 732 căn, 342,5 ha lúa bị thiệt hại, 17,8 hoa màu bị hư,…. Tổng giá trị thiệt hại ước tính khoảng 85,1 tỷ đồng.


File đính kèm