Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Tháp Tháng 7 năm 2026
Trong tháng, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh tiếp tục phát triển, các hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định và có nhiều khởi sắc, hầu hết các ngành, lĩnh vực đều tăng so cùng kỳ. Kết quả thực hiện trên các lĩnh vực đạt được như sau:
I. SẢN XUẤT NÔNG LÂM NGHIỆP VÀ THỦY SẢN
1. Nông nghiệp
* Trồng trọt:
Cây lương thực có hạt:
tính đến ngày 20/7, diện tích gieo trồng cộng dồn từ đầu vụ sản xuất ước đạt 513.434 ha, giảm 6,9% so cùng kỳ; sản lượng ước đạt 2.286.329 tấn, giảm 3,6%. Trong đó cây lúa gieo sạ 507.801 ha, giảm 6,9% so cùng kỳ; sản lượng thu hoạch ước đạt 2.261.455 tấn, giảm 3,7%, cụ thể:
- Cây lúa:
+ Vụ Đông xuân 2025 - 2026: diện tích gieo trồng chính thức 223.450 ha, đạt 99,6% kế hoạch và giảm 2,7% so cùng kỳ, tương ứng giảm 6.229 ha. Lúa Đông xuân 2025-2026 đã thu hoạch 100% diện tích gieo trồng của vụ; Năng suất thu hoạch bình quân 72,5 tạ/ha, tăng 0,8% so cùng kỳ với sản lượng thu hoạch 1.620.142 tấn, đạt 98,7% so với kế hoạch, giảm 1,9% so với cùng kỳ.
+ Vụ Hè thu 2026: tính đến ngày 20/7, toàn tỉnh gieo sạ ước đạt 231.562 ha, đạt 102,2% so với kế hoạch, giảm 5,0% so với cùng kỳ; Diện tích thu hoạch ước đạt 97.390 ha; Năng suất thu hoạch ước đạt 65,9 tạ/ha với sản lượng thu hoạch ước đạt 641.313 tấn.
+ Vụ Thu đông 2026: tính đến ngày 20/7, toàn tỉnh gieo sạ ước đạt 52.789 ha, đạt 35,3% so với kế hoạch. Vụ lúa Thu Đông đã bắt đầu xuống giống ở các xã: xã Thường Phước, xã Phương Thịnh, xã Trường Xuân, xã Mỹ Quí, xã Tháp Mười, xã Đốc Binh Kiều và xã Thanh Mỹ.
- Cây ngô: tính đến ngày 20/7, diện tích gieo sạ ước đạt 5.633 ha, đạt 60,6% so với kế hoạch, tăng 0,4% so cùng kỳ. Diện tích thu hoạch ước đạt 3.597 ha, tăng 0,1% so với cùng kỳ. Sản lượng thu hoạch ước đạt 24.874 tấn, đạt 37,7% so với kế hoạch, tăng 2,4% so với cùng kỳ. Năng suất thu hoạch ước đạt 69,5 tạ/ha.
- Cây rau đậu các loại: tính đến 20/7, diện tích gieo trồng rau đậu các loại ước đạt 49.889 ha, tăng 1,0% so với cùng kỳ; trong đó rau các loại ước đạt 49.609 ha, tăng 1,0%. Sản lượng cây rau đậu các loại ước đạt 969.342 tấn, tăng 0,3% so cùng kỳ; trong đó rau thu hoạch ước đạt 968.714 tấn, tăng 0,3% so với cùng kỳ.
Hình 1. Diện tích gieo trồng một số cây hàng năm tính đến 20/7/2026
*Chăn nuôi: ước thời điểm 31/7/2026, tổng đàn gia súc, gia cầm toàn tỉnh như sau: đàn trâu 2,1 nghìn con, giảm 26,8%; đàn bò 148,1 nghìn con, giảm 3,7%; đàn lợn 499,7 nghìn con, tăng 0,9% và đàn gia cầm 23,3 triệu con, giảm 0,5% so với cùng kỳ.

Hình 2. Chăn nuôi tại thời điểm 31/7/2026
2. Lâm nghiệp:
Diện tích rừng trồng mới tập trung: từ đầu năm đến nay có 111,3 ha rừng được trồng mới tập trung, giảm 0,6% tương đương giảm 0,7 ha so với cùng kỳ.
Cây phân tán: trong tháng, toàn tỉnh thực hiện trồng mới được 280 ngàn cây phân tán các loại, tăng 2,9% so cùng kỳ. Cộng dồn từ đầu năm đến nay, số lượng cây phân tán ước đạt 480,8 nghìn cây, tăng 1,3%, tương ứng tăng 6,0 nghìn cây so với cùng kỳ.
Sản lượng gỗ khai thác: trong tháng sản lượng gỗ khai thác ước đạt 16.440 m3, tăng 1,7% so với cùng kỳ. Cộng dồn từ đầu năm đến nay, sản lượng cây phân tán ước đạt ước đạt 102.212 m3 gỗ được khai thác, giảm 0,4% so với cùng kỳ.
3. Thủy hải sản:
Diện tích thả nuôi thâm canh trong tháng ước đạt 396 ha, tăng 1,8% so cùng kỳ. Tổng diện tích thả nuôi thâm canh 7 tháng đầu năm 2026 ước đạt 9.183 ha, tăng 1,5% so cùng kỳ, trong đó: cá tra đạt 1.975 ha (tăng 5,0%), tôm sú 3.746 ha (tăng 0,5%), tôm thẻ chân trắng 3.463 ha (tăng 0,6%).
Sản lượng thủy sản nuôi và khai thác biển trong tháng ước đạt 87.725 tấn, nâng tổng số sản lượng thủy sản nuôi và khai thác biển từ đầu năm đến tháng báo cáo ước đạt 541.857 tấn, tăng 3,5% so cùng kỳ, bao gồm:
Sản lượng thủy sản nuôi trồng trong tháng ước đạt 74.345 tấn. Tính chung 7 tháng năm 2026, thu hoạch ước đạt 475.549 tấn, tăng 3,5% so cùng kỳ, tương ứng tăng 15.996 tấn, bao gồm: sản lượng cá đạt 439.452 tấn (tăng 3,4%); sản lượng tôm đạt 32.263 tấn (tăng 5,0%); các loại thủy sản khác đạt 3.834 tấn (tăng 1,9%).
Sản lượng thủy sản khai thác biển trong tháng ước đạt 13.380 tấn. Tính chung 7 tháng năm 2026, thu hoạch ước đạt 66.308 tấn, tăng 3,6% so cùng kỳ, tương ứng tăng 2.331 tấn, bao gồm: sản lượng cá đạt 43.901 tấn (tăng 4,9%); sản lượng tôm đạt 2.107 tấn (tăng 1,0%); các loại thủy sản khác đạt 20.301 tấn (tăng 1,3%).
II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP
Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 7/2026 ước tăng 1,52% so với tháng trước và tăng 14,84% so với cùng kỳ. Trong đó, ngành khai khoáng tăng 31,16% so với cùng kỳ; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,74% so với cùng kỳ; ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước, điều hoà không khí tăng 3,85% so với cùng kỳ; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý, xử lý rác thải, nước thải tăng 3,94% so với cùng kỳ.
Cộng dồn 7 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 12,36% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành chủ lực công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,17%; các ngành khai khoáng, sản xuất và phân phối điện, cung cấp nước và xử lý rác thải nước thải tăng lần lượt 19,39%, 3,33% và 2,80% so với cùng kỳ.

Hình 3. Chỉ số sản xuất công nghiệp 7 tháng đầu năm 2026
Tình hình sản xuất các sản phẩm chủ lực 7 tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ như sau:
Có 75/114 sản phẩm ghi nhận chỉ số sản xuất tăng so cùng kỳ: cát đen tăng 19,4%; phi lê đông lạnh tăng 21,8%; bột mịn, bột thô và bột viên từ cá tăng 9,2%; quả và hạt ướp lạnh tăng 61,1%; gạo đã xát toàn bộ hoặc sơ bộ tăng 13,4%; thức ăn chăn nuôi tăng từ 15% đến 42%; bia đóng lon tăng 18,6%; áo phông, áo may ô và các loại áo lót khác cho người lớn dệt kim hoặc đan móc tăng 49,0%; giày, dép không thấm nước có đế ngoài và mũ bằng cao su hay plastic tăng 35,4%; giày, dép có đế ngoài và mũ bằng cao su hoặc plastic tăng 10,5%; thuốc và dược phẩm các loại tăng mạnh; bao và túi từ plastic khác tăng 60,7%; bê tông trộn sẵn tăng 6,7%; thanh, que bằng thép hợp kim rỗng tăng 31,9%; ống và ống dẫn bằng đồng tăng 17,1%; điện mặt trời tăng 22,9%;…
Ở chiều ngược lại, có 37/114 sản phẩm có chỉ số sản xuất giảm so cùng kỳ: bia đóng chai giảm 18,3%; thuốc lá có đầu lọc giảm 14,0%; áo quần các loại giảm từ 2% đến 19%; túi xách giảm 11,3%; giày, dép thể thao có đế ngoài và mũ giày bằng cao su và plastic giảm 2,6%; giày, dép thể thao có mũ bằng da và có đế ngoài giảm 14,4%; thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng viên giảm 6,7%; thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm giảm 5,0%;…
* Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo:
Chỉ số tiêu thụ (CSTT) ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 7 năm 2026 so với tháng trước giảm 1,43% và tăng 6,11% so cùng kỳ. Cộng dồn từ đầu năm đến cuối tháng 7 năm 2026, CSTT tăng 9,72%.
Một số ngành có CSTT tháng 7 tăng cao so với cùng kỳ: sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 99,14%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 76,4%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 36,6%; sản xuất xe có động cơ tăng 21,88%;… Bên cạnh đó một số ngành có CSTT giảm so cùng kỳ như: sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 53,53%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất giảm 30,28%; In, sao chép bản ghi các loại giảm 24,68%; Sản xuất sản phẩm thuốc lá giảm 11,71%;…
Chỉ số tồn kho (CSTK) ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 7 năm 2026 tăng 21,16% so với tháng trước và tăng 117,44% so với cùng kỳ.
Một số ngành có CSTK tháng 7 tăng so cùng kỳ là: sản xuất kim loại tăng 63,49%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 35,96%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế), sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện tăng 32,05%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 21,44%;… Bên cạnh đó, một số ngành có CSTK giảm so với cùng kỳ như: sản xuất thiết bị điện giảm 11,69%; sản xuất trang phục giảm 8,28%…
III. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP (Theo báo cáo của Sở Tài Chính)
Thành lập mới: Trong tháng có 219 doanh nghiệp thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 997 tỷ đồng. Tính chung 7 tháng đầu năm 2026, có 2.015 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 29,4% so với cùng kỳ năm 2025, đạt 67,2% so với kế hoạch phát triển doanh nghiệp năm 2026, tổng vốn đăng ký là 9.008 tỷ đồng, giảm 4,9% so với cùng kỳ năm 2025.
Giải thể, tạm ngừng hoạt động, tái hoạt động: Trong tháng, có 66 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, 83 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, 35 doanh nghiệp hoạt động trở lại. Tính chung 7 tháng đầu năm 2026, có 378 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 79,1%; 693 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, tăng 11,7%; 304 doanh nghiệp hoạt động trở lại, giảm 3,0% so với cùng kỳ năm 2025.
IV. ĐẦU TƯ - XÂY DỰNG
Vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 7/2026 ước đạt 875 tỷ đồng, tăng 5,4% so với tháng trước nhưng giảm 46,8% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 809 tỷ đồng, tăng 5,7% so với tháng trước nhưng giảm 49,8% so với cùng kỳ; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 66 tỷ đồng, tăng 2,7% so với tháng trước và tăng 91,6% so với cùng kỳ.
Tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý 7 tháng đầu năm 2026 ước đạt 4.862 tỷ đồng, bằng 42,0% kế hoạch năm, giảm 37,3% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 4.463 tỷ đồng, bằng 43,5% kế hoạch năm, giảm 41,6% so với cùng kỳ năm 2025; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 398 tỷ đồng, bằng 30,4% kế hoạch năm, tăng 283,3% so với cùng kỳ năm 2025.
IV. THƯƠNG MẠI - GIÁ CẢ - DỊCH VỤ
1. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng:
Hoạt động thương mại dịch vụ của tỉnh trong tháng tiếp tục duy trì và ổn định, hàng hoá cung ứng đồi dào, đáp ứng nhu cầu mua sắm của người dân. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trong tháng thực hiện 16.222 tỷ đồng, tăng 1,1% so tháng trước và tăng 17,8% so cùng kỳ. Bảy tháng đầu năm 2026, tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thực hiện 111.328 tỷ đồng, tăng 15,1% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 82.868 tỷ đồng, tăng 14,9%; lưu trú 413 tỷ đồng, tăng 25,2%; ăn uống 13.861 tỷ đồng, tăng 16,1%; du lịch lữ hành 226 tỷ đồng, tăng 15%; dịch vụ tiêu dùng khác 13.960 tỷ đồng, tăng 15,6% so cùng kỳ.

Hình 4. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng
2. Xuất - Nhập khẩu (Theo báo cáo Sở Công Thương)
a. Xuất khẩu:
Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng ước thực hiện 878 triệu USD, tăng 0,9% so tháng trước và tăng 4% so cùng kỳ. Bảy tháng ước xuất khẩu 5.839 triệu USD, đạt 58,4% kế hoạch, tăng 10,5% so cùng kỳ.
b. Nhập khẩu:
Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 7/2026 ước đạt 415 triệu USD, tăng 1,2% so tháng trước và tăng 5,5% so cùng kỳ. Bảy tháng ước đạt 3.224,6 triệu USD, đạt 64,5% kế hoạch và tăng 11,7% so với cùng kỳ.
Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu trong tổng kim ngạch nhập khẩu của tỉnh như: kim loại thường khác (kể cả nguyên liệu đồng) chiếm 35,6%; nguyên phụ liệu dệt may, gia giày, túi xách (gồm vải) chiếm 11,1%; sắt thép các loại chiếm 7,7%; chất dẻo nguyên liệu chiếm 5,6%;…
3. Chỉ số giá:
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 7/2026 tăng 0,13% (thành thị giảm 0,09%, nông thôn tăng 0,2%) so tháng 6/2026, tăng 4,87% so tháng 7/2025.
So với tháng 6/2025, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 9 nhóm tăng: hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,42%; thông tin và truyền thông tăng 0,81%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,55%; may mặc, mũ nón và giầy dép tăng 0,18%; văn hóa giải trí và du lịch tăng 0,09%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,08%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và VLXD tăng 0,05%: thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,02%; giáo dục tăng 0,01%. Có 2 nhóm giảm: giao thông giảm 2,31%; đồ uống và thuốc lá giảm 1,05%.
Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 7 tháng năm 2026 so cùng kỳ tăng 4,31%; Một số nhóm hàng có chỉ số tăng như: nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 7,09%, làm CPI chung tăng 1,30 điểm phần trăm do giá nhà ở thuê và giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở đều tăng. Trong đó, chỉ số giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 11,40%, chỉ số giá điện sinh hoạt tăng 7,43%, nước sinh hoạt tăng 2,55%; giao thông tăng 4,79%, tác động làm CPI chung tăng 0,48 điểm phần trăm, trong đó giá xăng dầu tăng 8,02%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 5,69%, làm CPI chung tăng 0,33 điểm phần trăm do giá dịch vụ y tế tăng theo Nghị quyết 126/NQ-HĐND ngày 23/12/2025 về quy định giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh trên địa bàn tỉnh, trong đó giá dịch vụ khám sức khỏe tăng 7,03%; hàng ăn uống và dịch vụ ăn uống tăng 3,99%, trong đó nhóm thực phẩm tăng 4,23%, nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 4,92%, nhóm lương thực tăng 1,35%;…
Chỉ số giá vàng trong tháng 7/2026 giảm 4,07% so tháng trước tương ứng giảm 297.680 đồng/chỉ đối với vàng nhẫn trơn 9999, giảm 7,14% so với tháng 12/2025 và tăng 14,06% so với cùng kỳ. Chỉ số giá vàng bình quân 7 tháng năm 2026 tăng 46,52% so cùng kỳ.
Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng 7/2026 tăng 0,15% so tháng trước, tương đương tăng 3.964 đồng/100USD và giảm 0,56% so với cùng kỳ. Chỉ số giá Đô la Mỹ bình quân 7 tháng năm 2026 tăng 1,05% so cùng kỳ.
4. Vận tải:
Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trong tháng thực hiện 775 tỷ đồng, tăng 2,7% so tháng trước và tăng 20,9% so cùng kỳ. Bảy tháng thực hiện 5.194 tỷ đồng, tăng 17,3% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 1.796 tỷ đồng, tăng 24,7%; doanh thu vận tải hàng hóa thực hiện 2.525 tỷ đồng, tăng 15,1% so cùng kỳ. Doanh thu vận tải đường bộ thực hiện 2.578 tỷ đồng, tăng 23%; doanh thu vận tải đường thủy thực hiện 1.743 tỷ đồng, tăng 13,3%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 485 tỷ đồng, tăng 5,7% so cùng kỳ.
Vận tải hành khách trong tháng đạt 7.789 ngàn hành khách, tăng 1% so tháng trước và tăng 25,7% so cùng kỳ; luân chuyển 224.105 ngàn hành khách.km, tăng 2,4% so tháng trước và giảm 0,7% so cùng kỳ. Bảy tháng, vận chuyển 49.869 ngàn hành khách, tăng 16,8% so cùng kỳ; luân chuyển 1.763.382 ngàn hành khách.km, tăng 13,5% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 17.945 ngàn hành khách, tăng 19,6% và luân chuyển 1.745.701 ngàn hành khách.km, tăng 13% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 31.924 ngàn hành khách, tăng 15,3% và luân chuyển 17.681 ngàn hành khách.km, tăng 31,2% so cùng kỳ.
Vận tải hàng hóa trong tháng đạt 2.665 ngàn tấn, tăng 1,3% so tháng trước và tăng 17% so cùng kỳ; luân chuyển 550.757 ngàn tấn.km, tăng 2,8% so tháng trước và tăng 30,9% so cùng kỳ. Bảy tháng, vận tải 18.448 ngàn tấn hàng hóa, tăng 17,4% so cùng kỳ; luân chuyển 3.509.361 ngàn tấn.km, tăng 21,1% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 3.590 ngàn tấn, tăng 2,8% và luân chuyển 622.666 ngàn tấn.km, tăng 16,4% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 14.858 ngàn tấn, tăng 21,6% và luân chuyển 2.886.695 ngàn tấn.km, tăng 22,2% so cùng kỳ.
* Công tác quản lý phương tiện giao thông:
Trong tháng đăng ký mới 8.675 chiếc mô tô xe máy và 1.090 chiếc xe ô tô. Tổng số xe đang quản lý trên địa bàn tỉnh là 3.534.038 chiếc, trong đó mô tô xe máy: 3.534.038 chiếc; 114.838 xe ô tô, 169 xe ba bánh, 666 xe đạp điện và 3.372 xe khác.
5. Bưu chính viễn thông:
Tổng số thuê bao điện thoại có trên mạng ước đến cuối tháng 7 năm 2026 là 3.547.856 thuê bao (bao gồm: hữu tuyến, vô tuyến, trả trước, trả sau). Thuê bao điện thoại bình quân đạt 104,23 thuê bao/100 dân. Số thuê bao điện thoại di động có sử dụng Internet (3G, 4G) đến cuối tháng 7 là: 3.264.013 thuê bao.
Tổng số thuê bao Internet trên mạng ước tính đến cuối tháng 7 năm 2026 là 4.091.936 thuê bao (bao gồm: băng rộng di động 3G, 4G; MyTV và Cáp; băng rộng cố định FTTH, xDSL, Leased-line, CATV). Mật độ Internet bình quân ước đạt 120,22 thuê bao/100 dân.
V. TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
1. Tài chính:
Tổng thu ngân sách nhà nước trong tháng thực hiện 3.291 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn 1.536 tỷ đồng; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 328 tỷ đồng. Bảy tháng, thu 35.373 tỷ đồng; trong đó, thu ngân sách trên địa bàn thực hiện 14.715 tỷ đồng, đạt 61,9% dự toán và tăng 0,3% so cùng kỳ; thu nội địa 14.071 tỷ đồng, đạt 60,6% dự toán, giảm 0,5% so cùng kỳ (trong thu ngân sách trên địa bàn: thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 2.565 tỷ đồng, đạt 63,3% dự toán, tăng 11,3% so cùng kỳ; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 3.722 tỷ đồng, đạt 77,5% dự toán, tăng 28% so cùng kỳ...).
Tổng chi ngân sách nhà nước trong tháng 3.498 tỷ đồng; trong đó: chi đầu tư phát triển 728 tỷ đồng. Bảy tháng, chi 22.615 tỷ đồng, đạt 54,5 dự toán và giảm 5% so cùng kỳ; trong đó: chi đầu tư phát triển 3.992 tỷ đồng, đạt 33,2% dự toán, bằng 52,2% so cùng kỳ; chi hành chính sự nghiệp 13.340 tỷ đồng, đạt 59,2% dự toán và tăng 0,1% so cùng kỳ.
2. Ngân hàng:
Từ đầu năm đến nay, lãi suất ổn định tạo điều kiện cho tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn từ Ngân hàng nhà nước (NHNN). Đến cuối tháng 6/2026, các mức lãi suất trên địa bàn tỉnh như sau:
Lãi suất huy động: Hệ thống các TCTD trên địa bàn chấp hành tốt các quy định về lãi suất huy động theo quy định của NHNN Việt Nam. Mặt bằng lãi suất của các kỳ hạng như sau: tiền gửi kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng dao động từ 3,5%-8,31%/năm đối với khách hàng cá nhân và từ 2,8%-8,3%/năm đối với khách hàng pháp nhân; tiền gửi trên 12 tháng, lãi suất dao động từ 3,8%- 8,62%/năm đối với khách hàng cá nhân và từ 3,25%-8,59%/năm đối với khách hàng pháp nhân.
Lãi suất cho vay: Các tổ chức tín dụng trên địa bàn chấp hành nghiêm mức trần lãi suất cho vay ngắn hạn đối với các lĩnh vực ưu tiên. Lãi suất cho vay VNĐ bình quân chung trên địa bàn tỉnh 8,98%/năm, tăng 1,12% so với cuối năm 2025.
Đến cuối tháng 6/2026, vốn huy động đạt 222.557 tỷ, tăng 14.368 tỷ đồng, tăng 6,09% so với cuối năm 2025. Tổng dư nợ cho vay của các tổ chức tín dụng (TCTD) trong tỉnh đạt 249.996 tỷ, tăng 6.582 tỷ đồng, tăng 2,7% so với cuối năm 2025. Ước đến cuối tháng 7/2026, nguồn vốn huy động đạt 224.783 tỷ, tăng 7,97% so với cuối năm 2025; tổng dư nợ đạt 252.496 tỷ, tăng 3,73% so với cuối năm 2025.
Nợ xấu: đến cuối tháng 6/2026 nợ xấu đạt 5.817 tỷ đồng; tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là 2,38%, so với cuối năm 2025. Ước đến cuối tháng 7/2026 tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ dưới 3%.
Quỹ tín dụng nhân dân: đến cuối tháng 6/2026, tổng nguồn vốn hoạt động đạt 2.776 tỷ đồng, giảm 108 tỷ đồng giảm 3,74% so cuối năm 2025; tổng dư nợ cho vay đạt 2.337 tỷ đồng; giảm 2 tỷ đồng, giảm 0,09% so với cuối năm 2025; nợ xấu 22 tỷ đồng chiếm 0,94/tổng dự nợ.
VI. KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
Thực hiện các nhiệm vụ tuyển chọn, xét duyệt, thẩm định, đánh giá, nghiệm thu các nhiệm vụ khoa học và công nghệ theo quy định. Hội đồng tư vấn tuyển chọn thực hiện 02 nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh; Thẩm định kinh phí thực hiện 04 nhiệm vụ cấp tỉnh; Phê duyệt tổ chức chủ trì, chủ nhiệm, kinh phí, phương thức khoán chi và thời gian thực hiện 01 nhiệm vụ cấp tỉnh; Kiểm tra, đánh giá tiến độ thực hiện 01 nhiệm vụ cấp tỉnh; Gia hạn thời gian thực hiện 01 nhiệm vụ cấp tỉnh….
Cấp, thay đổi nội dung giấy chứng nhận cho 01 doanh nghiệp khoa học; 01 cấp giấy chứng nhận đăng ký gia hạn, sửa đổi, bổ sung nội dung chuyển giao công nghệ.
VII. CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI
1. Lao động việc làm:
Trong tháng, đã giải quyết việc làm cho 1.253 lao động. Nâng tổng số lao động được giải quyết việc làm từ đầu năm đến nay là 30.093 lao động đạt 60,1% so với kế hoạch. Trong tháng tổ chức 8 phiên giao dịch việc làm với 31 lượt doanh nghiệp trên 1.200 người tham gia.
Lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài trong tháng là 133 lao động. Nâng tổng số lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài từ đầu năm đến nay là 1.735 lao động, đạt 72,3% kế hoạch, trong đó Hàn Quốc: 782 lao động, Nhật Bản: 755 lao động, Đài Loan: 126 lao động,....
Về trợ cấp thất nghiệp, trong tháng có 3.831 lao động được hưởng trợ cấp. Từ đầu năm đến nay, có 17.288 lao động được giải quyết chế độ trợ cấp thất nghiệp, với tổng kinh phí chi trả trên 387,8 tỷ đồng, góp phần hỗ trợ kịp thời đời sống, giúp người lao động ổn định trong giai đoạn tìm kiếm việc làm mới.
2. Chính sách xã hội:
Trong tháng, các chế độ ưu đãi đối với người có công được thực hiện đầy đủ, kịp thời. Trong đó, đã trợ cấp một lần cho người thờ cúng liệt sĩ và chuyển đổi người thờ cúng liệt sĩ với 52 trường hợp; trợ cấp mai táng phí và trợ cấp 01 lần 03 tháng trợ cấp với 81 trường hợp.
3. Hoạt động giáo dục:
Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026, tỉnh Đồng Tháp có hơn 37 nghìn thí sinh dự Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026, điểm trung bình tất cả các môn thi của Đồng Tháp đạt 5,817 điểm, xếp thứ 2 khu vực phía Nam và thứ 12 cả nước. Qua đó cho thấy kết quả ở mức tích cực, phản ánh chất lượng dạy và học tiếp tục được duy trì ổn định.
Đối với kỳ thi tuyển sinh lớp 10, kết quả xét tuyển chính thức có 41.823 thí sinh trúng tuyển vào lớp 10 THPT năm học 2026 - 2027. Mức điểm cao các trường THPT (không chuyên) tập trung ở một số trường thuộc khu vực trung tâm và có truyền thống chất lượng; trong đó, THPT Nguyễn Đình Chiểu có điểm chuẩn cao nhất (25,60 điểm), tiếp theo là THPT Nguyễn Đình Chiểu (cơ sở 2) (22,15 điểm), THPT Cao Lãnh (21,25 điểm), THPT Chợ Gạo (21,10 điểm), THPT Cái Bè (19,50 điểm), THPT Trương Định (18,80 điểm), và THPT Sa Đéc cùng THPT Tân Hiệp (đều 18,10 điểm). Khối trường THPT chuyên: Điểm chuẩn các lớp chuyên có sự phân hóa theo môn học; trong đó, lớp Chuyên Toán, Trường THPT Chuyên Tiền Giang có điểm chuẩn cao nhất (40,70 điểm), tiếp theo Chuyên Lý, Trường THPT Chuyên Tiền Giang (39,65 điểm) và Chuyên Hóa, Trường THPT Chuyên Nguyễn Quang Diêu (39,35 điểm).
4. Hoạt động y tế:
Trong tháng có 16/44 bệnh truyền nhiễm được ghi nhận. Cộng dồn số ca mắc so với cùng kỳ, có 17 bệnh tăng (Bệnh do liên cầu lợn ở người, Rubella, Sốt xuất huyết Dengue, Tay - chân - miệng, Viêm màng não do não mô cầu, Dại, Liệt mềm cấp nghi bại liệt, Lao phổi, Sốt rét, Thương hàn, Uốn ván khác, Viêm gan vi rút A, Viêm não Nhật Bản, Xoắn khuẩn vàng da, Quai bị, Thủy đậu, Covid-19); 10 bệnh giảm (Sởi, Ho gà, Viêm gan vi rút B, Viêm gan vi rút C, Viêm não vi rút khác, Bệnh do vi rút Adeno, Cúm, Lỵ trực trùng, Tiêu chảy, Viêm gan vi rút khác); 17 bệnh tương đương hoặc không xảy ra ca mắc.
Các bệnh truyền nhiễm trong tháng ghi nhận như: bệnh sốt xuất huyết 633 ca mắc, làm 01 ca tử vong do bệnh sốt xuất huyết; bệnh tay - chân - miệng 649 ca, không có ca tử vong. Cộng dồn số ca mắc bệnh sốt xuất huyết: 4.251 ca, tăng 147,0%, 01 ca tử vong (cùng kỳ không có ca tử vong); bệnh tay – chân – miệng: 3.316 ca, tăng 33,8% so cùng kỳ, 01 ca tử vong (cùng kỳ không có ca tử vong).
Phòng chống HIV/AIDS trên địa bàn tỉnh tính đến nay là 16.222 người nhiễm HIV; 5.051 người chuyển sang AIDS; 3.940 người tử vong do AIDS.
Khám chữa bệnh trong tháng cho 677,5 nghìn lượt người, giảm 1,1% so cùng kỳ; trong đó, số người điều trị nội trú là 43,3 nghìn lượt người, tăng 5,0%. Cộng dồn từ đầu năm, đã khám chữa bệnh trên 3,9 triệu lượt người, giảm 9,6%; trong đó, số người điều trị nội trú trên 242,5 nghìn lượt người, giảm 1,5%. Cộng dồn từ đầu năm, công suất sử dụng giường bệnh bình quân đạt 79,1%.
5. Hoạt động văn hóa - thể thao:
a. Hoạt động văn hóa nghệ thuật: trong tháng, hoạt động văn hóa nghệ thuật trên địa bàn tỉnh tập trung công tác truyền thông, tuyên truyền kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh – Liệt sĩ (27/7/1947 – 27/7/2026). Đồng thời, hoạt động tuyên truyền lưu động và chiếu phim phục vụ Nhân dân được duy trì thường xuyên.
b. Hoạt động thư viện: công tác phục vụ bạn đọc đạt 54.651 lượt người, 163.953 lượt tài liệu (trong đó 526.134 lượt truy cập qua không gian mạng); tổ chức hiệu quả các hoạt động đọc sách, trải nghiệm từ sách, chương trình Hè vui đọc sách lần thứ XV năm 2026. Tổ chức Cuộc thi “Góc ảnh đẹp Thư viện” lần thứ V năm 2026 với chủ đề “Gia đình đọc sách - Gắn kết yêu thương”, kết quả trao 17 giải tập thể gia đình và 17 giải cá nhân. Cuộc thi Đại sứ Văn hóa đọc năm 2026 tiếp nhận 19.211 bài dự thi từ 237 trường, lựa chọn 1.041 bài vào vòng chung kết cấp tỉnh. Cuộc thi “Bác Hồ trong trái tim tôi” (lần thứ V) năm 2026 tiếp nhận 1.050 bài dự thi, thực hiện sơ loại và gửi tham gia vòng chung kết; tổ chức trưng bày, triển lãm sách, tài liệu về khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và địa chí Đồng Tháp với hơn 200 tài liệu, phục vụ trên 1.200 lượt người tại Ngày hội Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phường Mỹ Ngãi năm 2026.
Hoạt động thư viện trên địa bàn tỉnh tiếp tục được duy trì ổn định, đáp ứng nhu cầu bạn đọc cả trực tiếp và trực tuyến. Tổng lượt phục vụ đạt 54.651 lượt người, 163.953 lượt tài liệu, trong đó 526.134 lượt truy cập qua không gian mạng. Các hoạt động thúc đẩy văn hóa đọc được tổ chức hiệu quả, nổi bật là chương trình Hè vui đọc sách lần thứ XV năm 2026. Ngoài ra, hoạt động trưng bày, triển lãm sách, tài liệu về khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và địa chí Đồng Tháp được thực hiện với hơn 200 tài liệu, phục vụ trên 1.200 lượt người tại Ngày hội Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phường Mỹ Ngãi năm 2026.
c. Hoạt động bảo tàng: trong tháng, hoạt động bảo tàng trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì trưng bày các chuyên đề cố định; thực hiện bảo quản hiện vật tại các nhà trưng bày, khu trưng bày ngoài trời và các kho hiện vật. Công tác truyền thông qua Fanpage ghi nhận 237.070 lượt xem và 15.572 lượt tương tác. Các nhà trưng bày tại 02 cơ sở đón tiếp 1.394 khách tham quan, trong đó có 03 đoàn khách và 01 khách quốc tế.
d. Hoạt động thể dục, thể thao: trong tháng, các đội tuyển thể thao của tỉnh tham gia 17 giải thể thao quốc gia, Đông Nam Á, châu Á đạt 23 huy chương Vàng, 29 huy chương Bạc, 37 huy chương Đồng. Nổi bật, tham dự Giải Karate Đông Nam Á tại Ninh Bình, kết quả đạt 02 huy chương vàng, 04 huy chương bạc, 02 huy chương đồng.
6. Tình hình trật tự an toàn xã hội (theo báo cáo ngành Công an):
Trong tháng xảy ra 128 vụ phạm tội về trật tự xã hội, làm chết 08 người, bị thương 46 người, tài sản thiệt hại khoảng 33,8 tỷ đồng. Tính từ đầu năm đến nay, tổng số vụ phạm tội là 692 vụ, giảm 22 vụ so cùng kỳ.
Về tội phạm ma túy trong tháng, lực lượng chức năng đã phát hiện, xử lý 100 vụ với 132 đối tượng, trong đó, có 21 vụ với 22 đối tượng tàng trữ trái phép chất ma túy, 09 vụ với 13 đối tượng mua bán trái phép chất ma túy, 13 vụ với 40 đối tượng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, 57 vụ với 57 đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy.
7. Trật tự an toàn giao thông (theo báo cáo ngành Công an, số liệu tính từ ngày 15/6/2026 đến 14/7/2026):
Tai nạn giao thông đường bộ: trong tháng, xảy ra 30 vụ, giảm 17 vụ so tháng trước và giảm 03 vụ so cùng kỳ. Hậu quả làm chết 24 người (giảm 17 người so tháng trước, giảm 02 người so cùng kỳ) và 13 người bị thương (tương đương so tháng trước và so cùng kỳ). Cộng dồn từ đầu năm đến tháng báo cáo, toàn tỉnh đã xảy ra 309 vụ, giảm 50 vụ so với cùng kỳ; làm chết 254 người (tăng 05 người) và làm bị thương 111 người (giảm 70 người). Các nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông chủ yếu vẫn do ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông như: uống rượu say, điều khiển xe khi có rượu bia, phóng nhanh vượt ẩu, không làm chủ tốc độ; không đi đúng phần đường, làn đường; không nhường đường, vượt đèn đỏ, thiếu quan sát…
Tai nạn giao thông đường thủy: trong tháng không xảy ra. Cộng dồn từ đầu năm đến nay là 03 vụ làm chết 02 người, tương đương về số vụ và số người chết so với cùng kỳ.
8. Tình hình cháy nổ, môi trường và thiên tai:
- Cháy, nổ: trong tháng xảy ra 03 vụ cháy, thiệt hại tài sản khoảng 208 triệu đồng; nguyên nhân chủ yếu do sự cố hệ thống thiết bị điện. Tính từ đầu năm đến nay, xảy ra 26 vụ cháy, tăng 13 vụ; làm chết 02 người, giảm 02 người so với cùng kỳ.
- Môi trường: Trong tháng xảy ra 05 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý 05 vụ, với số tiền xử phạt 5,25 triệu đồng. Tính từ đầu năm, xảy ra 16 vụ vi phạm môi trường, giảm 25 vụ so với cùng kỳ; đã xử lý 18 vụ với tổng số tiền xử phạt trên 1,3 tỷ đồng.
- Thiên tai: trong tháng, trên địa bàn tỉnh xảy ra 25 vụ thiên tai, tổng giá trị tài sản thiệt hại ước tính 18.251 triệu đồng. Trong đó gồm 08 vụ mưa, giông lốc, sét tại các xã Thanh Bình, Long Bình, Mỹ Lợi, Tân Dương, Tân Hương, Gò Công Đông, Bình Phú và phường Bình Xuân; làm chết 01 người (do sét đánh), làm sập 01 căn nhà, tốc mái 77 căn (trong đó 01 căn tốc mái hoàn toàn) và 04 phòng học; gãy, ngã 10 trụ điện; hư hỏng 04 chuồng trại; thiệt hại 0,7 ha hoa màu; ngã đổ 320 cây chuối, 27 gốc sầu riêng cùng nhiều cây xanh. Đồng thời xảy ra 17 vụ sạt lở nội đồng tại các xã Lai Vung, Mỹ Thọ, Hội Cư, Thanh Hưng, Tân Dương, Tân Khánh Trung, Bình Thành, Kim Sơn, Mỹ Đức Tây, Bình Phú, Hiệp Đức và các phường Sa Đéc, Mỹ Ngãi, với tổng chiều dài 515,2m; làm sập 01 căn nhà, 01 căn đổ xuống sông, hư hỏng khoảng 33m bờ kè, sụp lún nhiều đoạn đường gây ảnh hưởng giao thông cục bộ tại các khu vực bị sạt lở.
Tập tin : web_solieu_uoc T7-2026.xlsx
Tin khác