0273.3 872582 | dongthap@nso.gov.vn

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Tháp Quý I năm 2026

02/04/2026 14:15

Tình hình chính trị thế giới trong những tháng đầu năm 2026 điễn biến phức tạp, cuộc chiến ở Trung Đông đã đẩy giá năng lượng, logistics và chuỗi cung ứng vào trạng thái biến động mạnh… ảnh hưởng đến phát triển kinh tế trong nước nói chung và tỉnh Đồng Tháp nói riêng.

 Với quyết tâm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2026, ngay từ đầu năm, Tỉnh ủy, UBND tỉnh tổ chức triển khai kế hoạch và giao nhiệm vụ cụ thể cho từng ngành, từng địa phương; tăng cường các biện pháp nhằm bình ổn giá cả thị trường, kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho các đối tượng chính sách và nhân dân vui xuân đón Tết vui tươi, lành mạnh, an toàn, tiết kiệm và đảm bảo trật tự an toàn xã hội; chủ động nguồn hàng hóa phục vụ nhu cầu Tết của nhân dân. Các hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh được tổ chức linh hoạt diễn ra sôi nổi, các doanh nghiệp đã chủ động tiết kiệm chi phí, tối ưu hóa quy trình sản xuất và tìm kiếm nguồn nguyên liệu phù hợp, qua đó hạn chế phần nào tác động tiêu cực từ việc tăng giá xăng dầu. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội được thực hiện trong điều kiện kinh tế tiếp tục phục hồi và phát triển. Kết quả thực hiện ở các lĩnh vực cụ thể như sau:

I. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊU KINH TẾ

1. Tài chính - Ngân hàng:

a. Tài chính:

Thu ngân sách nhà nước: ước thu quý I năm 2026 được 15.389 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn thực hiện 7.777 tỷ đồng, đạt 32,7% dự toán, tăng 23,7% so cùng kỳ; thu nội địa 7.527 tỷ đồng, đạt 32,4% dự toán, tăng 22,8% so cùng kỳ. Các khoản thu chủ yếu như sau:

- Thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 1.262 tỷ đồng, đạt 31,2% dự toán, tăng 36,8% so cùng kỳ.

- Thu từ hoạt động xổ số kiến thiết 1.852 tỷ đồng, đạt 40% dự toán, tăng 38,1% so cùng kỳ.

- Thu thuế công thương nghiệp ngoài quốc doanh 2.208 tỷ đồng đạt 46% dự toán, tăng 50% so cùng kỳ.

Chi ngân sách nhà nước:

Tổng chi ngân sách quý I năm 2026 là 11.291 tỷ đồng, đạt 28,1% dự toán và tăng 24% so cùng kỳ, trong đó: chi đầu tư phát triển 850 tỷ đồng, đạt 9,7 % dự toán, bằng 23%; chi hành chính sự nghiệp 5.711 tỷ đồng, đạt 25,3% dự toán và tăng 48,3% so cùng kỳ.

b. Ngân hàng:

Kinh tế toàn cầu diễn biến phức tạp, rủi ro bất ổn thị trường tài chính tăng cao, nhiều quốc gia tiếp tục tăng lãi suất để kiềm chế lạm phát. Ngân hàng trên địa bàn tỉnh đóng vai trò trọng tâm tiếp tục chủ động điều hành chính sách tiền tệ kịp thời, hiệu quả.

Đến cuối tháng 2/2026, vốn huy động đạt 210.234 tỷ đồng, tăng 0,98% so với cuối năm 2025; tổng dư nợ cho vay thực hiện là 239.606 tỷ đồng, giảm 1,56% so với cuối năm 2025. Ước tính đến cuối tháng 3/2026, vốn huy động đạt 210.541tỷ đồng, tăng 0,15% so với cuối năm 2025; tổng dư nợ cho vay thực hiện là 241.403 tỷ đồng, tăng 0,75% so với cuối năm 2025.

Về lãi suất huy động: hầu hết các chi nhánh Ngân hàng thương mại (NHTM) trên địa bàn tỉnh chấp hành tốt các quy định về lãi suất huy động theo quy định của Ngân hàng nhà nước. Đến cuối tháng 2/2026 lãi suất huy động bằng VND như: đối với tiền gửi có kỳ từ 6 tháng đến 12 tháng: dao động từ 2,89% - 7,9%/năm đối với khách hàng cá nhân, từ 2,5% - 7,5%/năm đối với khách hàng pháp nhân; đối với tiền gửi trên 12 tháng dao động từ 3,13% - 8,46%/năm đối với khách hàng cá nhân, từ 2,5% - 7,8%/năm đối với khách hàng pháp nhân.

Lãi suất cho vay (LSCV): đến cuối tháng 01 LSCV trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp là 7,96%/năm tăng 0,20%/năm so cùng kỳ. Phân theo loại khách hàng lãi suất cho vay khách hàng pháp nhân là 7,15%/năm, tăng 0,23%/năm; khách hàng cá nhân là 8,65%/năm, tăng 0,14%/năm. Theo thời hạn cho vay lãi suất cho vay ngắn hạn 7,42%/năm, tăng 0,21%; LSCV trung hạn 10,05%, tăng 0,11%; LSCV dài hạn tăng 8,44%, tăng 0,10%. Đây cũng là tín hiệu tích cực về lãi suất, góp phần hỗ trợ khách hàng sản xuất kinh doanh.

Nợ xấu: đến cuối tháng 2/2026 là 6.299 tỷ đồng, tỷ lệ 2,64%, tăng 0,23% so với cuối năm 2026. Ước đến cuối tháng 3/2026, tỷ lệ nợ xấu dưới 3%.

Quỹ tín dụng nhân dân:Hệ thống quỹ tín dụng nhân dân trên địa bàn hoạt động ổn định, sát với mục tiêu góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Đến cuối 2/2026, tổng nguồn vốn huy động 2.807 tỷ đồng, giảm 51 tỷ đồng, tỷ lệ giảm 1,78% so với cuối năm 2025. Dư nợ cho vay đạt 2.318 tỷ đồng, giảm 21 tỷ và tỷ lệ giảm 0,90% so với cuối năm 2025. Tỷ lệ nợ xấu 0,95% so với cuối năm 2025.

2. Giá cả, lạm phát:

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 03/2026 tăng 1,4% (khu vực thành thị tăng 1,32%, nông thôn tăng 1,42%) so tháng 2/2026, tăng 4,47% so tháng 3/2025, do giá xăng dầu, giá gas tăng mạnh theo giá nhiên liệu thế giới cùng với giá dịch vụ y tế tăng theo Nghị quyết 126/NQ-HĐND ngày 23/12/2025 về quy định giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp.

So với tháng 02/2026, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 07 nhóm tăng: nhóm giao thông tăng 13,76%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 7,5%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và VLXD tăng 1,26%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,06%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,4%; hàng hóa, dịch vụ khác tăng 0,15%; bưu chính viễn thông tăng 0,13%; Có 03 nhóm chỉ số giá giảm: hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,82% (trong đó: lương thực giảm 1,03%, thực phẩm giảm 1,53%, ăn uống ngoài gia đình tăng 0,86%); may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,61%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,37%. Riêng nhóm giáo dục chỉ số giá ổn định.

Một số mặt hàng có chỉ số giá tăng so với tháng trước:

- Nhóm giao thông tháng tăng 13,76%, tác động làm tăng CPI chung 1,56 điểm phần trăm, do giá xăng dầu điều chỉnh tăng theo giá dầu thế giới, từ đầu tháng 3 đến ngày 26/3/2026 có 8 lần điều chỉnh giá xăng dầu, trong đó: giá xăng tăng 35,15%; giá dầu diezen tăng 59,49%, dầu mỡ nhờn tăng 5,37%.

- Chỉ số giá nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,26%, tác động làm tăng CPI chung 0,23 điểm phần trăm, tăng chủ yếu do tác động giá của một số mặt hàng sau: giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 1,25% do giá xăng dầu tăng nên chí phí vận chuyển tăng theo làm giá các loại vật liệu xây dựng như: xi măng, sắt, thép, cát... tăng so với tháng trước; giá dịch vụ sữa chữa nhà tăng 2,35% do chi phí đẩy. Giá gas petrolimex trong tỉnh đến thời điểm hiện tại đã điều chỉnh 5 lần, tăng 21,83%; từ 1/3/2026 đến 27/3/2026 giá xăng dầu điều chỉnh 9 lần vào các ngày 5/3; 7/3; 10/3; 11/3; 12/3; 19/3; 24/3; 25/3 và 27/3/2026 đã làm chỉ số giá dầu hỏa tăng 63,69%.

- Đồ uống và thuốc lá tăng 1,06%, tác động làm tăng CPI chung 0,04 điểm phần trăm, chủ yếu ở nhóm nước khoáng và nước có ga tăng 1,04%, bia rượu tăng 1,31% so với tháng trước.

- Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,40% so với tháng trước, tác động làm tăng CPI chung 0,02 điểm phần trăm, cụ thể nhóm thiết bị dùng trong gia đình tăng 0,29% do chi phí vận chuyển tăng.

Mặt hàng có chỉ số giá giảm so với tháng trước như sau:

- Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,82%, trong đó

+ Nhóm hàng lương thực giảm 1,03%, góp phần làm CPI chung giảm 0,05 điểm phần trăm, do đang vào vụ thu hoạch Đông Xuân nên nguồn cung gạo mới dồi dào, tác động đến giá gạo bán lẻ thị trường trong tỉnh tháng này giảm 1,19%; khoai lang giảm 2,78%; sắn giảm 1,00% so với tháng trước.

+ Nhóm hàng thực phẩm giảm 1,53%, góp phần làm CPI chung giảm 0,34 điểm phần trăm do hiện nay nhu cầu tiêu dùng thịt lợn giảm so với thời điểm trước trong và sau Tết trong khi nguồn cung tại địa phương rất dồi dào, dẫn đến giá thịt lợn giảm 2,34%. Chỉ số giá rau tươi, khô và chế biến giảm 5,48% so với tháng trước, do nguồn cung ở Đà Lạt về nhiều và ở địa phương nguồn cung rau, củ, quả cũng rất phong phú và đa dạng về số lượng và chất lượng. Cụ thể như sau: Bắp cải giảm 13,45%, su hào giảm 6,77%, cà chua giảm 16,40%, giá khoai tây giảm 0,50%, rau muống giảm 6,24%, đỗ quả tươi giảm 2,39%; rau dạng quả, củ giảm 4,35%; rau tươi khác giảm 2,54%...

+ Nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 0,86% so với tháng trước do giá gas và giá xăng dầu trong tháng tăng mạnh nên nhóm hàng ăn uống ngoài gia đình tăng theo, ăn ngoài gia đình tăng 1,10%, uống ngoài gia đình tăng 0,38%, ăn nhanh mang đi tăng 0,28%.

- Nhóm may mặc, mũ nón và giày dép giảm 0,61%, tác động làm tăng CPI chung giảm 0,03 điểm phần trăm. Trong đó, vải các loại giảm 0,66%, quần áo may sẵn giảm 0,26%, giày dép giảm 2,05%, dịch vụ may mặc giảm 0,02%,... nguyên nhân giảm chủ yếu do nhu cầu mua sắm sau Tết giảm và doanh nghiệp thực hiện chương trình khuyến mãi kích cầu tiêu dùng.

Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 3 tháng năm 2026 so cùng kỳ tăng 3,35%; một số nhóm hàng có giá tăng nhiều trong 3 tháng năm 2026 so cùng kỳ như: nhà ở, điện, nước, chất đốt và VLXD tăng 5,86%; hàng hóa, dịch vụ khác tăng 4,21%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,54%; giáo dục tăng 3,53%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,2%...

Chỉ số giá vàng tháng 03/2026 tăng 1,17% so với tháng 02/2026, tăng 18,81% so với tháng 12/2025, tăng 75,3% so với bình quân cùng kỳ,  tăng bình quân 197 ngàn đồng/chỉ (từ 16.942 ngàn đồng/chỉ lên 17.139 ngàn đồng/chỉ) đối với vàng nhẫn trơn 9999.

Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng 03/2026 tăng 1,57% so tháng trước, tương đương tăng 41 đồng/USD (2.636 đồng/USD – 2.677 đồng/USD), giảm 0,04% so với tháng 12/2025 và tăng 2,4% so với bình quân cùng kỳ.

3. Đầu tư và Xây dựng:

Trong quý I năm 2026, các Ban quản lý dự án, chủ đầu tư tập trung đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình trọng điểm, đồng thời phối hợp với các Ban Quản lý dự án Trung ương để thực hiện các dự án trên địa bàn tỉnh, các địa phương đẩy mạnh đầu tư hạ tầng bệnh viện, trường học, giao thông nông thôn, chỉnh trang đô thị.

Vốn đầu tư toàn xã hội quý I/2026 ước thực hiện 15.625 tỷ đồng, đạt 16,8% kế hoạch năm, tăng 10,0% so cùng kỳ (trong đó: vốn đầu tư xây dựng cơ bản 9.460 tỷ đồng, chiếm 60,5% vốn đầu tư toàn xã hội) bao gồm: vốn Nhà nước 4.495 tỷ đồng, giảm 7,3%; vốn ngoài Nhà nước 8.744 tỷ đồng, tăng 7,3%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 2.386 tỷ đồng, tăng 99,0% so cùng kỳ.

Tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý quý I/2026 thực hiện 1.621 tỷ đồng, đạt 14,3% kế hoạch, giảm 34,6% so cùng kỳ; gồm có: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 1.483 tỷ đồng, giảm 39,7%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 138 tỷ đồng. Ngày 19/3/2026 trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp khởi công xây dựng 4 trường phổ thông nội trú tại các xã biên giới đất liền với tổng mức đầu tư của 4 trường nội trú 1.205 tỷ đồng, trong đó ngân sách trung ương chiếm 92% (1.108 tỷ đồng); tổng diện tích xây dựng của 4 công trình là 196.760 m2 các dự án dự kiến hoàn thành trong năm 2027.

Trong quý I, tỉnh thu hút 01 dự án đầu tư mới, vốn đăng ký đạt 31,4 tỷ đồng; cấp điều chỉnh tăng vốn 01 dự án (tăng 272 tỷ đồng); tiếp nhận, thẩm định trình UBND tỉnh quyết định 3 hồ sơ viện trợ phi Chính phủ nước ngoài, ODA không hoàn lại, với tổng vốn viện trợ hơn 114 nghìn USD.

4 Tình hình hoạt động của doanh nghiệp: (Theo báo cáo của Sở Tài Chính)

Theo Sở Tài chính, tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới tính từ đầu năm 2026 đến ngày báo cáo là 827 doanh nghiệp, tăng 148,3% so với cùng kỳ, với tổng vốn đăng ký là 3,3 nghìn tỷ đồng, tăng 22,7% so với cùng kỳ. Số doanh nghiệp giải thể là 140 doanh nghiệp, tăng 79,5% so với cùng kỳ; có 470 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, tăng 10,6% so với cùng kỳ; 266 doanh nghiệp hoạt động trở lại, bằng 99% so với cùng kỳ năm 2025.

5. Sản xuất nông - lâm nghiệp và thủy sản:

a. Nông nghiệp:

Trong quý I năm 2026, tình hình xâm nhập mặn trên địa bàn tỉnh có diễn biến gia tăng và xâm nhập sâu vào nội đồng. Độ mặn sâu nhất được ghi nhận vào ngày 14/02/2026 tại cầu Trường Chính Trị (phường Thới Sơn, cách cửa sông khoảng 49 km) đạt 0,45 g/l, sau đó giảm dần và không gây ảnh hưởng đến việc vận hành lấy nước của các công trình thủy lợi trên địa bàn. Hoạt động sản xuất nông nghiệp tiếp tục được duy trì ổn định; cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt, tình hình sâu bệnh ở mức thấp đến trung bình và được kiểm soát kịp thời. Chăn nuôi cơ bản ổn định, một số dịch bệnh phát sinh cục bộ nhưng được kiểm soát hiệu quả, không để lây lan trên diện rộng. Lĩnh vực thủy sản tiếp tục duy trì đà phát triển ổn định cả về nuôi trồng và khai thác.

* Trồng trọt:

Cây lương thực có hạt: diện tích gieo trồng tính đến ngày 20/03/2026 ước đạt 290.137 ha, giảm 13,4% so cùng kỳ; sản lượng thu hoạch ước đạt 945.442 tấn, giảm 42,8% so cùng kỳ. Trong đó cây lúa gieo sạ 287.261 ha, giảm 13,6% so cùng kỳ; sản lượng thu hoạch ước đạt 933.343 tấn, giảm 43,5% cụ thể:

- Cây lúa:

+ Vụ Đông xuân 2025 – 2026: diện tích gieo trồng ước tính 223.449 ha, đạt 98,4% kế hoạch và giảm 2,7% so cùng kỳ, tương ứng giảm 6.230 ha do không sản xuất 4.023 ha, chuyển đổi sang cây lâu năm 1.594 ha, cây hàng năm khác 533 ha, nuôi trồng thủy sản 55 ha, đất phi nông nghiệp là 25 ha. Lúa Đông xuân 2025-2026 đã thu hoạch 128.737 ha, chiếm 57,6% diện tích gieo trồng của vụ; Năng suất thu hoạch bình quân ước đạt 72,5 tạ/ha, tăng 0,8% so cùng kỳ với sản lượng thu hoạch ước đạt 933.343 tấn.

+ Vụ Hè thu năm 2026: tính đến ngày 20/3/2026, ước tính gieo sạ được 63.811 ha, đạt 28,2% so với kế hoạch, giảm 38% so với cùng kỳ. Hiện nay, lúa đang trong giai đoạn mạ, đẻ nhánh và làm đòng.

Hình 1. Diện tích gieo trồng một số cây hàng năm tính đến 20/3/2026

- Cây ngô: diện tích gieo trồng tính đến ngày 20/3/2026 ước đạt 2.877 ha, đạt 39% so với kế hoạch, tăng 12,4% so cùng kỳ. Sản lượng thu hoạch ước đạt 12.109 tấn, đạt 23,2% so với kế hoạch, tăng 8,8% so với cùng kỳ.

Cây rau đậu các loại: diện tích gieo trồng tính đến 20/3/2026 ước đạt 21.843 ha, giảm 20,3% so cùng kỳ; trong đó: rau các loại 21.678 ha, giảm 20,4% so cùng kỳ. Sản lượng thu hoạch ước đạt 357.190 tấn, tăng 5,0% so cùng kỳ; trong đó: rau các loại ước đạt 346.924 tấn, tăng 5,0% so cùng kỳ.

*Chăn nuôi: ước thời điểm 31/3/2026 tổng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh như sau: đàn trâu 2,0 nghìn con, giảm 4,9% so cùng kỳ; đàn bò 146,2 nghìn con, giảm 2,4%; đàn lợn 402,3 nghìn con, giảm 0,4%; đàn gia cầm 23 triệu con, giảm 1,5%. Đàn trâu tiếp tục giảm do hiệu quả kinh tế thấp, chi phí tăng và diện tích chăn thả thu hẹp. Chăn nuôi bò gặp nhiều khó khăn do giá cả bấp bênh, chi phí cao, quy mô nhỏ lẻ, sức cạnh tranh thấp. Chăn nuôi lợn cơ bản ổn định, duy trì sản xuất tốt tại các doanh nghiệp và trang trại quy mô lớn nhờ kiểm soát dịch bệnh hiệu quả. Đàn gia cầm giảm nhưng vẫn phát triển ổn định, sản lượng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, nhờ kiểm soát tốt dịch bệnh và nhu cầu tiêu dùng tăng cao, các cơ sở chăn nuôi đã chủ động triển khai công tác tái đàn thận trọng, gắn với kiểm soát con giống, tiêm phòng và áp dụng chăn nuôi an toàn sinh học.

Hình 2. Chăn nuôi tại thời điểm 31/3/2026

Trong quý, giá heo thịt hơi các loại cao hơn cùng kỳ 10-16%, giá bò thịt ổn định so với cùng kỳ; giá gia cầm thịt (giá gà tre, gà nòi, gà công nghiệp thịt hơi) giảm 5 - 15% so với cùng kỳ; giá trứng gà ác tăng 20 - 25% so với cùng kỳ, giá trứng gà công nghiệp, trứng vịt ổn định.

b. Lâm nghiệp:

Diện tích rừng trồng mới tập trung: trong tháng có 65 ha rừng được trồng mới tập trung, tăng 0,3% tương đương tăng 17,1 ha so với cùng kỳ. Ước tính quý I, có 81,9 ha rừng được trồng mới tập trung, tăng 1,1% tương đương tăng 0,9 ha so với cùng kỳ.

Cây phân tán: trong quý I, toàn tỉnh thực hiện trồng mới ước đạt 90 ngàn cây phân tán các loại, giảm 5,5% so cùng kỳ do quỹ đất dành cho trồng cây phân tán bị thu hẹp (quá trình đô thị hóa, xây dựng cơ sở hạ tầng, và việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất...). Cây phân tán được trồng tại các khu dân cư, trường học, bệnh viện, khu công nghiệp, đô thị, đường giao thông, bờ sông, kênh mương… nhằm tạo cảnh quan, góp phần giảm ô nhiễm và xây dựng không gian sống xanh.

Sản lượng gỗ khai thác: trong tháng sản lượng gỗ khai thác toàn tỉnh ước đạt 7.870 m3, giảm 13,8% so với cùng kỳ. Ước tính quý I khai thác gỗ đạt 32.300 m3, tăng 1,2% so với cùng kỳ.

c. Thủy hải sản:

Diện tích thả nuôi thâm canh trong quý I năm 2026 ước đạt 4.587 ha, tăng 1,5% so cùng kỳ; trong đó diện tích nuôi cá 1.033 (tăng 0,3%), tôm sú 2.130 ha (tăng 1,5%), tôm thẻ chân trắng 1.425 ha (tăng 1,6%).

Tổng sản lượng thủy sản trong quý I ước đạt 223.451 tấn, tăng 0,3% so cùng kỳ; trong đó: sản lượng thu hoạch từ nuôi 189.552 tấn, tăng 0,5%; sản lượng khai thác 33.899 tấn, giảm 0,8%. Sản lượng nuôi trồng tăng do do thời tiết thuận lợi, thủy sản bệnh ít, năng suất cao; sản lượng khai thác biển giảm so cùng kỳ nguyên nhân chủ yếu tháng 1, 2 tàu bám biển khai thác, từ tháng 3 tàu vào bờ tạm nghỉ kết hợp sửa chữa nhỏ, giá xăng, dầu có xu hướng tăng dẫn đến tàu nằm bờ thêm khoảng 25-30%.

6. Sản xuất công nghiệp:

Chỉ số sản xuất công nghiệp quý I/2026 tăng 10,5% so với cùng kỳ, các ngành chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh tiếp tục sản xuất ổn định và tăng so cùng kỳ. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,51% (tập trung ở một số ngành cấp II chủ yếu sau: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 15,3%; dệt tăng 10,13%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 20,44%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 44,25%; sản xuất kim loại tăng 12,07%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 30,38%); ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 0,68%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,78%.

Tình hình sản xuất các sản phẩm công nghiệp quý I/2026 như sau:

- Có 60/112 sản phẩm tăng so cùng kỳ: phi lê đông lạnh tăng 20,7%; bột mịn, bột thô và bột viên từ cá tăng 33,9%; quả và hạt ướp lạnh tăng 26,5%; thức ăn cho gia súc tăng 14,3%; thức ăn cho gia cầm tăng 56,6%; thức ăn cho thủy sản tăng 10,5%; bia đóng lon tăng 19%; bao và túi từ plastic khác tăng 54,9%; thùng chứa, bể và các loại tương tự dung tích trên 300 lít bằng plastic tăng 92,5%; bê tông trộn sẵn tăng 4,4%; ống và ống dẫn bằng đồng tăng 23,6%; bóng thể thao khác tăng 24,3%; điện gió tăng 2,7%; điện mặt trời tăng 24,4%;…

- Có 50/112 sản phẩm giảm so cùng kỳ: cát đen giảm 57,6%; gạo đã xát toàn bộ hoặc sơ bộ giảm 1,0%; miến, hủ tiếu, bánh đa khô và các loại tương tự giảm 3,8%; bia đóng chai giảm 20,0%; thuốc lá có đầu lọc giảm 42,5%; áo quần các loại giảm 5,4%; túi xách giảm 28,4%; giày dép và các bộ phận của giày dép giảm 11%; …

Hình 3. Chỉ số sản xuất công nghiệp Quý I năm 2026

* Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo:

Chỉ số tiêu thụ tháng 3/2026 so với tháng trước tăng 7,43%, so với cùng kỳ tăng 0,14%; chỉ số tồn kho so với tháng trước tăng 10,58%, so với cùng kỳ tăng mạnh 38,62%. Cụ thể tình hình tiêu thụ và tồn kho một số ngành cấp II trong tháng 3/2026 so với cùng kỳ như sau:

- Nhóm có nhu cầu tiêu thụ tăng, lượng tồn kho giảm gồm:

+ Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị): tiêu thụ tăng 7,04%, tồn kho giảm mạnh 46,83%.

+ Sản xuất thiết bị điện: tiêu thụ tăng trưởng đột biến (tăng 227,65%), tồn kho giảm 13,88% (do tình hình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm dây cáp điện của Công ty TNHH Nissei Electric Mỹ Tho tăng cao).

- Nhóm có chỉ số tiêu thụ và tồn kho tăng (do nhu cầu tiêu thụ tăng, doanh nghiệp tăng tồn kho để chủ động nguồn cung):

+ Sản xuất chế biến thực phẩm: tiêu thụ tăng 0,74%, tồn kho tăng 47,35%.

+ Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic: tiêu thụ tăng mạnh 48,99%, tồn kho tăng nhẹ 0,8% (Công ty TNHH Lốp Advance Việt Nam đã đi vào sản xuất ổn định và mở rộng dây chuyền);

+ Sản xuất kim loại: tiêu thụ tăng 3,75%, tồn kho tăng 6,54%.

- Nhóm có chỉ số tiêu thụ giảm nhưng tồn kho tăng (do thị trường xuất khẩu và tiêu thụ nội địa gặp khó khăn):

+ Sản xuất sản phẩm thuốc lá: tiêu thụ giảm mạnh 34,96%, tồn kho cũng tăng mạnh 118,35%.

+ Dệt: tiêu thụ giảm 43,54%, tồn kho tăng cao 86,09%.

+ Sản xuất trang phục: tiêu thụ giảm 37,23%, tồn kho tăng 42,03%.

+ Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan: tiêu thụ giảm 21,74%, tồn kho tăng 13,04%.

+ Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa: tiêu thụ giảm sâu 57,05%, tồn kho tăng 10,62%.

+ Sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất: tiêu thụ giảm 12,14%, tồn kho tăng 25,31%.

+ Sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu: tiêu thụ giảm nhẹ 0,95%, tồn kho tăng 50,75%.

- Nhóm có chỉ số tiêu thụ và tồn kho giảm:

+ Sản xuất đồ uống: tiêu thụ giảm 4,74%, tồn kho giảm mạnh 90,17%.

+ Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy: tiêu thụ giảm 28,57% và tồn kho giảm 58,88%.

7. Thương mại, dịch vụ:

a. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng:

Hoạt động kinh doanh trên địa bàn tỉnh trong quý I năm 2026 diễn ra ổn định và tăng hơn so cùng kỳ, lượng hàng hóa dồi dào, các đơn vị kinh doanh chủ động dự trữ hàng hóa để phục vụ nhu cầu mua sắm của người dân trong các dịp lễ, Tết. Nắm bắt nhu cầu, sức mua của người tiêu dùng tăng mạnh vào các dịp lễ, nhiều hệ thống siêu thị và trung tâm thương mại đã tổ chức các chương trình khuyến mãi, giảm giá lớn nhằm tăng doanh số bán hàng cũng như phục vụ người tiêu dùng trong đợt nghỉ dài ngày.

Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng quý I/2025 thực hiện 42.974 tỷ đồng, đạt 14,8% kế hoạch, tăng 12% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 31.353 tỷ đồng, tăng 12,4%; lưu trú 171 tỷ đồng, tăng 16,6%; ăn uống 5837 tỷ đồng, tăng 14,4%; du lịch lữ hành 109 tỷ đồng, tăng 49,2%; dịch vụ tiêu dùng khác 5.503 tỷ đồng, tăng 6,6% so cùng kỳ.

Hình 4. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng

Tình hình hàng hóa phục vụ Tết Nguyên đán Bính Ngọ:

Quý I là thời điểm Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026 nên Tỉnh tập trung triển khai các giải pháp của Chỉ thị số 18/CT-BCT ngày 25/11/2025 của Bộ Công Thương về thực hiện các giải pháp bảo đảm cân đối cung cầu, bình ổn thị trường cuối năm 2025 và dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026; Kế hoạch số 68/KH-UBND ngày 21/01/2026 về dự trữ, cung ứng hàng hóa thiết yếu phục vụ Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp. Số lượng đơn vị phân phối đăng ký dự trữ, cung ứng hàng hóa trên địa bàn tỉnh có 20 doanh nghiệp, hợp tác xã và 02 chợ (7 hộ kinh doanh tại chợ) đăng ký dự trữ, cung ứng hàng hoá với tổng trị giá vốn là 604 tỷ đồng, trong đó hàng hóa thiết yếu là 228 tỷ đồng; 29 điểm thực hiện bán hàng bình ổn của 19 doanh nghiệp/hợp tác xã phân phối và hệ thống các siêu thị Co.opmart trên địa bàn tỉnh đã tổ chức thành công 10 chuyến hàng đưa hàng Việt về nông thôn tại 09 địa bàn xã/phường. Các doanh nghiệp, địa phương đã tổ chức triển khai phương án dự trữ hàng hóa thiết yếu; chủ động, thường xuyên nắm bắt tình hình cung ứng hàng hóa tại các đơn vị phân phối, bán lẻ trên địa bàn để kịp thời đánh giá khả năng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân, theo dõi diễn biến thị trường, phối hợp điều tiết nguồn hàng khi cần thiết, góp phần bảo đảm cân đối cung - cầu và ổn định giá cả trong dịp Tết.

b. Xuất - Nhập khẩu: (Theo báo cáo Sở Công Thương)

Hoạt động xuất khẩu của trên địa bàn tỉnh tiếp tục được duy trì nhưng do bối cảnh thế giới biến động phức tạp, khó lường, với nhiều rủi ro, thách thức như: chi phí logistics tăng cao; chiến sự tại Trung Đông…. đã ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu của doanh nghiệp. Để chủ động thích ứng linh hoạt, kịp thời, phù hợp, hiệu quả với tình hình thế giới, khu vực, đồng thời thúc đẩy hơn nữa hoạt động xuất khẩu góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2026. Các địa phương đã chủ động triển khai đồng loạt các giải pháp, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp trong hoạt động xuất nhập khẩu.

a. Xuất khẩu:

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa quý I ước đạt 2.250 triệu USD, đạt 22,5 kế hoạch và tăng 11,9% so cùng kỳ.

Ước tính một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của tỉnh trong quý I như sau:

- Gạo: Sản lượng thực hiện được 415 ngàn tấn, đạt 17,7% kế hoạch và giảm 32,1% so cùng kỳ. Giá trị xuất khẩu ước đạt 200 triệu USD, đạt 17% kế hoạch và giảm 36,3% so với cùng kỳ, xuất khẩu gạo giảm do thị trường Philippines hạn chế cấp giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật (SPS), ảnh hưởng tiến độ ký kết và giao hàng. Ngoài ra chi phí logistics tăng và rủi ro vận chuyển do biến động địa chính trị tại Trung Đông cũng gây áp lực cho doanh nghiệp.

- Thuỷ sản chế biến: Sản lượng thực hiện được 114 ngàn tấn, đạt 21,8% kế hoạch và tăng 4,7% so cùng kỳ. Giá trị xuất khẩu ước đạt 280 triệu USD, đạt 23,3% kế hoạch và tăng 6,45% so với cùng kỳ. Mặt hàng thủy sản xuất khẩu chủ yếu là sản phẩm từ cá tra (chiếm 81,3%), còn lại là các thủy sản khác như nghêu, sò, mực, ếch, thủy sản đóng hộp, chả cá…

- Hàng rau quả: Sản lượng thực hiện được 23 ngàn tấn, đạt 19,5% kế hoạch và tăng 96,6% so cùng kỳ. Giá trị xuất khẩu ước đạt 45 triệu USD, đạt 14,1% kế hoạch và tăng 1,1 lần so cùng kỳ. Xuất khẩu rau quả tăng mạnh chủ yếu nhờ mặt hàng sầu riêng phục hồi tích cực.

- Sản phẩm công nghiệp: nhóm hàng công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong xuất khẩu của tỉnh đến cuối tháng 3/2026, như: kim loại thường khác và sản phẩm (kể cả đồng) ước đạt 470 triệu USD, đạt 30,3% kế hoạch và tăng 16,5%; sản phẩm ngành may ước đạt 169 triệu USD, đạt 16,9% kế hoạch và tương đương cùng kỳ; giày dép các loại ước đạt 200 triệu USD, đạt 19,61% kế hoạch và bằng 83,9%; Sắt thép và sản phẩm từ sắt thép ước đạt 90 triệu USD, đạt 20% kế hoạch và bằng 66,2%;...

b. Nhập khẩu:

Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa quý I năm 2026 ước đạt 1.400 triệu USD, đạt 28% kế hoạch và tăng 0,9% so với cùng kỳ.

Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu trong tổng kim ngạch nhập khẩu của tỉnh quý I năm 2025 như: kim loại thường khác (nguyên liệu đồng) ước đạt 400 triệu USD, tăng 1,27%; sắt thép các loại ước đạt 135 triệu USD, bằng 95,7%; nguyên phụ liệu dệt may, da giày, túi xách ước đạt 150 triệu USD, tăng 3%; chất dẻo nguyên liệu ước đạt 70 triệu USD, tăng 5,3% so cùng kỳ;…

c. Vận tải:

Với những giải pháp và quyết tâm, phát triển hạ tầng giao thông trên địa bàn tỉnh; các Sở, Ban ngành đã tập trung nhiều nguồn lực đầu tư, phát triển hạ tầng giao thông, triển khai công trình trọng điểm, nhất là việc cải tạo, nâng cấp, xây dựng các tuyến đường liên kết vùng…tạo đà phát triển kinh tế - xã hội. Các tuyến xe cố định trên địa bàn tỉnh tiếp tục được duy trì thông thoáng, đặc biệt các chủ cơ sở kinh doanh vận tải tự giác chấp hành tốt nội qui bến bãi, đã tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân đi lại và vận chuyển hàng hoá đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh...

Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải quý I/2026 thực hiện 2.195 tỷ đồng, tăng 17,1% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 794 tỷ đồng, tăng 30,7%; vận tải hàng hóa thực hiện 1.052 tỷ đồng, tăng 13,1% so cùng kỳ. Vận tải đường bộ thực hiện 1.102 tỷ đồng, tăng 24,8%; vận tải đường thủy thực hiện 745 tỷ đồng, tăng 13,7%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 185 tỷ đồng, giảm 5% so cùng kỳ. Trong quý I năm 2026 trên địa bàng tỉnh phát sinh nhà xe Danh Lợi Lộc đi vào hoạt động chạy tuyến chợ gạo Thành phố Hồ Chí Minh, góp phần làm cho doanh thu vận tải hành khách trên địa bàn tỉnh tăng.

Vận chuyển hành khách đạt 21.162 ngàn hành khách, tăng 22% so cùng kỳ và luân chuyển được 841.838 ngàn hành khách.km, tăng 43,5% so cùng kỳ; trong đó: vận chuyển đường bộ 8.569 ngàn hành khách, tăng 53,1% và luân chuyển 835.504 ngàn hành khách.km, tăng 43,8% so cùng kỳ; vận chuyển đường thủy 12.593 ngàn hành khách.km, tăng 7,2% và luân chuyển đường thủy 6.334 ngàn hành khách.km tăng 11% so cùng kỳ.

Vận tải hàng hóa đạt 8.094 ngàn tấn, tăng 18,6% và luân chuyển được 1.444.487 ngàn tấn.km, tăng 17,8% so cùng kỳ; trong đó: vận chuyển đường bộ thực hiện1.378 ngàn tấn,giảm 15% và luân chuyển được 233.025 ngàn tấn.km, tăng 3% so cùng kỳ; vận tải đường thủy thực hiện 6.716 ngàn tấn, tăng 29,1% và luân chuyển được 1.211.462 ngàn tấn.km, tăng 21,1% so cùng kỳ.

* Phương tiện giao thông: Trong tháng đăng ký mới 1.097 chiếc mô tô xe máy và 114 chiếc xe ô tô. Tổng số xe đang quản lý trên địa bàn tỉnh là 3.637.617 chiếc, trong đó mô tô xe máy: 3.479.694 chiếc, 154.716 xe ô tô, 169 xe ba bánh, 666 xe đạp điện và 3.372 xe khác.

d. Bưu chính - Viễn thông:

Các doanh nghiệp bưu chính, viễn thông trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì trên đà phát triển ổn định, không ngừng đầu tư nâng cấp phát triển mạng lưới, cung cấp nhiều loại hình dịch vụ phong phú, đa dạng để duy trì tốc độ phát triển, đáp ứng nhu cầu sử dụng của khách hàng.

Tổng số thuê bao điện thoại có trên mạng ước đến cuối tháng 02 năm 2026 là 3.703.848 thuê bao (chỉ tính hữu tuyến, vô tuyến, trả trước, trả sau). Thuê bao điện thoại bình quân đạt 107,36 thuê bao/100 dân. Số thuê bao điện thoại di động có sử dụng Internet (3G, 4G) đến cuối tháng 02 là: 2.568.968 thuê bao.

Tổng số thuê bao Internet trên mạng (bao gồm: băng rộng di động 3G, 4G; MyTV và Cáp; băng rộng cố định FTTH, xDSL, Leased-line, CATV) ước tính đến cuối tháng 02 năm 2026 là 3.654.389 thuê bao. Mật độ Internet bình quân ước đạt 108,82 thuê bao/100 dân.

II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Lao động, giải quyết việc làm:

a. Tư vấn và giới thiệu việc làm:

Trong quý, toàn tỉnh đã giải quyết việc làm cho 7.256 lao động, đạt 14,5% so với kế hoạch. tổ chức 28 cuộc tư vấn tuyển dụng cho người lao động hưởng bảo hiểm thất nghiệp với 34 doanh nghiệp tham gia, tư vấn cho 12.542 người, 9.028 người phỏng vấn và trên 1.300 người được kết nối.

Lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài trong quý là 688 lao động, đạt 31,3% so với kế hoạch, trong đó Nhật Bản: 400 người, Đài Loan: 124 người, Hàn Quốc: 116 người....

Về trợ cấp thất nghiệp, trong quý có 3.771 lao động đăng ký hưởng trợ cấp; Có 4.456 lao động được giải quyết chế độ trợ cấp thất nghiệp, với tổng kinh phí chi trả trên 93,7 tỷ đồng, góp phần hỗ trợ kịp thời đời sống, giúp người lao động ổn định trong giai đoạn tìm kiếm việc làm mới.

b. Tình hình thiếu việc làm, thất nghiệp:

Theo kết quả sơ bộ cuộc điều tra lao động việc làm quý I năm 2026, tình hình lao động thiếu việc làm và thất nghiệp như sau:

Trong quý I/2026, tỷ lệ lao động thiếu việc làm toàn tỉnh là 3,27%, tăng 0,34 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,72 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2025 (3,99%). Xét theo khu vực, tỷ lệ thiếu việc làm khu vực nông thôn là 2,54%, tăng 0,54 điểm phần trăm so quý trước và giảm 1,46 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước (4,00%). Khu vực thành thị có tỷ lệ thiếu việc làm là 5,33%, tăng 1,47 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,78 điểm phần trăm so cùng kỳ năm trước (4,55%). Đáng chú ý, lao động thiếu việc làm tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn, chiếm 57,39% tổng số lao động thiếu việc làm toàn tỉnh.

Tỷ lệ thất nghiệp quý I/2026 là 0,9%, tăng 0,25 điểm phần trăm so quý trước và giảm 0,09 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2025 (0,99%). Xét theo khu vực, khu vực thành thị có tỷ lệ thất nghiệp là 1,08%, giảm 0,19 điểm phần trăm so quý trước và giảm 0,51 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước (1,59%). Khu vực nông thôn có tỷ lệ thất nghiệp 0,84%, tăng 0,50 điểm phần trăm so quý trước và tăng 0,14 điểm phần trăm so với cùng kỳ (0,70%). Lao động thất nghiệp ở khu vực thành thị chiếm tỷ trọng 68,75% trong tổng số người thất nghiệp của tỉnh.

2. Đời sống dân cư và an sinh xã hội:

a. Đời sống dân cư:

Mặc dù tình hình kinh tế, chính trị thế giới có nhiều biến động, trong nước bối cảnh sáp nhập, xây dựng chính quyền địa phương hai cấp nhưng các doanh nghiệp vẫn tiếp tục duy trì sản xuất kinh doanh có chiều hướng phát triển, duy trì trả lương đều đặn hàng tháng cho người lao động từ bằng và cao hơn mức lương tối thiểu vùng theo quy định của Chính phủ, không có tình trạng nợ lương người lao động.

Trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026, nhiều doanh nghiệp đã có sự chủ động tích cực, quan tâm chăm lo Tết cho người lao động, chi trả đầy đủ tiền lương, mức tiền thưởng Tết, lương tháng 13 của người lao động năm 2026 cao hơn năm 2025, nhất là đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; các chế độ phúc lợi cũng được doanh nghiệp quan tâm hỗ trợ thông qua các phần quà, những chuyến xe về quê đón Tết,…mang ý nghĩa thiết thực, khích lệ tinh thần cho người lao động.

Trong quý I năm 2026, đời sống dân cư trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp cơ bản ổn định. Tình hình xâm nhập mặn trên địa bàn Đồng Tháp trong những tháng đầu năm thấp hơn trung bình nhiều năm và thấp hơn so với năm 2025. Tỉnh đã chủ động ứng phó hạn mặn, triển khai nhiều giải pháp, nhằm đảm bảo phục vụ sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt cho người dân như kiểm tra, sửa chữa cống đập, đảm bảo ngăn mặn, nạo vét kênh rạch, khai thông dòng chảy, trục vớt lục bình, cỏ dại, đồng thời vận động người dân tăng cường trữ nước trong ao, mương, ruộng để phục vụ tưới tiêu, Công ty Cổ phần Nhà máy nước Đồng Tâm thường xuyên kiểm tra độ mặn, vận hành các trạm bơm và giếng khoan dự phòng để đảm bảo nguồn nước. Công ty TNHH MTV Cấp nước Tiền Giang đã triển khai bơm trữ nước vào các ao chứa, vận hành 16 giếng khoan dự phòng và mở 9 vòi nước công cộng cung cấp nước miễn phí cho người dân tại các khu vực khó khăn. Đặc biệt trong tháng 3 dưới sự tác động chiến sự ở Trung Đông giá xăng dầu tăng cao tác động đến rất nhiều ngành, đời sống người dân chịu tác động từ biến động giá nhiên liệu và một số mặt hàng thiết yếu, làm chi tiêu sinh hoạt và chi phí sản xuất có tăng cao. Bên cạnh đó, giá một số nông sản chủ lực, đặc biệt là lúa, vẫn ở mức không cao, lợi nhuận thấp, ảnh hưởng nhất định đến thu nhập và khả năng tái sản xuất của nông hộ.

b. An sinh xã hội:

Trong quý I, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh nhìn chung ổn định và phát triển, quốc phòng, an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, lĩnh vực an sinh xã hội tiếp tục được đảm bảo, doanh nghiệp sản xuất tăng khá, sản xuất nông nghiệp thuận lợi... Trong dịp Tết nguyên đán Bính Ngọ 2026 lãnh đạo tỉnh quan tâm thực hiện các giải pháp đảm bảo cân đối cung cầu, bình ổn thị trường, chỉ đạo dự trữ, cung ứng hàng hóa thiết yếu phục vụ Tết, đồng thời phối hợp chặt chẽ với DN, UBND cấp xã nắm bắt tình hình cung ứng hàng hóa và giá cả thị trường để có chỉ đạo sát sao, tỉnh có nhiều giải pháp trên các nhóm đối tượng khác nhau:

- Trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026, các cấp, các ngành trong tỉnh đã tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho trên 127.837 lượt người có công với cách mạng và gia đình chính sách, với tổng kinh phí trên 53 tỷ đồng; trong đó quà của Chủ tịch nước 55.179 suất, trị giá gần 17 tỷ đồng, ngân sách xã, phường trên 36 tỷ đồng.

- Tỉnh thành lập 15 đoàn do các đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy làm trưởng đoàn đến thăm, chúc Tết và tặng quà 50 hộ gia đình chính sách tiêu biểu, hoàn cảnh khó khăn, với tổng kinh phí 150 triệu đồng từ nguồn bảo đảm xã hội.

- Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh tổ chức thăm, trao quà cho 107 hộ có nhà bị sập, đổ, cuốn trôi do thiên tai năm 2025 tại 14 xã, phường, kinh phí trên 01 tỷ đồng từ nguồn hỗ trợ của của Ban Vận động cứu trợ Trung ương. Ủy ban MTTQ cấp xã, phường vận động xây dựng 11 nhà Đại đoàn kết cho hộ nghèo (680 triệu đồng), hỗ trợ khám, chữa bệnh miễn phí cho 300 người nghèo và xây dựng 23 công trình dân sinh (cầu giao thông nông thôn, tuyến đường ánh sáng quan…) với tổng kinh phí trên 01 tỷ đồng. Đồng thời, hệ thống MTTQ các cấp đã vận động trao 235.774 phần quà Tết cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, gia đình chính sách và các đối tượng khó khăn, tổng trị giá trên 99 tỷ đồng, cơ bản bảo đảm 100% hộ nghèo, cận nghèo được nhận ít nhất 02 phần quà.

- Nhằm tạo điều kiện cho các đối tượng chính sách và người dân vui Xuân, đón Tết, tỉnh thực hiện chi trả gộp 02 tháng trợ cấp (tháng 02 và 3/2026) cho người có công, bảo đảm kịp thời, đúng đối tượng; đồng thời tiếp tục đẩy mạnh chi trả qua tài khoản, không dùng tiền mặt tiếp tục được đẩy mạnh.

- Tỉnh đã cấp miễn phí 1.046.038 thẻ bảo hiểm y tế (thẻ) cho các đối tượng, trong đó có 25.000 thẻ cho người dân tại 10 xã và 02 phường thuộc An toàn khu; tăng 40,93% so cùng kỳ.

- Tỉnh đã hỗ trợ 249.496 người yếu thế bao gồm: 94.440 người khuyết tật, 20.121 người nghèo, 567 trẻ em có hoàn cảnh đặt biệt, 110.210 người cao tuổi, 114 người nhiễm HIV, 24.044 Người đơn thân, người có hoàn cảnh khó khăn và đối tượng khác.

- Có 18.350 hộ với 56.942 nhân khẩu được hỗ trợ gạo với số lượng 418,8 tấn gạo.

3. Hoạt động giáo dục:

Trong quý I năm 2025, hoạt động giáo dục và đào tạo trên địa bàn tỉnh triển khai đúng theo kế hoạch đề ra, đảm bảo được chất lượng. Ngày 23/2 (mùng 7 tháng Giêng âm lịch), học sinh trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp chính thức trở lại trường sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026. Các cơ sở giáo dục trong tỉnh đã xây dựng kế hoạch đón học sinh trở lại trường, bảo đảm nếp dạy và học được duy trì ổn định, an toàn. Trong quý, tỉnh Đồng Tháp đã tổ chức khởi công xây dựng 4 trường phổ thông nội trú tại các xã biên giới đất liền; tổng số phòng học là 136 phòng, trong đó các trường: Trường PTNT liên cấp TH & THCS Thường Phước (50 lớp học), Trường PTNT liên cấp TH & THCS Tân Hồng (27 lớp học), Trường PTNT liên cấp TH&THCS Tân Hộ Cơ (32 lớp học), Trường PTNT liên cấp TH&THCS THCS Tân Thành (27 lớp học), góp phần củng cố cơ sở vật chất biên giới vững chắc. Bên cạnh đó, công tác bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi, chuyển đổi số trong quản lý chất lượng cũng được đẩy mạnh.

4. Hoạt động y tế:

Hoạt động y tế trên địa bàn tỉnh được đảm bảo, chăm sóc tốt sức khỏe nhân dân, cung ứng thuốc đầy đủ phục vụ cho hoạt động khám chữa bệnh. Cộng dồn đến tháng báo cáo, có 18/44 bệnh truyền nhiễm được ghi nhận. So với cùng kỳ về số mắc, có 11 bệnh tăng (Bệnh do liên cầu lợn ở người, Sốt xuất huyết Dengue, Viêm màng não do não mô cầu, Liệt mềm cấp nghi bại liệt, Thương hàn, Uốn ván khác, Viêm gan vi rút B, Viêm gan vi rút C); 07 bệnh giảm (Sởi, Tay - chân - miệng, Viêm não virus khác, Cúm, Lỵ trực trùng, Tiêu chảy, Viêm gan vi rút khác); 26 bệnh tương đương hoặc không xảy ra ca mắc.

Các bệnh truyền nhiễm trong quý được ghi nhận như: bệnh sốt xuất huyết 1.237 ca mắc, tăng 175,5%, không ghi nhận tử vong; bệnh tay - chân - miệng 708 ca, giảm 60%, không ghi nhận tử vong.

Phòng chống bệnh HIV/AIDS tính đến nay, toàn tỉnh có 16.029 người nhiễm, 5.051 người chuyển sang AIDS, tử vong do AIDS 3.923 người.

Hoạt động khám chữa bệnh cộng dồn đến tháng tháng báo cáo: tổng số lần khám bệnh là 1,2 triệu lượt người, giảm 6,6% so cùng kỳ, tổng số người điều trị nội trú 75 nghìn lượt người, giảm 6,0%. Công suất sử dụng giường bệnh bình quân trong tháng đạt 68,7%.

5. Hoạt động văn hóa - thể thao:

Hoạt động văn hóa, nghệ thuật: trong quý, tỉnh tổ chức nhiều hoạt động mừng Đảng – mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026. Tổ chức Đường hoa Xuân và Lễ Khai mạc tại Quảng trường Hùng Vương (phường Đạo Thạnh) và đường Lý Thường Kiệt (phường Cao Lãnh). Hai Đường hoa Xuân diễn ra từ ngày 16 đến 21/02/2026 (nhằm 29 tháng Chạp năm Ất Tỵ đến Mùng 5 Tết năm Bính Ngọ), thu hút trên 41.500 lượt người tham quan, thưởng lãm, chụp ảnh lưu niệm. Toàn tỉnh có 08 địa phương tổ chức bắn pháo hoa mừng Xuân Bính Ngọ, gồm: phường Đạo Thạnh, phường Cao Lãnh, phường Sa Đéc, phường Hồng Ngự, phường Long Thuận, phường Mỹ Phước Tây, xã Chợ Gạo và xã Trường Xuân. Cùng với đó, Chương trình nghệ thuật chào năm mới 2026 được truyền hình trực tiếp trên sóng Truyền hình Đồng Tháp, kết hợp bắn pháo hoa đêm Giao thừa tại 04 điểm cầu (phường Đạo Thạnh – điểm cầu chính, phường Cao Lãnh, phường Sa Đéc, phường Hồng Ngự), thu hút khoảng 180.000 lượt người theo dõi.

Hoạt động thư viện: trong quý, Thư viện Tỉnh triển lãm Hội Báo Xuân trực tuyến Bính Ngọ năm 2026 với hơn 280 ấn phẩm xuân của các bộ, ban, ngành Trung ương, Báo chí các tỉnh, thành phố trên cả nước. Giới thiệu sách trực tuyến: các ấn phẩm Báo Xuân Bính Ngọ các tỉnh, thành phố; sách về Đảng Cộng sản Việt Nam, sách về Tết Nguyên đán trên các trang thông tin điện tử của Thư viện từ ngày 07 - 21/02/2026. Tổ chức phục vụ trên 174,5 nghìn lượt người, với trên 47,8 nghìn lượt tài liệu, giảm 37% so với cùng kỳ; trên 1 triệu lượt truy cập trên các kênh thông tin của Thư viện tỉnh.

Hoạt động bảo tàng: trong quý, trưng bày chuyên đề “Sắc sen” tại Bảo tàng cơ sở 1 (phường Mỹ Tho) số lượng 50 ảnh; trưng bày “Ảnh đẹp Đồng Tháp” tại Quảng trường Hùng Vương số lượng 34 ảnh. Triển lãm ảnh Chủ đề “Cao Lãnh xưa” tại Bảo tàng cơ sở 2 (phường Cao Lãnh) số lượng 30 ảnh và 01 pano; trưng bày: Hiện vật “Đồ dùng sinh hoạt gia đình”; tranh về sen và mô hình thu nhỏ một số di tích trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp; ảnh Đồng Tháp đất và người.

Hoạt động Thể dục - Thể thao: trong quý, tham dự 14 giải quốc tế, quốc gia, khu vực, đạt tổng cộng 59 huy chương các loại, gồm: 11 huy chương vàng, 20 huy chương bạc, 28 huy chương đồng.

6. Tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội (theo báo cáo của Ngành công an):

Tình hình trật tự xã hội trên địa bàn tỉnh trong quý cơ bản được đảm bảo. Trong quý xảy ra 259 vụ, giảm 16,5% so với cùng kỳ và giảm 20,3% so với quý trước, làm chết 15 người, bị thương 86 người, tài sản thiệt hại khoảng 18,2 tỷ đồng; điều tra khám phá 232 vụ (đạt 89,6%), bắt, xử lý 510 đối tượng, thu hồi tài sản khoảng 2,7 tỷ đồng.

Tội phạm và vi phạm pháp luật về ma túy trong quý: phát hiện, xử lý 259 vụ với 379 đối tượng; trong đó, tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy: 82 vụ với 103 đối tượng...

7. Trật tự an toàn giao thông (theo báo cáo ngành công an tỉnh, số liệu tính từ ngày 15/12/2025 đến 14/3/2026):

Tai nạn giao thông đường bộ: trong quý, xảy ra 49 vụ, giảm 12 vụ so tháng trước và tăng 10 vụ so cùng kỳ. Hậu quả làm chết 34 người (giảm 18 người so tháng trước, tăng 13 người so cùng kỳ) và 24 người bị thương (tăng 02 người so tháng trước, giảm 06 người so cùng kỳ). Trong quý, toàn tỉnh đã xảy ra 145 vụ, giảm 32 vụ so với cùng kỳ; làm chết 112 người (tăng 01 người) và làm bị thương 61 người (giảm 35 người). Các nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông chủ yếu vẫn do ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông như: không đi đúng phần đường, làn đường; không nhường đường, lỗi của người đi bộ, vượt đèn đỏ, thiếu quan sát…

Tai nạn giao thông đường thủy: trong quý, xảy ra 02 vụ làm chết 01 người, tăng 01 vụ và tương đương số người chết so với cùng kỳ.

8. Tình hình cháy nổ, môi trường và thiên tai:

Cháy, nổ: xảy ra 15 vụ cháy, tăng 10 vụ so cùng kỳ, làm 02 người chết, thiệt hại trị giá trên 3,2 tỷ đồng.

Môi trường: trong quý, trên địa bàn tỉnh xảy ra 03 vụ vi phạm môi trường, giảm 06 vụ so cùng kỳ; 05 vụ đã được xử lý với tổng số tiền đã xử phạt khoảng 768,5 triệu đồng.

Thiên tai: trong quý, trên địa bàn tỉnh xảy ra 01 vụ sạt lở sông Tiền (tháng 02/2026), địa điểm sạt lở: tại tổ 01, ấp An Hòa 2, xã Phú Hựu với chiều dài sạt lở khoảng 54 m, ăn sâu vào đất liền khoảng 38m, mất khoảng 2.052 m2 đất. Hiện ảnh hưởng trực tiếp 01 hộ dân (chính quyền và người dân đã hỗ trợ tháo dỡ nhà và di dời tài sản của Hộ đến nơi ở an toàn) và nguy cơ ảnh hưởng của 03 hộ dân còn lại gần khu vực sạt lở, cụ thể khoảng cách mép sạt lở đến nhà hộ dân gần nhất khoảng 60m. Đa số tài sản của các Hộ dân trên đã được di chuyển đến nhà người thân và đều được an toàn.


File đính kèm