0273.3 872582 | dongthap@nso.gov.vn

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Tháp tháng 05 năm 2026

30/05/2026 14:21

Trong tháng, kinh tế - xã hội của tỉnh tiếp tục phát triển, các hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh có nhiều khởi sắc, hầu hết các ngành, lĩnh vực đều tăng so cùng kỳ. Kết quả thực hiện trên các lĩnh vực đạt được như sau:

I. SẢN XUẤT NÔNG LÂM NGHIỆP VÀ THỦY SẢN

1. Nông nghiệp

* Trồng trọt:

Cây lương thực có hạt:

diện tích gieo trồng cộng dồn từ đầu vụ sản xuất ước đạt 382.843 ha, giảm 12,3% so cùng kỳ; trong đó cây lúa gieo sạ 379.654 ha, giảm 12,4%

- Cây lúa:

+ Vụ Đông xuân 2025 – 2026: diện tích gieo trồng ước tính 223.450 ha, đạt 98,4% kế hoạch và giảm 2,7% so cùng kỳ, tương ứng giảm 6.229 ha; do chậm tiến độ sản xuất nên khoảng 4.022 ha không gieo sạ vụ Đông Xuân, chuyển đổi sang cây lâu năm 1.594 ha, cây hàng năm khác 533 ha, nuôi trồng thủy sản 55 ha, đất phi nông nghiệp là 25 ha. Lúa Đông xuân 2025-2026 đã thu hoạch 221.080 ha, chiếm 98,9% diện tích gieo trồng của vụ; Năng suất thu hoạch bình quân ước đạt 72,5 tạ/ha, tăng 0,8% so cùng kỳ với sản lượng thu hoạch ước đạt 1.602.830 tấn, giảm 3,0% sản lượng so với cùng kỳ. Cơ cấu giống lúa vụ Đông Xuân 2025 - 2026 tập trung vào các giống chất lượng cao, chịu mặn/phèn tốt, thời gian sinh trưởng ngắn (85-95 ngày) như: OM 18 (chiếm 36,0%); Đài Thơm 8 (chiếm 26,2%); OM 5451 (chiếm 4,2%); Nàng Hoa 9 (chiếm 2,3%); OM 380 (chiếm 1,9%); OM 4900 (chiếm 1,9%); các giống ST 24, ST 25 (chiếm 1,4%); IR50404 (chiếm 6,5%); các giống lúa nếp (chiếm 12,2%), giống lúa khác còn lại chiếm 7,4%.

+ Vụ Hè thu 2026: tính đến ngày 20/5, toàn tỉnh gieo sạ được 156.203 ha, đạt 69,0% so với kế hoạch, giảm 36,1% so với cùng kỳ. Lịch xuống giống được triển khai theo từng vùng, đảm bảo né rầy, thích ứng điều kiện thời tiết và nguồn nước như: đối với vùng sản xuất 3 vụ, xuống giống đợt 1 từ ngày 17 đến 24-2-2026, đợt 2 từ ngày 18 đến 25-3-2026 và đợt 3 từ ngày 10 đến 20-5-2026. Đối với vùng sản xuất 2 vụ, xuống giống đợt 1 từ ngày 18 đến 25-3-2026 và đợt 2 từ ngày 17 đến 24-4-2026. Riêng khu vực ven biển xuống giống từ ngày 10 đến 25-5-2026 và chỉ thực hiện khi mùa mưa bắt đầu, đảm bảo nguồn nước ngọt. Năm nay, do tình hình nắng nóng kéo dài nên một số khu vực xuống giống chậm hơn kế hoạch. Do lịch xuống giống khác nhau cho từng khu vực nên tình hình thu hoạch lúa cũng không đồng loạt. Vụ lúa Hè thu đã bắt đầu thu hoạch ở các xã, phường như: phường Hồng Ngự, phường An Bình, xã An Hòa, xã Long Khánh, xã Phương Thịnh, xã Trường Xuân, xã Mỹ Quí, xã Tháp Mười, xã Đốc Binh Kiều, xã Thanh Mỹ và xã Hậu Mỹ với diện tích thu hoạch 24.587 ha; Năng suất thu hoạch ước đạt 65,1 tạ/ha với sản lượng thu hoạch ước đạt 162.520 tấn, giảm 55,9% so với cùng kỳ.  

Hình 1. Diện tích gieo trồng một số cây hàng năm tính đến 20/5/2026

- Cây ngô: diện tích gieo trồng tính đến ngày 20/5/2026 ước đạt 3.189 ha, tăng 14,4% so cùng kỳ, tương ứng tăng 400,3 ha.

- Cây rau đậu các loại: diện tích gieo trồng tính đến 20/5/2026 ước đạt 39.827 ha, tăng 0,5% so với cùng kỳ; trong đó rau các loại đạt 39.615 ha, chiếm 99,5% so với tổng diện tích cây rau đạu các loại, tăng 0,4%.

*Chăn nuôi: ước tổng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh tại thời điểm 31/5/2026 như sau: đàn trâu 2,1 nghìn con, giảm 27,2%; đàn bò 145,8 nghìn con, giảm 4,4% so cùng kỳ; đàn lợn 426,5 nghìn con, giảm 2,5%; đàn gia cầm 22,4 triệu con, tăng 1,5%. Đàn trâu giảm chủ yếu do hiệu quả kinh tế thấp, thời gian nuôi kéo dài trong khi diện tích chăn thả ngày càng thu hẹp. Đàn bò giảm do hiệu quả chăn nuôi chưa tương xứng với chi phí đầu tư nên người chăn nuôi còn thận trọng trong tái đàn. Đàn lợn giảm do giá thức ăn chăn nuôi duy trì ở mức cao. Đàn gia cầm tăng nhờ dịch bệnh được kiểm soát tốt, nhu cầu tiêu dùng tăng; các cơ sở chăn nuôi chủ động tái đàn gắn với kiểm soát con giống, tiêm phòng và áp dụng mô hình chăn nuôi an toàn sinh học.

*Tình hình dịch bệnh trên vật nuôi trong tháng (theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đồng Tháp):

+ Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: trong tháng xảy ra 03 trường hợp với 38 con lợn bệnh (tổng đàn 134 con) tại 02 xã (xã Tân Hộ Cơ và Bình Ninh). Cộng dồn từ đầu năm đến tháng báo cáo xảy ra 56 trường hợp với số lợn mắc bệnh 967 con (tổng đàn 1.979 con), đã tiêu huỷ 1.822 con với khối lượng tiêu huỷ là 82.349 kg.

+ Bệnh Lở mồm long móng: trong tháng không phát sinh. Cộng dồn từ đầu năm đến tháng báo cáo xảy ra 03 trường hợp lợn bệnh tại cơ sở giết mổ xã Mỹ Lợi, đã tiêu hủy 09 con lợn trên với khối lượng 1.190 kg.

+ Bệnh viêm da nổi cục: trong tháng không phát sinh. Cộng dồn từ đầu năm đến tháng báo cáo xảy ra 02 hộ với 03 con bò bệnh (tổng đàn 07 con) tại xã Lương Hòa Lạc.

Hình 2. Chăn nuôi tại thời điểm 31/5/2026

2. Lâm nghiệp:

Diện tích rừng trồng mới tập trung: trong tháng có 9,0 ha rừng được trồng mới tập trung, giảm 8,2% tương đương giảm 0,8 ha so với cùng kỳ. Cộng dồn đến tháng 5/2026 có 100,4 ha rừng được trồng mới tập trung, giảm 0,5% tương đương giảm 0,5 ha so với cùng kỳ.

Cây phân tán: trong tháng, toàn tỉnh thực hiện trồng mới được 37,8 ngàn cây phân tán các loại, tăng 6,0% so cùng kỳ. Cộng dồn đến tháng 5/2026 số lượng cây phân tán ước đạt 145,8 nghìn cây, giảm 3,0%, tương đương giảm 4,5 nghìn cây so với cùng kỳ.

Sản lượng gỗ khai thác: trong tháng sản lượng gỗ khai thác ước đạt 13.527 m3; giảm 7,0% so với cùng kỳ. Cộng dồn đến tháng báo cáo ước đạt 61.083 m3 gỗ được khai thác, giảm 3,4% so với cùng kỳ.

3. Thủy hải sản:

Tổng diện tích thả nuôi thâm canh trong tháng ước đạt 309 ha, tăng 2,5% so cùng kỳ. Tổng diện tích thả nuôi thâm canh 5 tháng đầu năm 2026 ước đạt 6.621 ha, tăng 2,8% so cùng kỳ, trong đó: cá tra đạt 1.634 ha (tăng 4,0%), tôm sú 2.836 ha (tăng 0,6%), tôm thẻ chân trắng 2.150 ha (tăng 4,8%).

Sản lượng thủy sản nuôi và khai thác biển trong tháng ước đạt 98.999 tấn, tổng số sản lượng thủy sản nuôi và khai thác biển từ đầu năm đến tháng báo cáo ước đạt 401.167 tấn, tăng 1,4% so cùng kỳ, bao gồm:

- Sản lượng thủy sản nuôi trong tháng ước đạt 88.477 tấn, tăng 4,5% so cùng kỳ. Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, thu hoạch ước đạt 350.252 tấn, tăng 1,3% so cùng kỳ, trong đó: sản lượng cá đạt 317.070 tấn (tăng 1,3%); sản lượng tôm đạt 18.220 tấn (tăng 2,0%);…. Sản lượng nuôi cơ bản ổn định nhờ thời tiết tương đối thuận lợi, dịch bệnh được kiểm soát, năng suất nuôi duy trì ở mức khá.

- Sản lượng thủy sản khai thác biển trong tháng ước đạt 10.522 tấn, tăng 3,7% so cùng kỳ. Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, thu hoạch ước đạt 50.915 tấn, tăng 1,8% so cùng kỳ, trong đó: cá đạt 34.289 tấn (tăng 1,0%); tôm đạt 3.629 tấn (tăng 1,7%);…. Sản lượng khai thác biển cơ bản ổn định, nguồn lợi thuỷ sản phong phú, đa dạng.

II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP

Ước tính chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 5/2026 tăng 4,19% so với tháng trước và tăng 13,43% so với cùng kỳ. Trong đó, ngành khai khoáng tăng tăng 25,24% so với cùng kỳ; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,69% so với cùng kỳ; ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước, điều hoà không khí tăng 15,08% so với cùng kỳ; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý, xử lý rác thải, nước thải giảm 1,54% so với cùng kỳ. Cộng dồn 5 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 11,49% so với cùng kỳ năm trước. Sự tăng trưởng này được dẫn dắt chủ lực bởi ngành công nghiệp chế biến, chế tạo với tốc độ tăng đạt 12,29%, tiếp theo là ngành khai khoáng tăng 12,75%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 3,43%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,15%.

Chỉ số sản xuất sản phẩm 5 tháng đầu năm 2026 so cùng kỳ như sau:

Có 70/111 sản phẩm có chỉ số sản xuất tăng so cùng kỳ: cát đen tăng 12,7%; phi lê đông lạnh tăng 23,6%; bột mịn, bột thô và bột viên từ cá tăng 41,7%; quả và hạt ướp lạnh tăng 58,1%; gạo đã xát toàn bộ hoặc sơ bộ tăng 8,5%; thức ăn cho gia súc tăng 17,0%; thức ăn cho gia cầm tăng 44,1%; thức ăn cho thủy sản tăng 13,1%; bia đóng lon tăng 22,8%; bộ com lê, quần áo cho người lớn dệt kim hoặc đan móc tăng 1,4%; áo phông, áo may ô và các loại áo lót khác cho người lớn dệt kim hoặc đan móc tăng 87,3%; giày, dép không thấm nước có đế ngoài và mũ bằng cao su hay plastic tăng 33,8%; thuốc và dược phẩm các loại tăng mạnh; bao và túi từ plastic khác tăng 53,1%; ống và ống dẫn bằng đồng tăng 11,8%; điện mặt trời tăng 29,4%;…

Có 39/111 sản phẩm có chỉ số sản xuất giảm so cùng kỳ: bia đóng chai giảm 18,5%; thuốc lá có đầu lọc giảm 28,9%; bộ com-lê, quần áo cho người lớn không dệt kim hoặc đan móc giảm 36,3%; túi xách giảm 17,7%; giày, dép các loại giảm từ 0,4% đến 25,7%; thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm giảm 17,8%; nước uống được giảm 0,5%;…

Hình 3. Chỉ số sản xuất công nghiệp 5 tháng đầu năm 2026

* Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo:

Trong tháng 5/2026, tình hình tiêu thụ và tồn kho của ngành công nghiệp chế biến chế tạo đều tăng so với cùng kỳ: chỉ số tiêu thụ (CSTT) tăng 2,01% so với tháng trước và tăng 8,37% so cùng kỳ; chỉ số tồn kho (CSTK) tăng 19,89% so với tháng trước và tăng 92,97% so với cùng kỳ; cụ thể như sau:

- Các ngành có CSTT tăng, CSTK tăng cao hơn CSTT phản ánh xu hướng nhu cầu tiêu dùng tăng trong thời gian tới, doanh nghiệp gia tăng sản xuất đáp ứng các đơn hàng, tăng hàng tồn kho: sản xuất chế biến thực phẩm (CSTT tăng 13,11%, CSTK tăng 55,47%) nhờ sự phục hồi của các đơn hàng thủy sản và nông sản xuất khẩu; sản xuất đồ uống (CSTT tăng 18,51%, CSTK tăng 95,97%) do tác động tích cực từ yếu tố thời tiết nắng nóng làm sức mua tăng mạnh; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu (CSTT tăng 6,72%, CSTK tăng 55,74%); sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic (CSTT tăng 30,50%, CSTK tăng 30,77%) do Công ty TNHH Lốp Advance Việt Nam đi vào vận hành ổn định. Riêng ngành sản xuất thiết bị điện tăng đột biến (CSTT tăng 298,01%, CSTK tăng 59,42%) chủ yếu do năng lực sản xuất và tiêu thụ tăng cao tại Công ty TNHH Nissei Electric Mỹ Tho.

- Các ngành có tình hình sản xuất tốt, tiêu thụ tăng, tồn kho giảm: ngành dệt có sự chuyển biến thuận lợi từ nữa cuối năm trước đến nay (CSTT tăng 2,86% trong khi CSTK giảm mạnh 34,97%); sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất (CSTT tăng 2,59% trong khi CSTK giảm 15,45%).

- Các ngành có lượng tiêu thụ giảm, tồn kho tăng so với tháng trước: sản xuất trang phục (CSTT giảm 12,20%, trong khi CSTK tăng 94,44%) và sản xuất da và các sản phẩm có liên quan (CSTT giảm 10,02%, CSTK tăng 11,50%) vì chịu tác động tiêu cực kép từ chi phí đầu vào tăng cùng với rào cản thương mại từ thị trường quốc tế. Ngành sản xuất sản phẩm thuốc lá (CSTT giảm 49,69%, CSTK tăng đến 184,06%) do xu hướng sụt giảm tiêu dùng dài hạn của thị trường; in, sao chép bản ghi các loại (CSTT giảm 13,61%; CSTK tăng 54,31%); sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (CSTT giảm 22,49%; CSTK tăng 39,76%).

- Các ngành có CSTT và CSTK đều giảm do tiêu thụ giảm, doanh nghiệp thu hẹp sản xuất: sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy (CSTT giảm 42,73%, CSTK giảm 58,88%); công nghiệp chế biến, chế tạo khác (CSTT giảm 19,82%, CSTK giảm 8,73%).

Tính chung 5 tháng đầu năm, chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 9,28% so với cùng kỳ. Trong đó, một số ngành cấp II đóng góp làm tăng chỉ số chung gồm: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 14,98%; dệt tăng 5,01%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 16,05%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 7,94%; sản phẩm từ cao su và plastic tăng 33,89%; sản xuất thiết bị điện tăng 95,90;...

* Tình hình thu hút đầu tư và phát triển các khu công nghiệp, khu kinh tế cửa khẩu (KCN, KKTCK):

Trong tháng 5/2026, các KCN có 02 dự án đầu tư tư nhân (DDI) mới với vốn đầu tư 108,6 tỷ đồng, có 06 dự án thực hiện điều chỉnh, trong đó điều chỉnh tăng vốn cho 04 lượt dự án với tổng vốn đầu tư tăng thêm là 1,3 nghìn tỷ đồng.

Lũy kế đến tháng 5/2026: Các KCN thu hút được 183 dự án (trong đó, có 102 dự án FDI, 81 dự án DDI) với tổng vốn đầu tư là 92,7 nghìn tỷ đồng (trong đó, vốn đầu tư FDI là 3,5 tỷ USD và vốn đầu tư DDI là 13,3 nghìn tỷ đồng); diện tích đất đã cho thuê là 743,6 ha, tỷ lệ lấp đầy 93,0%. Các KKTCK thu hút được 08 dự án DDI, với tổng số vốn đầu tư 198,9 tỷ đồng, diện tích đất 14,2 ha/32,76 ha, tỷ lệ lấp đầy đạt 43,4%.

III. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP (Theo báo cáo của Sở Tài Chính)

Thành lập mới: trong tháng có 287 doanh nghiệp thành lập mới, giảm 21,4% so với tháng trước; với tổng vốn đăng ký là 1.089 tỷ đồng, giảm 46,2% so với tháng trước. Tính từ đầu năm 2026 đến nay, có 1.468 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 109,4% so với cùng kỳ, đạt 48,9% so với kế hoạch, với tổng vốn đăng ký là 5.678 tỷ đồng, tăng 12,1% so với cùng kỳ.

Giải thể, tạm ngừng hoạt động, tái hoạt động: Trong tháng, có 44 doanh nghiệp đã giải thể, giảm 10,2% so với tháng trước; 46 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, giảm 16,4% so với tháng trước; 21 doanh nghiệp hoạt động trở lại, giảm 4,5% so với tháng trước. Tính từ đầu năm đến nay, có 210 doanh nghiệp giải thể, tăng 78,0% so với cùng kỳ; 540 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, tăng 9,8% so với cùng kỳ; 228 doanh nghiệp hoạt động trở lại, bằng 90,1% so với cùng kỳ.

IV. ĐẦU TƯ - XÂY DỰNG

Tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 5/2026 ước đạt 806 tỷ đồng, tăng 8,4% so với tháng trước và giảm 30,6% so cùng kỳ. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 742 tỷ đồng, tăng 9,0% so tháng trước và giảm 35,5% so cùng kỳ.

Tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý 5 tháng đầu năm 2026 ước đạt 3.172 tỷ đồng, bằng 27,9% kế hoạch năm, giảm 30,9% so với cùng kỳ. Trong đó: nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 2.904 tỷ đồng, bằng 28,9% kế hoạch và giảm 36,3% so với cùng kỳ.

V. THƯƠNG MẠI - GIÁ CẢ - DỊCH VỤ

1. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng:

Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trong tháng thực hiện 16.061 tỷ đồng, tăng 2,8% so tháng trước và tăng 14,7% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 11.923 tỷ đồng, tăng 14,3%; lưu trú 62 tỷ đồng, tăng 33%; ăn uống 2.001 tỷ đồng, tăng 14,4%; du lịch lữ hành 28 tỷ đồng, tăng 2,8%; dịch vụ tiêu dùng khác 2.047 tỷ đồng, tăng 17% so cùng kỳ. Năm tháng năm 2026, tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thực hiện 78.780 tỷ đồng, đạt 27,1% kế hoạch, tăng 13,8% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 58.890 tỷ đồng, tăng 14,1%; lưu trú 292 tỷ đồng, tăng 22,4%; ăn uống 9.834 tỷ đồng, tăng 15,1%; du lịch lữ hành 166 tỷ đồng, tăng 29,9%; dịch vụ tiêu dùng khác 9.598 tỷ đồng, tăng 10,5% so cùng kỳ.

Hình 4. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng

2. Xuất - Nhập khẩu (Theo báo cáo Sở Công Thương)

a. Xuất khẩu:

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng ước thực hiện 855 triệu USD, tăng 0,4% so tháng trước và tăng 3,9% so cùng kỳ. Năm tháng xuất khẩu 4.020 triệu USD, đạt 40,2% kế hoạch, tăng 10% so cùng kỳ. Tình hình xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của tỉnh như sau:

- Gạo: sản lượng ước tính 274 ngàn tấn, giảm 8,7% so tháng trước và tăng 31,7% so cùng kỳ; giá trị đạt 125 triệu USD, bằng 86,2% so tháng trước và tăng 14,3% so cùng kỳ. Năm tháng xuất 1.222 ngàn tấn, đạt 52% kế hoạch và tăng 10,9%; giá trị xuất đạt 565 triệu USD, đạt 47,9% kế hoạch và tăng 0,8% so cùng kỳ.

- Thuỷ sản chế biến: sản lượng xuất đạt 48 ngàn tấn, tăng 14,3% tháng trước và tăng 1,3% so cùng kỳ; giá trị xuất đạt 115 triệu USD, tăng 15% so tháng trước và tăng 0,9% so cùng kỳ. Năm tháng ước tính sản lượng xuất 201 ngàn tấn, đạt 38,7% kế hoạch và tăng 2,3%; giá trị xuất đạt 493 triệu USD, đạt 41,1% kế hoạch và tăng 3,6% so cùng kỳ.

 - Hàng rau quả: ước đạt 6,8 ngàn tấn, tăng 8,3% so tháng trước và tăng 14,3% so cùng kỳ; kim ngạch xuất đạt 13 triệu USD, tăng 8,3% so tháng trước và tăng 1,8% so cùng kỳ. Năm tháng xuất 28 ngàn tấn, đạt 23,5% kế hoạch và tăng 26,3%; về trị giá đạt 59 triệu USD, đạt 18,6 kế hoạch tăng 42,5% so cùng kỳ.

- Sản phẩm công nghiệp: nhóm hàng công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong xuất khẩu của tỉnh ước tính đến cuối tháng 05/2026: kim loại thường khác và sản phẩm (kể cả đồng) đạt 844 triệu USD, tăng 20,7%; sản phẩm từ chất dẻo 449 triệu USD, tăng 12,4%; giày dép 428 triệu USD, tăng 0,1% so cùng kỳ,…

b. Nhập khẩu:

Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 05/2026 ước đạt 480 triệu USD, tăng 1,6% so tháng trước và tăng 34,1% so cùng kỳ. Năm tháng, kim ngạch nhập khẩu 2.386 triệu USD, đạt 47,7% kế hoạch, tăng 10,8% so cùng kỳ.

Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của tỉnh trong tháng 05/2026 như: kim loại thường khác (nguyên liệu đồng) ước đạt 802 triệu USD, tăng 17,7%; nguyên phụ liệu dệt may, da giày, túi xách ước đạt 263 triệu USD, tăng 4,4%; chất dẻo nguyên liêu 129 triệu USD, tăng 27,4%; mặt hàng khác ước đạt 724 triệu USD, giảm 5,5%; sắt thép các loại ước đạt 201 triệu USD, giảm 2,7% so cùng kỳ…

3. Chỉ số giá:

Thời tiết trong tháng nắng nóng kéo dài nhu cầu sử dụng điện và nước sinh hoạt của người dân tăng nên giá điện sinh hoạt và nước sinh hoạt tăng. Giá xăng dầu, giá gas điều chỉnh theo giá nhiên liệu thế giới; giá nguyên vật liệu đầu vào tăng là nguyên nhân dẫn đến tăng giá các mặt hàng ăn uống ngoài gia đình và nhiều mặt hàng thiết yếu khác đó cũng là những nguyên nhân chính làm cho chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 5/2026 tăng 0,68% (thành thị tăng 0,53%, nông thôn tăng 0,72%) so tháng 4/2026; tăng 5,57% so cùng kỳ.

So với tháng 4/2026, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 10 nhóm tăng: nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,41%; Giao thông tăng 1,1%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,78%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,56%; văn hóa, giải trí và du lịch 0,44%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,30%; thông tin và truyền thông tăng 0,28%; may mặc, mũ nón và giầy dép tăng 0,15%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,06%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,12%. Nhóm Giáo dục có chỉ số ổn định.

Nguyên nhân do tác động của một số mặt hàng có chỉ số giá tăng so với tháng trước:

- Nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,41%; tác động làm tăng CPI chung 0,26 điểm phần trăm, tác động chủ yếu của một số mặt hàng như: Chỉ số giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,89% do điều chỉnh giá xăng dầu tăng nên chi phí vận chuyển tăng theo làm giá các loại VLXD như xi măng, sắt, thép, cát... có giá tăng so với tháng trước; chỉ số giá dịch vụ sửa chữa nhà tăng 0,02% do nhu cầu xây dựng nhà ở đầu năm tăng; chỉ số giá điện tăng 4,84%; nước sinh hoạt tăng 0,03% so với tháng trước do thời tiết nắng nóng oi bức kéo dài nên nhu cầu sử dụng điện, nước sinh hoạt tăng; giá gas petrolimex bình 12kg tăng 4,95% so tháng trước do điều chỉnh theo giá nhiên liệu thế giới.

- Nhóm giao thông tăng 1,10%; tác động làm tăng CPI chung 0,11 điểm phần trăm, giá xăng dầu trong nước điều chỉnh theo giá xăng dầu thế giới. Từ 26/4 đến 25/5/2026 có 4 lần điều chỉnh giá xăng dầu cụ thể như: có 2 lần điều chỉnh tăng vào các ngày 29/4 và 21/5; 2 lần điều chỉnh giảm 7/5 và 14/5; trong đó giá xăng tăng 2,06%, giá dầu diezen giảm 16,44%.

- Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,78%, tác động làm tăng CPI chung 0,03 điểm phần trăm, chủ yếu ở các nhóm hàng: rượu các loại tăng 0,32%, bia các loại tăng 1,22%, thuốc hút tăng 0,72% so với tháng trước.

- Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,56%;

+ Chỉ số giá nhóm hàng lương thực tăng 0,43%, góp phần làm CPI chung tăng 0,02 điểm phần trăm. Cụ thể như: giá gạo bán lẻ tăng 0,46%, do chi phí sản xuất tăng, nguồn cung chưa dồi dào nên giá lúa có tăng nhẹ; giá ngô tăng 0,41%; khoai lang tăng 0,06%; sắn tăng 0,43% so với tháng trước.

+ Chỉ số giá nhóm hàng thực phẩm tăng 0,69%, góp phần làm CPI chung tăng 0,15 điểm phần trăm.

Giá thịt lợn tăng 0,46% do nguồn cung giảm cộng thêm chí phí chăn nuôi tăng; thịt chế biến tăng 0,19%, trong đó thịt quay, giò, chả tăng 0,19%, thịt hợp tăng 0,36%,... Giá rau tươi, khô và chế biến tăng 2,86%, do nguồn cung rau, củ, quả giảm (ảnh hưởng của thời tiết nắng nóng kéo dài), chi phí đầu vào như: hạt giống, phân bón, điện... tăng làm chi phí sản xuất tăng cao. Cụ thể như sau: Bắp cải tăng 0,09%, su hào tăng 1,99%, cà chua tăng 17,74%, giá khoai tây tăng 0,20%, rau muống tăng 2,76%, đỗ quả tươi tăng 7,56%; rau dạng quả, củ tăng 1,22%; rau tươi khác tăng 0,92%...

Giá thịt gia cầm tăng 0,32%, trong đó thịt gà tăng 0,24%; thịt gia cầm khác tăng 0,42%, thịt gia cầm đông lạnh tăng 0,52%,... do nhu cầu tiêu thụ của người dân tăng.

Giá thủy sản tươi sống tăng 0,44%, trong đó nhóm cá tươi hoặc ướp lạnh tăng 0,52%, tôm tươi hoặc ướp lạnh tăng 0,35%, nhóm thủy hải sản chế chiến khác tăng 0,13%.

Chỉ số giá quả tươi và chế biến giảm 0,10% do đang vào vụ thu hoạch của nhiều loại trái cây như xoài, nhãn, táo,.... nên giá bán lẻ tại chợ giảm như sau: xoài giảm 5,22%,...

+ Nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 0,35%, do giá gas và giá xăng dầu điều chỉnh theo giá nhiêu liệu thế giới, giá nguyên liệu đầu vào tăng nên nhóm hàng ăn uống ngoài gia đình tăng theo, ăn ngoài gia đình tăng 0,30%, uống ngoài gia đình tăng 0,35%, đồng ăn nhanh mang đi tăng 0,55%.

Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 05 tháng năm 2026 tăng 4,09% so với cùng kỳ, Một số chỉ số tăng như: nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,82%, làm CPI chung tăng 1,25 điểm phần trăm do giá nhà ở thuê và giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở đều tăng (chỉ số giá giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 11,90%, chỉ số giá điện sinh hoạt tăng 8,33%); giao thông tăng 5,02%, tác động làm CPI chung tăng 0,50 điểm phần trăm, trong đó giá xăng dầu tăng 8,59%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 4,80%, làm CPI chung tăng 0,28 điểm phần trăm do giá dịch vụ y tế tăng theo Nghị quyết 126/NQ-HĐND ngày 23/12/2025 về quy định giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh trên địa bàn tỉnh; hàng ăn uống và dịch vụ ăn uống tăng 3,71%, tác động làm CPI chung tăng 1,34 điểm phần trăm, trong đó nhóm thực phẩm tăng 4,26%, nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 4,15%, nhóm lương thực tăng 0,79%; giáo dục 3,53%, làm CPI chung tăng 0,15 điểm phần trăm do một số trường đại học, trung học dân lập, mầm non tư thục điều chỉnh học phí;.... chỉ riêng nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,07% tác động không đáng kể đến chỉ số tiêu dùng bình quân chung.

Chỉ số giá vàng tháng 5/2026 giảm 3,79% so với tháng 4/2026, tăng 6% so với tháng 12/2025, tăng 60,35% so với bình quân cùng kỳ, tương ứng giảm 602 ngàn đồng/chỉ đối với vàng nhẫn trơn 9999.

Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng 5/2026 giảm 0,83% so tháng trước, tương đương giảm 22.195 đồng/100USD và giảm 1,22% so với tháng 12/2025, Bình quân năm tháng tăng 1,65% so cùng kỳ.

4. Vận tải:

Tình hình vận tải trên địa bàn tỉnh ổn định, đường bộ và đường thủy đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa và đi lại của người dân. Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trong tháng thực hiện 710 tỷ đồng, tăng 1,6% so tháng trước và tăng 11,3% so cùng kỳ. Năm tháng thực hiện 3.622 tỷ đồng, tăng 15,1% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 1.259 tỷ đồng, tăng 23,1%; doanh thu vận tải hàng hóa thực hiện 1.738 tỷ đồng, tăng 11,4%. Doanh thu vận tải đường bộ thực hiện 1.799 tỷ đồng, tăng 20,9%; doanh thu vận tải đường thủy thực hiện 1.198 tỷ đồng, tăng 9,4%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 357 tỷ đồng, tăng 9,4% so cùng kỳ.

Vận tải hành khách trong tháng đạt 6.561 ngàn hành khách, tăng 3,1% so tháng trước và tăng 6,6% so cùng kỳ; luân chuyển 216.561 ngàn hành khách.km, tăng 6,4% so tháng trước và giảm 3,7% so cùng kỳ. Năm tháng, vận chuyển 33.502 ngàn hành khách, tăng 10,5%; luân chuyển 1.337.001 ngàn hành khách.km, tăng 20,7% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 13.059 ngàn hành khách, tăng 22,7% và luân chuyển 1.327.164 ngàn hành khách.km, tăng 20,9%; vận tải đường thủy 20.443 ngàn hành khách, tăng 3,9% và luân chuyển 9.837 ngàn hành khách.km, tăng 2,7%.

Vận tải hàng hóa trong tháng đạt 2.504 ngàn tấn, tăng 1,7% so tháng trước và tăng 11% so cùng kỳ; luân chuyển 490.891 ngàn tấn.km, tăng 0,9% so tháng trước và tăng 17,6% so cùng kỳ. Năm tháng, vận tải 13.067 ngàn tấn hàng hóa, tăng 16,9%; luân chuyển 2.403.462 ngàn tấn.km, tăng 16,8% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 2.443 ngàn tấn, giảm 1,5% và luân chuyển 414.476 ngàn tấn.km, tăng 9,1% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 10.624 ngàn tấn, tăng 22,2% và luân chuyển 1.988.986 ngàn tấn.km, tăng 18,5% so cùng kỳ.

Trong tháng đăng ký mới 10.738 chiếc mô tô xe máy và 1.039 chiếc xe ô tô. Tổng số xe đang quản lý trên địa bàn tỉnh là 3.530.489 chiếc, trong đó mô tô xe máy: 3.524.273 chiếc; 113.748 xe ô tô, 169 xe ba bánh, 666 xe đạp điện và 3.372 xe khác.

5. Bưu chính viễn thông:

Ngành bưu chính viễn thông đang phát triển mạnh mẽ theo hướng hiện đại hóa, số hóa và tích hợp sâu rộng. Hạ tầng thông tin được nâng cấp, cung cấp các dịch vụ bưu chính số và viễn thông tốc độ cao, đóng vai trò nền tảng cho kinh tế số và xã hội số. Đến cuối tháng 05 năm 2026 tổng số thuê bao điện thoại có trên mạng là 3.629 ngàn thuê bao, thuê bao điện thoại bình quân đạt 106,6 thuê bao/100 dân (bao gồm: hữu tuyến, vô tuyến, trả trước, trả sau). Số thuê bao điện thoại di động có sử dụng Internet (3G, 4G) đến cuối tháng 5 là: 2.905 ngàn thuê bao. Thuê bao internet có trên mạng là 3.723 ngàn thuê bao, mật độ Internet bình quân ước đạt 109,37 thuê bao/100 dân.

VI. TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG

1. Tài chính:

Tổng thu ngân sách nhà nước trong tháng thực hiện 2.941 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn 2.060 tỷ đồng, thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 281 tỷ đồng. Năm tháng, thu 30.468 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn thực hiện 12.254 tỷ đồng, đạt 51,5% dự toán và tăng 7,8% so cùng kỳ; thu nội địa 11.816 tỷ đồng, đạt 50,9% dự toán, tăng 7,5% so cùng kỳ (trong thu ngân sách trên địa bàn: thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 1960 tỷ đồng, đạt 50,9% dự toán, tăng 7,5% so cùng kỳ; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 3.223 tỷ đồng, đạt 67,1% dự toán, tăng 34,5% so cùng kỳ, thu từ hoạt động xổ số kiến thiết 2.868 tỷ đồng, đạt 61,9% dự toán, tăng 19,6% so cùng kỳ...).

Tổng chi ngân sách nhà nước trong tháng 2.855 tỷ đồng; trong đó: chi đầu tư phát triển 728 tỷ đồng. Năm tháng, chi 15.304 đồng, đạt 38,1% dự toán, bằng 87.6% so cùng kỳ; trong đó: chi đầu tư phát triển 1.637 tỷ đồng, đạt 18,8% dự toán, bằng 30,9% so cùng kỳ; chi hành chính sự nghiệp 8.651 tỷ đồng, đạt 38,4% dự toán và bằng 91,4% so cùng kỳ.

2. Ngân hàng:

Mặt bằng lãi suất trên địa bàn tỉnh ổn định tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn vay với chi phí hợp lý.

Lãi suất huy động: đến cuối tháng 4/2026, đối với tiền gửi bằng VND có kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng dao động từ 1,85%-8,9%/năm đối với khách hàng cá nhân; từ 2,5%-8,6%/năm đối với khách hàng pháp nhân; tiền gửi trên 12 tháng: dao động từ 2,9%-8,9%/năm đối với khách hàng cá nhân, từ 2,5%-8,2%/năm đối với khách hàng pháp nhân.

Lãi suất cho vay: Các tổ chức tín dụng trên địa bàn chấp hành nghiêm mức trần lãi suất cho vay ngắn hạn đối với các lĩnh vực ưu tiên theo quy định của ngân hàng nhà nước. Đến cuối tháng 4/2026 lãi suất cho vay bình quân bằng VND trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp là 8,79%/năm, tăng 1,03%/năm so với cuối năm 2025.

Đến cuối tháng 4/2026, vốn huy động ước đạt 215 ngàn tỷ, tăng 7 ngàn tỷ và tăng 3,36% so với cuối năm 2025, tổng dư nợ cho vay của các TCTD trong tỉnh ước đạt 249 ngàn tỷ, tăng 5 ngàn tỷ đồng và tăng 2,24% so với cuối năm 2025. Dự tính đến cuối tháng 5/2026 vốn huy động đạt 217 ngàn tỷ tăng 4,40%; dư nợ cho vay đạt 251 ngàn tỷ tăng 3,26% so với cuối năm 2025.

Nợ xấu: đến cuối tháng 04/2026 tỷ lệ nợ xấu/Tổng dư nợ (không bao gồm nợ xấu của các ngân hàng thương mại bị kiểm soát đặc biệt) chiếm 2,5%, giảm 0,01% so cuối năm 2025. Ước thực hiện tháng 05/2026 tỷ lệ nợ xấu/Tổng dư nợ nhỏ hơn 3%.

Quỹ tín dụng nhân dân: Đến cuối tháng 4/2026 tổng nguồn vốn huy động 2.778 tỷ đồng, giảm 80 tỷ đồng và giảm 2,80% so với cuối năm 2025. Dư nợ 2.300 tỷ đồng, giảm 39 tỷ đồng, tương đương giảm 1,67% so với cuối năm 2025. Tỷ lệ nợ xấu là 1%.

VII. KHOA HỌC CÔNG NGHỆ

Trong tháng Hội đồng khoa học và công nghệ thực hiện nhiệm vụ tuyển chọn, xét duyệt, thẩm định, đánh giá, nghiệm thu các nhiệm vụ khoa học và công nghệ theo quy định. Tiếp tục quy trình xây dựng Quyết định phân cấp thẩm quyền quản lý nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo sử dụng ngân sách nhà nước, tạo thuận lợi trong công tác quản lý. Họp Hội đồng tư vấn tuyển chọn thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh: 05 nhiệm vụ; lũy kế 17 nhiệm vụ. Thẩm định dự toán kinh phí thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ: 04 nhiệm vụ cấp tỉnh. Hội đồng khoa học và công nghệ chuyên ngành đánh giá, nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ: 01 nhiệm vụ cấp tỉnh, lũy kế: 07 nhiệm vụ cấp tỉnh và 03 nhiệm vụ cấp cơ sở. Góp ý về công nghệ dự án đầu tư: 06 dự án, luỹ kế 31 dự án; Tư vấn 02 hồ sơ thành lập doanh nghiệp khoa học và công nghệ.

VIII. CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Lao động việc làm:

Trong tháng, đã giải quyết việc làm cho 6.177 lao động; tổng số lao động được giải quyết việc làm từ đầu năm đến nay là 23.517 lao động đạt 47% so với kế hoạch. Tổ chức 12 phiên giao dịch việc làm, ngày hội việc làm và buổi tư vấn cho người lao động thất nghiệp, người đang hưởng bảo hiểm thất nghiệp để kết nối doanh nghiệp đang có nhu cầu tuyển dụng; tổng số phiên từ đầu năm đến nay là 50 phiên, có 99 đơn vị, doanh nghiệp tham gia trực tiếp và trực tuyến, thu hút hơn 22.209 lao động tham dự.

Lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài trong tháng là 206 lao động. Tổng số lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài từ đầu năm đến nay là 1.518 lao động, đạt 63,3% kế hoạch, trong đó Hàn Quốc: 779 lao động, Nhật Bản: 559 lao động, Đài Loan: 124 lao động,....

Về trợ cấp thất nghiệp, từ đầu năm đến nay có 9.862 lao động được giải quyết chế độ trợ cấp thất nghiệp, với tổng kinh phí chi trả khoảng 227,4 tỷ đồng, góp phần hỗ trợ kịp thời đời sống, giúp người lao động ổn định trong giai đoạn tìm kiếm việc làm mới.

2. Chính sách xã hội:

Trong tháng, các chế độ ưu đãi đối với người có công được thực hiện đầy đủ, kịp thời. Cụ thể: trợ cấp 1 lần cho người thờ cúng liệt sĩ và chuyển đổi người thờ cúng liệt sĩ, số lượng 28 trường hợp; giải quyết trợ cấp tuất 02 trường hợp; trợ cấp mai táng phí và trợ cấp 01 lần 03 tháng trợ cấp: 72 trường hợp;... Ngoài ra, tổ chức đưa 40 Cựu chiến binh đi tham quan nhà tù Phú Quốc và tổ chức đưa 30 Cựu chiến binh đi tham quan nhà tù Côn Đảo.

3. Hoạt động giáo dục:

Trong tháng, ngành Giáo dục tiếp tục triển khai đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ giáo dục, bám sát kế hoạch năm học với nhiều hoạt động chuyên môn nổi bật, đặc biệt là công tác chuẩn bị và tổ chức kỳ thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh lớp 10 năm học 2026 – 2027. Kỳ thi tuyển sinh lớp 10 năm học 2026 – 2027 có trên 44,3 nghìn thí sinh đăng ký dự thi, được tổ chức tại 76 Hội đồng coi thi với 1.890 phòng thi, trong đó có 11 điểm thi phụ. Kỳ thi diễn ra trong 2 ngày 27 và 28/5/2026. Đối với các môn không chuyên, thí sinh dự thi 3 môn gồm Ngữ văn, Tiếng Anh và Toán; trong đó môn Tiếng Anh và Toán thi theo hình thức trắc nghiệm khách quan. Công tác chuẩn bị cho kỳ thi được triển khai nghiêm túc, chặt chẽ từ khâu cơ sở vật chất, nhân sự coi thi đến đảm bảo an ninh, an toàn, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho thí sinh tham gia dự thi.

4. Hoạt động y tế:

Trong tháng có 17/44 bệnh truyền nhiễm được ghi nhận. Cộng dồn số ca mắc so với cùng kỳ, có 15 bệnh tăng (Bệnh do liên cầu lợn ở người, Rubella, Sốt xuất huyết Dengue, Tay - chân - miệng, Viêm màng não do não mô cầu, Dại, Liệt mềm cấp nghi bại liệt, Lao phổi, Thương hàn, Uốn ván khác, Viêm gan vi rút A, Viêm gan vi rút B, Xoắn khuẩn vàng da, Quai bị, Thủy đậu); 7 bệnh giảm (Sởi, Viêm gan vi rút C, Viêm não vi rút khác, Cúm, Lỵ trực trùng, Tiêu chảy, Viêm gan vi rút khác); 22 bệnh tương đương hoặc không xảy ra ca mắc.

Các bệnh truyền nhiễm trong tháng ghi nhận: bệnh sốt xuất huyết 925 ca mắc, không có ca tử vong; bệnh tay - chân - miệng 720 ca, không có ca tử vong. Cộng dồn số ca mắc bệnh sốt xuất huyết: 2.996 ca, tăng 1,96 lần so cùng kỳ, 01 ca tử vong (cùng kỳ không có ca tử vong); bệnh tay – chân – miệng: 1.949 ca, tăng 1,24 lần so cùng kỳ.

Phòng chống HIV/AIDS trên địa bàn tỉnh tính đến nay là 16.117 người nhiễm HIV; 5.051 người chuyển sang AIDS; 3.928 người tử vong do AIDS.

Khám chữa bệnh trong tháng cho 628 nghìn lượt người, giảm 9,9% so cùng kỳ; trong đó, số người điều trị nội trú là 43,4 nghìn lượt người, tăng 3,1%. Cộng dồn từ đầu năm đến tháng báo cáo, đã khám chữa bệnh trên 2,5 triệu lượt người, giảm 10,9%; trong đó, số người điều trị nội trú là 159 nghìn lượt người, giảm 2,3%. Công suất sử dụng giường bệnh bình quân trong tháng đạt 83,9%.

5. Hoạt động văn hóa - thể thao:

Hoạt động văn hóa nghệ thuật: trong tháng, tổ chức biểu diễn 04 chương trình nghệ thuật phục vụ khoảng 1.600 lượt người xem. Tiêu biểu như chương trình nghệ thuật chào mừng Kỷ niệm 50 năm thành lập Trại giam Phước Hòa năm 2026; chương trình nghệ thuật phục vụ Lễ Giỗ Quốc Tổ Hùng Vương tại Bảo tàng tỉnh; chương trình nghệ thuật phục vụ Kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026) tại Quảng trường Hùng Vương.

Hoạt động thư viện: trong tháng, hệ thống thư viện đã phục vụ 73.659 lượt người với 229.395 lượt tài liệu; trong đó phục vụ tại chỗ đạt 53.752 lượt người với 169.674 lượt tài liệu, phục vụ lưu động đạt 19.907 lượt người với 59.721 lượt tài liệu; số lượt truy cập phục vụ qua không gian mạng đạt 493.647 lượt.

Hoạt động bảo tàng: trong tháng, tổ chức trưng bày các chuyên đề “Mỹ Tho - Cao Lãnh xưa và nay”, “Sưu tập Đèn dầu (cuối thế kỷ XIX - thế kỷ XX)” phục vụ Kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh; đồng thời tổ chức triển lãm ảnh “Đồng Tháp - Vẻ đẹp di sản” phục vụ Lễ hội vía Bà Chúa Xứ Gò Tháp. Các hoạt động tham quan, trưng bày đã phục vụ 2.875 lượt khách, gồm 25 đoàn khách và 04 lượt khách quốc tế.

Hoạt động thể dục, thể thao:

Trong tháng, tỉnh phối hợp tổ chức Cuộc đua xe đạp toàn quốc tranh Cúp Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ 38 năm 2026 với các chặng đi qua địa bàn tỉnh; đồng thời phối hợp Hiệp hội Thể thao dưới nước Việt Nam xây dựng kế hoạch tổ chức Giải Bơi và Giải Lặn vô địch các nhóm tuổi quốc gia năm 2026, dự kiến diễn ra từ ngày 20 - 30/5/2026.

Công tác đào tạo vận động viên thể thao thành tích cao tiếp tục được duy trì ở 26 môn thể thao. Trong tháng, các đội tuyển thể thao của tỉnh tham dự nhiều giải đấu khu vực, quốc gia và quốc tế, kết quả đạt 119 huy chương các loại, gồm 26 huy chương vàng, 44 huy chương bạc và 49 huy chương đồng.

6. Tình hình trật tự an toàn xã hội (theo báo cáo ngành Công an):

Trong tháng xảy ra 116 vụ phạm tội về trật tự xã hội, tăng 11,5% vụ so cùng kỳ; Hậu quả là 03 người chết, 45 người bị thương, tài sản thiệt hại khoảng 8,1 tỷ đồng; Cơ quan chức năng đã điều tra, khám phá 108 vụ (đạt tỷ lệ 93,1%), bắt giữ và xử lý 205 đối tượng.

Về tội phạm ma túy trong tháng, lực lượng chức năng đã phát hiện và xử lý 76 vụ với 99 đối tượng; trong đó, tàng trữ trái phép chất ma túy 26 vụ với 30 đối tượng; vận chuyển trái phép chất ma túy 01 vụ với 01 đối tượng; mua bán trái phép chất ma túy 04 vụ với 07 đối tượng; tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy 09 vụ với 25 đối tượng; sử dụng trái phép chất ma túy 36 vụ với 36 đối tượng.

7. Trật tự an toàn giao thông (theo báo cáo ngành công an tỉnh, số liệu tính từ ngày 15/4/2026 đến 14/5/2026):

Tai nạn giao thông đường bộ: trong tháng, xảy ra 42 vụ, giảm 03 vụ so tháng trước và giảm 07 vụ so cùng kỳ. Hậu quả làm chết 35 người (giảm 07 người so tháng trước, giảm 02 người so cùng kỳ) và 12 người bị thương (tương đương so tháng trước, giảm 05 người so cùng kỳ). Cộng dồn từ đầu năm đến tháng báo cáo, toàn tỉnh đã xảy ra 232 vụ, giảm 44 vụ so với cùng kỳ; làm chết 188 người (tăng 06 người) và làm bị thương 85 người (giảm 66 người). Các nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông chủ yếu vẫn do ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông như: Không đi đúng phần đường, làn đường; chuyển hướng, tốc độ, vượt xe khác, thiếu quan sát…

Tai nạn giao thông đường thủy: trong tháng xảy ra 01 vụ tai nạn giao thông. Cộng dồn từ đầu năm đến nay là 03 vụ làm chết 02 người, tương đương về số vụ và số người chết so với cùng kỳ.

8. Tình hình cháy nổ, môi trường và thiên tai:

- Cháy, nổ: trong tháng, xảy ra 03 vụ cháy, tăng 01 vụ so cùng kỳ; thiệt hại về tài sản khoảng 685 triệu đồng. Cộng dồn từ đầu năm đến nay xảy ra 22 vụ cháy, tăng 13 vụ so cùng kỳ; làm 02 người tử vong; thiệt hại tài sản 4,2 tỷ đồng.

- Môi trường: trong tháng, 02 vụ vi phạm môi trường (gồm: 01 vụ xả nước thải ra môi trường, 01 vụ khai thác tài nguyên đất trái phép), đã xử lý 02 vụ, tổng số tiền xử phạt là 93,75 triệu đồng. Tính từ đầu năm, xảy ra 06 vụ vi phạm môi trường, giảm 15 vụ so cùng kỳ; đã xử lý 08 vụ với tổng số tiền xử phạt là 912,3 triệu đồng.

- Thiên tai: trong tháng trên địa bàn tỉnh xảy ra 03 vụ giông lốc tại các xã Thanh Bình, Trường Xuân, Long Phú Thuận, Tân Long, Ba Sao và Long Định; không gây thiệt hại về người, không ảnh hưởng đến sản xuất, chăn nuôi, nhưng gây thiệt hại về tài sản với tổng giá trị thiệt hại ước tính 1,6 tỷ đồng, cụ thể: sập 06 căn nhà, tốc mái 91 căn; làm gãy, ngã 07 trụ điện cùng nhiều cây xanh trên các tuyến đường chính bị đổ ngã; làm ảnh hưởng khu nhà màng, mái chòi canh và khoảng 200 cây chuối cấy mô của Viện Cây ăn quả Miền Nam.


File đính kèm