0273.3 872582 | dongthap@nso.gov.vn

Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp 6 tháng đầu năm 2026 tăng 7,14%

02/07/2026 13:12

Đồng Tháp bước vào thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 trong điều kiện kinh tế của Tỉnh, cả nước và trên thế giới tiếp tục gặp nhiều khó khăn, thách thức: Cạnh tranh giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, gia tăng căng thẳng địa chính trị. Thiên tai, hạn hán, bão lũ, biến đổi khí hậu gây hậu quả nghiêm trọng; nguy cơ về an ninh năng lượng, an ninh lương thực, gia tăng... Lạm phát mặc dù hạ nhiệt nhưng vẫn cao hơn mục tiêu; nhiều nền kinh tế lớn tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ thắt chặt, duy trì mức lãi suất cao; thương mại, tiêu dùng và đầu tư toàn cầu phục hồi chậm... đã làm cho môi trường kinh tế không thuận lợi ảnh hưởng mạnh đến nền kinh tế vốn hướng mạnh về xuất khẩu của Việt Nam.

Trên địa bàn tỉnh, với quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu đã đề ra, cả hệ thống chính trị đã vào cuộc, diều hành linh hoạt, đưa ra các giải pháp phù hợp cùng với sự đồng thuận của các doanh nghiệp, nhân dân trên trên địa bàn tỉnh, kinh tế của tỉnh tăng trưởng tích cực, quý sau tăng cao hơn quý trước.

Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 120.745 tỷ đồng, (giá so sánh năm 2020) tăng 7,14% so với 6 tháng đầu năm 2025 (quý I tăng 6,66%, quý II tăng 7,67%), tăng cao hơn cùng kỳ 0,13% (cùng kỳ tăng 7,01%). Với tốc độ tăng trưởng 7,14%, Đồng Tháp xếp hạng thứ 2/5 tỉnh khu vực vùng đồng bằng sông Cửu Long (1. An Giang tăng 8,83%; 2. Đồng Tháp tăng 7,14%; 3. TP Cần Thơ tăng 6,70%; 4. Cà Mau tăng 6,60; 5. Vĩnh Long tăng 6,41%). Khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,15%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,52%, khu vực dịch vụ tăng 8,06% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 7,61% so cùng kỳ.

Trong 7,14% tăng trưởng, khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản đóng góp 1,34%, khu vực công nghiệp và xây dựng đóng góp 2,44%, khu vực dịch vụ đóng góp 2,88% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đóng góp 0,48%.

Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản: 6 tháng đầu năm 2026 tăng 4,15% so với 6 tháng đầu năm 2025 (quý I tăng 3,66%, quý II tăngg 4,90%); trong đó nông nghiệp tăng 4,39%. Tình hình sản xuất nông nghiệp 6 tháng đầu năm thuận lợi, không chịu tác động nhiều của hạn mặn như những năm trước. Trên địa bàn tỉnh từng bước được cơ cấu lại theo hướng nâng cao giá trị, hiệu quả và phát triển bền vững; đã hình thành nhiều vùng chuyên canh quy mô lớn, hướng đến nền nông nghiệp công nghệ cao, hiện đại, nông dân đã chuyển đổi giống, mô hình canh tác xen canh, gối vụ với nhiều loại rau, củ, quả có giá trị kinh tế cao, dễ tiêu thụ; ứng dụng tiến bộ của khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất tiết kiệm chi phí, tăng năng suất, chuyển đổi diện tích đất lúa, đất màu kém hiệu quả sang trồng cây ăn quả có giá trị kinh tế cao hơn. Tuy nhiên trong 6 tháng đầu một số sản phẩm chủ lực của tỉnh như: lúa, sầu riêng, mít, thanh long… có giá bán thấp so cùng kỳ, cùng với tác động tăng giá xăng, dầu ảnh hưởng đến thu nhập của người dân.

Ngành chăn nuôi tiếp tục duy trì sự ổn định và có nhiều yếu tố thuận lợi. Giá cả các sản phẩm chăn nuôi cơ bản ổn định giúp người dân yên tâm duy trì và phát triển đàn. Dịch bệnh còn xảy ra ở một số địa phương, nhưng do công tác phòng chống dịch bệnh được thực hiện chặt chẽ, tỷ lệ tiêm phòng đạt cao, góp phần giảm rủi ro và tăng khả năng tái đàn. Ngoài ra, việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật, mô hình chăn nuôi an toàn sinh học và sử dụng giống năng suất cao ngày càng phổ biến, giúp cải thiện hiệu quả sản xuất, chất lượng sản phẩm ngày càng nâng cao.

Ngành thủy sản tăng trưởng 2,99% so cùng kỳ (quý I tăng 2,89%, quý II tăng 3,09%), nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản đều tăng. Giá cả ổn định, nên ngư dân đã tập trung đầu tư cho nuôi trồng và khai thác; nhu cầu tiêu thụ thủy sản của thị trường trong nước và phục vụ cho xuất khẩu tăng, kích thích ngư dân đầu tư cho sản xuất. Mặt khác, thời tiết thuận lợi, thủy sản bệnh ít, năng suất cao, sản lượng nuôi trồng tăng so cùng kỳ. Tuy nhiên thời điểm tháng 3, tháng 4 giá xăng dầu tăng cao, số lượng tàu đánh nằm bờ nhiều cũng làm chậm tốc độ tăng trưởng của ngành thuỷ sản. Hiện nay giá xăng dầu đã ổn định, ngư dân tiếp tục ra khơi, bám biển.

Khu vực công nghiệp - xây dựng: Trong 6 tháng đầu năm 2026, khu vực công nghiệp – xây dựng trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng khá, trong bối cảnh giá năng lượng tăng làm tăng chi phí vận chuyển, giá nguyên liệu đầu vào, … do tác động của tình hình chiến sự ở Trung Đông, tạo áp lực lớn lên hoạt động sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh; 6 tháng đầu năm tăng 9,52% so với 6 tháng đầu năm 2025 (quý I tăng 8,20%, quý II tăngg 10,80%).

 Công nghiệp tăng 9,88% (quý I tăng 8,34%, quý II tăng 11,40%);  động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ công nghiệp chế biến, chế tạo (tăng 10,20%) nhờ đơn hàng phục hồi, nhu cầu thị trường cải thiện và doanh nghiệp duy trì sản xuất ổn định và có một số đơn vị mới đi vào sản xuất kinh doanh. Một số ngành có chỉ số sản xuất tăng cao như: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 18,68%, sản xuất đồ uống tăng 28,89%, dệt tăng 12,98%, sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 52,31%,… Bên cạnh đó cũng có một số ngành có tỷ trọng lớn khó khăn về thị trường tiêu thụ, đơn hàng giảm so cùng kỳ như: Sản xuất trang phục giảm 3,85%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 5,42%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa, sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện giảm 21,24%; sản xuất hoá chất và các sản phẩm từ hoá chất giảm 6,39%, Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 24,0%,...

Ngành xây dựng 6 tháng đầu năm 2026 ước tăngg 7,40% so với cùng (quý I tăng 7,23%, quý II ước tăng 7,54% so cùng kỳ). Trong lĩnh vực đầu tư công, trong 6 tháng đầu năm chủ yếu thực hiện các công trình chuyển tiếp từ năm 2025 chuyển sang, công trình mới chưa nhiều; Trong quý II với sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị, các chủ đầu tư tập trung đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình trọng điểm, đồng thời phối hợp với các địa phương đẩy mạnh đầu tư hạ tầng bệnh viện, trường học, giao thông nông thôn, chỉnh trang đô thị. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại các khó khăn mang tính đặc thù như biến động giá vật liệu xây dựng, thiếu nguồn cung cát, đá, vướng mắc giải phóng mặt bằng, ảnh hưởng đến tiến độ và hiệu quả đầu tư, ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng của ngành xây dựng.

Khu vực dịch vụ: tăng 8,06% so cùng kỳ (cùng kỳ tăng 7,55%); hầu hết các ngành trong khu vực này đều tăng, nhu cầu tiêu dùng, mua sắm của người dân trong kỳ tăng cao nên hoạt động thương mại và dịch vụ diễn ra khá sôi động và có mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước. Tỉnh đã tổ chức nhiều sự kiện để thu hút du khách đến địa bàn tỉnh như: Festival Hoa – Kiểng Sa Đéc, chợ quê, khánh thành tượng đài Bác Hồ kết hợp với triển lãm, Lễ hội Trái cây tỉnh Đồng Tháp lần I, Lễ hội Sen Đồng Tháp … Một số ngành có tốc độ tăng trưởng khá so cùng kỳ như: Ngành thương mại ước tăng 9,11% so cùng kỳ năm trước; ngành vận tải, kho bãi tăng 9,06%; ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 10,64%; ngành thông tin và truyền thông tăng 6,94%; Hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ tăng 8,5%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 9,97%; …

Cơ cấu kinh tế: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 31,0% (cùng kỳ 33,2%); khu vực công nghiệp, xây dựng chiếm 26,6% (cùng kỳ 25,2%); khu vực dịch vụ chiếm 36% (cùng kỳ 35,3%); thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 6,4 %, (cùng kỳ 6,3%).

Mục tiêu tăng trưởng trong năm 2026 của tỉnh phấn đấu đạt từ 8,0 – 8,5%, với kết quả ước thực hiện 6 tháng đầu năm tăng 7,14%, để đạt mục tiêu tăng trưởng cả năm, thì 6 tháng cuối năm phải tăng từ 8,76% - 9,70%. Để đạt được mục tiêu tăng trưởng cả năm, trong 6 tháng cuối năm các Sở ngành, địa phương theo nhiệm vụ được phân công cần thực hiện tốt các giải pháp sau:

Khu vực Nông - Lâm - Thủy sản:

Tiếp tục triển khai thực hiện Chương trình Phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp giai đoạn 2026 - 2030; đề án Phát triển bền vững 01 triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030 nhằm tạo chuyển biến rõ nét về năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng trong sản xuất nông nghiệp. Tiếp tục chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi hợp lý, hiệu quả và thích ứng với thị trường. Tập trung quản lý mã số vùng trồng, an toàn thực phẩm, xây dựng cơ sở chăn nuôi an toàn dịch bệnh, sinh học. Đẩy mạnh phát triển sản phẩm OCOP gắn với thương hiệu nông sản đặc trưng. Phát triển kinh tế tập thể, liên kết sản xuất tiêu thụ góp phần ổn định sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế và phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững, lâu dài. 

Kêu gọi đầu tư phát triển công nghiệp chế biến nông lâm thủy sản, nâng cao tỷ trọng chế biến các mặt hàng nông sản có giá trị gia tăng cao. Tiếp tục phát huy vai trò cầu nối, giới thiệu, liên kết hợp tác sản xuất, tiêu thụ nông sản; hỗ trợ phát triển chuỗi cung ứng nông sản vào kênh phân phối trong và ngoài nước, nhất là đưa sản phẩm hàng hóa tham gia các sàn thương mại điện tử; chú trọng phát triển chuỗi cung ứng nông sản sạch, an toàn, sản phẩm OCOP, sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu vào kênh phân phối hiện đại.

Đẩy mạnh việc hình thành và phát triển thêm các vùng chuyên canh cây ăn trái đặc sản, giá trị kinh tế cao, có lợi thế ngày càng cạnh tranh. Hiện toàn tỉnh có 1.147 vùng trồng cây ăn trái (gần 51.270 ha) được cấp 2.758 mã số được phê duyệt phục vụ xuất khẩu và đã xây dựng được 438 mã số cơ sở đóng gói đủ tiêu chuẩn xuất khẩu sang các thị trường khó tính như Mỹ, Úc, EU, Hàn Quốc và duy trì ưu thế tại Trung Quốc thông qua đường xuất khẩu chính ngạch.

Hỗ trợ nông dân trong việc tiêu thụ hàng hoá, xuất khẩu, tránh trường hợp “được mùa mất giá, được giá mất mùa”, tạo động lực để nông dân tập trung đầu tư cho sản xuất.

Khu vực Công nghiệp - Xây dựng

Tiếp tục mở các Hội nghị gặp gỡ doanh nghiệp, nắm bắt tâm tư nguyện vọng của doanh, giải quyết kịp thời các đề xuất kiến nghị của doanh nghiệp.         

Hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu tham gia các hoạt động xúc tiến thương mại ở nước ngoài, các hội chợ, triển lãm chuyên ngành và chương trình kết nối giao thương nhằm tìm kiếm đối tác, mở rộng thị trường xuất khẩu. Đồng thời, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thông tin thị trường, cập nhật các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế, các quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật và yêu cầu của thị trường nhập khẩu; nâng cao năng lực tận dụng hiệu quả các Hiệp định thương mại tự do (FTA), đa dạng hóa thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy xuất khẩu bền vững.

Đẩy nhanh tiến độ đầu tư hạ tầng, sớm đưa cụm công nghiệp đi vào hoạt động; kịp thời tháo gỡ khó khăn vướng mắc cho doanh nghiệp, nâng cao tỷ lệ lấp đầy cụm công nghiệp. Tạo dộng lực tăng trưởng trong 6 tháng cuối năm và là dư địa để tăng trưởng trong các năm tiếp theo.

Tăng cường quản lý, giám sát chặt chẽ công tác đầu tư công; kịp thời tháo gỡ các khó khăn vướng mắc; đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công đã giao trong năm 2026. Tập trung tháo gỡ vướng mắc trong bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư; tạo chuyển biến rõ nét trong tiến độ thực hiện các dự án trọng điểm; bố trí nguồn lực cho hạ tầng kỹ thuật, giao thông, logistics…

  Tổ chức thực hiện hiệu quả các giải pháp tháo gỡ và thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển an toàn, lành mạnh, bền vững. Đẩy mạnh phát triển nhà ở xã hội, phấn đấu hoàn thành trong năm.

  Đẩy nhanh tiến độ triển khai các công trình giao thông trọng điểm, đột phá, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Chủ động phối hợp với các Bộ, ngành nhằm sớm triển khai đầu tư các công trình giao thông trọng điểm.

  Tập trung đẩy nhanh giải quyết thủ tục đất đai, khó khăn, vướng mắc, nhất là công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư; đẩy nhanh tiến độ các dự án đầu tư trên địa bàn do tỉnh quản lý.

  Tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp hoàn thiện thủ tục đầu tư xây dựng hạ tầng khu, cụm công nghiệp; thu hút dự án thứ cấp; đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án đã được chấp thuận chủ trương đầu tư.

  Khu vực Thương mại - Dịch vụ

  Hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng công nghệ thông tin và thương mại điện tử trong hoạt động sản xuất kinh doanh giúp phát triển giao dịch trên các sàn thương mại điện tử uy tín. Kêu gọi đầu tư phát triển hạ tầng logistics, trung tâm thương mại, siêu thị, chợ đầu mối… tại các đô thị trung tâm và khu cửa khẩu.

  Đổi mới hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại; mở rộng thị trường khách du lịch trong và ngoài nước; tăng cường liên kết phát triển du lịch liên vùng và liên ngành, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, quảng bá và cung cấp dịch vụ du lịch; triển khai các tiện ích số phục vụ khách du lịch và hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng nền tảng số trong hoạt động kinh doanh.

  Kích cầu tiêu dùng, đẩy mạnh thực hiện hiệu quả cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” góp phần mở rộng thị trường trong nước, hỗ trợ sản xuất, kinh doanh và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến thương mại và hỗ trợ doanh nghiệp thâm nhập thị trường có FTA với Việt Nam, thị trường mới, thị trường tiềm năng và mở rộng thị trường xuất khẩu…nhằm đa dạng hóa thị trường xuất khẩu.

 Xây dựng hình ảnh du lịch an toàn, thân thiện, hấp dẫn, thu hút du khách trên cơ sở phát huy các tiềm năng về du lịch sinh thái, các khu di tích lịch sử - văn hóa, các đô thị, du lịch văn hóa, cộng đồng, du lịch thể thao và liên kết phát triển với các tỉnh, thành trong khu vực.

                                                                                    N.V.Tròn