0273.3 872582 | dongthap@nso.gov.vn
Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp 6 tháng đầu năm 2026 tăng 7,14%
  •   02/07/2026 14:07

Đồng Tháp bước vào thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 trong điều kiện kinh tế của Tỉnh, cả nước và trên thế giới tiếp tục gặp nhiều khó khăn, thách thức: Cạnh tranh giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, gia tăng căng thẳng địa chính trị. Thiên tai, hạn hán, bão lũ, biến đổi khí hậu gây hậu quả nghiêm trọng; nguy cơ về an ninh năng lượng, an ninh lương thực, gia tăng... Lạm phát mặc dù hạ nhiệt nhưng vẫn cao hơn mục tiêu; nhiều nền kinh tế lớn tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ thắt chặt, duy trì mức lãi suất cao; thương mại, tiêu dùng và đầu tư toàn cầu phục hồi chậm... đã làm cho môi trường kinh tế không thuận lợi ảnh hưởng mạnh đến nền kinh tế vốn hướng mạnh về xuất khẩu của Việt Nam. Trên địa bàn tỉnh, với quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu đã đề ra, cả hệ thống chính trị đã vào cuộc, diều hành linh hoạt, đưa ra các giải pháp phù hợp cùng với sự đồng thuận của các doanh nghiệp, nhân dân trên trên địa bàn tỉnh, kinh tế của tỉnh tăng trưởng tích cực, quý sau tăng cao hơn quý trước. Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 120.745 tỷ đồng, (giá so sánh năm 2020) tăng 7,14% so với 6 tháng đầu năm 2025 (quý I tăng 6,66%, quý II tăng 7,67%), tăng cao hơn cùng kỳ 0,13% (cùng kỳ tăng 7,01%). Với tốc độ tăng trưởng 7,14%, Đồng Tháp xếp hạng thứ 2/5 tỉnh khu vực vùng đồng bằng sông Cửu Long (1. An Giang tăng 8,83%; 2. Đồng Tháp tăng 7,14%; 3. TP Cần Thơ tăng 6,70%; 4. Cà Mau tăng 6,60; 5. Vĩnh Long tăng 6,41%). Khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,15%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,52%, khu vực dịch vụ tăng 8,06% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 7,61% so cùng kỳ. Trong 7,14% tăng trưởng, khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản đóng góp 1,34%, khu vực công nghiệp và xây dựng đóng góp 2,44%, khu vực dịch vụ đóng góp 2,88% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đóng góp 0,48%. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản: 6 tháng đầu năm 2026 tăng 4,15% so với 6 tháng đầu năm 2025 (quý I tăng 3,66%, quý II tăngg 4,90%); trong đó nông nghiệp tăng 4,39%. Tình hình sản xuất nông nghiệp 6 tháng đầu năm thuận lợi, không chịu tác động nhiều của hạn mặn như những năm trước. Trên địa bàn tỉnh từng bước được cơ cấu lại theo hướng nâng cao giá trị, hiệu quả và phát triển bền vững; đã hình thành nhiều vùng chuyên canh quy mô lớn, hướng đến nền nông nghiệp công nghệ cao, hiện đại, nông dân đã chuyển đổi giống, mô hình canh tác xen canh, gối vụ với nhiều loại rau, củ, quả có giá trị kinh tế cao, dễ tiêu thụ; ứng dụng tiến bộ của khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất tiết kiệm chi phí, tăng năng suất, chuyển đổi diện tích đất lúa, đất màu kém hiệu quả sang trồng cây ăn quả có giá trị kinh tế cao hơn. Tuy nhiên trong 6 tháng đầu một số sản phẩm chủ lực của tỉnh như: lúa, sầu riêng, mít, thanh long… có giá bán thấp so cùng kỳ, cùng với tác động tăng giá xăng, dầu ảnh hưởng đến thu nhập của người dân. Ngành chăn nuôi tiếp tục duy trì sự ổn định và có nhiều yếu tố thuận lợi. Giá cả các sản phẩm chăn nuôi cơ bản ổn định giúp người dân yên tâm duy trì và phát triển đàn. Dịch bệnh còn xảy ra ở một số địa phương, nhưng do công tác phòng chống dịch bệnh được thực hiện chặt chẽ, tỷ lệ tiêm phòng đạt cao, góp phần giảm rủi ro và tăng khả năng tái đàn. Ngoài ra, việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật, mô hình chăn nuôi an toàn sinh học và sử dụng giống năng suất cao ngày càng phổ biến, giúp cải thiện hiệu quả sản xuất, chất lượng sản phẩm ngày càng nâng cao. Ngành thủy sản tăng trưởng 2,99% so cùng kỳ (quý I tăng 2,89%, quý II tăng 3,09%), nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản đều tăng. Giá cả ổn định, nên ngư dân đã tập trung đầu tư cho nuôi trồng và khai thác; nhu cầu tiêu thụ thủy sản của thị trường trong nước và phục vụ cho xuất khẩu tăng, kích thích ngư dân đầu tư cho sản xuất. Mặt khác, thời tiết thuận lợi, thủy sản bệnh ít, năng suất cao, sản lượng nuôi trồng tăng so cùng kỳ. Tuy nhiên thời điểm tháng 3, tháng 4 giá xăng dầu tăng cao, số lượng tàu đánh nằm bờ nhiều cũng làm chậm tốc độ tăng trưởng của ngành thuỷ sản. Hiện nay giá xăng dầu đã ổn định, ngư dân tiếp tục ra khơi, bám biển. Khu vực công nghiệp - xây dựng: Trong 6 tháng đầu năm 2026, khu vực công nghiệp – xây dựng trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng khá, trong bối cảnh giá năng lượng tăng làm tăng chi phí vận chuyển, giá nguyên liệu đầu vào, … do tác động của tình hình chiến sự ở Trung Đông, tạo áp lực lớn lên hoạt động sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh; 6 tháng đầu năm tăng 9,52% so với 6 tháng đầu năm 2025 (quý I tăng 8,20%, quý II tăngg 10,80%).  Công nghiệp tăng 9,88% (quý I tăng 8,34%, quý II tăng 11,40%);  động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ công nghiệp chế biến, chế tạo (tăng 10,20%) nhờ đơn hàng phục hồi, nhu cầu thị trường cải thiện và doanh nghiệp duy trì sản xuất ổn định và có một số đơn vị mới đi vào sản xuất kinh doanh. Một số ngành có chỉ số sản xuất tăng cao như: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 18,68%, sản xuất đồ uống tăng 28,89%, dệt tăng 12,98%, sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 52,31%,… Bên cạnh đó cũng có một số ngành có tỷ trọng lớn khó khăn về thị trường tiêu thụ, đơn hàng giảm so cùng kỳ như: Sản xuất trang phục giảm 3,85%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 5,42%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa, sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện giảm 21,24%; sản xuất hoá chất và các sản phẩm từ hoá chất giảm 6,39%, Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 24,0%,... Ngành xây dựng 6 tháng đầu năm 2026 ước tăngg 7,40% so với cùng (quý I tăng 7,23%, quý II ước tăng 7,54% so cùng kỳ). Trong lĩnh vực đầu tư công, trong 6 tháng đầu năm chủ yếu thực hiện các công trình chuyển tiếp từ năm 2025 chuyển sang, công trình mới chưa nhiều; Trong quý II với sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị, các chủ đầu tư tập trung đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình trọng điểm, đồng thời phối hợp với các địa phương đẩy mạnh đầu tư hạ tầng bệnh viện, trường học, giao thông nông thôn, chỉnh trang đô thị. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại các khó khăn mang tính đặc thù như biến động giá vật liệu xây dựng, thiếu nguồn cung cát, đá, vướng mắc giải phóng mặt bằng, ảnh hưởng đến tiến độ và hiệu quả đầu tư, ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng của ngành xây dựng. Khu vực dịch vụ: tăng 8,06% so cùng kỳ (cùng kỳ tăng 7,55%); hầu hết các ngành trong khu vực này đều tăng, nhu cầu tiêu dùng, mua sắm của người dân trong kỳ tăng cao nên hoạt động thương mại và dịch vụ diễn ra khá sôi động và có mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước. Tỉnh đã tổ chức nhiều sự kiện để thu hút du khách đến địa bàn tỉnh như: Festival Hoa – Kiểng Sa Đéc, chợ quê, khánh thành tượng đài Bác Hồ kết hợp với triển lãm, Lễ hội Trái cây tỉnh Đồng Tháp lần I, Lễ hội Sen Đồng Tháp … Một số ngành có tốc độ tăng trưởng khá so cùng kỳ như: Ngành thương mại ước tăng 9,11% so cùng kỳ năm trước; ngành vận tải, kho bãi tăng 9,06%; ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 10,64%; ngành thông tin và truyền thông tăng 6,94%; Hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ tăng 8,5%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 9,97%; … Cơ cấu kinh tế: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 31,0% (cùng kỳ 33,2%); khu vực công nghiệp, xây dựng chiếm 26,6% (cùng kỳ 25,2%); khu vực dịch vụ chiếm 36% (cùng kỳ 35,3%); thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 6,4 %, (cùng kỳ 6,3%). Mục tiêu tăng trưởng trong năm 2026 của tỉnh phấn đấu đạt từ 8,0 – 8,5%, với kết quả ước thực hiện 6 tháng đầu năm tăng 7,14%, để đạt mục tiêu tăng trưởng cả năm, thì 6 tháng cuối năm phải tăng từ 8,76% - 9,70%. Để đạt được mục tiêu tăng trưởng cả năm, trong 6 tháng cuối năm các Sở ngành, địa phương theo nhiệm vụ được phân công cần thực hiện tốt các giải pháp sau: Khu vực Nông - Lâm - Thủy sản: Tiếp tục triển khai thực hiện Chương trình Phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp giai đoạn 2026 - 2030; đề án Phát triển bền vững 01 triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030 nhằm tạo chuyển biến rõ nét về năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng trong sản xuất nông nghiệp. Tiếp tục chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi hợp lý, hiệu quả và thích ứng với thị trường. Tập trung quản lý mã số vùng trồng, an toàn thực phẩm, xây dựng cơ sở chăn nuôi an toàn dịch bệnh, sinh học. Đẩy mạnh phát triển sản phẩm OCOP gắn với thương hiệu nông sản đặc trưng. Phát triển kinh tế tập thể, liên kết sản xuất tiêu thụ góp phần ổn định sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế và phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững, lâu dài.  Kêu gọi đầu tư phát triển công nghiệp chế biến nông lâm thủy sản, nâng cao tỷ trọng chế biến các mặt hàng nông sản có giá trị gia tăng cao. Tiếp tục phát huy vai trò cầu nối, giới thiệu, liên kết hợp tác sản xuất, tiêu thụ nông sản; hỗ trợ phát triển chuỗi cung ứng nông sản vào kênh phân phối trong và ngoài nước, nhất là đưa sản phẩm hàng hóa tham gia các sàn thương mại điện tử; chú trọng phát triển chuỗi cung ứng nông sản sạch, an toàn, sản phẩm OCOP, sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu vào kênh phân phối hiện đại. Đẩy mạnh việc hình thành và phát triển thêm các vùng chuyên canh cây ăn trái đặc sản, giá trị kinh tế cao, có lợi thế ngày càng cạnh tranh. Hiện toàn tỉnh có 1.147 vùng trồng cây ăn trái (gần 51.270 ha) được cấp 2.758 mã số được phê duyệt phục vụ xuất khẩu và đã xây dựng được 438 mã số cơ sở đóng gói đủ tiêu chuẩn xuất khẩu sang các thị trường khó tính như Mỹ, Úc, EU, Hàn Quốc và duy trì ưu thế tại Trung Quốc thông qua đường xuất khẩu chính ngạch. Hỗ trợ nông dân trong việc tiêu thụ hàng hoá, xuất khẩu, tránh trường hợp “được mùa mất giá, được giá mất mùa”, tạo động lực để nông dân tập trung đầu tư cho sản xuất. Khu vực Công nghiệp - Xây dựng Tiếp tục mở các Hội nghị gặp gỡ doanh nghiệp, nắm bắt tâm tư nguyện vọng của doanh, giải quyết kịp thời các đề xuất kiến nghị của doanh nghiệp.          Hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu tham gia các hoạt động xúc tiến thương mại ở nước ngoài, các hội chợ, triển lãm chuyên ngành và chương trình kết nối giao thương nhằm tìm kiếm đối tác, mở rộng thị trường xuất khẩu. Đồng thời, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thông tin thị trường, cập nhật các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế, các quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật và yêu cầu của thị trường nhập khẩu; nâng cao năng lực tận dụng hiệu quả các Hiệp định thương mại tự do (FTA), đa dạng hóa thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy xuất khẩu bền vững. Đẩy nhanh tiến độ đầu tư hạ tầng, sớm đưa cụm công nghiệp đi vào hoạt động; kịp thời tháo gỡ khó khăn vướng mắc cho doanh nghiệp, nâng cao tỷ lệ lấp đầy cụm công nghiệp. Tạo dộng lực tăng trưởng trong 6 tháng cuối năm và là dư địa để tăng trưởng trong các năm tiếp theo. Tăng cường quản lý, giám sát chặt chẽ công tác đầu tư công; kịp thời tháo gỡ các khó khăn vướng mắc; đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công đã giao trong năm 2026. Tập trung tháo gỡ vướng mắc trong bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư; tạo chuyển biến rõ nét trong tiến độ thực hiện các dự án trọng điểm; bố trí nguồn lực cho hạ tầng kỹ thuật, giao thông, logistics…   Tổ chức thực hiện hiệu quả các giải pháp tháo gỡ và thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển an toàn, lành mạnh, bền vững. Đẩy mạnh phát triển nhà ở xã hội, phấn đấu hoàn thành trong năm.   Đẩy nhanh tiến độ triển khai các công trình giao thông trọng điểm, đột phá, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Chủ động phối hợp với các Bộ, ngành nhằm sớm triển khai đầu tư các công trình giao thông trọng điểm.   Tập trung đẩy nhanh giải quyết thủ tục đất đai, khó khăn, vướng mắc, nhất là công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư; đẩy nhanh tiến độ các dự án đầu tư trên địa bàn do tỉnh quản lý.   Tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp hoàn thiện thủ tục đầu tư xây dựng hạ tầng khu, cụm công nghiệp; thu hút dự án thứ cấp; đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án đã được chấp thuận chủ trương đầu tư.   Khu vực Thương mại - Dịch vụ   Hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng công nghệ thông tin và thương mại điện tử trong hoạt động sản xuất kinh doanh giúp phát triển giao dịch trên các sàn thương mại điện tử uy tín. Kêu gọi đầu tư phát triển hạ tầng logistics, trung tâm thương mại, siêu thị, chợ đầu mối… tại các đô thị trung tâm và khu cửa khẩu.   Đổi mới hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại; mở rộng thị trường khách du lịch trong và ngoài nước; tăng cường liên kết phát triển du lịch liên vùng và liên ngành, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, quảng bá và cung cấp dịch vụ du lịch; triển khai các tiện ích số phục vụ khách du lịch và hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng nền tảng số trong hoạt động kinh doanh.   Kích cầu tiêu dùng, đẩy mạnh thực hiện hiệu quả cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” góp phần mở rộng thị trường trong nước, hỗ trợ sản xuất, kinh doanh và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến thương mại và hỗ trợ doanh nghiệp thâm nhập thị trường có FTA với Việt Nam, thị trường mới, thị trường tiềm năng và mở rộng thị trường xuất khẩu…nhằm đa dạng hóa thị trường xuất khẩu.  Xây dựng hình ảnh du lịch an toàn, thân thiện, hấp dẫn, thu hút du khách trên cơ sở phát huy các tiềm năng về du lịch sinh thái, các khu di tích lịch sử - văn hóa, các đô thị, du lịch văn hóa, cộng đồng, du lịch thể thao và liên kết phát triển với các tỉnh, thành trong khu vực.                                                                                     N.V.Tròn

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Tháp tháng 05 năm 2026
  •   01/06/2026 14:22

Trong tháng, kinh tế - xã hội của tỉnh tiếp tục phát triển, các hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh có nhiều khởi sắc, hầu hết các ngành, lĩnh vực đều tăng so cùng kỳ. Kết quả thực hiện trên các lĩnh vực đạt được như sau:I. SẢN XUẤT NÔNG LÂM NGHIỆP VÀ THỦY SẢN1. Nông nghiệp* Trồng trọt:Cây lương thực có hạt:diện tích gieo trồng cộng dồn từ đầu vụ sản xuất ước đạt 382.843 ha, giảm 12,3% so cùng kỳ; trong đó cây lúa gieo sạ 379.654 ha, giảm 12,4%- Cây lúa:+ Vụ Đông xuân 2025 – 2026: diện tích gieo trồng ước tính 223.450 ha, đạt 98,4% kế hoạch và giảm 2,7% so cùng kỳ, tương ứng giảm 6.229 ha; do chậm tiến độ sản xuất nên khoảng 4.022 ha không gieo sạ vụ Đông Xuân, chuyển đổi sang cây lâu năm 1.594 ha, cây hàng năm khác 533 ha, nuôi trồng thủy sản 55 ha, đất phi nông nghiệp là 25 ha. Lúa Đông xuân 2025-2026 đã thu hoạch 221.080 ha, chiếm 98,9% diện tích gieo trồng của vụ; Năng suất thu hoạch bình quân ước đạt 72,5 tạ/ha, tăng 0,8% so cùng kỳ với sản lượng thu hoạch ước đạt 1.602.830 tấn, giảm 3,0% sản lượng so với cùng kỳ. Cơ cấu giống lúa vụ Đông Xuân 2025 - 2026 tập trung vào các giống chất lượng cao, chịu mặn/phèn tốt, thời gian sinh trưởng ngắn (85-95 ngày) như: OM 18 (chiếm 36,0%); Đài Thơm 8 (chiếm 26,2%); OM 5451 (chiếm 4,2%); Nàng Hoa 9 (chiếm 2,3%); OM 380 (chiếm 1,9%); OM 4900 (chiếm 1,9%); các giống ST 24, ST 25 (chiếm 1,4%); IR50404 (chiếm 6,5%); các giống lúa nếp (chiếm 12,2%), giống lúa khác còn lại chiếm 7,4%.+ Vụ Hè thu 2026: tính đến ngày 20/5, toàn tỉnh gieo sạ được 156.203 ha, đạt 69,0% so với kế hoạch, giảm 36,1% so với cùng kỳ. Lịch xuống giống được triển khai theo từng vùng, đảm bảo né rầy, thích ứng điều kiện thời tiết và nguồn nước như: đối với vùng sản xuất 3 vụ, xuống giống đợt 1 từ ngày 17 đến 24-2-2026, đợt 2 từ ngày 18 đến 25-3-2026 và đợt 3 từ ngày 10 đến 20-5-2026. Đối với vùng sản xuất 2 vụ, xuống giống đợt 1 từ ngày 18 đến 25-3-2026 và đợt 2 từ ngày 17 đến 24-4-2026. Riêng khu vực ven biển xuống giống từ ngày 10 đến 25-5-2026 và chỉ thực hiện khi mùa mưa bắt đầu, đảm bảo nguồn nước ngọt. Năm nay, do tình hình nắng nóng kéo dài nên một số khu vực xuống giống chậm hơn kế hoạch. Do lịch xuống giống khác nhau cho từng khu vực nên tình hình thu hoạch lúa cũng không đồng loạt. Vụ lúa Hè thu đã bắt đầu thu hoạch ở các xã, phường như: phường Hồng Ngự, phường An Bình, xã An Hòa, xã Long Khánh, xã Phương Thịnh, xã Trường Xuân, xã Mỹ Quí, xã Tháp Mười, xã Đốc Binh Kiều, xã Thanh Mỹ và xã Hậu Mỹ với diện tích thu hoạch 24.587 ha; Năng suất thu hoạch ước đạt 65,1 tạ/ha với sản lượng thu hoạch ước đạt 162.520 tấn, giảm 55,9% so với cùng kỳ. Hình 1. Diện tích gieo trồng một số cây hàng năm tính đến 20/5/2026- Cây ngô: diện tích gieo trồng tính đến ngày 20/5/2026 ước đạt 3.189 ha, tăng 14,4% so cùng kỳ, tương ứng tăng 400,3 ha.- Cây rau đậu các loại: diện tích gieo trồng tính đến 20/5/2026 ước đạt 39.827 ha, tăng 0,5% so với cùng kỳ; trong đó rau các loại đạt 39.615 ha, chiếm 99,5% so với tổng diện tích cây rau đạu các loại, tăng 0,4%.*Chăn nuôi: ước tổng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh tại thời điểm 31/5/2026 như sau: đàn trâu 2,1 nghìn con, giảm 27,2%; đàn bò 145,8 nghìn con, giảm 4,4% so cùng kỳ; đàn lợn 426,5 nghìn con, giảm 2,5%; đàn gia cầm 22,4 triệu con, tăng 1,5%. Đàn trâu giảm chủ yếu do hiệu quả kinh tế thấp, thời gian nuôi kéo dài trong khi diện tích chăn thả ngày càng thu hẹp. Đàn bò giảm do hiệu quả chăn nuôi chưa tương xứng với chi phí đầu tư nên người chăn nuôi còn thận trọng trong tái đàn. Đàn lợn giảm do giá thức ăn chăn nuôi duy trì ở mức cao. Đàn gia cầm tăng nhờ dịch bệnh được kiểm soát tốt, nhu cầu tiêu dùng tăng; các cơ sở chăn nuôi chủ động tái đàn gắn với kiểm soát con giống, tiêm phòng và áp dụng mô hình chăn nuôi an toàn sinh học.*Tình hình dịch bệnh trên vật nuôi trong tháng (theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đồng Tháp):+ Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: trong tháng xảy ra 03 trường hợp với 38 con lợn bệnh (tổng đàn 134 con) tại 02 xã (xã Tân Hộ Cơ và Bình Ninh). Cộng dồn từ đầu năm đến tháng báo cáo xảy ra 56 trường hợp với số lợn mắc bệnh 967 con (tổng đàn 1.979 con), đã tiêu huỷ 1.822 con với khối lượng tiêu huỷ là 82.349 kg.+ Bệnh Lở mồm long móng: trong tháng không phát sinh. Cộng dồn từ đầu năm đến tháng báo cáo xảy ra 03 trường hợp lợn bệnh tại cơ sở giết mổ xã Mỹ Lợi, đã tiêu hủy 09 con lợn trên với khối lượng 1.190 kg.+ Bệnh viêm da nổi cục: trong tháng không phát sinh. Cộng dồn từ đầu năm đến tháng báo cáo xảy ra 02 hộ với 03 con bò bệnh (tổng đàn 07 con) tại xã Lương Hòa Lạc.Hình 2. Chăn nuôi tại thời điểm 31/5/20262. Lâm nghiệp: Diện tích rừng trồng mới tập trung: trong tháng có 9,0 ha rừng được trồng mới tập trung, giảm 8,2% tương đương giảm 0,8 ha so với cùng kỳ. Cộng dồn đến tháng 5/2026 có 100,4 ha rừng được trồng mới tập trung, giảm 0,5% tương đương giảm 0,5 ha so với cùng kỳ.Cây phân tán: trong tháng, toàn tỉnh thực hiện trồng mới được 37,8 ngàn cây phân tán các loại, tăng 6,0% so cùng kỳ. Cộng dồn đến tháng 5/2026 số lượng cây phân tán ước đạt 145,8 nghìn cây, giảm 3,0%, tương đương giảm 4,5 nghìn cây so với cùng kỳ.Sản lượng gỗ khai thác: trong tháng sản lượng gỗ khai thác ước đạt 13.527 m3; giảm 7,0% so với cùng kỳ. Cộng dồn đến tháng báo cáo ước đạt 61.083 m3 gỗ được khai thác, giảm 3,4% so với cùng kỳ.3. Thủy hải sản: Tổng diện tích thả nuôi thâm canh trong tháng ước đạt 309 ha, tăng 2,5% so cùng kỳ. Tổng diện tích thả nuôi thâm canh 5 tháng đầu năm 2026 ước đạt 6.621 ha, tăng 2,8% so cùng kỳ, trong đó: cá tra đạt 1.634 ha (tăng 4,0%), tôm sú 2.836 ha (tăng 0,6%), tôm thẻ chân trắng 2.150 ha (tăng 4,8%).Sản lượng thủy sản nuôi và khai thác biển trong tháng ước đạt 98.999 tấn, tổng số sản lượng thủy sản nuôi và khai thác biển từ đầu năm đến tháng báo cáo ước đạt 401.167 tấn, tăng 1,4% so cùng kỳ, bao gồm:- Sản lượng thủy sản nuôi trong tháng ước đạt 88.477 tấn, tăng 4,5% so cùng kỳ. Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, thu hoạch ước đạt 350.252 tấn, tăng 1,3% so cùng kỳ, trong đó: sản lượng cá đạt 317.070 tấn (tăng 1,3%); sản lượng tôm đạt 18.220 tấn (tăng 2,0%);…. Sản lượng nuôi cơ bản ổn định nhờ thời tiết tương đối thuận lợi, dịch bệnh được kiểm soát, năng suất nuôi duy trì ở mức khá.- Sản lượng thủy sản khai thác biển trong tháng ước đạt 10.522 tấn, tăng 3,7% so cùng kỳ. Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, thu hoạch ước đạt 50.915 tấn, tăng 1,8% so cùng kỳ, trong đó: cá đạt 34.289 tấn (tăng 1,0%); tôm đạt 3.629 tấn (tăng 1,7%);…. Sản lượng khai thác biển cơ bản ổn định, nguồn lợi thuỷ sản phong phú, đa dạng.II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆPƯớc tính chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 5/2026 tăng 4,19% so với tháng trước và tăng 13,43% so với cùng kỳ. Trong đó, ngành khai khoáng tăng tăng 25,24% so với cùng kỳ; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,69% so với cùng kỳ; ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước, điều hoà không khí tăng 15,08% so với cùng kỳ; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý, xử lý rác thải, nước thải giảm 1,54% so với cùng kỳ. Cộng dồn 5 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 11,49% so với cùng kỳ năm trước. Sự tăng trưởng này được dẫn dắt chủ lực bởi ngành công nghiệp chế biến, chế tạo với tốc độ tăng đạt 12,29%, tiếp theo là ngành khai khoáng tăng 12,75%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 3,43%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,15%.Chỉ số sản xuất sản phẩm 5 tháng đầu năm 2026 so cùng kỳ như sau:Có 70/111 sản phẩm có chỉ số sản xuất tăng so cùng kỳ: cát đen tăng 12,7%; phi lê đông lạnh tăng 23,6%; bột mịn, bột thô và bột viên từ cá tăng 41,7%; quả và hạt ướp lạnh tăng 58,1%; gạo đã xát toàn bộ hoặc sơ bộ tăng 8,5%; thức ăn cho gia súc tăng 17,0%; thức ăn cho gia cầm tăng 44,1%; thức ăn cho thủy sản tăng 13,1%; bia đóng lon tăng 22,8%; bộ com lê, quần áo cho người lớn dệt kim hoặc đan móc tăng 1,4%; áo phông, áo may ô và các loại áo lót khác cho người lớn dệt kim hoặc đan móc tăng 87,3%; giày, dép không thấm nước có đế ngoài và mũ bằng cao su hay plastic tăng 33,8%; thuốc và dược phẩm các loại tăng mạnh; bao và túi từ plastic khác tăng 53,1%; ống và ống dẫn bằng đồng tăng 11,8%; điện mặt trời tăng 29,4%;…Có 39/111 sản phẩm có chỉ số sản xuất giảm so cùng kỳ: bia đóng chai giảm 18,5%; thuốc lá có đầu lọc giảm 28,9%; bộ com-lê, quần áo cho người lớn không dệt kim hoặc đan móc giảm 36,3%; túi xách giảm 17,7%; giày, dép các loại giảm từ 0,4% đến 25,7%; thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm giảm 17,8%; nước uống được giảm 0,5%;…Hình 3. Chỉ số sản xuất công nghiệp 5 tháng đầu năm 2026* Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Trong tháng 5/2026, tình hình tiêu thụ và tồn kho của ngành công nghiệp chế biến chế tạo đều tăng so với cùng kỳ: chỉ số tiêu thụ (CSTT) tăng 2,01% so với tháng trước và tăng 8,37% so cùng kỳ; chỉ số tồn kho (CSTK) tăng 19,89% so với tháng trước và tăng 92,97% so với cùng kỳ; cụ thể như sau:- Các ngành có CSTT tăng, CSTK tăng cao hơn CSTT phản ánh xu hướng nhu cầu tiêu dùng tăng trong thời gian tới, doanh nghiệp gia tăng sản xuất đáp ứng các đơn hàng, tăng hàng tồn kho: sản xuất chế biến thực phẩm (CSTT tăng 13,11%, CSTK tăng 55,47%) nhờ sự phục hồi của các đơn hàng thủy sản và nông sản xuất khẩu; sản xuất đồ uống (CSTT tăng 18,51%, CSTK tăng 95,97%) do tác động tích cực từ yếu tố thời tiết nắng nóng làm sức mua tăng mạnh; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu (CSTT tăng 6,72%, CSTK tăng 55,74%); sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic (CSTT tăng 30,50%, CSTK tăng 30,77%) do Công ty TNHH Lốp Advance Việt Nam đi vào vận hành ổn định. Riêng ngành sản xuất thiết bị điện tăng đột biến (CSTT tăng 298,01%, CSTK tăng 59,42%) chủ yếu do năng lực sản xuất và tiêu thụ tăng cao tại Công ty TNHH Nissei Electric Mỹ Tho.- Các ngành có tình hình sản xuất tốt, tiêu thụ tăng, tồn kho giảm: ngành dệt có sự chuyển biến thuận lợi từ nữa cuối năm trước đến nay (CSTT tăng 2,86% trong khi CSTK giảm mạnh 34,97%); sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất (CSTT tăng 2,59% trong khi CSTK giảm 15,45%).- Các ngành có lượng tiêu thụ giảm, tồn kho tăng so với tháng trước: sản xuất trang phục (CSTT giảm 12,20%, trong khi CSTK tăng 94,44%) và sản xuất da và các sản phẩm có liên quan (CSTT giảm 10,02%, CSTK tăng 11,50%) vì chịu tác động tiêu cực kép từ chi phí đầu vào tăng cùng với rào cản thương mại từ thị trường quốc tế. Ngành sản xuất sản phẩm thuốc lá (CSTT giảm 49,69%, CSTK tăng đến 184,06%) do xu hướng sụt giảm tiêu dùng dài hạn của thị trường; in, sao chép bản ghi các loại (CSTT giảm 13,61%; CSTK tăng 54,31%); sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (CSTT giảm 22,49%; CSTK tăng 39,76%).- Các ngành có CSTT và CSTK đều giảm do tiêu thụ giảm, doanh nghiệp thu hẹp sản xuất: sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy (CSTT giảm 42,73%, CSTK giảm 58,88%); công nghiệp chế biến, chế tạo khác (CSTT giảm 19,82%, CSTK giảm 8,73%).Tính chung 5 tháng đầu năm, chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 9,28% so với cùng kỳ. Trong đó, một số ngành cấp II đóng góp làm tăng chỉ số chung gồm: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 14,98%; dệt tăng 5,01%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 16,05%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 7,94%; sản phẩm từ cao su và plastic tăng 33,89%; sản xuất thiết bị điện tăng 95,90;...* Tình hình thu hút đầu tư và phát triển các khu công nghiệp, khu kinh tế cửa khẩu (KCN, KKTCK):Trong tháng 5/2026, các KCN có 02 dự án đầu tư tư nhân (DDI) mới với vốn đầu tư 108,6 tỷ đồng, có 06 dự án thực hiện điều chỉnh, trong đó điều chỉnh tăng vốn cho 04 lượt dự án với tổng vốn đầu tư tăng thêm là 1,3 nghìn tỷ đồng.Lũy kế đến tháng 5/2026: Các KCN thu hút được 183 dự án (trong đó, có 102 dự án FDI, 81 dự án DDI) với tổng vốn đầu tư là 92,7 nghìn tỷ đồng (trong đó, vốn đầu tư FDI là 3,5 tỷ USD và vốn đầu tư DDI là 13,3 nghìn tỷ đồng); diện tích đất đã cho thuê là 743,6 ha, tỷ lệ lấp đầy 93,0%. Các KKTCK thu hút được 08 dự án DDI, với tổng số vốn đầu tư 198,9 tỷ đồng, diện tích đất 14,2 ha/32,76 ha, tỷ lệ lấp đầy đạt 43,4%.III. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP (Theo báo cáo của Sở Tài Chính)Thành lập mới: trong tháng có 287 doanh nghiệp thành lập mới, giảm 21,4% so với tháng trước; với tổng vốn đăng ký là 1.089 tỷ đồng, giảm 46,2% so với tháng trước. Tính từ đầu năm 2026 đến nay, có 1.468 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 109,4% so với cùng kỳ, đạt 48,9% so với kế hoạch, với tổng vốn đăng ký là 5.678 tỷ đồng, tăng 12,1% so với cùng kỳ.Giải thể, tạm ngừng hoạt động, tái hoạt động: Trong tháng, có 44 doanh nghiệp đã giải thể, giảm 10,2% so với tháng trước; 46 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, giảm 16,4% so với tháng trước; 21 doanh nghiệp hoạt động trở lại, giảm 4,5% so với tháng trước. Tính từ đầu năm đến nay, có 210 doanh nghiệp giải thể, tăng 78,0% so với cùng kỳ; 540 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, tăng 9,8% so với cùng kỳ; 228 doanh nghiệp hoạt động trở lại, bằng 90,1% so với cùng kỳ.IV. ĐẦU TƯ - XÂY DỰNG Tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 5/2026 ước đạt 806 tỷ đồng, tăng 8,4% so với tháng trước và giảm 30,6% so cùng kỳ. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 742 tỷ đồng, tăng 9,0% so tháng trước và giảm 35,5% so cùng kỳ.Tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý 5 tháng đầu năm 2026 ước đạt 3.172 tỷ đồng, bằng 27,9% kế hoạch năm, giảm 30,9% so với cùng kỳ. Trong đó: nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 2.904 tỷ đồng, bằng 28,9% kế hoạch và giảm 36,3% so với cùng kỳ.V. THƯƠNG MẠI - GIÁ CẢ - DỊCH VỤ1. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng:Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trong tháng thực hiện 16.061 tỷ đồng, tăng 2,8% so tháng trước và tăng 14,7% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 11.923 tỷ đồng, tăng 14,3%; lưu trú 62 tỷ đồng, tăng 33%; ăn uống 2.001 tỷ đồng, tăng 14,4%; du lịch lữ hành 28 tỷ đồng, tăng 2,8%; dịch vụ tiêu dùng khác 2.047 tỷ đồng, tăng 17% so cùng kỳ. Năm tháng năm 2026, tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thực hiện 78.780 tỷ đồng, đạt 27,1% kế hoạch, tăng 13,8% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 58.890 tỷ đồng, tăng 14,1%; lưu trú 292 tỷ đồng, tăng 22,4%; ăn uống 9.834 tỷ đồng, tăng 15,1%; du lịch lữ hành 166 tỷ đồng, tăng 29,9%; dịch vụ tiêu dùng khác 9.598 tỷ đồng, tăng 10,5% so cùng kỳ.Hình 4. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng2. Xuất - Nhập khẩu (Theo báo cáo Sở Công Thương)a. Xuất khẩu: Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng ước thực hiện 855 triệu USD, tăng 0,4% so tháng trước và tăng 3,9% so cùng kỳ. Năm tháng xuất khẩu 4.020 triệu USD, đạt 40,2% kế hoạch, tăng 10% so cùng kỳ. Tình hình xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của tỉnh như sau:- Gạo: sản lượng ước tính 274 ngàn tấn, giảm 8,7% so tháng trước và tăng 31,7% so cùng kỳ; giá trị đạt 125 triệu USD, bằng 86,2% so tháng trước và tăng 14,3% so cùng kỳ. Năm tháng xuất 1.222 ngàn tấn, đạt 52% kế hoạch và tăng 10,9%; giá trị xuất đạt 565 triệu USD, đạt 47,9% kế hoạch và tăng 0,8% so cùng kỳ.- Thuỷ sản chế biến: sản lượng xuất đạt 48 ngàn tấn, tăng 14,3% tháng trước và tăng 1,3% so cùng kỳ; giá trị xuất đạt 115 triệu USD, tăng 15% so tháng trước và tăng 0,9% so cùng kỳ. Năm tháng ước tính sản lượng xuất 201 ngàn tấn, đạt 38,7% kế hoạch và tăng 2,3%; giá trị xuất đạt 493 triệu USD, đạt 41,1% kế hoạch và tăng 3,6% so cùng kỳ. - Hàng rau quả: ước đạt 6,8 ngàn tấn, tăng 8,3% so tháng trước và tăng 14,3% so cùng kỳ; kim ngạch xuất đạt 13 triệu USD, tăng 8,3% so tháng trước và tăng 1,8% so cùng kỳ. Năm tháng xuất 28 ngàn tấn, đạt 23,5% kế hoạch và tăng 26,3%; về trị giá đạt 59 triệu USD, đạt 18,6 kế hoạch tăng 42,5% so cùng kỳ.- Sản phẩm công nghiệp: nhóm hàng công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong xuất khẩu của tỉnh ước tính đến cuối tháng 05/2026: kim loại thường khác và sản phẩm (kể cả đồng) đạt 844 triệu USD, tăng 20,7%; sản phẩm từ chất dẻo 449 triệu USD, tăng 12,4%; giày dép 428 triệu USD, tăng 0,1% so cùng kỳ,…b. Nhập khẩu:Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 05/2026 ước đạt 480 triệu USD, tăng 1,6% so tháng trước và tăng 34,1% so cùng kỳ. Năm tháng, kim ngạch nhập khẩu 2.386 triệu USD, đạt 47,7% kế hoạch, tăng 10,8% so cùng kỳ.Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của tỉnh trong tháng 05/2026 như: kim loại thường khác (nguyên liệu đồng) ước đạt 802 triệu USD, tăng 17,7%; nguyên phụ liệu dệt may, da giày, túi xách ước đạt 263 triệu USD, tăng 4,4%; chất dẻo nguyên liêu 129 triệu USD, tăng 27,4%; mặt hàng khác ước đạt 724 triệu USD, giảm 5,5%; sắt thép các loại ước đạt 201 triệu USD, giảm 2,7% so cùng kỳ…3. Chỉ số giá: Thời tiết trong tháng nắng nóng kéo dài nhu cầu sử dụng điện và nước sinh hoạt của người dân tăng nên giá điện sinh hoạt và nước sinh hoạt tăng. Giá xăng dầu, giá gas điều chỉnh theo giá nhiên liệu thế giới; giá nguyên vật liệu đầu vào tăng là nguyên nhân dẫn đến tăng giá các mặt hàng ăn uống ngoài gia đình và nhiều mặt hàng thiết yếu khác đó cũng là những nguyên nhân chính làm cho chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 5/2026 tăng 0,68% (thành thị tăng 0,53%, nông thôn tăng 0,72%) so tháng 4/2026; tăng 5,57% so cùng kỳ.So với tháng 4/2026, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 10 nhóm tăng: nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,41%; Giao thông tăng 1,1%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,78%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,56%; văn hóa, giải trí và du lịch 0,44%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,30%; thông tin và truyền thông tăng 0,28%; may mặc, mũ nón và giầy dép tăng 0,15%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,06%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,12%. Nhóm Giáo dục có chỉ số ổn định.Nguyên nhân do tác động của một số mặt hàng có chỉ số giá tăng so với tháng trước:- Nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,41%; tác động làm tăng CPI chung 0,26 điểm phần trăm, tác động chủ yếu của một số mặt hàng như: Chỉ số giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,89% do điều chỉnh giá xăng dầu tăng nên chi phí vận chuyển tăng theo làm giá các loại VLXD như xi măng, sắt, thép, cát... có giá tăng so với tháng trước; chỉ số giá dịch vụ sửa chữa nhà tăng 0,02% do nhu cầu xây dựng nhà ở đầu năm tăng; chỉ số giá điện tăng 4,84%; nước sinh hoạt tăng 0,03% so với tháng trước do thời tiết nắng nóng oi bức kéo dài nên nhu cầu sử dụng điện, nước sinh hoạt tăng; giá gas petrolimex bình 12kg tăng 4,95% so tháng trước do điều chỉnh theo giá nhiên liệu thế giới.- Nhóm giao thông tăng 1,10%; tác động làm tăng CPI chung 0,11 điểm phần trăm, giá xăng dầu trong nước điều chỉnh theo giá xăng dầu thế giới. Từ 26/4 đến 25/5/2026 có 4 lần điều chỉnh giá xăng dầu cụ thể như: có 2 lần điều chỉnh tăng vào các ngày 29/4 và 21/5; 2 lần điều chỉnh giảm 7/5 và 14/5; trong đó giá xăng tăng 2,06%, giá dầu diezen giảm 16,44%.- Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,78%, tác động làm tăng CPI chung 0,03 điểm phần trăm, chủ yếu ở các nhóm hàng: rượu các loại tăng 0,32%, bia các loại tăng 1,22%, thuốc hút tăng 0,72% so với tháng trước.- Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,56%;+ Chỉ số giá nhóm hàng lương thực tăng 0,43%, góp phần làm CPI chung tăng 0,02 điểm phần trăm. Cụ thể như: giá gạo bán lẻ tăng 0,46%, do chi phí sản xuất tăng, nguồn cung chưa dồi dào nên giá lúa có tăng nhẹ; giá ngô tăng 0,41%; khoai lang tăng 0,06%; sắn tăng 0,43% so với tháng trước.+ Chỉ số giá nhóm hàng thực phẩm tăng 0,69%, góp phần làm CPI chung tăng 0,15 điểm phần trăm.Giá thịt lợn tăng 0,46% do nguồn cung giảm cộng thêm chí phí chăn nuôi tăng; thịt chế biến tăng 0,19%, trong đó thịt quay, giò, chả tăng 0,19%, thịt hợp tăng 0,36%,... Giá rau tươi, khô và chế biến tăng 2,86%, do nguồn cung rau, củ, quả giảm (ảnh hưởng của thời tiết nắng nóng kéo dài), chi phí đầu vào như: hạt giống, phân bón, điện... tăng làm chi phí sản xuất tăng cao. Cụ thể như sau: Bắp cải tăng 0,09%, su hào tăng 1,99%, cà chua tăng 17,74%, giá khoai tây tăng 0,20%, rau muống tăng 2,76%, đỗ quả tươi tăng 7,56%; rau dạng quả, củ tăng 1,22%; rau tươi khác tăng 0,92%...Giá thịt gia cầm tăng 0,32%, trong đó thịt gà tăng 0,24%; thịt gia cầm khác tăng 0,42%, thịt gia cầm đông lạnh tăng 0,52%,... do nhu cầu tiêu thụ của người dân tăng.Giá thủy sản tươi sống tăng 0,44%, trong đó nhóm cá tươi hoặc ướp lạnh tăng 0,52%, tôm tươi hoặc ướp lạnh tăng 0,35%, nhóm thủy hải sản chế chiến khác tăng 0,13%.Chỉ số giá quả tươi và chế biến giảm 0,10% do đang vào vụ thu hoạch của nhiều loại trái cây như xoài, nhãn, táo,.... nên giá bán lẻ tại chợ giảm như sau: xoài giảm 5,22%,...+ Nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 0,35%, do giá gas và giá xăng dầu điều chỉnh theo giá nhiêu liệu thế giới, giá nguyên liệu đầu vào tăng nên nhóm hàng ăn uống ngoài gia đình tăng theo, ăn ngoài gia đình tăng 0,30%, uống ngoài gia đình tăng 0,35%, đồng ăn nhanh mang đi tăng 0,55%.Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 05 tháng năm 2026 tăng 4,09% so với cùng kỳ, Một số chỉ số tăng như: nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,82%, làm CPI chung tăng 1,25 điểm phần trăm do giá nhà ở thuê và giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở đều tăng (chỉ số giá giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 11,90%, chỉ số giá điện sinh hoạt tăng 8,33%); giao thông tăng 5,02%, tác động làm CPI chung tăng 0,50 điểm phần trăm, trong đó giá xăng dầu tăng 8,59%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 4,80%, làm CPI chung tăng 0,28 điểm phần trăm do giá dịch vụ y tế tăng theo Nghị quyết 126/NQ-HĐND ngày 23/12/2025 về quy định giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh trên địa bàn tỉnh; hàng ăn uống và dịch vụ ăn uống tăng 3,71%, tác động làm CPI chung tăng 1,34 điểm phần trăm, trong đó nhóm thực phẩm tăng 4,26%, nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 4,15%, nhóm lương thực tăng 0,79%; giáo dục 3,53%, làm CPI chung tăng 0,15 điểm phần trăm do một số trường đại học, trung học dân lập, mầm non tư thục điều chỉnh học phí;.... chỉ riêng nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,07% tác động không đáng kể đến chỉ số tiêu dùng bình quân chung.Chỉ số giá vàng tháng 5/2026 giảm 3,79% so với tháng 4/2026, tăng 6% so với tháng 12/2025, tăng 60,35% so với bình quân cùng kỳ, tương ứng giảm 602 ngàn đồng/chỉ đối với vàng nhẫn trơn 9999.Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng 5/2026 giảm 0,83% so tháng trước, tương đương giảm 22.195 đồng/100USD và giảm 1,22% so với tháng 12/2025, Bình quân năm tháng tăng 1,65% so cùng kỳ.4. Vận tải:Tình hình vận tải trên địa bàn tỉnh ổn định, đường bộ và đường thủy đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa và đi lại của người dân. Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trong tháng thực hiện 710 tỷ đồng, tăng 1,6% so tháng trước và tăng 11,3% so cùng kỳ. Năm tháng thực hiện 3.622 tỷ đồng, tăng 15,1% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 1.259 tỷ đồng, tăng 23,1%; doanh thu vận tải hàng hóa thực hiện 1.738 tỷ đồng, tăng 11,4%. Doanh thu vận tải đường bộ thực hiện 1.799 tỷ đồng, tăng 20,9%; doanh thu vận tải đường thủy thực hiện 1.198 tỷ đồng, tăng 9,4%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 357 tỷ đồng, tăng 9,4% so cùng kỳ.Vận tải hành khách trong tháng đạt 6.561 ngàn hành khách, tăng 3,1% so tháng trước và tăng 6,6% so cùng kỳ; luân chuyển 216.561 ngàn hành khách.km, tăng 6,4% so tháng trước và giảm 3,7% so cùng kỳ. Năm tháng, vận chuyển 33.502 ngàn hành khách, tăng 10,5%; luân chuyển 1.337.001 ngàn hành khách.km, tăng 20,7% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 13.059 ngàn hành khách, tăng 22,7% và luân chuyển 1.327.164 ngàn hành khách.km, tăng 20,9%; vận tải đường thủy 20.443 ngàn hành khách, tăng 3,9% và luân chuyển 9.837 ngàn hành khách.km, tăng 2,7%.Vận tải hàng hóa trong tháng đạt 2.504 ngàn tấn, tăng 1,7% so tháng trước và tăng 11% so cùng kỳ; luân chuyển 490.891 ngàn tấn.km, tăng 0,9% so tháng trước và tăng 17,6% so cùng kỳ. Năm tháng, vận tải 13.067 ngàn tấn hàng hóa, tăng 16,9%; luân chuyển 2.403.462 ngàn tấn.km, tăng 16,8% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 2.443 ngàn tấn, giảm 1,5% và luân chuyển 414.476 ngàn tấn.km, tăng 9,1% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 10.624 ngàn tấn, tăng 22,2% và luân chuyển 1.988.986 ngàn tấn.km, tăng 18,5% so cùng kỳ.Trong tháng đăng ký mới 10.738 chiếc mô tô xe máy và 1.039 chiếc xe ô tô. Tổng số xe đang quản lý trên địa bàn tỉnh là 3.530.489 chiếc, trong đó mô tô xe máy: 3.524.273 chiếc; 113.748 xe ô tô, 169 xe ba bánh, 666 xe đạp điện và 3.372 xe khác.5. Bưu chính viễn thông:Ngành bưu chính viễn thông đang phát triển mạnh mẽ theo hướng hiện đại hóa, số hóa và tích hợp sâu rộng. Hạ tầng thông tin được nâng cấp, cung cấp các dịch vụ bưu chính số và viễn thông tốc độ cao, đóng vai trò nền tảng cho kinh tế số và xã hội số. Đến cuối tháng 05 năm 2026 tổng số thuê bao điện thoại có trên mạng là 3.629 ngàn thuê bao, thuê bao điện thoại bình quân đạt 106,6 thuê bao/100 dân (bao gồm: hữu tuyến, vô tuyến, trả trước, trả sau). Số thuê bao điện thoại di động có sử dụng Internet (3G, 4G) đến cuối tháng 5 là: 2.905 ngàn thuê bao. Thuê bao internet có trên mạng là 3.723 ngàn thuê bao, mật độ Internet bình quân ước đạt 109,37 thuê bao/100 dân.VI. TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG1. Tài chính:Tổng thu ngân sách nhà nước trong tháng thực hiện 2.941 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn 2.060 tỷ đồng, thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 281 tỷ đồng. Năm tháng, thu 30.468 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn thực hiện 12.254 tỷ đồng, đạt 51,5% dự toán và tăng 7,8% so cùng kỳ; thu nội địa 11.816 tỷ đồng, đạt 50,9% dự toán, tăng 7,5% so cùng kỳ (trong thu ngân sách trên địa bàn: thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 1960 tỷ đồng, đạt 50,9% dự toán, tăng 7,5% so cùng kỳ; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 3.223 tỷ đồng, đạt 67,1% dự toán, tăng 34,5% so cùng kỳ, thu từ hoạt động xổ số kiến thiết 2.868 tỷ đồng, đạt 61,9% dự toán, tăng 19,6% so cùng kỳ...).Tổng chi ngân sách nhà nước trong tháng 2.855 tỷ đồng; trong đó: chi đầu tư phát triển 728 tỷ đồng. Năm tháng, chi 15.304 đồng, đạt 38,1% dự toán, bằng 87.6% so cùng kỳ; trong đó: chi đầu tư phát triển 1.637 tỷ đồng, đạt 18,8% dự toán, bằng 30,9% so cùng kỳ; chi hành chính sự nghiệp 8.651 tỷ đồng, đạt 38,4% dự toán và bằng 91,4% so cùng kỳ.2. Ngân hàng: Mặt bằng lãi suất trên địa bàn tỉnh ổn định tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn vay với chi phí hợp lý.Lãi suất huy động: đến cuối tháng 4/2026, đối với tiền gửi bằng VND có kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng dao động từ 1,85%-8,9%/năm đối với khách hàng cá nhân; từ 2,5%-8,6%/năm đối với khách hàng pháp nhân; tiền gửi trên 12 tháng: dao động từ 2,9%-8,9%/năm đối với khách hàng cá nhân, từ 2,5%-8,2%/năm đối với khách hàng pháp nhân.Lãi suất cho vay: Các tổ chức tín dụng trên địa bàn chấp hành nghiêm mức trần lãi suất cho vay ngắn hạn đối với các lĩnh vực ưu tiên theo quy định của ngân hàng nhà nước. Đến cuối tháng 4/2026 lãi suất cho vay bình quân bằng VND trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp là 8,79%/năm, tăng 1,03%/năm so với cuối năm 2025.Đến cuối tháng 4/2026, vốn huy động ước đạt 215 ngàn tỷ, tăng 7 ngàn tỷ và tăng 3,36% so với cuối năm 2025, tổng dư nợ cho vay của các TCTD trong tỉnh ước đạt 249 ngàn tỷ, tăng 5 ngàn tỷ đồng và tăng 2,24% so với cuối năm 2025. Dự tính đến cuối tháng 5/2026 vốn huy động đạt 217 ngàn tỷ tăng 4,40%; dư nợ cho vay đạt 251 ngàn tỷ tăng 3,26% so với cuối năm 2025.Nợ xấu: đến cuối tháng 04/2026 tỷ lệ nợ xấu/Tổng dư nợ (không bao gồm nợ xấu của các ngân hàng thương mại bị kiểm soát đặc biệt) chiếm 2,5%, giảm 0,01% so cuối năm 2025. Ước thực hiện tháng 05/2026 tỷ lệ nợ xấu/Tổng dư nợ nhỏ hơn 3%.Quỹ tín dụng nhân dân: Đến cuối tháng 4/2026 tổng nguồn vốn huy động 2.778 tỷ đồng, giảm 80 tỷ đồng và giảm 2,80% so với cuối năm 2025. Dư nợ 2.300 tỷ đồng, giảm 39 tỷ đồng, tương đương giảm 1,67% so với cuối năm 2025. Tỷ lệ nợ xấu là 1%.VII. KHOA HỌC CÔNG NGHỆTrong tháng Hội đồng khoa học và công nghệ thực hiện nhiệm vụ tuyển chọn, xét duyệt, thẩm định, đánh giá, nghiệm thu các nhiệm vụ khoa học và công nghệ theo quy định. Tiếp tục quy trình xây dựng Quyết định phân cấp thẩm quyền quản lý nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo sử dụng ngân sách nhà nước, tạo thuận lợi trong công tác quản lý. Họp Hội đồng tư vấn tuyển chọn thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh: 05 nhiệm vụ; lũy kế 17 nhiệm vụ. Thẩm định dự toán kinh phí thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ: 04 nhiệm vụ cấp tỉnh. Hội đồng khoa học và công nghệ chuyên ngành đánh giá, nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ: 01 nhiệm vụ cấp tỉnh, lũy kế: 07 nhiệm vụ cấp tỉnh và 03 nhiệm vụ cấp cơ sở. Góp ý về công nghệ dự án đầu tư: 06 dự án, luỹ kế 31 dự án; Tư vấn 02 hồ sơ thành lập doanh nghiệp khoa học và công nghệ.VIII. CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Lao động việc làm:Trong tháng, đã giải quyết việc làm cho 6.177 lao động; tổng số lao động được giải quyết việc làm từ đầu năm đến nay là 23.517 lao động đạt 47% so với kế hoạch. Tổ chức 12 phiên giao dịch việc làm, ngày hội việc làm và buổi tư vấn cho người lao động thất nghiệp, người đang hưởng bảo hiểm thất nghiệp để kết nối doanh nghiệp đang có nhu cầu tuyển dụng; tổng số phiên từ đầu năm đến nay là 50 phiên, có 99 đơn vị, doanh nghiệp tham gia trực tiếp và trực tuyến, thu hút hơn 22.209 lao động tham dự.Lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài trong tháng là 206 lao động. Tổng số lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài từ đầu năm đến nay là 1.518 lao động, đạt 63,3% kế hoạch, trong đó Hàn Quốc: 779 lao động, Nhật Bản: 559 lao động, Đài Loan: 124 lao động,....Về trợ cấp thất nghiệp, từ đầu năm đến nay có 9.862 lao động được giải quyết chế độ trợ cấp thất nghiệp, với tổng kinh phí chi trả khoảng 227,4 tỷ đồng, góp phần hỗ trợ kịp thời đời sống, giúp người lao động ổn định trong giai đoạn tìm kiếm việc làm mới.2. Chính sách xã hội: Trong tháng, các chế độ ưu đãi đối với người có công được thực hiện đầy đủ, kịp thời. Cụ thể: trợ cấp 1 lần cho người thờ cúng liệt sĩ và chuyển đổi người thờ cúng liệt sĩ, số lượng 28 trường hợp; giải quyết trợ cấp tuất 02 trường hợp; trợ cấp mai táng phí và trợ cấp 01 lần 03 tháng trợ cấp: 72 trường hợp;... Ngoài ra, tổ chức đưa 40 Cựu chiến binh đi tham quan nhà tù Phú Quốc và tổ chức đưa 30 Cựu chiến binh đi tham quan nhà tù Côn Đảo.3. Hoạt động giáo dục:Trong tháng, ngành Giáo dục tiếp tục triển khai đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ giáo dục, bám sát kế hoạch năm học với nhiều hoạt động chuyên môn nổi bật, đặc biệt là công tác chuẩn bị và tổ chức kỳ thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh lớp 10 năm học 2026 – 2027. Kỳ thi tuyển sinh lớp 10 năm học 2026 – 2027 có trên 44,3 nghìn thí sinh đăng ký dự thi, được tổ chức tại 76 Hội đồng coi thi với 1.890 phòng thi, trong đó có 11 điểm thi phụ. Kỳ thi diễn ra trong 2 ngày 27 và 28/5/2026. Đối với các môn không chuyên, thí sinh dự thi 3 môn gồm Ngữ văn, Tiếng Anh và Toán; trong đó môn Tiếng Anh và Toán thi theo hình thức trắc nghiệm khách quan. Công tác chuẩn bị cho kỳ thi được triển khai nghiêm túc, chặt chẽ từ khâu cơ sở vật chất, nhân sự coi thi đến đảm bảo an ninh, an toàn, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho thí sinh tham gia dự thi.4. Hoạt động y tế:Trong tháng có 17/44 bệnh truyền nhiễm được ghi nhận. Cộng dồn số ca mắc so với cùng kỳ, có 15 bệnh tăng (Bệnh do liên cầu lợn ở người, Rubella, Sốt xuất huyết Dengue, Tay - chân - miệng, Viêm màng não do não mô cầu, Dại, Liệt mềm cấp nghi bại liệt, Lao phổi, Thương hàn, Uốn ván khác, Viêm gan vi rút A, Viêm gan vi rút B, Xoắn khuẩn vàng da, Quai bị, Thủy đậu); 7 bệnh giảm (Sởi, Viêm gan vi rút C, Viêm não vi rút khác, Cúm, Lỵ trực trùng, Tiêu chảy, Viêm gan vi rút khác); 22 bệnh tương đương hoặc không xảy ra ca mắc.Các bệnh truyền nhiễm trong tháng ghi nhận: bệnh sốt xuất huyết 925 ca mắc, không có ca tử vong; bệnh tay - chân - miệng 720 ca, không có ca tử vong. Cộng dồn số ca mắc bệnh sốt xuất huyết: 2.996 ca, tăng 1,96 lần so cùng kỳ, 01 ca tử vong (cùng kỳ không có ca tử vong); bệnh tay – chân – miệng: 1.949 ca, tăng 1,24 lần so cùng kỳ.Phòng chống HIV/AIDS trên địa bàn tỉnh tính đến nay là 16.117 người nhiễm HIV; 5.051 người chuyển sang AIDS; 3.928 người tử vong do AIDS.Khám chữa bệnh trong tháng cho 628 nghìn lượt người, giảm 9,9% so cùng kỳ; trong đó, số người điều trị nội trú là 43,4 nghìn lượt người, tăng 3,1%. Cộng dồn từ đầu năm đến tháng báo cáo, đã khám chữa bệnh trên 2,5 triệu lượt người, giảm 10,9%; trong đó, số người điều trị nội trú là 159 nghìn lượt người, giảm 2,3%. Công suất sử dụng giường bệnh bình quân trong tháng đạt 83,9%.5. Hoạt động văn hóa - thể thao:Hoạt động văn hóa nghệ thuật: trong tháng, tổ chức biểu diễn 04 chương trình nghệ thuật phục vụ khoảng 1.600 lượt người xem. Tiêu biểu như chương trình nghệ thuật chào mừng Kỷ niệm 50 năm thành lập Trại giam Phước Hòa năm 2026; chương trình nghệ thuật phục vụ Lễ Giỗ Quốc Tổ Hùng Vương tại Bảo tàng tỉnh; chương trình nghệ thuật phục vụ Kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026) tại Quảng trường Hùng Vương.Hoạt động thư viện: trong tháng, hệ thống thư viện đã phục vụ 73.659 lượt người với 229.395 lượt tài liệu; trong đó phục vụ tại chỗ đạt 53.752 lượt người với 169.674 lượt tài liệu, phục vụ lưu động đạt 19.907 lượt người với 59.721 lượt tài liệu; số lượt truy cập phục vụ qua không gian mạng đạt 493.647 lượt.Hoạt động bảo tàng: trong tháng, tổ chức trưng bày các chuyên đề “Mỹ Tho - Cao Lãnh xưa và nay”, “Sưu tập Đèn dầu (cuối thế kỷ XIX - thế kỷ XX)” phục vụ Kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh; đồng thời tổ chức triển lãm ảnh “Đồng Tháp - Vẻ đẹp di sản” phục vụ Lễ hội vía Bà Chúa Xứ Gò Tháp. Các hoạt động tham quan, trưng bày đã phục vụ 2.875 lượt khách, gồm 25 đoàn khách và 04 lượt khách quốc tế.Hoạt động thể dục, thể thao:Trong tháng, tỉnh phối hợp tổ chức Cuộc đua xe đạp toàn quốc tranh Cúp Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ 38 năm 2026 với các chặng đi qua địa bàn tỉnh; đồng thời phối hợp Hiệp hội Thể thao dưới nước Việt Nam xây dựng kế hoạch tổ chức Giải Bơi và Giải Lặn vô địch các nhóm tuổi quốc gia năm 2026, dự kiến diễn ra từ ngày 20 - 30/5/2026.Công tác đào tạo vận động viên thể thao thành tích cao tiếp tục được duy trì ở 26 môn thể thao. Trong tháng, các đội tuyển thể thao của tỉnh tham dự nhiều giải đấu khu vực, quốc gia và quốc tế, kết quả đạt 119 huy chương các loại, gồm 26 huy chương vàng, 44 huy chương bạc và 49 huy chương đồng.6. Tình hình trật tự an toàn xã hội (theo báo cáo ngành Công an):Trong tháng xảy ra 116 vụ phạm tội về trật tự xã hội, tăng 11,5% vụ so cùng kỳ; Hậu quả là 03 người chết, 45 người bị thương, tài sản thiệt hại khoảng 8,1 tỷ đồng; Cơ quan chức năng đã điều tra, khám phá 108 vụ (đạt tỷ lệ 93,1%), bắt giữ và xử lý 205 đối tượng.Về tội phạm ma túy trong tháng, lực lượng chức năng đã phát hiện và xử lý 76 vụ với 99 đối tượng; trong đó, tàng trữ trái phép chất ma túy 26 vụ với 30 đối tượng; vận chuyển trái phép chất ma túy 01 vụ với 01 đối tượng; mua bán trái phép chất ma túy 04 vụ với 07 đối tượng; tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy 09 vụ với 25 đối tượng; sử dụng trái phép chất ma túy 36 vụ với 36 đối tượng.7. Trật tự an toàn giao thông (theo báo cáo ngành công an tỉnh, số liệu tính từ ngày 15/4/2026 đến 14/5/2026):Tai nạn giao thông đường bộ: trong tháng, xảy ra 42 vụ, giảm 03 vụ so tháng trước và giảm 07 vụ so cùng kỳ. Hậu quả làm chết 35 người (giảm 07 người so tháng trước, giảm 02 người so cùng kỳ) và 12 người bị thương (tương đương so tháng trước, giảm 05 người so cùng kỳ). Cộng dồn từ đầu năm đến tháng báo cáo, toàn tỉnh đã xảy ra 232 vụ, giảm 44 vụ so với cùng kỳ; làm chết 188 người (tăng 06 người) và làm bị thương 85 người (giảm 66 người). Các nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông chủ yếu vẫn do ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông như: Không đi đúng phần đường, làn đường; chuyển hướng, tốc độ, vượt xe khác, thiếu quan sát…Tai nạn giao thông đường thủy: trong tháng xảy ra 01 vụ tai nạn giao thông. Cộng dồn từ đầu năm đến nay là 03 vụ làm chết 02 người, tương đương về số vụ và số người chết so với cùng kỳ.8. Tình hình cháy nổ, môi trường và thiên tai:- Cháy, nổ: trong tháng, xảy ra 03 vụ cháy, tăng 01 vụ so cùng kỳ; thiệt hại về tài sản khoảng 685 triệu đồng. Cộng dồn từ đầu năm đến nay xảy ra 22 vụ cháy, tăng 13 vụ so cùng kỳ; làm 02 người tử vong; thiệt hại tài sản 4,2 tỷ đồng.- Môi trường: trong tháng, 02 vụ vi phạm môi trường (gồm: 01 vụ xả nước thải ra môi trường, 01 vụ khai thác tài nguyên đất trái phép), đã xử lý 02 vụ, tổng số tiền xử phạt là 93,75 triệu đồng. Tính từ đầu năm, xảy ra 06 vụ vi phạm môi trường, giảm 15 vụ so cùng kỳ; đã xử lý 08 vụ với tổng số tiền xử phạt là 912,3 triệu đồng.- Thiên tai: trong tháng trên địa bàn tỉnh xảy ra 03 vụ giông lốc tại các xã Thanh Bình, Trường Xuân, Long Phú Thuận, Tân Long, Ba Sao và Long Định; không gây thiệt hại về người, không ảnh hưởng đến sản xuất, chăn nuôi, nhưng gây thiệt hại về tài sản với tổng giá trị thiệt hại ước tính 1,6 tỷ đồng, cụ thể: sập 06 căn nhà, tốc mái 91 căn; làm gãy, ngã 07 trụ điện cùng nhiều cây xanh trên các tuyến đường chính bị đổ ngã; làm ảnh hưởng khu nhà màng, mái chòi canh và khoảng 200 cây chuối cấy mô của Viện Cây ăn quả Miền Nam.

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Tháp tháng 4 năm 2026
  •   13/05/2026 09:01

Tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh trong tháng 4/2026 tiếp tục phát triển. Hoạt động sản xuất kinh doanh các ngành, các lĩnh vực đều tăng so cùng kỳ. Kết quả thực hiện trên các lĩnh vực như sau:I. SẢN XUẤT NÔNG LÂM NGHIỆP VÀ THỦY SẢN1. Nông nghiệp* Trồng trọt:Cây lương thực có hạt: diện tích gieo trồng cộng dồn từ đầu vụ sản xuất ước đạt 320.038 ha, giảm 20,3% so cùng kỳ; trong đó cây lúa gieo sạ 317.250 ha, giảm 20,5%.- Cây lúa:+ Vụ Đông xuân 2025 – 2026: diện tích gieo trồng ước tính 223.450 ha, đạt 98,4% kế hoạch và giảm 2,7% so cùng kỳ, tương ứng giảm 6.230 ha; do chậm tiến độ 4.023 ha, chuyển đổi sang cây lâu năm 1.594 ha, cây hàng năm khác 533 ha, nuôi trồng thủy sản 55 ha, đất phi nông nghiệp là 25 ha. Lúa Đông xuân 2025-2026 đã thu hoạch 197.389 ha, chiếm 88,3% diện tích gieo trồng của vụ; Năng suất thu hoạch bình quân ước đạt 72,5 tạ/ha với sản lượng thu hoạch ước đạt 1.431.070 tấn bằng 86,6% sản lượng so với cùng kỳ.+ Vụ Hè thu 2026: tính đến ngày 20/4, toàn tỉnh gieo sạ được 93.799 ha, đạt 41,4% so với kế hoạch, giảm 44,6% so với cùng kỳ. Lịch xuống giống được triển khai theo từng vùng, đảm bảo né rầy, thích ứng điều kiện thời tiết và nguồn nước như: đối với vùng sản xuất 3 vụ, xuống giống đợt 1 từ ngày 17 đến 24/2/2026, đợt 2 từ ngày 18 đến 25/3/2026 và đợt 3 từ ngày 10 đến 20/5/2026; đối với vùng sản xuất 2 vụ, xuống giống đợt 1 từ ngày 18 đến 25/3/2026 và đợt 2 từ ngày 17 đến 24/4/2026; khu vực ven biển xuống giống từ ngày 10 đến 25-5-2026 và chỉ thực hiện khi mùa mưa bắt đầu, đảm bảo nguồn nước ngọt. Hiện nay, lúa đang trong giai đoạn mạ, đẻ nhánh và làm đòng. Tỉnh đẩy mạnh sử dụng giống ngắn ngày chất lượng cao, thích ứng phèn - mặn, phù hợp từng vùng sinh thái, áp dụng quy trình giảm giống, giảm phân thuốc và cơ giới hóa 100%. Cơ cấu giống lúa vụ Đông Xuân 2025 - 2026 tập trung vào các giống chất lượng cao, chịu mặn/phèn tốt, thời gian sinh trưởng ngắn (85-95 ngày) như: Đài Thơm 8 (chiếm 26,4%); OM 18 (chiếm 35,8%); OM 5451 (chiếm 4,2%); OM 380 (chiếm 1,8%); OM 4900 (chiếm 1,9%); ST 24, ST 25 (chiếm 1,4%); IR50404 (chiếm 6,5%); các giống lúa nếp (chiếm 14,4%), giống lúa khác còn lại chiếm 7,6%. - Cây ngô: diện tích gieo trồng tính đến ngày 20/4/2026 ước đạt 2.789 ha, đạt 38,0% so với kế hoạch, tăng 4,5% so cùng kỳ. Ngô thuộc loại cây ngắn ngày, dễ trồng, dễ chăm sóc. Bên cạnh lấy trái bán cho thương lái; lá, thân ngô khi thu hoạch còn tận dụng làm thức ăn cho gia súc.Hình 1. Diện tích gieo trồng một số cây hàng năm tính đến 20/4/2026- Cây rau đậu các loại: diện tích gieo trồng tính đến 20/4/2026 ước đạt 35.805 ha, tăng 0,7% so cùng kỳ; trong đó: rau các loại 35.615 ha, tăng 0,7% so cùng kỳ.Chăn nuôi: ước tổng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh tại thời điểm 30/4/2026 như sau: đàn trâu 2,0 nghìn con, giảm 2,7%; đàn bò 145,8 nghìn con, giảm 2,7% so cùng kỳ; đàn lợn 403,8 nghìn con, tăng 1,1%; đàn gia cầm 23,4 triệu con, giảm 2,3%. Đàn trâu giảm chủ yếu do hiệu quả kinh tế thấp, thời gian nuôi kéo dài và diện tích chăn thả ngày càng thu hẹp. Đàn bò giảm do chi phí thức ăn ở mức cao. Ngược lại, đàn lợn tăng nhờ công tác phòng, chống dịch bệnh được kiểm soát tốt, tạo điều kiện thuận lợi cho tái đàn, các doanh nghiệp và trang trại quy mô lớn duy trì sản xuất ổn định và từng bước mở rộng quy mô. Đàn gia cầm giảm do chi phí đầu vào cao, thị trường tiêu thụ chưa ổn định, người chăn nuôi còn thận trọng trong tái đàn.                Hình 2. Chăn nuôi tại thời điểm 30/4/20262. Lâm nghiệp:Diện tích rừng trồng mới tập trung: trong tháng có 9,5 ha rừng được trồng mới tập trung, giảm 5,9% tương đương giảm 0,6 ha so với cùng kỳ. Cộng dồn đến tháng 4/2026 có 91,4 ha rừng được trồng mới tập trung, tăng 0,3% tương đương tăng 0,3 ha so với cùng kỳ.Cây phân tán: trong tháng, toàn tỉnh thực hiện trồng mới được 18 ngàn cây phân tán các loại, giảm 7,5% so cùng kỳ. Cộng dồn đến tháng 4/2026 số lượng cây phân tán ước đạt 108 nghìn cây, giảm 5,8%, tương đương giảm 6,7 nghìn cây so với cùng kỳ. Số cây trồng phân tán chủ yếu được trồng nhiều vào dịp đầu năm (tháng 01-03/2026), nhằm phát huy phong trào “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026. Ngược lại, vào tháng nắng nóng cao điểm như hiện nay số lượng cây lâm nghiệp trồng phân tán bị thu hẹp do tỷ lệ cây trồng sống thấp, sự phát triển cơ sở hạ tầng ở địa phương làm số lượng trồng cây phân tán ngày càng giảm dần.Sản lượng gỗ khai thác: trong tháng sản lượng gỗ khai thác ước đạt 15.256 m3; giảm 8,9% so với cùng kỳ. Cộng dồn đến tháng báo cáo ước tính có 47.556 m3 gỗ được khai thác, giảm 2,3% so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu do nhiều diện tích rừng chưa đến chu kỳ khai thác, nhu cầu khai thác trong dân giảm; đồng thời công tác quản lý, bảo vệ rừng được tăng cường, định hướng phát triển lâm nghiệp theo hướng bền vững, hạn chế khai thác quá mức.3. Thủy hải sản:Diện tích thả nuôi thâm canh trong tháng ước đạt 1.360 ha, giảm 3,2% so cùng kỳ. Tổng diện tích thả nuôi thâm canh 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 6.117 ha, giảm 1,0% so cùng kỳ, trong đó: cá tra đạt 1.527 ha (tăng 0,9%), tôm sú 2.720 ha (tăng 0,8%), tôm thẻ chân trắng 1.870 ha (giảm 5%). Thời tiết diễn biến chưa thuận lợi, nắng nóng kéo dài làm môi trường ao nuôi biến động, nhiệt độ nước tăng cao, phát sinh nguy cơ dịch bệnh, ảnh hưởng đến tỷ lệ sống và hiệu quả nuôi của tôm thẻ chân trắng. Do đó, người nuôi có xu hướng thận trọng trong thả nuôi.Sản lượng thủy sản nuôi và khai thác biển trong tháng ước đạt 82.213 tấn, nâng tổng số sản lượng thủy sản nuôi và khai thác biển từ đầu năm đến tháng báo cáo ước đạt 301.167, giảm 0,7% so cùng kỳ, bao gồm:- Sản lượng thủy sản nuôi trong tháng ước đạt 72.223 tấn, giảm 1,5% so cùng kỳ. Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, thu hoạch ước đạt 261.775 tấn, tương đương so cùng kỳ, trong đó: sản lượng cá đạt 247.223 tấn (giảm 0,1%); sản lượng tôm đạt 4.096 tấn (tăng 1,1%);…. Sản lượng nuôi cơ bản ổn định nhờ thời tiết tương đối thuận lợi, dịch bệnh được kiểm soát, năng suất nuôi duy trì ở mức khá.- Sản lượng thủy sản khai thác biển trong tháng ước đạt 9.990 tấn, giảm 2,1% so cùng kỳ. Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, thu hoạch ước đạt 39.392 tấn, giảm 4,6% so cùng kỳ, trong đó: cá đạt 26.239 tấn (giảm 4,9%); tôm đạt 2.967 tấn (tăng 3,8%);…. Giá nhiên liệu tăng cao đã làm chi phí khai thác thủy sản tăng đáng kể, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của ngư dân, đặc biệt đối với các tàu khai thác xa bờ. Trong bối cảnh giá đầu vào duy trì ở mức cao, nhiều chủ tàu có xu hướng hạn chế chuyến biển hoặc cầm chừng sản xuất, qua đó tác động đến sản lượng khai thác thủy sản.II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆPSản xuất công nghiệp của tỉnh trong tháng 4/2026 tiếp tục đối mặt với các thách thức, do tác động của xung đột địa chính trị ở Trung Đông làm cho giá năng lượng biến động (tăng chi phí sản xuất, gián đoạn nguồn cung, sụt giảm đơn hàng). Tuy nhiên, các doanh nghiệp vẫn duy trì hoạt động ổn định và kỳ vọng tích cực nhờ các chính sách tài khóa kịp thời của Nhà nước[2].Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 4/2026 ước tăng 1,83% so với tháng trước và tăng 13,24% so với cùng kỳ. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,94% so với tháng trước và tăng 14,03% so với cùng kỳ; ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước, điều hoà không khí tăng 1,33% so với tháng trước và tăng 3,58% so với cùng kỳ; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý, xử lý rác thải, nước thải giảm 1,44% so với tháng trước nhưng tăng 5,99% so với cùng kỳ.Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 11,40% so cùng kỳ, trong đó ngành Công nghiệp chế biến, chế tạo là động lực chính với mức tăng 12,35%, tiếp theo là ngành khai khoáng tăng 8,03%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 0,51%; cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,08%.Hình 3. Chỉ số sản xuất công nghiệp 4 tháng đầu năm 2026Chỉ số sản xuất sản phẩm 4 tháng đầu năm 2026 so cùng kỳ như sau:Có 70/111 sản phẩm có chỉ số sản xuất tăng so cùng kỳ: cát đen tăng 8,0%; gạo đã xát toàn bộ hoặc sơ bộ tăng 4,4%; phi lê đông lạnh tăng 21,4%; bột mịn, bột thô và bột viên từ cá tăng 34,9%; quả và hạt ướp lạnh tăng 45,9%; thức ăn cho gia súc tăng 15,3%; thức ăn cho gia cầm tăng 51,8%; thức ăn cho thủy sản tăng 15,9%; bia đóng lon tăng 19,7%; bộ com lê, quần áo cho người lớn dệt kim hoặc đan móc tăng 0,1%; áo phông, áo may ô và các loại áo lót khác cho người lớn dệt kim hoặc đan móc tăng 59,3%; giày, dép không thấm nước có đế ngoài và mũ bằng cao su hay plastic tăng 34,7%; giày, dép có đế ngoài và mũ bằng cao su, plastic các loại tăng 6,2%; thuốc và dược phẩm các loại tăng mạnh[3]; bao và túi từ plastic khác tăng 49,2%; ống và ống dẫn bằng đồng tăng 11,2%; điện mặt trời tăng 26,0%;…Có 40/111 sản phẩm có chỉ số sản xuất giảm so cùng kỳ: bia đóng chai giảm 23,9%; thuốc lá có đầu lọc giảm 26,1%; túi xách giảm 19,4%; giày, dép thể thao có đế ngoài và mũ giày bằng cao su và plastic giảm 5,8%; giày, dép thể thao có mũ bằng da và có đế ngoài giảm 23,4%; bê tông tươi giảm 3,2%; thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm giảm 1,8%; dịch vụ sản xuất thiết bị điện chiếu sáng giảm 2,8%;…* Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo:Trong tháng 4/2026, tình hình tiêu thụ và tồn kho của ngành công nghiệp chế biến chế tạo đều tăng so với cùng kỳ: chỉ số tiêu thụ tăng 0,89% so với tháng trước và tăng 16,11% so với cùng kỳ; chỉ số tồn kho nhanh hơn gấp đôi chỉ số tiêu thụ (tăng 9,53% so với tháng trước và tăng 32,73% so với cùng kỳ), cụ thể như sau:- Các ngành có chỉ số tiêu thụ (CSTT) tăng, chỉ số tồn kho (CSTK) tăng cao hơn CSTT phản ánh doanh nghiệp gia tăng sản xuất, tăng hàng tồn kho: sản xuất chế biến thực phẩm (CSTT tăng 17,79%, CSTK tăng 47,69%) và sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu (CSTT tăng 17,61%, CSTK tăng 55,33%). Riêng ngành sản xuất thiết bị điện tăng đột biến (CSTT tăng 286,18%, CSTK tăng 50,88%) chủ yếu do sản xuất của Công ty TNHH Nissei Electric Mỹ Tho tăng cao.- Các ngành có tình hình sản xuất tốt, tiêu thụ tăng, tồn kho giảm: ngành dệt (CSTT tăng 33,13% trong khi CSTK giảm mạnh 54,53%); sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic do năng lực sản xuất mới từ dây chuyền mở rộng của Công ty Advance Việt Nam (CSTT tăng 37,84% trong khi CSTK giảm 0,76%); sản xuất kim loại tăng tiêu thụ nhờ nhu cầu nguyên liệu chế tạo pin xe điện và thiết bị năng lượng tái tạo tăng cao, giảm hàng tồn kho (CSTT tăng 14,55% trong khi CSTK giảm 7,24%).- Ngành sản xuất da và các sản phẩm có liên quan gặp khó khăn, sản xuất giảm liên tục từ cuối năm 2025 sau khi Chính phủ Mỹ áp mức thuế quan mới (CSTT giảm 5,53%, trong khi CSTK tăng 20,36%).- Các ngành có CSTT và CSTK đều giảm do tiêu thụ giảm, doanh nghiệp thu hẹp sản xuất: sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy (CSTT giảm 41,84%, CSTK giảm 55,88%); in, sao chép bản ghi các loại (CSTT giảm 40,15%; CSTK giảm 33,28%).Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến chế tạo bốn tháng năm 2026 tăng 11,76% so với cùng kỳ. Trong đó, một số ngành cấp II đóng góp làm tăng chỉ số chung gồm: ngành sản xuất chế biến thực phẩm tăng 15,03%; dệt tăng 13,93%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 27,89%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 13,95%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 37,56%; sản xuất kim loại 13,32%; sản xuất thiết bị điện tăng 92,35%.;...III. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP: (Theo báo cáo của Sở Tài Chính)Thành lập mới: trong tháng có 365 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 62,2% so với tháng trước; với tổng vốn đăng ký là 2.024 tỷ đồng, tăng 69,6% so với tháng trước. Tính từ đầu năm 2026 đến nay, có 1.181 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 121,2% so với cùng kỳ, đạt 39,37% so với kế hoạch, với tổng vốn đăng ký là 5.284 tỷ đồng, tăng 32,4% so với cùng kỳ.Giải thể, tạm ngừng hoạt động, tái hoạt động: Trong tháng, có 49 doanh nghiệp đã giải thể, tăng 75% so với tháng trước; 55 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, tăng 77,4% so với tháng trước; 22 doanh nghiệp hoạt động trở lại, tăng 57,1% so với tháng trước. Tính từ đầu năm đến nay, có 166 doanh nghiệp giải thể, tăng 84,4% so với cùng kỳ; 496 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, tăng 6,7% so với cùng kỳ; 207 doanh nghiệp hoạt động trở lại, bằng 90,4% so với cùng kỳ.IV. ĐẦU TƯ - XÂY DỰNGVới sự quyết liệt trong công tác chỉ đạo, điều hành, tháo gỡ điểm nghẽn của UBND tỉnh, tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện tháng 4/2026 đạt 731 tỷ đồng, tăng 14,8% so với tháng trước. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 672 tỷ đồng, tăng 15,6%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 59 tỷ đồng, tăng 6,8%.So với cùng kỳ năm trước, vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý giảm 23,1%, trong đó vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh giảm 28,7%, vốn ngân sách nhà nước cấp xã tăng 5,8 lần.Tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 2.354 tỷ đồng, bằng 20,7% kế hoạch năm, giảm 31,4% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó:- Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 2.153 tỷ đồng, bằng 21,4% kế hoạch năm, giảm 36,8% so với cùng kỳ năm 2025;- Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp xã 201 tỷ đồng, bằng 15,4% kế hoạch năm, gấp 7,5 lần so với cùng kỳ năm 2025.Thu hút đầu tư: Lũy kế từ đầu năm đến nay, tỉnh thu hút 03 dự án đầu tư ngoài khu công nghiệp, khu kinh tế, trong đó 02 dự án có vốn đầu tư nước ngoài; 01 dự án có vốn đầu tư trong nước, với tổng vốn đăng ký đạt 154,46 tỷ đồng; điều chỉnh tăng vốn 01 dự án với vốn đăng ký tăng thêm hơn 272 tỷ đồng.V. THƯƠNG MẠI - GIÁ CẢ - DỊCH VỤ1. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng:Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trong tháng thực hiện 16.040 tỷ đồng, tăng 1,8% so tháng trước và tăng 14% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 11.907 tỷ đồng, tăng 13%; lưu trú 60 tỷ đồng, tăng 32,8%; ăn uống 1.977 tỷ đồng, tăng 17,1%; du lịch lữ hành 37 tỷ đồng, tăng 36,7%; dịch vụ tiêu dùng khác 2.058 tỷ đồng, tăng 16,1% so cùng kỳ. Bốn tháng năm 2026, tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thực hiện 62.469 tỷ đồng, đạt 21,5% kế hoạch, tăng 13,2% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 46.570 tỷ đồng, tăng 13,1%; lưu trú 230 tỷ đồng, tăng 19,9%; ăn uống 7.832 tỷ đồng, tăng 15,3%; du lịch lữ hành 145 tỷ đồng, tăng 44,8%; dịch vụ tiêu dùng khác 7.692 tỷ đồng, tăng 10,9% so cùng kỳ.    Hình 4. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng2. Xuất - Nhập khẩu (Theo báo cáo Sở Công Thương)a. Xuất khẩu:Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng ước thực hiện 880 triệu USD, tăng 0,3% so tháng trước và tăng 7,1% so cùng kỳ. Bốn tháng xuất khẩu 3.194 triệu USD, đạt 31,9% kế hoạch, tăng 12,7% so cùng kỳ. Tình hình xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của tỉnh như sau:b. Nhập khẩu:Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 04/2026 ước đạt 490 triệu USD, tăng 2,1% so tháng trước và tăng 19,8% so cùng kỳ. Bốn tháng, kim ngạch nhập khẩu 1.925 triệu USD, đạt 38,5% kế hoạch, tăng 7,1% so cùng kỳ.Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của tỉnh trong tháng 04/2026 như: kim loại thường khác (nguyên liệu đồng) ước đạt 652,4 triệu USD, tăng 21,9%; nguyên phụ liệu dệt may, da giày, túi xách ước đạt 196 triệu USD, tăng 1,8%; mặt hàng khác ước đạt 582 triệu USD, giảm 16,8%; sắt thép các loại ước đạt 165 triệu USD, giảm 1,9% so cùng kỳ…3. Chỉ số giá:Thời tiết trong tháng nắng nóng kéo dài dẫn đến nhu cầu sử dụng điện sinh hoạt và nước sinh hoạt của người dân tăng nên giá điện sinh hoạt và nước sinh hoạt tăng. Giá xăng dầu, giá gas điều chỉnh theo giá nhiên liệu thế giới cũng là nguyên nhân dẫn đến tăng giá các mặt hàng ăn uống ngoài gia đình, vật liệu xây dựng và nhiều mặt hàng thiết yếu khác đó cũng là những nguyên nhân chính làm cho chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 04/2026 tăng 0,53% (thành thị tăng 0,79%, nông thôn tăng 0,45%) so tháng 03/2026; tăng 4,99% so cùng kỳ.So với tháng 03/2026, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 9 nhóm tăng: nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,75%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,03%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,73%; may mặc, mũ nón và giầy dép tăng 0,55%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,52%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,31%; văn hóa, giải trí và du lịch 0,2%; thông tin và truyền thông tăng 0,1%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,02%. Nhóm giao thông giảm 1,68% và nhóm Giáo dục có chỉ số ổn định.Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 04 tháng năm 2026 tăng 3,72% so với cùng kỳ, Một số chỉ số tăng như: nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,35% (Cụ thể như: giá nhà ở thuê tăng 3,78%; dịch vụ sửa chữa nhà ở tăng 10,91%; giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 13,12%; giá nước sinh hoạt tăng 5,24%; …); thuốc và dịch vụ y tế tăng 4,03%; hàng ăn uống và dịch vụ ăn uống tăng 3,58%; giáo dục 3,53%; giao thông 3,25%;.... chỉ riêng nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,17% tác động không đáng kể đến chỉ số tiêu dùng bình quân chung bốn tháng.Chỉ số giá vàng tháng 04/2026 giảm 7,27% so với tháng 03/2026, tăng 10,17% so với tháng 12/2025, tăng 68,58% so với bình quân cùng kỳ, tương ứng giảm 1.246 ngàn đồng/chỉ đối với vàng nhẫn trơn 9999.Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng 04/2026 giảm 0,35% so tháng trước, tương đương giảm 9.390 đồng/100USD và giảm 0,39% so với tháng 12/2025, Bình quân bốn tháng năm 2026 tăng 2,14% so cùng kỳ.4. Vận tải:Tình hình vận tải trên địa bàn tỉnh ổn định, đường bộ và đường thủy đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa và đi lại của người dân. Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trong tháng thực hiện 734 tỷ đồng, tăng 1,5% so tháng trước và tăng 15,9% so cùng kỳ. Bốn tháng thực hiện 2.920 tỷ đồng, tăng 16,4% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 1.037 tỷ đồng, tăng 27,4%; doanh thu vận tải hàng hóa thực hiện 1.422 tỷ đồng, tăng 14,4%. Doanh thu vận tải đường bộ thực hiện 1.457 tỷ đồng, tăng 23,1%; doanh thu vận tải đường thủy thực hiện 1.457 tỷ đồng, tăng 23,1%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 242 tỷ đồng, giảm 7,2% so cùng kỳ. Vận tải hành khách trong tháng đạt 6.497 ngàn hành khách, tăng 2,1% so tháng trước và tăng 10,8% so cùng kỳ; luân chuyển 171.321 ngàn hành khách.km, giảm 0,7% so tháng trước và giảm 13,8% so cùng kỳ. Bốn tháng, vận chuyển 27.072 ngàn hành khách, tăng 16,7%; luân chuyển 990.614 ngàn hành khách.km, tăng 26,2% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 10.660 ngàn hành khách, tăng 42,1% và luân chuyển 982.681 ngàn hành khách.km, tăng 26,4%; vận tải đường thủy 16.412 ngàn hành khách, tăng 4,5% và luân chuyển 7.933 ngàn hành khách.km, tăng 3,9%.Vận tải hàng hóa trong tháng đạt 2.785 ngàn tấn, tăng 0,7% so tháng trước và tăng 21,7% so cùng kỳ; luân chuyển 494.019 ngàn tấn.km, tăng 0,3% so tháng trước và tăng 19,2% so cùng kỳ. Bốn tháng, vận tải 10.885 ngàn tấn hàng hóa, tăng 19,4%; luân chuyển 1.920.056 ngàn tấn.km, tăng 17% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 2.159 ngàn tấn, giảm 0,6% và luân chuyển 333.591 ngàn tấn.km, tăng 17% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 8.726 ngàn tấn, tăng 25,7% và luân chuyển 1.586.465 ngàn tấn.km, tăng 18,6% so cùng kỳ.Trong tháng đăng ký mới 11.027 chiếc mô tô xe máy và 1.294 chiếc xe ô tô. Tổng số xe đang quản lý trên địa bàn tỉnh là 3.530.489 chiếc, trong đó mô tô xe máy: 3.413.478 chiếc; 113.748 xe ô tô, 169 xe ba bánh, 666 xe đạp điện và 3.372 xe khác.5. Bưu chính viễn thông:Ngành bưu chính viễn thông đang phát triển mạnh mẽ theo hướng hiện đại hóa, số hóa và tích hợp sâu rộng. Hạ tầng thông tin được nâng cấp, cung cấp các dịch vụ bưu chính số và viễn thông tốc độ cao, đóng vai trò nền tảng cho kinh tế số và xã hội số. Đến cuối tháng 04 năm 2026 tổng số thuê bao điện thoại có trên mạng là 3.668 ngàn thuê bao, thuê bao điện thoại bình quân đạt 107,77 thuê bao/100 dân (bao gồm: hữu tuyến, vô tuyến, trả trước, trả sau). Số thuê bao điện thoại di động có sử dụng Internet (3G, 4G) đến cuối tháng 04 là: 2.605 ngàn thuê bao. Thuê bao internet có trên mạng là 3.709 ngàn thuê bao, mật độ Internet bình quân ước đạt 108,96 thuê bao/100 dân.VI. TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG1. Tài chính:Tổng thu ngân sách nhà nước trong tháng thực hiện 4.830 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn 2.560 tỷ đồng, thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 353 tỷ đồng. Bốn tháng, thu 22.171 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn thực hiện 10.507 tỷ đồng, đạt 44,2% dự toán và tăng 7,5% so cùng kỳ; thu nội địa 10.168 tỷ đồng, đạt 43,8% dự toán, tăng 7,3% so cùng kỳ (trong thu ngân sách trên địa bàn: thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 1.649 tỷ đồng, đạt 40,7% dự toán, tăng 5,3% so cùng kỳ; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 3.031 tỷ đồng, đạt 63,2% dự toán, tăng 41,3% so cùng kỳ, thu từ hoạt động xổ số kiến thiết 2.339 tỷ đồng, đạt 50,5% dự toán, tăng 8,5% so cùng kỳ...).Tổng chi ngân sách nhà nước trong tháng 2.797 tỷ đồng; trong đó: chi đầu tư phát triển 728 tỷ đồng. Bốn tháng, chi 13.089 tỷ đồng, đạt 32,6% dự toán, bằng 93,8% so cùng kỳ; trong đó: chi đầu tư phát triển 1.320 tỷ đồng, đạt 15,1% dự toán, bằng 29,2% so cùng kỳ; chi hành chính sự nghiệp 6.859 tỷ đồng, đạt 30,4% dự toán và bằng 99,6% so cùng kỳ.2. Ngân hàng:Đến cuối tháng 03/2026, vốn huy động ước đạt 213 ngàn tỷ, tăng 5 ngàn tỷ và tăng 2,3% so với cuối năm 2025, tổng dư nợ cho vay của các TCTD trong tỉnh ước đạt 246 ngàn tỷ, tăng 3 ngàn tỷ đồng và tăng 1,2% so với cuối năm 2025. Dự tính đến cuối tháng 4/2026 vốn huy động đạt 213 ngàn tỷ tăng 2,42%; dư nợ cho vay đạt 148 ngàn tỷ tăng 1,99% so với cuối năm 2025.Nợ xấu: đến cuối tháng 02/2026 tỷ lệ nợ xấu/Tổng dư nợ (không bao gồm nợ xấu của các ngân hàng thương mại bị kiểm soát đặc biệt) chiếm 2,41%. Ước thực hiện tháng 03/2026 tỷ lệ nợ xấu/Tổng dư nợ nhỏ hơn 3%.Quỹ tín dụng nhân dân: Đến cuối tháng 03/2026 tổng nguồn vốn huy động 2.779 tỷ đồng, giảm 79 tỷ đồng và giảm 2,76% so với cuối năm 2025. Dư nợ 2.300 tỷ đồng, giảm 39 tỷ đồng, tương đương giảm 1,67% so với cuối năm 2025. Tỷ lệ nợ xấu là 1,01%.VII. KHOA HỌC CÔNG NGHỆTrong tháng Hội đồng khoa học và công nghệ tổ chức họp tư vấn tuyển chọn thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh: 09 nhiệm vụ; nghiệm thu 01 nhiệm vụ cấp tỉnh, 01 nhiệm vụ cấp cơ sở; kiểm tra, đánh giá nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh 02 nhiệm vụ; kiểm tra và xác nhận tính hợp lệ của hồ sơ đăng ký tham gia tuyển chọn thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh 01 nhiệm vụ.VIII. CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI1. Lao động việc làm:Trong tháng, đã giải quyết việc làm cho 5.125 lao động. Nâng tổng số lao động được giải quyết việc làm từ đầu năm đến nay là 14.365 lao động đạt 29% so với kế hoạch; Tổ chức 10 cuộc tư vấn tuyển dụng cho người lao động hưởng bảo hiểm thất nghiệp và 01 phiên giao dịch việc làm trực tuyến với 38 lượt doanh nghiệp tham gia, tư vấn trên 3.600 người.Lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài là 340 lao động. Nâng tổng số lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài từ đầu năm đến tháng báo cáo là 1.207 lao động, đạt 55% kế hoạch, trong đó Hàn Quốc: 568 lao động, Nhật Bản: 467 lao động, Đài Loan: 124 lao động,....Về trợ cấp thất nghiệp, trong tháng có 1.348 lao động được hưởng trợ cấp. Từ đầu năm đến nay, có 5.804 lao động được giải quyết chế độ trợ cấp thất nghiệp, với tổng kinh phí chi trả trên 82,9 tỷ đồng, góp phần hỗ trợ kịp thời đời sống, giúp người lao động ổn định trong giai đoạn tìm kiếm việc làm mới.2. Chính sách xã hội:Trong tháng, các chế độ ưu đãi đối với người có công được thực hiện đầy đủ, kịp thời. Cụ thể: đã lập quyết định trợ cấp một lần cho người thờ cúng liệt sĩ và chuyển đổi người thờ cúng liệt sĩ với 35 trường hợp; lập quyết định trợ cấp hàng tháng cho 01 người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; giải quyết trợ cấp tuất cho 02 trường hợp. Đồng thời, đã lập quyết định trợ cấp mai táng phí và trợ cấp một lần (03 tháng trợ cấp) cho 89 trường hợp. Bên cạnh đó, đã cấp lại giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh cho 56 trường hợp.3. Hoạt động giáo dục:Trong tháng, ngành Giáo dục đã triển khai đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ theo kế hoạch quý II. Nhiều hoạt động chuyên môn được thực hiện, trọng tâm là công tác chuẩn bị tuyển sinh lớp 10, tổ chức Kỳ thi tốt nghiệp THPT, khảo sát đánh giá diện rộng. Mạng lưới trường, lớp tiếp tục được củng cố. Tổ chức các hội nghị, tập huấn về tuyển sinh THPT và phần mềm quản lý thi theo hình thức trực tuyến cho các đơn vị; hướng dẫn tổ chức tuyển sinh lớp 10 và Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026. Đồng thời, tham dự hội nghị triển khai quy chế, nghiệp vụ thi do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức; hướng dẫn rà soát, cập nhật cơ sở dữ liệu về khu vực ưu tiên và thông tin học sinh. Bên cạnh đó, đã thực hiện thống kê, rà soát cơ sở vật chất, nhân sự phục vụ kỳ thi; kiểm tra điều kiện cơ sở vật chất tại các điểm thi dự kiến.4. Hoạt động y tế:Trong tháng có 15/44 bệnh truyền nhiễm được ghi nhận. Cộng dồn số ca mắc so với cùng kỳ, có 10 bệnh tăng (Bệnh do liên cầu lợn ở người, Sốt xuất huyết Dengue, Tay - chân - miệng, Viêm màng não do não mô cầu, Liệt mềm cấp nghi bại liệt, Lao phổi, Thương hàn, Viêm gan vi rút A, Viêm gan vi rút B, Thủy đậu); 08 bệnh giảm (Sởi, Viêm gan vi rút C , Viêm não vi rút khác, Cúm, Lỵ trực trùng, Quai bị, Tiêu chảy, Viêm gan vi rút khác ); 26 bệnh tương đương hoặc không xảy ra ca mắc.Các bệnh truyền nhiễm trong tháng ghi nhận: bệnh sốt xuất huyết 782 ca mắc, làm 01 ca tử vong do bệnh sốt xuất huyết; bệnh tay - chân - miệng 454 ca, không có ca tử vong. Cộng dồn số ca mắc bệnh sốt xuất huyết: 2.057 ca, tăng 170,7%, 01 ca tử vong (cùng kỳ không có ca tử vong); bệnh tay – chân – miệng: 1.164 ca, tăng 107,5% so cùng kỳ.Phòng chống HIV/AIDS trên địa bàn tỉnh tính đến nay là 16.079 người nhiễm HIV; 5.051 người chuyển sang AIDS; 3.926 người tử vong do AIDS.Khám chữa bệnh trong tháng cho 643,4 nghìn lượt người, giảm 6,8% so cùng kỳ; trong đó, số người điều trị nội trú là 43,5 nghìn lượt người, tăng 1,6%. Cộng dồn từ đầu năm đến tháng báo cáo, đã khám chữa bệnh cho 1,9 triệu lượt người, giảm 12,7%; trong đó, số người điều trị nội trú là 118,4 nghìn lượt người, giảm 4,0%. Công suất sử dụng giường bệnh bình quân trong tháng đạt 83,5%.5. Hoạt động văn hóa - thể thao:Hoạt động văn hóa nghệ thuật: trong tháng công tác truyền thông, tuyên truyền tập trung vào các ngày lễ lớn của đất nước và các sự kiện chính trị - xã hội quan trọng của tỉnh như: Ngày Quốc tế Hạnh phúc; Giỗ Tổ Hùng Vương (mùng 10 tháng 3 âm lịch); kỷ niệm Ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2026) và Ngày Quốc tế Lao động (01/5). Hoạt động biểu diễn nghệ thuật tiếp tục được duy trì, phục vụ nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần của nhân dân, thu hút đông đảo người xem. Trong tháng đã tổ chức 05 buổi biểu diễn với khoảng 2.150 lượt người tham dự, tiêu biểu như các chương trình phục vụ kỷ niệm 50 năm Ngày truyền thống Bộ đội Biên phòng tỉnh Đồng Tháp (17/3/1976 – 17/3/2026), kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống ngành Thể dục Thể thao (27/3/1946 – 27/3/2026) và Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam lần thứ 5 năm 2026. Đặc biệt, chương trình nghệ thuật “Dạ khúc tri âm” được dàn dựng và biểu diễn tại Rạp Thầy Năm Tú với nhiều tiết mục đặc sắc, mang đậm giá trị nghệ thuật sân khấu cải lương truyền thống, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị di tích văn hóa cấp tỉnh.Hoạt động thư viện: trong tháng, tổ chức Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam lần thứ 5 năm 2026 trên địa bàn tỉnh với chủ đề “Sách - Tri thức - Khát vọng phát triển đất nước”. Các hoạt động hưởng ứng được triển khai đồng bộ, gồm: lễ phát động hưởng ứng Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam năm 2026 tại Trung tâm Văn hóa - Tổ chức sự kiện tỉnh; tổ chức nói chuyện chuyên đề về Ngày Sách và Văn hóa đọc; phát động các cuộc thi như “Đại sứ Văn hóa đọc”, vẽ tranh theo sách; tổ chức sinh hoạt câu lạc bộ đọc sách, các hoạt động tìm hiểu và bổ trợ kiến thức cho thanh thiếu nhi; triển khai các hoạt động phục vụ người khuyết tật và mô hình thư viện lưu động tại vùng sâu, vùng xa, khu vực có điều kiện khó khăn. Trong tháng, Thư viện tỉnh phục vụ trên 50 nghìn lượt người đọc với trên 150 nghìn lượt tài liệu; các kênh thông tin thư viện có trên 472 nghìn lượt truy cập.Hoạt động bảo tàng: trong tháng, công tác trưng bày được duy trì ổn định tại 02 cơ sở với các chuyên đề về lịch sử, văn hóa, kháng chiến và trưng bày ngoài trời; phối hợp phục vụ Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương (mùng 10/3 âm lịch). Trong tháng, các khu di tích và Bảo tàng tỉnh đã đón tiếp trên 84 nghìn lượt khách.Hoạt động thể dục, thể thao:Tổ chức Giải Pickleball tại Phường Đạo Thạnh, tỉnh Đồng Tháp cho đối tượng tham dự là lãnh đạo, công chức, viên chức Ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đồng Tháp; phối hợp Công an tỉnh tổ chức “Ngày chạy Olympic - Vì sức khỏe toàn dân - Vì an ninh Tổ quốc” với hơn 5.000 người tham gia, bao gồm lãnh đạo, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang, công chức, viên chức, học sinh, sinh viên và đông đảo quần chúng nhân dân. Toàn tỉnh tổ chức Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân tại 102/102 phường, xã với hơn 107 nghìn lượt người tham dự.Thể thao thành tích cao tiếp tục được duy trì đào tạo lực lượng 26 môn thể thao thành tích cao. Trong tháng, thể thao Đồng Tháp tham dự 17 giải cấp quốc gia và quốc tế, đạt 15 huy chương Vàng, 16 huy chương Bạc và 35 huy chương Đồng.6. Tình hình trật tự an toàn xã hội(theo báo cáo ngành Công an):Trong tháng xảy ra 118 vụ phạm tội về trật tự xã hội, tăng 08 vụ so cùng kỳ; Hậu quả là 08 người chết, 35 người bị thương, tài sản thiệt hại khoảng 89 tỷ đồng; Cơ quan chức năng đã điều tra, khám phá 91 vụ (đạt tỷ lệ 77,1%), bắt giữ và xử lý 230 đối tượng.Về tội phạm ma túy trong tháng, lực lượng chức năng đã phát hiện và xử lý 74 vụ với 103 đối tượng.7. Trật tự an toàn giao thông (theo báo cáo ngành Công an, số liệu tính từ ngày 15/3/2026 đến 14/4/2026):Tai nạn giao thông đường bộ: trong tháng, xảy ra 45 vụ, giảm 04 vụ so tháng trước và giảm 04 vụ so cùng kỳ. Hậu quả làm chết 42 người (tăng 08 người so tháng trước, tăng 08 người so cùng kỳ) và 12 người bị thương (giảm 12 người so tháng trước, giảm 11 người so cùng kỳ). Cộng dồn từ đầu năm đến tháng báo cáo, toàn tỉnh đã xảy ra 190 vụ, giảm 36 vụ so với cùng kỳ; làm chết 154 người (tăng 09 người) và làm bị thương 73 người (giảm 46 người). Các nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông chủ yếu vẫn do ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông như: uống rượu say, điều khiển xe khi có rượu bia, phóng nhanh vược ẩu, không làm chủ tốc độ; không đi đúng phần đường, làn đường; không nhường đường, vượt đèn đỏ, thiếu quan sát…Tai nạn giao thông đường thủy: trong tháng không xảy ra. Cộng dồn từ đầu năm đến tháng báo cáo là 02 vụ làm chết 01 người, tương đương về số vụ và số người chết so với cùng kỳ.Tình hình trật tự an toàn giao thông dịp nghỉ Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương 2026 (từ ngày 25/4/2026 đến ngày 27/4/2026): xảy ra 04 vụ, giảm 01 vụ so cùng kỳ; làm chết 03 người, giảm 01 người; 01 người bị thương, giảm 01 người; thiệt hại tài sản ước tính 18,5 triệu đồng.8. Tình hình cháy nổ, môi trường và thiên tai:- Cháy, nổ: trong tháng, xảy ra 04 vụ cháy, giảm 01 vụ so cùng kỳ; thiệt hại về tài sản khoảng 246 triệu đồng. Nguyên nhân do sự cố hệ thống điện 03 vụ; do trẻ em nghịch lửa 01 vụ.- Môi trường: trong tháng, có 01 vụ vi phạm môi trường đã xử lý với số tiền xử phạt 50 triệu đồng. Tính từ đầu năm, xảy ra 04 vụ vi phạm môi trường, giảm 06 vụ so cùng kỳ; đã xử lý 06 vụ với tổng số tiền xử phạt là 818,5 triệu đồng.- Thiên tai: trong tháng trên địa bàn tỉnh xảy ra 03 vụ thiên tai (01 vụ do mưa, giông lốc; 02 vụ sạt lở nội đồng). Tuy không gây thiệt hại về người nhưng đã làm tốc mái 49 căn nhà, 01 điểm phụ trường Tiểu học An Phong 1 bị tốc mái 05 phòng học, hư bảng tên trường, một số laphong bị rớt, 02 tivi dùng để dạy học bị ướt...Ước tính giá trị thiệt hại khoảng 818 triệu đồng.

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Tháp Quý I năm 2026
  •   06/04/2026 14:17

Tình hình chính trị thế giới trong những tháng đầu năm 2026 điễn biến phức tạp, cuộc chiến ở Trung Đông đã đẩy giá năng lượng, logistics và chuỗi cung ứng vào trạng thái biến động mạnh… ảnh hưởng đến phát triển kinh tế trong nước nói chung và tỉnh Đồng Tháp nói riêng. Với quyết tâm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2026, ngay từ đầu năm, Tỉnh ủy, UBND tỉnh tổ chức triển khai kế hoạch và giao nhiệm vụ cụ thể cho từng ngành, từng địa phương; tăng cường các biện pháp nhằm bình ổn giá cả thị trường, kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho các đối tượng chính sách và nhân dân vui xuân đón Tết vui tươi, lành mạnh, an toàn, tiết kiệm và đảm bảo trật tự an toàn xã hội; chủ động nguồn hàng hóa phục vụ nhu cầu Tết của nhân dân. Các hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh được tổ chức linh hoạt diễn ra sôi nổi, các doanh nghiệp đã chủ động tiết kiệm chi phí, tối ưu hóa quy trình sản xuất và tìm kiếm nguồn nguyên liệu phù hợp, qua đó hạn chế phần nào tác động tiêu cực từ việc tăng giá xăng dầu. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội được thực hiện trong điều kiện kinh tế tiếp tục phục hồi và phát triển. Kết quả thực hiện ở các lĩnh vực cụ thể như sau:I. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊU KINH TẾ1. Tài chính - Ngân hàng:a. Tài chính: Thu ngân sách nhà nước: ước thu quý I năm 2026 được 15.389 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn thực hiện 7.777 tỷ đồng, đạt 32,7% dự toán, tăng 23,7% so cùng kỳ; thu nội địa 7.527 tỷ đồng, đạt 32,4% dự toán, tăng 22,8% so cùng kỳ. Các khoản thu chủ yếu như sau:- Thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 1.262 tỷ đồng, đạt 31,2% dự toán, tăng 36,8% so cùng kỳ.- Thu từ hoạt động xổ số kiến thiết 1.852 tỷ đồng, đạt 40% dự toán, tăng 38,1% so cùng kỳ.- Thu thuế công thương nghiệp ngoài quốc doanh 2.208 tỷ đồng đạt 46% dự toán, tăng 50% so cùng kỳ.Chi ngân sách nhà nước:Tổng chi ngân sách quý I năm 2026 là 11.291 tỷ đồng, đạt 28,1% dự toán và tăng 24% so cùng kỳ, trong đó: chi đầu tư phát triển 850 tỷ đồng, đạt 9,7 % dự toán, bằng 23%; chi hành chính sự nghiệp 5.711 tỷ đồng, đạt 25,3% dự toán và tăng 48,3% so cùng kỳ.b. Ngân hàng:Kinh tế toàn cầu diễn biến phức tạp, rủi ro bất ổn thị trường tài chính tăng cao, nhiều quốc gia tiếp tục tăng lãi suất để kiềm chế lạm phát. Ngân hàng trên địa bàn tỉnh đóng vai trò trọng tâm tiếp tục chủ động điều hành chính sách tiền tệ kịp thời, hiệu quả.Đến cuối tháng 2/2026, vốn huy động đạt 210.234 tỷ đồng, tăng 0,98% so với cuối năm 2025; tổng dư nợ cho vay thực hiện là 239.606 tỷ đồng, giảm 1,56% so với cuối năm 2025. Ước tính đến cuối tháng 3/2026, vốn huy động đạt 210.541tỷ đồng, tăng 0,15% so với cuối năm 2025; tổng dư nợ cho vay thực hiện là 241.403 tỷ đồng, tăng 0,75% so với cuối năm 2025.Về lãi suất huy động: hầu hết các chi nhánh Ngân hàng thương mại (NHTM) trên địa bàn tỉnh chấp hành tốt các quy định về lãi suất huy động theo quy định của Ngân hàng nhà nước. Đến cuối tháng 2/2026 lãi suất huy động bằng VND như: đối với tiền gửi có kỳ từ 6 tháng đến 12 tháng: dao động từ 2,89% - 7,9%/năm đối với khách hàng cá nhân, từ 2,5% - 7,5%/năm đối với khách hàng pháp nhân; đối với tiền gửi trên 12 tháng dao động từ 3,13% - 8,46%/năm đối với khách hàng cá nhân, từ 2,5% - 7,8%/năm đối với khách hàng pháp nhân.Lãi suất cho vay (LSCV): đến cuối tháng 01 LSCV trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp là 7,96%/năm tăng 0,20%/năm so cùng kỳ. Phân theo loại khách hàng lãi suất cho vay khách hàng pháp nhân là 7,15%/năm, tăng 0,23%/năm; khách hàng cá nhân là 8,65%/năm, tăng 0,14%/năm. Theo thời hạn cho vay lãi suất cho vay ngắn hạn 7,42%/năm, tăng 0,21%; LSCV trung hạn 10,05%, tăng 0,11%; LSCV dài hạn tăng 8,44%, tăng 0,10%. Đây cũng là tín hiệu tích cực về lãi suất, góp phần hỗ trợ khách hàng sản xuất kinh doanh.Nợ xấu: đến cuối tháng 2/2026 là 6.299 tỷ đồng, tỷ lệ 2,64%, tăng 0,23% so với cuối năm 2026. Ước đến cuối tháng 3/2026, tỷ lệ nợ xấu dưới 3%.Quỹ tín dụng nhân dân:Hệ thống quỹ tín dụng nhân dân trên địa bàn hoạt động ổn định, sát với mục tiêu góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Đến cuối 2/2026, tổng nguồn vốn huy động 2.807 tỷ đồng, giảm 51 tỷ đồng, tỷ lệ giảm 1,78% so với cuối năm 2025. Dư nợ cho vay đạt 2.318 tỷ đồng, giảm 21 tỷ và tỷ lệ giảm 0,90% so với cuối năm 2025. Tỷ lệ nợ xấu 0,95% so với cuối năm 2025.2. Giá cả, lạm phát:Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 03/2026 tăng 1,4% (khu vực thành thị tăng 1,32%, nông thôn tăng 1,42%) so tháng 2/2026, tăng 4,47% so tháng 3/2025, do giá xăng dầu, giá gas tăng mạnh theo giá nhiên liệu thế giới cùng với giá dịch vụ y tế tăng theo Nghị quyết 126/NQ-HĐND ngày 23/12/2025 về quy định giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp.So với tháng 02/2026, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 07 nhóm tăng: nhóm giao thông tăng 13,76%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 7,5%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và VLXD tăng 1,26%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,06%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,4%; hàng hóa, dịch vụ khác tăng 0,15%; bưu chính viễn thông tăng 0,13%; Có 03 nhóm chỉ số giá giảm: hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,82% (trong đó: lương thực giảm 1,03%, thực phẩm giảm 1,53%, ăn uống ngoài gia đình tăng 0,86%); may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,61%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,37%. Riêng nhóm giáo dục chỉ số giá ổn định.Một số mặt hàng có chỉ số giá tăng so với tháng trước:- Nhóm giao thông tháng tăng 13,76%, tác động làm tăng CPI chung 1,56 điểm phần trăm, do giá xăng dầu điều chỉnh tăng theo giá dầu thế giới, từ đầu tháng 3 đến ngày 26/3/2026 có 8 lần điều chỉnh giá xăng dầu, trong đó: giá xăng tăng 35,15%; giá dầu diezen tăng 59,49%, dầu mỡ nhờn tăng 5,37%.- Chỉ số giá nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,26%, tác động làm tăng CPI chung 0,23 điểm phần trăm, tăng chủ yếu do tác động giá của một số mặt hàng sau: giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 1,25% do giá xăng dầu tăng nên chí phí vận chuyển tăng theo làm giá các loại vật liệu xây dựng như: xi măng, sắt, thép, cát... tăng so với tháng trước; giá dịch vụ sữa chữa nhà tăng 2,35% do chi phí đẩy. Giá gas petrolimex trong tỉnh đến thời điểm hiện tại đã điều chỉnh 5 lần, tăng 21,83%; từ 1/3/2026 đến 27/3/2026 giá xăng dầu điều chỉnh 9 lần vào các ngày 5/3; 7/3; 10/3; 11/3; 12/3; 19/3; 24/3; 25/3 và 27/3/2026 đã làm chỉ số giá dầu hỏa tăng 63,69%.- Đồ uống và thuốc lá tăng 1,06%, tác động làm tăng CPI chung 0,04 điểm phần trăm, chủ yếu ở nhóm nước khoáng và nước có ga tăng 1,04%, bia rượu tăng 1,31% so với tháng trước.- Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,40% so với tháng trước, tác động làm tăng CPI chung 0,02 điểm phần trăm, cụ thể nhóm thiết bị dùng trong gia đình tăng 0,29% do chi phí vận chuyển tăng.Mặt hàng có chỉ số giá giảm so với tháng trước như sau:- Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,82%, trong đó+ Nhóm hàng lương thực giảm 1,03%, góp phần làm CPI chung giảm 0,05 điểm phần trăm, do đang vào vụ thu hoạch Đông Xuân nên nguồn cung gạo mới dồi dào, tác động đến giá gạo bán lẻ thị trường trong tỉnh tháng này giảm 1,19%; khoai lang giảm 2,78%; sắn giảm 1,00% so với tháng trước.+ Nhóm hàng thực phẩm giảm 1,53%, góp phần làm CPI chung giảm 0,34 điểm phần trăm do hiện nay nhu cầu tiêu dùng thịt lợn giảm so với thời điểm trước trong và sau Tết trong khi nguồn cung tại địa phương rất dồi dào, dẫn đến giá thịt lợn giảm 2,34%. Chỉ số giá rau tươi, khô và chế biến giảm 5,48% so với tháng trước, do nguồn cung ở Đà Lạt về nhiều và ở địa phương nguồn cung rau, củ, quả cũng rất phong phú và đa dạng về số lượng và chất lượng. Cụ thể như sau: Bắp cải giảm 13,45%, su hào giảm 6,77%, cà chua giảm 16,40%, giá khoai tây giảm 0,50%, rau muống giảm 6,24%, đỗ quả tươi giảm 2,39%; rau dạng quả, củ giảm 4,35%; rau tươi khác giảm 2,54%...+ Nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 0,86% so với tháng trước do giá gas và giá xăng dầu trong tháng tăng mạnh nên nhóm hàng ăn uống ngoài gia đình tăng theo, ăn ngoài gia đình tăng 1,10%, uống ngoài gia đình tăng 0,38%, ăn nhanh mang đi tăng 0,28%.- Nhóm may mặc, mũ nón và giày dép giảm 0,61%, tác động làm tăng CPI chung giảm 0,03 điểm phần trăm. Trong đó, vải các loại giảm 0,66%, quần áo may sẵn giảm 0,26%, giày dép giảm 2,05%, dịch vụ may mặc giảm 0,02%,... nguyên nhân giảm chủ yếu do nhu cầu mua sắm sau Tết giảm và doanh nghiệp thực hiện chương trình khuyến mãi kích cầu tiêu dùng.Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 3 tháng năm 2026 so cùng kỳ tăng 3,35%; một số nhóm hàng có giá tăng nhiều trong 3 tháng năm 2026 so cùng kỳ như: nhà ở, điện, nước, chất đốt và VLXD tăng 5,86%; hàng hóa, dịch vụ khác tăng 4,21%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,54%; giáo dục tăng 3,53%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,2%...Chỉ số giá vàng tháng 03/2026 tăng 1,17% so với tháng 02/2026, tăng 18,81% so với tháng 12/2025, tăng 75,3% so với bình quân cùng kỳ, tăng bình quân 197 ngàn đồng/chỉ (từ 16.942 ngàn đồng/chỉ lên 17.139 ngàn đồng/chỉ) đối với vàng nhẫn trơn 9999.Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng 03/2026 tăng 1,57% so tháng trước, tương đương tăng 41 đồng/USD (2.636 đồng/USD – 2.677 đồng/USD), giảm 0,04% so với tháng 12/2025 và tăng 2,4% so với bình quân cùng kỳ.3. Đầu tư và Xây dựng:Trong quý I năm 2026, các Ban quản lý dự án, chủ đầu tư tập trung đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình trọng điểm, đồng thời phối hợp với các Ban Quản lý dự án Trung ương để thực hiện các dự án trên địa bàn tỉnh, các địa phương đẩy mạnh đầu tư hạ tầng bệnh viện, trường học, giao thông nông thôn, chỉnh trang đô thị.Vốn đầu tư toàn xã hội quý I/2026 ước thực hiện 15.625 tỷ đồng, đạt 16,8% kế hoạch năm, tăng 10,0% so cùng kỳ (trong đó: vốn đầu tư xây dựng cơ bản 9.460 tỷ đồng, chiếm 60,5% vốn đầu tư toàn xã hội) bao gồm: vốn Nhà nước 4.495 tỷ đồng, giảm 7,3%; vốn ngoài Nhà nước 8.744 tỷ đồng, tăng 7,3%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 2.386 tỷ đồng, tăng 99,0% so cùng kỳ.Tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý quý I/2026 thực hiện 1.621 tỷ đồng, đạt 14,3% kế hoạch, giảm 34,6% so cùng kỳ; gồm có: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 1.483 tỷ đồng, giảm 39,7%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 138 tỷ đồng. Ngày 19/3/2026 trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp khởi công xây dựng 4 trường phổ thông nội trú tại các xã biên giới đất liền với tổng mức đầu tư của 4 trường nội trú 1.205 tỷ đồng, trong đó ngân sách trung ương chiếm 92% (1.108 tỷ đồng); tổng diện tích xây dựng của 4 công trình là 196.760 m2 các dự án dự kiến hoàn thành trong năm 2027.Trong quý I, tỉnh thu hút 01 dự án đầu tư mới, vốn đăng ký đạt 31,4 tỷ đồng; cấp điều chỉnh tăng vốn 01 dự án (tăng 272 tỷ đồng); tiếp nhận, thẩm định trình UBND tỉnh quyết định 3 hồ sơ viện trợ phi Chính phủ nước ngoài, ODA không hoàn lại, với tổng vốn viện trợ hơn 114 nghìn USD.4 Tình hình hoạt động của doanh nghiệp: (Theo báo cáo của Sở Tài Chính)Theo Sở Tài chính, tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới tính từ đầu năm 2026 đến ngày báo cáo là 827 doanh nghiệp, tăng 148,3% so với cùng kỳ, với tổng vốn đăng ký là 3,3 nghìn tỷ đồng, tăng 22,7% so với cùng kỳ. Số doanh nghiệp giải thể là 140 doanh nghiệp, tăng 79,5% so với cùng kỳ; có 470 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, tăng 10,6% so với cùng kỳ; 266 doanh nghiệp hoạt động trở lại, bằng 99% so với cùng kỳ năm 2025.5. Sản xuất nông - lâm nghiệp và thủy sản:a. Nông nghiệp:Trong quý I năm 2026, tình hình xâm nhập mặn trên địa bàn tỉnh có diễn biến gia tăng và xâm nhập sâu vào nội đồng. Độ mặn sâu nhất được ghi nhận vào ngày 14/02/2026 tại cầu Trường Chính Trị (phường Thới Sơn, cách cửa sông khoảng 49 km) đạt 0,45 g/l, sau đó giảm dần và không gây ảnh hưởng đến việc vận hành lấy nước của các công trình thủy lợi trên địa bàn. Hoạt động sản xuất nông nghiệp tiếp tục được duy trì ổn định; cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt, tình hình sâu bệnh ở mức thấp đến trung bình và được kiểm soát kịp thời. Chăn nuôi cơ bản ổn định, một số dịch bệnh phát sinh cục bộ nhưng được kiểm soát hiệu quả, không để lây lan trên diện rộng. Lĩnh vực thủy sản tiếp tục duy trì đà phát triển ổn định cả về nuôi trồng và khai thác.* Trồng trọt: Cây lương thực có hạt: diện tích gieo trồng tính đến ngày 20/03/2026 ước đạt 290.137 ha, giảm 13,4% so cùng kỳ; sản lượng thu hoạch ước đạt 945.442 tấn, giảm 42,8% so cùng kỳ. Trong đó cây lúa gieo sạ 287.261 ha, giảm 13,6% so cùng kỳ; sản lượng thu hoạch ước đạt 933.343 tấn, giảm 43,5% cụ thể:- Cây lúa:+ Vụ Đông xuân 2025 – 2026: diện tích gieo trồng ước tính 223.449 ha, đạt 98,4% kế hoạch và giảm 2,7% so cùng kỳ, tương ứng giảm 6.230 ha do không sản xuất 4.023 ha, chuyển đổi sang cây lâu năm 1.594 ha, cây hàng năm khác 533 ha, nuôi trồng thủy sản 55 ha, đất phi nông nghiệp là 25 ha. Lúa Đông xuân 2025-2026 đã thu hoạch 128.737 ha, chiếm 57,6% diện tích gieo trồng của vụ; Năng suất thu hoạch bình quân ước đạt 72,5 tạ/ha, tăng 0,8% so cùng kỳ với sản lượng thu hoạch ước đạt 933.343 tấn.+ Vụ Hè thu năm 2026: tính đến ngày 20/3/2026, ước tính gieo sạ được 63.811 ha, đạt 28,2% so với kế hoạch, giảm 38% so với cùng kỳ. Hiện nay, lúa đang trong giai đoạn mạ, đẻ nhánh và làm đòng.Hình 1. Diện tích gieo trồng một số cây hàng năm tính đến 20/3/2026- Cây ngô: diện tích gieo trồng tính đến ngày 20/3/2026 ước đạt 2.877 ha, đạt 39% so với kế hoạch, tăng 12,4% so cùng kỳ. Sản lượng thu hoạch ước đạt 12.109 tấn, đạt 23,2% so với kế hoạch, tăng 8,8% so với cùng kỳ.Cây rau đậu các loại: diện tích gieo trồng tính đến 20/3/2026 ước đạt 21.843 ha, giảm 20,3% so cùng kỳ; trong đó: rau các loại 21.678 ha, giảm 20,4% so cùng kỳ. Sản lượng thu hoạch ước đạt 357.190 tấn, tăng 5,0% so cùng kỳ; trong đó: rau các loại ước đạt 346.924 tấn, tăng 5,0% so cùng kỳ.*Chăn nuôi: ước thời điểm 31/3/2026 tổng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh như sau: đàn trâu 2,0 nghìn con, giảm 4,9% so cùng kỳ; đàn bò 146,2 nghìn con, giảm 2,4%; đàn lợn 402,3 nghìn con, giảm 0,4%; đàn gia cầm 23 triệu con, giảm 1,5%. Đàn trâu tiếp tục giảm do hiệu quả kinh tế thấp, chi phí tăng và diện tích chăn thả thu hẹp. Chăn nuôi bò gặp nhiều khó khăn do giá cả bấp bênh, chi phí cao, quy mô nhỏ lẻ, sức cạnh tranh thấp. Chăn nuôi lợn cơ bản ổn định, duy trì sản xuất tốt tại các doanh nghiệp và trang trại quy mô lớn nhờ kiểm soát dịch bệnh hiệu quả. Đàn gia cầm giảm nhưng vẫn phát triển ổn định, sản lượng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, nhờ kiểm soát tốt dịch bệnh và nhu cầu tiêu dùng tăng cao, các cơ sở chăn nuôi đã chủ động triển khai công tác tái đàn thận trọng, gắn với kiểm soát con giống, tiêm phòng và áp dụng chăn nuôi an toàn sinh học.Hình 2. Chăn nuôi tại thời điểm 31/3/2026Trong quý, giá heo thịt hơi các loại cao hơn cùng kỳ 10-16%, giá bò thịt ổn định so với cùng kỳ; giá gia cầm thịt (giá gà tre, gà nòi, gà công nghiệp thịt hơi) giảm 5 - 15% so với cùng kỳ; giá trứng gà ác tăng 20 - 25% so với cùng kỳ, giá trứng gà công nghiệp, trứng vịt ổn định.b. Lâm nghiệp:Diện tích rừng trồng mới tập trung: trong tháng có 65 ha rừng được trồng mới tập trung, tăng 0,3% tương đương tăng 17,1 ha so với cùng kỳ. Ước tính quý I, có 81,9 ha rừng được trồng mới tập trung, tăng 1,1% tương đương tăng 0,9 ha so với cùng kỳ.Cây phân tán: trong quý I, toàn tỉnh thực hiện trồng mới ước đạt 90 ngàn cây phân tán các loại, giảm 5,5% so cùng kỳ do quỹ đất dành cho trồng cây phân tán bị thu hẹp (quá trình đô thị hóa, xây dựng cơ sở hạ tầng, và việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất...). Cây phân tán được trồng tại các khu dân cư, trường học, bệnh viện, khu công nghiệp, đô thị, đường giao thông, bờ sông, kênh mương… nhằm tạo cảnh quan, góp phần giảm ô nhiễm và xây dựng không gian sống xanh.Sản lượng gỗ khai thác: trong tháng sản lượng gỗ khai thác toàn tỉnh ước đạt 7.870 m3, giảm 13,8% so với cùng kỳ. Ước tính quý I khai thác gỗ đạt 32.300 m3, tăng 1,2% so với cùng kỳ.c. Thủy hải sản: Diện tích thả nuôi thâm canh trong quý I năm 2026 ước đạt 4.587 ha, tăng 1,5% so cùng kỳ; trong đó diện tích nuôi cá 1.033 (tăng 0,3%), tôm sú 2.130 ha (tăng 1,5%), tôm thẻ chân trắng 1.425 ha (tăng 1,6%).Tổng sản lượng thủy sản trong quý I ước đạt 223.451 tấn, tăng 0,3% so cùng kỳ; trong đó: sản lượng thu hoạch từ nuôi 189.552 tấn, tăng 0,5%; sản lượng khai thác 33.899 tấn, giảm 0,8%. Sản lượng nuôi trồng tăng do do thời tiết thuận lợi, thủy sản bệnh ít, năng suất cao; sản lượng khai thác biển giảm so cùng kỳ nguyên nhân chủ yếu tháng 1, 2 tàu bám biển khai thác, từ tháng 3 tàu vào bờ tạm nghỉ kết hợp sửa chữa nhỏ, giá xăng, dầu có xu hướng tăng dẫn đến tàu nằm bờ thêm khoảng 25-30%.6. Sản xuất công nghiệp: Chỉ số sản xuất công nghiệp quý I/2026 tăng 10,5% so với cùng kỳ, các ngành chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh tiếp tục sản xuất ổn định và tăng so cùng kỳ. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,51% (tập trung ở một số ngành cấp II chủ yếu sau: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 15,3%; dệt tăng 10,13%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 20,44%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 44,25%; sản xuất kim loại tăng 12,07%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 30,38%); ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 0,68%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,78%.Tình hình sản xuất các sản phẩm công nghiệp quý I/2026 như sau:- Có 60/112 sản phẩm tăng so cùng kỳ: phi lê đông lạnh tăng 20,7%; bột mịn, bột thô và bột viên từ cá tăng 33,9%; quả và hạt ướp lạnh tăng 26,5%; thức ăn cho gia súc tăng 14,3%; thức ăn cho gia cầm tăng 56,6%; thức ăn cho thủy sản tăng 10,5%; bia đóng lon tăng 19%; bao và túi từ plastic khác tăng 54,9%; thùng chứa, bể và các loại tương tự dung tích trên 300 lít bằng plastic tăng 92,5%; bê tông trộn sẵn tăng 4,4%; ống và ống dẫn bằng đồng tăng 23,6%; bóng thể thao khác tăng 24,3%; điện gió tăng 2,7%; điện mặt trời tăng 24,4%;…- Có 50/112 sản phẩm giảm so cùng kỳ: cát đen giảm 57,6%; gạo đã xát toàn bộ hoặc sơ bộ giảm 1,0%; miến, hủ tiếu, bánh đa khô và các loại tương tự giảm 3,8%; bia đóng chai giảm 20,0%; thuốc lá có đầu lọc giảm 42,5%; áo quần các loại giảm 5,4%; túi xách giảm 28,4%; giày dép và các bộ phận của giày dép giảm 11%; …Hình 3. Chỉ số sản xuất công nghiệp Quý I năm 2026* Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Chỉ số tiêu thụ tháng 3/2026 so với tháng trước tăng 7,43%, so với cùng kỳ tăng 0,14%; chỉ số tồn kho so với tháng trước tăng 10,58%, so với cùng kỳ tăng mạnh 38,62%. Cụ thể tình hình tiêu thụ và tồn kho một số ngành cấp II trong tháng 3/2026 so với cùng kỳ như sau:- Nhóm có nhu cầu tiêu thụ tăng, lượng tồn kho giảm gồm:+ Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị): tiêu thụ tăng 7,04%, tồn kho giảm mạnh 46,83%.+ Sản xuất thiết bị điện: tiêu thụ tăng trưởng đột biến (tăng 227,65%), tồn kho giảm 13,88% (do tình hình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm dây cáp điện của Công ty TNHH Nissei Electric Mỹ Tho tăng cao).- Nhóm có chỉ số tiêu thụ và tồn kho tăng (do nhu cầu tiêu thụ tăng, doanh nghiệp tăng tồn kho để chủ động nguồn cung):+ Sản xuất chế biến thực phẩm: tiêu thụ tăng 0,74%, tồn kho tăng 47,35%.+ Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic: tiêu thụ tăng mạnh 48,99%, tồn kho tăng nhẹ 0,8% (Công ty TNHH Lốp Advance Việt Nam đã đi vào sản xuất ổn định và mở rộng dây chuyền);+ Sản xuất kim loại: tiêu thụ tăng 3,75%, tồn kho tăng 6,54%.- Nhóm có chỉ số tiêu thụ giảm nhưng tồn kho tăng (do thị trường xuất khẩu và tiêu thụ nội địa gặp khó khăn):+ Sản xuất sản phẩm thuốc lá: tiêu thụ giảm mạnh 34,96%, tồn kho cũng tăng mạnh 118,35%.+ Dệt: tiêu thụ giảm 43,54%, tồn kho tăng cao 86,09%.+ Sản xuất trang phục: tiêu thụ giảm 37,23%, tồn kho tăng 42,03%.+ Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan: tiêu thụ giảm 21,74%, tồn kho tăng 13,04%.+ Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa: tiêu thụ giảm sâu 57,05%, tồn kho tăng 10,62%.+ Sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất: tiêu thụ giảm 12,14%, tồn kho tăng 25,31%.+ Sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu: tiêu thụ giảm nhẹ 0,95%, tồn kho tăng 50,75%.- Nhóm có chỉ số tiêu thụ và tồn kho giảm:+ Sản xuất đồ uống: tiêu thụ giảm 4,74%, tồn kho giảm mạnh 90,17%.+ Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy: tiêu thụ giảm 28,57% và tồn kho giảm 58,88%.7. Thương mại, dịch vụ:a. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng:Hoạt động kinh doanh trên địa bàn tỉnh trong quý I năm 2026 diễn ra ổn định và tăng hơn so cùng kỳ, lượng hàng hóa dồi dào, các đơn vị kinh doanh chủ động dự trữ hàng hóa để phục vụ nhu cầu mua sắm của người dân trong các dịp lễ, Tết. Nắm bắt nhu cầu, sức mua của người tiêu dùng tăng mạnh vào các dịp lễ, nhiều hệ thống siêu thị và trung tâm thương mại đã tổ chức các chương trình khuyến mãi, giảm giá lớn nhằm tăng doanh số bán hàng cũng như phục vụ người tiêu dùng trong đợt nghỉ dài ngày.Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng quý I/2025 thực hiện 42.974 tỷ đồng, đạt 14,8% kế hoạch, tăng 12% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 31.353 tỷ đồng, tăng 12,4%; lưu trú 171 tỷ đồng, tăng 16,6%; ăn uống 5837 tỷ đồng, tăng 14,4%; du lịch lữ hành 109 tỷ đồng, tăng 49,2%; dịch vụ tiêu dùng khác 5.503 tỷ đồng, tăng 6,6% so cùng kỳ.Hình 4. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùngTình hình hàng hóa phục vụ Tết Nguyên đán Bính Ngọ: Quý I là thời điểm Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026 nên Tỉnh tập trung triển khai các giải pháp của Chỉ thị số 18/CT-BCT ngày 25/11/2025 của Bộ Công Thương về thực hiện các giải pháp bảo đảm cân đối cung cầu, bình ổn thị trường cuối năm 2025 và dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026; Kế hoạch số 68/KH-UBND ngày 21/01/2026 về dự trữ, cung ứng hàng hóa thiết yếu phục vụ Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp. Số lượng đơn vị phân phối đăng ký dự trữ, cung ứng hàng hóa trên địa bàn tỉnh có 20 doanh nghiệp, hợp tác xã và 02 chợ (7 hộ kinh doanh tại chợ) đăng ký dự trữ, cung ứng hàng hoá với tổng trị giá vốn là 604 tỷ đồng, trong đó hàng hóa thiết yếu là 228 tỷ đồng; 29 điểm thực hiện bán hàng bình ổn của 19 doanh nghiệp/hợp tác xã phân phối và hệ thống các siêu thị Co.opmart trên địa bàn tỉnh đã tổ chức thành công 10 chuyến hàng đưa hàng Việt về nông thôn tại 09 địa bàn xã/phường. Các doanh nghiệp, địa phương đã tổ chức triển khai phương án dự trữ hàng hóa thiết yếu; chủ động, thường xuyên nắm bắt tình hình cung ứng hàng hóa tại các đơn vị phân phối, bán lẻ trên địa bàn để kịp thời đánh giá khả năng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân, theo dõi diễn biến thị trường, phối hợp điều tiết nguồn hàng khi cần thiết, góp phần bảo đảm cân đối cung - cầu và ổn định giá cả trong dịp Tết.b. Xuất - Nhập khẩu: (Theo báo cáo Sở Công Thương)Hoạt động xuất khẩu của trên địa bàn tỉnh tiếp tục được duy trì nhưng do bối cảnh thế giới biến động phức tạp, khó lường, với nhiều rủi ro, thách thức như: chi phí logistics tăng cao; chiến sự tại Trung Đông…. đã ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu của doanh nghiệp. Để chủ động thích ứng linh hoạt, kịp thời, phù hợp, hiệu quả với tình hình thế giới, khu vực, đồng thời thúc đẩy hơn nữa hoạt động xuất khẩu góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2026. Các địa phương đã chủ động triển khai đồng loạt các giải pháp, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp trong hoạt động xuất nhập khẩu.a. Xuất khẩu:Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa quý I ước đạt 2.250 triệu USD, đạt 22,5 kế hoạch và tăng 11,9% so cùng kỳ.Ước tính một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của tỉnh trong quý I như sau:- Gạo: Sản lượng thực hiện được 415 ngàn tấn, đạt 17,7% kế hoạch và giảm 32,1% so cùng kỳ. Giá trị xuất khẩu ước đạt 200 triệu USD, đạt 17% kế hoạch và giảm 36,3% so với cùng kỳ, xuất khẩu gạo giảm do thị trường Philippines hạn chế cấp giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật (SPS), ảnh hưởng tiến độ ký kết và giao hàng. Ngoài ra chi phí logistics tăng và rủi ro vận chuyển do biến động địa chính trị tại Trung Đông cũng gây áp lực cho doanh nghiệp.- Thuỷ sản chế biến: Sản lượng thực hiện được 114 ngàn tấn, đạt 21,8% kế hoạch và tăng 4,7% so cùng kỳ. Giá trị xuất khẩu ước đạt 280 triệu USD, đạt 23,3% kế hoạch và tăng 6,45% so với cùng kỳ. Mặt hàng thủy sản xuất khẩu chủ yếu là sản phẩm từ cá tra (chiếm 81,3%), còn lại là các thủy sản khác như nghêu, sò, mực, ếch, thủy sản đóng hộp, chả cá…- Hàng rau quả: Sản lượng thực hiện được 23 ngàn tấn, đạt 19,5% kế hoạch và tăng 96,6% so cùng kỳ. Giá trị xuất khẩu ước đạt 45 triệu USD, đạt 14,1% kế hoạch và tăng 1,1 lần so cùng kỳ. Xuất khẩu rau quả tăng mạnh chủ yếu nhờ mặt hàng sầu riêng phục hồi tích cực.- Sản phẩm công nghiệp: nhóm hàng công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong xuất khẩu của tỉnh đến cuối tháng 3/2026, như: kim loại thường khác và sản phẩm (kể cả đồng) ước đạt 470 triệu USD, đạt 30,3% kế hoạch và tăng 16,5%; sản phẩm ngành may ước đạt 169 triệu USD, đạt 16,9% kế hoạch và tương đương cùng kỳ; giày dép các loại ước đạt 200 triệu USD, đạt 19,61% kế hoạch và bằng 83,9%; Sắt thép và sản phẩm từ sắt thép ước đạt 90 triệu USD, đạt 20% kế hoạch và bằng 66,2%;...b. Nhập khẩu:Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa quý I năm 2026 ước đạt 1.400 triệu USD, đạt 28% kế hoạch và tăng 0,9% so với cùng kỳ.Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu trong tổng kim ngạch nhập khẩu của tỉnh quý I năm 2025 như: kim loại thường khác (nguyên liệu đồng) ước đạt 400 triệu USD, tăng 1,27%; sắt thép các loại ước đạt 135 triệu USD, bằng 95,7%; nguyên phụ liệu dệt may, da giày, túi xách ước đạt 150 triệu USD, tăng 3%; chất dẻo nguyên liệu ước đạt 70 triệu USD, tăng 5,3% so cùng kỳ;…c. Vận tải:Với những giải pháp và quyết tâm, phát triển hạ tầng giao thông trên địa bàn tỉnh; các Sở, Ban ngành đã tập trung nhiều nguồn lực đầu tư, phát triển hạ tầng giao thông, triển khai công trình trọng điểm, nhất là việc cải tạo, nâng cấp, xây dựng các tuyến đường liên kết vùng…tạo đà phát triển kinh tế - xã hội. Các tuyến xe cố định trên địa bàn tỉnh tiếp tục được duy trì thông thoáng, đặc biệt các chủ cơ sở kinh doanh vận tải tự giác chấp hành tốt nội qui bến bãi, đã tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân đi lại và vận chuyển hàng hoá đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh...Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải quý I/2026 thực hiện 2.195 tỷ đồng, tăng 17,1% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 794 tỷ đồng, tăng 30,7%; vận tải hàng hóa thực hiện 1.052 tỷ đồng, tăng 13,1% so cùng kỳ. Vận tải đường bộ thực hiện 1.102 tỷ đồng, tăng 24,8%; vận tải đường thủy thực hiện 745 tỷ đồng, tăng 13,7%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 185 tỷ đồng, giảm 5% so cùng kỳ. Trong quý I năm 2026 trên địa bàng tỉnh phát sinh nhà xe Danh Lợi Lộc đi vào hoạt động chạy tuyến chợ gạo Thành phố Hồ Chí Minh, góp phần làm cho doanh thu vận tải hành khách trên địa bàn tỉnh tăng.Vận chuyển hành khách đạt 21.162 ngàn hành khách, tăng 22% so cùng kỳ và luân chuyển được 841.838 ngàn hành khách.km, tăng 43,5% so cùng kỳ; trong đó: vận chuyển đường bộ 8.569 ngàn hành khách, tăng 53,1% và luân chuyển 835.504 ngàn hành khách.km, tăng 43,8% so cùng kỳ; vận chuyển đường thủy 12.593 ngàn hành khách.km, tăng 7,2% và luân chuyển đường thủy 6.334 ngàn hành khách.km tăng 11% so cùng kỳ.Vận tải hàng hóa đạt 8.094 ngàn tấn, tăng 18,6% và luân chuyển được 1.444.487 ngàn tấn.km, tăng 17,8% so cùng kỳ; trong đó: vận chuyển đường bộ thực hiện1.378 ngàn tấn,giảm 15% và luân chuyển được 233.025 ngàn tấn.km, tăng 3% so cùng kỳ; vận tải đường thủy thực hiện 6.716 ngàn tấn, tăng 29,1% và luân chuyển được 1.211.462 ngàn tấn.km, tăng 21,1% so cùng kỳ.* Phương tiện giao thông: Trong tháng đăng ký mới 1.097 chiếc mô tô xe máy và 114 chiếc xe ô tô. Tổng số xe đang quản lý trên địa bàn tỉnh là 3.637.617 chiếc, trong đó mô tô xe máy: 3.479.694 chiếc, 154.716 xe ô tô, 169 xe ba bánh, 666 xe đạp điện và 3.372 xe khác.d. Bưu chính - Viễn thông:Các doanh nghiệp bưu chính, viễn thông trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì trên đà phát triển ổn định, không ngừng đầu tư nâng cấp phát triển mạng lưới, cung cấp nhiều loại hình dịch vụ phong phú, đa dạng để duy trì tốc độ phát triển, đáp ứng nhu cầu sử dụng của khách hàng.Tổng số thuê bao điện thoại có trên mạng ước đến cuối tháng 02 năm 2026 là 3.703.848 thuê bao (chỉ tính hữu tuyến, vô tuyến, trả trước, trả sau). Thuê bao điện thoại bình quân đạt 107,36 thuê bao/100 dân. Số thuê bao điện thoại di động có sử dụng Internet (3G, 4G) đến cuối tháng 02 là: 2.568.968 thuê bao.Tổng số thuê bao Internet trên mạng (bao gồm: băng rộng di động 3G, 4G; MyTV và Cáp; băng rộng cố định FTTH, xDSL, Leased-line, CATV) ước tính đến cuối tháng 02 năm 2026 là 3.654.389 thuê bao. Mật độ Internet bình quân ước đạt 108,82 thuê bao/100 dân.II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI1. Lao động, giải quyết việc làm:a. Tư vấn và giới thiệu việc làm:Trong quý, toàn tỉnh đã giải quyết việc làm cho 7.256 lao động, đạt 14,5% so với kế hoạch. tổ chức 28 cuộc tư vấn tuyển dụng cho người lao động hưởng bảo hiểm thất nghiệp với 34 doanh nghiệp tham gia, tư vấn cho 12.542 người, 9.028 người phỏng vấn và trên 1.300 người được kết nối.Lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài trong quý là 688 lao động, đạt 31,3% so với kế hoạch, trong đó Nhật Bản: 400 người, Đài Loan: 124 người, Hàn Quốc: 116 người....Về trợ cấp thất nghiệp, trong quý có 3.771 lao động đăng ký hưởng trợ cấp; Có 4.456 lao động được giải quyết chế độ trợ cấp thất nghiệp, với tổng kinh phí chi trả trên 93,7 tỷ đồng, góp phần hỗ trợ kịp thời đời sống, giúp người lao động ổn định trong giai đoạn tìm kiếm việc làm mới.b. Tình hình thiếu việc làm, thất nghiệp:Theo kết quả sơ bộ cuộc điều tra lao động việc làm quý I năm 2026, tình hình lao động thiếu việc làm và thất nghiệp như sau:Trong quý I/2026, tỷ lệ lao động thiếu việc làm toàn tỉnh là 3,27%, tăng 0,34 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,72 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2025 (3,99%). Xét theo khu vực, tỷ lệ thiếu việc làm khu vực nông thôn là 2,54%, tăng 0,54 điểm phần trăm so quý trước và giảm 1,46 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước (4,00%). Khu vực thành thị có tỷ lệ thiếu việc làm là 5,33%, tăng 1,47 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,78 điểm phần trăm so cùng kỳ năm trước (4,55%). Đáng chú ý, lao động thiếu việc làm tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn, chiếm 57,39% tổng số lao động thiếu việc làm toàn tỉnh.Tỷ lệ thất nghiệp quý I/2026 là 0,9%, tăng 0,25 điểm phần trăm so quý trước và giảm 0,09 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2025 (0,99%). Xét theo khu vực, khu vực thành thị có tỷ lệ thất nghiệp là 1,08%, giảm 0,19 điểm phần trăm so quý trước và giảm 0,51 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước (1,59%). Khu vực nông thôn có tỷ lệ thất nghiệp 0,84%, tăng 0,50 điểm phần trăm so quý trước và tăng 0,14 điểm phần trăm so với cùng kỳ (0,70%). Lao động thất nghiệp ở khu vực thành thị chiếm tỷ trọng 68,75% trong tổng số người thất nghiệp của tỉnh.2. Đời sống dân cư và an sinh xã hội: a. Đời sống dân cư:Mặc dù tình hình kinh tế, chính trị thế giới có nhiều biến động, trong nước bối cảnh sáp nhập, xây dựng chính quyền địa phương hai cấp nhưng các doanh nghiệp vẫn tiếp tục duy trì sản xuất kinh doanh có chiều hướng phát triển, duy trì trả lương đều đặn hàng tháng cho người lao động từ bằng và cao hơn mức lương tối thiểu vùng theo quy định của Chính phủ, không có tình trạng nợ lương người lao động.Trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026, nhiều doanh nghiệp đã có sự chủ động tích cực, quan tâm chăm lo Tết cho người lao động, chi trả đầy đủ tiền lương, mức tiền thưởng Tết, lương tháng 13 của người lao động năm 2026 cao hơn năm 2025, nhất là đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; các chế độ phúc lợi cũng được doanh nghiệp quan tâm hỗ trợ thông qua các phần quà, những chuyến xe về quê đón Tết,…mang ý nghĩa thiết thực, khích lệ tinh thần cho người lao động.Trong quý I năm 2026, đời sống dân cư trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp cơ bản ổn định. Tình hình xâm nhập mặn trên địa bàn Đồng Tháp trong những tháng đầu năm thấp hơn trung bình nhiều năm và thấp hơn so với năm 2025. Tỉnh đã chủ động ứng phó hạn mặn, triển khai nhiều giải pháp, nhằm đảm bảo phục vụ sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt cho người dân như kiểm tra, sửa chữa cống đập, đảm bảo ngăn mặn, nạo vét kênh rạch, khai thông dòng chảy, trục vớt lục bình, cỏ dại, đồng thời vận động người dân tăng cường trữ nước trong ao, mương, ruộng để phục vụ tưới tiêu, Công ty Cổ phần Nhà máy nước Đồng Tâm thường xuyên kiểm tra độ mặn, vận hành các trạm bơm và giếng khoan dự phòng để đảm bảo nguồn nước. Công ty TNHH MTV Cấp nước Tiền Giang đã triển khai bơm trữ nước vào các ao chứa, vận hành 16 giếng khoan dự phòng và mở 9 vòi nước công cộng cung cấp nước miễn phí cho người dân tại các khu vực khó khăn. Đặc biệt trong tháng 3 dưới sự tác động chiến sự ở Trung Đông giá xăng dầu tăng cao tác động đến rất nhiều ngành, đời sống người dân chịu tác động từ biến động giá nhiên liệu và một số mặt hàng thiết yếu, làm chi tiêu sinh hoạt và chi phí sản xuất có tăng cao. Bên cạnh đó, giá một số nông sản chủ lực, đặc biệt là lúa, vẫn ở mức không cao, lợi nhuận thấp, ảnh hưởng nhất định đến thu nhập và khả năng tái sản xuất của nông hộ.b. An sinh xã hội:Trong quý I, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh nhìn chung ổn định và phát triển, quốc phòng, an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, lĩnh vực an sinh xã hội tiếp tục được đảm bảo, doanh nghiệp sản xuất tăng khá, sản xuất nông nghiệp thuận lợi... Trong dịp Tết nguyên đán Bính Ngọ 2026 lãnh đạo tỉnh quan tâm thực hiện các giải pháp đảm bảo cân đối cung cầu, bình ổn thị trường, chỉ đạo dự trữ, cung ứng hàng hóa thiết yếu phục vụ Tết, đồng thời phối hợp chặt chẽ với DN, UBND cấp xã nắm bắt tình hình cung ứng hàng hóa và giá cả thị trường để có chỉ đạo sát sao, tỉnh có nhiều giải pháp trên các nhóm đối tượng khác nhau:- Trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026, các cấp, các ngành trong tỉnh đã tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho trên 127.837 lượt người có công với cách mạng và gia đình chính sách, với tổng kinh phí trên 53 tỷ đồng; trong đó quà của Chủ tịch nước 55.179 suất, trị giá gần 17 tỷ đồng, ngân sách xã, phường trên 36 tỷ đồng.- Tỉnh thành lập 15 đoàn do các đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy làm trưởng đoàn đến thăm, chúc Tết và tặng quà 50 hộ gia đình chính sách tiêu biểu, hoàn cảnh khó khăn, với tổng kinh phí 150 triệu đồng từ nguồn bảo đảm xã hội.- Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh tổ chức thăm, trao quà cho 107 hộ có nhà bị sập, đổ, cuốn trôi do thiên tai năm 2025 tại 14 xã, phường, kinh phí trên 01 tỷ đồng từ nguồn hỗ trợ của của Ban Vận động cứu trợ Trung ương. Ủy ban MTTQ cấp xã, phường vận động xây dựng 11 nhà Đại đoàn kết cho hộ nghèo (680 triệu đồng), hỗ trợ khám, chữa bệnh miễn phí cho 300 người nghèo và xây dựng 23 công trình dân sinh (cầu giao thông nông thôn, tuyến đường ánh sáng quan…) với tổng kinh phí trên 01 tỷ đồng. Đồng thời, hệ thống MTTQ các cấp đã vận động trao 235.774 phần quà Tết cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, gia đình chính sách và các đối tượng khó khăn, tổng trị giá trên 99 tỷ đồng, cơ bản bảo đảm 100% hộ nghèo, cận nghèo được nhận ít nhất 02 phần quà.- Nhằm tạo điều kiện cho các đối tượng chính sách và người dân vui Xuân, đón Tết, tỉnh thực hiện chi trả gộp 02 tháng trợ cấp (tháng 02 và 3/2026) cho người có công, bảo đảm kịp thời, đúng đối tượng; đồng thời tiếp tục đẩy mạnh chi trả qua tài khoản, không dùng tiền mặt tiếp tục được đẩy mạnh.- Tỉnh đã cấp miễn phí 1.046.038 thẻ bảo hiểm y tế (thẻ) cho các đối tượng, trong đó có 25.000 thẻ cho người dân tại 10 xã và 02 phường thuộc An toàn khu; tăng 40,93% so cùng kỳ.- Tỉnh đã hỗ trợ 249.496 người yếu thế bao gồm: 94.440 người khuyết tật, 20.121 người nghèo, 567 trẻ em có hoàn cảnh đặt biệt, 110.210 người cao tuổi, 114 người nhiễm HIV, 24.044 Người đơn thân, người có hoàn cảnh khó khăn và đối tượng khác.- Có 18.350 hộ với 56.942 nhân khẩu được hỗ trợ gạo với số lượng 418,8 tấn gạo.3. Hoạt động giáo dục: Trong quý I năm 2025, hoạt động giáo dục và đào tạo trên địa bàn tỉnh triển khai đúng theo kế hoạch đề ra, đảm bảo được chất lượng. Ngày 23/2 (mùng 7 tháng Giêng âm lịch), học sinh trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp chính thức trở lại trường sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026. Các cơ sở giáo dục trong tỉnh đã xây dựng kế hoạch đón học sinh trở lại trường, bảo đảm nếp dạy và học được duy trì ổn định, an toàn. Trong quý, tỉnh Đồng Tháp đã tổ chức khởi công xây dựng 4 trường phổ thông nội trú tại các xã biên giới đất liền; tổng số phòng học là 136 phòng, trong đó các trường: Trường PTNT liên cấp TH & THCS Thường Phước (50 lớp học), Trường PTNT liên cấp TH & THCS Tân Hồng (27 lớp học), Trường PTNT liên cấp TH&THCS Tân Hộ Cơ (32 lớp học), Trường PTNT liên cấp TH&THCS THCS Tân Thành (27 lớp học), góp phần củng cố cơ sở vật chất biên giới vững chắc. Bên cạnh đó, công tác bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi, chuyển đổi số trong quản lý chất lượng cũng được đẩy mạnh.4. Hoạt động y tế: Hoạt động y tế trên địa bàn tỉnh được đảm bảo, chăm sóc tốt sức khỏe nhân dân, cung ứng thuốc đầy đủ phục vụ cho hoạt động khám chữa bệnh. Cộng dồn đến tháng báo cáo, có 18/44 bệnh truyền nhiễm được ghi nhận. So với cùng kỳ về số mắc, có 11 bệnh tăng (Bệnh do liên cầu lợn ở người, Sốt xuất huyết Dengue, Viêm màng não do não mô cầu, Liệt mềm cấp nghi bại liệt, Thương hàn, Uốn ván khác, Viêm gan vi rút B, Viêm gan vi rút C); 07 bệnh giảm (Sởi, Tay - chân - miệng, Viêm não virus khác, Cúm, Lỵ trực trùng, Tiêu chảy, Viêm gan vi rút khác); 26 bệnh tương đương hoặc không xảy ra ca mắc.Các bệnh truyền nhiễm trong quý được ghi nhận như: bệnh sốt xuất huyết 1.237 ca mắc, tăng 175,5%, không ghi nhận tử vong; bệnh tay - chân - miệng 708 ca, giảm 60%, không ghi nhận tử vong.Phòng chống bệnh HIV/AIDS tính đến nay, toàn tỉnh có 16.029 người nhiễm, 5.051 người chuyển sang AIDS, tử vong do AIDS 3.923 người.Hoạt động khám chữa bệnh cộng dồn đến tháng tháng báo cáo: tổng số lần khám bệnh là 1,2 triệu lượt người, giảm 6,6% so cùng kỳ, tổng số người điều trị nội trú 75 nghìn lượt người, giảm 6,0%. Công suất sử dụng giường bệnh bình quân trong tháng đạt 68,7%.5. Hoạt động văn hóa - thể thao:Hoạt động văn hóa, nghệ thuật: trong quý, tỉnh tổ chức nhiều hoạt động mừng Đảng – mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026. Tổ chức Đường hoa Xuân và Lễ Khai mạc tại Quảng trường Hùng Vương (phường Đạo Thạnh) và đường Lý Thường Kiệt (phường Cao Lãnh). Hai Đường hoa Xuân diễn ra từ ngày 16 đến 21/02/2026 (nhằm 29 tháng Chạp năm Ất Tỵ đến Mùng 5 Tết năm Bính Ngọ), thu hút trên 41.500 lượt người tham quan, thưởng lãm, chụp ảnh lưu niệm. Toàn tỉnh có 08 địa phương tổ chức bắn pháo hoa mừng Xuân Bính Ngọ, gồm: phường Đạo Thạnh, phường Cao Lãnh, phường Sa Đéc, phường Hồng Ngự, phường Long Thuận, phường Mỹ Phước Tây, xã Chợ Gạo và xã Trường Xuân. Cùng với đó, Chương trình nghệ thuật chào năm mới 2026 được truyền hình trực tiếp trên sóng Truyền hình Đồng Tháp, kết hợp bắn pháo hoa đêm Giao thừa tại 04 điểm cầu (phường Đạo Thạnh – điểm cầu chính, phường Cao Lãnh, phường Sa Đéc, phường Hồng Ngự), thu hút khoảng 180.000 lượt người theo dõi.Hoạt động thư viện: trong quý, Thư viện Tỉnh triển lãm Hội Báo Xuân trực tuyến Bính Ngọ năm 2026 với hơn 280 ấn phẩm xuân của các bộ, ban, ngành Trung ương, Báo chí các tỉnh, thành phố trên cả nước. Giới thiệu sách trực tuyến: các ấn phẩm Báo Xuân Bính Ngọ các tỉnh, thành phố; sách về Đảng Cộng sản Việt Nam, sách về Tết Nguyên đán trên các trang thông tin điện tử của Thư viện từ ngày 07 - 21/02/2026. Tổ chức phục vụ trên 174,5 nghìn lượt người, với trên 47,8 nghìn lượt tài liệu, giảm 37% so với cùng kỳ; trên 1 triệu lượt truy cập trên các kênh thông tin của Thư viện tỉnh.Hoạt động bảo tàng: trong quý, trưng bày chuyên đề “Sắc sen” tại Bảo tàng cơ sở 1 (phường Mỹ Tho) số lượng 50 ảnh; trưng bày “Ảnh đẹp Đồng Tháp” tại Quảng trường Hùng Vương số lượng 34 ảnh. Triển lãm ảnh Chủ đề “Cao Lãnh xưa” tại Bảo tàng cơ sở 2 (phường Cao Lãnh) số lượng 30 ảnh và 01 pano; trưng bày: Hiện vật “Đồ dùng sinh hoạt gia đình”; tranh về sen và mô hình thu nhỏ một số di tích trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp; ảnh Đồng Tháp đất và người.Hoạt động Thể dục - Thể thao: trong quý, tham dự 14 giải quốc tế, quốc gia, khu vực, đạt tổng cộng 59 huy chương các loại, gồm: 11 huy chương vàng, 20 huy chương bạc, 28 huy chương đồng.6. Tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội (theo báo cáo của Ngành công an):Tình hình trật tự xã hội trên địa bàn tỉnh trong quý cơ bản được đảm bảo. Trong quý xảy ra 259 vụ, giảm 16,5% so với cùng kỳ và giảm 20,3% so với quý trước, làm chết 15 người, bị thương 86 người, tài sản thiệt hại khoảng 18,2 tỷ đồng; điều tra khám phá 232 vụ (đạt 89,6%), bắt, xử lý 510 đối tượng, thu hồi tài sản khoảng 2,7 tỷ đồng.Tội phạm và vi phạm pháp luật về ma túy trong quý: phát hiện, xử lý 259 vụ với 379 đối tượng; trong đó, tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy: 82 vụ với 103 đối tượng...7. Trật tự an toàn giao thông (theo báo cáo ngành công an tỉnh, số liệu tính từ ngày 15/12/2025 đến 14/3/2026):Tai nạn giao thông đường bộ: trong quý, xảy ra 49 vụ, giảm 12 vụ so tháng trước và tăng 10 vụ so cùng kỳ. Hậu quả làm chết 34 người (giảm 18 người so tháng trước, tăng 13 người so cùng kỳ) và 24 người bị thương (tăng 02 người so tháng trước, giảm 06 người so cùng kỳ). Trong quý, toàn tỉnh đã xảy ra 145 vụ, giảm 32 vụ so với cùng kỳ; làm chết 112 người (tăng 01 người) và làm bị thương 61 người (giảm 35 người). Các nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông chủ yếu vẫn do ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông như: không đi đúng phần đường, làn đường; không nhường đường, lỗi của người đi bộ, vượt đèn đỏ, thiếu quan sát…Tai nạn giao thông đường thủy: trong quý, xảy ra 02 vụ làm chết 01 người, tăng 01 vụ và tương đương số người chết so với cùng kỳ.8. Tình hình cháy nổ, môi trường và thiên tai:Cháy, nổ: xảy ra 15 vụ cháy, tăng 10 vụ so cùng kỳ, làm 02 người chết, thiệt hại trị giá trên 3,2 tỷ đồng.Môi trường: trong quý, trên địa bàn tỉnh xảy ra 03 vụ vi phạm môi trường, giảm 06 vụ so cùng kỳ; 05 vụ đã được xử lý với tổng số tiền đã xử phạt khoảng 768,5 triệu đồng.Thiên tai: trong quý, trên địa bàn tỉnh xảy ra 01 vụ sạt lở sông Tiền (tháng 02/2026), địa điểm sạt lở: tại tổ 01, ấp An Hòa 2, xã Phú Hựu với chiều dài sạt lở khoảng 54 m, ăn sâu vào đất liền khoảng 38m, mất khoảng 2.052 m2 đất. Hiện ảnh hưởng trực tiếp 01 hộ dân (chính quyền và người dân đã hỗ trợ tháo dỡ nhà và di dời tài sản của Hộ đến nơi ở an toàn) và nguy cơ ảnh hưởng của 03 hộ dân còn lại gần khu vực sạt lở, cụ thể khoảng cách mép sạt lở đến nhà hộ dân gần nhất khoảng 60m. Đa số tài sản của các Hộ dân trên đã được di chuyển đến nhà người thân và đều được an toàn.

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Tháp tháng 02 năm 2026
  •   06/03/2026 16:22

Trong tháng, Tỉnh ủy, UBND tỉnh tổ chức triển khai kế hoạch và giao nhiệm vụ cụ thể cho từng ngành, từng địa phương; tăng cường các biện pháp nhằm bình ổn giá cả thị trường, kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho các đối tượng chính sách và nhân dân vui xuân đón Tết vui tươi, lành mạnh, an toàn, tiết kiệm và đảm bảo trật tự an toàn xã hội; chủ động nguồn hàng hóa phục vụ nhu cầu Tết của nhân dân. Các hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh diễn ra khá sôi nổi, các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội được thực hiện trong điều kiện kinh tế tiếp tục phục hồi và phát triển. Kết quả thực hiện ở các lĩnh vực cụ thể như sau:I. SẢN XUẤT NÔNG LÂM NGHIỆP VÀ THỦY SẢNTrong tháng, kỳ triều cường cuối tháng Chạp âm lịch (16–19/02/2026) làm độ mặn trên sông Tiền tăng trở lại; dự báo ranh mặn 1,0 g/l xâm nhập đến khu vực cống Xuân Hòa (cách cửa sông 42 km), sau đó tiếp tục gia tăng đến cuối tháng 02/2026, xâm nhập đến Cảng Du thuyền, phường Mỹ Tho (cách cửa sông 48 km) và xâm nhập sâu vào nội đồng. Trong mùa khô năm 2026, độ mặn 1,0 g/l có khả năng xâm nhập sâu nhất từ 50-55 km (khu vực cầu Bình Đức đến Nhà máy nước Đồng Tâm) vào nữa cuối tháng 3/2026. Trước diễn biến xâm nhập mặn trong mùa khô năm 2026, tỉnh đã chủ động xây dựng và triển khai kế hoạch, phương án phòng, chống hạn mặn từ sớm, từ xa, bảo đảm nguồn nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt của Nhân dân. Sản xuất nông nghiệp trong tháng duy trì ổn định, cây trồng sinh trưởng tốt; sâu, bệnh hại xuất hiện ở mức thấp đến trung bình nhờ công tác dự báo và hướng dẫn phòng trừ kịp thời. Thị trường tiêu thụ nông sản tương đối thuận lợi, nguồn cung dồi dào. Chăn nuôi cơ bản ổn định, một số dịch bệnh phát sinh cục bộ nhưng được kiểm soát chặt chẽ, không để lây lan diện rộng. Hoạt động nuôi trồng và khai thác thủy sản tiếp tục duy trì, phát triển ổn định.1. Nông nghiệpCây lương thực có hạt: diện tích gieo trồng từ đầu vụ tính đến ngày 20/02/2026 ước đạt 259.828 ha, tăng 0,9% so cùng kỳ, tương ứng tăng 2.276 ha; trong đó: cây lúa gieo sạ ước đạt 257.456 ha, tăng 0,9%.- Cây lúa:+ Vụ Đông xuân 2025 – 2026: diện tích gieo trồng ước đạt 221.116 ha, đạt 97,4% kế hoạch và giảm 0,3% so cùng kỳ (tương ứng giảm 573 ha). Diện tích thu hoạch 81.659 ha.+ Vụ Hè thu: tính đến ngày 20/02/2026, diện tích gieo trồng ước đạt 36.340 ha, đạt 16% kế hoạch, tăng 8,8% so cùng kỳ.- Cây ngô: diện tích gieo trồng đến ngày 20/02/2026 ước đạt 2.372 ha, đạt 32,3% kế hoạch giảm 3,7% (tương ứng giảm 91,5 ha).Cây rau đậu các loại: tính đến 20/02/2026, diện tích gieo trồng ước đạt 26.454 ha, giảm 8,1% so cùng kỳ; trong đó: diện tích gieo trồng rau các loại ước đạt 26.268 ha, giảm 8,1% so cùng kỳ.Hình 1. Diện tích gieo trồng một số cây hàng năm tính đến 20/02/2026Trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026, nông dân đã trồng trên 2,7 triệu chậu hoa, kiểng các loại, tăng 15-20% so cùng kỳ; hoa sinh trưởng tốt, nở đẹp, đáp ứng nhu cầu của người dân. Sản lượng cây ăn quả phục vụ Tết năm nay đạt trên 183 nghìn tấn như: xoài 35,7 nghìn tấn, thanh long 32,3 nghìn tấn, khóm 28,8 nghìn tấn, bưởi 12,1 nghìn tấn, sapo 9,6 nghìn tấn, nhãn 5,5 nghìn tấn, đu đủ 3,4 nghìn tấn, quýt hồng 4,8 nghìn tấn, quýt đường 3,5 nghìn tấn, cam xoàn 3,1 nghìn tấn,... cùng với sản lượng hoa, kiểng dồi dào, cơ bản bảo đảm nguồn cung phục vụ thị trường Tết. Nhìn chung, các sản phẩm trồng trọt phục vụ Tết đều được tiêu thụ thuận lợi, nhiều mặt hàng hút hàng vào những ngày giáp Tết.Chăn nuôi: ước tổng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh tại thời điểm 28/02/2026 như sau: đàn trâu 2.100, giảm 26,8%; đàn bò 149,2 nghìn con, giảm 1,7% so cùng kỳ; đàn lợn 460,9 nghìn con, tăng 1,1%; đàn gia cầm 22,9 triệu con, giảm 2,1%. Đàn trâu giảm chủ yếu do hiệu quả kinh tế chăn nuôi thấp, thời gian nuôi kéo dài và diện tích chăn thả ngày càng thu hẹp. Đàn bò giảm do chi phí chăn nuôi còn ở mức cao, nguồn thức ăn tự nhiên suy giảm trong khi hiệu quả kinh tế chưa được cải thiện rõ rệt. Ngược lại, đàn lợn tăng nhờ công tác kiểm soát dịch bệnh được thực hiện chặt chẽ, đẩy mạnh tiêm phòng, vệ sinh và tiêu độc khử trùng chuồng trại, tạo điều kiện thuận lợi cho tái đàn an toàn. Đàn gia cầm giảm do chi phí chăn nuôi cao, hiệu quả kinh tế chưa ổn định, làm người chăn nuôi, nhất là các hộ nhỏ lẻ, thận trọng trong việc tái đàn.Hình 2. Chăn nuôi tại thời điểm 28/02/2026*Tình hình dịch bệnh trên vật nuôi trong tháng (theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đồng Tháp):Bệnh viêm da nổi cục: trong tháng xảy ra 02 hộ tại xã Lương Hòa Lạc với 03 con bò có dấu hiệu bệnh (tổng đàn 07 con).Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: trong tháng phát sinh 08 trường hợp với số lợn bệnh 64 con (tổng đàn 194 con) tại 04 xã, (Tân Thới, Tân Phú Đông, Bình Ninh và Tân Hồng). Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh xảy ra 41 hộ có 644 con lợn bệnh (tổng đàn 1.196 con) tại 07 xã (Bình Ninh, Tân Thới, An Thạnh Thuỷ, Vĩnh Hựu, Thanh Hưng, Tân Hộ Cơ, Tân Phú Đông). Đã tiêu hủy 1.177 con lợn bệnh (khối lượng 44.892 kg).2. Lâm nghiệp: Diện tích rừng trồng mới tập trung: trong tháng có 8,6 ha rừng được trồng mới tập trung, tăng 4,27% tương đương tăng 0,35 ha so với cùng kỳ. Cộng dồn đến tháng 02/2026 có 16,9 ha rừng được trồng mới tập trung, tăng 4,32% tương đương tăng 0,70 ha so với cùng kỳ.Cây phân tán: trong tháng, toàn tỉnh thực hiện trồng mới được 46 ngàn cây phân tán các loại, tăng 5,1% so cùng kỳ. Cây phân tán được trồng tại các khu dân cư, trường học, bệnh viện, khu công nghiệp, đô thị, đường giao thông, bờ sông, kênh mương… nhằm tạo cảnh quan, góp phần giảm ô nhiễm và xây dựng không gian sống xanh.Sản lượng gỗ khai thác: trong tháng sản lượng gỗ khai thác toàn tỉnh ước đạt 12.256 m3; tăng 8,2% so với cùng kỳ. Cộng dồn đến tháng 02/2026 ước tính có 24.430 m3 gỗ được khai thác, tăng 7,2% so với cùng kỳ.3. Thủy hải sản: Diện tích thả nuôi thâm canh trong tháng ước đạt 276 ha. Tổng diện tích thả nuôi thâm canh 02 tháng đầu năm 2026 ước đạt 3.012 ha, tăng 1,5% so cùng kỳ; trong đó diện tích nuôi cá tra 1.633 ha (tăng 4,6%), do giá xuất khẩu cá tra tương đối ổn định, tôm thẻ chân trắng 954 ha (giảm 3,5%)…Sản lượng thủy sản nuôi trong tháng ước đạt 127.765 tấn. Tính chung 02 tháng đầu năm 2026, thu hoạch ước đạt 160.446 tấn, tăng 4,6% so cùng kỳ, tương ứng tăng 7.091 tấn, trong đó: sản lượng cá đạt 147.006 tấn (tăng 4,9%); sản lượng tôm đạt 7.638 tấn (tăng 1,5%);…. Sản lượng tăng chủ yếu nhờ thời tiết thuận lợi, tình hình dịch bệnh được kiểm soát, giúp năng suất nuôi đạt cao.Sản lượng thủy sản khai thác biển trong tháng ước đạt 9.048 tấn. Tính chung 02 tháng đầu năm 2026, thu hoạch ước đạt 18.038 tấn, tăng 29,3% so cùng kỳ, tương ứng tăng 4.084 tấn, trong đó: cá đạt 12.396 tấn (tăng 42,2%); tôm đạt 487 tấn (tăng 42,5%);…. do thời tiết ổn định, ít chịu ảnh hưởng của bão và áp thấp nhiệt đới, thuận lợi cho tàu cá bám biển khai thác.II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆPHoạt động sản xuất công nghiệp tháng 02/2026 có mức giảm mạnh so tháng trước, do dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026 rơi trọn vào tháng 02, số ngày sản xuất thực tế thấp. Ước tính chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 02/2026 giảm 8,89% so với tháng trước. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm đến 9,66%; các nhóm ngành cấp I còn lại đều tăng nhưng mức tăng không đáng kể.So với cùng kỳ, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 02/2026 tăng 6,74%. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,01%, ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước, điều hoà không khí tăng 5,23%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý, xử lý rác thải, nước thải tăng 2,13%. Ở chiều ngược lại, ngành khai khoáng tiếp tục giảm từ đầu năm đến nay (giảm 46,26%).Tính chung 02 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 10,15% so cùng kỳ, trong đó ngành Công nghiệp chế biến, chế tạo là động lực chính với mức tăng 10,73%, tiếp theo là ngành Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 7,59%. Bên cạnh đó, hai ngành giảm gồm ngành Khai khoáng giảm 43,83% và ngành Cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 3,38%.Chỉ số sản xuất sản phẩm hai tháng so cùng kỳ như sau:Có 66/110 sản phẩm có chỉ số sản xuất tăng so cùng kỳ: Phi lê đông lạnh tăng 13,7%; Bột mịn, bột thô và bột viên từ cá tăng 43,9%; Quả và hạt ướp lạnh tăng 44,8%; Thức ăn cho gia súc tăng 11,0%; Thức ăn cho gia cầm tăng 58,5%; Thức ăn cho thủy sản tăng 13,4%; Bia đóng lon tăng 13,1%; Bộ com lê, quần áo cho người lớn dệt kim hoặc đan móc tăng 16,5%; Giày, dép có đế ngoài và mũ bằng cao su, plastic các loại tăng 18,0%; Thuốc và dược phẩm các loại tăng mạnh (mức tăng trên 44%); Bao và túi từ plastic khác tăng 48,3%; Ống và ống dẫn bằng đồng tăng 11,4%; Điện gió tăng 7,6%; Điện mặt trời tăng 28,0%;…Hình 3. Chỉ số sản xuất công nghiệp 02 tháng đầu năm 2026Có 40/110 sản phẩm có chỉ số sản xuất giảm so cùng kỳ: Cát đen giảm 43,8%; Gạo đã xát toàn bộ hoặc sơ bộ giảm 5,1%; Miến, hủ tiếu, bánh đa khô và các loại tương tự giảm 6,9%; Thuốc lá có đầu lọc giảm 36,4%; Giày, dép da và các bộ phận của giày, dép bằng da giảm 23,1%; Thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm giảm 26,8%; Nước uống được giảm 6,2%;…* Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: - Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 02 năm 2026 so với tháng trước giảm 14,42% và giảm 2,85% so cùng kỳ. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng so với cùng kỳ: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 0,08%; dệt tăng 41,60%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 72,23%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 18,47%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 16,42%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 33,25%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 47,04%; sản xuất thiết bị điện tăng 22,33%;… Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm so cùng kỳ như: sản xuất sản phẩm thuốc lá giảm 22,46%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 41,27%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 33,0%; Sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất giảm 25,47%; Sản xuất kim loại giảm 8,82%;…Tính chung 02 tháng đầu năm, chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,31% so với cùng kỳ năm trước.- Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 02 năm 2026 tăng 7,79% so với tháng trước và tăng 19,59% so với cùng kỳ. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng so cùng kỳ là: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 28,79%; sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 102,76%; sản xuất trang phục tăng 48,0%; sản xuất da và các sản phẩm liên quan tăng 30,11%, sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 41,83%; sản xuất xe có động cơ tăng gần 9 lần; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 51,19%;...Bên cạnh đó, một số ngành có chỉ số tồn kho giảm so với cùng kỳ như: sản xuất đồ uống giảm 87,13%, dệt giảm 76,45%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 58,88%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 8,80%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất giảm 28,35%, sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 9,84%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẳn giảm 54,52%;…III. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP: (Theo báo cáo của Sở Tài Chính)Thành lập mới: Trong tháng có 384 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 12,6% so với tháng trước; với tổng vốn đăng ký là 1.406 tỷ đồng, tăng 33,3% so với tháng trước. Tính từ đầu năm 2026 đến nay, có 607 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 149,8% so với cùng kỳ, đạt 20,23% so với kế hoạch, với tổng vốn đăng ký là 2.211 tỷ đồng, tăng 9,3% so với cùng kỳ. Vốn đăng ký bình quân trong những tháng đầu năm của doanh nghiệp 3,6 tỷ đồng/doanh nghiệp.Giải thể, tạm ngừng hoạt động, tái hoạt động: Trong tháng, có 66 doanh nghiệp đã giải thể, tăng 4,8% so với tháng trước; 55 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, bằng 14,8% so với tháng trước; 21 doanh nghiệp hoạt động trở lại, bằng 13,5% so với tháng trước. Tính từ đầu năm đến nay, có 95 doanh nghiệp giải thể, tăng 115,9% so với cùng kỳ; 416 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, tăng 10,6% so với cùng kỳ; 175 doanh nghiệp hoạt động trở lại, bằng 98,3% so với cùng kỳ.IV. ĐẦU TƯ - XÂY DỰNG Tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện tháng 02/2026 đạt 467 tỷ đồng, đạt 4,1% kế hoạch năm và bằng 90,4% tháng trước. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 428 tỷ đồng, đạt 4,3% kế hoạch và bằng 91,2% tháng trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 39 tỷ đồng, bằng 3% so kế hoạch và bằng 83,3% tháng trước.Tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý 02 tháng năm 2026 ước đạt 984 tỷ đồng, bằng 8,7% kế hoạch năm, bằng 62,2% cùng kỳ năm 2025. Trong đó:- Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 897 tỷ đồng, bằng 8,9% kế hoạch năm, bằng 57,2% cùng kỳ năm 2025;- Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp xã 87 tỷ đồng, bằng 6,6% kế hoạch năm, tăng 7,06 lần so với cùng kỳ năm 2025;Nguyên nhân vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước giảm so với tháng trước và so với cùng kỳ: UBND tỉnh mới giao kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026, phần lớn các công trình thực hiện trong tháng là công trình chuyển tiếp của năm 2025, các công trình khởi công mới và công trình chuẩn bị đầu tư chưa triển khai thực hiện; bên cạnh đó tháng 02 trùng vào dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026, nhiều công trình tạm ngưng thi công; khó khăn trong quá trình khai thác cát, khan hiếm nguồn cung, giá nguyên vật liệu tăng cao cũng ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện.Tình hình thi công một số công trình trọng điểm của tỉnh trong tháng 02/2026:V. THƯƠNG MẠI - GIÁ CẢ - DỊCH VỤ1. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng:Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trong tháng thực hiện 14.631 tỷ đồng, tăng 2,8% so tháng trước và tăng 15% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 10.626 tỷ đồng, tăng 16,3%; lưu trú 59 tỷ đồng, tăng 13,8%; ăn uống 2.031 tỷ đồng, tăng 14%; du lịch lữ hành 38 tỷ đồng, tăng 48,6%; dịch vụ tiêu dùng khác 1.877 tỷ đồng, tăng 9% so cùng kỳ. Hai tháng đầu năm 2026, tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thực hiện 28.861 tỷ đồng, đạt 9,9% kế hoạch, tăng 13,1% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 21.004 tỷ đồng, tăng 13,8%; lưu trú 117 tỷ đồng, tăng 15,2%; ăn uống 3.997 tỷ đồng, tăng 14,7%; du lịch lữ hành 75 tỷ đồng, tăng 50,2%; dịch vụ tiêu dùng khác 3.668 tỷ đồng, tăng 7% so cùng kỳ.Tháng 02/2026 là thời điểm Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026 nên Tỉnh tập trung triển khai các giải pháp của Chỉ thị số 18/CT-BCT ngày 25/11/2025 của Bộ Công Thương về thực hiện các giải pháp bảo đảm cân đối cung cầu, bình ổn thị trường cuối năm 2025 và dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026; Kế hoạch số 68/KH-UBND ngày 21/01/2026 về dự trữ, cung ứng hàng hóa thiết yếu phục vụ Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp. Số lượng đơn vị phân phối đăng ký dự trữ, cung ứng hàng hóa trên địa bàn tỉnh có 20 doanh nghiệp, hợp tác xã và 02 chợ (7 hộ kinh doanh tại chợ) đăng ký dự trữ, cung ứng hàng hoá với tổng trị giá vốn là 604 tỷ đồng, trong đó hàng hóa thiết yếu là 228 tỷ đồng; 29 điểm thực hiện bán hàng bình ổn của 19 doanh nghiệp/hợp tác xã phân phối và hệ thống các siêu thị Co.opmart trên địa bàn tỉnh đã tổ chức thành công 10 chuyến hàng đưa hàng Việt về nông thôn tại 09 địa bàn xã/phường. Các doanh nghiệp, địa phương đã tổ chức triển khai phương án dự trữ hàng hóa thiết yếu; chủ động, thường xuyên nắm bắt tình hình cung ứng hàng hóa tại các đơn vị phân phối, bán lẻ trên địa bàn để kịp thời đánh giá khả năng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân, theo dõi diễn biến thị trường, phối hợp điều tiết nguồn hàng khi cần thiết, góp phần bảo đảm cân đối cung - cầu và ổn định giá cả trong dịp Tết.Hình 4. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng2. Xuất - Nhập khẩu (Theo báo cáo Sở Công Thương)a. Xuất khẩu: Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng ước thực hiện 580 triệu USD, giảm 29,3% so tháng trước và giảm 3,2% so cùng kỳ, do Tết Nguyên đán năm nay rơi vào tháng 02/2026 nhiều doanh nghiệp ngưng sản xuất để nghỉ tết xuất khẩu giảm so tháng trước và giảm so cùng kỳ (năm 2025 Tết Nguyên đán trong tháng 01). Hai tháng xuất khẩu 1.400 triệu USD, đạt 14% kế hoạch, tăng 13,3% so cùng kỳ. Tình hình xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của tỉnh như sau:b. Nhập khẩu:Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 02/2026 ước đạt 380 triệu USD, giảm 20% so tháng trước và giảm 15,5% so cùng kỳ. Hai tháng, kim ngạch nhập khẩu 855 triệu USD, đạt 17,1% kế hoạch, tăng 2,2% so cùng kỳ3. Chỉ số giá: Tháng 02/2026 là thời điểm Tết Nguyên đán Bính Ngọ nên nhu cầu mua sắm hàng hóa và dịch vụ của người dân tăng cao; giá gạo trong tỉnh tăng theo nhu cầu mua sắm Tết và giá gạo xuất khẩu tăng; giá heo tăng do sức mua tăng vào dịp Tết; giá xăng dầu, giá gas tăng theo giá nhiên liệu thế giới là những nguyên nhân chính làm cho chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 02/2026 tăng 0,73% (thành thị tăng 0,77%, nông thôn tăng 0,71%) so tháng 01/2026; tăng 2,97% so tháng 02/2025.So với tháng 01/2025, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 10 nhóm tăng: hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,27%; may mặc, mũ nón và giầy dép tăng 1,17%; giao thông tăng 1,03%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,8%; văn hóa, giải trí và du lịch 0,61%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,30%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,16%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,15%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,14%; thông tin và truyền thông tăng 0,06%. Nhóm Giáo dục có chỉ số ổn định.Nguyên nhân một số mặt hàng có chỉ số giá tăng so với tháng trước:- Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,27%, trong đó;+ Chỉ số giá nhóm hàng lương thực tăng 0,83%, góp phần làm CPI chung tăng 0,04 điểm phần trăm, do nhu cầu tiêu dùng gạo tẻ ngon, gạo nếp tháng Tết tăng cao, tác động đến giá gạo bán lẻ thị trường nội địa tháng này tăng 0,95% so với tháng trước. Bên cạnh đó, giá bột mì tăng 1,14%; khoai lang tăng 0,23%; sắn tăng 0,07% so với tháng trước.+ Nhóm hàng thực phẩm tăng 1,67%, góp phần làm CPI chung tăng 0,37 điểm phần trăm do nhu cầu tiêu dùng thịt lợn vào thời điểm trước trong và sau Tết tăng, dẫn đến giá thịt lợn tháng 02/2026 tăng 7,16%. Ngoài ra giá thịt bò, thịt gia cầm tươi sống, thịt chế biến, thủy hải sản tươi sống và thuỷ sản chế biến (tôm khô, mực khô) điều tăng.... Cụ thể như: chỉ số giá thịt lợn tăng 7,16% do nhu cầu thực phẩm chuẩn bị cho các dịp Lễ, Tết, cưới hỏi, tiệc gia đình cuối năm tăng lên; giá thịt chế biến tăng 1,59% (thịt quay, giò, chả tăng 1,64%, thịt hợp tăng 0,24%, thịt chế biến khác tăng 1,07%); giá thịt gia cầm tăng 2,63%; thủy sản tươi sống tăng 1,35%; giá quả tươi và chế biến tăng 2,89%;...+ Chỉ số giá nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 0,62% do giá các loại thực phẩm tăng lên nên nhóm hàng ăn uống ngoài gia đình tăng theo, ăn ngoài gia đình tăng 0,59%, uống ngoài gia đình tăng 1%, đồng ăn nhanh mang đi tăng 0,52%.- Nhóm may mặc, mũ nón và giày dép tăng 1,17%, tác động làm tăng CPI chung 0,05 điểm phần trăm. Trong đó, vải các loại tăng 0,77%, quần áo may sẵn tăng 1,11%, may mặc khác và mũ nón tăng 0,88%, giày dép tăng 1,19%, dịch vụ may mặc tăng 0,55%, dịch vụ may giày dép tăng 1,54%, may mặc khác tăng 1,41%... nguyên nhân tăng chủ yếu do nhu cầu mua sắm tăng vào dịp tết Nguyên đán Bính ngọ.- Chỉ số giá nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,15%, tác động làm tăng CPI chung 0,03 điểm phần trăm, chủ yếu do tác động giá của một số mặt hàng sau: vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,36%; nước sinh hoạt tháng 02 tăng 1,02%; giá dịch vụ sữa chữa nhà tăng 1,37% do nhu cầu xây dựng và sữa chữa vào cuối năm của người dân tăng, nên giá xi măng, sắt thép, cát đều có giá tăng nhẹ so với tháng trước. Giá gas tăng 1,87%, do petrolimex trong tỉnh điều chỉnh ngày 01/02/2026; giá dầu hỏa tăng 4,28% điều chỉnh theo giá gas thế giới.Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 02 tháng năm 2026 tăng 2,72% so với cùng kỳ, Một số chỉ số tăng như: hàng ăn uống và dịch vụ ăn uống tăng 3,72%; đồ uống thuốc lá tăng 1,86%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,77%, thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,51%.... chỉ riêng nhóm bưu chính viễn thông giảm 3,96% tác động không đáng kể đến chỉ số tiêu dùng bình quân chung hai tháng.Chỉ số giá vàng tháng 02/2026 tăng 11,01% so với tháng 01/2026, tăng 17,44% so với tháng 12/2025, tăng 75,62% so với bình quân cùng kỳ, tương ứng tăng từ 15.261.060 đồng/chỉ lên 16.941.790 đồng/chỉ đối với vàng nhẫn trơn 9999. Giá vàng biến động theo xu hướng thị trường vàng trong nước và thế giới.Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng 02/2026 giảm 0,72% so tháng trước và giảm 1,58% so với tháng 12/2025, tương đương giảm 19.012 đồng/100USD (2.655.100 đồng/100USD – 2.636.088 đồng/100USD) và tăng 1,87% so với cùng kỳ. Bình quân hai tháng đầu năm 2026 tăng 2,27% so cùng kỳ.* Tình hình giá cả thị trường Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026.Hoạt động kinh doanh trên địa bàn tỉnh được duy trì ổn định trước, trong và sau Tết, giá cả thị trường được kiểm soát tốt, lượng hàng hóa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân. Chưa có phát hiện hiện tượng ghim hàng, tăng giá đột biến. Thị trường hàng hóa diễn biến sôi động hơn đặc biệt vào thời điểm cận Tết, là cao điểm người dân tập trung mua sắm, dự trữ hàng hóa phục vụ nhu cầu trong những ngày Tết; sau đó sức mua giảm dần và thị trường trầm lắng hơn vào những ngày trong và sau Tết.Đối với các điểm bán hàng bình ổn, hầu hết các đơn vị dự trữ bán hàng hóa thiết yếu duy trì giá thấp hơn giá thị trường từ 5-10%; đồng thời, kèm theo nhiều chương trình khuyến mại hấp dẫn để kích cầu tiêu dùng.Riêng tại chợ dân sinh, một số mặt hàng có tăng giá nhẹ so với thời điểm trước Tết do sức mua tăng như khổ qua, cà chua, cà rốt, bắp cải trắng ( tăng từ 2.000 đến 5.000 đ/kg), thịt heo (tăng từ 10.000 đến 20.000 đ/kg), thịt bò ( tăng từ 5.000 đến 15.000 đ/kg)… những ngày sau Tết giá cả cơ bản ổn định hơn. Riêng sức tiêu thụ của một số mặt hàng bông có giảm nhẹ vào những ngày cận Tết, do người dân tiết kiệm chi tiêu, sức mua kém. Một số nhà vườn bán bông đã chủ động giảm giá trong những ngày cận Tết để thúc đẩy tiêu thụ.4. Vận tải:Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trong tháng thực hiện 745 tỷ đồng, tăng 3,5% so tháng trước và tăng 17,9% so cùng kỳ. Hai tháng thực hiện 1.465 tỷ đồng, tăng 17,1% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 543 tỷ đồng, tăng 34,3%; doanh thu vận tải hàng hóa thực hiện 698 tỷ đồng, tăng 12,4%. Doanh thu vận tải đường bộ thực hiện 740 tỷ đồng, tăng 26%; doanh thu vận tải đường thủy thực hiện 502 tỷ đồng, tăng 14,4%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 123 tỷ đồng, giảm 6% so cùng kỳ. Trong tháng trên địa bàng tỉnh phát sinh nhà xe Danh Lợi Lộc mới đi vào hoạt động tuyến chợ gạo Thành phố Hồ Chí Minh, góp phần làm cho vận tải hành khách trên địa bàn tỉnh tăng.Vận tải hành khách trong tháng đạt 6.825 ngàn hành khách, tăng 6,3% so tháng trước và tăng 17,2% so cùng kỳ; luân chuyển 454.311ngàn hành khách.km, tăng 1,7% so tháng trước và tăng 30,9% so cùng kỳ. Hai tháng, vận chuyển 13.246 ngàn hành khách, tăng 14,4%; luân chuyển 901.214 ngàn hành khách.km, tăng 30,9% so cùng kỳ;trong đó: vận tải đường bộ 6.260 ngàn hành khách, tăng 68,1% và luân chuyển 896.728 ngàn hành khách.km, tăng 32%; vận tải đường thủy 6.986 ngàn hành khách, giảm 11,1% và luân chuyển 4.486 ngàn hành khách.km, tăng 18,1%Vận tải hàng hóa trong tháng đạt 2.642 ngàn tấn, tăng 0,2% so tháng trước và tăng 15,2% so cùng kỳ; luân chuyển 441.047 ngàn tấn.km, tăng 0,5% so tháng trước và tăng 7,6% so cùng kỳ. Hai tháng, vận tải 5.280 ngàn tấn hàng hóa, tăng 15,6%; luân chuyển 879.854 ngàn tấn.km, tăng 7,8% so cùng kỳ;trong đó: vận tải đường bộ 818 ngàn tấn, bằng 75,8% và luân chuyển 98.347 ngàn tấn.km, bằng 65,4% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 4.462 ngàn tấn, tăng 27,9% và luân chuyển 781.507 ngàn tấn.km, tăng 17,4% so cùng kỳ.Trong tháng đăng ký mới 16.425 chiếc mô tô xe máy và 1.538 chiếc xe ô tô. Tổng số xe đang quản lý trên địa bàn tỉnh là 3.635.323 chiếc, trong đó mô tô xe máy: 3.477.789 chiếc, 154.327 xe ô tô, 169 xe ba bánh, 666 xe đạp điện và 3.372 xe khác.5. Bưu chính viễn thông:Đến cuối tháng 02 năm 2026 tổng số thuê bao điện thoại có trên mạng là 3.648 ngàn thuê bao, thuê bao điện thoại bình quân đạt 107,17 thuê bao/100 dân (bao gồm: hữu tuyến, vô tuyến, trả trước, trả sau). Số thuê bao điện thoại di động có sử dụng Internet (3G, 4G) đến cuối tháng 02 là: 2.656 ngàn thuê bao. Thuê bao internet có trên mạng là 3.784 ngàn thuê bao, mật độ Internet bình quân ước đạt 111,18 thuê bao/100 dân.VI. TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG1. Tài chính:Tổng thu ngân sách nhà nước trong tháng thực hiện 3.015 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn 2.000 tỷ đồng, thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 312 tỷ đồng. Hai tháng, thu 12.227 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn thực hiện 6.190 tỷ đồng, đạt 26% dự toán và tăng 17,9% so cùng kỳ; thu nội địa 6.040 tỷ đồng, đạt 26% dự toán, tăng 17,6% so cùng kỳ (trong thu ngân sách trên địa bàn: thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 930 tỷ đồng, đạt 22,9% dự toán, tăng 1,7% so cùng kỳ; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 2.036 tỷ đồng, đạt 42,4% dự toán, tăng 50,8% so cùng kỳ, thu từ hoạt động xổ số kiến thiết 1.579 tỷ đồng, đạt 34,1% dự toán, tăng 47,7% so cùng kỳ...).Tổng chi ngân sách nhà nước trong tháng 3.697 tỷ đồng; trong đó: chi đầu tư phát triển 728 tỷ đồng. Hai tháng, chi 5.400 tỷ đồng, đạt 13,5% dự toán, bằng 68,3% so cùng kỳ; trong đó: chi đầu tư phát triển 946 tỷ đồng, đạt 10,8% dự toán, bằng 19,8% so cùng kỳ; chi hành chính sự nghiệp 4.149 tỷ đồng, đạt 18,4% dự toán và tăng 39,2% so cùng kỳ.2. Ngân hàng: Trong tháng các hoạt động sản xuất kinh doanh và thương mại diễn ra sôi động. Các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh và người dân tập trung chuẩn bị nguồn hàng hóa, dịch vụ phục vụ Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, do đó, nhu cầu tín dụng, tiêu dùng, thanh toán và tín dụng trong nền kinh tế gia tăng ngoài ra lãi suất ổn định tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn. Trong bối cảnh đó, hoạt động ngân hàng giữ vai trò quan trọng trong việc đảm bảo đảm lưu thông tiền tệ thông suốt, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng.Lãi suất huy động: Hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn chấp hành tốt các quy định về lãi suất huy động theo quy định của Ngân hàng nhà nước Việt Nam. Đến cuối tháng 12/2025, lãi suất huy động bằng VND: đối với tiền gửi có kỳ từ 6 tháng đến 12 tháng dao động từ 1,98%-8,1%/năm đối với khách hàng cá nhân, từ 2,8%- 8%/năm đối với khách hàng pháp nhân; đối với tiền gửi trên 12 tháng dao động từ 2,63%-8,42%/năm đối với khách hàng cá nhân, từ 0,2% - 7,8%/năm đối với khách hàng pháp nhân.Lãi suất cho vay:Các tổ chức tín dụng trên địa bàn chấp hành nghiêm mức trần lãi suất cho vay ngắn hạn đối với các lĩnh vực ưu tiên (hiện là 4%/năm áp dụng tại các chi nhánh ngân hàng và 5% áp dụng tại Quỹ tín dụng nhân dân, Tổ chức tài chính vi mô). Lãi suất cho vay bình quân trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp là 7,76%/năm,giảm 0,17%/năm so với cuối năm 2024.Đến cuối tháng 02/2026, vốn huy động ước đạt 208.668 tỷ, tăng 0,61% so với cuối năm 2025, tổng dư nợ cho vay của các TCTD trong tỉnh ước đạt 242.315 tỷ, tăng 0,75% so với cuối năm 2025.Nợ xấu:đến cuối tháng 01/2026 nợ xấu đạt 5.825 tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu/Tổng dư nợ (không bao gồm nợ xấu của các ngân hàng thương mại bị kiểm soát đặc biệt) chiếm 2,41% và tăng 0,93% so với cuối năm 2025. Ước thực hiện tháng 02/2026 tỷ lệ nợ xấu/Tổng dư nợ nhỏ hơn 3%.Quỹ tín dụng nhân dân: Đến cuối tháng 01/2025 tổng nguồn vốn huy động 2.824 tỷ đồng, giảm 34 tỷ đồng và giảm 1,9% so với cuối năm 2025. Dư nợ 2.342 tỷ đồng, tăng 2 tỷ đồng và tăng 0,09% so với cuối năm 2025. Tỷ lệ nợ xấu đến cuối tháng 01/2026 là 41,13%.VII. CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Lao động việc làm:Toàn tỉnh đã giải quyết việc làm cho 5.755 lao động, đạt 11,5% so với kế hoạch. Trong tháng tổ chức 08 cuộc tư vấn tuyển dụng cho người lao động hưởng bảo hiểm thất nghiệp với 12 doanh nghiệp tham gia, tư vấn cho 4.083 người, 1.261 người phỏng vấn và trên 400 người được kết nối.Lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài trong tháng là 93 lao động. Đến nay có 452 lao động xuất cảnh, đạt 20,5% so với kế hoạch, trong đó Nhật Bản: 314 người, Đài Loan: 123 người, Hàn Quốc: 03 người....Về trợ cấp thất nghiệp, trong tháng có 1.487 lao động được hưởng trợ cấp. Từ đầu năm đến nay, có 3.728 lao động được giải quyết chế độ trợ cấp thất nghiệp, với tổng kinh phí chi trả trên 75,7 tỷ đồng, góp phần hỗ trợ kịp thời đời sống, giúp người lao động ổn định trong giai đoạn tìm kiếm việc làm mới.2. Chính sách xã hội:Trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026, các cấp, các ngành trong tỉnh đã tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho trên 127.837 lượt người có công với cách mạng và gia đình chính sách, với tổng kinh phí trên 53 tỷ đồng; trong đó quà của Chủ tịch nước 55.179 suất, trị giá gần 17 tỷ đồng, ngân sách xã, phường trên 36 tỷ đồng. Tỉnh thành lập 15 đoàn do các đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy làm trưởng đoàn đến thăm, chúc Tết và tặng quà 50 hộ gia đình chính sách tiêu biểu, hoàn cảnh khó khăn, với tổng kinh phí 150 triệu đồng từ nguồn bảo đảm xã hội. Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh tổ chức thăm, trao quà cho 107 hộ có nhà bị sập, đổ, cuốn trôi do thiên tai năm 2025 tại 14 xã, phường, kinh phí trên 01 tỷ đồng từ nguồn hỗ trợ của của Ban Vận động cứu trợ Trung ương. Ủy ban MTTQ cấp xã, phường vận động xây dựng 11 nhà Đại đoàn kết cho hộ nghèo (680 triệu đồng), hỗ trợ khám, chữa bệnh miễn phí cho 300 người nghèo và xây dựng 23 công trình dân sinh (cầu giao thông nông thôn, tuyến đường ánh sáng quan…) với tổng kinh phí trên 01 tỷ đồng. Đồng thời, hệ thống MTTQ các cấp đã vận động trao 235.774 phần quà Tết cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, gia đình chính sách và các đối tượng khó khăn, tổng trị giá trên 99 tỷ đồng, cơ bản bảo đảm 100% hộ nghèo, cận nghèo được nhận ít nhất 02 phần quà.Nhằm tạo điều kiện cho các đối tượng chính sách vui Xuân, đón Tết, tỉnh thực hiện chi trả gộp 02 tháng trợ cấp (tháng 02 và 3/2026) cho người có công, bảo đảm kịp thời, đúng đối tượng; đồng thời tiếp tục đẩy mạnh chi trả qua tài khoản, không dùng tiền mặt tiếp tục được đẩy mạnh.3. Hoạt động y tế: Trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026, công tác y tế và chăm sóc sức khỏe Nhân dân được đặc biệt quan tâm, bảo đảm trực cấp cứu 24/24 giờ, đảm bảo đầy đủ dự trữ đủ thuốc, máu, dịch truyền và các phương tiện, trang thiết bị cần thiết phục vụ cấp cứu, khám chữa bệnh, đặc biệt là cấp cứu tai nạn giao thông, ngộ độc thực phẩm, sẵn sàng phục vụ nhu cầu khám, chữa bệnh của người dân. Mạng lưới cơ sở y tế đủ năng lực cung ứng dịch vụ có chất lượng, đáp ứng kịp thời nhu cầu chăm sóc sức khỏe trong những ngày Tết. Đồng thời, tăng cường phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm, nhất là các bệnh có nguy cơ bùng phát trong dịp Tết và mùa lễ hội đầu năm như cúm, sởi, sốt xuất huyết, các bệnh lây truyền qua đường hô hấp,… cũng như các bệnh nguy hiểm có nguy cơ xâm nhập từ nước ngoài vào Việt Nam.Trong tháng có 15/44 bệnh truyền nhiễm được ghi nhận. Cộng dồn so với cùng kỳ về số mắc, có 11 bệnh tăng (Sốt xuất huyết Dengue, Tay - chân - miệng, Viêm màng não do não mô cầu, Lao phổi, Thương hàn, Viêm gan vi rút B, Viêm gan vi rút C, Viêm não virus khác, Bệnh do vi rút Adeno, Quai bị, Thủy đậu), 05 bệnh giảm (Sởi, Viêm não Nhật Bản, Cúm, Tiêu chảy, Viêm gan vi rút khác); 28 bệnh tương đương hoặc không xảy ra ca mắc.Các bệnh truyền nhiễm trong tháng ghi nhận: bệnh sốt xuất huyết 741 ca mắc, tăng 2,2 lần so cùng kỳ; bệnh tay - chân - miệng 478 ca, tăng 69,5% so cùng kỳ.Phòng chống bệnh HIV/AIDS tính đến nay, toàn tỉnh có 16.013 người nhiễm HIV; 5.051 người chuyển sang AIDS; tử vong do AIDS 3.921 người.Hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe nhân dân trong tháng được đảm bảo, đã khám chữa bệnh cho 687 nghìn lượt người, tăng 5,0% so cùng kỳ; trong đó, số người điều trị nội trú là 40 nghìn lượt người, tăng 2,6% so cùng kỳ.4. Hoạt động giáo dục: Ngày 23/2 (mùng 7 tháng Giêng âm lịch), học sinh trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp chính thức trở lại trường sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026. Các cơ sở giáo dục trong tỉnh đã xây dựng kế hoạch đón học sinh trở lại trường, bảo đảm nền nếp dạy và học được duy trì ổn định, an toàn. Trong tháng, công tác chuẩn bị khởi công các trường biên giới với quy mô lớn trên dịa bàn tỉnh, góp phần củng cố cơ sở vật chất biên giới vững chắc; bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi, đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý chất lượng.5. Hoạt động văn hóa - thể thao:Hoạt động văn hóa, nghệ thuật: trong tháng, tỉnh tổ chức nhiều hoạt động mừng Đảng – mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026. Tổ chức Đường hoa Xuân và Lễ Khai mạc tại Quảng trường Hùng Vương (phường Đạo Thạnh) và đường Lý Thường Kiệt (phường Cao Lãnh). Hai Đường hoa Xuân diễn ra từ ngày 16 đến 21/02/2026 (nhằm 29 tháng Chạp năm Ất Tỵ đến Mùng 5 Tết năm Bính Ngọ), thu hút trên 41.500 lượt người tham quan, thưởng lãm, chụp ảnh lưu niệm. Toàn tỉnh có 08 địa phương tổ chức bắn pháo hoa mừng Xuân Bính Ngọ, gồm: phường Đạo Thạnh, phường Cao Lãnh, phường Sa Đéc, phường Hồng Ngự, phường Long Thuận, phường Mỹ Phước Tây, xã Chợ Gạo và xã Trường Xuân. Cùng với đó, Chương trình nghệ thuật chào năm mới 2026 được truyền hình trực tiếp trên sóng Truyền hình Đồng Tháp, kết hợp bắn pháo hoa đêm Giao thừa tại 04 điểm cầu (phường Đạo Thạnh – điểm cầu chính, phường Cao Lãnh, phường Sa Đéc, phường Hồng Ngự), thu hút khoảng 180.000 lượt người theo dõi.Công tác trưng bày, triển lãm được tổ chức phong phú, gồm: trưng bày chuyên đề “Sắc sen” tại Bảo tàng cơ sở 1 (phường Mỹ Tho) với 50 ảnh; trưng bày “Ảnh đẹp Đồng Tháp” tại Quảng trường Hùng Vương với 34 ảnh; triển lãm ảnh chủ đề “Cao Lãnh xưa” tại Bảo tàng cơ sở 2 (phường Cao Lãnh) với 30 ảnh và 01 pano; đồng thời trưng bày hiện vật chủ đề “Đồ dùng sinh hoạt gia đình”, tranh về sen, mô hình thu nhỏ một số di tích trên địa bàn tỉnh và bộ ảnh “Đồng Tháp đất và người”.Hoạt động thư viện: trong tháng, triển lãm Hội Báo Xuân trực tuyến Bính Ngọ năm 2026 với hơn 280 ấn phẩm xuân của các bộ, ban, ngành Trung ương, Báo chí các tỉnh, thành phố trên cả nước. Giới thiệu sách trực tuyến: các ấn phẩm Báo Xuân Bính Ngọ các tỉnh, thành phố; sách về Đảng Cộng sản Việt Nam, sách về Tết Nguyên Đán trên các trang thông tin điện tử của Thư viện từ ngày 07/02/2026 đến hết ngày 21/02/2026. Tổng số lượt phục vụ tại Thư viện đạt 58.557 lượt người với 175.671 lượt tài liệu; 330.785 lượt truy cập kênh thông tin; xe thư viện lưu động phục vụ 150 lượt người/300 lượt tài liệu.Hoạt động Thể dục - Thể thao: trong tháng, thể thao Đồng Tháp tham dự Giải Cờ vua tỉnh An Giang mở rộng – tranh Cúp Chess Star lần thứ I năm 2025–2026 tổ chức tại tỉnh An Giang, kết quả đạt 02 huy chương Vàng và 01 huy chương Bạc. Đồng thời, tham dự Vòng chung kết Giải Bóng đá vô địch U19 quốc gia năm 2026, diễn ra từ ngày 07/01 đến 30/01/2026 tại tỉnh Hưng Yên.6. Tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội: (theo báo cáo của ngành Công an)Trong tháng xảy ra 86 vụ phạm tội về trật tự xã hội, giảm 10 vụ so cùng kỳ; Hậu quả là 02 người chết, 34 người bị thương, tài sản thiệt hại khoảng 1,7 tỷ đồng; Cơ quan chức năng đã điều tra, khám phá 82 vụ (đạt tỷ lệ 95,3%), bắt giữ và xử lý 213 đối tượng. Tính từ đầu năm đến nay, tổng số vụ phạm tội là 188 vụ, giảm 46 vụ; Vụ việc đã làm 07 người chết, 58 người bị thương, tổng giá trị tài sản thiệt hại khoảng 17,3 tỷ đồng; Đã điều tra, khám phá được 164 vụ (đạt tỷ lệ 87,2%), xử lý 351 đối tượng.Về tội phạm ma túy trong tháng, lực lượng chức năng đã phát hiện và xử lý 91 vụ với 127 đối tượng.7. Trật tự an toàn giao thông: (theo báo cáo ngành Công an, số liệu tính từ ngày 15/01/2026 đến 14/02/2026)Trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026, các lực lượng chức năng triển khai đợt cao điểm tuần tra, kiểm soát, xử lý nghiêm vi phạm trật tự, an toàn giao thông đường bộ và đường thủy. Lực lượng Cảnh sát giao thông tăng cường điều tiết, phân luồng, phòng chống ùn tắc, không để phát sinh ùn tắc tại các nút giao trọng điểm trên các tuyến Quốc lộ 1, 30, 50, 60, 54, 80, N2, N2B và đường dẫn cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh – Trung Lương – Mỹ Thuận, bảo đảm giao thông thông suốt, an toàn phục vụ nhu cầu đi lại của Nhân dân trong dịp Tết.Tai nạn giao thông đường bộ: trong tháng, xảy ra 61 vụ, tăng 26 vụ so tháng trước và giảm 04 vụ so cùng kỳ. Hậu quả làm chết 52 người (tăng 26 người so tháng trước, giảm 10 người so cùng kỳ) và 22 người bị thương (tăng 7 người so tháng trước, giảm 18 người so cùng kỳ). Lũy kế từ đầu năm đến tháng báo cáo, toàn tỉnh đã xảy ra 96 vụ, giảm 42 vụ so với cùng kỳ; làm chết 78 người (giảm 12 người) và làm bị thương 37 người (giảm 29 người). Các nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông chủ yếu vẫn do ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông như: uống rượu say, điều khiển xe khi có rượu bia, phóng nhanh vược ẩu, không làm chủ tốc độ; không đi đúng phần đường, làn đường; không nhường đường, vượt đèn đỏ, thiếu quan sát…Tai nạn giao thông đường thủy: trong tháng xảy ra 01 vụ (tăng 01 vụ so cùng kỳ). Tổng số vụ từ đầu năm đến nay là 02 vụ làm chết 01 người, tăng 01 vụ và tương đương số người chết so với cùng kỳ.Tình hình trật tự an toàn giao thông Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026 qua 9 ngày (từ ngày 14/02/2026 đến ngày 22/02/2026): Tai nạn giao thông đường bộ xảy ra 18 vụ (giảm 15 vụ so cùng kỳ), chết 10 người (giảm 12 người so cùng kỳ), bị thương 10 người (giảm 08 người so cùng kỳ. Tai nạn giao thông đường thủy không xảy ra vụ tai nạn giao thông nào.8. Tình hình cháy nổ, môi trường và thiên tai:Cháy: trong tháng xảy ra 09 vụ cháy, không gây thiệt hại về người, tài sản thiệt hại trị giá khoảng 1,1 tỷ đồng. Nâng tổng số vụ cháy từ đầu năm đến nay là 11 vụ, tăng 09 vụ; thiệt hại tài sản khoảng 1,1 tỷ đồng.Lĩnh vực môi trường: trong tháng xảy ra 02 vụ vi phạm trên địa bàn tỉnh, số vụ vi phạm đã được xử lý là 02 vụ với số tiền xử phạt trên 542 triệu đồng.Tình hình thiên tai: trong tháng, trên địa bàn Tỉnh xảy ra 01 vụ sạt lở bờ sông Tiền, tại tổ 1, ấp An Hòa 2, xã Phú Hựu với tổng chiều dài bình quân khoảng 54m, sâu vào đất liền 38m, mất diện tích đất khoảng 2.052 m2, vụ sạt lở không gây thiệt hại về người, về tài sản có 06 hộ dân nằm trong khu vực sạt lở được chính quyền địa phương hỗ trợ và bố trí di dời về cụm dân cư và nơi ở mới an toàn và ổn định hơn.