0273.3 872582 | dongthap@nso.gov.vn

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Tháp tháng 02 năm 2026

06/03/2026 16:22

 Trong tháng, Tỉnh ủy, UBND tỉnh tổ chức triển khai kế hoạch và giao nhiệm vụ cụ thể cho từng ngành, từng địa phương; tăng cường các biện pháp nhằm bình ổn giá cả thị trường, kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho các đối tượng chính sách và nhân dân vui xuân đón Tết vui tươi, lành mạnh, an toàn, tiết kiệm và đảm bảo trật tự an toàn xã hội; chủ động nguồn hàng hóa phục vụ nhu cầu Tết của nhân dân. Các hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh diễn ra khá sôi nổi, các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội được thực hiện trong điều kiện kinh tế tiếp tục phục hồi và phát triển. Kết quả thực hiện ở các lĩnh vực cụ thể như sau:

I. SẢN XUẤT NÔNG LÂM NGHIỆP VÀ THỦY SẢN

Trong tháng, kỳ triều cường cuối tháng Chạp âm lịch (16–19/02/2026) làm độ mặn trên sông Tiền tăng trở lại; dự báo ranh mặn 1,0 g/l xâm nhập đến khu vực cống Xuân Hòa (cách cửa sông 42 km), sau đó tiếp tục gia tăng đến cuối tháng 02/2026, xâm nhập đến Cảng Du thuyền, phường Mỹ Tho (cách cửa sông 48 km) và xâm nhập sâu vào nội đồng. Trong mùa khô năm 2026, độ mặn 1,0 g/l có khả năng xâm nhập sâu nhất từ 50-55 km (khu vực cầu Bình Đức đến Nhà máy nước Đồng Tâm) vào nữa cuối tháng 3/2026. Trước diễn biến xâm nhập mặn trong mùa khô năm 2026, tỉnh đã chủ động xây dựng và triển khai kế hoạch, phương án phòng, chống hạn mặn từ sớm, từ xa, bảo đảm nguồn nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt của Nhân dân. Sản xuất nông nghiệp trong tháng duy trì ổn định, cây trồng sinh trưởng tốt; sâu, bệnh hại xuất hiện ở mức thấp đến trung bình nhờ công tác dự báo và hướng dẫn phòng trừ kịp thời. Thị trường tiêu thụ nông sản tương đối thuận lợi, nguồn cung dồi dào. Chăn nuôi cơ bản ổn định, một số dịch bệnh phát sinh cục bộ nhưng được kiểm soát chặt chẽ, không để lây lan diện rộng. Hoạt động nuôi trồng và khai thác thủy sản tiếp tục duy trì, phát triển ổn định.

1. Nông nghiệp

Cây lương thực có hạt:

diện tích gieo trồng từ đầu vụ tính đến ngày 20/02/2026 ước đạt 259.828 ha, tăng 0,9% so cùng kỳ, tương ứng tăng 2.276 ha; trong đó: cây lúa gieo sạ ước đạt 257.456 ha, tăng 0,9%.

- Cây lúa:

+ Vụ Đông xuân 2025 – 2026: diện tích gieo trồng ước đạt 221.116 ha, đạt 97,4% kế hoạch và giảm 0,3% so cùng kỳ (tương ứng giảm 573 ha). Diện tích thu hoạch 81.659 ha.

+ Vụ Hè thu: tính đến ngày 20/02/2026, diện tích gieo trồng ước đạt 36.340 ha, đạt 16% kế hoạch, tăng 8,8% so cùng kỳ.

- Cây ngô:

diện tích gieo trồng đến ngày 20/02/2026 ước đạt 2.372 ha, đạt 32,3% kế hoạch giảm 3,7% (tương ứng giảm 91,5 ha).

Cây rau đậu các loại: tính đến 20/02/2026, diện tích gieo trồng ước đạt 26.454 ha, giảm 8,1% so cùng kỳ; trong đó: diện tích gieo trồng rau các loại ước đạt 26.268 ha, giảm 8,1% so cùng kỳ.

Hình 1. Diện tích gieo trồng một số cây hàng năm tính đến 20/02/2026

Trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026, nông dân đã trồng trên 2,7 triệu chậu hoa, kiểng các loại, tăng 15-20% so cùng kỳ; hoa sinh trưởng tốt, nở đẹp, đáp ứng nhu cầu của người dân. Sản lượng cây ăn quả phục vụ Tết năm nay đạt trên 183 nghìn tấn như: xoài 35,7 nghìn tấn, thanh long 32,3 nghìn tấn, khóm 28,8 nghìn tấn, bưởi 12,1 nghìn tấn, sapo 9,6 nghìn tấn, nhãn 5,5 nghìn tấn, đu đủ 3,4 nghìn tấn, quýt hồng 4,8 nghìn tấn, quýt đường 3,5 nghìn tấn, cam xoàn 3,1 nghìn tấn,... cùng với sản lượng hoa, kiểng dồi dào, cơ bản bảo đảm nguồn cung phục vụ thị trường Tết. Nhìn chung, các sản phẩm trồng trọt phục vụ Tết đều được tiêu thụ thuận lợi, nhiều mặt hàng hút hàng vào những ngày giáp Tết.

Chăn nuôi: ước tổng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh tại thời điểm 28/02/2026 như sau: đàn trâu 2.100, giảm 26,8%; đàn bò 149,2 nghìn con, giảm 1,7% so cùng kỳ; đàn lợn 460,9 nghìn con, tăng 1,1%; đàn gia cầm 22,9 triệu con, giảm 2,1%. Đàn trâu giảm chủ yếu do hiệu quả kinh tế chăn nuôi thấp, thời gian nuôi kéo dài và diện tích chăn thả ngày càng thu hẹp. Đàn bò giảm do chi phí chăn nuôi còn ở mức cao, nguồn thức ăn tự nhiên suy giảm trong khi hiệu quả kinh tế chưa được cải thiện rõ rệt. Ngược lại, đàn lợn tăng nhờ công tác kiểm soát dịch bệnh được thực hiện chặt chẽ, đẩy mạnh tiêm phòng, vệ sinh và tiêu độc khử trùng chuồng trại, tạo điều kiện thuận lợi cho tái đàn an toàn. Đàn gia cầm giảm do chi phí chăn nuôi cao, hiệu quả kinh tế chưa ổn định, làm người chăn nuôi, nhất là các hộ nhỏ lẻ, thận trọng trong việc tái đàn.

Hình 2. Chăn nuôi tại thời điểm 28/02/2026

*Tình hình dịch bệnh trên vật nuôi trong tháng (theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đồng Tháp):

Bệnh viêm da nổi cục: trong tháng xảy ra 02 hộ tại xã Lương Hòa Lạc với 03 con bò có dấu hiệu bệnh (tổng đàn 07 con).

Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: trong tháng phát sinh 08 trường hợp với số lợn bệnh 64 con (tổng đàn 194 con) tại 04 xã, (Tân Thới, Tân Phú Đông, Bình Ninh và Tân Hồng). Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh xảy ra 41 hộ có 644 con lợn bệnh (tổng đàn 1.196 con) tại 07 xã (Bình Ninh, Tân Thới, An Thạnh Thuỷ, Vĩnh Hựu, Thanh Hưng, Tân Hộ Cơ, Tân Phú Đông). Đã tiêu hủy 1.177 con lợn bệnh (khối lượng 44.892 kg).

2. Lâm nghiệp:

Diện tích rừng trồng mới tập trung: trong tháng có 8,6 ha rừng được trồng mới tập trung, tăng 4,27% tương đương tăng 0,35 ha so với cùng kỳ. Cộng dồn đến tháng 02/2026 có 16,9 ha rừng được trồng mới tập trung, tăng 4,32% tương đương tăng 0,70 ha so với cùng kỳ.

Cây phân tán: trong tháng, toàn tỉnh thực hiện trồng mới được 46 ngàn cây phân tán các loại, tăng 5,1% so cùng kỳ. Cây phân tán được trồng tại các khu dân cư, trường học, bệnh viện, khu công nghiệp, đô thị, đường giao thông, bờ sông, kênh mương… nhằm tạo cảnh quan, góp phần giảm ô nhiễm và xây dựng không gian sống xanh.

Sản lượng gỗ khai thác: trong tháng sản lượng gỗ khai thác toàn tỉnh ước đạt 12.256 m3; tăng 8,2% so với cùng kỳ. Cộng dồn đến tháng 02/2026 ước tính có 24.430 m3 gỗ được khai thác, tăng 7,2% so với cùng kỳ.

3. Thủy hải sản:

Diện tích thả nuôi thâm canh trong tháng ước đạt 276 ha. Tổng diện tích thả nuôi thâm canh 02 tháng đầu năm 2026 ước đạt 3.012 ha, tăng 1,5% so cùng kỳ; trong đó diện tích nuôi cá tra 1.633 ha (tăng 4,6%), do giá xuất khẩu cá tra tương đối ổn định, tôm thẻ chân trắng 954 ha (giảm 3,5%)…

Sản lượng thủy sản nuôi trong tháng ước đạt 127.765 tấn. Tính chung 02 tháng đầu năm 2026, thu hoạch ước đạt 160.446 tấn, tăng 4,6% so cùng kỳ, tương ứng tăng 7.091 tấn, trong đó: sản lượng cá đạt 147.006 tấn (tăng 4,9%); sản lượng tôm đạt 7.638 tấn (tăng 1,5%);…. Sản lượng tăng chủ yếu nhờ thời tiết thuận lợi, tình hình dịch bệnh được kiểm soát, giúp năng suất nuôi đạt cao.

Sản lượng thủy sản khai thác biển trong tháng ước đạt 9.048 tấn. Tính chung 02 tháng đầu năm 2026, thu hoạch ước đạt 18.038 tấn, tăng 29,3% so cùng kỳ, tương ứng tăng 4.084 tấn, trong đó: cá đạt 12.396 tấn (tăng 42,2%); tôm đạt 487 tấn (tăng 42,5%);…. do thời tiết ổn định, ít chịu ảnh hưởng của bão và áp thấp nhiệt đới, thuận lợi cho tàu cá bám biển khai thác.

II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP

Hoạt động sản xuất công nghiệp tháng 02/2026 có mức giảm mạnh so tháng trước, do dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026 rơi trọn vào tháng 02, số ngày sản xuất thực tế thấp. Ước tính chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 02/2026 giảm 8,89% so với tháng trước. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm đến 9,66%; các nhóm ngành cấp I còn lại đều tăng nhưng mức tăng không đáng kể.

So với cùng kỳ, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 02/2026 tăng 6,74%. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,01%, ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước, điều hoà không khí tăng 5,23%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý, xử lý rác thải, nước thải tăng 2,13%. Ở chiều ngược lại, ngành khai khoáng tiếp tục giảm từ đầu năm đến nay (giảm 46,26%).

Tính chung 02 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 10,15% so cùng kỳ, trong đó ngành Công nghiệp chế biến, chế tạo là động lực chính với mức tăng 10,73%, tiếp theo là ngành Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 7,59%. Bên cạnh đó, hai ngành giảm gồm ngành Khai khoáng giảm 43,83% và ngành Cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 3,38%.

Chỉ số sản xuất sản phẩm hai tháng so cùng kỳ như sau:

Có 66/110 sản phẩm có chỉ số sản xuất tăng so cùng kỳ: Phi lê đông lạnh tăng 13,7%; Bột mịn, bột thô và bột viên từ cá tăng 43,9%; Quả và hạt ướp lạnh tăng 44,8%; Thức ăn cho gia súc tăng 11,0%; Thức ăn cho gia cầm tăng 58,5%; Thức ăn cho thủy sản tăng 13,4%; Bia đóng lon tăng 13,1%; Bộ com lê, quần áo cho người lớn dệt kim hoặc đan móc tăng 16,5%; Giày, dép có đế ngoài và mũ bằng cao su, plastic các loại tăng 18,0%; Thuốc và dược phẩm các loại tăng mạnh (mức tăng trên 44%); Bao và túi từ plastic khác tăng 48,3%; Ống và ống dẫn bằng đồng tăng 11,4%; Điện gió tăng 7,6%; Điện mặt trời tăng 28,0%;…


nh 3. Chỉ số sản xuất công nghiệp 02 tháng đầu năm 2026

Có 40/110 sản phẩm có chỉ số sản xuất giảm so cùng kỳ: Cát đen giảm 43,8%; Gạo đã xát toàn bộ hoặc sơ bộ giảm 5,1%; Miến, hủ tiếu, bánh đa khô và các loại tương tự giảm 6,9%; Thuốc lá có đầu lọc giảm 36,4%; Giày, dép da và các bộ phận của giày, dép bằng da giảm 23,1%; Thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm giảm 26,8%; Nước uống được giảm 6,2%;…

* Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo:

- Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 02 năm 2026 so với tháng trước giảm 14,42% và giảm 2,85% so cùng kỳ. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng so với cùng kỳ: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 0,08%; dệt tăng 41,60%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 72,23%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 18,47%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 16,42%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 33,25%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 47,04%; sản xuất thiết bị điện tăng 22,33%;… Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm so cùng kỳ như: sản xuất sản phẩm thuốc lá giảm 22,46%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 41,27%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 33,0%; Sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất giảm 25,47%; Sản xuất kim loại giảm 8,82%;…

Tính chung 02 tháng đầu năm, chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,31% so với cùng kỳ năm trước.

- Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 02 năm 2026 tăng 7,79% so với tháng trước và tăng 19,59% so với cùng kỳ. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng so cùng kỳ là: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 28,79%; sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 102,76%; sản xuất trang phục tăng 48,0%; sản xuất da và các sản phẩm liên quan tăng 30,11%, sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 41,83%; sản xuất xe có động cơ tăng gần 9 lần; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 51,19%;...

Bên cạnh đó, một số ngành có chỉ số tồn kho giảm so với cùng kỳ như: sản xuất đồ uống giảm 87,13%, dệt giảm 76,45%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 58,88%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 8,80%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất giảm 28,35%, sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 9,84%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẳn giảm 54,52%;…

III. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP: (Theo báo cáo của Sở Tài Chính)

Thành lập mới: Trong tháng có 384 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 12,6% so với tháng trước; với tổng vốn đăng ký là 1.406 tỷ đồng, tăng 33,3% so với tháng trước. Tính từ đầu năm 2026 đến nay, có 607 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 149,8% so với cùng kỳ, đạt 20,23% so với kế hoạch, với tổng vốn đăng ký là 2.211 tỷ đồng, tăng 9,3% so với cùng kỳ. Vốn đăng ký bình quân trong những tháng đầu năm của doanh nghiệp 3,6 tỷ đồng/doanh nghiệp.

Giải thể, tạm ngừng hoạt động, tái hoạt động: Trong tháng, có 66 doanh nghiệp đã giải thể, tăng 4,8% so với tháng trước; 55 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, bằng 14,8% so với tháng trước; 21 doanh nghiệp hoạt động trở lại, bằng 13,5% so với tháng trước. Tính từ đầu năm đến nay, có 95 doanh nghiệp giải thể, tăng 115,9% so với cùng kỳ; 416 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, tăng 10,6% so với cùng kỳ; 175 doanh nghiệp hoạt động trở lại, bằng 98,3% so với cùng kỳ.

IV. ĐẦU TƯ - XÂY DỰNG

Tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện tháng 02/2026 đạt 467 tỷ đồng, đạt 4,1% kế hoạch năm và bằng 90,4% tháng trước. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 428 tỷ đồng, đạt 4,3% kế hoạch và bằng 91,2% tháng trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 39 tỷ đồng, bằng 3% so kế hoạch và bằng 83,3% tháng trước.

Tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý 02 tháng năm 2026 ước đạt 984 tỷ đồng, bằng 8,7% kế hoạch năm, bằng 62,2% cùng kỳ năm 2025. Trong đó:

- Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 897 tỷ đồng, bằng 8,9% kế hoạch năm, bằng 57,2% cùng kỳ năm 2025;

- Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp xã 87 tỷ đồng, bằng 6,6% kế hoạch năm, tăng 7,06 lần so với cùng kỳ năm 2025;

Nguyên nhân vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước giảm so với tháng trước và so với cùng kỳ: UBND tỉnh mới giao kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026, phần lớn các công trình thực hiện trong tháng là công trình chuyển tiếp của năm 2025, các công trình khởi công mới và công trình chuẩn bị đầu tư chưa triển khai thực hiện; bên cạnh đó tháng 02 trùng vào dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026, nhiều công trình tạm ngưng thi công; khó khăn trong quá trình khai thác cát, khan hiếm nguồn cung, giá nguyên vật liệu tăng cao cũng ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện.

Tình hình thi công một số công trình trọng điểm của tỉnh trong tháng 02/2026:

V. THƯƠNG MẠI - GIÁ CẢ - DỊCH VỤ

1. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng:

Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trong tháng thực hiện 14.631 tỷ đồng, tăng 2,8% so tháng trước và tăng 15% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 10.626 tỷ đồng, tăng 16,3%; lưu trú 59 tỷ đồng, tăng 13,8%; ăn uống 2.031 tỷ đồng, tăng 14%; du lịch lữ hành 38 tỷ đồng, tăng 48,6%; dịch vụ tiêu dùng khác 1.877 tỷ đồng, tăng 9% so cùng kỳ. Hai tháng đầu năm 2026, tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thực hiện 28.861 tỷ đồng, đạt 9,9% kế hoạch, tăng 13,1% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 21.004 tỷ đồng, tăng 13,8%; lưu trú 117 tỷ đồng, tăng 15,2%; ăn uống 3.997 tỷ đồng, tăng 14,7%; du lịch lữ hành 75 tỷ đồng, tăng 50,2%; dịch vụ tiêu dùng khác 3.668 tỷ đồng, tăng 7% so cùng kỳ.

Tháng 02/2026 là thời điểm Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026 nên Tỉnh tập trung triển khai các giải pháp của Chỉ thị số 18/CT-BCT ngày 25/11/2025 của Bộ Công Thương về thực hiện các giải pháp bảo đảm cân đối cung cầu, bình ổn thị trường cuối năm 2025 và dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026; Kế hoạch số 68/KH-UBND ngày 21/01/2026 về dự trữ, cung ứng hàng hóa thiết yếu phục vụ Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp. Số lượng đơn vị phân phối đăng ký dự trữ, cung ứng hàng hóa trên địa bàn tỉnh có 20 doanh nghiệp, hợp tác xã và 02 chợ (7 hộ kinh doanh tại chợ) đăng ký dự trữ, cung ứng hàng hoá với tổng trị giá vốn là 604 tỷ đồng, trong đó hàng hóa thiết yếu là 228 tỷ đồng; 29 điểm thực hiện bán hàng bình ổn của 19 doanh nghiệp/hợp tác xã phân phối và hệ thống các siêu thị Co.opmart trên địa bàn tỉnh đã tổ chức thành công 10 chuyến hàng đưa hàng Việt về nông thôn tại 09 địa bàn xã/phường. Các doanh nghiệp, địa phương đã tổ chức triển khai phương án dự trữ hàng hóa thiết yếu; chủ động, thường xuyên nắm bắt tình hình cung ứng hàng hóa tại các đơn vị phân phối, bán lẻ trên địa bàn để kịp thời đánh giá khả năng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân, theo dõi diễn biến thị trường, phối hợp điều tiết nguồn hàng khi cần thiết, góp phần bảo đảm cân đối cung - cầu và ổn định giá cả trong dịp Tết.


Hình 4. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng

2. Xuất - Nhập khẩu

(Theo báo cáo Sở Công Thương)

a. Xuất khẩu:

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng ước thực hiện 580 triệu USD, giảm 29,3% so tháng trước và giảm 3,2% so cùng kỳ, do Tết Nguyên đán năm nay rơi vào tháng 02/2026 nhiều doanh nghiệp ngưng sản xuất để nghỉ tết xuất khẩu giảm so tháng trước và giảm so cùng kỳ (năm 2025 Tết Nguyên đán trong tháng 01). Hai tháng xuất khẩu 1.400 triệu USD, đạt 14% kế hoạch, tăng 13,3% so cùng kỳ. Tình hình xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của tỉnh như sau:

b. Nhập khẩu:

Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 02/2026 ước đạt 380 triệu USD, giảm 20% so tháng trước và giảm 15,5% so cùng kỳ. Hai tháng, kim ngạch nhập khẩu 855 triệu USD, đạt 17,1% kế hoạch, tăng 2,2% so cùng kỳ

3. Chỉ số giá:

Tháng 02/2026 là thời điểm Tết Nguyên đán Bính Ngọ nên nhu cầu mua sắm hàng hóa và dịch vụ của người dân tăng cao; giá gạo trong tỉnh tăng theo nhu cầu mua sắm Tết và giá gạo xuất khẩu tăng; giá heo tăng do sức mua tăng vào dịp Tết; giá xăng dầu, giá gas tăng theo giá nhiên liệu thế giới là những nguyên nhân chính làm cho chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 02/2026 tăng 0,73% (thành thị tăng 0,77%, nông thôn tăng 0,71%) so tháng 01/2026; tăng 2,97% so tháng 02/2025.

So với tháng 01/2025, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 10 nhóm tăng: hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,27%; may mặc, mũ nón và giầy dép tăng 1,17%; giao thông tăng 1,03%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,8%; văn hóa, giải trí và du lịch 0,61%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,30%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,16%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,15%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,14%; thông tin và truyền thông tăng 0,06%. Nhóm Giáo dục có chỉ số ổn định.

Nguyên nhân một số mặt hàng có chỉ số giá tăng so với tháng trước:

- Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,27%, trong đó;

+ Chỉ số giá nhóm hàng lương thực tăng 0,83%, góp phần làm CPI chung tăng 0,04 điểm phần trăm, do nhu cầu tiêu dùng gạo tẻ ngon, gạo nếp tháng Tết tăng cao, tác động đến giá gạo bán lẻ thị trường nội địa tháng này tăng 0,95% so với tháng trước. Bên cạnh đó, giá bột mì tăng 1,14%; khoai lang tăng 0,23%; sắn tăng 0,07% so với tháng trước.

+ Nhóm hàng thực phẩm tăng 1,67%, góp phần làm CPI chung tăng 0,37 điểm phần trăm do nhu cầu tiêu dùng thịt lợn vào thời điểm trước trong và sau Tết tăng, dẫn đến giá thịt lợn tháng 02/2026 tăng 7,16%. Ngoài ra giá thịt bò, thịt gia cầm tươi sống, thịt chế biến, thủy hải sản tươi sống và thuỷ sản chế biến (tôm khô, mực khô) điều tăng.... Cụ thể như: chỉ số giá thịt lợn tăng 7,16% do nhu cầu thực phẩm chuẩn bị cho các dịp Lễ, Tết, cưới hỏi, tiệc gia đình cuối năm tăng lên; giá thịt chế biến tăng 1,59% (thịt quay, giò, chả tăng 1,64%, thịt hợp tăng 0,24%, thịt chế biến khác tăng 1,07%); giá thịt gia cầm tăng 2,63%; thủy sản tươi sống tăng 1,35%; giá quả tươi và chế biến tăng 2,89%;...

+ Chỉ số giá nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 0,62% do giá các loại thực phẩm tăng lên nên nhóm hàng ăn uống ngoài gia đình tăng theo, ăn ngoài gia đình tăng 0,59%, uống ngoài gia đình tăng 1%, đồng ăn nhanh mang đi tăng 0,52%.

- Nhóm may mặc, mũ nón và giày dép tăng 1,17%, tác động làm tăng CPI chung 0,05 điểm phần trăm. Trong đó, vải các loại tăng 0,77%, quần áo may sẵn tăng 1,11%, may mặc khác và mũ nón tăng 0,88%, giày dép tăng 1,19%, dịch vụ may mặc tăng 0,55%, dịch vụ may giày dép tăng 1,54%, may mặc khác tăng 1,41%... nguyên nhân tăng chủ yếu do nhu cầu mua sắm tăng vào dịp tết Nguyên đán Bính ngọ.

- Chỉ số giá nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,15%, tác động làm tăng CPI chung 0,03 điểm phần trăm, chủ yếu do tác động giá của một số mặt hàng sau: vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,36%; nước sinh hoạt tháng 02 tăng 1,02%; giá dịch vụ sữa chữa nhà tăng 1,37% do nhu cầu xây dựng và sữa chữa vào cuối năm của người dân tăng, nên giá xi măng, sắt thép, cát đều có giá tăng nhẹ so với tháng trước. Giá gas tăng 1,87%, do petrolimex trong tỉnh điều chỉnh ngày 01/02/2026; giá dầu hỏa tăng 4,28% điều chỉnh theo giá gas thế giới.

Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 02 tháng năm 2026 tăng 2,72% so với cùng kỳ, Một số chỉ số tăng như: hàng ăn uống và dịch vụ ăn uống tăng 3,72%; đồ uống thuốc lá tăng 1,86%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,77%, thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,51%.... chỉ riêng nhóm bưu chính viễn thông giảm 3,96% tác động không đáng kể đến chỉ số tiêu dùng bình quân chung hai tháng.

Chỉ số giá vàng tháng 02/2026 tăng 11,01% so với tháng 01/2026, tăng 17,44% so với tháng 12/2025, tăng 75,62% so với bình quân cùng kỳ, tương ứng tăng từ 15.261.060 đồng/chỉ lên 16.941.790 đồng/chỉ đối với vàng nhẫn trơn 9999. Giá vàng biến động theo xu hướng thị trường vàng trong nước và thế giới.

Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng 02/2026 giảm 0,72% so tháng trước và giảm 1,58% so với tháng 12/2025, tương đương giảm 19.012 đồng/100USD (2.655.100 đồng/100USD – 2.636.088 đồng/100USD) và tăng 1,87% so với cùng kỳ. Bình quân hai tháng đầu năm 2026 tăng 2,27% so cùng kỳ.

* Tình hình giá cả thị trường Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026.

Hoạt động kinh doanh trên địa bàn tỉnh được duy trì ổn định trước, trong và sau Tết, giá cả thị trường được kiểm soát tốt, lượng hàng hóa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân. Chưa có phát hiện hiện tượng ghim hàng, tăng giá đột biến. Thị trường hàng hóa diễn biến sôi động hơn đặc biệt vào thời điểm cận Tết, là cao điểm người dân tập trung mua sắm, dự trữ hàng hóa phục vụ nhu cầu trong những ngày Tết; sau đó sức mua giảm dần và thị trường trầm lắng hơn vào những ngày trong và sau Tết.

Đối với các điểm bán hàng bình ổn, hầu hết các đơn vị dự trữ bán hàng hóa thiết yếu duy trì giá thấp hơn giá thị trường từ 5-10%; đồng thời, kèm theo nhiều chương trình khuyến mại hấp dẫn để kích cầu tiêu dùng.

Riêng tại chợ dân sinh, một số mặt hàng có tăng giá nhẹ so với thời điểm trước Tết do sức mua tăng như khổ qua, cà chua, cà rốt, bắp cải trắng ( tăng từ 2.000 đến 5.000 đ/kg), thịt heo (tăng từ 10.000 đến 20.000 đ/kg), thịt bò ( tăng từ 5.000 đến 15.000 đ/kg)… những ngày sau Tết giá cả cơ bản ổn định hơn. Riêng sức tiêu thụ của một số mặt hàng bông có giảm nhẹ vào những ngày cận Tết, do người dân tiết kiệm chi tiêu, sức mua kém. Một số nhà vườn bán bông đã chủ động giảm giá trong những ngày cận Tết để thúc đẩy tiêu thụ.

4. Vận tải:

Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trong tháng thực hiện 745 tỷ đồng, tăng 3,5% so tháng trước và tăng 17,9% so cùng kỳ. Hai tháng thực hiện 1.465 tỷ đồng, tăng 17,1% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 543 tỷ đồng, tăng 34,3%; doanh thu vận tải hàng hóa thực hiện 698 tỷ đồng, tăng 12,4%.

Doanh thu vận tải đường bộ thực hiện 740 tỷ đồng, tăng 26%; doanh thu vận tải đường thủy thực hiện 502 tỷ đồng, tăng 14,4%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 123 tỷ đồng, giảm 6% so cùng kỳ. Trong tháng trên địa bàng tỉnh phát sinh nhà xe Danh Lợi Lộc mới đi vào hoạt động tuyến chợ gạo Thành phố Hồ Chí Minh, góp phần làm cho vận tải hành khách trên địa bàn tỉnh tăng.

Vận tải hành khách trong tháng đạt 6.825 ngàn hành khách, tăng 6,3% so tháng trước và tăng 17,2% so cùng kỳ; luân chuyển 454.311ngàn hành khách.km, tăng 1,7% so tháng trước và tăng 30,9% so cùng kỳ. Hai tháng, vận chuyển 13.246 ngàn hành khách, tăng 14,4%; luân chuyển 901.214 ngàn hành khách.km, tăng 30,9% so cùng kỳ;

trong đó: vận tải đường bộ 6.260 ngàn hành khách, tăng 68,1% và luân chuyển 896.728 ngàn hành khách.km, tăng 32%; vận tải đường thủy 6.986 ngàn hành khách, giảm 11,1% và luân chuyển 4.486 ngàn hành khách.km, tăng 18,1%

Vận tải hàng hóa trong tháng đạt 2.642 ngàn tấn, tăng 0,2% so tháng trước và tăng 15,2% so cùng kỳ; luân chuyển 441.047 ngàn tấn.km, tăng 0,5% so tháng trước và tăng 7,6% so cùng kỳ. Hai tháng, vận tải 5.280 ngàn tấn hàng hóa, tăng 15,6%; luân chuyển 879.854 ngàn tấn.km, tăng 7,8% so cùng kỳ;

trong đó: vận tải đường bộ 818 ngàn tấn, bằng 75,8% và luân chuyển 98.347 ngàn tấn.km, bằng 65,4% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 4.462 ngàn tấn, tăng 27,9% và luân chuyển 781.507 ngàn tấn.km, tăng 17,4% so cùng kỳ.

Trong tháng đăng ký mới 16.425 chiếc mô tô xe máy và 1.538 chiếc xe ô tô. Tổng số xe đang quản lý trên địa bàn tỉnh là 3.635.323 chiếc, trong đó mô tô xe máy: 3.477.789 chiếc, 154.327 xe ô tô, 169 xe ba bánh, 666 xe đạp điện và 3.372 xe khác.

5. Bưu chính viễn thông:

Đến cuối tháng 02 năm 2026 tổng số thuê bao điện thoại có trên mạng là 3.648 ngàn thuê bao, thuê bao điện thoại bình quân đạt 107,17 thuê bao/100 dân (bao gồm: hữu tuyến, vô tuyến, trả trước, trả sau). Số thuê bao điện thoại di động có sử dụng Internet (3G, 4G) đến cuối tháng 02 là: 2.656 ngàn thuê bao. Thuê bao internet có trên mạng là 3.784 ngàn thuê bao, mật độ Internet bình quân ước đạt 111,18 thuê bao/100 dân.

VI. TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG

1. Tài chính:

Tổng thu ngân sách nhà nước trong tháng thực hiện 3.015 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn 2.000 tỷ đồng, thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 312 tỷ đồng. Hai tháng, thu 12.227 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn thực hiện 6.190 tỷ đồng, đạt 26% dự toán và tăng 17,9% so cùng kỳ; thu nội địa 6.040 tỷ đồng, đạt 26% dự toán, tăng 17,6% so cùng kỳ (trong thu ngân sách trên địa bàn: thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 930 tỷ đồng, đạt 22,9% dự toán, tăng 1,7% so cùng kỳ; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 2.036 tỷ đồng, đạt 42,4% dự toán, tăng 50,8% so cùng kỳ, thu từ hoạt động xổ số kiến thiết 1.579 tỷ đồng, đạt 34,1% dự toán, tăng 47,7% so cùng kỳ...).

Tổng chi ngân sách nhà nước trong tháng 3.697 tỷ đồng; trong đó: chi đầu tư phát triển 728 tỷ đồng. Hai tháng, chi 5.400 tỷ đồng, đạt 13,5% dự toán, bằng 68,3% so cùng kỳ; trong đó: chi đầu tư phát triển 946 tỷ đồng, đạt 10,8% dự toán, bằng 19,8% so cùng kỳ; chi hành chính sự nghiệp 4.149 tỷ đồng, đạt 18,4% dự toán và tăng 39,2% so cùng kỳ.

2. Ngân hàng:

Trong tháng các hoạt động sản xuất kinh doanh và thương mại diễn ra sôi động. Các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh và người dân tập trung chuẩn bị nguồn hàng hóa, dịch vụ phục vụ Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, do đó, nhu cầu tín dụng, tiêu dùng, thanh toán và tín dụng trong nền kinh tế gia tăng ngoài ra lãi suất ổn định tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn. Trong bối cảnh đó, hoạt động ngân hàng giữ vai trò quan trọng trong việc đảm bảo đảm lưu thông tiền tệ thông suốt, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng.

Lãi suất huy động: Hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn chấp hành tốt các quy định về lãi suất huy động theo quy định của Ngân hàng nhà nước Việt Nam. Đến cuối tháng 12/2025, lãi suất huy động bằng VND: đối với tiền gửi có kỳ từ 6 tháng đến 12 tháng dao động từ 1,98%-8,1%/năm đối với khách hàng cá nhân, từ 2,8%- 8%/năm đối với khách hàng pháp nhân; đối với tiền gửi trên 12 tháng dao động từ 2,63%-8,42%/năm đối với khách hàng cá nhân, từ 0,2% - 7,8%/năm đối với khách hàng pháp nhân.

Lãi suất cho vay:

Các tổ chức tín dụng trên địa bàn chấp hành nghiêm mức trần lãi suất cho vay ngắn hạn đối với các lĩnh vực ưu tiên (hiện là 4%/năm áp dụng tại các chi nhánh ngân hàng và 5% áp dụng tại Quỹ tín dụng nhân dân, Tổ chức tài chính vi mô). Lãi suất cho vay bình quân trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp là 7,76%/năm,

giảm 0,17%/năm so với cuối năm 2024.

Đến cuối tháng 02/2026, vốn huy động ước đạt 208.668 tỷ, tăng 0,61% so với cuối năm 2025, tổng dư nợ cho vay của các TCTD trong tỉnh ước đạt 242.315 tỷ, tăng 0,75% so với cuối năm 2025.

Nợ xấu:

đến cuối tháng 01/2026 nợ xấu đạt 5.825 tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu/Tổng dư nợ (không bao gồm nợ xấu của các ngân hàng thương mại bị kiểm soát đặc biệt) chiếm 2,41% và tăng 0,93% so với cuối năm 2025. Ước thực hiện tháng 02/2026 tỷ lệ nợ xấu/Tổng dư nợ nhỏ hơn 3%.

Quỹ tín dụng nhân dân:

Đến cuối tháng 01/2025 tổng nguồn vốn huy động 2.824 tỷ đồng, giảm 34 tỷ đồng và giảm 1,9% so với cuối năm 2025. Dư nợ 2.342 tỷ đồng, tăng 2 tỷ đồng và tăng 0,09% so với cuối năm 2025. Tỷ lệ nợ xấu đến cuối tháng 01/2026 là 41,13%.

VII. CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Lao động việc làm:

Toàn tỉnh đã giải quyết việc làm cho 5.755 lao động, đạt 11,5% so với kế hoạch. Trong tháng tổ chức 08 cuộc tư vấn tuyển dụng cho người lao động hưởng bảo hiểm thất nghiệp với 12 doanh nghiệp tham gia, tư vấn cho 4.083 người, 1.261 người phỏng vấn và trên 400 người được kết nối.

Lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài trong tháng là 93 lao động. Đến nay có 452 lao động xuất cảnh, đạt 20,5% so với kế hoạch, trong đó Nhật Bản: 314 người, Đài Loan: 123 người, Hàn Quốc: 03 người....

Về trợ cấp thất nghiệp, trong tháng có 1.487 lao động được hưởng trợ cấp. Từ đầu năm đến nay, có 3.728 lao động được giải quyết chế độ trợ cấp thất nghiệp, với tổng kinh phí chi trả trên 75,7 tỷ đồng, góp phần hỗ trợ kịp thời đời sống, giúp người lao động ổn định trong giai đoạn tìm kiếm việc làm mới.

2. Chính sách xã hội:

Trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026, các cấp, các ngành trong tỉnh đã tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho trên 127.837 lượt người có công với cách mạng và gia đình chính sách, với tổng kinh phí trên 53 tỷ đồng; trong đó quà của Chủ tịch nước 55.179 suất, trị giá gần 17 tỷ đồng, ngân sách xã, phường trên 36 tỷ đồng. Tỉnh thành lập 15 đoàn do các đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy làm trưởng đoàn đến thăm, chúc Tết và tặng quà 50 hộ gia đình chính sách tiêu biểu, hoàn cảnh khó khăn, với tổng kinh phí 150 triệu đồng từ nguồn bảo đảm xã hội. Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh tổ chức thăm, trao quà cho 107 hộ có nhà bị sập, đổ, cuốn trôi do thiên tai năm 2025 tại 14 xã, phường, kinh phí trên 01 tỷ đồng từ nguồn hỗ trợ của của Ban Vận động cứu trợ Trung ương. Ủy ban MTTQ cấp xã, phường vận động xây dựng 11 nhà Đại đoàn kết cho hộ nghèo (680 triệu đồng), hỗ trợ khám, chữa bệnh miễn phí cho 300 người nghèo và xây dựng 23 công trình dân sinh (cầu giao thông nông thôn, tuyến đường ánh sáng quan…) với tổng kinh phí trên 01 tỷ đồng. Đồng thời, hệ thống MTTQ các cấp đã vận động trao 235.774 phần quà Tết cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, gia đình chính sách và các đối tượng khó khăn, tổng trị giá trên 99 tỷ đồng, cơ bản bảo đảm 100% hộ nghèo, cận nghèo được nhận ít nhất 02 phần quà.

Nhằm tạo điều kiện cho các đối tượng chính sách vui Xuân, đón Tết, tỉnh thực hiện chi trả gộp 02 tháng trợ cấp (tháng 02 và 3/2026) cho người có công, bảo đảm kịp thời, đúng đối tượng; đồng thời tiếp tục đẩy mạnh chi trả qua tài khoản, không dùng tiền mặt tiếp tục được đẩy mạnh.

3. Hoạt động y tế:

Trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026, công tác y tế và chăm sóc sức khỏe Nhân dân được đặc biệt quan tâm, bảo đảm trực cấp cứu 24/24 giờ, đảm bảo đầy đủ dự trữ đủ thuốc, máu, dịch truyền và các phương tiện, trang thiết bị cần thiết phục vụ cấp cứu, khám chữa bệnh, đặc biệt là cấp cứu tai nạn giao thông, ngộ độc thực phẩm, sẵn sàng phục vụ nhu cầu khám, chữa bệnh của người dân. Mạng lưới cơ sở y tế đủ năng lực cung ứng dịch vụ có chất lượng, đáp ứng kịp thời nhu cầu chăm sóc sức khỏe trong những ngày Tết. Đồng thời, tăng cường phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm, nhất là các bệnh có nguy cơ bùng phát trong dịp Tết và mùa lễ hội đầu năm như cúm, sởi, sốt xuất huyết, các bệnh lây truyền qua đường hô hấp,… cũng như các bệnh nguy hiểm có nguy cơ xâm nhập từ nước ngoài vào Việt Nam.

Trong tháng có 15/44 bệnh truyền nhiễm được ghi nhận. Cộng dồn so với cùng kỳ về số mắc, có 11 bệnh tăng (Sốt xuất huyết Dengue, Tay - chân - miệng, Viêm màng não do não mô cầu, Lao phổi, Thương hàn, Viêm gan vi rút B, Viêm gan vi rút C, Viêm não virus khác, Bệnh do vi rút Adeno, Quai bị, Thủy đậu), 05 bệnh giảm (Sởi, Viêm não Nhật Bản, Cúm, Tiêu chảy, Viêm gan vi rút khác); 28 bệnh tương đương hoặc không xảy ra ca mắc.

Các bệnh truyền nhiễm trong tháng ghi nhận: bệnh sốt xuất huyết 741 ca mắc, tăng 2,2 lần so cùng kỳ; bệnh tay - chân - miệng 478 ca, tăng 69,5% so cùng kỳ.

Phòng chống bệnh HIV/AIDS tính đến nay, toàn tỉnh có 16.013 người nhiễm HIV; 5.051 người chuyển sang AIDS; tử vong do AIDS 3.921 người.

Hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe nhân dân trong tháng được đảm bảo, đã khám chữa bệnh cho 687 nghìn lượt người, tăng 5,0% so cùng kỳ; trong đó, số người điều trị nội trú là 40 nghìn lượt người, tăng 2,6% so cùng kỳ.

4. Hoạt động giáo dục:

Ngày 23/2 (mùng 7 tháng Giêng âm lịch), học sinh trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp chính thức trở lại trường sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026. Các cơ sở giáo dục trong tỉnh đã xây dựng kế hoạch đón học sinh trở lại trường, bảo đảm nền nếp dạy và học được duy trì ổn định, an toàn. Trong tháng, công tác chuẩn bị khởi công các trường biên giới với quy mô lớn trên dịa bàn tỉnh, góp phần củng cố cơ sở vật chất biên giới vững chắc; bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi, đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý chất lượng.

5. Hoạt động văn hóa - thể thao:

Hoạt động văn hóa, nghệ thuật: trong tháng, tỉnh tổ chức nhiều hoạt động mừng Đảng – mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026. Tổ chức Đường hoa Xuân và Lễ Khai mạc tại Quảng trường Hùng Vương (phường Đạo Thạnh) và đường Lý Thường Kiệt (phường Cao Lãnh). Hai Đường hoa Xuân diễn ra từ ngày 16 đến 21/02/2026 (nhằm 29 tháng Chạp năm Ất Tỵ đến Mùng 5 Tết năm Bính Ngọ), thu hút trên 41.500 lượt người tham quan, thưởng lãm, chụp ảnh lưu niệm. Toàn tỉnh có 08 địa phương tổ chức bắn pháo hoa mừng Xuân Bính Ngọ, gồm: phường Đạo Thạnh, phường Cao Lãnh, phường Sa Đéc, phường Hồng Ngự, phường Long Thuận, phường Mỹ Phước Tây, xã Chợ Gạo và xã Trường Xuân. Cùng với đó, Chương trình nghệ thuật chào năm mới 2026 được truyền hình trực tiếp trên sóng Truyền hình Đồng Tháp, kết hợp bắn pháo hoa đêm Giao thừa tại 04 điểm cầu (phường Đạo Thạnh – điểm cầu chính, phường Cao Lãnh, phường Sa Đéc, phường Hồng Ngự), thu hút khoảng 180.000 lượt người theo dõi.

Công tác trưng bày, triển lãm được tổ chức phong phú, gồm: trưng bày chuyên đề “Sắc sen” tại Bảo tàng cơ sở 1 (phường Mỹ Tho) với 50 ảnh; trưng bày “Ảnh đẹp Đồng Tháp” tại Quảng trường Hùng Vương với 34 ảnh; triển lãm ảnh chủ đề “Cao Lãnh xưa” tại Bảo tàng cơ sở 2 (phường Cao Lãnh) với 30 ảnh và 01 pano; đồng thời trưng bày hiện vật chủ đề “Đồ dùng sinh hoạt gia đình”, tranh về sen, mô hình thu nhỏ một số di tích trên địa bàn tỉnh và bộ ảnh “Đồng Tháp đất và người”.

Hoạt động thư viện: trong tháng, triển lãm Hội Báo Xuân trực tuyến Bính Ngọ năm 2026 với hơn 280 ấn phẩm xuân của các bộ, ban, ngành Trung ương, Báo chí các tỉnh, thành phố trên cả nước. Giới thiệu sách trực tuyến: các ấn phẩm Báo Xuân Bính Ngọ các tỉnh, thành phố; sách về Đảng Cộng sản Việt Nam, sách về Tết Nguyên Đán trên các trang thông tin điện tử của Thư viện từ ngày 07/02/2026 đến hết ngày 21/02/2026. Tổng số lượt phục vụ tại Thư viện đạt 58.557 lượt người với 175.671 lượt tài liệu; 330.785 lượt truy cập kênh thông tin; xe thư viện lưu động phục vụ 150 lượt người/300 lượt tài liệu.

Hoạt động Thể dục - Thể thao: trong tháng, thể thao Đồng Tháp tham dự Giải Cờ vua tỉnh An Giang mở rộng – tranh Cúp Chess Star lần thứ I năm 2025–2026 tổ chức tại tỉnh An Giang, kết quả đạt 02 huy chương Vàng và 01 huy chương Bạc. Đồng thời, tham dự Vòng chung kết Giải Bóng đá vô địch U19 quốc gia năm 2026, diễn ra từ ngày 07/01 đến 30/01/2026 tại tỉnh Hưng Yên.

6. Tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội:

(theo báo cáo của ngành Công an)

Trong tháng xảy ra 86 vụ phạm tội về trật tự xã hội, giảm 10 vụ so cùng kỳ; Hậu quả là 02 người chết, 34 người bị thương, tài sản thiệt hại khoảng 1,7 tỷ đồng; Cơ quan chức năng đã điều tra, khám phá 82 vụ (đạt tỷ lệ 95,3%), bắt giữ và xử lý 213 đối tượng. Tính từ đầu năm đến nay, tổng số vụ phạm tội là 188 vụ, giảm 46 vụ; Vụ việc đã làm 07 người chết, 58 người bị thương, tổng giá trị tài sản thiệt hại khoảng 17,3 tỷ đồng; Đã điều tra, khám phá được 164 vụ (đạt tỷ lệ 87,2%), xử lý 351 đối tượng.

Về tội phạm ma túy trong tháng, lực lượng chức năng đã phát hiện và xử lý 91 vụ với 127 đối tượng.

7. Trật tự an toàn giao thông:

(theo báo cáo ngành Công an, số liệu tính từ ngày 15/01/2026 đến 14/02/2026)

Trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026, các lực lượng chức năng triển khai đợt cao điểm tuần tra, kiểm soát, xử lý nghiêm vi phạm trật tự, an toàn giao thông đường bộ và đường thủy. Lực lượng Cảnh sát giao thông tăng cường điều tiết, phân luồng, phòng chống ùn tắc, không để phát sinh ùn tắc tại các nút giao trọng điểm trên các tuyến Quốc lộ 1, 30, 50, 60, 54, 80, N2, N2B và đường dẫn cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh – Trung Lương – Mỹ Thuận, bảo đảm giao thông thông suốt, an toàn phục vụ nhu cầu đi lại của Nhân dân trong dịp Tết.

Tai nạn giao thông đường bộ:

trong tháng, xảy ra 61 vụ, tăng 26 vụ so tháng trước và giảm 04 vụ so cùng kỳ. Hậu quả làm chết 52 người (tăng 26 người so tháng trước, giảm 10 người so cùng kỳ) và 22 người bị thương (tăng 7 người so tháng trước, giảm 18 người so cùng kỳ). Lũy kế từ đầu năm đến tháng báo cáo, toàn tỉnh đã xảy ra 96 vụ, giảm 42 vụ so với cùng kỳ; làm chết 78 người (giảm 12 người) và làm bị thương 37 người (giảm 29 người). Các nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông chủ yếu vẫn do ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông như: uống rượu say, điều khiển xe khi có rượu bia, phóng nhanh vược ẩu, không làm chủ tốc độ; không đi đúng phần đường, làn đường; không nhường đường, vượt đèn đỏ, thiếu quan sát…

Tai nạn giao thông đường thủy:

trong tháng xảy ra 01 vụ (tăng 01 vụ so cùng kỳ). Tổng số vụ từ đầu năm đến nay là 02 vụ làm chết 01 người, tăng 01 vụ và tương đương số người chết so với cùng kỳ.

Tình hình trật tự an toàn giao thông Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026 qua 9 ngày (từ ngày 14/02/2026 đến ngày 22/02/2026): Tai nạn giao thông đường bộ xảy ra 18 vụ (giảm 15 vụ so cùng kỳ), chết 10 người (giảm 12 người so cùng kỳ), bị thương 10 người (giảm 08 người so cùng kỳ. Tai nạn giao thông đường thủy không xảy ra vụ tai nạn giao thông nào.

8. Tình hình cháy nổ, môi trường và thiên tai:

Cháy: trong tháng xảy ra 09 vụ cháy, không gây thiệt hại về người, tài sản thiệt hại trị giá khoảng 1,1 tỷ đồng. Nâng tổng số vụ cháy từ đầu năm đến nay là 11 vụ, tăng 09 vụ; thiệt hại tài sản khoảng 1,1 tỷ đồng.

Lĩnh vực môi trường: trong tháng xảy ra 02 vụ vi phạm trên địa bàn tỉnh, số vụ vi phạm đã được xử lý là 02 vụ với số tiền xử phạt trên 542 triệu đồng.

Tình hình thiên tai: trong tháng, trên địa bàn Tỉnh xảy ra 01 vụ sạt lở bờ sông Tiền, tại tổ 1, ấp An Hòa 2, xã Phú Hựu với tổng chiều dài bình quân khoảng 54m, sâu vào đất liền 38m, mất diện tích đất khoảng 2.052 m2, vụ sạt lở không gây thiệt hại về người, về tài sản có 06 hộ dân nằm trong khu vực sạt lở được chính quyền địa phương hỗ trợ và bố trí di dời về cụm dân cư và nơi ở mới an toàn và ổn định hơn.