Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Tháp tháng 4 năm 2026
Tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh trong tháng 4/2026 tiếp tục phát triển. Hoạt động sản xuất kinh doanh các ngành, các lĩnh vực đều tăng so cùng kỳ. Kết quả thực hiện trên các lĩnh vực như sau:
I. SẢN XUẤT NÔNG LÂM NGHIỆP VÀ THỦY SẢN
1. Nông nghiệp
* Trồng trọt:
Cây lương thực có hạt: diện tích gieo trồng cộng dồn từ đầu vụ sản xuất ước đạt 320.038 ha, giảm 20,3% so cùng kỳ; trong đó cây lúa gieo sạ 317.250 ha, giảm 20,5%.
- Cây lúa:
+ Vụ Đông xuân 2025 – 2026: diện tích gieo trồng ước tính 223.450 ha, đạt 98,4% kế hoạch và giảm 2,7% so cùng kỳ, tương ứng giảm 6.230 ha; do chậm tiến độ 4.023 ha, chuyển đổi sang cây lâu năm 1.594 ha, cây hàng năm khác 533 ha, nuôi trồng thủy sản 55 ha, đất phi nông nghiệp là 25 ha. Lúa Đông xuân 2025-2026 đã thu hoạch 197.389 ha, chiếm 88,3% diện tích gieo trồng của vụ; Năng suất thu hoạch bình quân ước đạt 72,5 tạ/ha với sản lượng thu hoạch ước đạt 1.431.070 tấn bằng 86,6% sản lượng so với cùng kỳ.
+ Vụ Hè thu 2026: tính đến ngày 20/4, toàn tỉnh gieo sạ được 93.799 ha, đạt 41,4% so với kế hoạch, giảm 44,6% so với cùng kỳ. Lịch xuống giống được triển khai theo từng vùng, đảm bảo né rầy, thích ứng điều kiện thời tiết và nguồn nước như: đối với vùng sản xuất 3 vụ, xuống giống đợt 1 từ ngày 17 đến 24/2/2026, đợt 2 từ ngày 18 đến 25/3/2026 và đợt 3 từ ngày 10 đến 20/5/2026; đối với vùng sản xuất 2 vụ, xuống giống đợt 1 từ ngày 18 đến 25/3/2026 và đợt 2 từ ngày 17 đến 24/4/2026; khu vực ven biển xuống giống từ ngày 10 đến 25-5-2026 và chỉ thực hiện khi mùa mưa bắt đầu, đảm bảo nguồn nước ngọt. Hiện nay, lúa đang trong giai đoạn mạ, đẻ nhánh và làm đòng. Tỉnh đẩy mạnh sử dụng giống ngắn ngày chất lượng cao, thích ứng phèn - mặn, phù hợp từng vùng sinh thái, áp dụng quy trình giảm giống, giảm phân thuốc và cơ giới hóa 100%. Cơ cấu giống lúa vụ Đông Xuân 2025 - 2026 tập trung vào các giống chất lượng cao, chịu mặn/phèn tốt, thời gian sinh trưởng ngắn (85-95 ngày) như: Đài Thơm 8 (chiếm 26,4%); OM 18 (chiếm 35,8%); OM 5451 (chiếm 4,2%); OM 380 (chiếm 1,8%); OM 4900 (chiếm 1,9%); ST 24, ST 25 (chiếm 1,4%); IR50404 (chiếm 6,5%); các giống lúa nếp (chiếm 14,4%), giống lúa khác còn lại chiếm 7,6%.
- Cây ngô: diện tích gieo trồng tính đến ngày 20/4/2026 ước đạt 2.789 ha, đạt 38,0% so với kế hoạch, tăng 4,5% so cùng kỳ. Ngô thuộc loại cây ngắn ngày, dễ trồng, dễ chăm sóc. Bên cạnh lấy trái bán cho thương lái; lá, thân ngô khi thu hoạch còn tận dụng làm thức ăn cho gia súc.

Hình 1. Diện tích gieo trồng một số cây hàng năm tính đến 20/4/2026
- Cây rau đậu các loại: diện tích gieo trồng tính đến 20/4/2026 ước đạt 35.805 ha, tăng 0,7% so cùng kỳ; trong đó: rau các loại 35.615 ha, tăng 0,7% so cùng kỳ.
Chăn nuôi: ước tổng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh tại thời điểm 30/4/2026 như sau: đàn trâu 2,0 nghìn con, giảm 2,7%; đàn bò 145,8 nghìn con, giảm 2,7% so cùng kỳ; đàn lợn 403,8 nghìn con, tăng 1,1%; đàn gia cầm 23,4 triệu con, giảm 2,3%. Đàn trâu giảm chủ yếu do hiệu quả kinh tế thấp, thời gian nuôi kéo dài và diện tích chăn thả ngày càng thu hẹp. Đàn bò giảm do chi phí thức ăn ở mức cao. Ngược lại, đàn lợn tăng nhờ công tác phòng, chống dịch bệnh được kiểm soát tốt, tạo điều kiện thuận lợi cho tái đàn, các doanh nghiệp và trang trại quy mô lớn duy trì sản xuất ổn định và từng bước mở rộng quy mô. Đàn gia cầm giảm do chi phí đầu vào cao, thị trường tiêu thụ chưa ổn định, người chăn nuôi còn thận trọng trong tái đàn.

Hình 2. Chăn nuôi tại thời điểm 30/4/2026
2. Lâm nghiệp:
Diện tích rừng trồng mới tập trung: trong tháng có 9,5 ha rừng được trồng mới tập trung, giảm 5,9% tương đương giảm 0,6 ha so với cùng kỳ. Cộng dồn đến tháng 4/2026 có 91,4 ha rừng được trồng mới tập trung, tăng 0,3% tương đương tăng 0,3 ha so với cùng kỳ.
Cây phân tán: trong tháng, toàn tỉnh thực hiện trồng mới được 18 ngàn cây phân tán các loại, giảm 7,5% so cùng kỳ. Cộng dồn đến tháng 4/2026 số lượng cây phân tán ước đạt 108 nghìn cây, giảm 5,8%, tương đương giảm 6,7 nghìn cây so với cùng kỳ. Số cây trồng phân tán chủ yếu được trồng nhiều vào dịp đầu năm (tháng 01-03/2026), nhằm phát huy phong trào “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026. Ngược lại, vào tháng nắng nóng cao điểm như hiện nay số lượng cây lâm nghiệp trồng phân tán bị thu hẹp do tỷ lệ cây trồng sống thấp, sự phát triển cơ sở hạ tầng ở địa phương làm số lượng trồng cây phân tán ngày càng giảm dần.
Sản lượng gỗ khai thác: trong tháng sản lượng gỗ khai thác ước đạt 15.256 m3; giảm 8,9% so với cùng kỳ. Cộng dồn đến tháng báo cáo ước tính có 47.556 m3 gỗ được khai thác, giảm 2,3% so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu do nhiều diện tích rừng chưa đến chu kỳ khai thác, nhu cầu khai thác trong dân giảm; đồng thời công tác quản lý, bảo vệ rừng được tăng cường, định hướng phát triển lâm nghiệp theo hướng bền vững, hạn chế khai thác quá mức.
3. Thủy hải sản:
Diện tích thả nuôi thâm canh trong tháng ước đạt 1.360 ha, giảm 3,2% so cùng kỳ. Tổng diện tích thả nuôi thâm canh 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 6.117 ha, giảm 1,0% so cùng kỳ, trong đó: cá tra đạt 1.527 ha (tăng 0,9%), tôm sú 2.720 ha (tăng 0,8%), tôm thẻ chân trắng 1.870 ha (giảm 5%). Thời tiết diễn biến chưa thuận lợi, nắng nóng kéo dài làm môi trường ao nuôi biến động, nhiệt độ nước tăng cao, phát sinh nguy cơ dịch bệnh, ảnh hưởng đến tỷ lệ sống và hiệu quả nuôi của tôm thẻ chân trắng. Do đó, người nuôi có xu hướng thận trọng trong thả nuôi.
Sản lượng thủy sản nuôi và khai thác biển trong tháng ước đạt 82.213 tấn, nâng tổng số sản lượng thủy sản nuôi và khai thác biển từ đầu năm đến tháng báo cáo ước đạt 301.167, giảm 0,7% so cùng kỳ, bao gồm:
- Sản lượng thủy sản nuôi trong tháng ước đạt 72.223 tấn, giảm 1,5% so cùng kỳ. Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, thu hoạch ước đạt 261.775 tấn, tương đương so cùng kỳ, trong đó: sản lượng cá đạt 247.223 tấn (giảm 0,1%); sản lượng tôm đạt 4.096 tấn (tăng 1,1%);…. Sản lượng nuôi cơ bản ổn định nhờ thời tiết tương đối thuận lợi, dịch bệnh được kiểm soát, năng suất nuôi duy trì ở mức khá.
- Sản lượng thủy sản khai thác biển trong tháng ước đạt 9.990 tấn, giảm 2,1% so cùng kỳ. Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, thu hoạch ước đạt 39.392 tấn, giảm 4,6% so cùng kỳ, trong đó: cá đạt 26.239 tấn (giảm 4,9%); tôm đạt 2.967 tấn (tăng 3,8%);…. Giá nhiên liệu tăng cao đã làm chi phí khai thác thủy sản tăng đáng kể, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của ngư dân, đặc biệt đối với các tàu khai thác xa bờ. Trong bối cảnh giá đầu vào duy trì ở mức cao, nhiều chủ tàu có xu hướng hạn chế chuyến biển hoặc cầm chừng sản xuất, qua đó tác động đến sản lượng khai thác thủy sản.
II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP
Sản xuất công nghiệp của tỉnh trong tháng 4/2026 tiếp tục đối mặt với các thách thức, do tác động của xung đột địa chính trị ở Trung Đông làm cho giá năng lượng biến động (tăng chi phí sản xuất, gián đoạn nguồn cung, sụt giảm đơn hàng). Tuy nhiên, các doanh nghiệp vẫn duy trì hoạt động ổn định và kỳ vọng tích cực nhờ các chính sách tài khóa kịp thời của Nhà nước[2].
Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 4/2026 ước tăng 1,83% so với tháng trước và tăng 13,24% so với cùng kỳ. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,94% so với tháng trước và tăng 14,03% so với cùng kỳ; ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước, điều hoà không khí tăng 1,33% so với tháng trước và tăng 3,58% so với cùng kỳ; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý, xử lý rác thải, nước thải giảm 1,44% so với tháng trước nhưng tăng 5,99% so với cùng kỳ.
Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 11,40% so cùng kỳ, trong đó ngành Công nghiệp chế biến, chế tạo là động lực chính với mức tăng 12,35%, tiếp theo là ngành khai khoáng tăng 8,03%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 0,51%; cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,08%.

Hình 3. Chỉ số sản xuất công nghiệp 4 tháng đầu năm 2026
Chỉ số sản xuất sản phẩm 4 tháng đầu năm 2026 so cùng kỳ như sau:
Có 70/111 sản phẩm có chỉ số sản xuất tăng so cùng kỳ: cát đen tăng 8,0%; gạo đã xát toàn bộ hoặc sơ bộ tăng 4,4%; phi lê đông lạnh tăng 21,4%; bột mịn, bột thô và bột viên từ cá tăng 34,9%; quả và hạt ướp lạnh tăng 45,9%; thức ăn cho gia súc tăng 15,3%; thức ăn cho gia cầm tăng 51,8%; thức ăn cho thủy sản tăng 15,9%; bia đóng lon tăng 19,7%; bộ com lê, quần áo cho người lớn dệt kim hoặc đan móc tăng 0,1%; áo phông, áo may ô và các loại áo lót khác cho người lớn dệt kim hoặc đan móc tăng 59,3%; giày, dép không thấm nước có đế ngoài và mũ bằng cao su hay plastic tăng 34,7%; giày, dép có đế ngoài và mũ bằng cao su, plastic các loại tăng 6,2%; thuốc và dược phẩm các loại tăng mạnh[3]; bao và túi từ plastic khác tăng 49,2%; ống và ống dẫn bằng đồng tăng 11,2%; điện mặt trời tăng 26,0%;…
Có 40/111 sản phẩm có chỉ số sản xuất giảm so cùng kỳ: bia đóng chai giảm 23,9%; thuốc lá có đầu lọc giảm 26,1%; túi xách giảm 19,4%; giày, dép thể thao có đế ngoài và mũ giày bằng cao su và plastic giảm 5,8%; giày, dép thể thao có mũ bằng da và có đế ngoài giảm 23,4%; bê tông tươi giảm 3,2%; thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm giảm 1,8%; dịch vụ sản xuất thiết bị điện chiếu sáng giảm 2,8%;…
* Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo:
Trong tháng 4/2026, tình hình tiêu thụ và tồn kho của ngành công nghiệp chế biến chế tạo đều tăng so với cùng kỳ: chỉ số tiêu thụ tăng 0,89% so với tháng trước và tăng 16,11% so với cùng kỳ; chỉ số tồn kho nhanh hơn gấp đôi chỉ số tiêu thụ (tăng 9,53% so với tháng trước và tăng 32,73% so với cùng kỳ), cụ thể như sau:
- Các ngành có chỉ số tiêu thụ (CSTT) tăng, chỉ số tồn kho (CSTK) tăng cao hơn CSTT phản ánh doanh nghiệp gia tăng sản xuất, tăng hàng tồn kho: sản xuất chế biến thực phẩm (CSTT tăng 17,79%, CSTK tăng 47,69%) và sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu (CSTT tăng 17,61%, CSTK tăng 55,33%). Riêng ngành sản xuất thiết bị điện tăng đột biến (CSTT tăng 286,18%, CSTK tăng 50,88%) chủ yếu do sản xuất của Công ty TNHH Nissei Electric Mỹ Tho tăng cao.
- Các ngành có tình hình sản xuất tốt, tiêu thụ tăng, tồn kho giảm: ngành dệt (CSTT tăng 33,13% trong khi CSTK giảm mạnh 54,53%); sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic do năng lực sản xuất mới từ dây chuyền mở rộng của Công ty Advance Việt Nam (CSTT tăng 37,84% trong khi CSTK giảm 0,76%); sản xuất kim loại tăng tiêu thụ nhờ nhu cầu nguyên liệu chế tạo pin xe điện và thiết bị năng lượng tái tạo tăng cao, giảm hàng tồn kho (CSTT tăng 14,55% trong khi CSTK giảm 7,24%).
- Ngành sản xuất da và các sản phẩm có liên quan gặp khó khăn, sản xuất giảm liên tục từ cuối năm 2025 sau khi Chính phủ Mỹ áp mức thuế quan mới (CSTT giảm 5,53%, trong khi CSTK tăng 20,36%).
- Các ngành có CSTT và CSTK đều giảm do tiêu thụ giảm, doanh nghiệp thu hẹp sản xuất: sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy (CSTT giảm 41,84%, CSTK giảm 55,88%); in, sao chép bản ghi các loại (CSTT giảm 40,15%; CSTK giảm 33,28%).
Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến chế tạo bốn tháng năm 2026 tăng 11,76% so với cùng kỳ. Trong đó, một số ngành cấp II đóng góp làm tăng chỉ số chung gồm: ngành sản xuất chế biến thực phẩm tăng 15,03%; dệt tăng 13,93%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 27,89%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 13,95%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 37,56%; sản xuất kim loại 13,32%; sản xuất thiết bị điện tăng 92,35%.;...
III. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP: (Theo báo cáo của Sở Tài Chính)
Thành lập mới: trong tháng có 365 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 62,2% so với tháng trước; với tổng vốn đăng ký là 2.024 tỷ đồng, tăng 69,6% so với tháng trước. Tính từ đầu năm 2026 đến nay, có 1.181 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 121,2% so với cùng kỳ, đạt 39,37% so với kế hoạch, với tổng vốn đăng ký là 5.284 tỷ đồng, tăng 32,4% so với cùng kỳ.
Giải thể, tạm ngừng hoạt động, tái hoạt động: Trong tháng, có 49 doanh nghiệp đã giải thể, tăng 75% so với tháng trước; 55 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, tăng 77,4% so với tháng trước; 22 doanh nghiệp hoạt động trở lại, tăng 57,1% so với tháng trước. Tính từ đầu năm đến nay, có 166 doanh nghiệp giải thể, tăng 84,4% so với cùng kỳ; 496 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, tăng 6,7% so với cùng kỳ; 207 doanh nghiệp hoạt động trở lại, bằng 90,4% so với cùng kỳ.
IV. ĐẦU TƯ - XÂY DỰNG
Với sự quyết liệt trong công tác chỉ đạo, điều hành, tháo gỡ điểm nghẽn của UBND tỉnh, tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện tháng 4/2026 đạt 731 tỷ đồng, tăng 14,8% so với tháng trước. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 672 tỷ đồng, tăng 15,6%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 59 tỷ đồng, tăng 6,8%.
So với cùng kỳ năm trước, vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý giảm 23,1%, trong đó vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh giảm 28,7%, vốn ngân sách nhà nước cấp xã tăng 5,8 lần.
Tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 2.354 tỷ đồng, bằng 20,7% kế hoạch năm, giảm 31,4% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó:
- Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 2.153 tỷ đồng, bằng 21,4% kế hoạch năm, giảm 36,8% so với cùng kỳ năm 2025;
- Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp xã 201 tỷ đồng, bằng 15,4% kế hoạch năm, gấp 7,5 lần so với cùng kỳ năm 2025.
Thu hút đầu tư:
Lũy kế từ đầu năm đến nay, tỉnh thu hút 03 dự án đầu tư ngoài khu công nghiệp, khu kinh tế, trong đó 02 dự án có vốn đầu tư nước ngoài; 01 dự án có vốn đầu tư trong nước, với tổng vốn đăng ký đạt 154,46 tỷ đồng; điều chỉnh tăng vốn 01 dự án với vốn đăng ký tăng thêm hơn 272 tỷ đồng.
V. THƯƠNG MẠI - GIÁ CẢ - DỊCH VỤ
1. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng:
Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trong tháng thực hiện 16.040 tỷ đồng, tăng 1,8% so tháng trước và tăng 14% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 11.907 tỷ đồng, tăng 13%; lưu trú 60 tỷ đồng, tăng 32,8%; ăn uống 1.977 tỷ đồng, tăng 17,1%; du lịch lữ hành 37 tỷ đồng, tăng 36,7%; dịch vụ tiêu dùng khác 2.058 tỷ đồng, tăng 16,1% so cùng kỳ. Bốn tháng năm 2026, tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thực hiện 62.469 tỷ đồng, đạt 21,5% kế hoạch, tăng 13,2% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 46.570 tỷ đồng, tăng 13,1%; lưu trú 230 tỷ đồng, tăng 19,9%; ăn uống 7.832 tỷ đồng, tăng 15,3%; du lịch lữ hành 145 tỷ đồng, tăng 44,8%; dịch vụ tiêu dùng khác 7.692 tỷ đồng, tăng 10,9% so cùng kỳ.

Hình 4. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng
2. Xuất - Nhập khẩu
(Theo báo cáo Sở Công Thương)
a. Xuất khẩu:
Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng ước thực hiện 880 triệu USD, tăng 0,3% so tháng trước và tăng 7,1% so cùng kỳ. Bốn tháng xuất khẩu 3.194 triệu USD, đạt 31,9% kế hoạch, tăng 12,7% so cùng kỳ. Tình hình xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của tỉnh như sau:
b. Nhập khẩu:
Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 04/2026 ước đạt 490 triệu USD, tăng 2,1% so tháng trước và tăng 19,8% so cùng kỳ. Bốn tháng, kim ngạch nhập khẩu 1.925 triệu USD, đạt 38,5% kế hoạch, tăng 7,1% so cùng kỳ.
Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của tỉnh trong tháng 04/2026 như: kim loại thường khác (nguyên liệu đồng) ước đạt 652,4 triệu USD, tăng 21,9%; nguyên phụ liệu dệt may, da giày, túi xách ước đạt 196 triệu USD, tăng 1,8%; mặt hàng khác ước đạt 582 triệu USD, giảm 16,8%; sắt thép các loại ước đạt 165 triệu USD, giảm 1,9% so cùng kỳ…
3. Chỉ số giá:
Thời tiết trong tháng nắng nóng kéo dài dẫn đến nhu cầu sử dụng điện sinh hoạt và nước sinh hoạt của người dân tăng nên giá điện sinh hoạt và nước sinh hoạt tăng. Giá xăng dầu, giá gas điều chỉnh theo giá nhiên liệu thế giới cũng là nguyên nhân dẫn đến tăng giá các mặt hàng ăn uống ngoài gia đình, vật liệu xây dựng và nhiều mặt hàng thiết yếu khác đó cũng là những nguyên nhân chính làm cho chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 04/2026 tăng 0,53% (thành thị tăng 0,79%, nông thôn tăng 0,45%) so tháng 03/2026; tăng 4,99% so cùng kỳ.
So với tháng 03/2026, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 9 nhóm tăng: nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,75%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,03%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,73%; may mặc, mũ nón và giầy dép tăng 0,55%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,52%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,31%; văn hóa, giải trí và du lịch 0,2%; thông tin và truyền thông tăng 0,1%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,02%. Nhóm giao thông giảm 1,68% và nhóm Giáo dục có chỉ số ổn định.
Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 04 tháng năm 2026 tăng 3,72% so với cùng kỳ, Một số chỉ số tăng như: nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,35% (Cụ thể như: giá nhà ở thuê tăng 3,78%; dịch vụ sửa chữa nhà ở tăng 10,91%; giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 13,12%; giá nước sinh hoạt tăng 5,24%; …); thuốc và dịch vụ y tế tăng 4,03%; hàng ăn uống và dịch vụ ăn uống tăng 3,58%; giáo dục 3,53%; giao thông 3,25%;.... chỉ riêng nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,17% tác động không đáng kể đến chỉ số tiêu dùng bình quân chung bốn tháng.
Chỉ số giá vàng tháng 04/2026 giảm 7,27% so với tháng 03/2026, tăng 10,17% so với tháng 12/2025, tăng 68,58% so với bình quân cùng kỳ, tương ứng giảm 1.246 ngàn đồng/chỉ đối với vàng nhẫn trơn 9999.
Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng 04/2026 giảm 0,35% so tháng trước, tương đương giảm 9.390 đồng/100USD và giảm 0,39% so với tháng 12/2025, Bình quân bốn tháng năm 2026 tăng 2,14% so cùng kỳ.
4. Vận tải:
Tình hình vận tải trên địa bàn tỉnh ổn định, đường bộ và đường thủy đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa và đi lại của người dân. Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trong tháng thực hiện 734 tỷ đồng, tăng 1,5% so tháng trước và tăng 15,9% so cùng kỳ. Bốn tháng thực hiện 2.920 tỷ đồng, tăng 16,4% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 1.037 tỷ đồng, tăng 27,4%; doanh thu vận tải hàng hóa thực hiện 1.422 tỷ đồng, tăng 14,4%. Doanh thu vận tải đường bộ thực hiện 1.457 tỷ đồng, tăng 23,1%; doanh thu vận tải đường thủy thực hiện 1.457 tỷ đồng, tăng 23,1%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 242 tỷ đồng, giảm 7,2% so cùng kỳ. Vận tải hành khách trong tháng đạt 6.497 ngàn hành khách, tăng 2,1% so tháng trước và tăng 10,8% so cùng kỳ; luân chuyển 171.321 ngàn hành khách.km, giảm 0,7% so tháng trước và giảm 13,8% so cùng kỳ. Bốn tháng, vận chuyển 27.072 ngàn hành khách, tăng 16,7%; luân chuyển 990.614 ngàn hành khách.km, tăng 26,2% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 10.660 ngàn hành khách, tăng 42,1% và luân chuyển 982.681 ngàn hành khách.km, tăng 26,4%; vận tải đường thủy 16.412 ngàn hành khách, tăng 4,5% và luân chuyển 7.933 ngàn hành khách.km, tăng 3,9%.
Vận tải hàng hóa trong tháng đạt 2.785 ngàn tấn, tăng 0,7% so tháng trước và tăng 21,7% so cùng kỳ; luân chuyển 494.019 ngàn tấn.km, tăng 0,3% so tháng trước và tăng 19,2% so cùng kỳ. Bốn tháng, vận tải 10.885 ngàn tấn hàng hóa, tăng 19,4%; luân chuyển 1.920.056 ngàn tấn.km, tăng 17% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 2.159 ngàn tấn, giảm 0,6% và luân chuyển 333.591 ngàn tấn.km, tăng 17% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 8.726 ngàn tấn, tăng 25,7% và luân chuyển 1.586.465 ngàn tấn.km, tăng 18,6% so cùng kỳ.
Trong tháng đăng ký mới 11.027 chiếc mô tô xe máy và 1.294 chiếc xe ô tô. Tổng số xe đang quản lý trên địa bàn tỉnh là 3.530.489 chiếc, trong đó mô tô xe máy: 3.413.478 chiếc; 113.748 xe ô tô, 169 xe ba bánh, 666 xe đạp điện và 3.372 xe khác.
5. Bưu chính viễn thông:
Ngành bưu chính viễn thông đang phát triển mạnh mẽ theo hướng hiện đại hóa, số hóa và tích hợp sâu rộng. Hạ tầng thông tin được nâng cấp, cung cấp các dịch vụ bưu chính số và viễn thông tốc độ cao, đóng vai trò nền tảng cho kinh tế số và xã hội số. Đến cuối tháng 04 năm 2026 tổng số thuê bao điện thoại có trên mạng là 3.668 ngàn thuê bao, thuê bao điện thoại bình quân đạt 107,77 thuê bao/100 dân (bao gồm: hữu tuyến, vô tuyến, trả trước, trả sau). Số thuê bao điện thoại di động có sử dụng Internet (3G, 4G) đến cuối tháng 04 là: 2.605 ngàn thuê bao. Thuê bao internet có trên mạng là 3.709 ngàn thuê bao, mật độ Internet bình quân ước đạt 108,96 thuê bao/100 dân.
VI. TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
1. Tài chính:
Tổng thu ngân sách nhà nước trong tháng thực hiện 4.830 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn 2.560 tỷ đồng, thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 353 tỷ đồng. Bốn tháng, thu 22.171 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn thực hiện 10.507 tỷ đồng, đạt 44,2% dự toán và tăng 7,5% so cùng kỳ; thu nội địa 10.168 tỷ đồng, đạt 43,8% dự toán, tăng 7,3% so cùng kỳ (trong thu ngân sách trên địa bàn: thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 1.649 tỷ đồng, đạt 40,7% dự toán, tăng 5,3% so cùng kỳ; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 3.031 tỷ đồng, đạt 63,2% dự toán, tăng 41,3% so cùng kỳ, thu từ hoạt động xổ số kiến thiết 2.339 tỷ đồng, đạt 50,5% dự toán, tăng 8,5% so cùng kỳ...).
Tổng chi ngân sách nhà nước trong tháng 2.797 tỷ đồng; trong đó: chi đầu tư phát triển 728 tỷ đồng. Bốn tháng, chi 13.089 tỷ đồng, đạt 32,6% dự toán, bằng 93,8% so cùng kỳ; trong đó: chi đầu tư phát triển 1.320 tỷ đồng, đạt 15,1% dự toán, bằng 29,2% so cùng kỳ; chi hành chính sự nghiệp 6.859 tỷ đồng, đạt 30,4% dự toán và bằng 99,6% so cùng kỳ.
2. Ngân hàng:
Đến cuối tháng 03/2026, vốn huy động ước đạt 213 ngàn tỷ, tăng 5 ngàn tỷ và tăng 2,3% so với cuối năm 2025, tổng dư nợ cho vay của các TCTD trong tỉnh ước đạt 246 ngàn tỷ, tăng 3 ngàn tỷ đồng và tăng 1,2% so với cuối năm 2025. Dự tính đến cuối tháng 4/2026 vốn huy động đạt 213 ngàn tỷ tăng 2,42%; dư nợ cho vay đạt 148 ngàn tỷ tăng 1,99% so với cuối năm 2025.
Nợ xấu: đến cuối tháng 02/2026 tỷ lệ nợ xấu/Tổng dư nợ (không bao gồm nợ xấu của các ngân hàng thương mại bị kiểm soát đặc biệt) chiếm 2,41%. Ước thực hiện tháng 03/2026 tỷ lệ nợ xấu/Tổng dư nợ nhỏ hơn 3%.
Quỹ tín dụng nhân dân: Đến cuối tháng 03/2026 tổng nguồn vốn huy động 2.779 tỷ đồng, giảm 79 tỷ đồng và giảm 2,76% so với cuối năm 2025. Dư nợ 2.300 tỷ đồng, giảm 39 tỷ đồng, tương đương giảm 1,67% so với cuối năm 2025. Tỷ lệ nợ xấu là 1,01%.
VII. KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
Trong tháng Hội đồng khoa học và công nghệ tổ chức họp tư vấn tuyển chọn thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh: 09 nhiệm vụ; nghiệm thu 01 nhiệm vụ cấp tỉnh, 01 nhiệm vụ cấp cơ sở; kiểm tra, đánh giá nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh 02 nhiệm vụ; kiểm tra và xác nhận tính hợp lệ của hồ sơ đăng ký tham gia tuyển chọn thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh 01 nhiệm vụ.
VIII. CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI
1. Lao động việc làm:
Trong tháng, đã giải quyết việc làm cho 5.125 lao động. Nâng tổng số lao động được giải quyết việc làm từ đầu năm đến nay là 14.365 lao động đạt 29% so với kế hoạch; Tổ chức 10 cuộc tư vấn tuyển dụng cho người lao động hưởng bảo hiểm thất nghiệp và 01 phiên giao dịch việc làm trực tuyến với 38 lượt doanh nghiệp tham gia, tư vấn trên 3.600 người.
Lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài là 340 lao động. Nâng tổng số lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài từ đầu năm đến tháng báo cáo là 1.207 lao động, đạt 55% kế hoạch, trong đó Hàn Quốc: 568 lao động, Nhật Bản: 467 lao động, Đài Loan: 124 lao động,....
Về trợ cấp thất nghiệp, trong tháng có 1.348 lao động được hưởng trợ cấp. Từ đầu năm đến nay, có 5.804 lao động được giải quyết chế độ trợ cấp thất nghiệp, với tổng kinh phí chi trả trên 82,9 tỷ đồng, góp phần hỗ trợ kịp thời đời sống, giúp người lao động ổn định trong giai đoạn tìm kiếm việc làm mới.
2. Chính sách xã hội:
Trong tháng, các chế độ ưu đãi đối với người có công được thực hiện đầy đủ, kịp thời. Cụ thể: đã lập quyết định trợ cấp một lần cho người thờ cúng liệt sĩ và chuyển đổi người thờ cúng liệt sĩ với 35 trường hợp; lập quyết định trợ cấp hàng tháng cho 01 người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; giải quyết trợ cấp tuất cho 02 trường hợp. Đồng thời, đã lập quyết định trợ cấp mai táng phí và trợ cấp một lần (03 tháng trợ cấp) cho 89 trường hợp. Bên cạnh đó, đã cấp lại giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh cho 56 trường hợp.
3. Hoạt động giáo dục:
Trong tháng, ngành Giáo dục đã triển khai đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ theo kế hoạch quý II. Nhiều hoạt động chuyên môn được thực hiện, trọng tâm là công tác chuẩn bị tuyển sinh lớp 10, tổ chức Kỳ thi tốt nghiệp THPT, khảo sát đánh giá diện rộng. Mạng lưới trường, lớp tiếp tục được củng cố. Tổ chức các hội nghị, tập huấn về tuyển sinh THPT và phần mềm quản lý thi theo hình thức trực tuyến cho các đơn vị; hướng dẫn tổ chức tuyển sinh lớp 10 và Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026. Đồng thời, tham dự hội nghị triển khai quy chế, nghiệp vụ thi do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức; hướng dẫn rà soát, cập nhật cơ sở dữ liệu về khu vực ưu tiên và thông tin học sinh. Bên cạnh đó, đã thực hiện thống kê, rà soát cơ sở vật chất, nhân sự phục vụ kỳ thi; kiểm tra điều kiện cơ sở vật chất tại các điểm thi dự kiến.
4. Hoạt động y tế:
Trong tháng có 15/44 bệnh truyền nhiễm được ghi nhận. Cộng dồn số ca mắc so với cùng kỳ, có 10 bệnh tăng (Bệnh do liên cầu lợn ở người, Sốt xuất huyết Dengue, Tay - chân - miệng, Viêm màng não do não mô cầu, Liệt mềm cấp nghi bại liệt, Lao phổi, Thương hàn, Viêm gan vi rút A, Viêm gan vi rút B, Thủy đậu); 08 bệnh giảm (Sởi, Viêm gan vi rút C , Viêm não vi rút khác, Cúm, Lỵ trực trùng, Quai bị, Tiêu chảy, Viêm gan vi rút khác ); 26 bệnh tương đương hoặc không xảy ra ca mắc.
Các bệnh truyền nhiễm trong tháng ghi nhận: bệnh sốt xuất huyết 782 ca mắc, làm 01 ca tử vong do bệnh sốt xuất huyết; bệnh tay - chân - miệng 454 ca, không có ca tử vong. Cộng dồn số ca mắc bệnh sốt xuất huyết: 2.057 ca, tăng 170,7%, 01 ca tử vong (cùng kỳ không có ca tử vong); bệnh tay – chân – miệng: 1.164 ca, tăng 107,5% so cùng kỳ.
Phòng chống HIV/AIDS trên địa bàn tỉnh tính đến nay là 16.079 người nhiễm HIV; 5.051 người chuyển sang AIDS; 3.926 người tử vong do AIDS.
Khám chữa bệnh trong tháng cho 643,4 nghìn lượt người, giảm 6,8% so cùng kỳ; trong đó, số người điều trị nội trú là 43,5 nghìn lượt người, tăng 1,6%. Cộng dồn từ đầu năm đến tháng báo cáo, đã khám chữa bệnh cho 1,9 triệu lượt người, giảm 12,7%; trong đó, số người điều trị nội trú là 118,4 nghìn lượt người, giảm 4,0%. Công suất sử dụng giường bệnh bình quân trong tháng đạt 83,5%.
5. Hoạt động văn hóa - thể thao:
Hoạt động văn hóa nghệ thuật: trong tháng công tác truyền thông, tuyên truyền tập trung vào các ngày lễ lớn của đất nước và các sự kiện chính trị - xã hội quan trọng của tỉnh như: Ngày Quốc tế Hạnh phúc; Giỗ Tổ Hùng Vương (mùng 10 tháng 3 âm lịch); kỷ niệm Ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2026) và Ngày Quốc tế Lao động (01/5). Hoạt động biểu diễn nghệ thuật tiếp tục được duy trì, phục vụ nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần của nhân dân, thu hút đông đảo người xem. Trong tháng đã tổ chức 05 buổi biểu diễn với khoảng 2.150 lượt người tham dự, tiêu biểu như các chương trình phục vụ kỷ niệm 50 năm Ngày truyền thống Bộ đội Biên phòng tỉnh Đồng Tháp (17/3/1976 – 17/3/2026), kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống ngành Thể dục Thể thao (27/3/1946 – 27/3/2026) và Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam lần thứ 5 năm 2026. Đặc biệt, chương trình nghệ thuật “Dạ khúc tri âm” được dàn dựng và biểu diễn tại Rạp Thầy Năm Tú với nhiều tiết mục đặc sắc, mang đậm giá trị nghệ thuật sân khấu cải lương truyền thống, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị di tích văn hóa cấp tỉnh.
Hoạt động thư viện: trong tháng, tổ chức Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam lần thứ 5 năm 2026 trên địa bàn tỉnh với chủ đề “Sách - Tri thức - Khát vọng phát triển đất nước”. Các hoạt động hưởng ứng được triển khai đồng bộ, gồm: lễ phát động hưởng ứng Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam năm 2026 tại Trung tâm Văn hóa - Tổ chức sự kiện tỉnh; tổ chức nói chuyện chuyên đề về Ngày Sách và Văn hóa đọc; phát động các cuộc thi như “Đại sứ Văn hóa đọc”, vẽ tranh theo sách; tổ chức sinh hoạt câu lạc bộ đọc sách, các hoạt động tìm hiểu và bổ trợ kiến thức cho thanh thiếu nhi; triển khai các hoạt động phục vụ người khuyết tật và mô hình thư viện lưu động tại vùng sâu, vùng xa, khu vực có điều kiện khó khăn. Trong tháng, Thư viện tỉnh phục vụ trên 50 nghìn lượt người đọc với trên 150 nghìn lượt tài liệu; các kênh thông tin thư viện có trên 472 nghìn lượt truy cập.
Hoạt động bảo tàng: trong tháng, công tác trưng bày được duy trì ổn định tại 02 cơ sở với các chuyên đề về lịch sử, văn hóa, kháng chiến và trưng bày ngoài trời; phối hợp phục vụ Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương (mùng 10/3 âm lịch). Trong tháng, các khu di tích và Bảo tàng tỉnh đã đón tiếp trên 84 nghìn lượt khách.
Hoạt động thể dục, thể thao:
Tổ chức Giải Pickleball tại Phường Đạo Thạnh, tỉnh Đồng Tháp cho đối tượng tham dự là lãnh đạo, công chức, viên chức Ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đồng Tháp; phối hợp Công an tỉnh tổ chức “Ngày chạy Olympic - Vì sức khỏe toàn dân - Vì an ninh Tổ quốc” với hơn 5.000 người tham gia, bao gồm lãnh đạo, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang, công chức, viên chức, học sinh, sinh viên và đông đảo quần chúng nhân dân. Toàn tỉnh tổ chức Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân tại 102/102 phường, xã với hơn 107 nghìn lượt người tham dự.
Thể thao thành tích cao tiếp tục được duy trì đào tạo lực lượng 26 môn thể thao thành tích cao. Trong tháng, thể thao Đồng Tháp tham dự 17 giải cấp quốc gia và quốc tế, đạt 15 huy chương Vàng, 16 huy chương Bạc và 35 huy chương Đồng.
6. Tình hình trật tự an toàn xã hội
(theo báo cáo ngành Công an):
Trong tháng xảy ra 118 vụ phạm tội về trật tự xã hội, tăng 08 vụ so cùng kỳ; Hậu quả là 08 người chết, 35 người bị thương, tài sản thiệt hại khoảng 89 tỷ đồng; Cơ quan chức năng đã điều tra, khám phá 91 vụ (đạt tỷ lệ 77,1%), bắt giữ và xử lý 230 đối tượng.
Về tội phạm ma túy trong tháng, lực lượng chức năng đã phát hiện và xử lý 74 vụ với 103 đối tượng.
7. Trật tự an toàn giao thông (theo báo cáo ngành Công an, số liệu tính từ ngày 15/3/2026 đến 14/4/2026):
Tai nạn giao thông đường bộ: trong tháng, xảy ra 45 vụ, giảm 04 vụ so tháng trước và giảm 04 vụ so cùng kỳ. Hậu quả làm chết 42 người (tăng 08 người so tháng trước, tăng 08 người so cùng kỳ) và 12 người bị thương (giảm 12 người so tháng trước, giảm 11 người so cùng kỳ). Cộng dồn từ đầu năm đến tháng báo cáo, toàn tỉnh đã xảy ra 190 vụ, giảm 36 vụ so với cùng kỳ; làm chết 154 người (tăng 09 người) và làm bị thương 73 người (giảm 46 người). Các nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông chủ yếu vẫn do ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông như: uống rượu say, điều khiển xe khi có rượu bia, phóng nhanh vược ẩu, không làm chủ tốc độ; không đi đúng phần đường, làn đường; không nhường đường, vượt đèn đỏ, thiếu quan sát…
Tai nạn giao thông đường thủy: trong tháng không xảy ra. Cộng dồn từ đầu năm đến tháng báo cáo là 02 vụ làm chết 01 người, tương đương về số vụ và số người chết so với cùng kỳ.
Tình hình trật tự an toàn giao thông dịp nghỉ Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương 2026 (từ ngày 25/4/2026 đến ngày 27/4/2026): xảy ra 04 vụ, giảm 01 vụ so cùng kỳ; làm chết 03 người, giảm 01 người; 01 người bị thương, giảm 01 người; thiệt hại tài sản ước tính 18,5 triệu đồng.
8. Tình hình cháy nổ, môi trường và thiên tai:
- Cháy, nổ: trong tháng, xảy ra 04 vụ cháy, giảm 01 vụ so cùng kỳ; thiệt hại về tài sản khoảng 246 triệu đồng. Nguyên nhân do sự cố hệ thống điện 03 vụ; do trẻ em nghịch lửa 01 vụ.
- Môi trường: trong tháng, có 01 vụ vi phạm môi trường đã xử lý với số tiền xử phạt 50 triệu đồng. Tính từ đầu năm, xảy ra 04 vụ vi phạm môi trường, giảm 06 vụ so cùng kỳ; đã xử lý 06 vụ với tổng số tiền xử phạt là 818,5 triệu đồng.
- Thiên tai: trong tháng trên địa bàn tỉnh xảy ra 03 vụ thiên tai (01 vụ do mưa, giông lốc; 02 vụ sạt lở nội đồng). Tuy không gây thiệt hại về người nhưng đã làm tốc mái 49 căn nhà, 01 điểm phụ trường Tiểu học An Phong 1 bị tốc mái 05 phòng học, hư bảng tên trường, một số laphong bị rớt, 02 tivi dùng để dạy học bị ướt...Ước tính giá trị thiệt hại khoảng 818 triệu đồng.
Tập tin : web_solieu_uoc T4-2026.xlsx
Tin khác