0273.3 872582 | dongthap@nso.gov.vn
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Tiền Giang quý I năm 2024
  •   14/03/2024 05:46

Với quyết tâm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2024, ngay trong những ngày đầu của quý I năm 2024, Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã triển khai kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh, giao nhiệm vụ cụ thể cho từng ngành, từng địa phương; đề ra các giải pháp chủ yếu thực hiện; tập trung tổ chức cho Nhân dân vui xuân đón Tết Nguyên đán Giáp Thìn năm 2024, vui tươi, lành mạnh, an toàn, tiết kiệm và đảm bảo trật tự an toàn xã hội được các tổ chức trong hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân tích cực hưởng ứng thực hiện. Kết quả thực hiện trên các lĩnh vực như sau:I. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊU KINH TẾ1. Tài chính - Ngân hàng:a. Tài chính:Tổng thu ngân sách nhà nước quý I ước tính thu được 8.170 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn ước thu 3.416 tỷ đồng, đạt 38,8% dự toán và tăng 31,1% so cùng kỳ; thu nội địa 3.351 tỷ đồng, đạt 39,3% dự toán, tăng 31,5% so cùng kỳ (trong thu ngân sách trên địa bàn: thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 998 tỷ đồng, đạt 48% dự toán, tăng 33,6% so cùng kỳ; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 687 tỷ đồng, đạt 56,8% dự toán, tăng 95,8% so cùng kỳ, thu từ hoạt động xổ số kiến thiết 738 tỷ đồng, đạt 40,3% dự toán, tăng 33,3% so cùng kỳ...).Tổng chi ngân sách nhà nước quý I là 4.970 tỷ đồng; trong đó: chi đầu tư phát triển 1.400 tỷ đồng, đạt 28,7% dự toán; chi hành chính sự nghiệp 2.109 tỷ đồng, đạt 25,3% dự toán và tăng 46,7% so cùng kỳ.b. Ngân hàng:Mặt bằng lãi suất trên địa bàn tỉnh ổn định tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội. Các tổ chức tín dụng chấp hành nghiêm các quy định về lãi suất, phí áp dụng đối với tiền gửi và cho vay. Lãi suất huy động (LSHĐ) tại hầu hết các chi nhánh ngân hàng thương mại (NHTM) trên địa bàn tỉnh tiếp tục giảm, từ 6,7%/năm trở xuống đối với tất cả các kỳ hạn. Không chỉ lãi suất kỳ hạn ngắn mà lãi suất kỳ hạn dài cũng được nhiều chi nhánh điều chỉnh giảm mạnh, LSHĐ phổ biến từ mức trên 4% đến 5%/năm, LSHĐ thấp nhất là 1,5%/năm đối với tiền gửi tại quầy kỳ hạn 1 tháng, cao nhất ở mức 6,7%/năm đối với kỳ hạn 13 tháng. Lãi suất cho vay ngắn hạn phổ biến ở mức trên 4%/năm đến 9%/năm (chiếm 64,51% tổng dư nợ ngắn hạn VNĐ), trên 11%/năm đến 13%/năm đối với cho vay trung dài hạn VNĐ (chiếm 36,56% tổng dư nợ trung và dài hạn). Ước tính đến cuối tháng 3/2024, tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn đạt 97.144 tỷ, tăng 262 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 0,27% so với cuối năm 2023.Tổng dư nợ cho vay của các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn tỉnh đến cuối tháng 3/2024 ước tính đạt 97.352 tỷ, tăng 49 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 0,05% so với cuối năm 2023. Nợ xấu ước tính đến cuối tháng 3/2024, số dư là 1.825 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 1,87%, tăng 0,26% so với cuối năm 2023. Nhìn chung các ngân hàng phát sinh nợ xấu trong giới hạn an toàn với tỷ lệ thấp.Quỹ tín dụng nhân dân: quỹ tín dụng nhân dân hoạt động ổn định, các chỉ tiêu đều đạt mức tăng trưởng. Một số kết quả đạt được trong tháng 02/2024 so với cuối năm 2023 như sau: Nguồn vốn hoạt động đạt 1.608 tỷ đồng, tăng 61 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 40,1%, trong đó vốn huy động đạt 1.416 tỷ đồng, chiếm 88%; Nợ xấu số dư 4,56 tỷ đồng, chiếm 0,4%/tổng dư nợ, tăng 0,07%.2. Giá cả, lạm phát:Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 03/2024 giảm 0,25% (thành thị giảm 0,002%, nông thôn giảm 0,31) so tháng 2/2024, tăng 4% so tháng 3/2023. Bình quân 3 tháng đầu năm 2024 tăng 3,89% so cùng kỳ năm trước.So với tháng 02/2024, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 04 nhóm tăng: nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,1%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,25%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,03% và nhóm giao thông tăng 0,31%. Có 05 nhóm chỉ số giá giảm: hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,82% (trong đó: lương thực giảm 0,52%, thực phẩm giảm 1,6%); đồ uống và thuốc lá giảm 0,13%; may mặc, mũ nón, giầy dép giảm 0,34%; văn hoá giải trí và du lịch giảm 0,13% và hàng hoá và dịch vụ khác giảm 0,28%. Riêng nhóm bưu chính viễn thông và nhóm giáo dục chỉ số giá ổn định.Một số mặt hàng có chỉ số giá tăng so với tháng trước như sau:- Chỉ số giá nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 1,01% so với tháng 2/2024, tăng chủ yếu do giá nguyên liệu chế biến ở mức cao và chi phí nhân công tăng, trong đó: giá ăn ngoài gia đình tăng 1,27%; uống ngoài gia đình tăng 0,71%; đồ ăn nhanh mang đi tăng 0,07% so với tháng trước.- Chỉ số giá nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,1% so tháng trước, trong đó: Giá vật liệu xây dựng tăng 0,07% (sắt, cát, đá, xi măng), giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở khác tăng 0,34%, do hiện nay đang là mùa khô rất thuận lợi ngành xây dựng hoạt động, dẫn đến nhu cầu xây dựng tăng, giá tăng theo; mặc khác hiện nay giá xăng dầu đang ở mức cao, tác động đến chi phí vận chuyển và giá thành khai thác cát, đá tăng lên; riêng giá sắt, thép xây dựng từ đầu năm đến nay giá ổn định. Cùng với đó, giá dịch vụ sửa chữa nhà ở tháng này tăng 0,23% so với tháng trước; Giá gas trong tháng tăng nhẹ tăng 0,5%, tương ứng tăng 2.000 đồng/bình 12 kg vào ngày 01/3/2024, hiện nay giá gas bán lẻ phổ biến ở mức 402.000 đồng đến 410.000 đồng/bình 12 kg.- Chỉ số giá thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,25% so với tháng 02/2024, làm CPI chung tăng 0,02 điểm phần trăm. Trong đó, giá máy tính và phụ kiện tăng 1,48% (do giá Đô la Mỹ tăng); ổn áp điện tăng 2,63%; quạt điện tăng 0,11%; nến, diêm tăng 2,31%; xà phòng và chất tẩy rửa tăng 0,39%. Một số mặt hàng cơ cấu ít có giá giảm như: giá nồi cơm điện giảm 0,07%; hàng thuỷ tinh, sành sứ giảm 0,05% tác động không đáng kể đến chỉ số giá nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình.- Giá thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,03% so với tháng trước, thời tiết hiện nay đang vào giao mùa, các loại vi rút gây bệnh sinh sôi mạnh, người dân dễ mắc bệnh hô hấp nên nhu cầu mua các loại thuốc tăng cường hệ miễn dịch tăng, theo đó giá nhóm thuốc chống viêm nhiễm điều trị ký sinh trùng tăng 0,18%; thuốc giảm đau, hạ sốt, chống viêm tăng 1,6%; thuốc đường tiêu hoá tăng 0,12% và nhóm thuốc chống dị ứng tăng 0,23%.Một số mặt hàng có chỉ số giá giảm so với tháng trước:- Chỉ số giá nhóm thực phẩm giảm 1,6% so với tháng trước, góp phần làm CPI chung giảm 0,34 điểm phần trăm, giá giảm tập trung ở một số mặt hàng như:+ Giá thịt lợn giảm 3,68% so với tháng trước làm CPI chung giảm 0,11 điểm phần trăm, trong đó: giá thịt lợn khu vực thành thị giảm 3,43%; khu vực nông thôn giảm 3,72%; thịt bò giảm 0,96%; nội tạng động vật giảm 0,93%; thịt quay, giò, chả giảm 0,69%...; giá trứng các loại giảm 9,71% so với tháng trước, trong đó: giá trứng tươi các loại giảm 9,89%, trứng đã chế biến giảm 3,76%; giá thuỷ sản tươi sống giảm 1,89%, trong đó: cá tươi hoặc ướp lạnh giảm 0,96%; tôm tươi hoặc ướp lạnh giảm 4,24% và thuỷ hải sản tươi sống khác giảm 2,28%. do sau Tết Nguyên Đán nhu cầu tiêu dùng và chế biến giảm lại.+ Giá rau tươi, khô và chế biến giảm 0,79% so với tháng trước, do hiện nay địa phương đang vào thời kỳ thu hoạch nên rau xanh đưa ra thị trường dồi dào và phong phú chủng loại, góp phần làm giảm giá rau xanh. Cụ thể: giá bắp cải giảm 0,77%; su hào giảm 6,73%; cà chua giảm 5,37%; rau muống giảm 0,03% và rau dạng quả, củ giảm 0,58%... Bên cạnh những mặt hàng giá giảm, có một số mặt hàng giá tăng nhưng ảnh hưởng không đáng kể đến nhóm giá rau tươi, khô và chế biến như: đỗ quả tươi tăng 1,56% và rau khô các loại tăng 0,48%.+ Giá quả tươi và chế biến giảm 2,98% so với tháng trước, do hiện đang vào mùa thu hoạch nên sản lượng dồi dào, dẫn đến giá bán lẻ tại các chợ giảm, cụ thể như: quả có múi (cam, quýt) giảm 1,08%; chuối xiêm xanh chín giảm 1,87%; táo xanh giảm 1,15%; xoài giảm 2,41% và quả tươi khác (dứa, nhãn, nho, thanh long) giảm 3,54%.- Chỉ số giá nhóm may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,34% so với tháng trước, làm CPI chung giảm 0,02 điểm phần trăm, do nhu cầu tiêu dùng sau Tết của người dân giảm; mặc khác do kinh tế khó khăn người dân thắc chặt chi tiêu. Trong đó, giá quần áo may sẵn giảm 0,65%; găng tay thắc lưng giảm 1,2%; bít tất các loại giảm 1,86% so với tháng trước.- Chỉ số giá nhóm hàng hoá và dịch vụ khác giảm 0,28% so tháng 02/2024, trong đó: hàng chăm sóc cơ thể giảm 0,07%; túi xách, va li, ví giảm 0,68%; cắt tóc, gội đầu giảm 3,72%.- Chỉ số giá nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,13% so tháng trước, giảm chủ yếu các mặt hàng có nhu cầu tiêu dùng trong Tết như: cây, hoa cảnh giảm 1,93%; giá du lịch trọn gói giảm 1,25%. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 3 tháng năm 2024 so cùng kỳ tăng 3,89%; một số nhóm hàng có giá tăng nhiều trong 3 tháng năm 2024 so cùng kỳ như: nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 7,54%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 6,93%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,94%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 4,92%;...Chỉ số giá vàng 24 kara Ngọc Thẩm trong tháng 03/2024 tăng 4,71% so tháng trước, giá vàng bình quân 6.737 ngàn đồng/chỉ, tăng 1.274 ngàn đồng/chỉ so cùng kỳ.Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng 03/2024 tăng 0,87% so tháng trước, giá bình quân 24.841 đồng/USD, tăng 985 đồng/USD so cùng kỳ.3. Đầu tư và Xây dựng:Vốn đầu tư toàn xã hội quý I/2024, ước thực hiện 8.496 tỷ đồng, đạt 16,9% kế hoạch, tăng 10,1% so cùng kỳ (trong đó: vốn đầu tư xây dựng cơ bản 5.907 tỷ đồng, chiếm 69,5% vốn đầu tư toàn xã hội, tăng 11,4% so cùng kỳ; vốn đầu tư bổ sung vốn lưu động 784 tỷ đồng, chiếm 9,2%, tăng 2,6%...); bao gồm: vốn Nhà nước 2.222 tỷ đồng, tăng 10,8%; vốn ngoài Nhà nước 5.319 tỷ đồng, tăng 14,4%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 955 tỷ đồng, giảm 10,4% so cùng kỳ.Hình 1. Vốn đầu tư toàn xã hội – tỷ đồngTổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý quý I/2024 là 691 tỷ đồng, đạt 13,9% kế hoạch, giảm 4,6% so cùng kỳ; gồm có: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 567 tỷ đồng, giảm 4,6%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện 106 tỷ đồng, giảm 6,4%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 18 tỷ đồng, giảm 10% so cùng kỳ.4. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp:Theo Sở Kế hoạch và Đầu tư, tổng số doanh nghiệp thành lập mới 2 tháng đầu năm 2024 là 138 doanh nghiệp, tổng vốn đăng ký là 942 tỷ đồng, tăng 15% về số lượng, vốn đăng ký giảm 1,1% so cùng kỳ 2023.Thành lập mới đơn vị trực thuộc có 126 đơn vị (gồm 20 chi nhánh, 97 địa điểm kinh doanh, 09 văn phòng đại diện), tăng 31,3% so cùng kỳ 2023. Tính đến cuối tháng 2 năm 2024, ước tính toàn tỉnh 6.033 doanh nghiệp hoạt động.5. Sản xuất nông - lâm nghiệp và thủy sản:a. Nông nghiệp:Xâm nhập mặn năm 2024 trên địa bàn tỉnh đến sớm hơn và lấn sâu hơn so với trung bình nhiều năm, độ mặn khu vực sông Tiền cao hơn so với cùng kỳ năm 2016. Từ đầu tháng 2/2024, mặn trên sông Tiền bắt đầu tăng nhanh dần và tăng liên tục qua các kỳ triều cường. Đến đầu tháng 3/2024 thì tăng mạnh và ở mức cao nhất kể từ đầu mùa vào những ngày giữa tháng 3/2024. Đến ngày 13/13/2024, độ mặn xấp xỉ 4 g/l đã xâm nhập sâu 51km (đến cầu Xoài Hột, xã Bình Đức, huyện Châu Thành); độ mặn 1,15 g/l đã xâm nhập sâu 64km (đến xã Phú Phong, huyện Châu Thành). Trên sông Hàm Luông, mặn đã xâm nhập qua sông Tiền lấn sang phía Nam xã Ngũ Hiệp với độ mặn gần xấp xỉ 1,0 g/l tại trạm Thủy văn Chợ Lách. Trước diễn biến phức tạp của tình hình hạn, mặn, Thủ tướng Chính phủ đã có Công điện số 19/CĐ-TTg ngày 8-3-2024 về việc tập trung ứng phó đợt xâm nhập mặn cao điểm tại Đồng bằng sông Cửu Long. Tỉnh Tiền Giang đã triển khai kịp thời các giải pháp phòng, chống hạn mặn trên địa bàn tỉnh.*Trồng trọt:Cây lương thực có hạt:ước tính đến giữa tháng 3 năm 2024, gieo trồng 45.915 ha, đạt 40,3% kế hoạch, giảm 6,7% so cùng kỳ; sản lượng thu hoạch 320.054 tấn, đạt 45,6% kế hoạch, giảm 5,7% so cùng kỳ. Cụ thể:- Cây lúa:vụ Đông Xuân 2023 - 2024 chính thức gieo trồng được 44.883 ha, đạt 100,4% kế hoạch, giảm 6,9% (giảm 3.319 ha) so cùng kỳ; năng suất thu hoạch bình quân đạt 70,6 tạ/ha, tăng 1,2% (tăng 0,8 tạ/ha) so cùng kỳ, vùng lúa phía đông năng suất bình quân đạt 67,2 tạ/ha, phía tây là 73,6 tạ/ha; thu hoạch 100% diện tích với sản lượng 317.024 tấn, giảm 5,7% (giảm 19.293 tấn) do diện tích gieo trồng giảm 6,9% so cùng kỳ. Diện tích gieo trồng giảm do chuyển đổi 2.577,2 ha đất trồng lúa sang đất cây lâu năm, 659,3 ha trồng cây hàng năm khác, 57,9 ha đất phi nông nghiệp (xây dựng, cơ sở hạ tầng,..), 23,8 ha không sản xuất và một ha đất nuôi trồng thủy sản. Diện tích gieo trồng giảm hầu hết ở các huyện, trong đó: huyện Cái Bè giảm 1.835 ha, huyện Cai Lậy 446,6 ha, huyện Châu Thành giảm 365,1 ha, huyện Gò Công Tây giảm 285,1 ha, TX. Gò Công giảm 142,4 ha, Gò Công Đông giảm 124,7 ha, TX. Cai Lậy giảm 72,9 ha, huyện Chợ Gạo 24,3 ha, huyện Tân Phước giảm 23,2 ha. Vụ Đông Xuân 2023- 2024 được triển khai thực hiện sớm hơn so cùng kỳ để né hạn mặn trong mùa khô, và thời tiết thuận lợi cho sản xuất, nguồn nước đầy đủ, chất lượng nước tốt giúp cây lúa sinh trưởng, phát triển tốt, sâu bệnh ít, thời gian lúa trổ gặp thời tiết tương đối thuận lợi giúp thụ phấn và đậu hạt tốt, nên cho năng suất cao.Hình 2. Cây lương thực có hạt tính đến 15/02/2024- Cây ngô: ước tính đến giữa tháng 3 năm 2024, gieo trồng được 1.032 ha, đạt 44,2% kế hoạch, tăng 0,3% so cùng kỳ; diện tích thu hoạch đạt 830 ha, tăng 0,6% so cùng kỳ; năng suất thu hoạch bình quân đạt 36,5 tạ/ha, tăng 0,4% so cùng kỳ với sản lượng đạt 3.030 tấn, tăng 1% so cùng kỳ. Mô hình chuyển đổi cây ngô trên nền đất lúa gắn với liên kết với các doanh nghiệp nhằm chuyển đổi đất sản xuất lúa kém hiệu quả sang trồng cây ngô có hiệu quả kinh tế cao hơn, thời gian sinh trưởng ngắn hơn, góp phần đa dạng hoá cơ cấu cây trồng, nâng cao thu nhập cho nông dân.Cây rau đậu các loại: trong tháng gieo trồng được 2.227 ha, thu hoạch 3.718 ha với sản lượng 81.703 tấn. Ước tính đến giữa tháng 3 năm 2024, gieo trồng 25.390 ha, đạt 46,3% kế hoạch (kế hoạch 54.780 ha), tăng 4% so cùng kỳ; thu hoạch 22.468 ha, tăng 0,9% so với cùng kỳ với sản lượng 485.284 tấn, đạt 40,5% kế hoạch, tăng 3,6% so cùng kỳ. Trong đó: rau các loại gieo trồng đạt 25.298 ha, tăng 4%; thu hoạch 22.407 ha, tăng 0,9% với sản lượng 485.113 tấn, tăng 3,6% so cùng kỳ. Diện tích rau màu của tỉnh được trồng tập trung ở 11 huyện, thành phố, thị xã, các loại rau màu có giá trị kinh tế và phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng từng vùng được người dân canh tác thường xuyên như: rau muống, bầu, mướp, bí xanh, mướp đắng (khổ qua), dưa leo, cải các loại, hành lá, dưa hấu và các loại rau cải ngắn ngày khác.Cây lâu năm: xoài đạt 13.188 tấn, tăng 0,4%, hồng xiêm đạt 14.400 tấn, tăng 1,4%; chuối đạt 11.707 tấn, giảm 5,6%; dứa đạt 65.153 tấn, tăng 0,4%; sầu riêng đạt 114.078 tấn, tăng 15,6%; mít đạt 78.446 tấn, tăng 1,5%; ổi đạt 25.463 tấn, tăng 2,3%, mận đạt 4.774 tấn, tăng 1,9%; cam đạt 2.010 tấn, giảm 0,5%; quýt đạt 402 tấn, tăng 0,3%. Riêng sản lượng thanh long đạt 64.668 tấn, giảm 12,8%. Trong thời gian qua, diện tích cây lâu năm không ngừng tăng và phát triển qua các năm. Tuy có ảnh hưởng tình hình nắng nóng và hạn mặn những năm trước đó, từ đó các nhà vườn đã cải tạo vườn tạp, đốn bỏ những cây trồng kém hiệu quả để chuyển sang trồng những cây có hiệu quả kinh tế hơn như sầu riêng, mít, bưởi, dừa,... Quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với điều kiện sản xuất, thổ nhưỡng và yếu tố thị trường đã diễn ra mạnh mẽ.* Chăn nuôi: ước thời điểm 01/3/2024 tổng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh như sau: đàn bò 117 nghìn con, giảm 5,7% so cùng kỳ; đàn lợn 285 nghìn con, giảm 2,6% và đàn gia cầm 16,1 triệu con, giảm 5,5%. Đàn bò giảm do thịt bò nhập khẩu chính ngạch ngày càng rẻ, lại phù hợp với thị hiếu tiêu dùng của nhiều người, làm chăn nuôi bò trở nên khó khăn, không thu hút người chăn nuôi đầu tư phát triển sản xuất; đàn lợn giảm do chi phí giá cho con giống cao, dịch bệnh xảy ra ở nhiều địa phương, nguồn vốn hạn hạn hẹp, hiệu quả chăn nuôi lợn thấp nên việc tái đàn nhìn chung vẫn còn chậm; chăn nuôi gia cầm giảm do hiệu quả kinh tế không cao dẫn đến hộ chăn nuôi quyết định giảm đàn và ngừng chăn nuôi.Hình 3. Chăn nuôi tại thời điểm 01/03/2024*Tình hình dịch bệnh trên vật nuôi: Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Tiền Giang: Bệnh cúm gia cầm: ghi nhận 01 hộ mắc bệnh cúm gia cầm với tổng số gia cầm bệnh là 1.300 con trên tổng đàn 2.000 con tại 01 xã/01 huyện (Gò Công Tây: 01 xã); đã tiêu hủy toàn đàn. Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: từ ngày 14/12/2023 đến nay, trên địa bàn tỉnh ghi nhận 49 hộ có lợn mắc bệnh với tổng số lợn bệnh là 722 trên tổng đàn 2.067 con tại 19 xã/08 huyện (Cái Bè: 03 xã; Chợ Gạo: 04 xã; Châu Thành: 04 xã; thị xã Cai Lậy: 02 xã; Gò Công Tây: 02 xã, Tân Phước: 01 xã; Cai Lậy: 02 xã, Tân Phú Đông: 01 xã). Số lợn tiêu hủy là 1.515 con, trọng lượng 72.450 kg (hộ cũ hủy 60 con, khối lượng 4.956 kg).Bệnh viêm da nổi cục: từ ngày 14/12/2023 đến nay, trên địa bàn tỉnh ghi nhận bò bệnh viêm da nổi cục tại 03 huyện/04 xã/04 ấp/05 hộ với 05 con bò bệnh/tổng đàn 23 con.b. Lâm nghiệp:Tổng diện tích rừng hiện có là 1.660,8 ha (không bao gồm diện tích rừng thuộc đất an ninh quốc phòng). Trong đó rừng phòng hộ 1.321,7 ha (huyện Gò Công Đông: 380,3 ha; huyện Tân Phú Đông: 889,8 ha và huyện Tân Phước: 51,6 ha); rừng sản xuất: 339,1 ha.Ước tính đến cuối quý I năm 2024, toàn tỉnh thực hiện trồng mới được 1,8 ngàn cây phân tán các loại, tăng 9,4% so với cùng kỳ, trồng cặp ranh, kênh và trên những tuyến đường đi, đường giao thông mới nâng cấp ở huyện Cai Lậy, Chợ Gạo.Sản lượng gỗ khai thác quý I năm 2024 ước đạt 7.102 m3, giảm 4,9% do diện tích khai thác giảm so cùng kỳ và các loại gỗ được khai thác chủ yếu như: bạch đàn, bạch đàn cao sản, dầu gió, tràm lanh. Sản lượng củi khai thác ước đạt 16.239 ste củi các loại, giảm 20,5% do người dân khai thác ít hơn so cùng kỳ năm trước, chỉ khai thác một số cây ăn quả đã già không cho trái, cho trái ít để chuyển đổi sang trồng cây ăn quả khác như: thanh long, sầu riêng, mít, dừa, chanh...c. Thủy hải sản:Diện tích nuôi trồng thủy sản trong tháng ước đạt 1.206 ha, tăng 0,8% so cùng kỳ. Ước tính quý I năm 2024, diện tích nuôi trồng thủy sản đạt 9.533 ha, đạt 64,9% kế hoạch, tăng 1,9% so cùng kỳ; trong đó: diện tích nuôi cá đạt 2.856 ha, giảm 1,3%; diện tích nuôi tôm đạt 3.469 ha, tăng 0,8% và diện tích nuôi thủy sản khác đạt 3.208, tăng 6,2%.Sản lượng thủy sản trong tháng ước đạt 19.772 tấn, tăng 2,8% so cùng kỳ. Tính chung quý I, sản lượng thủy sản ước đạt 54.885 tấn, giảm 4%; trong đó: sản lượng thu hoạch từ nuôi 36.227 tấn, tăng 0,5%; sản lượng khai thác 18.658 tấn, giảm 11,6%. Sau Tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024, các đội tàu khai thác của tỉnh cũng đã ra khơi bắt đầu mùa vụ khai thác mới. Tuy nhiên cũng do ảnh hưởng của thời tiết, gió nhiều, sóng lớn nên các đội tàu gặp khó khăn trong quá trình khai thác và số lượng tàu thuyền có xu hướng giảm do phải đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật của khai thác thủy sản bền vững.6. Sản xuất công nghiệp: Chỉ số sản xuất công nghiệp quý I/2024 tăng 4,68% so với cùng kỳ, các ngành chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh sản xuất tiếp tục ổn định và tăng so cùng kỳ; trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 3,56% (tập trung ở một số ngành chủ yếu sau: sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 39,4%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 34,9%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 25,6%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 25,53%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 15,07%; Sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất 14,31% ...); ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 19,31%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,64%.Sản phẩm sản xuất công nghiệp quý I/2024: Có 30/49 sản phẩm tăng so cùng kỳ: dịch vụ sản xuất thiết bị điện chiếu sáng tăng 175,4%; bánh làm từ bột khác bảo quản được tăng 147,9%; thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng bột/cốm tăng 125,7%; dây thép không gỉ tăng 81,1%; thuốc diệt cỏ, thuốc chống nảy mầm và thuốc điều hòa sinh trưởng cây trồng tăng 34,8%; phi lê đông lạnh tăng 34,1%; mỡ và dầu động vật khác và các phân đoạn của chúng, đã hoặc chưa tinh chế nhưng không thay đổi về mặt hóa học tăng 31,3%; giấy vệ sinh tăng 25,5%; giày, dép thể thao có đế ngoài và mũ giày bằng cao su và plastic tăng 14%; thức ăn cho thủy sản tăng 11,1%; bia đóng lon tăng 9,7%; dịch vụ tiện các bộ phận kim loại tăng 7,5%; điện thương phẩm tăng 7,1%; Nước uống được tăng 4,5%; cửa ra vào, cửa sổ bằng sắt, thép tăng 4,0%; giày, dép thể thao có mũ bằng da và có đế ngoài tăng 2,5%; thức ăn cho gia súc tăng 1,5%;… Có 19/49 sản phẩm giảm so cùng kỳ: áo khoác dài, áo khoác không tay, áo khoác có mũ, áo gió cho người lớn dệt kim hoặc đan móc giảm 44,9%; cáp đồng trục và dây dẫn điện đồng trục giảm 35,3%; phân vi sinh giảm 27,2%; túi xách giảm 25,9%; bia đóng chai giảm 18,5%; đồ chơi hình con vật hoặc sinh vật không phải hình người giảm 12,9%; thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng viên giảm 9%; ống và ống dẫn bằng đồng giảm 3,3%; dịch vụ sửa chữa, bảo dưỡng tàu, thuyền giảm 3%; giày, dép thể thao có mũ bằng da và có đế ngoài giảm 2,3%;…Hình 4. Chỉ số sản xuất công nghiệp* Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo:Chỉ số tiêu thụ tháng 3/2024 so với tháng trước tăng 14,28% và giảm 1,72% so cùng kỳ. Chỉ số tiêu thụ cộng dồn từ đầu năm đến cuối tháng 3 năm 2024 tăng 1,93%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng so cùng kỳ: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 17,28%, trong đó sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thuỷ sản tăng 8,12%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 28,63%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 53,92%; sản xuất sản phẩm cao su và plastic tăng 32%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 17,93%;…Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm so cùng kỳ là: sản xuất đồ uống giảm 4,24%, trong đó sản xuất bia giảm 4,24%; dệt giảm 19,75%; sản xuất trang phục giảm 30,87%; sản xuất da giảm 15,05%, trong đó sản xuất giày dép giảm 12,11%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ giảm 17,03%; sản xuất kim loại giảm 4,54%;...Chỉ số tồn kho tháng 3/2024 so với tháng trước tăng 12,47% và so với cùng kỳ tăng 46,93%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng so với cùng kỳ là: sản xuất da tăng 3,73%, trong đó sản xuất giày dép tăng 8,27%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 62,13%; sản xuất kim loại tăng 25,95%; chế biến, chế tạo khác tăng 16,11%, trong đó sản xuất đồ chơi, trò chơi tăng 16,11%;... Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tồn kho giảm so cùng kỳ là: dệt giảm 82,98%, trong đó sản xuất sợi giảm 60,17%; sản xuất trang phục giảm 31,35%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu giảm 17,82%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẳn giảm 25,55%; sản xuất thiết bị điện giảm 46,92%, trong đó sản xuất mô tơ điện giảm 46,93%;…7. Thương mại, dịch vụ:a. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng:Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng quý I/2024 thực hiện 22.301 tỷ đồng, đạt 25,1% kế hoạch, tăng 11,7% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 17.138 tỷ đồng, tăng 10,5%; lưu trú 86 tỷ đồng, tăng 18,1%; ăn uống 2.191 tỷ đồng, tăng 32,5%; du lịch lữ hành 57 tỷ đồng, tăng 69%; dịch vụ tiêu dùng khác 2.829 tỷ đồng, tăng 5,4% so cùng kỳ.Hình 5. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùngb. Xuất - Nhập khẩu: (Theo báo cáo Sở công Thương)Trong I/2024, tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gây gắt hơn; xung đột Nga - Ucraina tiếp tục kéo dài, đặc biệt là xung đột tại Biển Đỏ, dải Gaza leo thang đã gia tăng rủi ro với an toàn hàng hải, chuỗi cung ứng hàng hóa đã làm ảnh hưởng đến kế hoạch xuất khẩu của doanh nghiệp do các hãng vận tải biển tăng giá cước vận tải để bù đắp chi phí gia tăng do chuyển hướng tàu khỏi Biển Đỏ. Xuất khẩu đối mặt với các thách thức. Nhưng nhờ các biện pháp tích cực và đồng bộ nhằm tháo gỡ khó khăn để hỗ trợ sản xuất trong nước, xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường trong nước và xuất khẩu được triển khai mạnh mẽ nên hoạt động xuất, nhập khẩu trên địa bàn tỉnh đạt được kết quả như sau:* Xuất khẩu:Giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng hóa quý I/2024 ước 1.350 triệu USD, đạt 26,9% kế hoạch, tăng 19,8% so cùng kỳ; trong đó: doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 87,8% trên tổng kim ngạch xuất khẩu.- Thủy sản: ước xuất 29.360 tấn, với kim ngạch đạt 67 triệu USD, tăng 72,38% về lượng và tăng 43,46% về trị giá so với cùng kỳ.- Gạo: ước xuất 23.090 tấn, với trị giá đạt 15,1 triệu USD, giảm 55,66% về lượng và giảm 51,43% về trị giá so với cùng kỳ. Xuất khẩu gạo giảm do đối tác nhập khẩu tìm cách trì hoãn đặt hàng để hạ giá thành do trong nước đang thu hoạch rộ vụ Đông xuân.- Rau quả: ước xuất 7.100 tấn, tăng 59,69% so cùng kỳ và kim ngạch đạt 13,41 triệu USD, tăng 62,11% so cùng kỳ. Xuất khẩu hàng rau quả của tỉnh, đặc biệt là trái cây đã xuất đi khắp các thị trường Mỹ, EU, Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc...* Nhập khẩu:Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa quý I/2024 thực hiện 759,6 triệu USD, đạt 30,1 % kế hoạch, tăng 15,4% so cùng kỳ; trong đó: doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước chiếm 4,0%, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 96,0% trên tổng kim ngạch nhập khẩu. Nguyên liệu nhập khẩu chủ yếu các mặt hàng như: kim loại thường khác chiếm 35,9%; sắt thép các loại chiếm 12,2%; nguyên phụ liệu dệt may, da giày, túi chiếm 11,5%, vải nguyên liệu chiếm 8,8%.c. Vận tải:Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải quý I/2024 thực hiện 683 tỷ đồng, tăng 23,6% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 185 tỷ đồng, tăng 23,2%; vận tải hàng hóa thực hiện 433 tỷ đồng, tăng 25,3% so cùng kỳ. Vận tải đường bộ thực hiện 286 tỷ đồng, tăng 21%; vận tải đường thủy thực hiện 332 tỷ đồng, tăng 28%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 65 tỷ đồng, tăng 14,3% so cùng kỳ.Vận chuyển hành khách đạt 4.346 ngàn hành khách, tăng 19,2% so cùng kỳ và luân chuyển được 97.452 ngàn hành khách.km, tăng 16,7% so cùng kỳ; trong đó:vận chuyển đường bộ 1.568 ngàn hành khách, tăng 20,4% và luân chuyển 94.322 ngàn hành khách.km, tăng 16,8% so cùng kỳ; vận chuyển đường thủy 2.778 ngàn hành khách.km, tăng 18,5% và luân chuyển đường thủy 3.130 ngàn hành khách.km tăng 16% so cùng kỳ. Nhìn chung, dịch vụ vận tải đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hoá cũng như đi lại của người dân.Vận tải hàng hóa đạt 4.230 ngàn tấn, tăng 24% và luân chuyển được 743.527 ngàn tấn.km, tăng 21,9% so cùng kỳ; trong đó: vận chuyển đường bộ thực hiện 601 ngàn tấn,tăng 12,2% và luân chuyển được 103.219 ngàn tấn.km, tăng 11,2% so cùng kỳ; vận tải đường thủy thực hiện 3.629 ngàn tấn, tăng 26,2% và luân chuyển được 640.308 ngàn tấn.km, tăng 23,8% so cùng kỳ.* Phương tiện giao thông: Tổng số xe đang quản lý trên địa bàn tỉnh 1.502.236 chiếc, trong đó mô tô xe máy: 1.442.653 chiếc, 56.710 xe ô tô, 161 xe ba bánh, 486 xe đạp điện, 917 xe khác và 1.309 xe lam.d. Du lịch:Ước tính khách du lịch đến tỉnh trong quý I/2024 đạt 352 ngàn lượt, tăng 69,1% so cùng kỳ; trong đó khách quốc tế đạt 123 ngàn lượt, tăng 96,2% so cùng kỳ. Doanh thu hoạt động lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành đạt 2.334 tỷ đồng, tăng 32,6 %; trong đó doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống chiếm 97,5%. Trật tự tại các khu du lịch được đảm bảo, việc mua bán kinh doanh được sắp xếp ổn định tạo thuận lợi cho du khách đến vui chơi, giải trí. Duy trì thường xuyên công tác kiểm tra, xử lý các trường hợp chèo kéo khách du lịch, nhắc nhở và hướng dẫn các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch triển khai các biện pháp nhằm đảm bảo an ninh trật tự, phòng chống dịch bệnh, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và an toàn cho khách du lịch.đ. Bưu chính viễn thông:Quý I/2024, doanh thu dịch vụ bưu chính, viễn thông đạt 931 tỷ đồng, tăng 4,4% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính 81 tỷ đồng, tăng 5,4%; doanh thu viễn thông 850 tỷ đồng, tăng 4,3%.Tổng số thuê bao điện thoại có trên mạng đến cuối tháng 3/2024 là 132.348 thuê bao (chỉ tính thuê bao cố định và di động trả sau); thuê bao điện thoại bình quân đạt 7,39 thuê bao/100 dân. Tổng số thuê bao Internet trên mạng có đến tháng 3/2024 là 390.259 thuê bao; mật độ Internet bình quân ước đạt 21,79 thuê bao/100 dân.II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI      a. Tư vấn và giới thiệu việc làm:Trong quý I năm 2024, thực hiện tư vấn nghề, việc làm, pháp luật lao động và tư vấn khác cho 4.015 lượt lao động, đạt 98,9% so cùng kỳ, đạt 20,1% kế hoạch năm. Giới thiệu việc làm cho 721 lượt lao động, đạt 178% so với cùng kỳ, trong đó có 144 lao động có được việc làm ổn định.Về trợ cấp thất nghiệp trong quý I, ghi nhận 3.240 lao động đăng ký hưởng trợ cấp thất nghiệp, tăng 11,1% so cùng kỳ; có 3.086 lao động được quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp, tăng 18,3% với tổng số tiền chi trả khoảng 69,2 tỷ đồng, tăng 32,5%.Về tư vấn đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài trong quý I, có 254 lượt lao động được tư vấn, giảm 27% so cùng kỳ; có 23 lao động đăng ký tham gia đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, tăng khoảng 1,9 lần; có 123 lao động xuất cảnh đi làm việc ở nước ngoài như: Nhật Bản 103 lao động, Hàn Quốc 03 lao động, Đài Loan 13 lao động, Mỹ 02 lao động, Macao 01 lao động, Singapore 01 lao động, đạt 30,8% kế hoạch năm, tăng 16% so cùng kỳ.Về giải quyết tranh chấp lao động và đình công trong quý I, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 02 vụ ngừng việc tập thể tại 02 doanh nghiệp (01 doanh nghiệp FDI, và 01 doanh nghiệp dân doanh), tương đương so cùng kỳ. Trước tình hình đó, các sở, ngành, địa phương, doanh nghiệp đã tổ chức cuộc đối thoại với người lao động nên các vụ ngừng việc đã được giải quyết ổn thỏa, các doanh nghiệp đã hoạt động bình thường.Tình hình thực hiện chế độ tiền lương năm 2023 và kế hoạch thưởng Tết năm 2024 đối với người lao động của các doanh nghiệp. Qua số liệu báo cáo của 112 doanh nghiệp với 101.182 lao động đang làm việc (doanh nghiệp FDI chiếm 81%), ghi nhận kết quả tiền lương thực hiện năm 2023:+ Tiền lương thực trả bình quân (bao gồm: mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác theo quy định pháp luật lao động) của các doanh nghiệp thực hiện năm 2023 khoảng 8,6 triệu đồng/người/tháng, tăng 6,6% so với năm trước (năm 2022 theo số liệu của 65 doanh nghiệp với 97.565 lao động, tiền lương bình quân khoảng 8 triệu đồng/người/tháng). Trong đó mức lương bình quân năm 2023 (không bao gồm phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác) là 6,4 triệu đồng/người/tháng, tăng 3,8% so với năm trước (năm 2022 là 6,2 triệu đồng/người/tháng). + Mức thưởng Tết Dương lịch năm 2024: theo số liệu 49/112 doanh nghiệp báo cáo với 15.002 lao động, mức thưởng bình quân của các doanh nghiệp là 1.370 triệu đồng/người. + Mức thưởng Tết Nguyên đán Giáp Thìn năm 2024 theo số liệu của 109 doanh nghiệp với 100.805 lao động, mức tiền thưởng Tết Âm lịch bình quân khoảng 7,5 triệu đồng/người (năm trước mức thưởng Tết Nguyên đán Quý Mão năm 2023 theo số liệu 63 doanh nghiệp với 97.129 lao động, mức tiền thưởng là 7,6 triệu đồng/người).b. Tình hình thiếu việc làm, thất nghiệp:Theo kết quả sơ bộ điều tra lao động việc làm quý I năm 2024, lao động thiếu việc làm chiếm tỷ lệ 7,15%, tăng 1,06 điểm phần trăm so quý trước và giảm 0,15 điểm phần trăm so cùng kỳ năm trước (từ 7,30% năm 2023 xuống 7,15% năm 2024), đã làm cho tỷ lệ thiếu việc làm khu vực thành thị tăng 0,83 điểm phần trăm so với quý trước và so với cùng kỳ năm trước (từ 9,79% năm 2023 lên 10,62% năm 2024). Đối với khu vực nông thôn tỷ lệ thiếu việc làm tăng 1,12 điểm phần trăm so quý trước và giảm 0,63 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước (từ 6,22% năm 2023 xuống 5,99% năm 2024). Tình trạng thiếu việc làm quý I năm 2024 chủ yếu ở khu vực nông thôn, chiếm 53,91% trong tổng số số lao động thiếu việc làm của tỉnh.Tỷ lệ lao động thất nghiệp trong quý I năm 2024 là 1,35% tăng 0,53 điểm phần trăm so quý trước và giảm 0,37 điểm phần trăm so cùng kỳ năm trước (từ 1,72% năm 2023 xuống 1,35% năm 2024). Tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị tăng 0,51 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,54 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước (từ 2,89% năm 2023 xuống 2,35% năm 2024). Tỷ lệ thất nghiệp khu vực nông thôn tăng 0,53 điểm phần trăm so quý trước và giảm 0,3 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước (từ 1,19% năm 2023 xuống 0,89% năm 2024). Tỷ trọng thất nghiệp ở khu vực thành thị chiếm 54,55% so với tổng số lao động thất nghiệp của toàn tỉnh và tỷ trọng số lao động thất nghiệp khu vực thành thị trong quý I năm 2024 tăng 2,7 điểm phần trăm so cùng kỳ.Nhìn chung, hoạt động sản xuất kinh doanh đang trên đà phục hồi, tình hình lao động việc làm trong quý I năm 2024 có nhiều chuyển biến tốt đã làm cho số lao động có việc làm quý I năm 2024 tăng 1,2 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Số lao động có việc làm tăng đã làm tỷ lệ thất nghiệp chung của toàn tỉnh trong quý I năm 2024 giảm 0,37 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.2. Đời sống dân cư và an sinh xã hội:Thực hiện các chế độ ưu đãi cho người có công, gồm: quyết định trợ cấp 1 lần cho thân nhân thờ cúng liệt sĩ và chuyển thờ cúng 274 hồ sơ; người có thành tích tham gia kháng chiến được tặng Bằng khen theo Quyết định số 24/2016/QĐ-TTg: 03 trường hợp; trợ cấp 01 lần người hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù đày: 03 trường hợp; trợ cấp hàng tháng đối với con liệt sĩ tàn tật: 05 trường hợp;...Tổ chức tặng quà Tết Nguyên đán Giáp Thìn năm 2024: tặng quà của Chủ tịch nước (nguồn kinh phí Trung ương), trợ cấp cho 35.866 người có công với tổng số tiền 10,9 tỷ đồng; trợ cấp của tỉnh (nguồn kinh phí địa phương); bao gồm: trợ cấp người có công, thăm hộ chính sách và đơn vị, tổ chức bữa ăn cho trại viên, học viên các đơn vị, trợ cấp hộ nghèo, tặng quà người cao tuổi với tổng số tiền trên 32,2 tỷ đồng.3. Hoạt động giáo dục:Trong quý I năm 2024, hoạt động giáo dục và đào tạo trên địa bàn tỉnh triển khai đúng theo kế hoạch đề ra, đảm bảo được chất lượng và đạt được nhiều thành tích nổi bật:Sáng 17-3, tại Nhà thi đấu đa môn tỉnh Tiền Giang đã diễn ra Lễ khai mạc Hội khỏe Phù Đổng (HKPĐ) tỉnh Tiền Giang lần thứ XI, năm học 2023 - 2024. Giai đoạn 1 của HKPĐ cấp tỉnh đã tổ chức thành công thi đấu các môn thể thao gồm bóng đá, cầu lông, đá cầu, bóng chuyền, đẩy gậy, kéo co, bơi, điền kinh và thể dục Aerobic, thi đấu từ ngày 22-1 đến ngày 7-2-2024; giai đoạn 2 của HKPĐ sẽ tiếp tục thi đấu từ ngày 4-3 đến ngày 20-3-2024 với 4 môn thể thao: Cờ vua, Taekwondo, Vovinam, Võ cổ truyền. HKPĐ được tổ chức 4 năm 1 lần nhằm tổng kết đánh giá bước phát triển của công tác thể dục thể thao ngành GD-ĐT tỉnh nhà trong thời gian qua; đồng thời, tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” trong thời gian tới.Hoàn thành xét và duyệt cấp chứng nhận kỳ thi nghề phổ thông năm học 2023 - 2024 khóa ngày 28/11/2023 với số lượng thí sinh đạt là 13.130/13.195 (99,5%).Hướng dẫn và tổ chức coi thi chọn học sinh giỏi quốc gia THPT năm học 2023 - 2024 tại tỉnh Tiền Giang (Sở GDĐT Sóc Trăng và Sở GDĐT Đắk Lắk đến coi thi theo điều động của Bộ GDĐT) vào các ngày 05, 06/01/2024 với 83 thí sinh với 9 môn thi: Ngữ văn, Toán, Vật lí, Hóa học, Sinh học, Lịch sử, Địa lí, Tin học, Tiếng Anh. Kết quả: Tiền Giang có 46/83 thí sinh đạt giải ở 9 môn thi trong đó: giải Nhì 04 thí sinh, giải Ba 12 thí sinh, giải Khuyến khích 30 thí sinh; xếp hạng 1/13 các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, hạng 32/69 đơn vị đăng ký dự thi toàn quốc (tăng 13 bậc so với năm học 2022 - 2023) và hạng 29/63 tỉnh thành. Các trường THPT có học sinh đạt giải gồm: THPT Chuyên (37 giải), THPT Nguyễn Đình Chiểu (04 giải), THPT Chợ Gạo (02 giải), THPT Trương Định (02 giải), THPT Cái Bè (01 giải).Tổ chức kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh THPT năm học 2023 - 2024 khóa ngày 27/02/2024 với 1.496/1.500 thí sinh dự thi của 36 đơn vị dự thi. Kết quả: có 824/1.496 thí sinh đạt giải. Trong đó, giải Nhất: 36 thí sinh (2,4%); giải Nhì: 193 thí sinh (12,9%); giải Ba: 251 thí sinh (16,8%); Khuyến khích: 344 thí sinh (23%). Các trường có nhiều học sinh đạt giải gồm: THPT Chuyên (157 giải, 86,3%), THPT Nguyễn Đình Chiểu (74 giải; 90,2%), THPT Chợ Gạo (68 giải; 71,6%), THPT Trương Định (62 giải; 73,8%), THPT Cái Bè (53 giải; 74,7%).Tổ chức thi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh THCS khóa ngày 27/3/2024 tại Trường THCS Xuân Diệu và THCS Lê Ngọc Hân. Tổ chức chấm thi từ ngày 28/3/2024 tại Trường THPT Chuyên.4. Hoạt động y tế:Hoạt động y tế đảm bảo tốt chăm sóc sức khỏe nhân dân, đảm bảo cung ứng thuốc đầy đủ phục vụ cho hoạt động khám chữa bệnh. Trong 3 tháng đầu năm 2024, có 10 bệnh truyền nhiễm được ghi nhận. So với cùng kỳ cộng dồn về số mắc, có 05 bệnh tăng (bệnh do liên cầu lợn ở người, lao phổi, quai bị, tay – chân – miệng, uốn ván khác); 06 bệnh giảm (Sốt xuất huyết Dengue, thủy đậu, tiêu chảy, viêm gan vi rút C, viêm não vi rút khác, Covid - 19); 34 bệnh tương đương hoặc không xảy ra ca mắc.Phòng chống bệnh HIV/AIDS tính đến nay, toàn tỉnh có 6.868 người nhiễm, 1.819 người chuyển sang AIDS, tử vong do AIDS 1.332 người.Phòng chống bệnh Sốt xuất huyết trong quý I năm 2024 ghi nhận 441 ca mắc, giảm 58,2% so cùng kỳ, không ghi nhận ca tử vong do Sốt xuất huyết.Hoạt động khám chữa bệnh trong quý I năm 2024: tổng số lần khám bệnh là 1.145.405 lượt người, tăng 8,5% so cùng kỳ, tổng số người điều trị nội trú 54.428 người, tăng 22,1%, công suất sử dụng giường bệnh bình quân tính đến quý I đạt 79%.5. Hoạt động văn hóa - thể thao:Toàn tỉnh hiện có 460.611/486.271 hộ đạt 03 tiêu chuẩn Gia đình văn hóa, đạt 96%, tăng 1,3% so cùng kỳ; 1.005/1.005 ấp (khu phố) văn hóa, đạt tỷ lệ 100%; 172/172 xã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới/phường/thị trấn đạt chuẩn văn minh đô thị (142 xã và 30 phường, thị trấn); 69 chợ văn hóa; 18 công viên văn hóa; 951 con đường văn hóa, 569 cơ sở thờ tự văn hóa.Hoạt động văn hóa nghệ thuật: tổ chức 02 cuộc hội thi, 01 cuộc thi trưng bày và 02 buổi giao lưu; thực hiện 32 cuộc tuyên truyền lưu động - chiếu phim; 17 buổi biểu diễn nghệ thuật phục vụ các ngày lễ kỷ niệm, buổi họp mặt, chương trình mừng Đảng - mừng Xuân; 90 suất nhạc nước tại Quảng trường Hùng Vương thu hút khoảng 89.650 lượt người xem. Tổ chức công tác tuyên truyền các ngày lễ, sự kiện lớn với 190 cờ phướn các loại và 28 giá đỡ ụ cờ tuyên truyền, cổ động trực quan.Hoạt động thư viện: tổ chức Hội báo Xuân Giáp Thìn năm 2024 tại Thư viện tỉnh, Trại giam Mỹ Phước; Trại giam Phước Hoà và trưng bày góc sách Quảng Trường Hùng Vương với hơn 51.100 lượt sách báo lưu hành, phục vụ khoảng 22.250 lượt bạn đọc. Trong quý I năm 2024, thư viện tỉnh, huyện và phòng đọc cơ sở đã phục vụ hơn 106.360 lượt bạn đọc.Hoạt động bảo tàng: Bảo tàng tỉnh và các khu di tích quốc gia đã đón 45.481 lượt khách tham quan; đảm bảo công tác an ninh trật tự, phòng chống cháy nổ tại các di tích phục vụ Nhân dân đến tham quan, nghiên cứu.Hoạt động thể dục, thể thao:Trong quý I năm 2024, các hoạt động mừng Đảng - mừng Xuân, chợ hoa xuân, gắn với các hoạt động đón tết cổ truyền của dân tộc Xuân Giáp Thìn năm 2024 và các ngày lễ kỷ niệm, sự kiện của địa phương đã đáp ứng được nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần của nhân dân trên địa bàn tỉnh.Tổ chức Vòng loại Giải Bóng đá VĐ U19 quốc gia năm 2024 - Bảng G. Tổ chức 03 giải cấp tỉnh, giải liên tịch với các ngành: giải Việt dã Báo Ấp Bắc tỉnh Tiền Giang lần thứ 39; giải Vô địch Võ cổ truyền tỉnh Tiền Giang; Hội thi thể thao dân tộc tỉnh Tiền Giang.Đoàn thể thao Tiền Giang tham dự tham dự 05 giải với tổng số huy chương các môn đạt được là: 03 huy chương Bạc và 02 huy chương Đồng tại giải Vô địch các Câu lạc bộ Muay quốc gia năm 2024 tại Bà Rịa Vũng Tàu.6. Tình hình trật tự an toàn xã hội: (theo báo cáo của ngành Công an):Tình hình trật tự an toàn xã hội trong quý trên địa bàn tỉnh cơ bản được đảm bảo. Tội phạm về trật tự xã hội xảy ra 205 vụ, làm chết 07 người, bị thương 42 người, tài sản thiệt hại khoảng 2,9 tỷ đồng, giảm 04 vụ so với quý I/2023 và giảm 01 vụ so với quý IV/2023; điều tra khám phá 174 vụ (đạt 84,9%) bắt xử lý 303 đối tượng, thu hồi tài sản trị giá khoảng 1,25 tỷ đồng.Tội phạm và vi phạm pháp luật về ma túy trong quý: phát hiện, xử lý 40 vụ, 50 đối tượng tàng trữ, vận chuyển, mua bán, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trái phép chất ma túy và xử lý hành chính 325 đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy.7. Trật tự an toàn giao thông: (theo báo cáo của ngành Công an):Tai nạn giao thông đường bộ: tai nạn giao thông trong tháng xảy ra 39 vụ tăng 15 vụ so tháng trước và tăng 13 vụ so cùng kỳ; làm chết 25 người tăng 14 người so tháng trước và tăng 05 người so cùng kỳ; bị thương 20 người tăng 14 người so tháng trước và giảm 89 người so cùng kỳ. Tính từ đầu năm đến nay, xảy ra 63 vụ, tăng 14 vụ; làm 44 người chết, tăng 12 người và 26 người bị thương, giảm 4 người.Các nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông như: điều khiển xe khi có rượu bia, phóng nhanh vược ẩu, không làm chủ tốc độ; không đi đúng phần đường, làn đường; không nhường đường, vượt đèn đỏ, thiếu quan sát…Tai nạn giao thông đường thủy: trong quý không xảy ra.8. Tình hình cháy nổ, môi trường và thiên tai:Cháy nổ: trong tháng, ghi nhận 04 vụ cháy. Từ đầu năm đến nay, xảy ra 15 vụ cháy, tăng 12 vụ so cùng kỳ, thiệt hại tài sản khoảng 2,8 tỷ đồng. Nguyên nhân do sự cố về điện, bất cẩn trong sử dụng lửa....Môi trường: trong quý I năm 2024, trên địa bàn tỉnh xảy ra 03 vụ vi phạm môi trường đã được xử lý, tương đương so cùng kỳ với tổng số tiền đã xử phạt khoảng 98,7 triệu đồng.Thiên tai: trong tháng, trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ thiên tai nào. Tính chung quý I, xảy ra 01 cơn lốc xoáy trên địa bàn tỉnh, làm 09 căn nhà bị tốc mái; làm 261 cây ăn trái bị đổ ngã và làm 142 tấn trái cây bị rụng hư. Ước tổng giá trị thiệt hại gần 3 tỷ đồng.                                 III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI QUÝ II/ 2024. Trên cơ sở những kết quả đạt được trong quý I/2024, Các ngành các cấp tiếp tục tập trung chỉ đạo thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp cần thực hiện trong quý II/2024 như sau:- Theo dõi diễn biến tình hình khí tượng thủy văn, xâm nhập mặn; tình hình vận hành các công trình phục vụ sản xuất và mực nước nội đồng các vùng dự án. Duy trì thông thoáng lòng sông, kênh, rạch trên địa bàn; tập trung công tác nạo vét các công trình thủy lợi, chủ động thực hiện các biện pháp đảm bảo nguồn nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt cho Nhân dân vào mùa khô. Thường xuyên theo dõi, thông tin kịp thời về tình hình khí tượng, thủy văn, chủ động các biện pháp phòng, tránh hạn chế thiệt hại khi thiên tai xảy ra.- Triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp Tiền Giang đến năm 2030 gắn với xây dựng nông thôn mới; đề án Cắt vụ, chuyển đổi mùa vụ và cơ cấu cây trồng các huyện phía Đông tỉnh Tiền Giang đến năm 2025; Đề án phát triển cây thanh long tỉnh Tiền Giang đến năm 2025; Đề án phát triển cây sầu riêng tỉnh Tiền Giang đến năm 2025;... tiếp tục đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung, ứng dụng công nghệ trong sản xuất, nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh sản phẩm.- Triển khai thực hiện đồng bộ, linh hoạt các chính sách về lãi suất, gói hỗ trợ lãi suất cho vay, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh; tập trung vốn vào các lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên; tiếp tục triển khai chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn. Tăng cường công tác kết nối ngân hàng - doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi trong vay vốn tín dụng ngân hàng cho doanh nghiệp và người dân.- Theo dõi tình hình thu, nắm chắc các nguồn thu và số lượng nộp thuế. Chú trọng công tác phân tích, đánh giá và dự báo nguồn thu, đặc biệt phân tích cụ thể nguyên nhân tác động làm tăng, giảm nguồn thu theo từng địa bàn, từng lĩnh vực thu, từ đó tổng hợp báo cáo kết quả thu và dự báo thu sát đúng với thực tế phát sinh.- Các ngành có liên quan kiểm tra và đôn đốc các huyện, thành, thị đẩy nhanh tiến độ xây dựng các công trình trọng điểm, công trình giao thông nông thôn ngay từ đầu năm…nhằm thúc đẩy kinh tế - xã hội của địa phương phát triển. Đồng thời đẩy nhanh công tác giải ngân, thanh quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản.- Thực hiện các giải pháp phòng, chống dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi; tăng cường công tác kiểm tra hoạt động giết mổ, kinh doanh, vận chuyển gia súc, gia cầm, sản phẩm gia súc, gia cầm. Duy trì kiểm tra định kỳ về điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm của các cơ sở sản xuất, kinh doanh nông lâm thủy sản; kịp thời phát hiện để phòng trị dịch bệnh và xử lý môi trường.- Tiếp tục triển khai thực hiện các giải pháp phát triển doanh nghiệp năm 2024, trong đó tập trung giải pháp cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; xây dựng Kế hoạch gặp mặt, đối thoại doanh nghiệp, Kế hoạch hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh năm 2024...; tiếp tục thực hiện có hiệu quả Kế hoạch hành động số 262/KH-UBND ngày 27/8/2021 thực hiện Nghị quyết số 07-NQ/TU ngày 26/7/2021 của Tỉnh ủy về lãnh đạo nâng cao hiệu quả công tác hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đến năm 2025.- Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường xuất khẩu. Tiếp tục phát triển xuất khẩu các mặt hàng có lợi thế; chuyển dần sang xuất khẩu sản phẩm chế biến sâu, phát triển xuất khẩu sản phẩm có chất lượng cao, có sức cạnh tranh và có thương hiệu mạnh.- Tăng cường công tác an ninh trật tự, an toàn xã hội, an ninh quốc phòng.

Tổng sản phẩm trên địa bàn quí I năm 2024 Tiền Giang đạt 4,24%
  •   17/06/2024 15:03

Hoạt động kinh tế - xã hội quý I năm nay diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; xung đột quân sự giữa Nga và U-crai-na kéo dài, căng thẳng trên Biển Đỏ, dải Gaza leo thang; tăng trưởng kinh tế, thương mại, đầu tư toàn cầu tiếp tục xu hướng suy giảm; thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu… sẽ ảnh hưởng sâu rộng đến tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh - quốc phòng và đời sống nhân dân.  Trước bối cảnh chung đó, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Tiền Giang tiếp tục phát huy tinh thần đoàn kết, quyết tâm chính trị cao, năng động, sáng tạo, khắc phục khó khăn, nỗ lực phấn đấu, tập trung thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ đề ra trong năm 2024 với chủ đề “Kỷ cương trách nhiệm, chủ động kịp thời, tăng tốc sáng tạo, hiệu quả bền vững”. Tăng trưởng kinh tế của tỉnh quý I năm 2024 có nhiều khởi sắc, các khu vực kinh tế đều tăng hơn so với cùng kỳ.  Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh quí I năm 2024 ước đạt 16.157 tỷ đồng, tăng 4,24% so với quí I năm 2023; tăng cao hơn cùng kỳ 1,34% (quí I năm 2023 tăng 2,90, quí I năm 2022 tăng 3,39%); trong đó: khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,81%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,47% và khu vực dịch vụ tăng 5,92 % (bao gồm thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm); Nếu tách riêng thuế sản phẩm thì khu vực dịch vụ tăng 6,25 % và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 4,25% so cùng kỳ.   Mức đóng góp của các khu vực: trong 4,24% tăng trưởng thì khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản đóng góp 0,68%, khu vực công nghiệp và xây dựng đóng góp 1,51%, khu vực dịch vụ đóng góp 1,81% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm làm giảm 0,24%.  Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản: Quí I năm 2024 tăng 1,81% so với quí I năm 2023; Tăng cao hơn 0,86% so quí I năm 2023 (quí I năm 2023 tăng 0,95%).  Tốc độ tăng trưởng của ngành nông nghiệp quí I năm 2024 tăng 2,10%; Trong quí I năm 2024 dự báo sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh gặp nhiều khó khăn, do hạn mặn đến sớm hơn và xâm nhập sâu hơn cùng kỳ của các năm trước. Nhưng công tác phòng chống hạn mặn được chủ động, triển khai thực hiện ngay từ rất sớm, nông dân tuân thủ theo lịch thời vụ đã khuyến cáo, nên hầu hết diện tích gieo trồng đã được thu hoạch, trách được tác động của hạn mặn. Tuy nhiên dự báo hạn, mặn tiếp tục kéo dài sẽ hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của người dân trong quí II. Xuất khẩu các mặt hàng nông sản trong quí thuận lợi nên giá bán các loại sản phẩm trồng trọt tăng so cùng kỳ nhất là sầu riêng, mít, lúa ... Trà lúa Đông Xuân năm nay phát triển tốt, năng suất bình quân đạt 70,6 tạ/ha, tăng 1,2% so cùng kỳ (tăng 0,8 tạ/ha); Nhưng diện tích gieo sạ giảm 6,9%, tương đương giảm 3.319,3 ha, do chuyển đổi sang đất phi nông nghiệp là 57,92 ha, cây hàng năm khác 659,33 ha, cây lâu năm 2.577,23 ha, nuôi thủy sản 01 ha và không sản xuất là 23,8 ha. Diện tích gieo trồng giảm hầu hết ở các huyện trong đó: TX. Gò Công giảm 142,44 ha, TX Cai Lậy giảm 72,89 ha, Tân Phước giảm 23,2 ha, Cái Bè giảm 1.835 ha, Cai Lậy giảm 446,57 ha, Châu Thành giảm 365,1 ha, Chợ Gạo 24,27 ha, Gò Công Tây giảm 285,11 ha và Gò Công Đông giảm 124,7 ha; Nên sản lượng lúa thu hoạch giảm 5,7% so cùng kỳ.  Lĩnh vực chăn nuôi, dịch bệnh còn xảy ra ở một số địa phương, gây tâm lý lo lắng cho người nuôi, giá bán sản phẩm đầu ra không tăng, trong khi giá thức ăn nằm ở mức cao, nên người nuôi lãi không nhiều, không kích thích nông dân tập trung đầu tư, nên tổng đàn giảm so cùng kỳ. Ước đến 01/3/2024 tổng đàn gia súc gia cầm của tỉnh như sau: đàn bò 117 nghìn con, giảm 5,7%, đàn lợn 285 nghìn con, giảm 2,6% và đàn gà 16,1 triệu con, giảm 5,5% so cùng kỳ.  Ngành thủy sản tăng 0,25% so cùng kỳ, tăng chủ yếu ở sản lượng nuôi trồng, sản lượng nuôi trồng trong quí đạt 36.227 tấn, tăng 0,5% so cùng kỳ; sản lượng khai thác trong quí đạt 18.658 tấn, giảm 11,6% so cùng kỳ. Sau Tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024, các đội tàu khai thác của tỉnh cũng đã ra khơi bắt đầu mùa vụ khai thác mới. Tuy nhiên ảnh hưởng của thời tiết, gió nhiều, sóng lớn nên các đội tàu gặp khó khăn trong quá trình khai thác và số lượng tàu thuyền đánh bắt giảm do phải đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật của khai thác thủy sản bền vững.  Khu vực công nghiệp - xây dựng: Tăng 5,47% so với quí I năm 2023; Tăng cao hơn quí I năm 2023 là 1,7%. (quí I năm 2023 tăng 3,68%).  Ngành công nghiệp tăng 4,42%, tăng cao hơn cùng kỳ 1,27%; Nhìn chung tình hình sản xuất công nghiệp trong quý I năm 2024 mặc dù vẫn còn một số doanh nghiệp sản xuất ngành: đồ uống; dệt; sản xuất trang phục; sản xuất thiết bị điện ... đang gặp khó khăn do đơn hàng xuất khẩu ký kết hợp đồng với các đối tác nước ngoài giảm mạnh, không ổn định làm ảnh hưởng đến nên tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh. Nhưng tình hình có dấu hiệu lạc quan hơn, do có một số doanh nghiệp mới đi vào hoạt động; một số ngành cũng kỳ giảm, nhưng quí I năm nay bắt đầu tăng trở lại; Các ngành có chỉ số sản xuất tăng khá so củng kỳ như: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 15,7%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 39,4%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 25,6% do Công ty TNHH Lốp Advance Việt Nam đi vào hoạt động ổn định; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 19,31% so với cùng kỳ, do nhà nhà máy điện gió Tân Phú Đông 1 đã đi vào hoạt động từ cuối tháng 05/2023 ... Tuy nhiên cũng có một số ngành chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị của ngành công nghiệp nhưng giảm hoặc tăng thấp, làm cho chậm đà tăng trưởng của ngành công nghiệp như: Sản xuất trang phục giảm 24,1% (chiếm tỷ trọng 5,17%); Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 2,60% (chiếm tỷ trọng 18,07); Sản xuất kim loại tăng 1,78% (chiếm tỷ trọng 16,37%) ...  Dự báo xu hướng sản xuất kinh doanh quý II năm 2024, có 43,75% số doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo dự báo tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp quý II/2024 tốt lên so với quý I/2024 và 35,42% dự báo giữ ổn định; có 20,83% doanh nghiệp dự báo tình hình sản xuất kinh doanh khó khăn hơn so với quý I/2024.  Ngành xây dựng tăng 11,88%, là một trong những ngành có tốc độ tăng trưởng tốt nhất trong quí I năm 2024. Trên địa bàn tỉnh có nhiều công trình trọng điểm của địa phương và trung ương đang được triển khai thi công, cộng với sự tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt trong việc đẩy nhanh tiến độ đầu tư công đã góp phần làm cho hoạt động xây dựng trên địa bàn tỉnh tăng khá so cùng kỳ.  Khu vực dịch vụ: tăng 6,25% so cùng kỳ (cùng kỳ tăng 5,41%);  Hoạt động thương mại trên địa bàn tỉnh 03 tháng đầu năm, duy trì mức tăng trưởng khá, nhờ thực hiện hiệu quả các chương trình bình ổn thị trường, tổ chức kết nối doanh nghiệp phân phối với các nguồn hàng hóa tại từng địa phương, khôi phục hoạt động các chợ truyền thống, chợ đầu mối nhằm đảm bảo cân đối cung cầu các mặt hàng thiết yếu, tỉnh còn chú trọng các hoạt động xúc tiến và quảng bá du lịch nhằm thu hút khách đến Tiền Giang.  Hầu hết các ngành trong khu vực này đều tăng, nhu cầu tiêu dùng, mua sắm của người dân trong quí tăng cao nên hoạt động thương mại và dịch vụ diễn ra khá sôi động và có mức tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước, một số ngành tăng khá như: bán buôn và bán lẽ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy tăng 8,11%; Dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 15,41%; hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 11,33%; Hoạt động động Vận tải kho bãi tăng 15,4%, so với cùng kỳ trong có 02 hãng taxi mới đi vào hoạt động trên địa bàn là Saigon taxi và Xanh SM; việc siết chặt kiểm tra nồng độ cồn người điều khiển phương tiện khi tham gia giao thông làm cho nhu cầu sử phương tiện vận tải công cộng tăng, đã thúc đẩy dịch vụ vận tải đường bộ trên địa bàn tỉnh tăng; ... Riêng hoạt động nghệ thuật vui chơi và giải trí giảm 4,82% so cùng kỳ, chủ yếu giảm ở hoạt động xổ số kiến thiết, do doanh thu tiêu thụ trong kỳ giảm 2% so cùng kỳ. Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 4,25% so với quí I năm 2023.   Cơ cấu kinh tế: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 40,4% (cùng kỳ 40,3%); khu vực công nghiệp, xây dựng chiếm 25,2% (cùng kỳ 26,1%); khu vực dịch vụ chiếm 28,8% (cùng kỳ 28,0%); thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 5,6%, tương đương so cùng kỳ.                                                                                              N.V. Tròn

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Tiền Giang tháng 02 năm 2024
  •   14/03/2024 05:45

Tháng 02/2024 trùng với thời điểm Tết Nguyên đán Giáp Thìn năm 2024, Tỉnh ủy, UBND tỉnh tổ chức triển khai kế hoạch và giao nhiệm vụ cụ thể cho từng ngành, từng địa phương; tăng cường các biện pháp nhằm bình ổn giá cả thị trường, kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho các đối tượng chính sách và nhân dân vui xuân đón Tết vui tươi, lành mạnh, an toàn, tiết kiệm và đảm bảo trật tự an toàn xã hội; đặc biệt quan tâm chỉ đạo chủ động trong phòng chống hạn mặn; dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi; chủ động nguồn hàng hóa phục vụ nhu cầu Tết của nhân dân. Các hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh diễn ra khá sôi nổi, các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội được thực hiện trong điều kiện kinh tế tiếp tục phục hồi và phát triển. Kết quả thực hiện ở các lĩnh vực cụ thể như sau: I. SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP VÀ THỦY SẢN 1. Nông nghiệp  Tình hình xâm nhập mặn mùa khô 2024 trên địa bàn tỉnh Tiền Giang đến sớm hơn so với trung bình nhiều năm và cao hơn mùa khô năm 2022-2023, tương đương so mùa khô 2020-2021, thấp hơn, ít gay gắt hơn so với mùa khô 2015-2016. Tỉnh Tiền Giang đã chủ động triển khai các giải pháp phòng, chống hạn, mặn từ sớm, từ xa, với tinh thần chủ động cao nhất để bảo vệ sản xuất và đời sống của người dân.  Cây lương thực có hạt: trong tháng gieo trồng 147 ha, sản lượng thu hoạch 204.145 tấn; ước đến 15/ 02/2024, gieo trồng được 45.799 ha, đạt 40,2% kế hoạch, giảm 6,7% so cùng kỳ, sản lượng thu hoạch 209.427 tấn, giảm 2,5%; trong đó: cây lúa gieo trồng được 44.883 ha, đã thu hoạch 29.279 ha với sản lượng 207.047 tấn, năng suất thu hoạch bình quân 70,7 tạ/ ha.  - Cây lúa: vụ Đông Xuân 2023 - 2024 chính thức gieo trồng được 44.883 ha, đạt 100,4% kế hoạch, giảm 6,9% so cùng kỳ, tương đương giảm 3.319 ha, do năm 2023 nhuận tháng 2 làm cho khung thời vụ gieo cấy lúa đông xuân kết thúc sớm hơn so với các năm trước. Diện tích gieo trồng giảm do chuyển đổi 2.577,2 ha đất trồng lúa sang đất cây lâu năm, 659,3 ha trồng cây hàng năm khác, 57,9 ha đất phi nông nghiệp (xây dựng, cơ sở hạ tầng,..), 23,8 ha không sản xuất và một ha đất nuôi trồng thủy sản. Diện tích gieo trồng giảm hầu hết ở các huyện, trong đó: huyện Cái Bè giảm 1.835 ha, huyện Cai Lậy 446,6 ha, huyện Châu Thành giảm 365,1 ha, huyện Gò Công Tây giảm 285,1 ha, TX. Gò Công giảm 142,4 ha, Gò Công Đông giảm 124,7 ha, TX. Cai Lậy giảm 72,9 ha, huyện Chợ Gạo 24,3 ha, huyện Tân Phước giảm 23,2 ha. Diện tích thu hoạch đạt 29.279 ha (chiếm 65,2% diện tích gieo trồng của vụ), sản lượng ước tính 207.047 tấn. Hình 1. Cây lương thực có hạt tính đến 15/02/2024 - Cây ngô: trong tháng gieo trồng 147 ha, thu hoạch 180 ha với sản lượng 656 tấn. Đến nay gieo trồng được 916 ha, đạt 39,2% kế hoạch, tăng 0,7% so cùng kỳ (huyện Chợ Gạo trồng 401 ha chiếm 43,8% diện tích ngô toàn tỉnh); thu hoạch 652 ha, tăng 1,4%; năng suất bình quân 36,5 tạ/ha, tăng 0,3% với sản lượng bình quân 2.380 tấn, đạt 28,1% kế hoạch, tăng 1,7% so cùng kỳ. - Cây rau đậu các loại: trong tháng gieo trồng 4.744 ha, thu hoạch 3.839 ha với sản lượng 82.562 tấn. Ước tính đến cuối tháng 02/2024 gieo trồng được 22.514 ha, đạt 41,1% kế hoạch (kế hoạch 54.780 ha), giảm 3,8% so cùng kỳ; thu hoạch 18.349 ha, giảm 2,6% so cùng kỳ với sản lượng 394.962 tấn, đạt 33% kế hoạch, giảm 1,5% so cùng kỳ; năng suất bình quân 215,2 tạ/ha, tăng 1,1% so cùng kỳ; trong đó: gieo trồng rau các loại 22.461 ha, giảm 3,8%; thu hoạch 18.324 ha, giảm 2,6% với sản lượng 394.886 tấn, giảm 1,5%; năng suất bình quân đạt 215,5 tạ/ha, tăng 1,1%. Chăn nuôi: ước tổng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh tại thời điểm 01/02/2024 như sau: đàn bò 120 nghìn con, giảm 3,2% so cùng kỳ; đàn lợn 293 nghìn con, tăng 0,1%; đàn gia cầm (không kể chim cút) 16 triệu con, giảm 6,1%; đàn lợn tăng nhẹ so cùng kỳ; đàn bò giảm do thịt bò nhập khẩu chính ngạch ngày càng rẻ, lại phù hợp với thị hiếu tiêu dùng của nhiều người làm chăn nuôi bò trở nên khó khăn, không thu hút người chăn nuôi đầu tư phát triển sản xuất; chăn nuôi gia cầm giảm do tiêu thụ chậm, sức mua thị trường giảm, hiệu quả kinh tế không cao dẫn đến hộ chăn nuôi quyết định giảm đàn và ngừng chăn nuôi. Tình hình dịch bệnh (Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Tiền Giang): Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: trong tháng ghi nhận 11 hộ có lợn mắc bệnh với tổng số lợn bệnh là 116 con trên tổng đàn 318 con, số lợn bị tiêu hủy là 415 con khối lượng 14.837 kg, bao gồm hộ cũ và hộ mới. Từ ngày 14/12/2023 đến nay, trên địa bàn toàn tỉnh ghi nhận 47 hộ có lợn mắc bệnh với tổng số lợn bệnh là 691 trên tổng đàn 1.960 con ở Cái Bè: 03 xã; Chợ Gạo: 04 xã; Châu Thành: 04 xã; thị xã Cai Lậy: 02 xã; Gò Công Tây: 02 xã, Tân Phước: 01 xã; Cai Lậy: 01 xã. Số lợn được tiêu hủy là 1.484 con, trọng lượng 71.370 kg, bao gồm hộ cũ và hộ mới. Bệnh viêm da nổi cục: trong tháng ghi nhận 04 trường hợp bò mắc bệnh tại huyện Gò Công Tây, Tân Phú đông và Chợ Gạo với 04 con bò bệnh/tổng đàn 16 con. Từ ngày 14/12/2023 đến nay, ghi nhận 05 con bò bệnh/tổng đàn 23 con. Hình 2. Chăn nuôi tại thời điểm 01/02/2024 2. Lâm nghiệp:Tổng diện tích đất có rừng trên địa bàn tỉnh 1.660,8 ha (không bao gồm diện tích rừng thuộc đất an ninh quốc phòng), bao gồm: rừng phòng hộ 1.321,7 ha (huyện Gò Công Đông: 380,2 ha; huyện Tân Phú Đông: 889,8 ha và huyện Tân Phước: 51,7 ha), rừng sản xuất 339,1 ha.  Trong tháng, toàn tỉnh thực hiện trồng mới được 0,4 ngàn cây phân tán. Từ đầu năm đến nay trồng được 1,5 ngàn cây, giảm 3,3% so cùng kỳ. Cây được trồng ven các tuyến đường đi của huyện, bờ kênh ở huyện Cai Lậy, Chợ Gạo, Gò Công Tây…  3. Thủy hải sản:  Diện tích nuôi thủy sản các loại trong tháng đạt 1.804 ha, tăng 0,3% so cùng kỳ. Tính chung 02 tháng đầu năm 2024, diện tích nuôi trồng thủy sản đạt 8.327 ha, đạt 56,7% kế hoạch, tăng 2,1% so cùng kỳ; trong đó: diện tích nuôi cá đạt 2.691 ha, giảm 1,3%; diện tích nuôi tôm đạt 2.428 ha, tăng 0,7%; diện tích nuôi thủy sản khác đạt 3.208 ha, tăng 6,2% so cùng kỳ.  Sản lượng thủy sản trong tháng đạt 21.967 tấn. Sản lượng thu hoạch thủy sản 02 tháng đầu năm 2024 ước tính đạt 39.014 tấn, tăng 2,8%; trong đó: sản lượng thu hoạch từ nuôi đạt 23.967 tấn, tăng 1,5%; sản lượng khai thác đạt 15.047 tấn, tăng 5%.  II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP  Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 02/2024 giảm 17,06% so với tháng trước (ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 17,76%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 25,5%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 1,78%) do tháng 2/2024 trùng vào dịp Tết Nguyên đán, có nhiều ngày nghỉ. Chỉ số công nghiệp tháng 02 giảm 6,66% so với cùng kỳ (ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 7,03%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 5,48%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,75%).  Chỉ số sản xuất công nghiệp 2 tháng năm 2024 so cùng kỳ năm trước tăng 5,06% so với cùng kỳ, trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,58%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 10,7%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,72%.Hình 3. Chỉ số sản xuất công nghiệpChỉ số sản xuất sản phẩm hai tháng so cùng kỳ như sau:  - Có 27/46 sản phẩm tăng so cùng kỳ: thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng bột/cốm tăng 93,7%; dây thép không gỉ tăng 68,6%; thuốc diệt cỏ, thuốc chống nảy mầm và thuốc điều hòa sinh trưởng cây trồng tăng 62%; tàu thuyền lớn chuyên chở người và hàng hóa có động cơ đẩy tăng 57,1%; dịch vụ thu gom rác thải không độc hại có thể tái chế tăng 47,7%; dịch vụ sửa chữa, bảo dưỡng tàu, thuyền tăng 32,6%; giấy vệ sinh tăng 28,6%; phi lê đông lạnh tăng 28,3%; đồ chơi hình con vật hoặc sinh vật không phải hình người tăng 27,5%; giày, dép không thấm nước có đế ngoài và mũ bằng cao su hay plastic tăng 15%; thanh, que bằng thép hợp kim rỗng tăng 14,8%; thức ăn cho thủy sản tăng 14,1%; dịch vụ tiện các bộ phận kim loại tăng 8,8%; thức ăn cho gia súc tăng 8,6%; cửa ra vào, cửa sổ bằng sắt, thép tăng 7,1%; nước uống được tăng 3,8%; ống và ống dẫn bằng đồng tăng 2,2%;…  - Có 19/46 sản phẩm giảm so cùng kỳ: các sản phẩm bằng vật liệu tết bện khác giảm 55,4%; cáp đồng trục và dây dẫn điện đồng trục giảm 41,1%; plastic dạng sợi monofilament có kích thước mặt cắt ngang bất kỳ trên 1mm dạng thanh, que và các dạng hình bằng plastic giảm 25,6%; túi xách giảm 20,7%; bia đóng chai giảm 20,7%; thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng viên giảm 16,9%; phân vi sinh giảm 15%; quả và hạt ướp lạnh giảm 5,7%; giày, dép thể thao có mũ bằng da và có đế ngoài giảm 3,7%; bóng thể thao khác giảm 2,8%; túi xách giảm 20,7%;…  * Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo:  - Chỉ số tiêu thụ tháng 02/2024 so với tháng trước giảm 13,52% và giảm 6,15% so cùng kỳ. Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo hai tháng đầu năm 2024 tăng 2,93%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm so cùng kỳ: sản xuất đồ uống giảm 8,78%; dệt giảm 49,1%; sản xuất trang phục giảm 22,71%; sản xuất da giảm 15,68%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ giảm 55,43%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 19,08%;... Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng so cùng kỳ như: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 11,44%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 28,85%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 29,89%; sản xuất sản phẩm cao su và plastic tăng 81,53%; sản xuất kim loại tăng 2,93%;…  - Chỉ số tồn kho tháng 02/2024 so với tháng trước giảm 2,49% và so với cùng kỳ tăng 44,25%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng so với cùng kỳ: sản xuất da tăng 7,87%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 11,65%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 21,91%; chế biến, chế tạo khác tăng 8,92%;… Một số ngành có chỉ số tồn kho giảm so cùng kỳ: dệt giảm 90,85%; sản xuất trang phục giảm 28,4%; sản xuất kim loại giảm 14,32%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẳn giảm 44,25%; sản xuất thiết bị điện giảm 84,78%, trong đó sản xuất mô tơ điện giảm 85,96%;…  III. ĐẦU TƯ - XÂY DỰNG  Tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý thực hiện trong tháng 02/2024 là 187 tỷ đồng, giảm 12,28% so cùng kỳ. Hai tháng đầu năm 2024 thực hiện 386 tỷ đồng, đạt 7,8% kế hoạch, giảm 3,31% so cùng kỳ.  Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh thực hiện 313 tỷ đồng, đạt 8,1% kế hoạch, giảm 4,6% so cùng kỳ, chiếm 81,3% tổng số; trong đó: vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 76 tỷ đồng, giảm 14,9%, vốn xổ số kiến thiết thực hiện 154 tỷ đồng, tăng 19,1% so cùng kỳ...  Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp huyện thực hiện 63 tỷ đồng, đạt 6,8% kế hoạch, tăng 2,83% so cùng kỳ, chiếm 16,2% tổng số; trong đó: vốn tỉnh hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 23 tỷ đồng, tăng 19,4% so cùng kỳ...  Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp xã thực hiện 10 tỷ đồng, đạt 6,1% kế hoạch, tăng 0,3% so cùng kỳ, chiếm 2,5% tổng số; trong đó: vốn huyện hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 1,9 tỷ đồng, giảm 6,5 % so cùng kỳ... Hình 4. Cơ cấu vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý – 2 tháng đầu năm 2024  IV. THƯƠNG MẠI - GIÁ CẢ - DỊCH VỤ  1. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng:  Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trong tháng thực hiện 7.164 tỷ đồng, giảm 3,4% so tháng trước và tăng 8,9% so cùng kỳ. Hai tháng đầu năm 2024, tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thực hiện 14.582 tỷ đồng, đạt 16,4% kế hoạch, tăng 9,7% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 11.166 tỷ đồng, tăng 9%; lưu trú 58 tỷ đồng, tăng 18,2%; ăn uống 1.439 tỷ đồng, tăng 26,1%; du lịch lữ hành 40 tỷ đồng, tăng 58,9%; dịch vụ tiêu dùng khác 1.880 tỷ đồng, tăng 2,8% so cùng kỳ. Hình 5. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng  * Về việc dự trữ, cung ứng hàng hóa thiết yếu phục vụ Tết  Tháng 02/2024 trùng vào dịp Tết Nguyên đán Giáp Thìn năm 2024 nên tình hình luân chuyển hàng hóa trên địa bàn tỉnh diễn ra sôi nổi nhộn nhịp hơn. Để góp phần đảm bảo cung cầu, giá cả các mặt hàng thiết yếu và bình ổn thị trường trên địa bàn tỉnh trước, trong và sau Tết Nguyên đán Giáp Thìn năm 2024. Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang ban hành Kế hoạch số 497/KH-UBND ngày 24/11/2023 về việc dự trữ, cung ứng hàng hóa thiết yếu phục vụ Tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024. Có 08 doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Tiền Giang đăng ký tham gia dự trữ, cung ứng hàng hóa Tết, thời gian tham gia dự trữ, cung ứng hàng hóa thiết yếu phục vụ Tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024 trong 60 ngày, từ ngày 11/01/2024 đến hết ngày 09/3/2024 (nhằm ngày 01 tháng 12 năm Quý Mão 2023 đến ngày 29 tháng Giêng năm Giáp Thìn 2024) với tổng trị giá hàng hóa, hàng hóa thiết yếu các doanh nghiệp thực hiện việc dự trữ, cung ứng hàng hoá trên 553 tỷ đồng, tăng 21,8% so với năm 2023, trong đó hàng hóa thiết yếu hơn 136 tỷ đồng, tăng 13,3% so với năm 2023 và có 16 điểm bán hàng của 08 doanh nghiệp trên đăng ký tham gia.  Đến ngày 14/02/2024 (mùng 5 Tết), theo báo cáo của các đơn vị tham gia dự trữ hàng hóa thiết yếu, số lượng hàng hóa thiết yếu bán ra khoảng 90-100%. Các hàng hóa thiết yếu còn được bày bán rất nhiều ở chợ truyền thống, cửa hàng tiện ích, cửa hàng bách hóa,… nguồn cung hàng hóa dồi dào, các mặt hàng phục vụ Tết phong phú về số lượng, đa dạng về chủng loại, đáp ứng đủ nhu cầu mua sắm, thưởng thức, biếu tặng của người dân trong dịp Tết, không xảy ra tình trạng thiếu hàng hoặc tăng giá đột biến đối với các mặt hàng phục vụ Tết.  2. Chỉ số giá:  Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 02/2024 tăng 1,05% (thành thị tăng 0,89%, nông thôn tăng 1,08%) so tháng 01/2024, tăng 4,24% so tháng 02/2023. Bình quân 2 tháng đầu năm 2024 tăng 3,84% so cùng kỳ năm trước.  Tháng 02/2024 là thời điểm Tết Nguyên đán nên nhu cầu mua sắm của người tiêu dùng tăng làm cho chỉ số giá tăng theo, So với tháng 01/2024, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 09 nhóm tăng: hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,94% (trong đó: lương thực tăng 1,49%, thực phẩm tăng 2,41%, ăn uống ngoài gia đình tăng 1,04%); đồ uống và thuốc lá tăng 0,28%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,42%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,13%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,26%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,06%; giao thông tăng 2,94%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,15% và nhóm hàng hóa, dịch vụ khác tăng 0,56%. Có 2 nhóm Bưu chính viễn thông và nhóm Giáo dục chỉ số giá ổn định.  Chỉ số giá vàng 24 kara Ngọc Thẩm trong tháng 02/2024 tăng 1,64% so tháng trước, giá vàng bình quân 6.434 ngàn đồng/chỉ, tăng 992 ngàn đồng/chỉ so cùng kỳ.  Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng 02/2024 tăng 0,34% so tháng trước, giá bình quân 24.626 đồng/USD, tăng 904 đồng/USD so cùng kỳ.  * Tình hình giá cả thị trường Tết Nguyên đán Giáp Thìn năm 2024  Thị trường hàng hóa phục vụ Tết trên địa bàn tỉnh Tiền Giang sôi động. Lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường phong phú, đa dạng về mẫu mã, bao bì, đảm bảo cung ứng phục vụ nhu cầu mua sắm của nhân dân trong dịp Tết.  Được sự chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố và sự phối hợp chặt chẽ của các ngành chức năng nhất là Quản lý thị trường, Quản lý chợ nên công tác quản lý, bình ổn giá trước Tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024 đạt kết quả tốt. Các huyện, thị xã Gò Công, thị xã Cai Lậy và thành phố Mỹ Tho việc tuyên truyền niêm yết giá, bán theo giá niêm yết được thực hiện bằng nhiều hình thức phong phú đã được sự hưởng ứng của hộ kinh doanh. Tuy nhiên giá dịch vụ giữ xe tại các chợ hiện tượng tăng giá từ 2 đến 5 lần so với quy định khá phổ biến. Đoàn kiểm tra liên ngành các huyện, thành phố, thị xã đã tiến hành kiểm tra, nhắc nhở, lập biên bản và xử phạt theo quy định.   Thời điểm trước tết, nhu cầu mua sắm phục vụ sản xuất, chế biến thực phẩm bán dịp Tết Nguyên đán tăng lên nhưng do thực hiện tốt kế hoạch bình ổn giá, các mặt hàng thiết yếu cơ bản không có biến động lớn thị trường không có hiện tượng khan hàng, sốt giá do nguồn cung dồi dào.  Giai đoạn cận tết phục vụ cúng lễ ông Táo và những ngày sát Tết, nhu cầu mua sắm của người dân tăng lên chủ yếu mặt hàng thiết yếu như rau củ quả, thực phẩm tươi sống, gà, vịt, cá…, giá cả tương đối ổn định, chỉ tăng ở một số mặt hàng như hoa tươi tăng 30%, trái cây, thịt heo, thịt gà tăng 10 - 15%, tăng so những ngày trước đó nhưng so cùng kỳ tăng không nhiều.  Trong Tết hầu như các hộ tiểu thương nghỉ tết nên ít có giao dịch mua bán mùng 1, mùng 2 Tết nên giá cả mặt hàng thiết yếu ổn định như trước Tết, những ngày nghỉ Tết tiếp theo giá cả tăng cục bộ đối với mặt hàng tươi sống tại một số chợ dân sinh.  - Giá hàng lương thực, thực phẩm tăng nhẹ so với những ngày trước tết.  + Lương thực: Giá các loại lương thực thiết yếu phục vụ Tết tương đối ổn định, giá gạo tẻ thường ở mức: 14.000 đồng/kg - 18.000 đồng/kg; gạo thơm, gạo tẻ ngon dao động từ 16.000 đồng/kg đến 25.000 đồng/kg; gạo nếp dao động với mức giá từ 18.000 đồng/kg đến 26.000 đồng/kg (tùy khu vực và loại gạo).  + Thực phẩm: Giá heo hơi địa phương hiện ở mức: 52.000 đồng/kg - 56.000 đồng/kg (tùy khu vực và loại heo); giá thịt tại các chợ, cụ thể ba rọi: 120.000 đồng/kg - 140.000 đồng/kg; giá thịt bò thăn: 240.000 đồng/kg - 270.000 đồng/kg; Giá lạp xưởng Visan 230.000 - 250.000 đồng/kg; Tôm khô loại 1 dao động từ 1.000.000 đồng/kg đến 1.200.000 đồng/kg; Giò lụa Vissan: 190.000 - 216.000 đồng/kg. Giá gà: gà ta còn sống 120.000 đồng/kg - 140.000 đồng/kg; Gà công nghiệp làm sẵn: 70.000 đồng/kg - 90.000 đồng/kg.  + Rau tươi: Bắp cải trắng 12.000 đồng/kg - 14.000 đồng/kg; Bí xanh 17.000 đồng/kg - 18.000 đồng/kg; Cà chua 15.000 đồng/kg - 20.000 đồng/kg.  + Giá các loại trái cây: Dưa hấu 12.000 - 18.000 đồng/kg; Quýt đường 45.000 - 55.000 đồng/kg; Bưởi da xanh 35.000 - 45.000 đồng/kg.  + Giá bánh mứt: giá bánh, mứt ổn định theo mức giá đang diễn ra trong năm, không có sự biến động mạnh. Cụ thể: Giá mứt bí 45.000 - 55.000 đồng/kg; hạt dưa 120.000 - 140.000 đồng/kg; bánh Danisa hộp 900gr 260.000 - 280.000 đồng/ hộp.  + Giá bia, nước giải khát các loại: Tết năm nay giá bia, nước giải khát các loại giá nước uống giá ổn định không có sự biến động mạnh. Cụ thể nước ngọt Pepsi lon 179.000 - 185.000 đồng/thùng 24 lon; Bia Tiger 345.000 - 360.000 đồng/thùng 24 lon.  - Giá các loại hoa giảm nhẹ so với năm 2023. Giá hoa vạn thọ loại thấp cây: 80.000 đồng/cặp - 120.000 đồng/cặp, hoa cúc 180.000 đồng/cặp - 240.000 đồng/cặp tùy chiều cao và số lượng cây trong chậu, đến ngày 30 Tết, giá các loại hoa giảm mạnh: hoa vạn thọ: 50.000 đồng/cặp - 70.000 đồng/cặp; hoa cúc 120.000 đồng/cặp - 140.000 đồng/cặp. Sức tiêu thụ năm nai giảm so hơn so cùng kỳ.  - Giá dịch vụ giữ xe, giá vé xe khách  + Giá dịch vụ giữ xe: giá dịch vụ giữ xe tại các chợ hiện tượng tăng giá từ 2 đến 5 lần so với quy định khá phổ biến. Đoàn kiểm tra liên ngành các huyện, thành phố, thị xã đã tiến hành kiểm tra, nhắc nhở, lập biên bản và xử phạt theo quy định.  + Giá cước vận tải đường bộ: theo bảng kê khai giá của các đơn vị kinh doanh vận tải do Sở Giao thông Vận tải tiếp nhận văn bản kê khai giá, các đơn vị phụ thu 40% giá cước cơ bản đi từ Tiền Giang đến Bến xe Miền Tây và ngược lại để bù đắp chi phí xe rỗng chạy từ Tiền Giang đi TP. Hồ Chí Minh trong dịp Tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024 thời gian từ 06/02/2024 (nhằm ngày 27/12 âm lịch) đến ngày 09/02/2024 (nhằm ngày mùng 30 Tết) tại đầu Bến xe miền Tây; từ ngày 13/02/2024 (nhằm ngày mùng 04 Tết) đến ngày 14/02/2024 (nhằm ngày mùng 05 Tết) tại đầu Bến xe Tiền Giang.  3. Du lịch:  Khách du lịch đến trong tháng 02/2024 ước tính có 113 ngàn lượt khách, tăng 7,7% so tháng trước và tăng 3,3% so cùng kỳ; trong đó: khách du lịch quốc tế 43,1 ngàn lượt khách, tăng 14,5% so tháng trước và tăng 25,9% so cùng kỳ. Doanh thu lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ tiêu dùng khác trong tháng 02 đạt 1.679 tỷ đồng, giảm 3,3% so tháng trước và tăng 16,7% so cùng kỳ.  Tính chung hai tháng đầu năm 2024, lượt khách du lịch đến Tiền Giang là 217 ngàn lượt khách, đạt 13,2% kế hoạch, tăng 4,5% so cùng kỳ; trong đó: khách quốc tế 81 ngàn lượt khách, tăng 28,3%. Tổng doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, dịch vụ lữ hành và dịch vụ tiêu dùng khác đạt 3.415 tỷ đồng, tăng 12,3% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu dịch vụ ăn uống chiếm tỉ trọng 42,1%, ước đạt 1.439 tỷ đồng, tăng 26,1%, dịch vụ lưu trú đạt 58 tỷ đồng, tăng 18,2%,...  Về tình hình hoạt động dịp Tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024:  Nhằm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân vui xuân đón Tết. Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang ban hành Kế hoạch số 513/KH-UBND ngày 07/12/2023 về việc tổ chức các hoạt động vui chơi, giải trí phục vụ Nhân dân trong dịp Tết Nguyên đán Giáp Thìn năm 2024. Toàn tỉnh có 11/11 địa phương tổ chức chợ hoa xuân Giáp Thìn năm 2024; riêng tại thành phố Mỹ Tho, chợ hoa xuân tiếp tục được tổ chức tại Quảng trường Hùng Vương, có hơn 450 hộ buôn bán hoa kiểng tập trung. Có 8/11 huyện, thành, thị tổ chức hội xuân (trừ huyện Cái Bè, Châu Thành, Tân Phú Đông); 7/11 huyện, thành, thị tổ chức bắn pháo hoa vào đêm giao thừa với số lượng 570 giàn. Một số địa phương không tổ chức bắn pháo hoa thì tổ chức múa lân, bố trí màn hình led khổ lớn có phát băng hình bắn pháo hoa lúc giao thừa tạo không khí vui tươi trong nhân dân vui xuân đón Tết.  Từ ngày 07/02 đến 13/02/2024 (nhằm ngày 28 tháng Chạp đến mùng 4 Tết), số lượng khách du lịch đến Tiền Giang là 88 ngàn lượt khách du lịch, tăng 73% so với cùng kỳ, trong đó có 10 ngàn lượt khách quốc tế, tăng 121% so với cùng kỳ.  4. Vận tải:  Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trong tháng thực hiện 227,8 tỷ đồng, tăng 3,8% so tháng trước và tăng 25,0% so cùng kỳ. Hai tháng thực hiện 447 tỷ đồng, tăng 23,9% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 125 tỷ đồng, tăng 22,9%; doanh thu vận tải hàng hóa thực hiện 278 tỷ đồng, tăng 24,7%. Doanh thu vận tải đường bộ thực hiện 195 tỷ đồng, tăng 21,4%; doanh thu vận tải đường thủy thực hiện 207 tỷ đồng, tăng 26,9%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 45 tỷ đồng, tăng 22%.  Vận tải hành khách trong tháng đạt 1.496 ngàn hành khách, tăng 4,3% so tháng trước và tăng 27,4% so cùng kỳ; luân chuyển 35.105 ngàn hành khách.km, tăng 3,2% so tháng trước và tăng 22% so cùng kỳ. Hai tháng, vận chuyển 2.929 ngàn hành khách, tăng 19,3%; luân chuyển 69.127 ngàn hành khách.km, tăng 12,7% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 1.088 ngàn hành khách, tăng 16,5% và luân chuyển 67.051 ngàn hành khách.km, tăng 12,6%; vận tải đường thủy 1.841 ngàn hành khách, tăng 21% và luân chuyển 2.076 ngàn hành khách.km, tăng 16,2%.  Vận tải hàng hóa trong tháng đạt 1.376 ngàn tấn, tăng 1,1% so tháng trước và tăng 18,3% so cùng kỳ; luân chuyển 189.323 ngàn tấn.km, tăng 0,5% so tháng trước và tăng 13,7% so cùng kỳ. Hai tháng, vận tải 2.735 ngàn tấn hàng hóa, tăng 19,7%; luân chuyển 375.242 ngàn tấn.km, tăng 13,6% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 407 ngàn tấn, tăng 11,2% và luân chuyển 51.979 ngàn tấn.km, tăng 13,9% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 3.328 ngàn tấn, tăng 21,3% và luân chuyển 323.263 ngàn tấn.km, tăng 13,6% so cùng kỳ.  Đảm bảo an toàn giao thông trong dịp Tết Nguyên đán (từ ngày 29 tháng Chạp đến Mùng 4 Tết)  Nhằm đảm bảo an tòa giao thông để nhân dân vui xuân đón Tết Nguyên đán Giáp thìn năm 2024. Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang ban hành Kế hoạch số 526/KH-UBND ngày 20/12/2023 về việc bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trong dịp Tết Dương lịch, Tết Nguyên đán Giáp Thìn và Lễ hội xuân 2024; Công văn số 651/UBND-NC ngày 02/02/2024 về việc tăng cường các giải pháp bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trong dịp Tết Nguyên đán Giáp Thìn và Lễ hội Xuân 2024.  - Công tác phòng chống ùn tắc giao thông: Các ngành chức năng tăng cường bố trí lực lượng theo các kế hoạch, phương án về phân luồng, phòng chống ùn tắc giao thông; các giải pháp phòng chống ùn tắc giao thông tại các khu vực như: cầu Rạch Miễu, ngã tư Lương Phú, ngã ba An Thái Trung và bến phà Lộ Vàm (Huyện lộ 86, qua chùa Liên Hoa xã Xuân Đông). Qua đó xuất quân 320 ca, với 910 lượt cán bộ chiến sỹ tham gia làm nhiệm vụ điều tiết giao thông. Kết quả:  * Công tác quản lý phương tiện giao thông:                       Trong tháng đăng ký mới 4.933 chiếc mô tô xe máy, 610 chiếc ô tô, 08 chiếc xe đạp điện và xe khác 01 chiếc. Tổng số xe đang quản lý trên địa bàn tỉnh 1.495.729 chiếc, trong đó mô tô xe máy: 1.436.561 chiếc, 56.303 xe ô tô, 160 xe ba bánh, 479 xe đạp điện và 917 xe khác.  5. Bưu chính viễn thông:  Doanh thu trong tháng 02/2024 đạt 310 tỷ đồng, tăng 0,4% so tháng trước và tăng 4,2% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính đạt 27 tỷ đồng, tăng 0,6% và viễn thông 283 tỷ đồng, tăng 0,4% so tháng trước. Hai tháng doanh thu dịch vụ bưu chính, viễn thông đạt 619 tỷ đồng, tăng 4,3% so cùng kỳ; trong đó:doanh thu bưu chính đạt 54 tỷ đồng, tăng 5,1% và viễn thông 565 tỷ đồng, tăng 4,2% so cùng kỳ.   Tổng số thuê bao điện thoại có trên mạng đến cuối tháng 02/2024 là 132.222 thuê bao, mật độ bình quân đạt 7,38 thuê bao/100 dân (chỉ tính thuê bao cố định và di động trả sau). Thuê bao internet có trên mạng cuối tháng 02/2024 là 388.993 thuê bao, mật độ internet bình quân đạt 21,72 thuê bao/100 dân. Các doanh nghiệp bưu chính, viễn thông trên địa bàn tỉnh được duy trì, trên đà phát triển ổn định, không ngừng đầu tư nâng cấp phát triển mạng lưới, cung cấp nhiều loại hình dịch vụ phong phú, đa dạng để duy trì tốc độ phát triển.  V. TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG  1. Tài chính:  Tổng thu ngân sách nhà nước trong tháng thực hiện 1.306 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn 786 tỷ đồng, thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 243 tỷ đồng. Hai tháng, thu 4.003 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn thực hiện 2.485 tỷ đồng, đạt 28,2% dự toán và tăng 39,4% so cùng kỳ; thu nội địa 2.436 tỷ đồng, đạt 28,6% dự toán, tăng 39,4% so cùng kỳ (trong thu ngân sách trên địa bàn: thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 680 tỷ đồng, đạt 32,7% dự toán, tăng 26% so cùng kỳ; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 551 tỷ đồng, đạt 45,6% dự toán, tăng 1,3 lần so cùng kỳ, thu từ hoạt động xổ số kiến thiết 556 tỷ đồng, đạt 30,4% dự toán, tăng 45,5% so cùng kỳ...).  Tổng chi ngân sách nhà nước trong tháng 1.466 tỷ đồng; trong đó: chi đầu tư phát triển 550 tỷ đồng. Hai tháng, chi 2.942 tỷ đồng, đạt 20,4% dự toán, giảm 23,1% so cùng kỳ; trong đó: chi đầu tư phát triển 1.471 tỷ đồng, đạt 30,1% dự toán, tăng 7,2% so cùng kỳ; chi hành chính sự nghiệp 1.251 tỷ đồng, đạt 14,9% dự toán và tăng 40,1% so cùng kỳ.  2. Ngân hàng:  Mặt bằng lãi suất ổn định đến cuối tháng 01/2024, lãi suất cho vay ngắn hạn VNĐ phổ biến ở mức trên 4%/năm đến 9%/năm (chiếm 67,14% tổng dư nợ ngắn hạn VNĐ), trên 11%/năm đến 13%/năm đối với cho vay trung dài hạn VNĐ. Nguồn vốn huy động đến cuối tháng 01/2024 đạt 96.817 tỷ đồng, giảm 705 tỷ đồng, giảm 0,73% so với cuối năm 2023. Ước tính đến cuối tháng 02/2024, nguồn vốn huy động đạt 97.086 tỷ đồng, tăng 203 tỷ đồng, tăng 0,21% so với cuối năm 2023.  Đến cuối tháng 01/2024, tổng dư nợ cho vay toàn tỉnh đạt 96.625 tỷ, giảm 678 tỷ đồng, tỷ lệ giảm 0,70%, đáp ứng nhu cầu vay vốn cho 261.614 khách hàng. Ước tính đến cuối tháng 02/2024, tổng dư nợ đạt 97.469 tỷ, tăng 165 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 0,05% so với cuối năm 2023.  Nợ xấu: cuối tháng 01/2024, nợ xấu nội bản là 1.779,5 tỷ đồng, tỷ lệ 1,84%, tăng 0,23% so với cuối năm 2023. Ước đến cuối tháng 02/2024, nợ xấu là 1.621 tỷ, tỷ lệ nợ xấu 1,66%, tăng 0,05% so với cuối năm 2023.  Quỹ tín dụng nhân dân: đến cuối tháng 01/2024, tổng nguồn vốn hoạt động đạt 1.564 tỷ đồng, tăng 19 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 1,20% so cuối năm 2023, trong đó vốn huy động đạt 1.351 tỷ đồng tăng 1,45%, chiếm tỷ trọng 86,4% trong tổng nguồn vốn hoạt động; đáp ứng nhu cầu vay vốn cho 986 lượt thành viên trong tháng 01; tổng dư nợ đạt 1.156 tỷ đồng, tăng 10 tỷ, tỷ lệ tăng 0,90% so với cuối năm 2023. Nợ xấu là 4,4 tỷ đồng, chiếm 0,38% tổng dư nợ, tăng 0,04% so 12/2023.  VI. KHOA HỌC CÔNG NGHỆ  Trong tháng, Hội đồng tư vấn giao trực tiếp cho tổ chức, cá nhân thực hiện 03 nhiệm vụ khoa học và công nghệ (KH&CN) 02 cấp tỉnh, 01 cấp cơ sở; kiểm tra tiến độ thực hiện 01 nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh; nghiệm thu giai đoạn 05 nhiệm vụ KH&CN 03 cấp tỉnh, 02 cấp cơ sở; gia hạn 01 nhiệm vụ KH&CN cấp cơ sở.  Đến tháng 02/2024, quyết định triển khai 04 nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh; tổ chức họp Hội đồng tư vấn giao trực tiếp tổ chức, cá nhân thực hiện 03 nhiệm vụ KH&CN (02 cấp tỉnh, 01 cấp cơ sở); kiểm tra tiến độ thực hiện 02 nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh; nghiệm thu giai đoạn 06 nhiệm vụ KH&CN (04 cấp tỉnh, 02 cấp cơ sở); gia hạn 03 nhiệm vụ KH&CN (01 cấp tỉnh, 02 cấp cơ sở).   VII. CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI  1. Lao động việc làm:  Trong tháng, tư vấn nghề, việc làm, pháp luật lao động và tư vấn khác cho 988 lượt lao động, tăng 30% so cùng kỳ; trong đó: tư vấn nghề cho 51 lượt lao động; tư vấn việc làm cho 169 lượt lao động; tư vấn việc làm cho 739 lượt lao động thất nghiệp; tư vấn pháp luật lao động và tư vấn khác cho 29 lượt lao động.  Giới thiệu việc làm trong tháng cho 187 lượt lao động, tăng 1,4 lần so cùng kỳ, trong đó có 36 lao động có được việc làm ổn định, tăng 38,5%.  Tư vấn đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài cho 52 lượt lao động, tăng 67,7% so cùng kỳ; có 02 lao động đăng ký tham gia đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, giảm 33,3%; có 30 lao động xuất cảnh đi làm việc ở nước ngoài, tăng 66,7% như: Nhật Bản 26 lao động, Đài Loan 02 lao động và Mỹ 02 lao động.  Ghi nhận 921 lao động đăng ký hưởng trợ cấp thất nghiệp, tăng 67,5% so cùng kỳ; có 1.416 lao động được quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp, tăng 79%, với số tiền chi trả 32,7 tỷ đồng, tăng 94,4%.  Trong tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 02 vụ ngừng việc tập thể tại 02 doanh nghiệp (01 doanh nghiệp FDI, 01 doanh nghiệp dân doanh) với khoảng 200 lao động tham gia ngừng việc. Đến nay tình hình lao động tại các công ty cơ bản đã ổn định.  2. Chính sách xã hội:  Thăm, tặng quà người có công:  + Tặng quà của Chủ tịch nước, số lượng 35.866 người, số tiền 10,9 tỷ đồng (gồm: 469 người, mức quà 600.000 đồng/người; 35.397 người, mức quà 300.000 đồng/người).  + Tổng kinh phí trợ cấp Tết từ nguồn ngân sách địa phương khoảng 26,7 tỷ đồng, với số lượng 67.696 người (gồm: 35.866 người, mức quà 300.000 đồng/người; 31.746 người, mức quà 500.000 đồng/người; 84 người, mức quà 1 triệu đồng/người).  + Tổ chức 18 Đoàn Ban Thường vụ Tỉnh ủy thăm 85 hộ gia đình chính sách và 48 đơn vị tập trung, kết hợp với thăm người cao tuổi và trao quà cho hộ nghèo, với số tiền khoảng 814 triệu đồng (gồm: 85 chính sách hộ mức 2 triệu đồng/hộ, kèm túi quà 1 triệu đồng/phần; 48 đơn vị tập trung mức quà từ 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng/đơn vị, kèm túi quà 2 triệu đồng/phần). Thời gian đi từ ngày 23/01 đến ngày 30/01/2024 (nhằm 13/12 - 20/12 AL).  Tổ chức thăm, tặng quà, trợ cấp cho người cao tuổi, hộ nghèo, hộ cận nghèo trong dịp Tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024:  - Trợ cấp cho hộ nghèo - hộ cận nghèo:  + Ngân sách tỉnh hỗ trợ cho 4.925 hộ nghèo, tổng kinh phí khoảng 2,5 tỷ đồng (với mức 500.000 đồng/hộ).  + Quỹ Thiện Tâm tặng quà Tết Giáp Thìn năm 2024 cho 1.300 hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn; với kinh phí 780 triệu đồng (mỗi phần quà trị giá 600.000 đồng); Sở Lao động - Thương binh và Xã hội đã phối hợp Quỹ Thiện Tâm tổ chức trao tặng quà tại các huyện Gò Công Đông, Gò Công Tây, Tân Phước, Châu Thành và thị xã Cai Lậy.   + Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà máy Bia Heineken Việt Nam tổ chức tặng quà Tết Giáp Thìn năm 2024 cho 150 hộ nghèo, hộ cận nghèo; với kinh phí 150 triệu đồng (mỗi phần quà trị giá 1 triệu đồng) tại huyện Cái Bè, Cai Lậy và Tân Phú Đông.  + Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp trong tỉnh và các tổ chức thành viên đã vận động được 201.628 phần quà, trị giá khoảng 81 tỷ đồng để hỗ trợ cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn.  - Thăm người cao tuổi: tổ chức Đoàn thăm, tặng quà Tết cho người cao tuổi nhân dịp Tết Nguyên đán, cụ thể: người tròn 100 tuổi: 132 người, kinh phí khoảng 252 triệu đồng; người tròn 90 tuổi: 1.537 người, kinh phí khoảng 1,8 tỷ đồng. Tổng số 1.669 người, tổng số tiền khoảng 2 tỷ đồng.  3. Hoạt động y tế:  Ngành Y tế đảm bảo tốt hoạt động chăm sóc sức khỏe nhân dân, đảm bảo cung ứng thuốc đầy đủ phục vụ cho hoạt động khám chữa bệnh. Trong tháng 02/2024 có 07/44 bệnh truyền nhiễm được ghi nhận. Cộng dồn so với cùng kỳ về số mắc, có 06 bệnh tăng (bệnh do liên cầu lợn ở người, lao phổi, quai bị, tay – chân – miệng, uốn ván khác, viêm gan vi rút B), 06 bệnh giảm (số xuất huyết Dengue, thủy đậu, tiêu chảy, viêm gan vi rút C, viêm não vi rút khác, Covid - 19); 32 bệnh tương đương hoặc không xảy ra ca mắc.  Phòng chống bệnh sốt xuất huyết Dengue trong tháng ghi nhận 126 ca, 02 tháng đầu năm 2024 ghi nhận 277 ca, giảm 60,9% so cùng kỳ năm trước.  Phòng chống bệnh HIV/AIDS tính đến nay, toàn tỉnh có 6.845 người nhiễm HIV; 1.819 người chuyển sang AIDS; tử vong do AIDS 1.330 người.  Hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe nhân dân trong tháng 02/2024 được đảm bảo, đã khám chữa bệnh cho 430.240 lượt người, tăng 39,9% so cùng kỳ; trong đó, số người điều trị nội trú là 18.978 người, tăng 27,6%. Công suất sử dụng giường bệnh bình quân đạt 76,6%.  4. Hoạt động giáo dục:  Ngày 19-2-2024 (mùng 10 tháng Giêng Âm lịch), học sinh của tỉnh Tiền Giang sẽ chính thức trở lại trường sau kỳ nghỉ tết. Các trường đã lên kế hoạch tổ chức cho học sinh trở lại trường, đảm bảo nền nếp, an toàn để tiếp tục chương trình học kỳ II năm học 2023 - 2024.  Kết quả thi chọn học sinh giỏi quốc gia THPT với kết quả: có 46/83 thí sinh đạt giải ở 9 môn thi, trong đó: giải Nhì 04 thí sinh, giải Ba 12 thí sinh và giải Khuyến khích 30 thí sinh.  5. Hoạt động văn hóa - thể thao:  Hoạt động văn hóa mừng Đảng, mừng Xuân: có 11/11 địa phương tổ chức chợ hoa xuân Giáp Thìn năm 2024; trong đó riêng tại thành phố Mỹ Tho, chợ hoa xuân được tổ chức tại Quảng trường Hùng Vương, được đầu tư xây dựng mái che, nhà bạt có hệ thống phun sương để hơn 450 hộ buôn bán hoa kiểng tập trung. Có 8/11 huyện, thành, thị tổ chức hội xuân (trừ huyện Cái Bè, Châu Thành, Tân Phú Đông); 7/11 huyện, thành, thị tổ chức bắn pháo hoa vào đêm giao thừa với số lượng 570 giàn gồm: thành phố Mỹ Tho 90 giàn, thị xã Gò Công 90 giàn, huyện Cái Bè 60 giàn, huyện Cai Lậy 120 giàn, huyện Tân Phước 60 giàn, huyện Chợ Gạo 90 giàn và Gò Công Tây 60 giàn. Tại Quảng trường Hùng Vương, các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, chợ hoa được tổ chức từ ngày 05/02/2024 đến ngày 14/02/2024 (từ ngày 26 tháng Chạp đến ngày mùng 5 Tết).  Hoạt động bảo tàng: tổ chức trưng bày phục vụ Tết Giáp Thìn năm 2024 với các chuyên đề “Thành tựu Kinh tế, Văn hóa, Xã hội, An ninh, Quốc phòng tỉnh Tiền Giang” và “Rồng trong Di sản Văn hóa Tiền Giang”. Trong tháng, Bảo tàng Bảo tàng tỉnh và 04 di tích trực thuộc đã đón hơn 15 nghìn lượt khách.  Hoạt động văn hóa, nghệ thuật: tổ chức 05 cuộc hội thi, liên hoan, giao lưu (Hội thi tuyến đường cờ hoa mừng Đảng, mừng Xuân lần III-2024; Thi ảnh nghệ thuật chủ đề “Sắc xuân”; Hội thi hoa lan; Giao lưu các ban nhạc tỉnh Tiền Giang mở rộng và Giao lưu đờn ca tài tử. Tổ chức 02 cuộc trưng bày, 28 buổi biểu diễn nghệ thuật, chiếu phim phục vụ Nhân dân.  Hoạt động thư viện: tổ chức Hội báo Xuân năm 2024 tại Thư viện tỉnh và góc trưng bày sách, báo xuân tại quảng trường Hùng Vương. Trong tháng, Thư viện đã phục vụ được 38.585 lượt bạn đọc, với 69.249 lượt sách ra lưu hành.  Hoạt động Thể dục - Thể thao: tổ chức Giải Vô địch Võ Cổ truyền tỉnh Tiền Giang năm 2024, từ ngày 04/02 – 06/3/2024 tại Quảng trường Hùng Vương; tổ chức các môn trong chương trình Hội Khỏe Phù Đổng tỉnh Tiền Giang lần thứ XI năm học 2023 – 2024; tổ chức thành công và tham dự Vòng loại Giải Bóng đá Vô địch U19 quốc gia năm 2024 – Bảng G, từ ngày 07/01 – 29/01/2024 tại Tiền Giang. Kết quả đạt 12 điểm, hạng II trên 05 đội.  6. Tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội: (theo báo cáo của Ngành công an)  Tình hình an ninh trật tự dịp tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024 được đảm bảo, công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm về trật tự xã hội: ghi nhận 68 vụ ,giảm 04 vụ so với tháng 01/2024 và tăng 07 vụ so với tháng 02/2023; bị thương 16 người và tài sản thiệt hại khoảng 742 triệu đồng; điều tra khám phá 61 vụ (đạt 89,7%), bắt xử lý 117 đối tượng, thu hồi tài sản khoảng 569 triệu đồng.  Tội phạm, vi phạm pháp luật về ma túy: phát hiện, xử lý 13 vụ, 13 đối tượng phạm tội về ma túy, tang vật thu giữ 20,4g ma túy tổng hợp,…; xử lý vi phạm hành chính 133 đối tượng có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.  7. Trật tự an toàn giao thông: (theo báo cáo của Ngành công an, số liệu tính từ ngày 15/12/2023 đến 14/01/2024)  Giao thông đường bộ: tai nạn giao thông trong tháng xảy ra 22 vụ, giảm 15 vụ so tháng trước và giảm 01 vụ so cùng kỳ; làm chết 17 người, giảm 08 người so tháng trước và tăng 04 người so cùng kỳ; bị thương 06 người, giảm 13 người so tháng trước và giảm 09 người so cùng kỳ. Các nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông như: điều khiển xe khi có rượu bia, phóng nhanh vượt ẩu, không làm chủ tốc độ; không đi đúng phần đường, làn đường; không nhường đường, vượt đèn đỏ, thiếu quan sát…  Giao thông đường thủy: không xảy ra.  Tình hình giao thông dịp Tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024 (từ ngày 08/02/2024 đến ngày 14/02/2024, nhằm ngày 29 ÂL Quý Mão đến mùng 05 ÂL Giáp Thìn): xảy ra 07 vụ, chết 05 người, bị thương 03 người. So với cùng kỳ năm 2023: tăng 01 vụ, tương đương số người chết và tăng 01 người bị thương.  8. Tình hình cháy nổ, môi trường và thiên tai:  Trong tháng, ghi nhận 10 vụ cháy (phương tiện giao thông 02 vụ, nhà dân 03 vụ, cơ sở sản xuất 02 vụ, cháy cỏ 02 vụ, cơ sở phế liệu 01 vụ), tài sản thiệt hại khoảng 452 triệu đồng. Nguyên nhân do sự số hệ thống, thiết bị điện 01 vụ, bất cẩn trong sử dụng lửa 02 vụ, đang điều tra 06 vụ, chủ cơ sở yêu cầu không làm rõ nguyên nhân 01 vụ. Từ đầu năm đến nay xảy ra 11 vụ cháy, thiệt hại tài sản khoảng 2,8 tỷ đồng.  Về lĩnh vực môi trường, không ghi nhận vụ vi phạm nào trong tháng.  Tình hình thiên tai trong tháng không ghi nhận. Từ đầu năm đến nay xảy ra 01 cơn lốc xoáy trên địa bàn tỉnh, làm 09 căn nhà bị tốc mái; làm 261 cây ăn trái bị đổ ngã và làm 142 tấn trái cây bị rụng hư. Ước tổng giá trị thiệt hại 2.952 triệu đồng.

Quyết định số 05/2023/QĐ-TTg ngày 24/02/2023 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã
  •   18/06/2024 14:21

Quyết định số 05/2023/QĐ-TTg ngày 24/02/2023 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Tiền Giang tháng 01 năm 2024
  •   13/06/2024 16:13

Với quyết tâm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2024, ngay từ đầu năm Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã triển khai kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh, giao nhiệm vụ cụ thể cho từng ngành, từng địa phương; chủ động phòng chống hạn mặn, dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi nhằm đảm bảo sản xuất nông nghiệp phát triển, chủ động nguồn hàng hóa phục vụ nhu cầu Tết của nhân dân; tăng cường các biện pháp nhằm bình ổn giá cả thị trường, kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho các đối tượng chính sách và nhân dân vui xuân đón Tết, đảm bảo trật tự an toàn xã hội. Kết quả thực hiện ở các lĩnh vực cụ thể như sau:  I. SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP VÀ THỦY SẢN  1. Nông nghiệp  Trong tháng, sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh tập trung gieo trồng vụ Đông Xuân, thời tiết thuận lợi, các cây trồng chính phát triển. Tuy nhiên, tình hình hạn mặn do ảnh hưởng bởi kỳ triều cường Rằm tháng 11 (Âm lịch), độ mặn trong những ngày qua trên sông Tiền tăng cao đột biến, xâm nhập và lấn sâu vào nội đồng.  Cây lương thực có hạt: trong tháng gieo trồng được 11.149 ha, giảm 3,4% so cùng kỳ, sản lượng thu hoạch 4.117 tấn, tăng 3,4%.  - Cây lúa: vụ Đông Xuân 2023 - 2024 gieo trồng được 44.883 ha, đạt 100,4% kế hoạch, giảm 6,9% so cùng kỳ. Diện tích gieo trồng giảm do chuyển đổi đất trồng lúa sang đất cây lâu năm 2.577,2 ha, trồng cây hàng năm khác 659,3 ha, đất phi nông nghiệp 57,9 ha (xây dựng, cơ sở hạ tầng,..), không sản xuất 23,8 ha và đất nuôi trồng thủy sản 1 ha. Diện tích gieo trồng giảm hầu hết ở các huyện, trong đó: huyện Cái Bè giảm 1.835 ha, huyện Cai Lậy 446,6 ha, huyện Châu Thành giảm 365,1 ha, huyện Gò Công Tây giảm 285,1 ha, TX. Gò Công giảm 142,4 ha, Gò Công Đông giảm 124,7 ha, TX. Cai Lậy giảm 72,9 ha, huyện Chợ Gạo 24,3 ha, huyện Tân Phước giảm 23,2 ha. Hiện nay, nông dân đang chăm sóc vụ lúa đông xuân và lúa đang trong giai đoạn phát triển tốt.  - Cây ngô: trong tháng gieo trồng 289 ha, giảm 4,2% so cùng kỳ; thu hoạch 155 ha, tăng 0,9% với sản lượng 558 tấn, tăng 1,3%; năng suất bình quân đạt 36 tạ/ha, tăng 0,4%.  Cây rau đậu các loại: trong tháng gieo trồng 4.952 ha, giảm 4,3% so cùng kỳ; thu hoạch 4.805 ha, giảm 3,9% với sản lượng 103.165 tấn, giảm 2,5% với năng suất bình quân đạt 214,7 tạ/ha, tăng 1,4%; trong đó: rau các loại 4.941 ha, giảm 4,3%; thu hoạch 4.797 ha, giảm 3,9% với sản lượng 103.142 tấn, giảm 2,5%; năng suất bình quân đạt 215 tạ/ha, tăng 1,4% so cùng kỳ.  Chăn nuôi: ước tổng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh tại thời điểm 01/01/2024 như sau: đàn bò 122,5 ngàn con, giảm 1,2% so cùng kỳ; đàn lợn 298 ngàn con, tăng 1%; đàn gia cầm (không kể chim cút) 16,2 triệu con, giảm 5,6%; đàn lợn tăng so cùng kỳ do người chăn nuôi chủ động được nguồn giống và nhu cầu thị trường tăng cao trong dịp tết cổ truyền; đàn bò giảm do việc tái đàn còn chậm, hiệu quả chăn nuôi bò không cao; chăn nuôi gia cầm giảm do hiệu quả kinh tế không cao, nhiều hộ chăn nuôi quyết định giảm đàn và ngừng chăn nuôi. Hình 1. Chăn nuôi tại thời điểm 01/01/2024  Tình hình dịch bệnh (Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Tiền Giang):  Bệnh cúm gia cầm: trong tháng, có 01 hộ chăn nuôi gà trên địa bàn huyện Gò Công Tây có gà mắc bệnh cúm gia cầm với tổng số gia cầm bệnh là 1.300 con trên tổng đàn 2.000 con. Số gia cầm được tiêu hủy là 2.000 con.  Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: trong tháng, có 36 hộ chăn nuôi có lợn bệnh với tổng số lợn bệnh là 575 con/tổng đàn 1.642 con tại 05 huyện (Cái Bè, Châu Thành, Chợ Gạo, Gò Công Tây và thị xã Cai Lậy). Số lợn được tiêu hủy là 1.069 con với khối lượng 54.027 kg.  Bệnh viêm da nổi cục: trong tháng, ghi nhận 01 hộ chăn nuôi bò trên địa bàn huyện Gò Công Tây có 01 con bò bệnh/tổng đàn 07 con.  2. Lâm nghiệp:  Tổng diện tích rừng hiện có 1.735,5 ha (không bao gồm diện tích rừng thuộc đất an ninh quốc phòng), bao gồm: rừng phòng hộ: 1.381,8 ha (huyện Gò Công Đông: 429,5 ha; huyện Tân Phú Đông: 896,9 ha; huyện Tân Phước: 55,4 ha) và rừng sản xuất: 353,7 ha.  Ước tháng 01/2024 toàn tỉnh thực hiện trồng mới được 1,1 ngàn cây phân tán các loại, giảm 20,5% so cùng kỳ. Cây phân tán trồng chủ yếu trên những tuyến đường đi tại huyện Cái Bè, Chợ Gạo, Gò Công Tây.  3. Thủy hải sản:  Diện tích nuôi trồng thủy sản trong tháng ước tính 6.457 ha, tăng 1,5% so cùng kỳ; bao gồm: diện tích nuôi cá 2.469 ha, giảm 4%; diện tích nuôi tôm 780 ha, tăng 1,6%; diện tích nuôi thủy sản khác 3.208 ha, tăng 6,2%.  Sản lượng thủy sản trong tháng ước tính 17.575 tấn, tăng 10,2% so cùng kỳ; trong đó: sản lượng từ nuôi 10.744 tấn, giảm 0,5%; sản lượng khai thác 6.831 tấn, tăng 32,7%. Nguyên nhân tổng sản lượng thủy sản trong tháng tăng tốt chủ yếu là do sản lượng khai thác tăng 32,7%, các tàu cá đang tích cực đánh bắt để đảm bảo cung ứng sản phẩm cho dịp tết Nguyên đán 2024.  II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP  Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 01/2024 giảm 10,07% so với tháng 12/2023, do một số ngành sản xuất giảm so với tháng trước như: sản xuất chế biến thực phẩm; sản xuất đồ uống; dệt; sản xuất trang phục; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan; sản xuất kim loại;... (ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 10,91%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 2,01% và sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 1,61%;) và so cùng kỳ tăng 12,66% so cùng kỳ, do các ngành chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh sản xuất tăng (ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,99%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 22,01%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 10,3%).  Chỉ số sản xuất sản phẩm trong tháng so cùng kỳ như sau:  Có 32/44 sản phẩm có chỉ số sản xuất tăng so cùng kỳ: thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng bột/cốm tăng 113,5%; máy chế biến thịt gia súc hoặc gia cầm tăng 100%; thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng viên tăng 22,3%; giấy vệ sinh tăng 20,9%; ống và ống dẫn bằng đồng tăng 19,7%; thức ăn cho thủy sản tăng 17,4%; phân vi sinh tăng 15,1%; điện thương phẩm tăng 13,6%; dịch vụ sửa chữa, bảo dưỡng tàu, thuyền tăng 12,4; đồ chơi hình con vật hoặc sinh vật không phải hình người tăng 11,9%; tàu thuyền lớn chuyên chở người và hàng hóa có động cơ đẩy tăng 8,5%; Nước uống được tăng 7,5%; dịch vụ tiện các bộ phận kim loại tăng 4,2%;…  Có 12/44 sản phẩm có chỉ số sản xuất giảm so cùng kỳ: các sản phẩm bằng vật liệu tết bện khác giảm 70,5%; cáp đồng trục và dây dẫn điện đồng trục giảm 64,2%; áo khoác dài, áo khoác không tay, áo khoác có mũ, áo gió cho người lớn dệt kim hoặc đan móc giảm 36,6%; dịch vụ tráng phủ kim loại bằng cách nhúng vào kim loại nấu chảy giảm 27,5%; bóng thể thao khác giảm 19,6%; túi xách giảm 16,5%; thức ăn cho gia súc giảm 2,6%; phi lê đông lạnh giảm 2,2%;…Hình 2. Chỉ số sản xuất công nghiệp  * Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo:  - Chỉ số tiêu thụ tháng 01/2024 so với tháng trước giảm 7,53% và tăng 12,02% so cùng kỳ. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng so cùng kỳ: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 9,59%, trong đó sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thuỷ sản tăng 9,65%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 20,89%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 64,47%; sản xuất kim loại tăng 15,91%; sản xuất thiết bị điện tăng 14,08%, trong đó sản xuất dây cáp, dây điện… tăng 37,35%;… Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm so cùng kỳ: sản xuất đồ uống giảm 18,95%, trong đó sản xuất bia giảm 18,95%; dệt giảm 26,02%; sản xuất trang phục giảm 34,46%; sản xuất da giảm 6,31%, trong đó sản xuất va li, túi xách và các loại tương tự, sản xuất yên đệm giảm 57,15%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ giảm 69,86%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 16,54%;…  - Chỉ số tồn kho tháng 01/2024 so với tháng trước tăng 4,18% so với tháng trước và tăng 14,45% so với cùng kỳ. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so với cùng kỳ là: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 1,6 lần, trong đó sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thuỷ sản tăng 44,06%; sản xuất da tăng 9,89%, trong đó sản xuất giày dép tăng 8,69%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 24,7%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 27,19%;... Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tồn kho giảm so cùng kỳ là: dệt giảm 70,18%, trong đó sản xuất sợi giảm 32,35%; sản xuất trang phục giảm 1,5%; sản xuất kim loại giảm 23,72%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẳn giảm 61,67%; sản xuất thiết bị điện giảm 86,23%, trong đó sản xuất mô tơ điện giảm 87,68%; chế biến, chế tạo khác giảm 36,8%, trong đó sản xuất đồ chơi, trò chơi giảm 36,8%…  III. ĐẦU TƯ - XÂY DỰNG  Tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện trong tháng 186 tỷ đồng, đạt 3,8% kế hoạch, tăng 0,5% so cùng kỳ. Trong tháng thực hiện chủ yếu các công trình chuyển tiếp, các công trình mới chưa thực hiện.  Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước thực hiện 152 tỷ đồng, đạt 3,9% kế hoạch, giảm 1,5% so cùng kỳ, chiếm 81,6% tổng số; trong đó: vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 39 tỷ đồng, tăng 6,3%, vốn xổ số kiến thiết thực hiện 69 tỷ đồng, tăng 7,8% so cùng kỳ... Các Ban quản lý dự án, Chủ đầu tư tập trung điều kiện đẩy nhanh tiến độ thi công, nhiều công trình đã hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng, các công trình còn lại thi công đúng theo tiến độ để đưa vào sử dụng phục vụ đi lại vận chuyển hàng hóa dịp tết Nguyên đán.  Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước thực hiện 30 tỷ đồng, đạt 3,2% kế hoạch, tăng 11,3% so cùng kỳ, chiếm 16% tổng số; trong đó: vốn tỉnh hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 12 tỷ đồng, tăng 20% so cùng kỳ... Ban quản lý dự án huyện tập trung điều kiện đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình để đưa vào sử dụng phục vụ đi lại, vận chuyển hàng hóa và phục vụ ra mắt huyện nông thôn mới.  Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước thực hiện 4 tỷ đồng, đạt 2,8% kế hoạch, tăng 7,1% so cùng kỳ, chiếm 2,4% tổng số; trong đó: vốn huyện hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 0,9 tỷ đồng, tăng 0,7% so cùng kỳ... Các Ban quản lý công trình xã, phường, thị trấn làm chủ đầu tư thực hiện chủ yếu từ nguồn vốn phân cấp để thực hiện các công trình giao thông nông thôn, thủy lợi nội đồng phục vụ địa phương. Trong đó, ưu tiên bố trí các dự án khởi công mới thuộc lĩnh vực giao thông, phòng, chống thiên tai, xử lý sạt lở bờ sông, bờ biển, biến đổi khí hậu, giáo dục, y tế và xây dựng nông thôn mới. Hình 3. Cơ cấu vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý - tháng 01 năm 2024  IV. THƯƠNG MẠI - GIÁ CẢ - DỊCH VỤ  1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội:  Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội trong tháng thực hiện 7.116 tỷ đồng, giảm 1,4% so tháng trước và tăng 6% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 5.440 tỷ đồng, tăng 6,5%; lưu trú 29 tỷ đồng tăng 14%; ăn uống 735 tỷ đồng, tăng 23,3%; du lịch lữ hành 19 tỷ đồng, tăng 82,2%; dịch vụ tiêu dùng khác 893 tỷ đồng, giảm 8% so cùng kỳ. Hình 4. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng  2. Chỉ số giá:  Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 01/2024 tăng 0,13% so tháng 12/2023 (thành thị tăng 0,15%, nông thôn tăng 0,12%); so cùng kỳ tăng 3,41%.  So với tháng 12/2023, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 08 nhóm tăng: đồ uống và thuốc lá tăng 0,43%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,23%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,5%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,15%; thuốc, dịch vụ y tế tăng 0,03%; giao thông tăng 0,06%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,19% và hàng hóa, dịch vụ khác tăng 0,28%. Có 2 nhóm giảm: hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,1% (trong đó: lương thực tăng 1,86%, thực phẩm giảm 0,93%, ăn uống ngoài gia đình tăng 0,92%); bưu chính viễn thông giảm 0,04%. Riêng nhóm giáo dục chỉ số giá ổn định.  3. Du lịch:  Trong tháng là thời điểm cận tết Nguyên đán nên các hoạt động diễn biến nhộn nhịp hơn, hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành đều tăng so tháng trước. Doanh thu lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ tiêu dùng khác trong tháng đạt 1.676 tỷ đồng, tăng 4,6% so cùng kỳ. Phân theo nhóm ngành hàng: doanh thu ăn uống 735 tỷ đồng, tăng 23,3%; doanh thu lưu trú 29 tỷ đồng, tăng 14,1%; doanh thu du lịch lữ hành 18 tỷ đồng, tăng 82,2% và dịch vụ tiêu dùng khác 893 tỷ đồng, giảm 8% so tháng trước. Khách du lịch đến trong tháng 01/2024 ước tính 106 ngàn lượt khách, tăng 7,1% so tháng trước và tăng 7,1% so cùng kỳ; trong đó: khách du lịch quốc tế 36 ngàn lượt khách, tăng 25,4% so tháng trước và tăng 25,4% so cùng kỳ.  4. Vận tải:  Hiện nay tình hình hoạt động của các tuyến xe cố định trên địa bàn tỉnh tiếp tục được duy trì thông thoáng, đặc biệt các chủ cơ sở kinh doanh vận tải tự giác chấp hành tốt nội qui bến bãi, đã tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân đi lại và vận chuyển hàng hoá đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh dịp cuối năm, đồng thời góp phần hạn chế chống ùn tắc giao thông trong dịp Tết Nguyên đán Giáp Thìn; Tuyến cao tốc Trung Lương - Mỹ Thuận, cầu Mỹ Thuận 2 (đưa vào sử dụng trong kỳ nghỉ Tết Dương lịch 2024) đã giúp người dân đi tuyến đường từ TP. Hồ Chí Minh về các tỉnh miền Tây qua địa bàn tỉnh Tiền Giang được thông thoáng, phần nào giúp hạn chế ùn tắc trên Quốc lộ 1A so với các năm trước. Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trong tháng ước thực hiện 250 tỷ đồng, tăng 5,3% so tháng trước và tăng 25,6% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 62 tỷ đồng, tăng 23,8%; doanh thu vận tải hàng hóa thực hiện 167 tỷ đồng, tăng 25,6% so cùng kỳ. Doanh thu vận tải đường bộ thực hiện 97 tỷ đồng, tăng 23,5%; doanh thu vận tải đường thủy thực hiện 131 tỷ đồng, tăng 26,3%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 21 tỷ đồng, tăng 31,3% so cùng kỳ.  Vận tải hành khách trong tháng đạt 1.511 ngàn hành khách, tăng 9,3% so tháng trước và tăng 19,7% so cùng kỳ; luân chuyển 33.230 ngàn hành khách.km, tăng 14,5% so tháng trước và tăng 17,3% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 517 ngàn hành khách, tăng 19,7% và luân chuyển 32.120 ngàn hành khách.km, tăng 17,3% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 994 ngàn hành khách, tăng 19,8% và luân chuyển 1.110 ngàn hành khách.km, tăng 18,2% so cùng kỳ.  Vận tải hàng hóa trong tháng đạt 1.630 ngàn tấn, tăng 8,2% so tháng trước và tăng 16,8% so cùng kỳ; luân chuyển 314.577 ngàn tấn.km, tăng 0,4% so tháng trước và tăng 22,8% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 213 ngàn tấn, tăng 14,2% và luân chuyển 43.018 ngàn tấn.km, tăng 10,7% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 1.417 ngàn tấn, tăng 17,2% và luân chuyển 271.559 ngàn tấn.km, tăng 25% so cùng kỳ.  5. Bưu chính viễn thông:  Doanh thu trong tháng 01/2024 đạt 309 tỷ đồng, tăng 0,4% so tháng trước và tăng 4,4% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính đạt 27 tỷ đồng, tăng 5,2% và viễn thông 282 tỷ đồng, tăng 4,3% so cùng kỳ. Các doanh nghiệp bưu chính, viễn thông trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì, phát triển ổn định, không ngừng đầu tư nâng cấp phát triển mạng lưới, cung cấp nhiều loại hình dịch vụ phong phú, đa dạng để duy trì tốc độ phát triển.  Tổng số thuê bao điện thoại có trên mạng đến cuối tháng 01/2024 là 128.581 thuê bao, thuê bao điện thoại bình quân đạt 7,23 thuê bao/100 dân (chỉ tính thuê bao cố định và di động trả sau). Thuê bao internet có trên mạng cuối tháng 01/2024 là 385.729 thuê bao, mật độ Internet bình quân ước đạt 21,54 thuê bao/100 dân.  V. TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG  1. Tài chính:  Tổng thu ngân sách nhà nước trong tháng ước thực hiện 2.217 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn 975 tỷ đồng, đạt 11,1% dự toán, giảm 2,8% so cùng kỳ; thu nội địa 953 tỷ đồng, đạt 11,2% dự toán, giảm 3,4% so cùng kỳ (trong thu ngân sách trên địa bàn: thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 200 tỷ đồng, đạt 9,6% dự toán, giảm 42,9% so cùng kỳ; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 120 tỷ đồng, đạt 9,9% dự toán, giảm 14% so cùng kỳ, thu từ hoạt động xổ số kiến thiết 330 tỷ đồng, đạt 18% dự toán, tăng 63,8% so cùng kỳ...).  Tổng chi ngân sách nhà nước trong tháng 1.392 tỷ đồng, đạt 9,6% dự toán, bằng 33,1% so cùng kỳ; trong đó: chi đầu tư phát triển 549 tỷ đồng, đạt 11,2% dự toán, bằng 14,9% so cùng kỳ; chi hành chính sự nghiệp 791 tỷ đồng, đạt 9,5% dự toán và tăng 66,8% so cùng kỳ.  2. Ngân hàng:  Đến cuối tháng 12/2023, vốn huy động đạt 96.882 tỷ đồng, tăng 9.145 tỷ, tăng 10,42% so với cuối năm 2022, đạt 102,2% kế hoạch. Ước tính đến cuối tháng 01/2024, nguồn vốn huy động đạt 97.531 tỷ đồng, tăng 649 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 0,67% so với cuối năm 2023.  Đến cuối tháng 12/2023, tổng dư nợ cho vay toàn tỉnh đạt 97.304 tỷ đồng, tăng 11.283 tỷ đồng, tăng 13,12%, so cuối năm 2022, đáp ứng cho 261.895 khách hàng vay. Ước tính đến cuối tháng 01/2024, tổng dư nợ đạt 98.170 tỷ, tăng 866 tỷ đồng, tăng 0,89% so với cuối năm 2023.  Nợ xấu: cuối tháng 12/2023, nợ xấu nội bảng là 1.569 tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu 1,61%, tăng 0,92% so với cuối năm 2022. Ước đến cuối tháng 01/2024, nợ xấu là 1.175 tỷ, tỷ lệ nợ xấu 1,5%, giảm 0,11% so với cuối năm 2023.  Quỹ tín dụng nhân dân: đến cuối tháng 12/2023, tổng nguồn vốn huy động 1.546 tỷ đồng, tăng 164 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 11,9% so với đầu năm, trong đó vốn huy động đạt 1.331 tỷ đồng, chiếm 86% trong tổng nguồn vốn hoạt động, tăng 11,3% so với cuối năm 2022. Tổng dư nợ cho vay 1.145 tỷ đồng, tăng 106 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 10,3% so với đầu năm, cho 10.874 lượt thành viên vay vốn. Nợ xấu là 4 tỷ đồng, chiếm 0,3% tổng dư nợ, giảm 0,3% so với cuối năm 2022, đạt kế hoạch được giao (kế hoạch <1%).  VI. KHOA HỌC CÔNG NGHỆ  Trong tháng, ra Quyết định triển khai 04 nhiệm vụ khoa học và công nghệ (KH&CN) cấp tỉnh; kiểm tra tiến độ thực hiện 01 nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh; nghiệm thu giai đoạn 01 nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh, gia hạn 02 nhiệm vụ KH&CN (01 cấp tỉnh, 01 cấp cơ sở). Cấp 08 giấy chứng nhận đăng ký kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN theo quy định tại Thông tư 14/2014/TT-BKHCN.  VII. CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI  1. Lao động việc làm:  Thực hiện tư vấn nghề, việc làm, pháp luật lao động và tư vấn khác cho 1.909 lượt lao động, tăng 15% so cùng kỳ; trong đó, tư vấn nghề cho 125 lượt lao động; tư vấn việc làm cho 294 lượt lao động; tư vấn việc làm cho 1.439 lượt lao động thất nghiệp; tư vấn pháp luật lao động và tư vấn khác cho 51 lượt lao động.  Giới thiệu việc làm cho 296 lượt lao động, tăng 1,4 lần so cùng kỳ, trong đó có 36 lao động có được việc làm ổn định, tương đương so cùng kỳ.  Tư vấn đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài cho 86 lượt lao động, tăng 59,2% so cùng kỳ; có 15 lao động đăng ký tham gia đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, tăng 6,5 lần; có 42 lao động xuất cảnh đi làm việc ở nước ngoài, qua các thị trường: Nhật Bản 36 lao động, Đài Loan 05 lao động và Hàn Quốc 01 lao động, tăng 13,5% so cùng kỳ.  Ghi nhận 1.440 lao động đăng ký hưởng trợ cấp thất nghiệp, tăng 23,6% so cùng kỳ; có 973 lao động được hưởng trợ cấp thất nghiệp, tăng 5,4%, với tổng số tiền chi trả 21,5 tỷ đồng.  Tình hình thực hiện chế độ tiền lương năm 2023 và kế hoạch thưởng Tết năm 2024 đối với người lao động của các doanh nghiệp. Qua số liệu báo cáo của 112 doanh nghiệp với 101.182 lao động đang làm việc (trong đó lao động làm việc trong các doanh nghiệp FDI chiếm 81%), ghi nhận kết quả tiền lương thực hiện năm 2023:  + Tiền lương thực trả bình quân (bao gồm: mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác theo quy định pháp luật lao động) của các doanh nghiệp thực hiện năm 2023 khoảng 8,6 triệu đồng/người/tháng, tăng 6,6% so với năm trước (năm 2022 theo số liệu của 65 doanh nghiệp với 97.565 lao động, tiền lương bình quân khoảng 8 triệu đồng/người/tháng). Trong đó mức lương bình quân năm 2023 (không bao gồm phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác) là 6,4 triệu đồng/người/tháng, tăng 3,8% so với năm trước (năm 2022 là 6,2 triệu đồng/người/tháng).  + Mức thưởng Tết Dương lịch năm 2024: theo số liệu 49/112 doanh nghiệp báo cáo với 15.002 lao động, mức thưởng bình quân của các doanh nghiệp là 1.370 triệu đồng/người.  + Mức thưởng Tết Nguyên đán Giáp Thìn năm 2024 theo số liệu của 109 doanh nghiệp với 100.805 lao động, mức tiền thưởng Tết Âm lịch bình quân khoảng 7,5 triệu đồng/người (năm trước mức thưởng Tết Nguyên đán Quý Mão năm 2023 theo số liệu 63 doanh nghiệp với 97.129 lao động, mức tiền thưởng là 7,6 triệu đồng/người).  2. Chính sách xã hội:  Kế hoạch tổ chức tặng quà Tết Nguyên đán Giáp Thìn năm 2024: tặng quà của Chủ tịch nước (nguồn kinh phí Trung ương), trợ cấp cho 35.866 người có công với tổng số tiền 10,9 tỷ đồng; trợ cấp của tỉnh (nguồn kinh phí địa phương); bao gồm: trợ cấp người có công, thăm hộ chính sách và đơn vị, tổ chức bữa ăn cho trại viên, học viên các đơn vị, trợ cấp hộ nghèo, tặng quà người cao tuổi với tổng số tiền trên 32,2 tỷ đồng.  Hưởng ứng vận động đóng góp Quỹ “Vì người nghèo” với tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái. Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang đã có công văn số 8497/UBND-KGVX nhằm giúp người dân thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn, neo đơn, hộ mới thoát nghèo có điều kiện đón Tết cổ truyền của dân tộc. Thời gian vận động dự kiến 22/12/2023 đến hết ngày 04/02/2024 (nhầm ngày 25 tháng Chạp năm Quý Mão).  Thực hiện các chế độ cho người có công:  + Lập quyết định trợ cấp 1 lần cho thân nhân thờ cúng liệt sĩ và chuyển thờ cúng liệt sĩ, số lượng 191 hồ sơ; thu hồi thờ cúng: 01 trường hợp; người hoạt động kháng chiến và dân có công giúp đỡ cách mạng: 02 trường hợp. Chế độ vợ liệt sĩ tái giá: 01 trường hợp; trợ cấp 01 lần người hoạt động cách mạng trước ngày 01/01/1945: 01 trường hợp; trợ cấp 01 lần Bằng khen: 02 trường hợp, trợ cấp tuất thương binh: 03 trường hợp; thu hồi thờ cúng: 01 trường hợp.  + Lập quyết định trợ cấp mai táng phí: 41 trường hợp; trợ cấp mai táng phí theo các Quyết định 290/2005/QĐ-TTg, 62/2011/QĐ-TTg, 49/2015/QĐ-TTg, 40/2011/QĐ-TTg: 19 trường hợp.  + Lập Quyết định giải quyết chế độ cho người hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù đày, bị nhiễm chất độc hóa học mới được công nhận: 02 trường hợp.  + Lập Quyết định trợ cấp hàng thàng đối với 02 con liệt sĩ tàn tật; hưởng thêm chế độ thương binh, bệnh binh đối với 02 đối tượng.  + Thẩm định, ra quyết định 07 trường hợp trợ cấp ưu đãi học sinh.  + Chuyển hồ sơ người có công đi tỉnh khác và tiếp nhận hồ sơ người có công do tỉnh khác chuyển đến: 38 trường hợp.  + Giới thiệu ra hội đồng giám định y khoa: 06 trường hợp.  + Cấp lại giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ và thương binh, bệnh binh: 28 trường hợp. Chỉnh sửa thông tin trong hồ sơ: 05 trường hợp.  + Thẩm định hồ sơ chất độc hóa học, tù đày: 13 trường hợp.  3. Hoạt động y tế:  Trong tháng ghi nhận 09/44 bệnh truyền nhiễm được ghi nhận, so cùng kỳ về số ca mắc ghi nhận 06 tăng (quai bị, tay - chân - miệng, tiêu chảy, uốn ván, viêm gan vi rút B); 05 bệnh giảm (lao phổi, sốt xuất huyết Dengue, thủy đậu, viêm gan vi rút C, Covid - 19); 33 bệnh tương đương hoặc không xảy ra ca mắc.  Phòng chống bệnh sốt xuất huyết: trong tháng ghi nhận 151 ca mắc sốt xuất huyết Dengue, giảm 66,8% so cùng kỳ.  Phòng chống HIV/AIDS: hiện nay, toàn tỉnh ghi nhận 6.820 người nhiễm HIV; 1.819 người chuyển sang AIDS; tử vong do AIDS 1.330 người.  Công tác hoạt động khám chữa bệnh trong tháng: tổng số lần khám bệnh 391.033 lượt người, tăng 19,6%; tổng số người điều trị nội trú 19.446 lượt người, tăng 47%. Công suất sử dụng giường bệnh bình quân trong tháng đạt 80,64%.  4. Hoạt động giáo dục:  Tổ chức Kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp quốc gia THPT vào các ngày 05, 06/01/2024 với 83 thí sinh dự thi.  Hoàn thành xét và duyệt cấp chứng nhận kỳ thi nghề phổ thông năm học 2023-2024 khóa ngày 28/11/2023 với kết quả số lượng thí sinh đạt là 13.130/13.195 (99,5%) trong đó: giỏi là 12.760/13.195 (96,7%), khá là 282/13.195 (2,1%) và trung bình 88/13.195 (0,7%); số lượng thí sinh hỏng là 65/13.195 (0,49%).  Lịch nghỉ tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024 tỉnh Tiền Giang đối với trẻ mầm non, học viên, học sinh tại các cơ sở giáo dục (theo công văn số 355/UBND-KGVX): bắt đầu từ ngày thứ hai, ngày 05/02/2024, nhằm ngày 26 tháng Chạp năm Quý Mão đến hết thứ bảy, ngày 17/02/2024, nhằm ngày mùng 08 tháng Giêng năm Giáp Thìn.  5. Hoạt động văn hóa - thể thao:  Hoạt động bảo tàng: trong tháng, Bảo tàng tỉnh và 04 di tích trực thuộc đã đón 52.152 lượt khách, trong đó có 40 nghìn lượt khách tham quan nhân dịp kỷ niệm 60 năm Chiến thắng Ấp Bắc.  Hoạt động văn hóa nghệ thuật: tổ chức 14 buổi biểu diễn nghệ thuật và chiếu phim lưu động, 16 suất nhạc nước tại quảng trường Hùng Vương để phục vụ người dân.  Hoạt động thư viện: trong tháng, hệ thống thư viện đã phục vụ được 13.673 lượt bạn đọc, với 15.270 lượt sách ra lưu hành.  Hoạt động thể dục - thể thao: kế hoạch tổ chức Giải Vô địch Võ Cổ truyền tỉnh Tiền Giang năm 2024, từ ngày 04/02 - 06/02/2024 tại Quảng trường Hùng Vương; tổ chức các môn trong chương trình Hội Khỏe Phù Đổng tỉnh Tiền Giang lần thứ XI năm học 2023 – 2024, từ tháng 01 – 03/2024.  6. Tình hình an ninh trất tự và an toàn xã hội (theo báo cáo của ngành Công an):  Tình hình an ninh trật tự trong tháng trên địa bàn tỉnh được đảm bảo, tội phạm về trật tự xã hội ghi nhận 72 vụ, giảm 17 vụ so với tháng 12/2023, giảm 10 vụ so với tháng 01/2023, chết 04 người, bị thương 10 người, tài sản thiệt hại khoảng 1,6 tỷ đồng; khám phá 59 vụ (đạt 81,9%), bắt xử lý 100 đối tượng, thu hồi tài sản khoảng 569 triệu đồng.  Phát hiện, xử lý 14 vụ, 20 đối tượng phạm tội ma túy, xử lý vi phạm hành chính 190 đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy.  7. Trật tự an toàn giao thông: (theo báo cáo ngành Công an)  Giao thông đường bộ: tai nạn giao thông trong tháng xảy ra 22 vụ giảm 15 vụ so tháng trước và giảm 01 vụ so cùng kỳ; làm chết 17 người, giảm 08 người so tháng trước và tăng 04 người so cùng kỳ; bị thương 06 người, giảm 13 người so tháng trước và giảm 09 người so cùng kỳ.  Giao thông đường thủy: trong tháng không xảy ra tai nạn.  Tết Dương lịch năm 2024 (từ ngày 30/12/2023 đến ngày 01/01/2024): xảy ra 01 vụ, tương đương so cùng kỳ; làm chết 02 người, tăng 01 người so cùng kỳ.  8. Tình hình cháy nổ, môi trường và thiên tai:  Trong tháng 01/2024 cháy, nổ 01 vụ cháy nhà dân, tài sản thiệt hại khoảng 2,35 tỷ đồng. Lĩnh vực môi trường không ghi nhận vụ vi phạm nào trên địa bàn tỉnh.  Trong tháng 01, trên địa bàn tỉnh Tiền Giang xảy ra 01 cơn lốc xoáy làm tốc mái 09 căn nhà (xã Hiệp Đức: 01 căn, xã Hội Xuân: 06 căn, xã Long Trung: 02 căn); làm đổ ngã 231 cây sầu riêng và 30 cây mít… Giá trị thiệt hại gần 3 tỷ đồng.

Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội năm 2024
  •   17/06/2024 15:09

MỘT SỐ CHỈ TIÊU KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2024(Được Hội đồng nhân dân tỉnh Tiền Giang khóa X, kỳ họp lần thứ 11 thông quangày 08 tháng 12 năm 2023)            1. Các chỉ tiêu kinh tế:           - Tốc độ tăng trưởng kinh tế (theo giá so sánh 2010) tăng từ 7,0 – 7,5% so với năm 2023;     - Cơ cấu kinh tế: khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản chiếm 35,1%, khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 29,6%, khu vực dịch vụ (bao gồm thuế sản phẩm) chiếm 35,3%.           - GRDP bình quân đầu người đạt 75,8 - 76,2 triệu đồng/người/năm;           - Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 5 tỷ USD;           - Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt 50.400 – 50.650 tỷ đồng;      - Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 8.801 tỷ đồng;      - Tổng chi ngân sách địa phương 14.456 tỷ đồng;      - Số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới đạt 890 doanh nghiệp.            2. Các chỉ tiêu xã hội:           - Giải quyết việc làm cho 18.000 lao động;      - Giảm tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị còn dưới 4%;      - Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 55,5%;      - Tỷ lệ hộ nghèo giảm 0,1 điểm % so năm 2023;     - Phấn đấu có 90% số xã đã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới đảm bảo đạt chuẩn theo Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới các cấp giai đoạn 2022 – 2025; có thêm 10 xã đạt nông thôn mới nâng cao, 07 xã đạt nông thôn mới kiểu mẫu, 02 huyện được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao;      - Tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế đạt 94,0%;      - Phấn đấu tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động tham gia bảo hiểm xã hội đạt 32%;      - Số bác sĩ/vạn dân đạt 7,8 bác sĩ;      - Số giường bệnh/vạn dân đạt 24 giường;      - Giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng từ 12,2% trở xuống;      - Tỷ lệ tử vong trẻ em dưới 1 tuổi là 9,20/00; tỷ lệ tử vong trẻ em dưới 5 tuổi là 10,70/00;    - Tỷ lệ huy động học sinh trong độ tuổi: Nhà trẻ 17,5%, mẫu giáo 87,5%, tiểu học 100%, trung học cơ sở 99%, trung học phổ thông và tương đương 84%;     - Tỷ lệ trường học đạt chuẩn quốc gia: Mầm non đạt 65%, trung học cơ sở đạt 66%, trung học phổ thông đạt 66%.            3. Các chỉ tiêu môi trường:           - Tỷ lệ hộ dân nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 100%; trong đó tỷ lệ hộ dân nông thôn sử dụng nước từ hệ thống cấp nước tập trung đạt 96,75%;       - Tỷ lệ dân số đô thị được cung cấp nước sạch qua hệ thống cấp nước tập trung đạt 99,77%;       - Tỷ lệ chất thải rắn đô thị được thu gom và xử lý đạt trên 98,5%;       - Tỷ lệ cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn môi trường trên 90%.                                                                                                                   N.V.Tròn