Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Tiền Giang Tháng 01 năm 2021
- 18/06/2024 16:30
Tháng 01/2021 là tháng khởi đầu cho quá trình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Tiền Giang 5 năm 2021-2025. Trên cơ sở kết quả đạt được trong những năm qua, các cấp, các ngành đã tập trung tháo gỡ, khắc phục những khó khăn và hạn chế để phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện dịch bệnh Covid-19 vẫn còn diễn biến rất phức tạp. Trên địa bàn tỉnh, tình hình dịch bệnh cơ bản được kiểm soát tốt, công tác phòng chống dịch bệnh được toàn dân chấp hành nghiêm túc tạo điều kiện thuận lợi trong việc thực hiện mục tiêu kép vừa chống dịch vừa phát triển kinh tế - xã hội. Trong tháng toàn tỉnh đã tập trung triển khai thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2021; chủ động phòng chống dịch bệnh trên cây trồng và vật nuôi nhằm đảm bảo sản xuất nông nghiệp phát triển, nhất là các sản phẩm phục vụ nhu cầu Tết của nhân dân; tăng cường các biện pháp nhằm bình ổn giá cả thị trường, chuẩn bị nguồn hàng phục vụ nhu cầu mua sắm trong dịp Tết, kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho các đối tượng chính sách và nhân dân vui Tết, đảm bảo trật tự an toàn xã hội. I. SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP VÀ THỦY SẢN 1. Nông nghiệp Cây lương thực có hạt: trong tháng gieo trồng 7.617 ha; ước tính đến cuối tháng 01/2021, vụ Đông Xuân, toàn tỉnh gieo trồng được 52.444 ha, đạt 39,2% kế hoạch, giảm 11,6% so cùng kỳ, sản lượng thu hoạch 1.638 tấn, giảm 39,4% so cùng kỳ. Trong đó: - Cây lúa: vụ Đông Xuân 2020 -2021 xuống giống 51.647 ha, đạt 100% kế hoạch gieo trồng của vụ, giảm 11,1% so cùng kỳ, do chuyển từ diện tích trồng lúa sang trồng cây ăn quả,… Mặc khác, do ảnh hưởng của hạn, mặn năm 2020 chưa xả sổ kịp độ mặn nên một số diện tích không gieo trồng. - Cây ngô: trong tháng gieo trồng 291 ha, thu hoạch 137 ha với sản lượng 488 tấn. Vụ Đông Xuân đến nay gieo trồng 797 ha, đạt 22,8% kế hoạch, giảm 34,7% so cùng kỳ, thu hoạch 454 ha, năng suất quy thóc 36 tạ/ha với sản lượng quy thóc 1.638 tấn, đạt 13% kế hoạch, giảm 39% so cùng kỳ, do chuyển đổi sang trồng cây thanh long, một số cây ăn quả và hoa màu. Cây rau đậu các loại: trong tháng gieo trồng 5.703 ha, thu hoạch 5.132 ha với sản lượng 105.870 tấn; vụ Đông Xuân gieo trồng 16.928 ha, đạt 27,1% kế hoạch, giảm 4,2% so cùng kỳ, thu hoạch 13.467 ha với sản lượng 278.238 tấn, đạt 23% kế hoạch, tăng 1,5% so cùng kỳ (trong đó: rau các loại 16.902 ha, thu hoạch 13.452 ha với sản lượng 278.194 tấn). Tiền Giang đang phát triển nhiều mô hình trồng rau màu chuyên canh, luân canh trên nền đất lúa, xen canh lúa và màu… để thích ứng biến đổi khí hậu, giúp nông dân có thu nhập cao, đời sống ổn định là hướng đi đang được khuyến khích. Tỉnh cũng xác định cây màu là thế mạnh trong nền sản xuất nông nghiệp tại địa phương. Chăn nuôi: Tổng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh ước hết tháng 01 như sau: đàn bò 120 ngàn con, tăng 0,16%; đàn lợn 272 ngàn con, giảm 24,2%; đàn gia cầm (không kể chim cút) 18 triệu con, tăng 18,3% so cùng kỳ. Đàn lợn giảm do ảnh hưởng dịch tả lợn châu Phi chuồng trại chăn nuôi bị nhiễm bệnh, đàn lợn giống cũng không bảo đảm, người nuôi lo sợ khi tái đàn; một số hộ nuôi thua lỗ trước đó không còn khả năng để tái đàn, một số hộ chuyển sang nuôi vật nuôi khác…Chăn nuôi gia cầm phát triển ổn định, giá đầu ra ở mức cao, thời gian nuôi gà ngắn, vốn đầu tư chuồng trại không cao,ít dịch bệnh, kiểm soát tốt dịch bệnh người nuôi thu lợi nhuận khá cao nên hộ nuôi sau khi xuất chuồng tiếp tục tái đàn trở lại. Tình hình dịch tả lợn châu Phi (DTLCP): Từ ngày 15/12/2020 đến 18/01/2021, có 13 hộ có heo mắc bệnh dịch tả lợn châu Phi với tổng số con mắc là 300 con, xảy ra ở 05/11 huyện. Số heo được giám sát và tiêu hủy của chính quyền địa phương là 263 con, khối lượng 6.406 kg. 2. Lâm nghiệp: Ước tháng 01/2021 toàn tỉnh thực hiện trồng mới được 0,6 ngàn cây phân tán các loại, so với cùng kỳ giảm 41,2%, do ảnh hưởng thời tiết (trời nắng, lạnh nhiều hơn năm trước) nên chưa phù hợp cho việc trồng cây phân tán. Trong tháng không xảy ra cháy rừng. 3. Thủy hải sản: Diện tích nuôi thủy sản các loại trong tháng 6.040 ha, bằng 39,8% kế hoạch và tăng 1,1% so cùng kỳ. Thủy sản nước ngọt nuôi 2.709 ha, giảm 7% so cùng kỳ do thời tiết đang chuyển mùa lạnh kết hợp với mực nước nội đồng thấp nên một số hộ nuôi nhỏ lẻ chưa tiến hành thả nuôi. Thủy sản nước mặn, lợ nuôi được 3.331 ha, tăng 8,9% so cùng kỳ, chủ yếu là tăng diện tích nuôi tôm sú theo hình thức quản canh. Sản lượng thủy sản trong tháng ước tính thu hoạch 21.016 tấn, đạt 7,2% kế hoạch, tăng 6% so cùng kỳ; trong đó: sản lượng thu hoạch từ nuôi 10.880 tấn, đạt 6,7% kế hoạch, bằng 100,2% so cùng kỳ do những tháng cuối năm thu hoạch sớm để phục vụ Tết Nguyên đán nên sản lượng thu hoạch tăng; sản lượng khai thác 10.136 tấn, chủ yếu là khai thác biển tăng 12,9% so cùng kỳ do thời tiết thuận lợi cho hoạt động khai thác. II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 01/2021 giảm 1,5% so với tháng 12/2020 (ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 1,3%, sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 5%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,2%) và tăng 4,3% so cùng kỳ (ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,9%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 6,2%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 20,4%). Chỉ số sản xuất sản phẩm trong tháng so cùng kỳ như sau: Có 17/37 sản phẩm có chỉ số sản xuất tăng so cùng kỳ: Cáp đồng trục và dây dẫn điện đồng trục tăng 544%; Thùng, can, hộp và các đồ dùng để chứa đựng tương tự cho mọi nguyên liệu (trừ xăng dầu) bằng sắt hoặc thép có dung tích ≥ 50 lít nhưng ≤ 300 lít, không lắp ráp máy móc hoặc thiết bị nhiệt tăng 422%; Cấu kiện làm sẵn cho xây dựng hoặc kỹ thuật dân dụng, bằng xi măng, bê tông hoặc đá nhân tạo tăng 45,3%; Dịch vụ thu gom rác thải không độc hại có thể tái chế tăng 13,6%; Túi xách tăng 13,5%; Thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng bột/cốm tăng 11,8%;... Có 20/37 sản phẩm có chỉ số sản xuất giảm so cùng kỳ: Tàu chở khách trọng tải > 26 tấn nhưng ≤ 500 tấn giảm 92%; Đồ chơi hình con vật hoặc sinh vật không phải hình người giảm 59,7%; Các bộ phận của bi, bánh răng, hộp số, các bộ phận điều khiển và truyền chuyển động khác giảm 37,5%; Dịch vụ sửa chữa, bảo dưỡng tàu, thuyền giảm 35,6%; Sợi xe từ các loại sợi tự nhiên: bông, đay, lanh, xơ dừa, cói ... giảm 33,2%; Phân vi sinh giảm 29,4%; Giấy vệ sinh giảm 27,1%; Thức ăn cho gia súc giảm 23%; Nước uống được giảm 22,8%; Màn bằng vải khác giảm 22,7%; … Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 1/2021 so với tháng trước tăng 1,32%, (trong đó doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 1,58%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 1,31%) và giảm 13,44% so cùng kỳ (trong đó doanh nghiệp ngoài quốc doanh giảm 9,21%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm 14,94%). Chia theo ngành công nghiệp: Doanh nghiệp công nghiệp giảm 13,44% (trong đó ngành công nghiệp chế biến chế tạo giảm 13,71%; Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 2,39%; Cung cấp nước, hoạt động quản lý rác thải, nước thải giảm 3,23%). * Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: - Chỉ số tiêu thụ tháng 1/2021 so với tháng trước giảm 1,74% và giảm 11,25% so cùng kỳ. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao: Dệt tăng 41,07%, Sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 7,7%; Sản xuất sản phẩm cao su và plastic tăng 10,12%; Sản xuất thiết bị điện bằng gấp 3,5 lần,... Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm so cùng kỳ là: Sản xuất chế biến thực phẩm giảm 25,73%, Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ giảm 22,5%; Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 27,87%,… - Chỉ số tồn kho tháng 1/2021 so với tháng trước tăng 6,2% và so với cùng kỳ tăng 24,06%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so với cùng kỳ như: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 42,28%; Sản xuất đồ uống tăng 6,55%; Sản xuất trang phục tăng 74,21%; Sản xuất thiết bị điện tăng 61,52%;... Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tồn kho giảm so cùng kỳ là: Dệt giảm 20,37%, Sản xuất da giảm 27,96%, Sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu giảm 16,5%; Sản xuất kim loại giảm 30,44%;… III. ĐẦU TƯ - XÂY DỰNG Tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý thực hiện trong tháng 161,2 tỷ đồng, đạt 4,4% kế hoạch, tăng 1,8% so cùng kỳ, giảm 75,1% so tháng trước do trong tháng thực hiện chủ yếu các công tình chuyển tiếp các công tình mới chưa thực hiện. Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh thực hiện 129,8 tỷ đồng, đạt 4,4% kế hoạch, tăng 1,7% so cùng kỳ, chiếm 80,5% tổng số; trong đó: vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 21,5 tỷ đồng, tăng 1,3%, vốn xổ số kiến thiết thực hiện 55,9 tỷ đồng, tăng 2,5% so cùng kỳ... Các Ban quản lý dự án, Chủ đầu tư tập trung điều kiện đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình để đưa vào sử dụng phục vụ đi lại vận chuyển hàng hóa dịp tết Nguyên đán Tân Sửu. Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp huyện thực hiện 27,2 tỷ đồng, đạt 7% kế hoạch, tăng 2% so cùng kỳ, chiếm 16,9% tổng số; trong đó: vốn tỉnh hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 8,3 tỷ đồng, tăng 1% so cùng kỳ... Ban quản lý dự án huyện tập trung điều kiện đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình để đưa vào sử dụng trong dịp Tết. Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp xã thực hiện 4,2 tỷ đồng, đạt 1,4% kế hoạch, tăng 2,2% so cùng kỳ, chiếm 2,6% tổng số; trong đó: vốn huyện hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 1,1 tỷ đồng, tăng 3,7% so cùng kỳ... Các Ban quản lý công trình xã, phường, thị trấn phối hợp với các địa phương bàn biện pháp vận động, huy động nguồn vốn nhân dân đóng góp để tiến hành thi công các danh mục công trình đăng ký thuộc nguồn vốn phân cấp xã quản lý. IV. THƯƠNG MẠI - GIÁ CẢ - DỊCH VỤ 1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội trong tháng thực hiện 6.224,1 tỷ đồng, tăng 14% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 5.066,9 tỷ đồng, tăng 15,5%; lưu trú 3,2 tỷ đồng, bằng 34,2%; ăn uống 553 tỷ đồng, tăng 8,1%; du lịch lữ hành 1,2 tỷ đồng, bằng 12%; dịch vụ 599,8 tỷ đồng, tăng 11,2% so cùng kỳ. 2. Xuất - Nhập khẩu: a. Xuất khẩu: Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng thực hiện 259 triệu USD, đạt 8% kế hoạch, tăng 31,7% so cùng kỳ; trong đó: kinh tế ngoài nhà nước 35 triệu USD, tăng 13,4%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 223 triệu USD, tăng 35,3% so cùng kỳ. Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa một số hàng chủ lực của tỉnh chiếm tỷ trọng cụ thể như sau: - Thủy sản: ước tính tháng 01/2021 xuất 5.374 tấn, tăng 4,3% so cùng kỳ; với giá trị là 11 triệu USD, đạt 3,6% kế hoạch, giảm 4,8% so cùng kỳ. - Gạo: ước tính tháng 01/2021 xuất 7.475 tấn, giảm 9,5% so cùng kỳ; giá trị là 4,3 triệu USD, tăng 15% so cùng kỳ. - Hàng dệt, may: ước tính tháng 01/2021 xuất 14.791 ngàn sản phẩm, tăng 93,3% so cùng kỳ; giá trị xuất 37,3 triệu USD, đạt 6,2% kế hoạch ngành hàng dệt, may, tăng 2,9% so cùng kỳ. Ngoài các mặt hàng chủ yếu, trị giá xuất khẩu một số mặt hàng trong 01/2021 như: kim loại thường khác và sản phẩm (kể cả ống đồng) xuất 73 triệu USD, tăng 58,2%; giày dép các loại 48 triệu USD, tăng 26,6%; sản phẩm từ chất dẻo 16 triệu USD, tăng 48%; xơ, sợi dệt các loại 8 triệu USD, tăng 2,7%; hàng rau quả xuất 2,3 triệu USD, tăng 70,2%; túi xách, vali, mũ, ô dù 31 triệu USD, giảm 1,1%... so cùng kỳ. b. Nhập khẩu: Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa trong tháng 01/2021 là 183 triệu USD, đạt 10,1% kế hoạch, tăng 84,8% so cùng kỳ; trong đó: kinh tế ngoài nhà nước nhập 8,4 triệu USD, tăng 6,9%, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài nhập 174 triệu USD, tăng 91,6% so cùng kỳ. Nguyên liệu nhập khẩu 01/2021 chủ yếu các mặt hàng như: nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày 57 triệu USD, tăng 381,4%; vải các loại 11 triệu USD, giảm 19%; kim loại thường khác 26 triệu USD, giảm 33,7%; chất dẻo nguyên liệu 7 triệu USD, tăng 17,1%... so cùng kỳ. 3. Chỉ số giá: Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 01/2021 giảm 0,23% so tháng 12/2020 (thành thị giảm 0,3%, nông thôn giảm 0,22%); so cùng kỳ năm trước tăng 0,35%. So với tháng 12/2020, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có 7 nhóm hàng tăng: tăng cao nhất là nhóm hàng giao thông tăng 2,55%; kế đến nhóm hàng hóa, dịch vụ khác tăng 0,56%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,54%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,38% (trong đó: lương thực tăng 1,58%, thực phẩm tăng 0,24%, ăn uống ngoài gia đình tăng 0,08%); may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,34%; thiết bị và đồ dùng gia đình 0,06%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%. Riêng nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng chỉ số giá giảm 3,35%. Một số mặt hàng có chỉ số giá tăng như sau: Sức mua các mặt hàng lương thực, thực phẩm để phục vụ các mặt hàng chế biến cho dịp Tết tăng, làm cho giá thịt lợn tháng 01/2021 tăng 1,53%, góp phần làm CPI chung tăng 0,05%. Theo đó, giá thịt bò, thịt gia cầm tươi sống, trứng các loại, thịt chế biến, thủy hải sản tươi sống, thuỷ sản chế biến (tôm khô, mực khô) tăng... dẫn đến nhóm thực phẩm tăng 0,24%... đóng góp vào mức tăng CPI chung của tháng 01/2021 khoảng 0,05%. - Do ảnh hưởng của dịch Covid-19 kéo dài, nhiều nước thu mua gạo dự trữ nhằm đảm bảo an ninh lương thực trong nước, dẫn đến nhu cầu gạo tăng, tác động đến giá gạo bán lẽ thị trường nội địa tháng này tăng 1,83%, góp phần làm CPI chung tăng 0,08%. - Nhu cầu may mặc và mua sắm quần áo vào thời điểm cuối năm tăng, nên giá quần, áo và tiền công may quần áo tăng bình quân từ 2% - 3%, dịch vụ may mặc tăng 0,81% và nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,54% so tháng trước. - Giá xăng dầu bình quân trong tháng tăng 0,26%, tác động đến chỉ số giá nhóm nhiên liệu tăng 5,45%; cùng với đó, giá xăng E5 tăng 820 đồng/lít, giá xăng A95 tăng 930 đồng/lít, giá dầu diezen 0,05S tăng 750 đồng/lít so với tháng trước vào ngày 26/12/2020 và ngày 11/01/2021; giá gas tăng 9,18% tương ứng tăng 27.500 đồng/bình 12 kg vào ngày 01/01/2021; Giá dầu hoả tăng 7,64% tương ứng tăng 780 đồng/lít, tác động đến nhóm gas và các loại chất đốt khác tăng 8,56%. - Nhu cầu sửa chữa nhà cửa vào dịp cuối năm tăng, dẫn đến giá sắt thép xây dựng các loại tăng bình quân từ 2-3% và dịch vụ sửa chữa nhà ở trong tháng tăng 1,69%. Bên cạnh đó, có một số mặt hàng chỉ số giá giảm nhưng tỷ trọng quyền số nhỏ nên tác động chưa đủ lớn đến chỉ số giá tiêu dùng chung như: - Thời điểm tháng 01 đang vào mùa thu hoạch rau xanh để bán dịp Tết Nguyên đán, sản lượng dồi dào, tác động giá rau xanh giảm bình quân từ 5% - 9% so tháng trước. - Giá điện sinh hoạt bình quân trong tháng 01/2021 giảm 24,85% (Khu vực thành thị giảm 24,76%, Khu vực nông thôn giảm 24,88%). Góp phần làm giảm chung CPI chung khoảng 0,78%. Giá điện giảm mạnh là do tỉnh thực hiện Công văn số 9764/BCT-ĐTĐL ngày 18/12/2020 của Bộ Công thương V/v hỗ trợ giảm giá điện, giảm tiền điện cho các khách hàng sử dụng điện bị ảnh hưởng của dịch Covid-19 đợt 2. Một số mặt hàng do nhu cầu sử dụng nhiều trong gia đình nên các đơn vị kinh doanh chủ động giảm giá bán để cạnh tranh, dẫn đến giá giảm nhẹ như: máy điều hoà nhiệt độ giảm 0,07%, tủ lạnh giảm 0,05%, ô tô mới giảm 0,83%, ô tô đã qua sử dụng giảm 1,09% nhiều đại lý ô tô đã đưa những gói ưu đãi, giảm giá nhằm kích thích sức mua của người tiêu dùng vào dịp cuối năm. Chỉ số giá vàng 24 kara Ngọc Thẩm trong tháng 01/2021 tăng 1,81% so tháng trước; giá bình quân trong tháng là 5.508 ngàn đồng/chỉ, tăng 1.198 ngàn đồng/chỉ so cùng kỳ. Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng 01/2021 giảm 0,19% so tháng trước, giá bình quân 23.187 đồng/USD, giảm 47 đồng/USD so cùng kỳ. Ước chỉ số giá tiêu dùng tháng 02/2021 tăng từ 0,3% đến 0,65% so tháng 01/2021, do tháng 2 tháng Giêng (AL) là tháng ăn chay nhóm hàng rau xanh tăng giá do sức tiêu thụ tăng; một số mặt hàng thực phẩm tươi sống như: thịt lợn, trứng gia cầm giá sẽ tăng. Riêng nhóm ăn uống ngoài gia đình giá sẽ tăng cao hơn những ngày bình thường. 4. Du lịch: Khách du lịch đến trong tháng 01/2021 ước tính 49,7 ngàn lượt khách, giảm 2,3% so tháng trước và giảm 69,9% so cùng kỳ; trong đó: khách du lịch quốc tế 0,8 ngàn lượt khách, tăng 4% so tháng trước và giảm 98,6% so cùng kỳ. Doanh thu lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ tiêu dùng khác trong tháng đạt 1.157,2 tỷ đồng, tăng 1,4% so tháng trước và tăng 8,2% so cùng kỳ. Phân theo nhóm ngành hàng: doanh thu ăn uống 553 tỷ đồng, chiếm tỉ trọng 51,8%, tăng 19,1%; doanh thu lưu trú 3,2 tỷ đồng, tăng 3,7%; doanh thu du lịch lữ hành 1,2 tỷ đồng, tăng 6,5% và dịch vụ tiêu dùng khác 599,8 tỷ đồng, tăng 0,5% so tháng trước. 5. Vận tải: Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trong tháng thực hiện 176,5 tỷ đồng, tăng 2,9% so tháng trước và bằng 77,9% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 50,8 tỷ đồng, giảm 36,6%; doanh thu vận tải hàng hóa thực hiện 109,1 tỷ đồng, giảm 12,9% so cùng kỳ. Doanh thu vận tải đường bộ thực hiện 89,1 tỷ đồng, Giảm 26,9%; doanh thu vận tải đường thủy thực hiện 70,8 tỷ đồng, giảm 15,3%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 16,6 tỷ đồng, giảm 21,2% so cùng kỳ. Vận tải hành khách trong tháng đạt 2.903 ngàn hành khách, tăng 3,9% so tháng trước và bằng 76,4% so cùng kỳ; luân chuyển 57.535 ngàn hành khách.km, tăng 4,2% so tháng trước và bằng 76,7% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 1.363 ngàn hành khách, bằng 77,6% và luân chuyển 55.510 ngàn hành khách.km, bằng 78,7% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 1.540 ngàn hành khách, bằng 75,4% và luân chuyển 2.025 ngàn hành khách.km, bằng 45,6% so cùng kỳ. Vận tải hàng hóa trong tháng đạt 977 ngàn tấn, tăng 2,2% so tháng trước và giảm 14,4% so cùng kỳ; luân chuyển 127.302 ngàn tấn.km, tăng 1,9% so tháng trước và giảm 17,5% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 237 ngàn tấn, giảm 13,6% và luân chuyển 26.089 ngàn tấn.km, giảm 28,3% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 740 ngàn tấn, giảm 14,7% và luân chuyển 101.213 ngàn tấn.km, giảm 14,1% so cùng kỳ. * Công tác quản lý phương tiện giao thông: Trong tháng đăng ký mới 5.685 chiếc mô tô xe máy, 302 chiếc ô tô, 06 chiếc xe đạp điện và xe khác 06 chiếc. Tổng số xe đang quản lý trên địa bàn tỉnh 1.316.528 chiếc, trong đó mô tô xe máy: 1.276.442 chiếc, 39.418 xe ô tô, 153 xe ba bánh, 130 xe đạp điện và 385 xe khác. 6. Bưu chính viễn thông: Doanh thu trong tháng 01/2021 đạt 257,3 tỷ đồng, tăng 3% so tháng trước và tăng 3,1% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính đạt 23 tỷ đồng, tăng 11,4% và viễn thông 234,3 tỷ đồng, tăng 2,3% so cùng kỳ. Tổng số thuê bao điện thoại có trên mạng đến cuối tháng 01/2021 là 103.051 thuê bao, mật độ bình quân đạt 5,84 thuê bao/100 dân (chỉ tính thuê bao cố định và di động trả sau). Thuê bao internet có trên mạng cuối tháng 01/2021 là 262.308 thuê bao, mật độ internet bình quân đạt 14,87 thuê bao/100 dân. Thuê bao điện thoại phát triển trong tháng tiếp tục giảm. Tổng số thuê bao điện thoại có trên mạng đến cuối tháng 01 năm 2021 là 103.051 thuê bao. Thuê bao điện thoại bình quân đạt 5,84 thuê bao/100 dân (chỉ tính thuê bao cố định và di động trả sau). V. TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG 1. Tài chính: Tổng thu ngân sách nhà nước trong tháng ước thực hiện 1.396 tỷ đồng, bằng 71,8% so cùng kỳ; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn 1.198 tỷ đồng, đạt 11,3% dự toán, giảm 6,4% so cùng kỳ; thu nội địa 1.175 tỷ đồng, đạt 11,4% dự toán, giảm 7,3% so cùng kỳ (trong thu ngân sách trên địa bàn: thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 370 tỷ đồng, đạt 10,7% dự toán, giảm 15,4% so cùng kỳ; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 160,5 tỷ đồng, đạt 11,5% dự toán, giảm 31,1% so cùng kỳ, thu từ hoạt động xổ số kiến thiết 250 tỷ đồng, đạt 15,2% dự toán, giảm 9,1% so cùng kỳ...). Tổng chi ngân sách nhà nước trong tháng 875 tỷ đồng, đạt 7,1% dự toán, giảm 30,1% so cùng kỳ; trong đó: chi đầu tư phát triển 300 tỷ đồng, đạt 8,1% dự toán, giảm 34,5% so cùng kỳ; chi hành chính sự nghiệp 510 tỷ đồng, đạt 7,4% dự toán và giảm 32,8% so cùng kỳ. Các khoản chi giảm so cùng kỳ do dự toán năm 2021 giảm. Trong tháng chi chủ yếu cho đầu tư phát triển (chiếm 34,3% tổng số) và chi thường xuyên. 2. Ngân hàng: Trong tháng 01/2021, công tác phòng chống dịch bệnh được thực hiện nghiêm túc đã tạo điều kiện thuận lợi trong việc thực hiện mục tiêu kép vừa chống dịch vừa phát triển Kinh tế - xã hội tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của ngành ngân hàng thuận lợi hơn. Mặt bằng lãi suất tiếp tục được duy trì ổn định nhằm hỗ trợ nền kinh tế vượt qua giai đoạn khó khăn của dịch bệnh Covid. Đến cuối tháng 12/2020, vốn huy động đạt 76.114 tỷ đồng, tăng 9,64% so với cuối năm 2019, đạt 99,7% kế hoạch. Ước tính đến cuối tháng 01/2021, nguồn vốn huy động đạt 76.525 tỷ đồng, tăng 0,5% so với cuối năm 2020. Đến cuối tháng 12/2020, tổng dư nợ cho vay toàn tỉnh đạt 851 tỷ đồng, tăng 89 tỷ so với cuối năm 2019, tỷ lệ tăng 11,8%, (trong đó dư nợ ngắn hạn chiếm tỷ trọng 43,23%, dư nợ trung dài hạn chiếm tỷ trọng 56,77%). Nợ xấu: cuối tháng 12/2020, số dư là 803 tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu 1,3%, tăng 0,4% so với cuối năm 2019. Ước đến cuối tháng 01/2021, nợ xấu là 798 tỷ, tỷ lệ nợ xấu 1,24%, giảm 0,01% so với cuối năm 2020. Quỹ tín dụng nhân dân: đến cuối tháng 12/2020, tổng nguồn vốn huy động 1.131 tỷ đồng, tăng 113 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 11,2% so với đầu năm; tổng dư nợ cho vay 851 tỷ đồng, tăng 89 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 11,8% so với đầu năm. Nợ xấu là 2 tỷ đồng, chiếm 0,3%, giảm 0,2% so với đầu năm. Các chỉ tiêu hoạt động của hệ thống quỹ tín dụng nhân dân tỉnh đều vượt kế hoạch năm 2020. VI. KHOA HỌC CÔNG NGHỆ Trong tháng, Hội đồng tư vấn tuyển chọn, giao trực tiếp thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ đã đánh giá hồ sơ tuyển chọn, giao trực tiếp thực hiện 03 nhiệm vụ KH&CN cấp cơ sở; đánh giá nghiệm thu kết thúc 04 nhiệm vụ nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh và 01 nhiệm vụ cấp cơ sở; nghiệm thu giai đoạn 04 nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh và 1 nhiệm vụ cấp cơ sở; trình UBND tỉnh ban hành quyết định triển khai 04 nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh, công nhận kết quả 05 nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh; ban hành quyết định triển khai 02 nhiệm vụ KH&CN; gia hạn thời gian thực hiện 01 nhiệm vụ KH&CN cấp cơ sở. VII. CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Lao động việc làm: Trong tháng 01/2021 đã tư vấn cho 1.640 lượt lao động, trong đó: tư vấn nghề cho 153 lượt lao động, tư vấn việc làm 176 lượt lao động, tư vấn việc làm cho 1.224 lượt lao động thất nghiệp, tư vấn pháp luật lao động và tư vấn khác cho 87 lượt lao động; giới thiệu việc làm cho 170 lượt lao động; đã giới thiệu cho 84 lao động có được việc làm ổn định. Tư vấn cho 69 lượt lao động có nguyện vọng đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, có 03 lượt lao động đăng ký tham gia; đã có 46 lao động xuất cảnh, trong đó xuất cảnh qua Nhật Bản là 39 lao động, Đài Loan là 07 lao động; có 1.380 người đăng ký thất nghiệp, quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp là 1.601 người với tổng số tiền chi trả tương đương 27.324 triệu đồng. Số lao động đăng ký hưởng trợ cấp thất nghiệp chủ yếu do doanh nghiệp cắt giảm lao động bị ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên không có đơn hàng sản xuất, không xuất khẩu được hàng hóa. Tình hình tiền lương thực hiện năm 2020 và kế hoạch thưởng Tết năm 2021: tiền lương bình quân chung của các doanh nghiệp trong năm 2020 tương đối ổn định. Qua số liệu báo cáo của 97 doanh nghiệp, tiền lương bình quân năm 2020 (bao gồm phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác) là 7,27 triệu đồng/người/tháng. Mức thưởng Tết Nguyên đán Tân Sửu năm 2021, qua số liệu của 86 trong tổng số 97 doanh nghiệp trên thì tiền thưởng bình quân khoảng 6,63 triệu đồng/người. 2. Chính sách xã hội: Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch số 358/KH-UBND ngày 31/12/2020 về việc Tổ chức thăm, tặng quà, trợ cấp cho người có công, người cao tuổi, hộ nghèo, thăm các đơn vị tập trung và doanh nghiệp trong dịp tết Nguyên đán Tân Sửu năm 2021, trong đó: Nguồn kinh phí Trung ương: tặng quà Chủ tịch nước cho người có công với cách mạng với 39.083 người, số tiền 7.940,6 triệu đồng (620 người, mức quà 400.000đ; 38.463 người mức quà 200.000đ); Nguồn kinh phí địa phương: trợ cấp của tỉnh với 70.357 người, số tiền 27.411,9 triệu đồng (Gồm 39.083 người mức quà 300.000đ; 31.174 người mức quà 500.000đ; 100 người mức quà 1.000.000đ); Công tác điều dưỡng người có công: theo Kế hoạch số 2851/KH-SLĐTBXH ngày 11/12/2020 về việc thực hiện chế độ điều dưỡng đối với người có công với cách mạng năm 2021, trong đó: điều dưỡng tại gia đình 8.080 người có công, với số tiền 9 triệu đồng; điều dưỡng tập trung 847 người có công, với số tiền trên đồng 2.236 triệu đồng. Lập kế hoạch vận động quỹ Đền ơn đáp nghĩa và xây sửa nhà tình nghĩa năm 2021, phấn đấu vận động quỹ Đền ơn đáp nghĩa đạt 10 tỷ đồng, xây mới và sửa chữa 165 ngôi nhà tình nghĩa từ nguồn vận động. 3. Hoạt động y tế: Công tác hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe nhân dân trong tháng 01/2021 được đảm bảo. Trong tháng đã khám chữa bệnh cho 435.673 lượt người, giảm 6,6% so cùng kỳ; trong đó, số người điều trị nội trú là 19.125 người, giảm 8,1%. Công suất sử dụng giường bệnh bình quân trong tháng đạt 78%; trong đó: công suất sử dụng giường bệnh của các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh đạt 96,3%, các bệnh viện chuyên khoa đạt 68,5%, các trung tâm y tế huyện đạt 48,9%... Trong tháng thực hiện kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm các cơ sở sản xuất chế biến, kinh doanh thực phẩm: 633 lượt, đạt vệ sinh 627 lượt, tỷ lệ 99,1%; So với cùng kỳ năm 2020 (535 lượt đạt/544 lượt kiểm tra, tỷ lệ 98,3%); xảy ra 02 vụ ngộ độc thực phẩm, với số người mắc: 35 người; không có ca tử vong do ngộ độc thực phẩm. Công tác phòng chống dịch bệnh được thường xuyên quan tâm và theo dõi chặt chẽ. Trong tháng 01/2021 có 12/44 bệnh truyền nhiễm được ghi nhận. So với cùng kỳ có 5 bệnh tăng (Bệnh liên cầu lợn ở người tăng 100%, lao phổi tăng 15,3%, Tay chân miệng tăng 45,5%, Viêm gan siêu vi A tăng 100%, Covid-19 tăng 100%); 8 bệnh giảm (Quai bị giảm 90%, sởi giảm 76,9%, sốt xuất huyết giảm 27%, thương hàn giảm 100%, thủy đậu giảm 54,5%, tiêu chảy giảm 3,4%, viêm gan siêu vi B giảm 75%, Viêm gan siêu vi C giảm 100%...); và các bệnh tương đương và hoặc không xảy ra ca mắc, ghi nhận 01 trường hợp tử vong do bệnh tay chân miệng; bệnh HIV có 32 cas mới nhiễm; bệnh AIDS có 02 cas nhiễm mới. Dịch Covid-19: Tính đến ngày 15/01/2021 tổng số người cách ly tập trung: tại Tiểu đoán Ấp Bắc, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh và cách ly tại các cơ sở y tế trong tỉnh là 2.866 người; số đợt cách ly tập trung 12 đợt; gồm các công dân Việt Nam về từ các nước: Hàn Quốc, Úc, Campuchia, Ấn Độ, Sinhgapo, Indonesi, Malayxia, Đài Loan. Tỉnh Tiền Giang ghi nhận 03 ca dương tính với SARS-CoV-2, 02 ca điều trị khỏi, hiện 01 ca đang điều trị tại Bệnh viện dã chiến đã đủ điều kiện xuất viện, tuy nhiên do bệnh nhân này có địa chỉ cư trú tại tỉnh Hải Dương nên tạm thời để bệnh nhân tiếp tục theo dõi sau điều trị tại Bệnh viện dã chiến Long Định. 4. Hoạt động giáo dục: Trong tháng ngành Giáo dục và Đào tạo đã có các hoạt động nổi bật như: tổ chức kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia THPT năm học 2020 - 2021 từ ngày 25/01 đến ngày 27/01/2021 tại trường THPT Chuyên Tiền Giang với 54 thí sinh dự thi ở 09 môn Ngữ văn, Toán, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Lịch sử, Địa lý, Tin học, Tiếng Anh; tổ chức Cuộc thi Khoa học kĩ thuật (KHKT) cấp tỉnh từ ngày 31/12/2020 đến 13/01/2021; chuẩn bị hồ sơ đăng ký thi KHKT cấp Quốc gia; các cấp Công đoàn tổ chức sơ kết Học kỳ I, phát động phong trào thi đua Học kỳ II và tiếp tục phát động phong trào thi đua Đổi mới, sáng tạo trong dạy và học; phát động “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” nhân dịp Tết nguyên đán Tân Sửu 2021; tổ chức Hội diễn văn nghệ Mừng Đảng – Mừng Xuân Tân Sửu 2021 dành cho các Phòng GDĐT từ 22/01 đến 03/02/2021; phối hợp cùng Tỉnh đoàn tổ chức Hội thi Kể chuyện Bác Hồ năm học 2020 – 2021 dành cho học sinh (Tiểu học, Trung học cơ sở) và Giải thưởng Lê Thị Thiên. Theo Công văn số 24/SGDĐT ngày 12 tháng 01 năm 2021cuả Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Tiền Giang về thời gian nghỉ tết Nguyên đán Tân sửu năm 2021 học sinh nghĩ tết từ ngày 8 tháng 02 năm 2021 đến hết ngày 16 tháng 02 năm 2021. 5. Hoạt động văn hóa – thể thao: Tổ chức lễ thông tuyến cao tốc Trung Lương – Mỹ Thuận có Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc dự lễ cắt băng thông tuyến; Dự thảo Ban Tổ chức và Danh mục các ngày kỷ niệm, lễ lớn giai đoạn 2021-2025; Đề án “Bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật đờn ca tài tử” giai đoạn 2021-2025; Dự thảo Kế hoạch tổ chức Họp mặt kỷ niệm 91 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và mừng Xuân Tân Sửu năm 2021; Dự thảo Kế hoạch tổ chức các hoạt động vui chơi, giải trí phục vụ nhân dân dịp Tết Tân Sửu năm 2021. Ngành Văn hoá, Thể thao và Du lịch tập trung công tác chuẩn bị các hoạt động trang trí, tuyên truyền, hội thi, hội diễn, biểu diễn… phục vụ nhân dân trên địa bàn tỉnh trong dịp Tết Nguyên đán Tân Sửu năm 2021. Tổ chức Hội nghị triển khai Quyết định số 3488/QĐ-UBND ngày 25/11/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt Đề án “Nâng cao hoạt động Trung tâm Văn hóa-Thể thao, Nhà Văn hóa xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Tiền Giang năm 2021” tại xã Long Thuận, thị xã Gò Công – xã điểm đầu tiên xây dựng mô hình nâng chất hoạt động trong năm 2019 đạt hiệu quả cao. Tổ chức thẩm định kết quả thực hiện Đề án “Xây dựng thành phố Mỹ Tho đạt chuẩn văn minh đô thị đến năm 2020”; được hội đồng cấp tỉnh thông qua và đang trình Ban chỉ đạo Trung ương xem xét thẩm định và công nhận. Trung tâm Văn hóa Nghệ thuật tỉnh đã có những hoạt động nổi bật trong tháng như: tổ chức Chương trình nghệ thuật chào năm mới Dương lịch năm 2021, thu hút hơn 200 lượt người xem. Tổ chức Hội thi hoa lan kỷ niệm 76 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt nam. Tổ chức biểu diễn nhạc nước định kỳ phục vụ nhân dân vào tối thứ năm và thứ bảy hàng tuần. Xây dựng và luyện tập các chương trình biểu diễn nghệ thuật tết nguyên đán Tân Sửu năm 2021… Ngoài ra đội kiểm tra liên ngành văn hoá, thể thao và du lịch của tỉnh, huyện và cơ sở xã, phường, thị trấn phối hợp với các ngành hữu quan xây dựng và triển khai kế hoạch kiểm tra các hoạt động văn hóa và dịch vụ văn hóa trên địa bàn quản lý. Tập trung kiểm tra các hoạt động karaoke cố định; quảng cáo ngoài trời, các hoạt động biểu diễn nghệ thuật, các loại trò chơi có tính chất cờ bạc trá hình, các dịch vụ văn hóa gây tiếng ồn. Đồng thời, chú trọng kiểm tra các hoạt động kinh doanh du lịch nhất là kiểm tra xử lý nghiêm tình trạng cò mồi tại điểm tham quan du lịch, những biểu hiện sai trái trong hoạt động du lịch; hướng dẫn viên du lịch, cơ sở lưu trú du lịch… nhằm kịp thời chấn chỉnh các tệ nạn xã hội, ngăn ngừa những vi phạm có thể xảy ra trong dịp Tết. Hoạt động thể dục – thể thao có những hoạt động nổi bật trong tháng như: đội Năng khiếu Bóng đá U16 đi tập huấn vào ngày 20/12 và 27/12/2020 tại Bình phước và Thành phố Hồ Chí Minh; đội PencakSilat tham dự giải vô địch PencakSilat mở rộng năm 2020, từ ngày 23/12 – 29/12/2020 tại Thanh Hóa, kết quả đạt 01 Huy chương Vàng; đội Bóng đá tham dự giải VĐ Bóng đá U19 quốc gia năm 2021, từ ngày 10/1 – 2/2/2021 tại Bình Phước, thi đấu lượt I, ngày 10/01/2021 giữa Tiền Giang và An Giang trân sân Bình Phước, kết quả thắng tỉ số 2 – 0. 6. Tình hình an ninh trất tự và an toàn xã hội: (Theo báo cáo của Ngành công an) Tội phạm về trật tự xã hội xảy ra 117 vụ (giảm 24 vụ so với tháng 12/2020), làm chết người 01 người, bị thương 12 người, tài sản thiệt hại giá khoảng 2,8 tỷ đồng; điều tra khám phá bước đầu đạt tỷ lệ 35,9% (42 vụ), bắt xử lý 61 đối tượng, thu hồi tài sản trị giá khoảng 110 triệu đồng. Phát hiện, xử lý 34 tụ điểm, 333 đối tượng tham gia cờ bạc; 20 vụ với 27 đối tượng phạm tội về ma túy và xử lý vi phạm hành chính 263 đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy; 08 trường hợp vi phạm pháp luật về trật tự quản lý kinh tế; 04 vụ kinh doanh hàng hóa không đúng địa điểm đăng ký và không rõ nguồn gốc, xuất xứ - máy trò chơi Game bắn cá. 7. Trật tự an toàn giao thông: (Theo báo cáo Ngành công an) Giao thông đường bộ: Tai nạn giao thông trong tháng xảy ra 61 vụ giảm 19 vụ so tháng trước và tăng 33 vụ so cùng kỳ, làm chết 37 người giảm 05 người so tháng trước và tăng 15 người so cùng kỳ, bị thương 30 người giảm 16 người so tháng trước và tăng 14 người so cùng kỳ. Vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ trong tháng xảy ra 4.018 vụ tăng 367 vụ so tháng trước và giảm 4.678 vụ so cùng kỳ. Đã xử lý tạm giữ giấy tờ và phương tiện 3.167 vụ, tước giấy phép lái xe 273 vụ, phạt tiền 851 vụ với số tiền phạt 3.022,6 triệu đồng. Nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông chủ yếu vẫn do ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông như: điều khiển xe khi có rượu bia, phóng nhanh vược ẩu, không làm chủ tốc độ; không đi đúng phần đường, làn đường; không nhường đường, vượt đèn đỏ, thiếu quan sát… Giao thông đường thủy: trong tháng xảy ra 01 vụ tai nạn, tăng 01 vụ so tháng trước và tăng 01 vụ so cùng kỳ, số người chết và bị thương không phát sinh, tương đương so tháng trước và cùng kỳ, thiệt hại tài sản khoảng 600 triệu đồng. Vi phạm trật tự an toàn giao thông đường thủy trong tháng xảy ra 1.917 vụ giảm 19 vụ so tháng trước và giảm 88 vụ so cùng kỳ. Đã xử lý vi phạm: Lập biên bản tạm giữ giấy tờ 350 vụ và phạt tiền 1.567 vụ với số tiền phạt: 493,2 triệu đồng. * Tai nạn giao thông nghỉ Tết Dương lịch năm 2021: tai nạn giao thông đường bộ xảy ra 04 vụ, tăng 02 vụ so cùng kỳ; làm chết 04 người, tăng 03 người so cùng kỳ; bị thương 01 người tăng 01 người so cùng kỳ. Nguyên nhân đang điều tra. 8. Tình hình cháy nổ, môi trường: Trong tháng 01/2021 trên địa bàn tỉnh xảy ra 03 vụ cháy, cụ thể: trên địa bàn thành phố Mỹ Tho xảy ra 01 vụ và huyện Cái Bè xảy ra 02 vụ, tổng thiệt hại là khoảng 4,5 tỷ đồng. Nguyên nhân do bất cẩn trong sử dụng lửa 01 vụ và các vụ còn lại đang được cơ quan chức năng tiến hành điều tra. Về tình hình môi trường, Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường phát hiện 01 trường hợp vi phạm. Nội dung vi phạm là khai thác cát làm vật liệu xây dựng thông thường không giấy phép, chưa ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Báo cáo tóm tắt tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Tiền Giang năm 2020
- 18/06/2024 16:33
I. TÌNH HÌNH CHUNG THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC 1. Thế giới: Đại dịch Covid-19 bùng phát và lan rộng khắp toàn cầu đã khiến bức tranh kinh tế thế giới năm 2020 hết sức u ám. Tại thời điểm cuối tháng 6/2020, các tổ chức quốc tế và thể chế tài chính đều đồng loạt nhận định tăng trưởng kinh tế toàn cầu suy thoái sâu trong năm 2020. Tuy nhiên, đến thời điểm giữa tháng 12, khi phần lớn các nền kinh tế tái khởi động sau phong tỏa do dịch Covid-19, dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới có những dấu hiệu khả quan hơn. Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế cho rằng kinh tế toàn cầu có xu hướng phục hồi sau khi nới lỏng các biện pháp hạn chế nghiêm ngặt và các doanh nghiệp mở cửa trở lại. Theo đó, tổ chức này dự báo GDP thế giới giảm 4,2% trong năm 2020, điều chỉnh tăng 0,3 điểm phần trăm so với dự báo đưa ra vào tháng 9 năm 2020. Một số tổ chức khác như Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Tổ chức xếp hạng tín dụng quốc tế Fitch Ratings (FR), đều điều chỉnh tăng dự báo tăng trưởng toàn cầu trong năm 2020 so với các dự báo trước đây. Cụ thể, IMF và FR dự báo GDP thế giới năm 2020 ở mức -4,4%, và -3,7%, tăng 0,5 và 0,7 điểm phần trăm. Theo Ngân hàng Phát triển châu Á ADB, dự báo tăng trưởng của Trung Quốc đạt 2,1%, Hoa Kỳ giảm -3,5%, Khu vực đồng Euro giảm 7,4%, Nhật Bản giảm 5,4%, In-đô-nê-xi-a giảm 2,2%, Ma-lai-xi-a giảm 6,0%, Thái Lan giảm 7,8%, Phi-li-pin giảm 8,5% và Xin-ga-po giảm 6,2%. 2. Trong nước Tốc độ tăng sản phẩm trong nước (GDP) - Tổng Cục Thống kê công bố ngày 27/12/2020 Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2020 ước tính tăng 2,91% so với năm trước, tuy là mức tăng thấp nhất của các năm trong giai đoạn 2011-2020 nhưng trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, ảnh hưởng tiêu cực tới mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội thì đây là thành công lớn của Việt Nam với mức tăng trưởng năm 2020 thuộc nhóm cao nhất thế giới. GDP năm 2020 tăng 2,91% (Quý I tăng 3,68%; quý II tăng 0,39%; quý III tăng 2,69%; quý IV tăng 4,48%) trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, ảnh hưởng tiêu cực tới mọi lĩnh vực kinh tế – xã hội là thành công lớn của Việt Nam. Điều này cho thấy tính đúng đắn trong chỉ đạo, điều hành khôi phục kinh tế, phòng chống dịch bệnh và sự quyết tâm, đồng lòng của toàn bộ hệ thống chính trị, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, sự nỗ lực, cố gắng của người dân và cộng đồng doanh nghiệp để thực hiện có hiệu quả mục tiêu “vừa phòng chống dịch bệnh, vừa phát triển kinh tế – xã hội”. Trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,68%, đóng góp 13,5% vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 3,98%, đóng góp 53%; khu vực dịch vụ tăng 2,34%, đóng góp 33,5%. II. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊU KINH TẾ CỦA TỈNH 1. Tăng trưởng kinh tế (GRDP): Năm 2020, tình hình sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh chịu tác động mạnh của hạn, mặn và dịch covid 19, đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất, kinh doanh và đời sống của nhân dân trong tỉnh. Lãnh đạo tỉnh nhà đã đưa ra nhiều giải pháp theo từng thời điểm, nhằm giảm bớt thiệt hại cho nhân dân, điều hành phát triển kinh tế - xã hội vượt qua khó khăn. Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) năm 2020 ước đạt 59.549 tỷ đồng (giá so sánh năm 2010), tăng 0,69% ([1]) so với cùng kỳ, khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản giảm 2,1%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 3,48% và khu vực dịch vụ tăng 1,52% (bao gồm thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm); Nếu tách riêng thuế sản phẩm thì khu vực dịch vụ tăng 1,27 % và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 2,69% so cùng kỳ. GRDP nếu tính theo giá thực tế năm 2020 đạt 100.192 tỷ đồng; tổng sản phẩm bình quân đầu người đạt 56,5 triệu đồng/người/năm, tăng 1,6 triệu đồng/người/năm so năm 2019 (năm 2019 đạt 54,9 triệu đồng/người/năm). Tính theo giá USD, GRDP bình quân đầu người năm 2020 đạt 2.423 USD/người/năm, tăng 2,8%, tương đương tăng 66 USD so năm 2019 (năm 2019 đạt 2.357 USD/người/năm). Cơ cấu kinh tế: chuyển dịch chậm theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, xây dựng và giảm tỷ trọng nông nghiệp. Năm 2020 khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 39,3% giảm 0,3% (cùng kỳ 39,6%); khu vực công nghiệp, xây dựng chiếm 26,0%, tăng 0,2% (cùng kỳ 25,8%); khu vực dịch vụ chiếm 28,7%, tương đương so cùng kỳ; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 6,0%, tăng 0,1% (cùng kỳ 5,9%). 2. Tài chính - Ngân hàng: a. Tài chính: Thu ngân sách nhà nước: năm 2020 ước thu được 19.326 tỷ đồng, giảm 1,7% so cùng kỳ; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn 10.843 tỷ đồng, đạt 97,5% dự toán và giảm 3,7% so cùng kỳ; thu nội địa 10.613 tỷ đồng, đạt 98,2% dự toán, giảm 3,3% so cùng kỳ. Nếu loại trừ số thu tiền sử dụng đất thì có 05/11 huyện, thành thị có tỷ lệ thu cả năm đạt và vượt dự toán năm, cụ thể là huyện Tân Phước đạt 116,2%, huyện Cái Bè đạt 111,2%, huyện Gò Công Đông đạt 109,9%, Thành phố Mỹ Tho đạt 102,3%, huyện Tân Phú Đông đạt 100,3% so dự toán. Chi ngân sách nhà nước: năm 2020 ước chi 19.917 tỷ đồng, đạt 144,7% dự toán, tăng 7,8% so cùng kỳ. Ủy ban nhân dân tỉnh đã huy động tất cả nguồn lực hiện có của địa phương để kịp thời bố trí kinh phí cho các đơn vị, địa phương như nguồn dự phòng, nguồn cải cách tiền lương của ngân sách cấp tỉnh... Ngoài ra, kinh phí phục vụ cho phòng, chống hạn, mặn phát sinh khá lớn khoảng 388 tỷ đồng; kinh phí hỗ trợ người dân gặp khó khăn do dịch Covid-19 khoảng 250 tỷ đồng; kinh phí phòng, chống dịch Covid-19 khoảng 242 tỷ đồng. b. Ngân hàng: Về huy động vốn: đến cuối tháng 10/2020, tổng vốn huy động 73.875 tỷ đồng, đạt 96,7% so kế hoạch, tốc độ tăng 6,4% so với cuối năm trước, tốc độ tăng bình quân là 0,6%/ tháng. Ước đến cuối năm 2020, vốn huy động 76.391 tỷ đồng, tăng 10% so cuối năm 2019. Về dư nợ: cuối tháng 10/2020, tổng dư nợ 62.289 tỷ đồng, đạt 97% so kế hoạch, tăng trưởng là 10,6% so với năm trước, mức tăng bình quân là 1,02%/ tháng. Ước đến cuối năm 2020, dư nợ tín dụng 64.198 tỷ đồng, tăng 14% so cuối năm 2019. Lãi suất cho vay Việt Nam đồng phổ biến ở mức trên 5 - 9%/năm đối với ngắn hạn; 11-13%/năm đối với trung dài hạn; lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa đối với 5 lĩnh vực ưu tiên ở mức 4,5%/năm, giảm 1,5%/năm so cuối năm 2019. Nợ xấu: đến cuối tháng 10/2020, nợ xấu là 991 tỷ đồng, tỷ lệ là 1,6%, tăng 0,7% so cuối năm 2019. Ước đến cuối năm 2020, nợ xấu là 1.013 tỷ đồng, chiếm 1,6% trên tổng dư nợ, so đầu năm tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ tăng 0,8%, số dư nợ xấu so với đầu năm tăng 524 tỷ đồng. 3. Giá, lạm phát: (Số liệu có khác so BC gửi các đơn vị ngày 19/12 do mới cập nhật chỉ số giá tháng 12) Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12/2020 tăng 0,29% so tháng 11/2020 (thành thị tăng 0,27%, nông thôn tăng 0,3%); so cùng kỳ tăng 1,5%. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm 2020 so cùng kỳ tăng 3,35%. Do Thực hiện lộ trình tăng học phí theo Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 của Chính phủ, tỉnh đã áp dụng khung giá mới tăng giá học phí các cấp học, tác động chỉ số giá nhóm giáo dục năm 2020 tăng 5,34% so với cuối năm 2019 và tăng 6,55% so với bình quân cùng kỳ; dịch bệnh Covid-19 kéo dài, tác động đến tâm lý người dân thu mua gạo dự trữ, dẫn đến giá tăng 7,63% so cuối năm 2019 và tăng 4,41% so với bình quân cùng kỳ; nhu cầu tiêu dùng thực phẩm tươi sống như: rau xanh, thịt gia súc, thịt chế biến tăng trong các dịp lễ, tết, dẫn đến giá nhóm thực phẩm tăng 11,83% so với cùng kỳ; giá các mặt hàng đồ uống và thuốc lá và giá các loại quần áo may sẵn tăng cao trong dịp Tết Nguyên Đán, bình quân năm 2020 chỉ số giá các nhóm này lần lượt tăng 2,56% và 2,41% so với cùng kỳ năm 2019; giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở bình quân vào mùa nắng tháng 4, tháng 5 và thời gian cận Tết nguyên đán... nhu cầu xây dựng năm 2020 tăng 0,51% so cùng kỳ. 4. Đầu tư và Xây dựng: Năm 2020, vốn đầu tư toàn xã hội ước thực hiện 36.740 tỷ đồng, đạt 98,5% kế hoạch, tăng 11,4% so cùng kỳ; trong đó: vốn đầu tư của dân cư và tư nhân 22.700 tỷ đồng, giảm 2,8%, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 4.468 tỷ đồng, giảm 10,9%, vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước 6.010 tỷ đồng, tăng 69,2% so cùng kỳ. Dự kiến cả năm tỉnh thu hút được 37 dự án, với tổng vốn đầu tư đăng ký 17.779 tỷ đồng, tăng 33,4% so cùng kỳ; nâng tổng vốn đầu đăng ký mới và vốn tăng thêm đạt 18.889 tỷ đồng, tăng 33,5% so với năm 2019. Các dự án lớn thu hút đầu tư như: Nhà máy điện gió Tân Phú Đông 1 vốn đầu tư 4.464 tỷ đồng, Nhà máy điện gió Tân Phú Đông 2 vốn đầu tư 2.242, Dự án Bến cảng - Tổng kho xăng dầu - Khí hóa lỏng và các sản phẩm sau dầu mỏ DKC Tiền Giang vốn đầu tư 3.646 tỷ đồng... Đến nay các KCN thu hút được 108 dự án (trong đó có 77 dự án FDI) với tổng vốn đầu tư trên 2,3 tỷ USD và 5.080 tỷ đồng; diện tích thuê 561,5/758,3 ha, chiếm 74%, giải quyết việc làm cho 87.667 lao động. Về cụm công nghiệp, đến nay, có 9 CCN được tỉnh chấp thuận chủ trương đầu tư, trong đó có 5 cụm công nghiệp đã mời gọi được nhà đầu tư. Tính đến thời điểm hiện tại đã thu hút được 79 dự án thứ cấp (trong đó có 6 dự án FDI), với tổng vốn đầu tư đăng ký 5.626,6 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho 16.418 lao động. 5. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp: Theo báo cáo Sở kế hoạch - Đầu tư, tính đến ngày 02/11/2020 có 650 doanh nghiệp thành lập mới (kế hoạch là 650 - 700 doanh nghiệp), đạt kế hoạch trước 02 tháng. Lũy kế 11 tháng, có 701 doanh nghiệp thành lập mới, vượt kế hoạch đề ra. Ước đến cuối tháng 12/2020, được 770 doanh nghiệp, tăng 14,9% so cùng kỳ; tổng vốn đăng ký là 5.500 tỷ đồng; số đơn vị trực thuộc đăng ký thành lập mới được 1.200 đơn vị (tăng 98% so năm 2019). Tính đến cuối năm 2020, tổng số doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn tỉnh là 6.280 doanh nghiệp, vượt mục tiêu Nghị quyết 06-NQ/TU của Tỉnh ủy đề ra (đến năm 2020, toàn tỉnh có trên 5.000 doanh nghiệp). 6. Sản xuất nông - lâm nghiệp và thủy sản: a. Nông nghiệp:Trồng trọt: Cây lương thực có hạt: năm 2020, gieo trồng 139.440 ha, đạt 80,1% kế hoạch, giảm 25,9%; sản lượng thu hoạch 813.386 tấn, đạt 77,3% kế hoạch, giảm 28,5% so cùng kỳ. Cụ thể: - Cây lúa: Gieo sạ 136.032 ha, đạt 80% kế hoạch, giảm 26,2%, thu hoạch 135.088 ha (mất trắng 944 ha), sản lượng thu hoạch 801.122 tấn, đạt 77,2% kế hoạch, so cùng kỳ giảm 28,7%. Vụ Đông Xuân 2019 - 2020: chính thức xuống giống 57.604, giảm 11,2% so cùng kỳ do thực hiện đề án cắt vụ và chuyển đổi cơ cấu cây trồng đối với các vùng sản xuất lúa khó khăn do tình hình hạn, mặn kéo dài ở khu vực phía đông; năng suất thu hoạch 66 tạ/ha, giảm 8,3% so cùng kỳ; sản lượng 373.970 tấn, so cùng kỳ giảm 19,9%. Vụ Hè Thu (gồm Xuân Hè và Hè Thu): gieo sạ 75.844 ha, thu hoạch 75.812 ha (mất trắng 32 ha); năng suất 54,6 tạ/ha, giảm 2%; sản lượng 413.895 tấn, so cùng kỳ giảm 19,6%. Vụ Thu Đông: gieo sạ 2.584 ha, đạt 10,7 % kế hoạch; giảm 90,4% so cùng kỳ, do thực thiện theo Công văn số 1922/UBND-KHTC ngày 29/4/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh chấp thuận về mặt chủ trương cắt vụ lúa Thu đông tại các huyện phía Đông chuyển dần diện tích lúa 3 vụ/năm sang sản xuất 2 vụ để đảm bảo sản xuất an toàn, hiệu quả. Cơ cấu giống lúa: lúa đặc sản, chất lượng cao diện tích 2.274 ha, chiếm tỉ lệ 88%; lúa thường với diện tích 157 ha, chiếm tỉ lệ 6,1%; các giống lúa còn lại diện tích 153 ha, chiếm tỉ lệ 5,9%. - Cây ngô: gieo trồng 3.385 ha, đạt 86,2% kế hoạch, giảm 14% so cùng kỳ, năng suất thu hoạch quy thóc 36,1 tạ/ha với sản lượng quy thóc 12.206 tấn, giảm 13,5% so cùng kỳ chủ yếu do diện tích gieo trồng giảm. Cây rau đậu các loại: gieo trồng 54.607 ha, đạt 94,7% kế hoạch, giảm 5,5%; sản lượng 1.146.547 tấn, đạt 98,7% kế hoạch, giảm 0,2% so cùng kỳ; trong đó: rau các loại 54.329 ha, sản lượng 1.145.711 tấn. Hiện có khoảng 90% diện tích các giống rau màu lai F1 được đưa vào sản xuất với thời gian sinh trưởng ngắn, kháng sâu bệnh, giúp tăng năng suất, sản lượng và chất lượng sản phẩm. Cây lâu năm: toàn tỉnh hiện có 102.779 ha, đạt 101,2% kế hoạch, tăng 3,5% so cùng kỳ; trong đó: cây ăn quả 81.785 ha, tăng 4% so cùng kỳ. Sản lượng thu hoạch ước 1.707.701 tấn, tăng 3,3% so cùng kỳ; trong đó, sản lượng cây ăn quả 1.522.750 tấn, tăng 2,5% so cùng kỳ. * Chăn nuôi: ước thời điểm 01/12/2020 tổng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh như sau: đàn bò 119,5 ngàn con, tương đương cùng kỳ; đàn lợn 268 ngàn con, tăng 1,2%; đàn gia cầm (không kể chim cút) 17,7 triệu con, tăng 8,9% so cùng kỳ. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng năm 2020: thịt bò 22.600 tấn, giảm 0,9%; thịt lợn 86.551 tấn, giảm 8,6%; thịt gia cầm 55.739 tấn, tăng 17% so cùng kỳ (trong đó: sản lượng thịt gà 42.283 tấn, tăng 15,1%). b. Lâm nghiệp: Tổng diện tích đất có rừng trên địa bàn tỉnh đến 01/12/2020 là 1.896 ha không bao gồm diện tích rừng thuộc đất an ninh quốc phòng. So với năm 2019, diện tích rừng đã giảm 72,4 ha; trong đó: giảm 60 ha rừng sản xuất ở huyện Tân Phước và 12,4 ha rừng phòng hộ ven biển do sạt lở. Năm 2020, cây phân tán trồng mới 648,6 ngàn cây, tăng 1,6% so cùng kỳ. Sản lượng gỗ khai thác 39.051 m3, giảm 7,5% so cùng kỳ; sản lượng củi khai thác 135.635 ste củi các loại, giảm 11,2% so cùng kỳ. b. Thủy hải sản: Năm 2020, thả nuôi 16.067 ha, đạt 102,3% kế hoạch, giảm 3% so cùng kỳ. Thủy sản nước ngọt nuôi 5.311 ha, đạt 101,9% kế hoạch, giảm 9%; thủy sản nước mặn, lợ nuôi 10.756 ha, đạt 102,5% kế hoạch, tăng 0,3% so cùng kỳ. Năm 2020, thu hoạch 316.367 tấn, đạt 102,9% kế hoạch, tăng 2% so cùng kỳ; trong đó: sản lượng thu hoạch từ nuôi 174.702 tấn, đạt 101,1% kế hoạch, giảm 3%; sản lượng khai thác 141.665 tấn, đạt 105,2% kế hoạch, tăng 8,9% do ngư dân đầu tư cải hoán và đóng mới tàu, thời tiết thuận lợi cho hoạt động khai thác. 7. Sản xuất công nghiệp: Chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2020 tăng 1,6% so cùng kỳ; trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,2%; ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 5%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,3%. Giá trị sản xuất công nghiệp địa phương năm 2020 theo giá so sánh 2010 thực hiện 85.085 tỷ đồng, tăng 1,3% so cùng kỳ. Trong đó: khu vực kinh tế ngoài nhà nước 35.640 tỷ đồng, tăng 0,5%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 48.344 tỷ đồng, tăng 1,8%. Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp năm 2020 giảm 11,1% so cùng kỳ; trong đó: doanh nghiệp nhà nước giảm 1,5%, doanh nghiệp ngoài quốc doanh giảm 12,4%, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm 11,1%. Chia theo ngành công nghiệp: chế biến chế tạo giảm 11,4%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 1,8%; cung cấp nước, hoạt động quản lý rác thải, nước thải giảm 3,4%. 8. Thương mại, dịch vụ: a. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng: Năm 2020, tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng 65.025 tỷ đồng, đạt 95,6% kế hoạch, tăng 4,9% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 52.899 tỷ đồng, tăng 7,7%; lưu trú, ăn uống 5.815 tỷ đồng, giảm 11,7%; du lịch lữ hành 29 tỷ đồng, giảm 78%; dịch vụ tiêu dùng 6.281 tỷ đồng, tăng 1,6% so cùng kỳ. Tết Nguyên đán Tân Sửu 2021, UBND tỉnh Tiền Giang vừa ban hành Kế hoạch 325/KH-UBND ngày 24/11/2020 về dự trữ, cung ứng hàng hóa thiết yếu phục vụ Tết, có 8 doanh nghiệp và hợp tác xã tham gia với tổng trị giá vốn hơn 444 tỷ đồng, trong đó hàng hóa thiết yếu hơn 98,4 tỷ đồng… b. Xuất - Nhập khẩu: Do ảnh hưởng của Covid-19, Việt Nam cũng như nhiều nước đã hạn chế các chuyến bay đi và đến cũng như giãn cách xã hội, ảnh hưởng đến hoạt động giao dịch. Hiện tại, vẫn tiến hành thông quan hàng hóa nhưng tiến độ chậm do tăng cường kiểm tra dịch bệnh ở cả hai đầu xuất và nhập nên phần lớn giá trị xuất và nhập khẩu đều giảm so cùng kỳ. * Xuất khẩu: Năm 2020, kim ngạch xuất khẩu 3 tỷ USD, đạt 88,5% kế hoạch, giảm 1,4% so cùng kỳ. Một trong những nguyên nhân chính ảnh hưởng đến tình hình xuất khẩu của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Tiền Giang là do tác động của dịch Covid-19. Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của tỉnh trong năm 2020 như sau: - Thủy sản: xuất 118.144 tấn, giảm 12,4%, về giá trị đạt 278 triệu USD, giảm 20,8% so cùng kỳ. Do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, thị trường xuất khẩu đã giảm khoảng 60 - 70%. Giá bán buôn cá tra tại đồng bằng sông Cửu Long 9 tháng đầu năm dao động trong khoảng 18.000 - 18.500 đồng/kg đối với cá tra loại 1, đây là mức giá thấp nhất trong 10 năm qua, từ tháng 10 đến nay giá 22.000 - 24.000 đồng/kg. - Gạo:ước xuất 222.098 tấn, tăng 54,9%, về giá trị 134 triệu USD, tăng 95,3% so cùng kỳ. Do ảnh hưởng dịch Covid-19, trái ngược với xu hướng giảm của nhiều các mặt hàng thuộc nhóm nông sản, xuất khẩu mặt hàng gạo đã tăng mạnh sau khi Chính phủ cho xuất khẩu gạo bình thường trở lại từ ngày 1/5. Đây chính là tiền đề để nhiều doanh nghiệp lúa gạo khôi phục sản xuất, đàm phán hợp đồng và tăng xuất khẩu. - May mặc: ước xuất 555 triệu USD, giảm 3,1% so cùng kỳ. Ngành may mặc chịu ảnh hưởng trực tiếp của dịch bệnh Covid-19 rất lớn như việc nhập nguyên liệu cũng như xuất hàng gặp khó khăn. Để duy trì hoạt động sản xuất, doanh nghiệp đã tìm các đơn hàng sản xuất sản phẩm trong mùa dịch như may khẩu trang, đồ bảo hộ phục vụ y tế… để công nhân có thể tiếp tục làm việc. * Nhập khẩu: Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa năm 2020 thực hiện 1.523 triệu USD, đạt 76,2% kế hoạch, giảm 23,4% so cùng kỳ; trong đó: kinh tế ngoài nhà nước 103 triệu USD, giảm 20,1%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 1.420 triệu USD, giảm 23,6% so cùng kỳ. Nguyên liệu nhập khẩu chủ yếu các mặt hàng như vải các loại 183 triệu USD, tăng 1,3%; nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày 266 triệu USD, giảm 28,2%; chất dẻo nguyên liệu 90 triệu USD, tăng 34,6% so cùng kỳ... c. Vận tải: Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải năm 2020 thực hiện 2.008 tỷ đồng, giảm 17,4% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 575 tỷ đồng, giảm 26,4%; vận tải hàng hóa thực hiện 1.217 tỷ đồng, giảm 14,9% so cùng kỳ. Vận tải đường bộ thực hiện 975 tỷ đồng, giảm 21,6%; vận tải đường thủy thực hiện 818 tỷ đồng, giảm 15,5%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 215 tỷ đồng, giảm 2,2% so cùng kỳ. Vận chuyển hành khách năm 2020 vận chuyển 34.410 ngàn hành khách, giảm 21,3% và luân chuyển 621.425 ngàn hành khách.km, giảm 24,6% so cùng kỳ; trong đó: vận chuyển đường bộ 15.147 ngàn hành khách, giảm 14,1% và luân chuyển 593.910 ngàn hành khách.km, giảm 23,3%; vận chuyển đường thủy 19.263 ngàn hành khách, giảm 26,1% và luân chuyển 27.515 ngàn hành khách.km, giảm 44,2% so cùng kỳ. Năm 2020, vận tải hàng hóa 11.534 ngàn tấn, giảm 16,4% và luân chuyển 1.478.536 ngàn tấn.km, giảm 18,7% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ thực hiện 2.639 ngàn tấn, giảm 16,8% và luân chuyển được 302.914 ngàn tấn.km, giảm 26,6%; vận tải đường thủy thực hiện 8.895 ngàn tấn, giảm 16,3% và luân chuyển 1.175.622 ngàn tấn.km, giảm 16,4% so cùng kỳ. Năm 2020, doanh thu, khối lượng vận chuyển và luân chuyển hành khách, hàng hóa đều giảm so cùng kỳ, nguyên nhân chính là do: dịch bệnh Covid-19 bùng phát kéo dài mặc dù giá xăng dầu bình quân năm 2020 giảm 21,9% so cùng kỳ, dẫn đến các đơn vị kinh doanh vận chuyển hành khách không tăng giá vé xe cơ bản (tăng 40%) trong các ngày nghỉ lễ 30/4 - 01/5 và lễ Quốc Khánh 02/9 như thông lệ hàng năm. d. Du lịch: Năm 2020, dịch vụ lưu trú và du lịch lữ hành tiếp tục bị ảnh hưởng mạnh bởi dịch Covid-19. Tình hình dịch bệnh trên thế giới hiện nay vẫn còn diễn biến khá phức tạp, khách quốc tế hiện nay chưa được nhập cảnh du lịch bình thường, đợt dịch thứ 2 hiện đã được kiểm soát, tuy nhiên tâm lý đi tham quan du lịch của người dân đã giảm. Năm 2020, lượng khách du lịch đến tỉnh 748 ngàn lượt, đạt 34% kế hoạch, giảm 63,1% so cùng kỳ; trong đó khách quốc tế 98,9 ngàn lượt, đạt 11% kế hoạch, giảm 84,8%. Doanh thu hoạt động lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành 5.845 tỷ đồng, giảm 13% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống chiếm 99,5%. e. Bưu chính - Viễn thông: Năm 2020, doanh thu bưu chính - viễn thông 2.983 tỷ đồng, đạt 119,3% kế hoạch và tăng 5,3% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính 236 tỷ đồng, đạt 118% kế hoạch, tăng 5,6% so cùng kỳ, doanh thu viễn thông 2.747 tỷ đồng, đạt 119,4% kế hoạch, tăng 5,3% so cùng kỳ. Tổng số thuê bao điện thoại trên mạng ước đến cuối năm 2020 là 103.597 thuê bao, mật độ bình quân đạt 5,9 thuê bao/100 dân (chỉ tính thuê bao cố định và di động trả sau). Số thuê bao điện thoại di động có sử dụng internet (3G, 4G) đến cuối tháng 12 năm 2020 là 1.291.296 thuê bao. Năm 2020 số thuê bao internet phát triển 66.224 thuê bao; tổng số thuê bao internet trên mạng đến cuối năm 2020 là 259.250 thuê bao, mật độ internet bình quân ước đạt 14,7 thuê bao/100 dân. III. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI CỦA TỈNH 1. Lao động, giải quyết việc làm: Theo kết quả sơ bộ điều tra lao động việc làm quý IV/2020 cho thấy, trong tổng số 1.590 lao động đang làm việc của tỉnh đã có 118 lao động thiếu việc làm, chiếm tỷ lệ 7,4%, tăng 1,8 điểm phần trăm so cùng kỳ năm 2019 (từ 5,6% năm 2019 lên 7,4% năm 2020), đã làm cho tỷ lệ thiếu việc làm khu vực thành thị và nông thôn cũng tăng lần lượt là 6,5% lên 7,0% đối với khu vực thành thị và 5,2% lên 7,6% đối với khu vực nông thôn. Tình trạng thiếu việc làm vẫn phổ biến ở khu vực nông thôn (chiếm 70,3% trong tổng số số lao động thiếu việc làm của tỉnh). Sở dĩ, tỷ lệ thất nghiệp chung của toàn tỉnh tăng so cùng kỳ, phần lớn là do ảnh hưởng của dịch Covid-19 đã tác động làm thiệt hại đến nền kinh tế, đến các mặt đời sống... bị ngưng trệ. Năm 2020, đã tư vấn việc làm 32.702 lượt lao động, đạt 164% kế hoạch, tăng 53,9%; giới thiệu việc làm cho 3.402 lượt lao động, đạt 85% kế hoạch, tăng 52,4% và đã giới thiệu cho 1.735 lao động có được việc làm ổn định, tăng 49,6% so cùng kỳ. 2. Đời sống dân cư và an sinh xã hội: Theo tổng hợp sơ bộ kết quả điều tra rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo cuối năm 2020, toàn tỉnh có 3.456 hộ thoát nghèo; hộ nghèo phát sinh là 256 hộ; toàn tỉnh còn 9.429 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 1,87% so tổng số hộ toàn tỉnh (505.625 hộ); hộ thoát cận nghèo là 3.732 hộ; hộ cận nghèo phát sinh là 2.791 hộ (hộ thoát nghèo rơi vào cận nghèo 1.681 hộ. Toàn tỉnh có 16.736 hộ cận nghèo, chiếm tỷ lệ 3,32% so tổng số hộ toàn tỉnh. Năm 2020, vận động Quỹ “Vì người nghèo” các cấp trong tỉnh đã vận động được 15,4 tỷ đồng. Xây dựng và sửa chữa 467 căn nhà cho hộ nghèo và đoàn viên, hội viên, công đoàn viên khó khăn với số tiền 18,1 tỷ đồng. Vận động quỹ đền ơn đáp nghĩa lũy kế từ đầu năm vận động được 10,8 tỷ đồng đạt 108% kế hoạch; lũy kế từ đầu năm xây dựng được 127 căn nhà tình nghĩa với tổng kinh phí 5,1 tỷ đồng đạt, 103% kế hoạch năm; lũy kế từ đầu năm sửa chữa 118 căn nhà tình nghĩa với tổng kinh phí 2,4 tỷ đồng, đạt 236% kế hoạch. Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh đã cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí cho người nghèo là 33.881 thẻ và 51.640 thẻ dành cho người cận nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi là 150.809 thẻ. Thực hiện Quyết Định số 22/2013/QĐ-TTg ngày 26/4/2013 của Thủ tướng chính phủ về hỗ trợ nhà ở cho người có công và Nghị quyết số 63/NQ-CP ngày 25/7/2017 của Chính phủ về việc thực hiện chính sách hỗ trợ nhà ở đối với người có công với cách mạng theo Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg. Tỉnh Tiền Giang có 5.719 hộ (xây mới: 2.910 căn; sửa chữa: 2.809 căn) gia đình người có công với cách mạng có khó khăn về nhà ở cần được hỗ trợ. Đến nay, công tác hỗ trợ kinh phí cho người có công với cách mạng để xây dựng, sửa chữa nhà ở theo tinh thần trên đã hoàn thành, với số lượng 5.147 căn. 3. Hoạt động giáo dục: Tỷ lệ trẻ mầm non đến trường duy trì mức 95%; giáo dục thường xuyên 87,2%, các cấp học phổ thông đạt khoảng 98 - 99%. Kết thúc năm học 2019-2020, xét hoàn thành chương tiểu học đạt 100%; cấp THCS có 21.876 học sinh được xét tốt nghiệp, đạt 99,97% (tăng 0,84% so với năm học trước). Kỳ thi tốt nghiệp THPT quốc gia diễn ra an toàn, nghiêm túc với 13.790 học sinh đạt tốt nghiệp/ tổng số 13.897 học sinh dự xét, đạt tỷ lệ 99,23% (tăng 2,83% so với năm học trước). 4. Hoạt động y tế: Trong năm 2020: có 18/44 bệnh truyền nhiễm được ghi nhận. So với cùng kỳ: về số mắc, có 5 bệnh tăng; 19 bệnh giảm; 23 bệnh tương đương và hoặc không xảy ra ca mắc. Không ghi nhận tử vong do bệnh truyền nhiễm. Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm luôn được ngành y tế quan tâm, thực hiện kiểm tra An toàn vệ sinh thực phẩm các cơ sở sản xuất chế biến, kinh doanh thực phẩm trong năm 2020 với 12.975 lượt, đạt vệ sinh là 12.726 lượt, tỷ lệ 98%; Không ghi nhận xảy ra ngộ độc thực phẩm trên địa bàn. Về công tác khám chữa bệnh tại các tuyến tương đối ổn định. Công suất sử dụng giường bệnh bình quân trong năm 2020 đạt 92,2%. Ngoài ra so cùng kỳ năm 2019, tổng số lần khám bệnh người dân tăng 27,8%, tổng số người điều trị nội trú tăng 8,2%, tổng số ngày điều trị nội trú giảm 19,5%. Dịch Covid-19: Tính đến ngày 15/12/2020, tổ chức cách ly tập trung cho người có nguy cơ lây bệnh, người từ vùng dịch trở về trong 11 đợt là 2.616 người. Đến thời điểm hiện tại, tỉnh Tiền Giang có 2 ca dương tính với SARS-CoV-2 đã được điều trị khỏi xuất viện và được hướng dẫn cách ly theo quy định. 5. Hoạt động văn hóa - thể thao: Toàn tỉnh hiện có 459.105 hộ/459.990 hộ trên địa bàn toàn tỉnh đăng ký xây dựng Gia đình văn hóa, đạt tỷ lệ 99,8%, đến cuối năm qua bình xét có 425.031 hộ đạt Gia đình văn hoá, đạt tỷ lệ 92,6%; 998/1005 ấp, khu phố văn hóa, đạt tỷ lệ 99,3%; 152/172 xã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới và phường, thị trấn đạt chuẩn văn minh đô thị (125 xã, 21 phường, 6 thị trấn); 59 chợ văn hóa; 17 công viên văn hóa; 729 con đường văn hóa, 537 cơ sở thờ tự văn hóa. 6. Tình hình trật tự an toàn xã hội:(Theo báo cáo của ngành Công an): Tội phạm về trật tự xã hội xảy ra 1.149 vụ, làm chết 21 người, bị thương 107 người, thiệt hại tài sản trị giá khoảng 33.018 triệu đồng; đặc biệt trộm cắp tài sản đã xảy ra 570 vụ, chiếm trên 67% tổng số vụ tội phạm về trật tự xã hội. Bên cạnh đó xảy ra 01 vụ, có 31 học viên ở Cơ sở cai nghiện tỉnh lợi dụng sơ hở nhân viên chuyển cơm, trực cổng đã xô ngã nhân viên, sau đó trốn khỏi cơ sở cai nghiện; Công an tỉnh, huyện đã triển khai lực lượng đảm bảo an ninh, trật tự và truy bắt số học viên bỏ trốn. Phát hiện, xử lý 226 tụ điểm, 1.451 đối tượng tham gia cờ bạc. 7. Trật tự an toàn giao thông: (Theo báo cáo của ngành Công an). Giao thông đường bộ: từ đầu năm đến nay, tai nạn giao thông xảy ra 428 vụ, tăng 102 vụ so cùng kỳ, làm chết 259 người, tăng 39 người so cùng kỳ, bị thương 245 người, tăng 63 người so cùng kỳ. Ước thiệt hại tài sản 6.223 triệu đồng, tăng 2.472 triệu đồng so cùng kỳ. Vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ từ đầu năm đến nay 67.030 vụ, giảm 13.745 vụ so cùng kỳ; đã xử lý phạt tiền 21.094 vụ với số tiền 43.572 triệu đồng, tăng 13.629 triệu đồng so với cùng kỳ. Giao thông đường thủy: tổng số vụ tai nạn từ năm đến nay 6 vụ, tương đương so với cùng kỳ, không phát sinh số người chết, bị thương; thiệt hại tài sản khoảng 2.232 triệu đồng, tăng 1.872 triệu đồng so cùng kỳ. Vi phạm trật tự an toàn giao thông đường thuỷ từ đầu năm đến nay 19.404 vụ, giảm 919 vụ so cùng kỳ; đã xử lý phạt tiền 16.026 vụ với số tiền phạt 5.033 triệu đồng. 8. Tình hình cháy nổ, môi trường: Năm 2020, toàn tỉnh xảy ra 28 vụ cháy, 1 vụ nổ, làm bị thương 3 người, chết 4 người; tổng giá trị tài sản thiệt hại khoảng 75,4 tỷ đồng. Tổng số vụ vi phạm môi trường được phát hiện và xử lý 49 vụ với tổng số tiền xử phạt trên 864,4 triệu đồng. Nội dung vi phạm chủ yếu phát hiện qua kiểm tra là do khoan thăm dò và khai thác nước dưới đất không giấy phép; khai thác nước dưới đất, xả nước thải vào nguồn nước khi giấy phép hết hạn; khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường không giấy phép. 9. Thiệt hại do thiên tai: Từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh xảy ra 283 điểm sạt lở, chiều dài sạt lở 28.448 m, ước kinh phí xử lý trên 167,118 tỷ đồng. Bên cạnh đó, sạt lở đã làm thiệt hại về nhà ở và vật kiên trúc của 45 hộ, thiệt hại về đất ở, đất cây trồng lâu năm của 44 hộ, thiệt hại cây ăn quả, hoa màu 19 hộ. Ngoài ra, Năm 2020 đã xảy ra mưa to, lốc xoáy làm sập hoàn toàn 23 căn nhà, 02 khu nhà xưởng và tốc mái 215 căn nhà, 02 khu nhà ăn, 01 nhà kho. Tổng giá trị thiệt hại ước tính khoảng 10,460 tỷ đồng. Đồng thời làm ngã đỗ 4.126 cây ăn quả, ước giá trị thiệt hại là 4,85 tỷ đồng. Ngay sau khi xảy ra sự việc, đã rà soát mức độ thiệt hại của các hộ dân, lập danh sách đề nghị nhận hỗ trợ từ quỹ Phòng chống thiên tai của địa phương với mức 5 triệu/nhà sập hoàn toàn, 2 triệu/nhà bị tốc mái.([1])Theo công văn số 1621/TCTK-TKQG ngày 30/11/2020 của Tổng cục Thống kê
Tăng trưởng kinh tế Tiền Giang năm 2020 đạt 0,69%
- 18/06/2024 16:34
Năm 2020, tình hình quốc tế biến động phức tạp; cạnh tranh địa chính trị, kinh tế; chiến tranh thương mại Mỹ - Trung diễn biến ngày càng căng thẳng; giá cả thế giới biến động mạnh, rủi ro trên thị trường tài chính, tiền tệ quốc tế tăng; tình hình khu vực diễn biến phức tạp; theo Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF), Tổ chức xếp hạng tín dụng quốc tế Fitch Ratings (FR) dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu giảm ở mức -4,4% và -3,7%. Bên cạnh đó, những khó khăn, hạn chế nội tại của nền kinh tế trong nước và của tỉnh, nhất là dịch Covid-19, hạn mặn ảnh hưởng lớn tới đời sống và hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp và người dân. Trước khó khăn, thách thức, với quyết tâm cao trong chỉ đạo, điều hành của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, sự giám sát chặt chẽ của Hội đồng nhân dân tỉnh, cùng với sự nỗ lực của các ngành, các cấp, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân trong tỉnh nên tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Tiền Giang vẫn tiếp tục ổn định, có những điểm sáng trong phát triển, một số ngành, lĩnh vực tăng so với cùng kỳ, nhất là về sản xuất công nghiệp, thương mại, giải ngân vốn đầu tư công, thu hút đầu tư, thành lập mới doanh nghiệp, tăng trưởng tín dụng ... tăng so với năm 2019. Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh năm 2020 ước đạt 59.549 tỷ đồng, (giá so sánh năm 2010) tăng 0,69% so với cùng kỳ, khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản giảm 2,10%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 3,48% và khu vực dịch vụ tăng 1,52% (bao gồm thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm); Nếu tách riêng thuế sản phẩm thì khu vực dịch vụ tăng 1,27 % và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 2,69% so cùng kỳ. Sáu tháng đầu năm 2020 GRDP của tỉnh giảm 1,01% so với cùng kỳ năm 2019, sáu tháng cuối năm tăng trưởng dương, tăng 2,22% và tính chung cả năm tăng 0,69% . Tuy tốc độ tăng trưởng có thấp so cùng kỳ, nhưng trong điều kiện sản xuất kinh doanh còn nhiều khó khăn, đạt được kết quả trên là quyết tâm rất lớn của lãnh đạo tỉnh nhà, các ngành, các cấp trong chỉ đạo điều hành, cộng với sự đồng lòng, phấn đấu vượt qua khó khăn của các cơ sở kinh tế và nhân dân trong tỉnh. Cơ cấu kinh tế: Năm 2020 tỷ trọng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 39,3% (kế hoạch 34,6%); khu vực công nghiệp, xây dựng chiếm 26,0 % (kế hoạch 30,1%); khu vực dịch vụ và thuế sản phẩm chiếm 34,7% (kế hoạch 35,3%). So với năm 2019 tỷ trọng trong GRDP thay đổi không đáng kể, khu vực nông lâm và thủy sản giảm 0,3 khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 0,2%, khu vực dịch vụ chiếm 28,7%, tương đương so cùng kỳ và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 0,1% so cùng kỳ. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, 6 tháng đầu năm giảm 6,85%, sáu tháng cuối năm tăng 2,40% so với cùng kỳ, cả năm 2020 giảm 2,10% so năm 2019; trong đó nông nghiệp giảm 3% (cùng kỳ tăng 2,35%). Trồng trọt trong năm chịu tác động mạnh của hạn, mặn đã ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng, chất lượng sản phẩm nông nghiệp; độ mặn cao nhất vượt qua đỉnh mặn lịch sử năm 2016 rất nhiều và ảnh hưởng đến tất cả các huyện, thị, thành trên địa bàn tỉnh; làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất vụ Đông Xuân của vùng dự án Ngọt hóa Gò Công và vườn cây ăn trái của các huyện phía Tây. Lãnh đạo địa phương đã đưa ra nhiều giải pháp cung cấp nước cho sản suất và sinh hoạt nhằm giải bớt thiệt hại cho bà con nông dân như: đắp đập bơm trữ nước ngọt, khoan giếng, thuê xà lan chở nước ... Tổng diện tích thiệt hại từ 30% trở lên trên cây lúa, màu và cây ăn trái do hạn, mặn là 19.207 ha. Trong lĩnh vực chăn nuôi, dịch tả lợn châu Phi tuy được kiểm soát tốt trên địa tỉnh nhưng còn xuất hiện ở một số địa phương. Do thiệt hại nặng trong 2019 nên người dân cẩn trọng, chưa mạnh dạn tái đàn, do còn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Các ngành chức năng đã đưa ra các giải pháp hỗ trợ nông dân tăng dần qui mô tổng đàn ở thời điểm cuối năm. Ước tính đến thời điểm hiện tại tổng đàn lợn của tỉnh đạt 268.120 con, tăng 1,2% so cùng kỳ (tăng 3.170 con). Ngành thủy sản tăng 2,16% so cùng kỳ, tăng chủ yếu sản lượng khai thác, sản lượng nuôi trồng chỉ bằng 97% so cùng kỳ. Do tác động của dịch Covid 19, xuất khẩu thủy sản trong năm gặp nhiều khó khăn, giá cá tra luôn ở mức thấp so cùng (từ 17,5 đến 18,5 ngàn đồng/kg), từ tháng 10 cho đến nay giá cá tra tăng trở lại, từ 22 đến 24 ngàn đồng/kg, người nuôi có lãi. Thời điểm cuối tháng 02 đầu tháng 3 năm 2020, có khoảng 500 ha nghêu nuôi trên địa bàn huyện Gò Công Đông và Tân Phú Đông đã xảy ra hiện tượng chết với tỷ lệ từ 20% - 60%.Giá cả các sản phẩm nông nghiệp trong kỳ lên xuống thất thường, có những thời điểm khó tiêu thụ sản phẩm, nhất là khi xảy ra dịch bệnh viêm đường ho hấp cấp Covid-19. Tuy nhiên, giá bán các sản phẩm nông nghiệp trong năm bình quân cao hơn năm 2019, nhất là giá lúa, lợn hơi. Khu vực công nghiệp - xây dựng: Khu vực công nghiệp – xây dựng tăng 3,48% so năm 2019; trong đó công nghiệp tăng 1,15%, tăng thấp hơn cùng kỳ 3,52% (cùng kỳ tăng 4,67%). Từ đầu năm đến nay, dịch bệnh Covid-19 phát sinh và lan rộng trên phạm vi toàn thế giới, tác động nghiêm trọng tới mọi mặt của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của các quốc gia, trong đó có những quốc gia có quan hệ giao thương với nước ta. Tình hình sản xuất công nghiệp trong nước nói chung, Tiền Giang nói riêng cũng bị ảnh hưởng theo, do chuỗi cung ứng nguyên liệu đầu vào bị gián đoạn và thị trường tiêu thụ bị thu hẹp đáng kể. Doanh nghiệp thu hẹp qui mô sản xuất, có một số doanh nghiệp tạm ngưng hoạt động hoặc chỉ sản xuất cầm chừng. Chỉ số sản xuất công nghiệp của một ngành giảm so cùng kỳ như: sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thuỷ sản giảm 16,8%; Sản xuất đồ uống giảm 6,21%; Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 14,89%; Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ tre nứa giảm 22,91% ... Nhưng cũng có ngành tăng khá cao như sản xuất trang phục tăng 23,36% so cùng kỳ. Trước tình hình trên, Tiền Giang đã xây dựng các kịch bản và đề ra các giải pháp cụ thể để khắc phục, thúc đẩy sản xuất. Đồng thời, triển khai thực hiện kịp thời các hoạt động hỗ trợ, giúp các doanh nghiệp tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc; tích cực thăm, hỏi, động viên doanh nghiệp và đã tổ chức Hội nghị trực tuyến với doanh nghiệp; triển khai thực hiện các chính sách của Trung ương hỗ trợ doanh nghiệp như: Nghị định số 41/2020/NĐ-CP của Chính phủ về việc gia hạn thời hạn nộp thuế và tiền thuê đất; Thông tư 01/2020/TT-NHNN ngày 13/3/2020 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam quy định về việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng của dịch Covid-19... Tính đến thời điểm hiện tại các Khu công nghiệp của tỉnh thu hút được 108 dự án đầu tư, trong đó có 77 dự án đầu tư nước ngoài. Diện tích thuê 561,48 ha/758,34 ha, đạt 74,04% diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê. Ngành xây dựng năm 2020 tăng 18,46% so cùng kỳ, đây là ngành có tốc độ tăng trưởng tốt nhất trong năm 2020. Tuy nhiên cũng gặp nhiều khó khăn nhất định do ảnh hưởng của dịch Covid 19, mức độ đầu tư xây dựng của các doanh nghiệp, hộ cá thể có thấp hơn cùng kỳ năm trước, nhưng trong lĩnh vực đầu tư công tăng cao, do trên địa bàn tỉnh có nhiều công trình trọng điểm, đẩy nhanh tiến độ thi công để chào mừng Đại hội đảng các cấp, trong đó có tuyến cao tốc Trung Lương - Mỹ Thuận. Nếu như không có dịch Covid 19 thì tốc độ tăng trưởng của ngành xây dựng năm 2020 sẽ tăng rất cao. Khu vực dịch vụ: Khu vực dịch vụ tăng 1,27 % so cùng kỳ. Do chịu ảnh hưởng nặng của dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp Covid-19, thực hiện giản cách xã hội theo Chỉ thị 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ và một phần của Nghị định số 100/2019/ NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ (quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt), hầu hết các ngành trong khu vực này đều có tốc độ tăng thấp hơn hoặc giảm so cùng kỳ. Một số ngành giảm sâu so cùng kỳ như: dịch vụ lưu trú giảm 62,18%, dịch vụ ăn uống giảm 12,96%, du lịch lữ hành và các hoạt động liên quan đến du lịch giảm 75,65%, vận tải kho bãi giảm 16,26% ... Bên cạnh đó có một số ngành vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng như: hoạt động tài chính ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,64%, hoạt động y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 8,51%... Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 2,69% so cùng kỳ. N.V.Tròn.