0273.3 872582 | dongthap@nso.gov.vn
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Tiền Giang Tháng 7 năm 2022
  •   18/06/2024 15:16

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 của tỉnh tiếp tục phát triển các hoạt động sản xuất kinh doanh có nhiều khởi sắc, hầu hết các ngành, lĩnh vực điều tăng so cùng kỳ. Kết quả thực hiện trên các lĩnh vực như sau:  I. SẢN XUẤT NÔNG LÂM NGHIỆP VÀ THỦY SẢN  1. Nông nghiệp  Cây lương thực có hạt: trong tháng gieo trồng 4.099 ha với sản lượng 1.448 tấn; ước tính đến cuối tháng 7/2022, gieo trồng được 123.358 ha, đạt 98,8% kế hoạch, giảm 3,8% so cùng kỳ, sản lượng thu hoạch 505.199 tấn giảm 4% so cùng kỳ; trong đó: cây lúa gieo trồng 121.450 ha giảm 3,9%, thu hoạch 73.123 ha giảm 4,5%, sản lượng 498.963 tấn giảm 4%.  - Cây lúa:  Vụ Hè Thu: Diện tích gieo trồng chính thức 72.258 ha giảm 3,3% so cùng kỳ, gồm vụ Xuân hè 23.931 ha, Hè thu 48.327 ha. Diện tích thu hoạch chủ yếu là lúa Xuân hè 23.931 ha, ở các huyện phía tây gồm: thị xã Cai Lậy 3.085 ha, Tân Phước 4.816 ha, Cái Bè 8.468 ha, Cai Lậy 6.529 ha và Châu Thành 1.034 ha; năng suất 62,2 tạ/ha, tăng 1,5% so cùng kỳ; sản lượng 148.883 tấn, giảm 2,5% so cùng kỳ, do diện tích gieo trồng giảm.  - Cây ngô: trong tháng gieo trồng 220 ha, thu hoạch 396 ha với sản lượng 1.448 tấn. Đến nay gieo trồng được 1.908 ha, đạt 73,5% kế hoạch, tăng 0,5% so cùng kỳ, thu hoạch 1.726 ha tương đương so cùng kỳ, năng suất quy thóc 36,1 tạ/ha tăng 1,3% so cùng kỳ với sản lượng quy thóc 6.236 tấn, đạt 66,2% kế hoạch, tăng 1,3% so cùng kỳ.  Cây rau đậu các loại: trong tháng gieo trồng 895 ha, thu hoạch 1.430 ha với sản lượng 28.727 tấn. Đến nay gieo trồng được 41.813 ha, đạt 72,2% kế hoạch, giảm 11,5% so cùng kỳ, thu hoạch 36.721 ha giảm 6,1% so cùng kỳ, năng suất đạt 204,5 tạ/ha tăng 3,4% với sản lượng 751.111 tấn, đạt 64,3% kế hoạch, giảm 2,9% so cùng kỳ do diện tích thu hoạch giảm (trong đó: rau các loại 41.583 ha giảm 11,6%, thu hoạch 36.540 ha giảm 6,2% với sản lượng 750.532 tấn giảm 2,9%).  Chăn nuôi: Ước thời điểm 01/7/2022 tổng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh như sau: đàn bò 123 ngàn con, tăng 1,5% so cùng kỳ; đàn lợn 284,5 ngàn con, tăng 1,8%; đàn gia cầm (không kể chim cút) 16,8 triệu con, giảm 5,6%. Đàn bò tăng do hộ dân tái đàn sau đợt dịch Covid-19 vừa qua, nhiều hộ dân cũng chuyển đổi canh tác từ trồng trọt sang chăn nuôi. Đàn lợn tăng do chăn nuôi lợn hồi phục do dịch bệnh kiểm soát tốt, người chăn nuôi chủ động được nguồn giống và nhu cầu thị trường tăng cao. Đàn gia cầm giảm do giá thịt hơi thấp, trong khi đó giá thức ăn chăn nuôi cao, giá con giống tăng cao.Hình 1. Tình hình chăn nuôi  *Tình hình dịch bệnh trên vật nuôi: Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Tiền Giang  Gia cầm: Trong tháng không ghi nhận bệnh. Từ đầu năm đến nay ghi nhận 01 trường hợp gà có biểu hiện bệnh cúm gia cầm với số gà bệnh là 1.180 trên tổng đàn 3.300 con. Chính quyền địa phương tiêu hủy 3.150 con chiếm 95,5% (hộ chăn nuôi tự tiêu hủy 150 con).  Gia súc:  Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: Ghi nhận 04 trường hợp heo mắc bệnh Dịch tả lợn Châu Phi trên địa bàn huyện Cái Bè và Tân Phú Đông với tổng số heo bệnh là 107 con trên tổng đàn 124 con. Số heo được tiêu hủy dưới sự giám sát của chính quyền địa phương là 67 con, khối lượng 4.367 kg. Cộng dồn đến nay (từ ngày 14/12/2021), trên địa bàn toàn tỉnh ghi nhận 113 hộ có heo mắc bệnh Dịch tả lợn Châu Phi với tổng số heo bệnh là 1.688 con trên tổng đàn 4.481 con tại 10 huyện Cái Bè; Chợ Gạo; Cai Lậy; Châu Thành; Mỹ Tho; Tân Phước; TX Gò Công; Gò Công Đông; Gò Công Tây; Tân Phú Đông. Số heo được tiêu hủy dưới sự giám sát của chính quyền địa phương là 3.556 con, trọng lượng 157.042 kg.  Bệnh viêm da nổi cục: Trong tháng ghi nhận 01 trường hợp bò có dấu hiệu điển hình của bệnh viêm da nổi cục tại huyện Chợ Gạo với 01 con bò bệnh trên tổng đàn 08 con. Từ đầu năm đến nay (từ ngày 14/12/2021) ghi nhận bò có dấu hiệu điển hình 03 huyện với 10 con bò bệnh trên tổng đàn 47 con. Chính quyền địa phương tiêu hủy 03 con với trọng lượng 304 kg.  2. Lâm nghiệp:  Tổng diện tích rừng hiện có trên địa bàn tỉnh Tiền Giang là 1.774,9 ha (không bao gồm diện tích rừng thuộc đất an ninh quốc phòng), gồm: 1.341,1 ha rừng phòng hộ và 433,8 ha rừng sản xuất. Trong tháng, giảm 7 ha rừng sản xuất do người dân khai thác cây tràm và bạch đàn dùng cho xây dựng công trình, nhà ở huyện Tân Phước. Từ đầu năm đến nay giảm 22 ha.  Ước đến hết tháng 7/2022 toàn tỉnh thực hiện trồng mới được 284,9 ngàn cây phân tán nâng tổng số cây trồng đạt 470 ngàn cây tăng 30,7% so với cùng kỳ. Nguyên nhân cây phân tán tăng cao do mùa mưa thuận lợi tạo điều kiện cho trồng cây phân tán phát triển và Đề án 1 tỷ cây xanh giai đoạn 2021-2025 theo Quyết định số 414/QĐ-SNN&PTNT ngày 28/6/2022. Cùng với đó, cây phân tán tăng do được trồng tại một số xã đạt, phấn đấu đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao ở huyện Tân Phước, Gò Công Đông, Tân Phú Đông.  3. Thủy hải sản:  Diện tích nuôi thủy sản trong tháng đạt 830 ha, tính chung 7 tháng đầu năm 2022 đạt 14.379 ha, đạt 95,1% kế hoạch, tăng 6,6% so cùng kỳ; gồm: diện tích nuôi cá đạt 3.933 ha giảm 2,9% so cùng kỳ, diện tích nuôi tôm đạt 7.426 ha tăng 15,7% so cùng kỳ; diện tích nuôi thủy sản khác đạt 3.020 ha tương đương so với cùng kỳ.  Sản lượng thủy sản thu hoạch trong tháng đạt 24.215 tấn, tính chung 7 tháng đầu năm 2022 đạt 177.256 tấn, tăng 1,2% so cùng kỳ chủ yếu là tăng sản lượng nuôi trồng; trong đó: sản lượng thu hoạch từ nuôi 99.146 tấn, tăng 5,7%; sản lượng khai thác 78.110 tấn, giảm 4,1%. Nguyên nhân sản lượng từ nuôi tăng do giá thủy sản ổn định và duy trì ở mức người nuôi có lãi, đặt biệt là giá tôm và cá tra thương phẩm từ sau Tết Nguyên đán giá cao nên người nuôi an tâm sản xuất; khai thác giảm do thời tiết trên biển những tháng đầu năm diễn biến không thuận lợi, cùng với giá xăng dầu tiếp tục tăng cao làm ảnh hưởng tiêu cực đến việc khai thác thủy sản trên biển.  II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP  Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 7/2022 giảm 3,09% so với tháng trước (ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 3,48%, cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 1,11%, sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 1,94%;) và tăng 19,69% so cùng kỳ. Các ngành chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh sản xuất tăng hơn so cùng kỳ, trong đó: Sản xuất đồ uống tăng 2,2 lần; Sản xuất trang phục tăng 3,73%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 15,02%...  Chỉ số sản xuất công nghiệp 7 tháng đầu năm 2022 tăng 7,26% so cùng kỳ; trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,36%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 6,99%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 4,37%.  Chỉ số sản xuất sản phẩm trong 7 tháng so cùng kỳ như sau:  - Có 20/43 sản phẩm tăng so cùng kỳ: Sản phẩm in khác (quy khổ 13cmx19cm) tăng 188,2%; Thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng viên tăng 183,1%; Giày, dép thể thao có mũ bằng da và có đế ngoài tăng 82,7%; Đồ chơi hình con vật hoặc sinh vật không phải hình người tăng 82,6%; Bia đóng lon tăng 50,4%; Áo khoác dài, áo khoác không tay, áo khoác có mũ, áo gió cho người lớn dệt kim hoặc đan móc tăng 44,6%; Bia đóng chai tăng 32,3%; Các sản phẩm bằng vật liệu tết bện khác tăng 29,4%; Cáp đồng trục và dây dẫn điện đồng trục tăng 11,2%; Ống và ống dẫn bằng đồng tăng 10,9%; Nước uống được tăng 5,1%; …  - Có 23/43 sản phẩm giảm so cùng kỳ: Dịch vụ sửa chữa, bảo dưỡng tàu, thuyền giảm 94,9%; Phanh và trợ lực phanh giảm 89,1%; Dịch vụ tiện các bộ phận kim loại giảm 53,2%; Máy chế biến thịt gia súc hoặc gia cầm giảm 35,7%; Cửa ra vào, cửa sổ bằng sắt, thép giảm 32,1%; Máy gặt đập liên hợp giảm 28,6%; Thức ăn cho thủy sản giảm 24,7%; Phi lê đông lạnh giảm 13,8%; Thức ăn cho gia súc giảm 7,9%; Giấy vệ sinh giảm 7%; Phân vi sinh giảm 5%;…Hình 2. Chỉ số sản xuất công nghiệp  * Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo:  - Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 7/2022 so với tháng trước giảm 4,71% và tăng 6,92% so cùng kỳ. Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cộng dồn từ đầu năm đến cuối tháng 7 năm 2022 tăng 5,73%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao: sản xuất đồ uống tăng 33,11%; dệt tăng 9,45%; sản xuất da tăng 8,95%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 33,17%; sản xuất sản phẩm cao su và plastic tăng 33,4%; Sản xuất kim loại tăng 54,64%;… Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm so cùng kỳ: sản xuất chế biến thực phẩm giảm 16,38%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ giảm 2,46%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 21,28%; sản xuất thiết bị điện giảm 27,48%,…  - Chỉ số tồn kho tháng 7/2022 so với tháng trước tăng 18,58% và so với cùng kỳ giảm 39,13%. Một số ngành có chỉ số tồn kho giảm so cùng kỳ: sản xuất chế biến thực phẩm giảm 10,78%; Sản xuất đồ uống giảm 100%; Dệt giảm 19,08%; Sản xuất trang phục giảm 93,11%; Chế biến gỗ giảm 100%; Sản xuất giấy giảm 100%; Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 43,15%;… Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so với cùng kỳ: Sản xuất da tăng 1,9%; Sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu bằng gấp 4,2 lần; Sản xuất kim loại tăng 13,97%; Sản xuất thiết bị điện tăng 43,85%; Chế biến, chế tạo khác tăng 115,64%;...  * Tình hình thu hút đầu tư và phát triển các khu - cụm công nghiệp:  - Khu công nghiệp: đến nay tỉnh đã được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương quy hoạch 7 khu công nghiệp với tổng diện tích 2.083,5 ha; trong đó có 4 khu công nghiệp đi vào hoạt động. Trong tháng, Ban Quản lý các khu công nghiệp không cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư mới. Điều chỉnh giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 03 lượt dự án tại các khu công nghiệp. Bảy tháng cấp giấy chứng nhận cho 03 dự án FDI, tổng vốn đầu tư đăng ký 23,3 triệu USD, diện tích đất cho thuê là 4,43 ha. Điều chỉnh giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 16 lượt dự án, trong đó có 01 lượt dự án điều chỉnh tăng vốn đầu tư với tổng vốn đầu tư tăng thêm là 33,0 triệu USD. Tổng vốn đầu tư đến hết tháng 7/2022 là 56,3 triệu USD, diện tích đất cho thuê thêm là 4,43 ha.  Đến cuối tháng 7/2022, tổng số dự án đầu tư tại các khu công nghiệp là 106 dự án, trong đó: có 79 dự án đầu tư nước ngoài; tổng vốn đầu tư là 2,3 tỷ USD và 4.545,8 tỷ đồng. Diện tích cho thuê của các doanh nghiệp đạt 522 ha/770 ha, chiếm tỷ lệ 67,8% diện tích các khu công nghiệp đang cho thuê.   - Cụm công nghiệp: trên địa bàn tỉnh có 27 cụm công nghiệp được quy hoạch; trong đó có 5 cụm công nghiệp đang hoạt động. Tổng số dự án đầu tư tại các cụm công nghiệp đến nay là 79 dự án (trong đó: có 7 dự án đầu tư nước ngoài) với tổng vốn đầu tư 0,2 tỷ USD và 2.306 tỷ đồng, diện tích thuê đất là 88,7 ha, tỷ lệ lắp đầy đạt 73,6%.  III. ĐẦU TƯ - XÂY DỰNG  Tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý thực hiện trong tháng là 448,8 tỷ đồng, tăng 48,9% so cùng kỳ. Bảy tháng đầu năm 2022 thực hiện 2.069,9 tỷ đồng, đạt 53,4% kế hoạch, tăng 19,9% so cùng kỳ. Ngay từ đầu năm Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã giao nhiệm vụ cụ thể cho các sở, ngành, UBND các huyện, thành phố, thị xã nâng cao trách nhiệm trong quản lý đầu tư xây dựng công trình cũng như đẩy mạnh huy động các nguồn lực của các thành phần kinh tế cho đầu tư phát triển. Tình hình đầu tư công của tỉnh đã có những chuyển biến tích cực..  Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh thực hiện 1.580,7 tỷ đồng, tăng 20,4% so cùng kỳ, chiếm 76,4% tổng số; trong đó: vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 319 tỷ đồng, tăng 31,2%, vốn xổ số kiến thiết thực hiện 767 tỷ đồng, tăng 12,7% so cùng kỳ... Các ngành các cấp yêu cầu các Ban quản lý dự án, Chủ đầu tư tập trung với cường độ cao hơn nhằm đẩy nhanh tiến độ đầu tư công, hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng, thúc đẩy phát triển kinh tế của tỉnh.  Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp huyện thực hiện 364 tỷ đồng, tăng 15,5% so cùng kỳ, chiếm 17,6% tổng số; trong đó: vốn tỉnh hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 159 tỷ đồng, tăng 0,9% so cùng kỳ... Hiện nay nguồn vốn đầu tư của huyện, thành phố, thị xã thực hiện chủ yếu nguồn vốn phân cấp, tập trung cho các công trình, dự án giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới.  Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp xã thực hiện 126 tỷ đồng, tăng 27,1% so cùng kỳ, chiếm 6% tổng số; trong đó: vốn huyện hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 80 tỷ đồng, tăng 19,7% so cùng kỳ... Đối với các công trình do Ban quản lý công trình xã làm chủ đầu tư thực hiện chủ yếu từ nguồn vốn phân cấp để thực hiện các công trình giao thông nông thôn, thủy lợi nội đồng phục vụ địa phương. Các ban quản lý công trình xã phường thị trấn đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình sớm đưa các công trình vào sử dụng nhằm phát huy hiệu quả công trình. Đồng thời phối hợp với các địa phương bàn biện pháp vận động, huy động nguồn vốn nhân dân đóng góp để tiến hành thi công các danh mục công trình đăng ký thuộc nguồn vốn phân cấp xã, phường. Các xã tập trung điều kiện đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình xây dựng nông thôn mới năm 2022 nhằm phục vụ đi lại và vận chuyển hàng hóa của người dân đồng thời phục vụ ra mắt xã nông thôn mới.Hình 3. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn sách do địa phương quản lý   IV. THƯƠNG MẠI - GIÁ CẢ - DỊCH VỤ  1. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng:  Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trong tháng thực hiện 6.275 tỷ đồng, tăng 2,5% so tháng trước và tăng 64,2% so cùng kỳ. Bảy tháng đầu năm 2022, tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thực hiện 44.339 tỷ đồng, đạt 62,4% kế hoạch, tăng 20,1% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 37.084 tỷ đồng, tăng 21,6%; lưu trú 24 tỷ đồng, tăng 36,2%; ăn uống 2.893 tỷ đồng, tăng 4,4 %; du lịch lữ hành 11 tỷ đồng, tăng 84,6%; dịch vụ tiêu dùng khác 4.327 tỷ đồng, tăng 22,6% so cùng kỳ.Hình 4. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng   Hoạt động thương mại kinh doanh trên địa bàn tỉnh diễn ra ổn định, lượng hàng hóa cung ứng cho thị trường dồi dào, đáp ứng nhu cầu mua sắm của người dân. Giá xăng dầu ở mức cao là một trong nhiều nguyên nhân tác động giá cả một số mặt hàng tiêu dùng tăng so với cùng kỳ do chi phí vận chuyển tăng người dân tiết kiệm trong chi tiêu, Từ ngày 11/7/2022 giá xăng dầu điều chỉnh giảm trong tháng không xảy ra tình trạng tăng giá đột biến.  2. Xuất - Nhập khẩu:  a. Xuất khẩu:  Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng thực hiện 281 triệu USD, giảm 34,9% so tháng trước; trong đó: kinh tế ngoài nhà nước 48,2 triệu USD, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 232,5 triệu USD. Bảy tháng xuất khẩu 2.328 triệu USD, đạt 69,5% kế hoạch, tăng 18% so cùng kỳ; trong đó: kinh tế nhà nước 4 triệu USD, giảm 84,3%; kinh tế ngoài nhà nước 419 triệu USD, tăng 39%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 1.905 triệu USD, tăng 15,9% so cùng kỳ.  Tình hình xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của tỉnh như sau:  - Thủy sản: ước tính tháng 7/2022 xuất 6.151 tấn với trị giá xuất 19,6 triệu USD. Bảy tháng xuất 63.827 tấn, tăng 21,8%, về trị giá 212,2 triệu USD, đạt 66,3% kế hoạch, tăng 86,9% so cùng kỳ.  - Gạo: ước tính tháng 7/2022 xuất 11.854 tấn với giá trị 5,8 triệu USD. Bảy tháng xuất 59.158 tấn, giảm 47,6%, về trị giá 29,4 triệu USD, đạt 21% kế hoạch, giảm 52,4% so cùng kỳ.  - Hàng dệt, may: ước tính tháng 7/2022 xuất 5.305 ngàn sản phẩm với giá trị 42,7 triệu USD. Bảy tháng xuất 61.198 ngàn sản phẩm, giảm 29,1%, về trị giá 309,9 triệu USD, đạt 51,7% kế hoạch, tăng 2,6% so cùng kỳ.  - Kim loại thường và sản phẩm (kể cả đồng): ước tính tháng 7/2022 xuất 8.642 tấn với giá trị 93 triệu USD. Bảy tháng xuất 59.760 tấn, tăng 12,4%, về trị giá 648 triệu USD, tăng 31,6% so cùng kỳ.  Ngoài các mặt hàng chủ yếu, trị giá xuất khẩu một số mặt hàng trong 7 tháng đầu năm 2022 như: giày dép các loại 424 triệu USD, tăng 24,6%; túi xách, ví, vali, mũ và ô dù 115 triệu USD, giảm 19,5%; sản phẩm từ chất dẻo 146 triệu USD, giảm 20,2% so cùng kỳ...  b. Nhập khẩu:  Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa trong tháng 7/2022 là 149 triệu USD. Bảy tháng, kim ngạch nhập khẩu 1.324 triệu USD, đạt 69,7% kế hoạch, tăng 16,7% so cùng kỳ; trong đó: kinh tế ngoài nhà nước nhập 76 triệu USD, tăng 19,6%, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài nhập 1.248 triệu USD, tăng 16,6% so cùng kỳ. Nguyên liệu nhập khẩu chủ yếu các mặt hàng như nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày 217 triệu USD, tăng 7,2%; kim loại thường khác 555 triệu USD, tăng 20,5%; vải các loại 139 triệu USD, tăng 5,7%; chất dẻo nguyên liệu 72 triệu USD, giảm 2,2% so cùng kỳ...  3. Chỉ số giá:  Thực hiện Nghị định số 38/2022/NĐ-CP từ ngày 01/7/2022 lương tối thiểu vùng tăng thêm 6% đờ số công nhân, người lao động phần nào cải thiện. Tuy nhiên, cùng với đà tăng giá xăng dầu từ ngày 20/7 trở về trước tác động giá thức ăn chăn nuôi, chi phí vận chuyển tăng, đặc biệt thời gian gần đây thị trường tiêu thụ thịt lợn của Trung Quốc tăng, nên đẩy mạnh sức mua thịt lợn từ Việt Nam, làm cho giá thịt lợn trong nước tăng lên; cùng với đó, giá thịt bò, gia cầm, trứng các loại, thuỷ sản tươi sống giá tăng theo, từ những nguyên nhân trên, đã tác động đến chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 7/2022 tăng 0,04% so tháng 6/2022 (thành thị tăng 0,03%, nông thôn tăng 0,05%) và tăng 3,28% so cùng kỳ. CPI bình quân bảy tháng đầu năm 2022 so cùng kỳ tăng 3,31%.  So với tháng 6/2022, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có 07 nhóm tăng: hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,97%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,27%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,18%; bưu chính viễn thông tăng 0,03%; giáo dục tăng 0,03%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,29% và nhóm hàng hoá và dịch vụ khác tăng 0,32%. Có 02 nhóm giảm: nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,03%; giao thông giảm 3,55%. Riêng nhóm đồ uống và thuốc lá; nhóm Thuốc, dịch vụ y tế chỉ số giá ổn định.  Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 7/2022 tăng so tháng 6/2022 do:  - Giá lương thực tăng 0,5%, hiện nay giá gạo xuất khẩu và giá vật tư phân bón, nguyên liệu đầu vào sản xuất đang ở mức cao, đóng góp vào mức tăng CPI chung tháng này ở mức 0,02% điểm phần trăm;  - Chi phí đầu vào như: giá thức ăn, phân bón … tăng nên giá thịt lợn, thịt bò, thịt gia cầm, rau xanh, củ, quả... tăng lên, tác động nhóm thực phẩm trong tháng tăng 1,39%, đóng góp vào mức tăng CPI chung ở mức 0,26% điểm phần trăm.  - Hiện nay đang vào mùa hè nhu cầu vui chơi giải trí, tham quan du lịch tăng, tác động giá các tuor du lịch tăng lên.  - Dịch vụ giao thông công cộng tăng 0,24% so với tháng trước, trong đó: dịch vụ vận tải hành khách bằng xe taxi tăng 2,64% (Thực hiện Công văn số 04/CV/MLTG 2022 ngày 22/06/2022 của Công Ty TNHH Mai Linh Tiền Giang).  Bên cạnh đó, một số mặt hàng có chỉ số giá giảm đã tác động đến chỉ số giá tháng 7/2022.  - Giá điện sinh hoạt giảm 0,05%, nước sinh hoạt giảm 0,07% so với tháng trước, do hiện nay thời tiết đang vào mùa mưa, làm giảm nóng bức hơn so tháng trước, dẫn đến nhu cầu sử dụng điện, nước của người dân giảm, tác động giá giảm nhẹ.  - Giá gas giảm 1,75%, tương ứng giảm 7.000 đồng/bình 12kg vào ngày 01/7/2022; giá dầu hoả giảm 1,33%, tương ứng giảm 3.540 đồng/lít, tác động đến nhóm gas và các loại chất đốt khác giảm 1,64% so với tháng trước, góp phần kềm hãm CPI chung tháng này ở mức 0,02% điểm phần trăm.  - Trong tháng, giá xăng dầu bình quân giảm 8,26%, tương ứng giá xăng A95-III giảm 6.800 đồng/lít, xăng sinh học E5 giảm 6.230 đồng/lít và dầu diezen 0,05S giảm 5.160 đồng/lít so tháng trước, giá xăng dầu trong nước điều chỉnh giảm vào các ngày (ngày 01/7; 11/7 và ngày 21/7/2022), tác động nhóm nhiên liệu trong tháng 7/2022 giảm 8,26%, góp phần kềm hãm CPI chung tháng này ở mức 0,32% điểm phần trăm.  Chỉ số giá vàng 24 kara Ngọc Thẩm bình quân trong tháng giảm 2,44%. Hiện nay giá vàng bình quân duy trì ở mức 5.364.000 đồng/chỉ, tăng 171.000 đồng/chỉ so cùng kỳ.  Chỉ số giá đô la Mỹ trong nước bình quân trong tháng tăng 0,59%. Hiện nay giá bình quân Đô la Mỹ duy trì ở mức 23.480 đồng/USD, tăng 369 đồng/USD so cùng kỳ.     4. Du lịch:     Khách du lịch đến trong tháng 7/2022 ước tính được 75 ngàn lượt khách, tăng 4,2% so tháng trước. Doanh thu lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ tiêu dùng khác trong tháng 7 đạt 1.144 tỷ đồng, tăng 8,4% so tháng trước và tăng 7,3 lần so cùng kỳ.  Tính chung bảy tháng đầu năm 2022, lượt khách du lịch đến Tiền Giang là 367 ngàn lượt khách, đạt 40,7% kế hoạch và tăng 39,2% so cùng kỳ; trong đó: khách quốc tế 11 ngàn lượt khách, tăng 2,9 lần so cùng kỳ. Tổng doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, dịch vụ lữ hành, hoạt động hỗ trợ du lịch dịch vụ tiêu dùng đạt 7.256 tỷ đồng, tăng 12,8% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu dịch vụ ăn uống chiếm tỷ trọng 39,9%, ước đạt 2.893 tỷ đồng, tương đương so cùng kỳ; lưu trú đạt 24 tỷ đồng, tăng 36,2% so cùng kỳ..., Hiện nay đang vào thời gian nghỉ hè, vì vậy các gia đình tranh thủ thời gian này để đi du lịch sau thời gian dài bị ảnh hưởng của dịch Covid-19; các tổ chức và cá nhân cũng tranh thủ để tổ chức và tham gia các tour đến các điểm du lịch trên cả nước, trong đó Tiền Giang là địa phương có nhiều điểm du lịch hấp dẫn cho hoạt động du lịch như: du lịch sông nước, du lịch tâm linh, du lịch sinh thái…  5. Vận tải:  Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trong tháng thực hiện 199 tỷ đồng, tăng 2,9% so tháng trước và tăng 2,3 lần so cùng kỳ. Bảy tháng thực hiện 1.212 tỷ đồng, tăng 14,9% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 308 tỷ đồng, tăng 10,7%; doanh thu vận tải hàng hóa thực hiện 779 tỷ đồng, tăng 17% so cùng kỳ, do tình hình Covid-19 được kiểm soát, các doanh nghiệp vận tải thích ứng an toàn. Doanh thu vận tải đường bộ thực hiện 561 tỷ đồng, tăng 9,7%; doanh thu vận tải đường thủy thực hiện 526 tỷ đồng, tăng 21,5%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 125 tỷ đồng, tăng 12,9% so cùng kỳ.  Vận tải hành khách trong tháng đạt 2.916 ngàn hành khách, tăng 2,5% so tháng trước và tăng 5 lần so cùng kỳ; luân chuyển 54.377 ngàn hành khách.km, tăng 2% so tháng trước và tăng 8,1 lần so cùng kỳ. Bảy tháng, vận chuyển 18.542 ngàn hành khách, tăng 14,8% so cùng kỳ; luân chuyển 315.139 ngàn hành khách.km, tăng 5,5% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 8.432 ngàn hành khách, tăng 10,4% và luân chuyển 301.690 ngàn hành khách.km, tăng 5,1% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 10.110 ngàn hành khách, tăng 18,7% và luân chuyển 13.449 ngàn hành khách.km, tăng 15,6% so cùng kỳ.  Vận tải hàng hóa trong tháng đạt 1.240 ngàn tấn, tăng 2% so tháng trước và tăng 81,7% so cùng kỳ; luân chuyển 162.979 ngàn tấn.km, tăng 2,1% so tháng trước và tăng 72,7% so cùng kỳ. Bảy tháng, vận tải 7.511 ngàn tấn hàng hóa, tăng 18,5% so cùng kỳ; luân chuyển 975.201 ngàn tấn.km, tăng 20,2% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 1.747 ngàn tấn, tăng 13,8% và luân chuyển 182.823 ngàn tấn.km, tăng 13,5% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 5.764 ngàn tấn, tăng 20% và luân chuyển 792.378 ngàn tấn.km, tăng 21,9% so cùng kỳ.  * Công tác quản lý phương tiện giao thông:                Trong tháng đăng ký mới 4.115 chiếc xe mô tô xe máy, 482 chiếc xe ô tô, 05 xe đạp điện và 06 xe khác. Tổng số xe đang quản lý trên địa bàn tỉnh 1.408.795 chiếc, trong đó mô tô xe máy 1.363.122 chiếc, xe ô tô 44.712 chiếc, 153 xe ba bánh, 296 xe đạp điện và 512 xe khác.  6. Bưu chính viễn thông:  Doanh thu trong tháng 7/2022 đạt 281 tỷ đồng, tăng 0,7% so tháng trước và tăng 4% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính đạt 27 tỷ đồng, tăng 1,1%và viễn thông 254 tỷ đồng,tăng 0,6% so tháng trước. Bảy tháng doanh thu dịch vụ bưu chính, viễn thông đạt 1.934 tỷ đồng, tăng 4,5% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính đạt 186 tỷ đồng, tăng 13,9% và viễn thông 1748 tỷ đồng, tăng 3,6% so cùng kỳ.  Tổng số thuê bao điện thoại có trên mạng đến cuối tháng 7/2022 là 111.427 thuê bao, mật độ bình quân đạt 6,3 thuê bao/100 dân (chỉ tính thuê bao cố định và di động trả sau). Thuê bao internet có trên mạng cuối tháng 7/2022 là 318.721 thuê bao, mật độ internet bình quân đạt 17,9 thuê bao/100 dân. Số lượng điện thoại cố định có dây, không dây tiếp tục giảm, do thị trường phát triển thuê bao dần bảo hòa dẫn đến khách hàng dần chuyển sang sử dụng điện thoại di động, trong đó chủ yếu là điện thoại di động trả trước. Số thuê bao điện thoại di động có sử dụng internet (3G, 4G) đến cuối tháng 7 năm 2022 là 1.444.968 thuê bao.  V.TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG  1. Tài chính:  Tổng thu ngân sách nhà nước trong tháng thực hiện 1.162,1 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn 825 tỷ đồng, thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 270 tỷ đồng. Bảy tháng, thu 11.785,8 tỷ đồng, đạt 89,3% kế hoạch, giảm 7,2% so cùng kỳ; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn thực hiện 825 tỷ đồng, đạt 66% dự toán và giảm 2,9% so cùng kỳ; thu nội địa 5.667 tỷ đồng, đạt 66,6% dự toán, giảm 1,2% so cùng kỳ (trong thu ngân sách trên địa bàn: thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 1.784 tỷ đồng, đạt 64,9% dự toán, giảm 6,9% so cùng kỳ; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 639 tỷ đồng, đạt 66,6% dự toán, giảm 1,1% so cùng kỳ...).  Tổng chi ngân sách nhà nước trong tháng 1.275 tỷ đồng; trong đó: chi đầu tư phát triển 550 tỷ đồng. Bảy tháng, chi 7.798 tỷ đồng, đạt 63,5% dự toán, tăng 3,4% so cùng kỳ; trong đó: chi đầu tư phát triển 2.565 tỷ đồng, đạt 65,1% dự toán, tăng 23,5% so cùng kỳ; chi hành chính sự nghiệp 3.960 tỷ đồng, đạt 53% dự toán và tăng 9,2% so cùng kỳ.  2. Ngân hàng:  Trong tháng, tình hình kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh ổn định góp phần tạo thuận lợi cho hoạt động của các tổ chức tín dụng. Ngành Ngân hàng tiếp tục thực hiện vai trò hỗ trợ vốn cho các thành phần kinh tế phục hồi và phát triển trên cơ sở nghiêm túc thực hiện các biện pháp phòng chống dịch Covid-19. Đến cuối tháng 6/2022, vốn huy động đạt 86.565 tỷ, tăng 7.076 tỷ, tăng 8,9% so với cuối năm 2021, tổng dư nợ cho vay của các tổ chức tín dụng (TCTD) trong tỉnh đạt 80.101 tỷ, tăng 8.210 tỷ, tăng 11,42% so với cuối năm 2021. Các tổ chức tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn cho 2.403 doanh nghiệp đang vay vốn với dư nợ 25.787 tỷ đồng, tăng 12% so với cuối năm 2021, chiếm 32,19% tổng dư nợ cho vay toàn tỉnh. Ước đến cuối tháng 7/2022, nguồn vốn huy động đạt 86.802 tỷ, tăng 9,20% so với cuối năm 2021; tổng dư nợ đạt 80.203 tỷ, tăng 11,56%.  * Nợ xấu: đến cuối tháng 6/2022 là 687 tỷ đồng, tỷ lệ 0,86%, giảm 0,19% so với cuối năm 2021. Ước đến cuối tháng 7/2022, nợ xấu là 658 tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu 0.82%, giảm 0,23% so với cuối năm 2021.  Quỹ tín dụng nhân dân: đến cuối tháng 6/2022, tổng nguồn vốn hoạt động đạt 1.400 tỷ đồng, tăng 145 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 11,6% so tháng 12/2021, trong đó vốn huy động tăng 13,1%, chiếm tỷ trọng 89% trong tổng nguồn vốn hoạt động. Dư nợ cho vay đạt 924 tỷ đồng, tăng 47 tỷ, tỷ lệ tăng 5,35%; từ đầu năm đến nay đáp ứng nhu cầu vốn cho 5.945 lượt thành viên vay vốn; trong đó, dư nợ ngắn hạn tăng 4,38% chiếm tỷ trọng 43% tổng dư nợ. Nợ xấu: số dư 3 tỷ đồng, giảm 477 triệu đồng, tỷ lệ nợ xấu 0,33%, tăng 0,07% so tháng 12/2021.  VI. KHOA HỌC CÔNG NGHỆ  Trong tháng, Hội đồng tư vấn giao trực tiếp tổ chức, cá nhân thực hiện 04 nhiệm vụ khoa học và công nghệ (KH&CN) (02 cấp tỉnh, 02 cấp cơ sở); Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định triển khai 01 nhiệm vụ cấp tỉnh; công nhận 01 nhiệm vụ KH&CN cấp cơ sở; gia hạn 06 nhiệm vụ KH&CN (03 cấp tỉnh, 03 cấp cơ sở); dừng triển khai 10 nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh đã được phê duyệt theo danh mục giai đoạn 2018-2021 (Quyết định số 1823/QĐ-UBND ngày 04/7/2022).  Đến cuối tháng 7/2022, triển khai 07 nhiệm vụ (03 cấp tỉnh, 04 cấp cơ sở); thẩm định nội dung 11 nhiệm vụ ( 05 cấp tỉnh, 06 cấp cơ sở); nghiệm thu giai đoạn 09 nhiệm vụ (04 cấp tỉnh, 05 cấp cơ sở); Quyết định triển khai 16 nhiệm vụ; Quyết định công nhận 12 nhiệm vụ và Gia hạn 10 nhiệm vụ KH&CN.  VII. CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI  1. Lao động việc làm:  Trong tháng, tư vấn việc làm 3.183 lượt lao động được tư vấn, tăng 6% so với cùng kỳ; trong đó 196 lượt lao động được tư vấn nghề, 417 lượt lao động được tư vấn việc làm, 2.437 lượt lao động thất nghiệp được tư vấn việc làm, 133 lượt lao động được tư vấn pháp luật lao động và tư vấn khác; giới thiệu việc làm cho 529 lượt lao động, tăng 8% so với cùng kỳ; đã giới thiệu cho 132 lao động có được việc làm ổn định, tăng 51,7% so với cùng kỳ. Ngoài ra, công tác người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng tư vấn cho 117 lượt lao động; 03 lao động đăng ký tham gia; 68 lao động xuất cảnh chính thức (Nhật Bản 61 người, Đài Loan 07 người), tăng 68 người so với cùng kỳ.  Tình hình lao động nghỉ việc, thất nghiệp: tiếp nhận 1.825 người lao động đăng ký hưởng trợ cấp thất nghiệp, tăng 8,4% so với cùng kỳ; 1.755 người lao động được hưởng trợ cấp thất nghiệp, giảm 31,4% so với cùng kỳ với số tiền chi trả trên 35,5 tỷ đồng; 10.252 lượt lao động thất nghiệp được tư vấn, giới thiệu việc làm và 04 người lao động thất nghiệp đăng ký học nghề.  Trong tháng, ghi nhận xảy ra 01 vụ ngừng việc tập thể tại 01 doanh nghiệp FDI trên địa bàn huyện Cái Bè. Ngày 05/7/2022, tại Công ty TNHH SBGEAR Cái Bè (vốn 100% Hàn Quốc, may ba lô, túi xách) có khoảng 397/397 lao động ngừng việc. Nguyên nhân ngừng việc do người lao động đề nghị tăng thêm phụ cấp xăng xe, chuyên cần, tay nghề vì giá xăng và các mặt hàng thiết yếu phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày tăng cao; sửa chữa nhà để xe nhằm tránh mưa, nắng gây hư xe và cải thiện bữa ăn giữa ca. Công ty cam kết nhanh chóng sửa chữa nhà để xe và cải thiện bữa ăn; việc tăng các loại phụ cấp phải xin ý kiến lãnh đạo của Tổng Công ty. Đến ngày 07/7/2022, người lao động đã quay trở lại làm việc, tình hình lao động ổn định.  2. Chính sách xã hội:  Về việc thực hiện hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19 theo Nghị quyết số 126/NQ-CP ngày 08/10/2021, Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 01/7/2021, Quyết định số 33/2021/QĐ-TTg ngày 06/11/2021, Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg ngày 07/7/2021: có 144.532 người được phê duyệt và chi hỗ trợ người lao động tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động hoặc nghỉ việc không hưởng lương, người lao động ngừng việc, người lao động chấm dứt hợp đồng lao động nhưng không đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp với số tiền hỗ trợ trên 420 tỷ đồng.  Về thực hiện chính sách hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động Quyết định số 08/2022/QĐ-TTg ngày 28/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ: tiếp nhận hồ sơ đề nghị hỗ trợ cho 18.173 người lao động của 324 lượt đơn vị với số tiền trên 21 tỷ đồng, trong đó: đã phê duyệt hỗ trợ 3.863 người lao động của 91 lượt đơn vị, với số tiền 2,8 triệu đồng; hiện đã chi hỗ trợ cho 106 người lao động (đạt 2,8% so với số lao động được duyệt hỗ trợ), với số tiền 150 triệu đồng. Đang chờ phê duyệt hỗ trợ cho 5.913 người lao động của 151 lượt đơn vị, với số tiền là 5,39 tỷ đồng; Số còn lại (8.397 người lao động của 82 lượt đơn vị) đang kiểm tra, thẩm định hồ sơ.  Trong tháng có 08/44 bệnh truyền nhiễm được ghi nhận. So với cộng dồn cùng kỳ: Về số mắc, có 05 bệnh tăng (Bệnh liên cầu lợn ở người, Sốt xuất huyết, viêm gan siêu vi C, viêm gan khác, Covid-19); 11 bệnh giảm (Lao phổi, quai bị, Rubella, sởi, tay chân miệng, thương hàn, thủy đậu, tiêu chảy, uốn ván khác, viêm gan siêu vi B, viêm não vi rút khác); 28 bệnh tương đương và hoặc không xảy ra ca mắc.  Phòng chống bệnh Sốt xuất huyết: Trong tháng ghi nhận 1.171 ca mắc, không ghi nhận ca tử vong. Nâng tổng số ca mắc từ đầu năm 2.100 ca, tăng 40,1% so với cùng kỳ, 02 ca tử vong; Phòng chống HIV/AIDS: Tính đến thời điểm hiện tại có 6.251 người nhiễm HIV, 1.819 người chuyển sang AIDS, tử vong do AIDS là 1.247 người.  Hoạt động khám chữa bệnh so với cùng kỳ: tổng số lần khám bệnh 355.378 lượt người tăng 33,7%; tổng số người điều trị nội trú 86.927 lượt người tăng 27,4%. Công suất sử dụng giường bệnh bình quân trong tháng đạt 66%.  4. Hoạt động giáo dục:  Trong tháng 7/2022 ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh đã tổ chức coi thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2022 khóa ngày 07 và 08/7/2022. Đăng ký dự thi 15.074 (giảm 1349 thí sinh so với năm 2021), 30 điểm thi được bố trí với 654 phòng thi, 19 phòng chờ; Tổ chức chấm thi từ ngày 10/7/2022 cho đến 22/7/2022; tổ chức xét tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2022 (sơ bộ); Tổ chức phúc khảo bài tuyển sinh lớp 10 năm học 2022-2023, công bố điểm chuẩn tuyển sinh lớp 10 năm học 2022-2023 với các trường có điểm chuẩn cao như: THPT chuyên (Anh 37,51 điểm; Hóa 33,25 điểm; Lý 29,50 điểm; Sinh 32,50 điểm; Tin (Toán) 38 điểm; Tin 28,40 điểm; Toán 38 điểm; Văn 38,50 điểm; Địa 30,50 điểm; Không chuyên 46,25 điểm), THPT Nguyễn Đình Chiểu 39,50 điểm; Nguyễn Đình Chiểu (MeKong) 34,75 điểm…  5. Hoạt động văn hóa - thể thao:  Hoạt động bảo tàng: trưng bày cố định các chuyên đề phục vụ khách tham quan tại Bảo tàng tỉnh vật rưng bày cố định các chuyên đề theo tiến trình lịch sử tại các di tích trực thuộc: Khảo cổ Gò Thành, Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Chiến thắng Ấp Bắc, Chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút. Hoàn thành 05 di tích được UBND tỉnh công nhận năm 2000 gửi Hội đồng khoa học Bảo tàng để họp Hội đồng thẩm định. Trong tháng, Bảo tàng tỉnh và 4 di tích trực thuộc đã đón 2.486 lượt khách.   Hoạt động văn hóa nghệ thuật: Hội diễn Tiếng hát hẹn hò 9 dòng sông năm 2022 diễn ra tại tỉnh Bến Tre, đạt 01 huy chương vàng và 02 huy chương bạc. Thực hiện 20 buổi chiếu phim tuyên truyền lưu động; 12 băng-rôn; 12 suất nhạc nước.  Hoạt động thư viện: Thư viện tỉnh đã phối hợp với Trường THPT Nguyễn Đình Chiểu tổ chức trưng bày giới thiệu hình ảnh, tác phẩm tiêu biểu của cụ Nguyễn Đình Chiểu nhân dịp tổ chức lễ khánh thành tượng danh nhân Nguyễn Đình Chiểu và khánh thành nhà truyền thống của trường. Phối hợp với Trung tâm Văn hóa, Thể thao và Truyền thanh huyện Tân Phú Đông, Gò Công Tây tổ chức phục vụ “Chuyến xe tri thức”. Phối hợp với Trung tâm Văn hoá – Thể thao và Truyền thanh thị xã Cai Lậy chấm thi “Hội thi kể chuyện sách hè” thiếu nhi năm 2022. Phối hợp với Thành đoàn thành phố Mỹ Tho tổ chức chương trình phát triển kỹ năng cho học sinh qua hoạt động đọc sách và hoạt động hè. Trong tháng, Thư viện tỉnh đã phục vụ được 4.888 lượt bạn đọc, với 21.687 lượt sách báo được đưa ra lưu hành. Hệ thống thư viện huyện, thư viện xã đã tiếp được 28.934 lượt bạn đọc, với 80.756 lượt sách báo lưu hành.  Hoạt động thể dục – thể thao trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì và đạt được nhiều thành tích nổi bật, trong đó: Đội Bóng đá U17 tham dự giải Vô địch Bóng đá U17 quốc gia năm 2022, từ ngày 6/6 – 29/6/2022, kết quả đạt hạng IV/5 đội; Đội Điền kinh tham dự giải Điền kinh Tp Hồ Chí Minh mở rộng lần thứ 29 năm 2022, từ ngày 12/6 – 21/6/2022 tại Tp Hồ Chí Minh, kết quả đạt 01 Huy chương Bạc và 01 Huy chương Đồng; Đội Cầu lông tham dự giải Cầu lông các nhóm tuổi thiếu niên quốc gia năm 2022, từ ngày 19/6 – 26/6/2022 tại Tp Hồ Chí Minh, kết quả đạt 02 Huy chương Đồng; Đội Rowing tham dự giải Đua thuyền Rowing vô địch (VĐ) các Câu lạc bộ toàn quốc năm 2022, từ ngày 16/6 – 26/6/2022 tại Đà Nẵng, kết quả thi đấu đạt 01 Huy chương Đồng; Đội Võ cổ truyền tham dự giải VĐ Trẻ và Thiếu niên Võ Cổ truyền toàn quốc thứ XXIII năm 2022, từ ngày 17/6 – 26/6/2022 tại Đồng Nai, kết quả đạt 02 Huy chương Bạc, 03 Huy chương Đồng; Đội Muay tham dự giải VĐ Muay trẻ quốc gia năm 2022, từ ngày 19/6 – 30/6/2022 tại Bà Rịa Vũng Tàu, kết quả đạt 01 Huy chương Vàng, 03 Huy chương Đồng; Đội Vovinam tham dự giải VĐ trẻ Vovinam toàn quốc lần thứ 19 năm 2022, từ ngày 21/6 – 30/6/2022 tại Quảng Nam, kết quả đạt 01 Huy chương Vàng, 03 Huy chương Đồng; Đội Cử tạ tham dự giải Vô địch Cử tạ trẻ quốc gia năm 2022, từ ngày 23/6 – 30/6/2022 tại Bạc Liêu, kết quả đạt 10 Huy chương Vàng, 04 Huy chương Bạc, 01 Huy chương Đồng; Đội Kickboxing tham dự giải VĐ trẻ toàn quốc môn Kickboxing năm 2022, từ ngày 29/6 – 10/7/2022, kết quả đạt 01 Huy chương Bạc, 02 Huy chương Đồng.  6. Tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội (Theo báo cáo của ngành công an):  Trong tháng, tội phạm về trật tự xã hội ghi nhận 56 vụ, tăng 06 vụ so với tháng 6/2022, làm chết 01 người, bị thương 11 người, tài sản thiệt hại khoảng 1,6 tỷ đồng. Khám phá 34 vụ đạt 60,7%, bắt xử lý 65 đối tượng, thu hồi tài sản khoảng 545 triệu đồng, cộng dồn 7 tháng năm 2022 ghi nhận 349 vụ; khám phá 259 vụ đạt 74,2%, xử lý 353 đối tượng. Phát hiện, xử lý 19 tụ điểm cờ bạc, 139 đối tượng liên quan; 10 vụ với 12 đối tượng có hành vi tàng trữ, mua bán, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và xử lý vi phạm hành chính 84 đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy; 13 vụ với 15 đối tượng vi phạm pháp luật về kinh tế.  7. Trật tự an toàn giao thông (Theo báo cáo của ngành công an):  Tai nạn giao thông đường bộ:Tai nạn giao thông trong tháng xảy ra 31 vụ, giảm 11 vụ so tháng trước và giảm 15 vụ so cùng kỳ, làm chết 22 người, giảm 06 người so tháng trước và giảm 05 người so cùng kỳ, bị thương 16 người, giảm 03 người so tháng trước và giảm 06 người so cùng kỳ. Nâng tổng số vụ từ đầu năm đến nay 231 vụ, làm chết 165 người và bị thương 106 người. Ước thiệt hại tài sản chung trị giá khoảng 3.077 triệu đồng. Các nguyên nhân gây nên tai nạn giao thông chủ yếu vẫn do ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông như: Không làm chủ tốc độ; đi không đúng phần đường, làn đường; uống rượu say; lỗi do người đi bộ; chuyển hướng không đúng quy định; vượt không đảm bảo an toàn…  Tai nạn giao thông đường thủy:Trong tháng không xảy ra vụ tai nạn tương đương so tháng trước và giảm 01 vụ so cùng kỳ. Từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh xảy ra 02 vụ tai nạn, làm 02 người chết, không phát sinh người bị thương.  8. Tình hình cháy nổ, môi trường:  Trong tháng trên địa bàn tỉnh ghi nhận 02 vụ cháy xảy ra tại huyện Tân Phước và Châu Thành, tài sản thiệt hại khoảng 27 tỷ đồng; nguyên nhân xác định ban đầu do chập điện. Tổng số vụ cháy 7 tháng năm 2022 là 10 vụ, giảm 11 vụ so cùng kỳ, thiệt hại 30,5 tỷ đồng. Về lĩnh vực môi trường, không xảy ra vụ vi phạm về môi trường, giảm 02 vụ so với cùng kỳ. Từ đầu năm đến nay là 12 vụ, giảm 5 vụ so với cùng kỳ với số tiền xử phạt trên 1,7 tỷ đồng.

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Tiền Giang 6 tháng đầu năm 2022
  •   18/06/2024 15:19

I. TÌNH HÌNH CHUNG  Theo Ngân hàng thế giới (WB), tăng trưởng thương mại toàn cầu được dự báo sẽ chậm lại, đạt 4% trong năm 2022 do cuộc xung đột ở U-crai-na tiếp tục phá vỡ chuỗi giá trị toàn cầu. Tăng trưởng thương mại hàng hóa chậm lại trong nửa đầu năm 2022 do chuỗi cung ứng tiếp tục bị ảnh hưởng bởi tác động kéo dài của đại dịch, gồm gián đoạn ở các cảng lớn của châu Á và tình trạng phong tỏa ở các thành phố lớn của Trung Quốc.  Kinh tế-xã hội của cả nước 6 tháng đầu năm 2022 diễn ra trong bối cảnh kinh tế đang trên đà hồi phục, các hoạt động sản xuất được đẩy mạnh, chuỗi cung ứng dần được khơi thông. Tuy nhiên, xung đột giữa Nga và U-crai-na đã làm cho giá dầu thô, khí tự nhiên và khí tự nhiên hóa lỏng tăng mạnh, giá cả nguyên liệu đầu vào, hàng hóa thiết yếu phục vụ sản xuất và tiêu dùng tăng, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của nhân dân.  Trong tỉnh, dịch covid-9 cơ bản được kiểm soát; Với quyết tâm phục hồi và phát triển kinh tế để không lỡ nhịp với đà phục hồi kinh tế cả nước, đồng thời đạt được mục tiêu Nghị quyết của Tỉnh ủy và Hội đồng nhân dân tỉnh đã đề ra. Ủy ban nhân dân tỉnh và các ngành, các cấp đã nghiêm túc triển khai thực hiện Nghị quyết số 34/NQ-HĐND ngày 08/12/2021 của Hội đồng nhân dân dân tỉnh; Kế hoạch hành động số 20/KH-UBND ngày 19/01/2022 của UBND tỉnh thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 08/01/2022 của Chính phủ và các Nghị quyết của HĐND tỉnh về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2022. Cùng với đó, sự ủng hộ của Nhân dân và niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp, các giải pháp phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh đã phát huy hiệu quả, tạo động lực khôi phục và phát triển kinh tế. Kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2022 của tỉnh đã đạt được nhiều kết quả tích cực, hầu hết các ngành, lĩnh vực có xu hướng phục hồi và tăng trưởng trở lại. Kết quả đạt được của các ngành, lĩnh vực 6 tháng đầu năm 2022 như sau:  II. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊU KINH TẾ  1. Tăng trưởng kinh tế (GRDP):  Kinh tế của tỉnh sáu tháng đầu năm 2022, đang trên đà phục hồi và tăng trưởng tích cực, các ngành các cấp tập trung thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế khôi phục sản xuất. Các hoạt động văn hóa, xã hội, vui chơi giải trí dần được khởi sắc trở lại; công tác phòng, chống dịch bệnh Covid-19 thực hiện tốt theo đúng tinh thần chỉ đạo của Trung ương, đến thời điểm hiện tại đã khống chế được dịch, bệnh.  Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh 6 tháng đầu năm ước đạt 29.781 tỷ đồng (giá so sánh 2010), tăng 4,10% so cùng kỳ (quí 1 tăng 2,41%, quí 2 tăng 5,81%), tăng cao hơn cùng kỳ 1,94%; khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,84%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,43% và khu vực dịch vụ tăng 3,26 % (bao gồm thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm); Nếu tách riêng thuế sản phẩm thì khu vực dịch vụ tăng 4,4 % và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm giảm 1,9% so cùng kỳ.  Trong 4,10% tăng trưởng thì khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản đóng góp 1,43%, khu vực công nghiệp và xây dựng đóng góp 1,55%, khu vực dịch vụ đóng góp 1,24% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm làm giảm 0,12%. Tuy tốc độ tăng trưởng còn thấp so với kế hoạch cả năm (tăng từ 6 đến 7%), nhưng đạt được kết quả trên là quyết tâm rất lớn của lãnh đạo địa phương, các ngành, các cấp trong chỉ đạo điều hành, cộng với sự đồng lòng, phấn đấu vượt qua khó khăn của các cơ sở kinh tế và nhân dân trong tỉnh. GRDP nếu tính theo giá hiện hành đạt 52.479 tỷ đồng.   Cơ cấu kinh tế: Tiếp tục chuyển dịch theo định hướng, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 38,2% (cùng kỳ 39,3%); khu vực công nghiệp, xây dựng chiếm 27,9% (cùng kỳ 26,5%); khu vực dịch vụ chiếm 28,1% (cùng kỳ 28%); thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 5,8% (cùng kỳ 6,2%).  2. Sản xuất nông - thủy sản:  2.1. Nông nghiệp:  * Trồng trọt:  Cây lương thực có hạt: 6 tháng đầu năm 2022, gieo trồng được 116.559 ha, đạt 93,9% kế hoạch, tăng 2,2% so cùng kỳ; sản lượng thu hoạch 498.685 tấn, đạt 65,1% kế hoạch, giảm 5,4% so cùng kỳ; trong đó: cây lúa gieo sạ 114.871 ha tăng 3% so cùng kỳ, thu hoạch 73.123 ha giảm 4,5% so cùng kỳ với sản lượng 493.897 tấn giảm 5% so cùng kỳ.  Cây rau đậu các loại: Đến nay gieo trồng 37.503 ha tăng 0,2% so cùng kỳ, thu hoạch 35.291 ha tăng 0,2% với sản lượng 722.384 tấn tăng 3,9% so cùng kỳ; trong đó: rau các loại 37.299 ha tăng 0,1%, thu hoạch 35.127 ha tăng 0,1% với sản lượng 721.860 tấn, tăng 3,9% so cùng kỳ.  * Chăn nuôi: Ước thời điểm 01/06/2022 tổng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh như sau: đàn bò 124,2 ngàn con, tăng 2,4% so cùng kỳ; đàn lợn 280,2 ngàn con, tăng 3,3% so cùng kỳ; đàn gia cầm 16,9 triệu con, giảm 3% so cùng kỳ.   2.2. Thủy hải sản:  Sáu tháng đầu năm 2021 toàn tỉnh thả nuôi 13.549 ha, tăng 1,2% so cùng kỳ, trong đó diện tích nuôi cá đạt 3.677 ha, giảm 9,5% so cùng kỳ, diện tích nuôi tôm đạt 6.852 ha, tăng 8,6% so cùng kỳ, thủy sản khác đạt 3.020 ha, tương đương so cùng kỳ.  Sản lượng thu hoạch 153.042 tấn, tăng 4,7% so cùng kỳ; trong đó: sản lượng thu hoạch từ nuôi 80.444 tấn, tăng 9,3% so cùng kỳ; sản lượng khai thác 72.598 tấn, giảm 0,1% so cùng kỳ  3. Sản xuất công nghiệp:  Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 6 tháng đầu năm 2022 tăng 5,6% so cùng kỳ; trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,7%; ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 5,17%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,1%.  Sản phẩm sản xuất công nghiệp 6 tháng năm 2022: Có 20/43 sản phẩm tăng so cùng kỳ: thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng viên tăng 174,3%; các bộ phận của bi, bánh răng, hộp số, các bộ phận điều khiển và truyền chuyển động khác tăng 155,8%; giày, dép thể thao có mũ bằng da và có đế ngoài tăng 79,6%; bia đóng lon tăng 39,2%;…Có 23/43 sản phẩm giảm so cùng kỳ: dịch vụ sửa chữa, bảo dưỡng tàu, thuyền giảm 94,5%; phanh và trợ lực phanh giảm 88,1%; máy gặt đập liên hợp giảm 33,3%;…    4. Chỉ số giá:  Do ảnh hưởng giá xăng dầu thế giới, tác động giá xăng, dầu, giá phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, giá thức ăn chăn nuôi và giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào khác tăng theo; giá điện sinh hoạt tăng theo nhu cầu tiêu dùng là những nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6/2022 tăng 0,5% so tháng 5/2022 và tăng 4,23% so cùng kỳ. CPI bình quân sáu tháng đầu năm 2022 so cùng kỳ tăng 3,32%.  So với tháng 5/2022, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có 7 nhóm tăng: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,43%; Đồ uống và thuốc lá tăng 0,26%; May mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,06%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,31%; Giao thông tăng 3,75%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,09% và Hàng hóa dịch vụ khác tăng 0,11%. Có 03 nhóm có chỉ số giá ổng định: Thuốc và dịch vụ y tế; Nhóm Giáo dục và nhóm Bưu chính viễn thông. Riêng nhóm, Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,17%.  Chỉ số giá vàng 24 kara Ngọc Thẩm bình quân trong tháng giảm 2,24%. Hiện nay giá vàng bình quân duy trì ở mức 5.498.000 đồng/chỉ tăng 223.000 đồng/chỉ so với cùng kỳ.  Chỉ số giá đô la Mỹ trong nước bình quân trong tháng tăng 0,8%. Hiện nay giá bình quân Đô la Mỹ duy trì ở mức 23.343 đồng/USD tăng 233 đồng/USD so với cùng kỳ.  5. Thương mại, dịch vụ:                                               Hoạt động thương mại trên địa bàn tỉnh diễn ra ổn định, lượng hàng hóa cung ứng cho thị trường dồi dào, các đơn vị phân phối lớn đã chủ động dự trữ hàng hóa thiết yếu và hàng hóa khác phục vụ nhu cầu mua sắm của người dân trong dịp Tết Nguyên đán Nhâm Dần 2022. Giá cả thị trường được kiểm soát, mặc dù một vài mặt hàng có tăng hoặc giảm giá nhưng ở mức biến độ không lớn. Từ đầu năm đến nay giá xăng dầu nhiều lần tăng giảm hiện giá xăng dầu đang ở mức cao như: xăng RON 95-III hiện ở mức 32.370 đồng/lít; dầu DO 0,05S hiện ở mức 29.020 đồng/lít. Do giá xăng dầu tăng mạnh, làm cho giá cả hàng hóa, dịch vụ tăng. Trong thời gian tới, nếu giá xăng dầu tiếp tục ở mức cao thời gian dài, sẽ ảnh hưởng đáng kể đến thị trường cung cầu hàng hóa trên địa bàn tỉnh.  5.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ:  Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng sáu tháng đầu năm 2022 đạt 38.147 tỷ đồng, đạt 53,7% kế hoạch, tăng 14,9% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 31.960 tỷ đồng, tăng 19,2%; lưu trú, ăn uống 2.448 tỷ đồng, giảm 15,5%; du lịch lữ hành 8 tỷ đồng, tăng 30,7%; dịch vụ tiêu dùng 3.731 tỷ đồng, tăng 7,4% so cùng kỳ. Nếu loại trừ yếu tố giá, tổng mức bán lẻ hàng hóa dịch vụ tiêu dùng 6 tháng đầu năm 2022 dự kiến tăng 11,24% so cùng kỳ.  5.2. Xuất nhập khẩu  Giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng hóa 6 tháng đầu năm 2022 ước 2.073,9 triệu USD, đạt 61,9% kế hoạch, tăng 20,8% so cùng kỳ; trong đó: kinh tế nhà nước 4,1 triệu USD, tăng 10,7%; kinh tế ngoài nhà nước 367,8 triệu USD, tăng 41,3%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 1.702 triệu USD, tăng 17,2% so cùng kỳ.  Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa 6 tháng đầu năm 2022 thực hiện 1.214 triệu USD, đạt 63,9% kế hoạch, tăng 20,9% so cùng kỳ; trong đó: kinh tế ngoài nhà nước 76,5 triệu USD, tăng 48,5%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 1.137,5 triệu USD, tăng 19,4% so cùng kỳ.  5.3. Vận tải kho bải  Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải 6 tháng đầu năm 2022 thực hiện 1.010,4 tỷ đồng, tăng 7,8% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 262,8 tỷ đồng, giảm 0,3% so cùng kỳ; vận tải hàng hóa thực hiện 644,4 tỷ đồng, tăng 11,8% so cùng kỳ. Vận tải đường bộ thực hiện 471,2 tỷ đồng, tăng 0,4%; vận tải đường thủy thực hiện 435,9 tỷ đồng, tăng 17,6%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 103,3 tỷ đồng, tăng 6,5% so cùng kỳ.  Vận chuyển hành khách 6 tháng đầu năm 2022 đạt 15.855 ngàn hành khách, tăng 5,5% và luân chuyển 264.029 ngàn hành khách.km, giảm 7,9% so cùng kỳ; trong đó: vận chuyển đường bộ 6.978 ngàn hành khách, giảm 3% và luân chuyển 251.917 ngàn hành khách.km, giảm 8,7% so cùng kỳ; vận chuyển đường thủy 8.877 ngàn hành khách, tăng 13,3% và luân chuyển 12.112 ngàn hành khách.km, tăng 11,8% so cùng kỳ.  Vận tải hàng hóa 6 tháng đầu năm 2022 đạt 6.185 ngàn tấn, tăng 13,7% và luân chuyển 797.554 ngàn tấn.km, tăng 15,7% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ thực hiện 1.455 ngàn tấn, tăng 6,9% và luân chuyển được 151.334 ngàn tấn.km, tăng 6,8% so cùng kỳ; vận tải đường thủy thực hiện 4.730 ngàn tấn, tăng 15,9% và luân chuyển 646.220 ngàn tấn.km, tăng 18% so cùng kỳ.  5.4. Du Lịch  Từ đầu năm 2022, Tiền Giang tập trung triển khai Kế hoạch 378/KH-UBND ban hành ngày 15-12-2021 về phục hồi hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Tiền Giang trong điều kiện thích ứng an toàn Covid-19. Ngoài ra lãnh đạo UBND tỉnh Tiền Giang và các sở ban ngành tiến hành khảo sát thực tế tại các khu, điểm du lịch trên địa bàn tỉnh; hỗ trợ và hướng dẫn thực hiện chỉnh trang cơ sở vật chất, cảnh quan môi trường, nâng cao chất lượng dịch vụ phục vụ khách du lịch. Ước tính 6 tháng đầu năm 2022, lượng khách du lịch đến tỉnh 287 ngàn lượt, đạt 31,9% kế hoạch, tăng 9% so cùng kỳ; trong đó khách quốc tế 8 ngàn lượt, tăng 2,2 lần. Doanh thu hoạt động lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành 2.455,6 tỷ đồng, giảm 15,4% so cùng kỳ; trong đó doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống chiếm 99,7%.  6. Tài chính - Ngân hàng:  Thu ngân sách nhà nước: 6 tháng đầu năm 2022 thu được 10.896 tỷ đồng; trong đó:thu ngân sách trên địa bàn thực hiện 4.941 tỷ đồng, đạt 55,9% dự toán và giảm 6,6% so cùng kỳ; thu nội địa 4.814 tỷ đồng, đạt 56,5% dự toán, giảm 6,3% so cùng kỳ. Được sự chỉ đạo xuyên suốt của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân trong việc tháo gỡ các khó khăn cho doanh nghiệp nên một số khoản thu ngân sách đạt được kết quả đáng khích lệ các khoản thu lớn đều đạt trên 50% dự toán năm  Chi ngân sách nhà nước:  Tổng chi ngân sách 6 tháng đầu năm 2022 là 6.943 tỷ đồng, đạt 56,5% kế hoạch và tăng tăng 13,2% so cùng kỳ; trong đó: chi đầu tư phát triển 2.012 tỷ đồng, đạt 51,1% dự toán, tăng 26,4%; chi hành chính sự nghiệp 3.642 tỷ đồng, đạt 48,4% dự toán và tăng 19,1% so cùng kỳ. Trong đó, tỉnh bố trí kinh phí phòng, chống dịch Covid-19 cho các đơn vị tuyến tỉnh là 60 tỷ đồng; bổ sung kinh phí tổ chức tiêm vắc xin phòng Covid-19 năm 2022 cho các huyện, thành, thị khoảng 11 tỷ đồng; kinh phí hỗ trợ người dân gặp khó khăn do dịch Covid-19 năm 2022 khoảng 287 tỷ đồng.  Ngân hàng: Đến cuối tháng 5/2022, vốn huy động đạt 84.761 tỷ đồng, tăng 6,6% so với cuối năm 2021. Tổng dư nợ toàn tỉnh đạt 78.726 tỷ đồng, tăng 9,5% so với cuối năm 2021. Ước tính đến cuối tháng 6/2022 vốn huy động đạt 84.926 tỷ đồng, tăng 5.437 tỷ, tăng 6,8%; tổng dư nợ 78.894 tỷ đồng, tăng 7.002 tỷ đồng, tăng 9,7% so với cuối năm 2021.  7. Đầu tư và Xây dựng:  Vốn đầu tư toàn xã hội ước thực hiện 16.278 tỷ đồng, đạt 38,9% kế hoạch, tăng 3% so cùng kỳ; trong đó: vốn đầu tư của dân cư và tư nhân 11.779 tỷ đồng, tăng 6,9%, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 1.366 tỷ đồng, giảm 13,3%, vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước 1.960 tỷ đồng, tăng 13,1% so cùng kỳ.  Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện 6 tháng đầu năm 2022 được 1.604,5 tỷ đồng, đạt 41,4% kế hoạch, tăng 12,6% so cùng kỳ; gồm có: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 1.227,4 tỷ đồng, tăng 13%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện 293,6 tỷ đồng, tăng 10,9%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 83,5 tỷ đồng, giảm 12,7% so cùng kỳ.  8. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp:  Trong 6 tháng năm 2022, tiếp tục triển khai các giải pháp hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp như: tháo gỡ kịp thời các khó khăn, vướng mắc của các doanh nghiệp trong quá trình phục hồi sản xuất, kinh doanh.  Theo số liệu báo cáo của Sở Kế hoạch và Đầu tư, tổng số doanh nghiệp thành lập mới, ước thực hiện sáu tháng đầu năm 2022 là 498 doanh nghiệp, đạt 74% kế hoạch và tăng 43% so cùng kỳ; tổng vốn đăng ký 3.500 tỷ đồng, tăng 37,9% so cùng kỳ; Vốn đăng ký bình quân là 7 tỷ đồng/doanh nghiệp. Có 350 đơn vị trực thuộc đăng ký hoạt động (36 chi nhánh, 13 văn phòng đại diện, 301 địa điểm kinh doanh); hoàn tất thủ tục giải thể 48 doanh nghiệp. Ước thực hiện đến cuối tháng 6/2022, toàn tỉnh có khoảng 6.430 doanh nghiệp hoạt động  Tổng số hộ kinh doanh đăng ký thành lập mới là 3.800 hộ, tăng 74% so cùng kỳ. Ước thực hiện đến cuối tháng 6/2022, hộ kinh doanh trên địa bàn tỉnh có khoảng 65.400 hộ kinh doanh.  III. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI  1. Lao động, giải quyết việc làm:    Trong 6 tháng đầu năm 2022 tư vấn, giới thiệu việc làm cho 14.601 lượt lao động, nữ là 9.761 lượt lao động (chiếm 66,9%), giảm 3% so với cùng kỳ; trong đó 441 lượt lao động được tư vấn nghề (chiếm 40,4%), 1.358 lượt lao động được tư vấn việc làm (chiếm 56,2%), 12.414 lượt lao động thất nghiệp được tư vấn việc làm (chiếm 69,4%), 388 lượt lao động được tư vấn pháp luật lao động và tư vấn khác (chiếm 54,1%); giới thiệu việc làm cho 1.157 lượt lao động (chiếm 67,7%), giảm 21,8% so với cùng kỳ; giới thiệu cho 353 lao động có được việc làm ổn định, giảm 21,9% so cùng kỳ.  Lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng: tư vấn cho 534 lượt lao động, tăng 12,2% so với cùng kỳ; 10 lao động đăng ký tham gia đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, giảm 47,4% so với cùng kỳ; 183 lao động xuất cảnh chính thức: Nhật Bản 168 người, Hàn Quốc 01 người, Đài Loan 12 người và thị trường khác 02 người), tăng 33,6% so cùng kỳ.  Lao động nghỉ việc, thất nghiệp tiếp nhận 13.833 người lao động đăng ký hưởng trợ cấp thất nghiệp, tăng 50% so với cùng kỳ; 12.646 người lao động được quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp, tăng 47,5% so với cùng kỳ, với tổng số tiền chi trả 237,5 tỷ đồng; 43.510 lượt lao động thất nghiệp được tư vấn, giới thiệu việc làm và có 05 người lao động thất nghiệp đăng ký học nghề, tăng 6,8% so cùng kỳ.  2. Đời sống dân cư và an sinh xã hội:  Trong 6 tháng đầu năm 2022, tổ chức thăm, tặng quà, trợ cấp cho người có công, người cao tuổi, hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo, hộ khó khăn do ảnh hưởng của dịch Covid-19, lực lượng y tế tham gia phòng, chống dịch Covid-19 và các đơn vị tập trung trong dịp Tết Nhâm Dần năm 2022, trong đó: Tặng quà của Chủ tịch nước cho người có công với cách mạng, số lượng 38.194 người, số tiền trên 11,6 tỷ đồng; Trợ cấp của tỉnh là 27,1 tỷ đồng, với số lượng 69.460 người; 15 Đoàn Ban Thường vụ Tỉnh ủy thăm 80 hộ gia đình chính sách tiêu biểu và 54 đơn vị tập trung, kết hợp với thăm người cao tuổi và trao quà cho hộ nghèo, với số tiền 0,7 tỷ đồng. Ngoài ra, các đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy còn kết hợp thăm tặng quà lực lượng y tế làm nhiệm vụ phòng, chống dịch Covid-19 ở cấp xã, huyện với số tiền trên 1 tỷ đồng.  3. Hoạt động y tế:  Trong 6 tháng đầu năm 2022 có 10/44 bệnh truyền nhiễm được ghi nhận. So với cùng kỳ: 03 bệnh tăng (Bệnh liên cầu lợn ở người, Viên gan vi rút khác, bệnh covid-19); 13 bệnh giảm (lao phổi, quai bị, Rulella, sởi, Sốt xuất huyết, tay chân miệng, thương hàn, thủy đậu, tiêu chảy, uốn ván khác, viêm gan siêu vi B, viêm gan siêu vi C, viêm não vi rút khác); 28 bệnh tương đương và không xảy ra ca mắc. Tử vong do bệnh truyền nhiễm 687 trường hợp (Covid-19: 685; sốt xuất huyết: 02,Thị xã Cai Lậy 01, huyện Cái Bè 01 trường hợp); Phòng chống bệnh Sốt xuất huyết trong 6 tháng ghi nhận 909 ca mắc sốt xuất huyết Dengue, giảm 28,6% so với cùng kỳ, tử vong 02 trường hợp; Phòng chống HIV/AIDS tính đến nay toàn tỉnh có 6.215 người nhiễm HIV; 1.819 người chuyển sang AIDS; 1.247 người tử vong do AIDS; Tổng số lần khám bệnh là 1.622.593 lượt, giảm 32,1%; Tổng số lượt người điều trị nội trú là 70.995 lượt người, giảm 33,8%; Công suất sử dụng giường bệnh bình quân trong 6 tháng đạt 52,3%.  4. Trật tự an toàn giao thông: (Theo báo cáo của ngành Công an).  Giao thông đường bộ: Tổng số vụ từ đầu năm đến nay 200 vụ, làm chết 143 người và bị thương 90 người. Thiệt hại tài sản ước tính trị giá trên 2,7 tỷ đồng.  Giao thông đường thủy: Từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh xảy ra 02 vụ giảm 01 vụ so cùng kỳ, chết 02 người tăng 02 vụ so cùng kỳ, không phát sinh về người bị thương.  5. Tình hình cháy nổ, môi trường:  Cháy nổ, 6 tháng đầu năm 2022, ghi nhận 08 vụ cháy, giảm 12 vụ so cùng kỳ, thiệt hại tài sản 3,5 tỷ đồng.  Về lĩnh vực môi trường, 6 tháng cơ quan chức năng đã xử lý 12 vụ vi phạm môi trường, giảm 03 vụ so cùng kỳ năm trước.  IV. MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 2022  Để đảm bảo thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội theo kế hoạch năm 2022 đã đề ra từ đầu năm, trong 6 tháng cuối năm 2022 cần có sự nỗ lực, quyết liệt hơn nữa của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh trong lãnh và chỉ đạo, các ngành, các cấp, địa phương chủ động đề ra các giải pháp, vượt qua khó khăn, thách thức, khai thác tốt những cơ hội để phục hồi, phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội. Một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm cần thực hiện như sau:   Một là, tiếp tục thực hiện hiệu quả nghị quyết số 128/NQ-CP quy định tạm thời “thích ứng an toàn linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch covid-19” triển khai đồng bộ, quyết liệt hiệu quả các nhiệm vụ trong nghị quyết số 11/NQ-CP về chương trình hỗ trợ phục hồi và phát triển kinh tế năm 2022-2023; đặc biệt giải ngân hết 100% số vốn đầu tư công được giao tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế.  Hai là,kiểm soát giá cả thị trường bảo đảm nguồn cung, lưu thông hàng hóa. Theo dõi chặt chẽ diễn biến giá các mặt hàng thiết yếu nhất là mặt hàng xăng dầu, xây dựng các phương án điều tiết nguồn cung, hạn chế lược tăng giá đột biến nhằm giảm thiểu ảnh hưởng đến lạm phát và đờ sống nhân dân  Ba là, đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình trên địa bàn; kiểm tra, giám sát trong quá trình thực hiện, nhằm đảm bảo tiến độ và hiệu quả theo kế hoạch đề ra. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương, đề cao trách nhiệm của người đứng đầu, gắn trách nhiệm của tập thể, cá nhân liên quan trong việc bảo đảm tiến độ thực hiện, giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công năm 2022. Tiếp tục phối hợp nhà đầu tư xử lý những khó khăn, vướng mắc, đẩy mạnh các giải pháp bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, hoàn thành công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.   Bốn là, tiếp tục triển khai thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp như: môi trường đầu tư, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tiếp tục rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính liên quan đến nhà đầu tư, doanh nghiệp, thúc đẩy khởi nghiệp, tổ chức Ngày hội khởi nghiệp tỉnh, xây dựng Đề án hỗ trợ khởi nghiệp của tỉnh; phát triển hộ kinh doanh hoạt động theo hình thức doanh nghiệp....   Năm là, Tiếp tục triển khai thực hiện các chính sách hỗ trợ phục hồi doanh nghiệp theo Nghị quyết 11/NQ-CP ngày 30/01/2022 của Chính phủ; hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động theo Quyết định số 08/2022/QĐ-TTg ngày 28/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ....; tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp tại Kế hoạch hành động số 262/KH-UBND ngày 27/8/2021 thực hiện Nghị quyết số 07-NQ/TU ngày 26/7/2021 của Tỉnh ủy về lãnh đạo nâng cao hiệu quả công tác hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đến năm 2025 như tập trung cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh, cải cách hành chính, thúc đẩy khởi nghiệp, chuyển đổi hộ kinh doanh thành doanh nghiệp,...

Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh Tiền Giang 6 tháng đầu năm 2022 tăng 4,1% so cùng kỳ
  •   18/06/2024 15:20

Kinh tế của tỉnh sáu tháng đầu năm 2022, đang trên đà phục hồi và tăng trưởng tích cực, các ngành các cấp tập trung thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế khôi phục sản xuất. Các hoạt động văn hóa, xã hội, vui chơi giải trí dần được khởi sắc trở lại; công tác phòng, chống dịch bệnh Covid-19 thực hiện tốt theo đúng tinh thần chỉ đạo của Trung ương, đến thời điểm hiện tại đã khống chế được dịch, bệnh.  Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh 6 tháng đầu năm ước đạt 29.781 tỷ đồng (giá so sánh 2010), tăng 4,1% so cùng kỳ (quí 1 tăng 2,41%, quí 2 tăng 5,81%), tăng cao hơn cùng kỳ 1,94%; khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,84%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,43% và khu vực dịch vụ tăng 3,26 % (bao gồm thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm); Nếu tách riêng thuế sản phẩm thì khu vực dịch vụ tăng 4,4 % và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm giảm 1,9% so cùng kỳ.  Trong 4,1% tăng trưởng thì khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản đóng góp 1,43%, khu vực công nghiệp và xây dựng đóng góp 1,55%, khu vực dịch vụ đóng góp 1,24% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm làm giảm 0,12%. Tuy tốc độ tăng trưởng còn thấp so với kế hoạch cả năm (tăng từ 6 đến 7%), nhưng đạt được kết quả trên là quyết tâm rất lớn của lãnh đạo địa phương, các ngành, các cấp trong chỉ đạo điều hành, cộng với sự đồng lòng, phấn đấu vượt qua khó khăn của các cơ sở kinh tế và nhân dân trong tỉnh. GRDP nếu tính theo giá hiện hành đạt 52.479 tỷ đồng.   Cơ cấu kinh tế: Tiếp tục chuyển dịch theo đúng định hướng, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 38,2% (cùng kỳ 39,3%); khu vực công nghiệp, xây dựng chiếm 27,9% (cùng kỳ 26,5%); khu vực dịch vụ chiếm 28,1% (cùng kỳ 28%); thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 5,8% (cùng kỳ 6,2%).  Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản: 6 tháng đầu năm 2022 tăng 3,84% so với 6 tháng đầu năm 2021; trong đó nông nghiệp tăng 3,72%. Trồng trọt có nhiều thuận lợi, mưa đến sớm hơn cùng kỳ năm 2021, công tác phòng chống hạn mặn được lãnh đạo các ngành, các cấp triển khai sớm, nên diện tích bị thiệt hại do hặn, mặn không nhiều. Trà lúa Đông Xuân năm nay phát triển tốt, năng suất bình quân ước tính đạt 71,2 tạ/ha, tăng 0,1 tạ/ha so cùng kỳ; Tuy nhiên do diện tích gieo sạ giảm 2.455 ha nên sản lượng thu hoạch giảm 4,7% so cùng. Các vườn cây ăn trái ở các huyện phía Tây chịu tác động của hạn, mặn năm 2020 được nông dân chăm sóc, từng bước được phục hồi. Giá phân bón tăng cao so cùng kỳ, trong khi giá bán sản phẩm đầu ra lại giảm nhất là Thanh long và Mít do xuất khẩu sang Trung quốc gặp khó khăn, nên nông dân có lãi không nhiều, mức độ đầu tư cho sản xuất của nông dân có giảm. Trong lĩnh vực chăn nuôi, dịch tả lợn châu Phi tuy được kiểm soát tốt nhưng còn xảy ra ở một số địa phương, giá thức ăn tăng cao, giá bán sản phẩm đầu ra giảm nên việc tái đàn trên địa bàn tỉnh còn chậm. Ước tính đến thời điểm 01/6/2022 tổng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh như sau: đàn bò 124,2 ngàn con, tăng 2,4% so cùng kỳ; đàn lợn 280,2 ngàn con, tăng 3,3% so cùng kỳ; đàn gia cầm 16,9 triệu con, giảm 3% so cùng kỳ. Ngành thủy sản tăng 4,74% so cùng kỳ, tăng chủ yếu ở sản lượng nuôi trồng; Giá thủy sản ổn định và duy trì ở mức người nuôi có lãi, đặt biệt là giá tôm và cá tra thương phẩm, từ sau tết Nguyên đán cho đến nay vẫn đang duy trì ở mức khá cao đã góp phần tạo động lực cho người dân trên địa bàn tỉnh đầu tư sản xuất, sản lượng nuôi trồng tăng 9,3%. Hoạt động khai thác thủy sản còn nhiều khó khăn do giá nhiêu liệu tăng cao, chi phí nhiên liệu cho hoạt động khai thác chiếm khoảng 70% trong tổng chi phí đánh bắt thủy sản, do giá nhiên liệu tăng nên ảnh hưởng đến thu nhập ngư dân. Lượng tàu ra khơi những tháng đầu năm 2022 thấp hơn so với cùng kỳ năm 2021 khoảng 20 - 30% do ảnh hưởng của dịch Covid-19 (quí I) dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp, thiếu thuyền viên,... Sản lượng khai thác giảm 0,1% so cùng kỳ.  Khu vực công nghiệp - xây dựng: tăng 5,43% so với 6 tháng đầu năm 2021; trong đó công nghiệp tăng 5,03%. Sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh từng bước phục hồi, nhưng còn khó khăn trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, nguyên vật liệu đầu vào phục vụ sản xuất ... do tác động của dịch Covid – 19 và giá nhiên liệu tăng, nhưng có dấu hiệu khởi sắc qua kết quả sản xuất trong 6 tháng đầu năm, quí I tăng 2,93%, quí II tăng 7,12%. Một ngành có chỉ số sản xuất tăng cao so cùng kỳ như: sản xuất đồ uống tăng 31,98%, sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 27,96%, sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 55,64% ... Cộng với nhà máy điện gió Tân Phú Đông 2 đi vào hoạt động góp phần làm cho công nghiệp của tỉnh tăng so với cùng kỳ. Ngành xây dựng tăng 7,81%, là một trong những ngành có tốc độ tăng trưởng tốt nhất trong 6 tháng đầu năm 2022. Hoạt động xây dựng tăng cao là do 6 tháng cuối năm 2021 trên địa bàn tỉnh thực hiện giản cách xã hội để phòng chống dịch Covid – 19 nên các công trình tạm dừng hoạt động hoặc chỉ hoạt động cầm chừng. Đến quí I năm 2022 tiêm ngừa vacin phòng chống covid đã được bao phủ, các hoạt động được phép mở cửa trở lại nên nhu cầu xây dựng trong dân tăng. Mặc khác, trên địa bàn tỉnh có nhiều công trình trọng điểm của địa phương và trung ương đang được triển khai như: Dự án cao tốc Trung lương – Mỹ Thuận, Bệnh viện đa khoa tỉnh, Dự án điện gió Tân Phú Đông 1, dự án thành phần xây dựng Cầu Mỹ Thuận 2 ...  Khu vực dịch vụ: Thực hiện Nghị quyết số 128/NQ-CP ngày 11/10/2021 của Chính phủ "Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19”, các hoạt động thương mại, dịch vụ trên địa bàn tỉnh được phép hoạt động trở lại theo lộ trình với qui mô phù hợp nhằm đảm bảo công tác phòng chống dịch. Hoạt động của các ngành trong khu vực dịch vụ trên địa bàn tỉnh từng bước khởi sắc, quí I tăng 2,38%, quí II tăng 6,39%, sáu tháng đầu năm tăng 4,4% so cùng kỳ. Thời điểm tháng 1, tháng 2 dịch Covid-19 diễn biến phức tạp tại nhiều tỉnh, thành phố trước biến chủng mới Omiron xuất hiện, do đó nhiều chương trình du lịch của các hãng lữ hành chưa hút khách, hoạt động của các cơ sở du lịch trên địa bàn tỉnh chưa được phép hoạt động. Đến tháng 3 tình hình dịch Covid 19 dần được kiểm soát, Ủy ban nhân dân tỉnh cho phép các cơ sở du lịch hoạt động trở lại, lượt khách đến tỉnh liên tục tăng qua từng tháng, nhất là dịp lễ 30 tháng 4 và 1 tháng 5 năm 2022, tốc độ tăng trưởng của ngành du lịch lịch lữ hành 6 tháng đầu năm tăng 24,78% so cùng kỳ (quí I giảm 12,27%, quí II tăng 89,7%). Tuy nhiên có một số ngành còn giảm so với cùng kỳ như: Dịch vụ lưu trú và ăn uống giảm 14,79%; Vận tải kho bãi tiếp tục gặp khó khăn, ngoài tác động của dịch covid 19, giá xăng dầu từ đầu năm đến nay liên tục tăng cao làm cho hoạt động của ngành này càng khó hơn, 6 tháng đầu năm giảm 0,94% so cùng kỳ ... Bên cạnh đó có một số ngành tăng khá so cùng kỳ như: Hoạt động tài chính ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,45%; Hoạt động kinh doanh bất động sản tăng 5,5%; Bán buôn và bán lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy tăng 8,5%; Hoạt động hành chí và dịch vụ hỗ trợ tăng 7,16% ... Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm 6 tháng đầu năm giảm 1,9% so cùng kỳ./.                                           N.V.Tròn

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Tiền Giang Tháng 5 năm 2022
  •   18/06/2024 15:22

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 tiếp tục phục hồi và đạt được nhiều kết quả khởi sắc trên các lĩnh vực, công tác an sinh xã hội được triển khai tích cực; đời sống nhân dân được đảm bảo. Hoạt động vui chơi giải trí, văn hóa văn nghệ mở cửa trở lại gắn với đảm bảo an toàn trong phòng chống dịch bệnh. Kết quả cụ thể như sau:  I. SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP VÀ THỦY SẢN  1. Nông nghiệp  Cây lương thực có hạt: trong tháng gieo trồng 12.483 ha với sản lượng 13.826 tấn; ước tính đến cuối tháng 5/2022, gieo trồng được 87.678 ha, đạt 70,2% kế hoạch, tăng 1,2% so cùng kỳ, sản lượng thu hoạch 367.821 tấn giảm 3,9% so cùng kỳ; trong đó: cây lúa gieo sạ 86.154 ha tăng 1,2% so cùng kỳ, thu hoạch 51.720 ha giảm 3,8% so cùng kỳ, sản lượng 363.377 tấn giảm 3,9% so cùng kỳ.   - Cây lúa:  Vụ Hè Thu: Diện tích gieo trồng đạt 36.962 ha, đạt 51,8% kế hoạch gieo trồng, chủ yếu ở các huyện phía Tây trà lúa đang phát triển tốt.  - Cây ngô: trong tháng gieo trồng 148 ha, thu hoạch 144 ha với sản lượng 529 tấn. Đến nay gieo trồng được 1.524 ha, đạt 58,7% kế hoạch, tăng 4,2% so cùng kỳ, thu hoạch 1.230 ha giảm 4,3% so cùng kỳ, năng suất quy thóc 36,1 tạ/ha với sản lượng quy thóc 4.444 tấn, đạt 47,2% kế hoạch, giảm 3,1% so cùng kỳ do diện tích thu hoạch giảm.  Cây rau đậu các loại: trong tháng gieo trồng 2.374 ha, thu hoạch 2.521 ha với sản lượng 28.602 tấn. Đến nay gieo trồng được 34.130 ha, đạt 59% kế hoạch, giảm 3,7% so cùng kỳ, thu hoạch 30.805 ha, năng suất bình quân đạt 200,2 tạ/ha với sản lượng 616.616 tấn, đạt 52,8% kế hoạch, tăng 2,2% so cùng kỳ do năm suất bình quân tăng 1,9% và diện tích thu hoạch tăng 0,4% so cùng kỳ (trong đó: rau các loại 33.943 ha giảm 3,7%, thu hoạch 30.655 ha tăng 0,3% với sản lượng 616.161 tấn tăng 2,2% so cùng kỳ).  Chăn nuôi: Ước thời điểm 01/5/2021 tổng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh như sau: đàn bò 124,2 ngàn con, tăng 2,4% so cùng kỳ; đàn lợn 284,2 ngàn con, tăng 4,8%; đàn gia cầm (không kể chim cút) 16,9 triệu con, giảm 3%. Đàn gia súc tăng do hộ dân tái đàn sau đợt dịch Covid-19, nhiều hộ dân cũng chuyển đổi mô hình kinh tế từ trồng trọt sang chăn nuôi. Đàn gia cầm giảm do giá thịt hơi thấp giảm chủ yếu ở đàn vịt, trong khi đó giá thức ăn chăn nuôi và giá con giống tăng làm cho tổng đàn giảm.  *Tình hình dịch bệnh trên vật nuôi: (Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Tiền Giang)  Gia cầm: Ghi nhận 01 trường hợp gà có biểu hiện bệnh cúm gia cầm với số gà bệnh là 1.180 trên tổng đàn 3.300 con. Chính quyền địa phương tiêu hủy 3.150 con (hộ chăn nuôi tự tiêu hủy 150 con), chiếm 95,5%.  Gia súc:  Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: Ghi nhận 02 trường hợp lợn mắc bệnh Dịch tả lợn Châu Phi trên địa bàn huyện Châu Thành và Tân Phú Đông với tổng số lợn bệnh là 10 con trên tổng đàn 13 con. Số lợn được tiêu hủy dưới sự giám sát của chính quyền địa phương là 10 con, khối lượng 473 kg. Từ ngày 14/12/2021 đến nay, trên địa bàn toàn tỉnh ghi nhận 100 hộ có lợn mắc bệnh Dịch tả lợn Châu Phi với tổng số lợn bệnh là 1.488 con trên tổng đàn 4.198 con. Số lợn được tiêu hủy dưới sự giám sát của chính quyền địa phương là 3.366 con, trọng lượng 145.554 kg. Ngoài ra, địa phương còn tiêu hủy 354 con tại các hộ bệnh trước ngày 14/12/2021 với trọng lượng 18.015 kg.  Bệnh viêm da nổi cục: Ghi nhận 01 trường hợp bò có dấu hiệu bệnh tại huyện Tân Phước với 01 con bò bệnh/ tổng đàn 08 con. Từ ngày 14/12/2021 đến nay, ghi nhận bò có dấu hiệu điển hình của bệnh viêm da nổi cục với 09 con bò bệnh/tổng đàn 39 con. Chính quyền địa phương tiêu hủy 03 con với trọng lượng 304 kg.  2. Lâm nghiệp:  Tổng diện tích rừng hiện có trên địa bàn tỉnh Tiền Giang là 1.788,9 ha (không bao gồm diện tích rừng thuộc đất an ninh quốc phòng), cụ thể: 1.341,2 ha rừng phòng hộ và 447,7 ha rừng sản xuất. Trong tháng, giảm 5 ha rừng sản xuất do người dân khai thác cây tràm và bạch đàn dùng cho xây dựng công trình, nhà ở huyện Tân Phước. Cộng dồn từ đầu năm đến nay giảm 8 ha rừng.  Hiện nay đang vào mùa mưa thuận lợi cho trồng cây phân tán và nhân kỷ niệm 132 năm ngày sinh Chủ Tịch Hồ Chí Minh ngày 19/5/2022 tỉnh phát động tổ chức Lễ trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ“ và “Đề án 1 tỷ cây xanh“theo kế hoạch trồng cây xanh phân tán năm 2022 của Ủy ban nhân dân tỉnh nên cây phân tán tăng cao, chủ yếu trồng trên các bờ kênh, trên những tuyến đường đê tại các huyện Cái Bè, Tân Phước. Ước đến hết tháng 05/2022 toàn tỉnh trồng mới được 82,4 ngàn cây nâng tổng số cây trồng được 86,3 ngàn cây so với cùng kỳ tăng 5,4 lần  3. Thủy hải sản:  Diện tích nuôi thủy sản trong tháng đạt 1.011 tấn, tính chung 5 tháng đầu năm 2022 đạt 12.410 ha, đạt 82,1% kế hoạch, tăng 1,7% so cùng kỳ; trong đó: diện tích nuôi cá đạt 3.217 ha giảm 4%, diện tích nuôi tôm đạt 6.119 ha tăng 6,1%; diện tích nuôi thủy sản khác đạt 3.020 ha tương đương so với cùng kỳ.  Sản lượng thủy sản thu hoạch trong tháng đạt 25.956 tấn tăng 15,2% so với cùng kỳ. Tính chung 5 tháng đầu năm 2022 đạt 131.819 tấn, tăng 0,3% so cùng kỳ; trong đó: sản lượng thu hoạch từ nuôi 60.864 tấn, tăng 3,1%; sản lượng khai thác 70.955 tấn, giảm 2%. Nguyên nhân do thời tiết trên biển những tháng đầu năm diễn biến không thuận lợi, cùng với giá xăng dầu tiếp tục tăng cao làm ảnh hưởng tiêu cực đến việc khai thác thủy sản.  II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP  Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 5/2022 tăng 2,2% so với tháng trước, do một số ngành sản xuất công nghiệp chủ yếu của tỉnh như: Sản xuất chế biến thực phẩm; Dệt; Sản xuất da... tăng cao so với tháng trước (ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,3%, sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 1,5%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 1%) và tăng 7,9% so cùng kỳ do các ngành chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh sản xuất tăng cao như: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 5,2%; Sản xuất đồ uống 11,4%; Sản xuất da tăng 15%... (ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,6%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 16,7%; riêng ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 3,1%).  Chỉ số sản xuất công nghiệp 5 tháng năm 2022 tăng 4,5% so cùng kỳ; trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,5%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 8,2%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 3,7%.  Chỉ số sản xuất sản phẩm trong 5 tháng so cùng kỳ như sau:  - Có 18/43 sản phẩm tăng so cùng kỳ: thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng viên tăng 235,5%; dây thép không gỉ tăng 190,9%; giày, dép thể thao có mũ bằng da và có đế ngoài tăng 66,8%; đồ chơi hình con vật hoặc sinh vật không phải hình người tăng 46,6%; áo khoác dài, áo khoác không tay, áo khoác có mũ, áo gió cho người lớn dệt kim hoặc đan móc tăng 32,1%; bia đóng chai tăng 29,1%; bia đóng lon tăng 19,5%; điện thương phẩm tăng 8,2%;…  - Có 25/43 sản phẩm giảm so cùng kỳ: dịch vụ sửa chữa, bảo dưỡng tàu, thuyền giảm 94,8%; dịch vụ tiện các bộ phận kim loại giảm 48%; máy gặt đập liên hợp giảm 40%; cửa ra vào, cửa sổ bằng sắt, thép giảm 35,6%; thức ăn cho thủy sản giảm 19,3%; Bộ com lê, quần áo đồng bộ, áo jacket, quần dài, quần yếm, quần soóc cho người lớn dệt kim hoặc đan móc giảm 13,1%; phân vi sinh giảm 4,9%; dịch vụ thu gom rác thải không độc hại có thể tái chế giảm 4,3%; nước uống được giảm 3,6%; cấu kiện làm sẵn cho xây dựng hoặc kỹ thuật dân dụng, bằng xi măng, bê tông hoặc đá nhân tạo giảm 2,1%;…  * Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo:  - Chỉ số tiêu thụ tháng 5/2022 so với tháng trước tăng 0,51% và tăng 15,16% so cùng kỳ. Chỉ số tiêu thụ cộng dồn từ đầu năm đến cuối tháng 5/2022 tăng 4,7%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao: sản xuất đồ uống tăng 23,9%; dệt tăng 9,3%; sản xuất da tăng 4,1%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 32%; sản xuất sản phẩm cao su và plastic tăng 31,1%; Sản xuất kim loại tăng 47,6%;… Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm so cùng kỳ là: sản xuất chế biến thực phẩm giảm 14,27%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ giảm 7,4%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 64,1%; sản xuất thiết bị điện giảm 4,77%; …  - Chỉ số tồn kho tháng 5/2022 so với tháng trước tăng 0,9% và so với cùng kỳ tăng 95,8%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so với cùng kỳ là: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 16,71%; Sản xuất đồ uống tăng 68,78%; Sản xuất da bằng gấp 36,6 lần; Chế biến gỗ bằng gấp 4,3 lần; Sản xuất giấy tăng 115,91%; Sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu bằng gấp 4,9 lần; Chế biến, chế tạo khác tăng 4,32%;... Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tồn kho giảm so cùng kỳ là: Dệt giảm 37,56%; Sản xuất trang phục giảm 88,9%; Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 42,06%; Sản xuất kim loại giảm 39,06%; Sản xuất thiết bị điện giảm 6,27%;…  * Tình hình thu hút đầu tư và phát triển các khu - cụm công nghiệp:  - Khu công nghiệp: đến nay tỉnh đã được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương quy hoạch 7 khu công nghiệp với tổng diện tích 2.083,5 ha; trong đó có 4 khu công nghiệp đi vào hoạt động. Trong tháng, Ban Quản lý các khu công nghiệp đã điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho dự án Công ty TNHH Nhà máy bia Heineken Việt Nam - Tiền Giang (Khu công nghiệp Mỹ Tho) điều chỉnh thời gian hoạt động. Năm tháng, cấp mới cho 02 dự án với tổng vốn dầu tư đăng ký 19,5 triệu USD; điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 10 lượt dự án, trong đó có 01 lượt dự án điều chỉnh tăng vốn đầu tư với tổng số vốn tăng là 33 triệu USD.   Đến cuối tháng 5/2022, tổng số dự án đầu tư tại các khu công nghiệp là 105 dự án (trong đó có 78 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài) với tổng vốn đầu tư là 4.545,9 tỷ đồng và 2.251,5 triệu USD. Diện tích cho thuê của các doanh nghiệp đạt 521,7 ha/770,1 ha, chiếm tỷ lệ 67,7% diện tích các khu công nghiệp.   - Cụm công nghiệp: trên địa bàn tỉnh có 27 cụm công nghiệp được quy hoạch; trong đó có 4 cụm công nghiệp đang hoạt động. Trong tháng không thu hút dự án đầu tư mới. Tổng số dự án đầu tư tại các cụm công nghiệp hiện nay là 79 dự án (trong đó: có 6 dự án đầu tư nước ngoài) với tổng vốn đầu tư 2.306,2 tỷ đồng và 150,3 triệu USD, diện tích thuê đất là 89,8/120,6 ha, tỷ lệ lắp đầy đạt 74,5%.  III. ĐẦU TƯ - XÂY DỰNG  Trong tháng tình hình thực hiện vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn nhà nước do địa phương quản lý tăng do phát huy nguồn vốn đầu tư công trong khôi phục và phát triển kinh tế, Ủy ban Nhân dân tỉnh Tiền Giang yêu cầu các sở, ban, ngành và địa phương nâng cao trách nhiệm trong quản lý đầu tư xây dựng công trình như: sớm giao vốn cho chủ đầu tư, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công kịp thời,… Tình hình đầu tư công của tỉnh có những chuyển biến tích cực. Tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý thực hiện trong tháng là 336 tỷ đồng, tăng 24% so cùng kỳ. Năm tháng đầu năm 2022 thực hiện 1.258 tỷ đồng, đạt 32,5% kế hoạch, tăng 14,3% so cùng kỳ.  Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh thực hiện 972 tỷ đồng, đạt 32,4% kế hoạch, tăng 15,5% so cùng kỳ, chiếm 77,2% tổng số; trong đó: vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 190 tỷ đồng, tăng 31,3%, vốn xổ số kiến thiết thực hiện 458 tỷ đồng, tăng 10,3% so cùng kỳ... Các ngành các cấp yêu cầu các ban quản lý chủ đầu tư tập trung với cường độ cao hơn trong tổ chức thực hiện, ưu tiên đẩy nhanh tiến độ đầu tư công, kể cả tiến độ giải ngân. Ngoài ra thời tiết thuận lợi, nguyên vật liệu trong xây dựng ổn định, nên khối lượng thực hiện tăng hơn so cùng kỳ, nhiều công trình đã hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng, các công trình còn lại thi công đúng theo tiến độ đề ra...  Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp huyện thực hiện 232 tỷ đồng, đạt 44,8% kế hoạch, tăng 9,6% so cùng kỳ, chiếm 18,4% tổng số; trong đó: vốn tỉnh hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 93 tỷ đồng, giảm 4,7% so cùng kỳ... Các ban quản lý dự án huyện hoàn thành hồ sơ, khẩn trương triển khai thi công các công trình xây dựng cơ bản năm 2022, dự án giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới nên khối lượng thực hiện tăng hơn so cùng kỳ.  Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp xã thực hiện 55 tỷ đồng, đạt 15,2% kế hoạch, tăng 13,6% so cùng kỳ, chiếm 4,3% tổng số; trong đó: vốn huyện hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 31 tỷ đồng, tăng 10% so cùng kỳ... Ngay từ dầu năm các địa phương bàn biện pháp vận động, huy động nguồn vốn đóng góp để tiến hành thi công các danh mục công trình đăng ký thuộc nguồn vốn phân cấp xã, phường. Đồng thời tập trung điều kiện đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình xây dựng nông thôn mới năm 2022 nhằm phục vụ đi lại và vận chuyển hàng hóa của người dân đồng thời phục vụ ra mắt xã nông thôn mới và nông thôn mới nâng cao. Trong đó, ưu tiên bố trí các dự án khởi công mới thuộc lĩnh vực giao thông, phòng chống thiên tai, xử lý sạt lở, biến đổi khí hậu, giáo dục, y tế, …  IV. THƯƠNG MẠI - GIÁ CẢ - DỊCH VỤ  1. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng:  Các hoạt động mua bán trao đổi hàng hóa trên địa bàn tỉnh diễn ra bình thường, các mặt hàng thiết yếu, thực phẩm tươi sống tại siêu thị khá dồi dào, hàng được nhập về liên tục đáp ứng nhu cầu của người dân. Tại các chợ truyền thống các loại rau, củ, quả, thịt, hải sản… rất phong phú.   Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trong tháng thực hiện 6.204 tỷ đồng, giảm 1% so tháng trước và tăng 16% so cùng kỳ. Năm tháng đầu năm 2022, tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thực hiện 31.949,8 tỷ đồng, đạt 45% kế hoạch, tăng 12,1% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 26.905 tỷ đồng, tăng 17,8%; lưu trú 16,7 tỷ đồng, tăng 2,4%; ăn uống 1.988 tỷ đồng, giảm 24,5%; du lịch lữ hành 6 tỷ đồng, tăng 4,9%; dịch vụ tiêu dùng khác 3.033,6 tỷ đồng, tăng 0,5% so cùng kỳ.  Hoạt động thương mại và xúc tiến thương mại trong tháng:  Từ ngày 23/4/2022 đến ngày 02/5/2022, trên địa bàn tỉnh diễn ra 02 Hội chợ (Hội chợ mua sắm và ẩm thực hàng Việt Nam - Thái Lan, tuần lễ giới thiệu nghề làm bánh dân gian năm 2022 tại Quảng trường trung tâm Tiền Giang do Công ty Cổ phần Quảng cáo và Xúc tiến thương mại Thiên Việt tổ chức; Hội chợ Xúc tiến thương mại - Kích cầu tiêu dùng năm 2022 tại Đường Trung tâm Văn hóa Khu 1, thị trấn Mỹ Phước, huyện Tân Phước do Công ty TNHH Tổ chức sự kiện Dịch vụ Thương mại Minh Khang tổ chức, thu hút khoảng 115.000 lượt khách tham quan mua sắm, góp phần tăng sức mua trên địa bàn tỉnh.  2. Xuất - Nhập khẩu:  a. Xuất khẩu:  Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng thực hiện 368,6 triệu USD, giảm 3% so tháng trước, tăng 13,4% so cùng kỳ; trong đó: kinh tế ngoài nhà nước 62 triệu USD, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 306 triệu USD. Năm tháng xuất khẩu 1.758 triệu USD, đạt 52,5% kế hoạch, tăng 25,3% so cùng kỳ; trong đó: kinh tế nhà nước 4 triệu USD, tăng 23,3%; kinh tế ngoài nhà nước 326 triệu USD, tăng 51,1%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 1.428 triệu USD, tăng 20,6% so cùng kỳ.  Ngoài các mặt hàng chủ yếu, trị giá xuất khẩu một số mặt hàng trong 5 tháng đầu năm 2022 như: giày dép các loại 311,8 triệu USD, tăng 25%; túi xách, ví, vali, mũ và ô dù 108,4 triệu USD, tăng 6% so cùng kỳ...  b. Nhập khẩu:  Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa trong tháng 5/2022 đạt 190 triệu USD, tăng 40,8% so cùng kỳ. Năm tháng, kim ngạch nhập khẩu 968 triệu USD, đạt 50,9% kế hoạch, tăng 11,6% so cùng kỳ; trong đó: kinh tế ngoài nhà nước nhập 61 triệu USD, tăng 41,2%, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài nhập 907 triệu USD, tăng 10% so cùng kỳ. Nguyên liệu nhập khẩu 5 tháng chủ yếu các mặt hàng như: nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày 173 triệu USD, tăng 23,5%; vải các loại 102 triệu USD, tăng 7,5%; hàng hóa khác 145 triệu USD, tăng 72,6%... so cùng kỳ.  3. Chỉ số giá:  Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 5/2022 tăng 0,79% so tháng 4/2022 (thành thị tăng 0,72%, nông thôn tăng 0,81%); so cùng kỳ tăng 3,77%.  So với tháng 4/2022, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có 9 nhóm tăng: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,68%; Đồ uống và thuốc lá tăng 0,53%; May mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,31%; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,97%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,26%; Giao thông tăng 3,25%; Giáo dục tăng 0,01%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,39%; Hàng hóa dịch vụ khác tăng 0,12% và Hàng hóa bưu chính viễn thông có chỉ số giá giảm 0,13%. Riêng nhóm Thuốc và dịch vụ y tế chỉ số giá ổn định.  Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 5/2022 tăng so tháng 4/2022 do:  Ngày nghỉ lễ 30/4 và 01/5 nằm đúng trong kỳ giá tháng năm, sức mua và nhu cầu tiêu dùng một số loại thực phẩm tươi sống những ngày này có giá tăng hơn những ngày bình thường, cụ thể như: thịt lợn tăng 1,24%, thịt bò tăng 0,55%, thịt gia cầm tăng 2,38%, trứng gia cầm các loại tăng 2,72%, rau tươi, khô chế biến tăng 1,64%... tác động đến nhóm hàng thực phẩm tăng 0,85%, góp phần làm tăng CPI chung khoảng 0,18 điểm phần trăm;  Ảnh hưởng của dịch Covid-19 làm cho nguồn cung sắt thép trên thị trường bị hạn chế, tác động giá bán lẻ tăng bình quân từ 3% - 7% so tháng trước; Mặc khác thời tiết thuận lợi cho ngành xây dựng hoạt động và giá xăng dầu đang đứng ở mức cao, dẫn đến giá cát vàng, cát đen, đá xây dựng...tăng lên. Tác động đến nhóm vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,88%, góp phần làm tăng CPI chung khoảng 0,03 điểm phần trăm.  Hiện nay đang vào mùa hè, thời tiết nóng, dẫn đến nhu cầu sử dụng điện làm mát của người dân tăng, tác động đến giá điện sinh hoạt bình quân trong tháng tăng 3,04% và nước sinh hoạt tăng 0,44%.  Chỉ số giá nhóm giao thông tăng 3,25% so với tháng trước làm CPI chung tăng khoảng 0,3 điểm phần trăm, chủ yếu do: giá xăng tăng 5,92%, dầu diezel 0,05S tăng 3,98% do ảnh hưởng của 03 đợt điều chỉnh tăng giá vào các ngày: ngày 04/5/2022, 11/5/2022 và ngày 23/5/2022; giá dịch vụ giao thông công cộng tăng 1,14%, trong đó, giá vận tải hành khách bằng đường bộ tăng 1,93%. Riêng giá vé xe buýt, taxi tháng này ổn định.  Bên cạnh đó, một số mặt hàng có chỉ số giá giảm.  Ngày 01/5/2022 giá gas trong nước giảm 31.000 đồng/bình 12 kg, giảm 6,72%, tác động nhóm gas và các loại chất đốt khác giảm 6,23%, góp phần kềm chế CPI chung của tháng 5/2022 giảm ở mức 0,08%.  Thiết bị điện thoại giảm 0,35%, trong đó máy điện thoại di động thông thường giảm 0,49%, máy điện thoại di động thông minh và máy tính bảng giảm 0,13%, do các cửa hàng kinh doanh cạnh tranh trong dịp nghỉ lễ 30/4-01/5/2022 vừa qua, giảm giá để bán được nhiều hàng.  Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 5 tháng năm 2022 so cùng kỳ tăng 3,14%; một số nhóm hàng có giá tăng nhiều trong 5 tháng năm 2022 so cùng kỳ như: nhóm hàng giao thông tăng 20,93%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,18%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,74%, ….  Chỉ số giá vàng 24 kara Ngọc Thẩm trong tháng 5/2022 tăng 2,21% so tháng trước. Hiện nay giá vàng bình quân duy trì ở mức 5.624.000 đồng/chỉ, tăng 345.000 đồng/chỉ so cùng kỳ.  Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng 5/2022 giảm 0,6% so tháng trước. Hiện nay giá bình quân Đô la Mỹ duy trì ở mức 23.157 đồng/USD, tăng 8 đồng/USD so với cùng kỳ.  4. Du lịch:  Khách du lịch đến trong tháng 5/2022 được 60,1 ngàn lượt khách, giảm 1,4% so tháng trước và tăng 51,3% so cùng kỳ; trong đó: khách du lịch quốc tế 1,9 ngàn lượt khách, gấp 3,7 lần so cùng kỳ. Doanh thu lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ tiêu dùng khác trong tháng 5 đạt 1.092,3 tỷ đồng, tăng 7,2% so tháng trước và tăng 7,4% so cùng kỳ.Tính chung năm tháng đầu năm 2022, lượt khách du lịch đến Tiền Giang là 219,9 ngàn lượt khách, đạt 24,4% kế hoạch và giảm 8,1% so cùng kỳ; trong đó: khách quốc tế 6 ngàn lượt khách, đạt 6,1% kế hoạch, tăng 61,6% so cùng kỳ. Tổng doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, dịch vụ lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch, dịch vụ tiêu dùng khác đạt 5.045 tỷ đồng, giảm 11,1% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu dịch vụ ăn uống chiếm tỷ trọng 39,7%, ước đạt 2.005 tỷ đồng, giảm 24,4%, lưu trú đạt 17 tỷ đồng, tăng 2,4% so cùng kỳ...  5. Vận tải:  Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trong tháng thực hiện 188,9 tỷ đồng, tăng 9,3% so tháng trước và tăng 13,8% so cùng kỳ. Năm tháng thực hiện 826,7 tỷ đồng, giảm 1,7% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 211 tỷ đồng, giảm 13,4%; doanh thu vận tải hàng hóa thực hiện 529 tỷ đồng, tăng 3,2% so cùng kỳ. Doanh thu vận tải đường bộ thực hiện 381,6 tỷ đồng, giảm 11,1%; doanh thu vận tải đường thủy thực hiện 358,8 tỷ đồng, tăng 9,6%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 85,8 tỷ đồng, tăng 2,6% so cùng kỳ.  Vận tải hành khách trong tháng đạt 3.065 ngàn hành khách, tăng 8,2% so tháng trước và tăng 16,5% so cùng kỳ; luân chuyển 56.269 ngàn hành khách.km, tăng 4,8% so tháng trước và tăng 11,4% so cùng kỳ. Năm tháng, vận chuyển 12.879 ngàn hành khách, giảm 6,4% so cùng kỳ; luân chuyển 209.271 ngàn hành khách.km, giảm 21,2% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 5.582 ngàn hành khách, giảm 15,6% và luân chuyển 199.394 ngàn hành khách.km, giảm 22% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 7.297 ngàn hành khách, tăng 2% và luân chuyển 9.877 ngàn hành khách.km, giảm 1,1% so cùng kỳ.  Vận tải hàng hóa trong tháng đạt 1.116 ngàn tấn, tăng 10,4% so tháng trước và tăng 14,7% so cùng kỳ; luân chuyển 143.872 ngàn tấn.km, tăng 12,6% so tháng trước và tăng 15,5% so cùng kỳ. Năm tháng, vận tải 5.092 ngàn tấn hàng hóa, tăng 5,6% so cùng kỳ; luân chuyển 657.183 ngàn tấn.km, tăng 8,2% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 1.200 ngàn tấn, giảm 2,1% và luân chuyển 125.146 ngàn tấn.km, giảm 1,7% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 3.892 ngàn tấn, tăng 8,2% và luân chuyển 532.037 ngàn tấn.km, tăng 10,9% so cùng kỳ.  * Công tác quản lý phương tiện giao thông:                    Trong tháng đăng ký mới 6.194 chiếc xe mô tô xe máy, 404 chiếc xe ô tô, 33 chiếc xe đạp điện và 07 chiếc xe khác. Tổng số xe đang quản lý trên địa bàn tỉnh 1.397.425 chiếc, trong đó: mô tô xe máy 1.352.668 chiếc, 43.824 chiếc xe ô tô, 155 chiếc xe ba bánh, 284 chiếc xe đạp điện và 494 chiếc xe khác.  6. Bưu chính viễn thông:  Doanh thu trong tháng 5/2022 đạt 276 tỷ đồng, tăng 0,5% so tháng trước và tăng 3,6% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính đạt 28 tỷ đồng, tăng 2,7% và viễn thông 249 tỷ đồng, tăng 0,3% so tháng trước. Năm tháng doanh thu dịch vụ bưu chính, viễn thông đạt 1.363 tỷ đồng, tăng 3,9% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính đạt 133 tỷ đồng, tăng 17,3% và viễn thông 1.230 tỷ đồng, tăng 2,7% so cùng kỳ.  Tổng số thuê bao điện thoại có trên mạng đến cuối tháng 5/2022 là 104.843 thuê bao, mật độ bình quân đạt 5,9 thuê bao/100 dân (chỉ tính thuê bao cố định và di động trả sau). Thuê bao internet có trên mạng cuối tháng 5/2022 là 306.376 thuê bao, mật độ internet bình quân đạt 17,3 thuê bao/100 dân. Số lượng điện thoại cố định có dây, không dây tiếp tục giảm, do thị trường phát triển thuê bao dần bảo hòa dẫn đến khách hàng dần chuyển sang sử dụng điện thoại di động, trong đó chủ yếu là điện thoại di động trả trước. Số thuê bao điện thoại di động có sử dụng internet (3G, 4G) đến cuối tháng 5 năm 2022 là 1.435.934 thuê bao.  V. TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG  1. Tài chính:  Tổng thu ngân sách nhà nước trong tháng thực hiện 1.087 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn 750 tỷ đồng, thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 255 tỷ đồng. Năm tháng, thu 9.321 tỷ đồng, đạt 70,6% dự toán; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn thực hiện 4.099 tỷ đồng, đạt 46,4% dự toán và giảm 8,6% so cùng kỳ; thu nội địa 4.021 tỷ đồng, đạt 47,2% dự toán, giảm 8,4% so cùng kỳ (trong thu ngân sách trên địa bàn: thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 1.236 tỷ đồng, đạt 45% dự toán, giảm 14,2% so cùng kỳ; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 486 tỷ đồng, đạt 50,6% dự toán, giảm 8% so cùng kỳ...).  Tổng chi ngân sách nhà nước trong tháng 1.025 tỷ đồng; trong đó: chi đầu tư phát triển 320 tỷ đồng. Năm tháng, chi 5.801 tỷ đồng, đạt 47,2% dự toán, tăng 4% so cùng kỳ; trong đó: chi đầu tư phát triển 1.653 tỷ đồng, đạt 42% dự toán, tăng 9,9% so cùng kỳ; chi hành chính sự nghiệp 2.927 tỷ đồng, đạt 38,9% dự toán và tăng 12,8% so cùng kỳ.  2. Ngân hàng:  Trong tháng 5/2022 Ngành Ngân hàng tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ góp phần phục hồi và tăng trưởng kinh tế sau thời gian dài kinh tế chịu tác động của dịch Covid-19. Đồng thời triển khai những nhiệm vụ trọng tâm theo Chỉ thị 01/CT-NHNN ngày 13/01/2022 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNNVN) và tiếp tục thực hiện Thông tư 01/2020/TT-NHNN ngày 13/3/2020 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Các tổ chức tín dụng (TCTD) chấp hành nghiêm mức trần lãi suất theo quy định trên địa bàn tỉnh, đến cuối tháng 4/2022, lãi suất cho vay như sau: Lãi suất cho vay VND phổ biến ở mức 4,5%-9%/năm đối với ngắn hạn, chiếm 76,7% tổng dư nợ cho vay, 11%-13%/năm đối với trung dài hạn.  Đến cuối tháng 4/2022, vốn huy động đạt 83.518 tỷ đồng, tăng 5,1% so cuối năm 2021. Tổng dư nợ toàn tỉnh đạt 78.419 tỷ (ngắn hạn chiếm 63%), tăng 9,08% so với cuối năm 2021. Các tổ chức tín dụng đã đáp ứng nhu cầu vốn cho 2.148 doanh nghiệp vay vốn với dư nợ 26.874 tỷ đồng, tăng 16,44% so với cuối năm 2021, chiếm 34,27% tổng dư nợ cho vay toàn tỉnh. Ước đến cuối tháng 5/2022, vốn huy động đạt 83.678 tỷ đồng, tăng 5,27% so với cuối năm 2021.  Nợ xấu: cuối tháng 4/2022, số dư là 628 tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu 0,8%, giảm 0,25% so cuối năm 2021. Ước đến cuối tháng 5/2022, nợ xấu là 647 tỷ đồng, tỷ lệ 0,82%, giảm 0,19% so với cuối năm 2021.  Quỹ tín dụng nhân dân: đến cuối tháng 4/2022, tổng nguồn vốn hoạt động đạt 1.367 tỷ đồng, tăng 113 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 8,9% so tháng 12/2021, trong đó vốn huy động tăng 10,56%, chiếm tỷ trọng 89,46% trong tổng nguồn vốn hoạt động. Dư nợ cho vay đạt 907 tỷ đồng, tăng 29 tỷ, tỷ lệ tăng 3,35%; từ đầu năm đến nay đáp ứng nhu cầu vốn cho 3.873 lượt thành viên vay vốn; trong đó, dư nợ ngắn hạn tăng 0,45% chiếm tỷ trọng 46,32% tổng dư nợ. Nợ xấu: số dư 4,6 tỷ đồng, tăng 1.088 triệu đồng, tỷ lệ nợ xấu 0,51%, tăng 0,11% so tháng 12/2021.  VI. KHOA HỌC CÔNG NGHỆ  Trong tháng, tập trung cho các nội dung công việc: Tuyển chọn, giao trực tiếp thực hiện nhiệm vụ KH&CN; nghiệm thu kết thúc các nhiệm vụ KH&CN; hướng dẫn lập hồ sơ sở hữu trí tuệ và cấp giấy phép tiến hành công việc bức xạ; đẩy mạnh các hoạt động dịch vụ KH&CN: Kiểm định phương tiện đo; kiểm nghiệm mẫu môi trường; sản xuất các sản phẩm composite, nấm các loại,... Đến hết tháng 5/2022, thẩm định nội dung 02 nhiệm vụ cấp tỉnh, 03 nhiệm vụ cấp cơ sở; nghiệm thu kết thúc 01 cấp tỉnh, 02 cấp cơ sở; nghiệm thu giai đoạn 03 nhiệm vụ cấp tỉnh, 04 nhiệm vụ cấp cơ sở; Quyết định triển khai 02 cấp tỉnh, 04 cấp cơ sở; Quyết định công nhận 08 nhiệm vụ cấp tỉnh, 03 nhiệm vụ cấp cơ sở); Gia hạn 01 nhiệm vụ cấp tỉnh.  VII. CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI  1. Lao động việc làm:  Trong tháng tư vấn cho 1.763 lượt lao động, giảm 46% so với cùng kỳ năm 2021; trong đó tư vấn nghề cho 37 lượt lao động, tư vấn việc làm 319 lượt lao động, tư vấn việc làm cho lao động thất nghiệp cho 1.362 lượt lao động, tư vấn pháp luật lao động và tư vấn khác cho 45 lượt lao động; giới thiệu việc làm cho 266 lượt lao động, giảm 22% so với cùng kỳ; giới thiệu cho 56 lao động có được việc làm ổn định, giảm 68% so với cùng kỳ. Bên cạnh đó, 61 lượt người lao động được tư vấn đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, giảm 41% so với cùng kỳ; không có lao động đăng ký tham gia đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, giảm 03 người lao động so với cùng kỳ; 32 lao động xuất cảnh chính thức (Nhật Bản 30 người và Đài Loan 2 người) tăng 25 lao động so với cùng kỳ.  Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh Tiền Giang tiếp nhận 1.838 người lao động đăng ký hưởng trợ cấp thất nghiệp, tăng 3% so với cùng kỳ; 1.792 người hưởng trợ cấp thất nghiệp, tăng 5% so với cùng kỳ với số tiền chi trả 33,9 tỷ đồng; 10.839 lượt lao động thất nghiệp được tư vấn, giới thiệu việc làm và 02 người lao động thất nghiệp đăng ký học nghề.  2. Chính sách xã hội:  Trong tháng 5/2022, số lao động đủ điều kiện hỗ trợ được Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét đạt 99% so với tổng số lao động đề nghị hỗ trợ với số tiền đề nghị hỗ trợ khoảng 419,7 tỷ đồng. Tổng số lao động đề nghị hỗ trợ 108.240 lượt người tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, người lao động nghỉ việc không hưởng lương của 933 lượt doanh nghiệp, đơn vị với số tiền 372,2 tỷ đồng; 36.229 người lao động ngừng việc của 80 lượt doanh nghiệp, đơn vị với số tiền 47,2 tỷ đồng; 84 người lao động chấm dứt hợp đồng lao động nhưng không đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp với số tiền đề nghị trên 345,6 triệu đồng.  Chính sách cho người có công đã được triển khai thực hiện cụ thể: trợ cấp 1 lần cho thân nhân thờ cúng liệt sĩ với 31 hồ sơ, chuyển thờ cúng với 18 hồ sơ, thu hồi thờ cúng 1 hồ sơ; người có thành tích tham gia kháng chiến được tặng Bằng khen theo Quyết định số 24/2016/QĐ-TTg (5 trường hợp); người có công giúp đỡ cách mạng, người hoạt động kháng chiến (2 trường hợp); người trực tiếp tham gia kháng chiến chống Mỹ theo Quyết định số 290/2005/QĐ-TTg (1 trưởng hợp). Lập quyết định trợ cấp mai táng phí là 107 trường hợp; trợ cấp mai táng phí theo Quyết định 290/2005/QĐ-TTg là 27 trường hợp. Lập Quyết định trợ cấp hàng tháng cho 01 người hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày mới được công nhận; trợ cấp tuất hàng tháng là 2 trường hợp. Lập Quyết định điều chỉnh chế độ đối với 1 thương binh hưởng trợ cấp hàng tháng; hưởng thêm chế độ thương binh, bệnh binh đối với 22 đối tượng. Phê duyệt cấp tiền mua phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình đến niên hạn cho 88 đối tượng và danh sách trợ cấp một lần cho người thờ cúng liệt sĩ năm 2022 tại 9/11 huyện: Cái Bè, Cai Lậy, Tân Phước, Chợ Gạo, Gò Công Tây, Gò Công Đông, thị xã Gò Công, thị xã Cai Lậy và thành phố Mỹ Tho. Phê duyệt Quyết định điều dưỡng các huyện: Tân Phú Đông: 96 người, số tiền trên 181,5 triệu đồng; thị xã Gò Công: 187 người, số tiền trên 302,7 triệu đồng. Cấp lại 15 sổ dụng cụ chỉnh hình và 15 giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ. Thẩm định, ra quyết định 15 trường hợp trợ cấp ưu đãi học sinh theo Thông tư số 36/2015/TT-BLĐTBXH ngày 28/9/2015 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Chuyển hồ sơ người có công đi tỉnh khác và tiếp nhận hồ sơ người có công do tỉnh khác chuyển đến: 18 trường hợp.  3. Hoạt động y tế:  Covid – 19: Ngày 18/05/2022 Sở Y tế đã ban hành quyết định số 1072/QĐ-SYT công bố cấp độ dịch Covid-19 trên địa bàn tỉnh Tiền Giang (tuần đánh giá 12/5 – 18/5). Theo đó, toàn tỉnh Tiền Giang thuộc cấp độ 1; 11/11 huyện, thành, thị thuộc cấp độ 1.  Trong tháng 5/2022 có 07/44 bệnh truyền nhiễm được ghi nhận. Có 2 bệnh tăng so với cùng kỳ (Viêm gan vi rút khác, Bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Covid-19 gây ra); 13 bệnh giảm (Ho gà, Quai bị, Rubella, Sởi, Sốt xuất huyết, Tay chân miệng, Thương hàn, Thủy đậu, Tiêu chảy, Uốn ván khác, Viêm gan siêu vi B, Viêm gan siêu vi C, Viêm não vi rút khác); 29 bệnh tương đương và hoặc không xảy ra ca mắc. Phòng chống bệnh Sốt xuất huyết: ghi nhận 126 ca, cộng dồn 366 ca giảm 66,3% so với cùng kỳ; 01 trường hợp tử vong tại xã Thiện Trung, huyện Cái Bè. Phòng chống HIV/AIDS: tính đến nay toàn tỉnh có 6.166 người nhiễm HIV; 1.816 người chuyển sang AIDS; 1.241 người tử vong do AIDS. An toàn thực phẩm: không ghi nhận ngộ độc thực phẩm trên địa bàn.  Hoạt động khám chữa bệnh: tổng số lần khám bệnh 258.885 lượt người, giảm 30,3% so cùng kỳ; tổng số người điều trị nội trú 11.177 lượt người, giảm 38,6% so cùng kỳ; công suất sử dụng giường bệnh bình quân trong tháng đạt 47,7%.  4. Hoạt động giáo dục:  Trong tháng 5/2022 ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh đã hướng dẫn tổ chức Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2022; tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2022. Tiếp đoàn kiểm tra của Bộ GDĐT về việc thực hiện công tác tự đánh giá và thưc hiện kế hoạch cải tiến chất lượng sau tự đánh giá của các cơ sở giáo dục; thực hiện Quy chế công khai, tổ chức sát hạch cấp chứng chỉ CNTT, công tác quản lý văn bằng chứng chỉ, thi chọn học sinh giỏi quốc gia, tổ chức thi và xét tốt nghiệp THPT vào 02 ngày 18, 19/7/2022. Xây dựng kế hoạch tuyển sinh lớp 6, lớp 10 trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt. Hướng dẫn xét công nhận tốt nghiệp THCS năm 2022. Tổ chức Hội nghị tuyển sinh lớp 6, lớp 10 năm học 2022-2023 vào ngày 27/5/2022. Tổ chức đánh giá ngoài các trường: Mầm non Hoa Hồng, Mầm non Nhị Mỹ, Mầm non Mỹ Hạnh Đông, Mầm non Phú Nhuận, Mầm non Sao Mai, Mầm non Tân Điền, Tiểu học Phú Thạnh, Tiểu học Bình Xuân 2, Tiểu học Gia Thuận, Tiểu học Nguyễn Văn Quyên, THCS Hoà Hưng, THCS Võ Văn Kiết và THPT Lưu Tấn Phát.  5. Hoạt động văn hóa - thể thao:  Hoạt động bảo tàng: trưng bày cố định các chuyên đề phục vụ khách tham quan tại Bảo tàng tỉnh và trưng bày cố định các chuyên đề theo tiến trình lịch sử tại các di tích trực thuộc: Khảo cổ Gò Thành, Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Chiến thắng Ấp Bắc, Chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút. Bảo tàng tỉnh và 4 di tích trực thuộc đã đón 2.814 lượt khách, thu bán vé được 160 vé tham quan, sưu tầm được 05 hình ảnh, tư liệu, hiện vật.  Hoạt động văn hóa nghệ thuật: Trung tâm Văn hóa Nghệ thuật tỉnh tổ chức thành công Liên hoan Đờn ca tài tử Nam Bộ tỉnh Tiền Giang năm 2022. Thực hiện trang trí 30 ụ cờ, 20 pano, 60 băng - rôn, 170 cờ khẩu hiệu, 22 đĩa CD và 06 cuộc xe loa tuyên truyền trên các tuyến đường chính trên địa bàn thành phố Mỹ Tho và khu vực phục vụ hành chính công của tỉnh. Tổ chức lớp tập huấn múa nâng cao năm 2022 cho diễn viên và cộng tác viên múa của Trung tâm Văn hóa- Nghệ thuật.  Hoạt động thư viện: Nhân dịp Ngày sách và Văn hóa đọc Việt Nam (21/4) và Ngày bản quyền thế giới (23/4) Thư viện tỉnh phối hợp với các ngành, địa phương tổ chức 6 ngày hội đọc sách tại một số địa phương, đơn vị trên địa bàn tỉnh. Thư viện tỉnh đã phục vụ 7.124 lượt bạn đọc với 29.537 lượt sách báo được đưa ra lưu hành. Hệ thống thư viện huyện, thư viện xã có 23.464 lượt bạn đọc với 72.583 lượt sách báo lưu hành.  Hoạt động thể dục - thể thao trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì và đạt được nhiều thành tích nổi bật, trong đó: 6 địa phương và ngành tổ chức khai mạc Đại hội thể dục Thể thao cấp huyện (hoàn thành trong tháng 5/2022); Đại hội Thể dục Thể thao cấp tỉnh đã tổ chức được 06 môn thi đấu; Tiền Giang có 03 vận động viên và 10 huấn luyện viên tham dự Seagames 31 tổ chức tại Việt Nam; Đội Bóng bàn tham dự giải Bóng bàn Trẻ, Thiếu niên, Nhi đồng toàn quốc Khu vực miền Đông Nam Bộ và miền Tây lần thứ III năm 2022, từ ngày 15/4 - 17/4/2022 tại Tiền Giang, đạt 11 Huy chương Vàng, 05 Huy chương Bạc, 13 Huy chương Đồng; Đội Cầu lông tham dự Giải Cầu lông Tambo lần 2 năm 2022, từ ngày 29/4 - 01/5/2022 tại Cần Thơ, đạt 04 Huy chương Vàng, 03 Huy chương Bạc, 04 Huy chương Đồng; Đội bóng đá Tiền Giang tham gia giải hạng nhì năm 2022 kết thúc lượt đi tạm xếp hạng 4; Tổ chức khai thác khu thể thao dưới nước tỉnh Tiền Giang.  6. Tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội (Theo báo cáo của ngành công an):  Tội phạm về trật tự xã hội ghi nhận 54/42 vụ (tăng 28,6% so với tháng 4/2022, giảm 18,2% so với năm 2019), làm bị thương 12 người, tải sản thiệt hại khoảng 787 triệu đồng; điều tra khám phá 34 vụ (đạt 63%), bắt xử lý 45 đối tượng, thu hồi tài sản khoảng 94 triệu đồng, 5 tháng đầu năm 2022 ghi nhận 243/301 vụ, giảm 58 vụ 19,3% so với cùng kỳ năm 2019; điều tra khám phá 184 vụ đạt 75,7%, xử lý 227 đối tượng. Phát hiện, xử lý 39 tụ điểm cờ bạc, 308 đối tượng liên quan; 9 vụ, 11 đối tượng có hành vi tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy; 12 vụ, 12 đối tượng vi phạm pháp luật về kinh tế.  7. Trật tự an toàn giao thông (Theo báo cáo của ngành công an):  Tai nạn giao thông đường bộ: Tai nạn giao thông trong tháng xảy ra 34 vụ, tăng 08 vụ so tháng trước và giảm 19 vụ so cùng kỳ, làm chết 26 người, tăng 04 người so tháng trước và tăng 03 người so cùng kỳ, bị thương 15 người, tăng 10 người so tháng trước và giảm 22 người so cùng kỳ. Nâng tổng số vụ từ đầu năm đến nay 158 vụ, làm chết 115 người và bị thương 71 người. Nguyên nhân gây nên tai nạn giao thông chủ yếu do không làm chủ tốc độ; đi không đúng phần đường, làn đường; uống rượu say; lỗi do người đi bộ; chuyển hướng không đúng quy định; vượt không đảm bảo an toàn;..  Tai nạn giao thông đường thủy: Trong tháng không xảy ra vụ tai nạn giảm 01 vụ so tháng trước và tương đương so cùng kỳ. Từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh xảy ra 02 vụ tai nạn, làm 02 người chết, không phát sinh người bị thương.  * Tai nạn giao thông trong 04 ngày nghỉ lễ 30/4 và 01/5/2022 (tính từ ngày 30/4/2022 đến ngày 03/5/2022): Tai nạn giao thông đường bộ xảy ra 05 vụ, làm 05 người chết và 02 người bị thương, va chạm giao thông đường bộ ghi nhận 02 vụ, làm 02 người bị thương; Đường thuỷ: không xảy ra.  8. Tình hình cháy nổ, môi trường:  Trong tháng 5 năm 2022 trên địa bàn tỉnh xảy ra 01 vụ cháy nguyên nhân do chập điện, ước tính giá trị thiệt hại là 260 triệu đồng. Vi phạm môi trường ghi nhận 02 vụ trên địa bàn tỉnh; so với tháng trước tăng 02 vụ vi phạm đã xử lý; so với cùng kỳ năm trước giảm 02 vụ đã xử lý. Nâng tổng số vụ vi phạm môi trường từ đầu năm là 11 vụ giảm 04 vụ đã xử lý so với cùng kỳ.

Tổng cục Thống kê trúng cử vào Hội đồng điều hành Viện Thống kê châu Á - Thái Bình Dương
  •   18/06/2024 15:25

Viện Thống kê châu Á - Thái Bình Dương (SIAP) là trung tâm đào tạo về Thống kê ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trực thuộc Ủy ban Kinh tế - Xã hội châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP), được thành lập vào tháng 5 năm 1970, đặt tại Chiba - Nhật Bản. Chức năng chính của SIAP là cải thiện năng lực thống kê của các nước thành viên và thành viên liên kết. Hoạt động chủ yếu của SIAP là tổ chức các khóa đào tạo thống kê, kết nối và hợp tác với các tổ chức quốc tế, đối tác phát triển và phổ biến thông tin thống kê nhằm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.   Hội đồng điều hành SIAP gồm đại diện Chính phủ Nhật Bản và 8 thành viên khác được ESCAP bầu từ các quốc gia thành viên và thành viên liên kết, có trách nhiệm đánh giá tình hình quản trị, tài chính và thực hiện chương trình công tác hàng năm và dài hạn của SIAP. Nhiệm kỳ của Hội đồng điều hành SIAP kéo dài 3 năm.   Nhận thư thông báo của ESCAP về việc ứng cử/tái ứng cử Hội đồng điều hành các cơ chế của ESCAP, trong đó có Hội đồng điều hành SIAP, được sự đồng ý của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư và căn cứ vào khả năng đáp ứng các điều kiện để ứng cử vào Hội đồng điều hành SIAP, tháng 4 năm 2022, Tổng cục Thống kê đã đăng ký tham gia ứng cử vào Hội đồng điều hành SIAP nhiệm kỳ 2022-2025 và phối hợp với Bộ Ngoại giao để triển khai các thủ tục ứng cử.   Tại bản trình bày ứng cử của Việt Nam vào Hội đồng điều hành SIAP, Tổng cục Thống kê nêu rõ mục tiêu ứng cử vào Hội đồng điều hành SIAP là để Việt Nam có cơ hội trực tiếp đóng góp ý kiến về Chiến lược, Kế hoạch phát triển của các cơ quan thống kê thành viên thuộc khu vực Châu Á - Thái Bình Dương. Bên cạnh đó, Việt Nam có cơ hội đồng hành cùng SIAP xem xét, thông qua kế hoạch làm việc hàng năm và dài hạn về các vấn đề đào tạo nghiệp vụ thống kê; phổ biến thông tin thống kê của các quốc gia thành viên; kết nối, chia sẻ, hợp tác với các tổ chức quốc tế và các đối tác phát triển trong việc thu thập, biên soạn, phổ biến thông tin thống kê. Việt Nam đồng thời được đóng góp ý kiến và có thể tham gia vào quá trình cải tiến phương pháp chế độ thống kê trong thu thập và biên soạn các chỉ tiêu thống kê mới nổi của nền kinh tế như phát triển bền vững, logistics, kinh tế số, kinh tế chia sẻ...; có ý kiến về những phản ứng về các đối sách đối với hoạt động thống kê của khu vực trong bối cảnh cục diện quốc tế đang thay đổi.   Tổng cục Thống kê Việt Nam nêu rõ Việt Nam đánh giá cao tầm quan trọng của SIAP trong việc hỗ trợ nâng cao năng lực thống kê cho các quốc gia thành viên và các thành viên liên kết trong khu vực thông qua các khóa đào tạo. Tổng cục Thống kê cũng bày tỏ tin tưởng SIAP với sứ mệnh là một trung tâm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao về thống kê trong khu vực châu Á- Thái Bình Dương sẽ tiếp tục phát triển và đóng góp nhiều hơn nữa cho cộng đồng những người làm thống kê toàn cầu, cũng như góp phần giúp các quốc gia thực hiện thành công các mục tiêu phát triển bền vững. Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam phát biểu tại Khóa họp lần thứ 78 của ESCAP (Nguồn: TTXVN)   Tại Khóa họp lần thứ 78 của ESCAP diễn ra ở Băng-cốc, Thái Lan, trong ngày 24/5/2022, ESCAP đã tổ chức bỏ phiếu kín trực tiếp trên cơ sở danh sách ứng cử từ các quốc gia để bầu các thành viên cho nhiệm kỳ mới. Sau kết quả bỏ phiếu, Tổng cục Thống kê Việt Nam đã được các nước thành viên ESCAP tín nhiệm bầu vào Hội đồng điều hành của Viện thống kê châu Á-Thái Bình Dương. Theo quy định, Tổng cục Thống kê Việt Nam sẽ cùng đại diện của nước chủ nhà Nhật Bản và 7 thành viên khác của Hội đồng điều hành SIAP sẽ họp ít nhất mỗi năm một lần để đánh giá tình hình quản trị, tài chính và thực hiện chương trình công tác hàng năm và dài hạn của SIAP.   Sự kiện Tổng cục Thống kê Việt Nam trúng cử vào SIAP cho thấy các nước thành viên ESCAP đánh giá cao khả năng đóng góp của Việt Nam, cũng như coi trọng vai trò và vị thế của Thống kê Việt Nam tại ESCAP. Đây là cơ hội tốt để Việt Nam tăng cường hợp tác, thể hiện cam kết mạnh mẽ với khu vực trong lĩnh vực thống kê, qua đó góp phần phục vụ các mục tiêu phát triển đất nước, nâng cao vị thế của Việt Nam nói chung và ngành Thống kê Việt Nam nói riêng trên trường quốc tế, đúng với mục tiêu đề ra trong Chiến lược phát triển thống kê Việt Nam giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045./. B.N

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Tiền Giang Tháng 4 năm 2022
  •   18/06/2024 15:29

Trong tháng với sự tập trung chỉ đạo quyết liệt của Tỉnh Ủy, điều hành chủ động, linh hoạt của Ủy ban nhân dân tỉnh, các ngành, các cấp, kinh tế - xã hội tháng 4/2022 đã đạt được nhiều kết quả khả quan tích cực, hầu hết các ngành lĩnh vực có xu hướng phục hồi và tăng trưởng trở lại. Kết quả thực hiện trên các lĩnh vực như sau:  I. SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP VÀ THỦY SẢN  1. Nông nghiệp  Cây lương thực có hạt: Trong tháng 04 năm 2022, gieo trồng 1.817 ha, sản lượng thu hoạch 437tấn. Ước tính bốn tháng đầu năm gieo trồng 74.465 ha, đạt 59,6% kế hoạch, giảm 1,8% so cùng kỳ; thu hoạch 354.445 tấn, đạt 46,2% kế hoạch, giảm 4,5% so cùng kỳ. Cụ thể:  - Cây lúa:  Bốn tháng đầu năm 2022 cây lúa gieo sạ 73.089 ha, đạt 59,8% kế hoạch, giảm 2% so cùng kỳ, thu hoạch 49.192 ha đạt 40,2% kế hoạch, giảm 4,8% so cùng kỳ; sản lượng thu hoạch 350.530 tấn đạt 46,3% kế hoạch, so cùng kỳ giảm 4,5% với năng suất thu hoạch đạt 71,3 tạ/ha tăng 0,2% so cùng kỳ.  Vụ Đông Xuân 2021 - 2022: chính thức xuống giống 49.192 ha, giảm 4,8% so cùng kỳ; thu hoạch 100% diện tích, sản lượng thu hoạch 350.530 tấn, giảm 4,5% so cùng kỳ, năng suất thu hoạch ước đạt 71,3 tạ/ha, tăng 0,2% so cùng kỳ, năng suất bình quân vùng lúa phía đông gần 66,1 tạ/ha; phía tây là 75,4 tạ/ha: cao nhất là 78,6 tạ/ha, thấp nhất là 72,6 tạ/ha. Vụ Đông Xuân 2021- 2022 được triển khai thực hiện sớm hơn so cùng kỳ để tránh hạn mặn trong mùa khô và thời tiết thuận lợi hơn giúp cây lúa sinh trưởng, phát triển tốt, sâu bệnh ít, thời gian lúa trổ gặp thời tiết tương đối thuận lợi giúp thụ phấn và đậu hạt tốt, cơn mưa trái mùa giúp đủ nước cung cấp cho cây lúa trong suốt quá trình sinh trưởng, phát triển nên cho năng suất cao.  Vụ Hè Thu (gồm Xuân Hè và Hè Thu): gieo sạ 23.897 ha, đạt 33,5% kế hoạch, tăng 4,3% so cùng kỳ. Diện tích gieo trồng chủ yếu ở các huyện phía tây, sau khi thu hoạch lúa Đông Xuân người dân tiếp tục gieo trồng vụ Hè Thu.   - Cây ngô: Trong tháng gieo trồng được 65 ha, cộng dồn từ đầu năm đạt 1.376 ha đạt 53% kế hoạch, tăng 6,3% so cùng kỳ, năng suất thu hoạch quy thóc 36 tạ/ha, đạt 99,3% kế hoạch, tăng 1% so với cùng kỳ với sản lượng quy thóc 3.915 tấn, đạt 41,6% kế hoạch, giảm 0,2% so cùng kỳ. Huyện Chợ Gạo có diện tích trồng ngô lớn nhất tỉnh với 728 ha chiếm 52,9% diện tích ngô toàn tỉnh, đây cũng là địa phương có tốc độ chuyển dịch cơ cấu sản xuất từ trồng lúa sang các cây trồng khác mạnh nhất tỉnh.  - Cây rau đậu các loại: Ước tính trong tháng gieo trồng 1.559 ha tăng 0,4% so cùng kỳ; thu hoạch 1.273 ha tăng 0,1% so cùng kỳ; sản lượng thu hoạch 26.647 tấn giảm 6,8% so cùng kỳ; năng suất bình quân đạt 209,3 tạ/ha giảm 6,8% so cùng kỳ. Diện tích gieo trồng trong Bốn tháng đầu năm đạt 31.756 ha tăng 0,1% so cùng kỳ; diện tích thu hoạch 28.284 ha tăng 3,9% so cùng kỳ; sản lượng thu hoạch đạt 588.013 tấn tăng 4,6% so cùng kỳ; năng suất bình quân đạt 207,9 tạ/ha tăng 0,7% so cùng kỳ; trong đó: rau các loại gieo trồng 31.580 ha tăng 0,1% so cùng kỳ; thu hoạch 28.212 ha tăng 3,9% so cùng kỳ; sản lượng 587.796 tấn tăng 4,6% so cùng kỳ; năng suất bình quân đạt 208,4 tạ/ha tăng 0,7% so cùng kỳ. Diện tích gieo trồng và năng suất thu hoạch tăng ở cây rau muống, cải các loại và rau lấy lá khác (xà lách, rau diếp,…) do người dân chuyển đổi cây trồng từ lúa sang, tăng cường ứng dụng khoa học- kỹ thuật, mở rộng quy mô trồng rau trong nhà lưới kiểm soát được sâu bệnh. Bên cạnh đó, nông dân Tiền Giang đang phát triển nhiều mô hình trồng rau màu: chuyên canh, luân canh trên nền đất lúa, xen canh lúa và màu… để thích ứng biến đổi khí hậu, giúp nông dân có thu nhập cao, đời sống ổn định là hướng đi đang được khuyến khích.  * Chăn nuôi: Ước thời điểm 01/4/2022 tổng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh như sau: đàn bò 124,2 ngàn con, tăng 2,9% so cùng kỳ; đàn lợn 284,3 ngàn con, tăng 4,1%; đàn gia cầm 17,2 triệu con, giảm 1,7%. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng trong tháng: thịt bò 2.080 tấn, tăng 10,5% so cùng kỳ; thịt lợn 7.051 tấn, tăng 13,5%. Nguyên nhân tổng đàn bò, đàn lợn tăng so cùng kỳ do giá cả ổn định, hộ dân tái đàn nhiều sau dịch bệnh Covid -19 và một số hộ nông dân chuyển đổi canh tác từ trồng lúa sang trồng cỏ chăn nuôi bò; Đàn gia cầm giảm do đàn vịt giảm vì giá thịt hơi thấp, giá thức ăn chăn nuôi và giá con đều tăng hộ chọn phương án an toàn, tránh bị lỗ vốn, nhiều hộ chăn nuôi quyết định giảm đàn, thậm chí ngừng chăn nuôi.   * Tình hình dịch bệnh trên vật nuôi: Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Tiền Giang:  Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: trong tháng ghi nhận 04 trường hợp heo mắc trên địa bàn huyện Cái Bè và Châu Thành với tổng số heo bệnh là 87 con trên tổng đàn 142 con, số heo được tiêu hủy dưới sự giám sát của chính quyền địa phương là 201 con, khối lượng 6.535 kg. Từ ngày 14/12/2021 đến nay, trên địa bàn toàn tỉnh ghi nhận 98 hộ có heo mắc bệnh Dịch tả lợn Châu Phi với tổng số heo bệnh là 1.478 trên tổng đàn 4.185 con, số heo được tiêu hủy dưới sự giám sát của chính quyền địa phương là 3.356 con, trọng lượng 145.081 kg. Ngoài ra, địa phương còn tiêu hủy 354 con tại các hộ bệnh trước ngày 14/12/2021 với trọng lượng 18.015 kg.  Bệnh viêm da nổi cục: Ghi nhận 01 trường hợp bò có dấu hiệu điển hình của bệnh viêm da nổi cục tại huyện Gò Công Tây với 01 con bò bệnh trên tổng đàn 03 con. Chính quyền địa phương tiêu hủy 02 con với trọng lượng 114 kg. Từ ngày 14/12/2021 ghi nhận bò có dấu hiệu điển hình của bệnh viêm da nổi cục với 08 con bò bệnh/tổng đàn 31 con, chính quyền địa phương tiêu hủy 03 con với trọng lượng 304 kg.   2. Lâm nghiệp:  Tổng diện tích rừng hiện có là 1.793,9 ha (không bao gồm diện tích rừng thuộc đất an ninh quốc phòng). Trong đó rừng phòng hộ: 1.341,2 ha (huyện Gò Công Đông: 439 ha; huyện Tân Phú Đông: 846,8 ha và huyện Tân Phước: 55,4 ha). Rừng sản xuất: 452,7 ha. Tháng 4 giảm 3 ha rừng sản xuất chủ yếu huyện Tân Phước, bốn tháng giảm 3 ha do người dân khai thác rừng sản xuất chuyển sang trồng cây ăn trái như sầu riêng, mít, khóm (dứa) đạt hiệu quả kinh tế cao.  Ước đến hết tháng 04/2022 toàn tỉnh thực hiện trồng mới được 2,4 ngàn cây phân tán nâng tổng số cây trồng được 3,9 ngàn cây các loại, giảm 45,3% so với cùng kỳ. Nguyên nhân giảm là do thời tiết hiện nay nắng nóng, chưa thuận lợi cho trồng cây. Các loại cây trồng chủ yếu là bạch đàn, xà cừ, tràm trồng trên các tuyến đường đi, bờ ao, bờ kênh ven sông.   3. Thủy hải sản:  Diện tích nuôi thủy sản các loại trong tháng đạt 1.507 tấn giảm 2,6% so cùng kỳ. Diện tích nuôi trồng thủy sản bốn tháng đầu năm 2022 đạt 11.393 ha, đạt 75,4% kế hoạch, giảm 4,4% so cùng kỳ; trong đó: diện tích nuôi cá đạt 3.173 ha giảm 5,7% so cùng kỳ, diện tích nuôi tôm đạt 5.200 ha giảm 6,1% so cùng kỳ; diện tích nuôi thủy sản khác đạt 3.020 ha tương đương so với cùng kỳ. Diện tích nuôi trồng thủy sản giảm do ảnh hưởng môi trường nuôi, hiệu quả kinh tế thấp và do ảnh hưởng dịch bệnh Covid-19 nên các Công ty, Doanh nghiệp gặp khó khăn trong sản xuất và xuất khẩu.  Sản lượng thủy sản thu hoạch trong tháng đạt 30.820 tấn giảm 0,4% so với cùng kỳ. Sản lượng thu hoạch Bốn tháng đầu năm 2022 đạt 105.863 tấn, giảm 0,1% so cùng kỳ; trong đó: sản lượng thu hoạch từ nuôi 50.217 tấn, tăng 0,7% so cùng kỳ; sản lượng khai thác 55.646 tấn, giảm 0,9% so cùng kỳ, chủ yếu là tăng sản lượng nuôi cá, nuôi thủy sản khác.  II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP  Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 4/2022 giảm 2,8% so với tháng trước, do một số ngành sản xuất công nghiệp có chỉ số giảm so với tháng trước như: chế biến thực phẩm giảm 0,84%; sản xuất đồ uống giảm 16,3%; sản xuất trang phục giảm 11,1%; sản xuất kim loại giảm 17,8%...  Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 4 năm 2022 tăng 7,3% so cùng kỳ, do một số ngành chiếm tỷ trọng lớn tăng như: sản xuất đồ uống tăng 8,4%; dệt tăng 5,6%; Sản xuất da tăng 36,9%.... Chỉ số sản xuất công nghiệp 4 tháng năm 2022 tăng 3,7% so cùng kỳ năm trước; trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 3,8%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 6%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 4,4%.  Chỉ số sản xuất sản phẩm trong 4 tháng so cùng kỳ như sau:  - Có 17/42 sản phẩm tăng so cùng kỳ: thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng viên tăng 226,8%; các bộ phận của bi, bánh răng, hộp số, các bộ phận điều khiển và truyền chuyển động khác tăng 187,2%; giày, dép thể thao có mũ bằng da và có đế ngoài tăng 76,5%; đồ chơi hình con vật hoặc sinh vật không phải hình người tăng 59,8%; điện thương phẩm tăng 6%; bia đóng lon tăng 5,4%; các sản phẩm bằng vật liệu tết bện khác tăng 5,1%; giày, dép thể thao có đế ngoài và mũ giày bằng cao su và plastic tăng 2,1%; …  - Có 25/42 sản phẩm giảm so cùng kỳ: dịch vụ sửa chữa, bảo dưỡng tàu, thuyền giảm 94,2%; phanh và trợ lực phanh giảm 81,4%; cửa ra vào, cửa sổ bằng sắt, thép giảm 34,5%; thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng bột/cốm giảm 33,7%; dịch vụ sản xuất sản phẩm điện tử dân dụng giảm 22%; phi lê đông lạnh giảm 13,6%; thức ăn cho gia súc giảm 4,1%; nước uống được giảm 4,1%; giấy vệ sinh giảm 1,9%; màn bằng vải khác giảm 1,2%; cấu kiện làm sẵn cho xây dựng hoặc kỹ thuật dân dụng, bằng xi măng, bê tông hoặc đá nhân tạo giảm 1,1%; cáp đồng trục và dây dẫn điện đồng trục giảm 0,8%;…  * Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo:  - Chỉ số tiêu thụ tháng 4/2022 so với tháng trước giảm 5% và tăng 8,5% so cùng kỳ. Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cộng dồn từ đầu năm đến cuối tháng 4/2022 tăng 1,9%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao: sản xuất đồ uống tăng 14,51%, trong đó sản xuất bia tăng 14,51%; dệt tăng 9,43%, trong đó sản xuất hàng may sẳn tăng 32,38%; sản xuất da tăng 7,15%, trong đó sản xuất giày dép tăng 22,21%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 38,4%; sản xuất sản phẩm cao su và plastic tăng 28,29%; sản xuất kim loại tăng 41,19%;... Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm so cùng kỳ là: sản xuất chế biến thực phẩm giảm 14,68%, trong đó chế biến, bảo quản thủy sản và các sản phẩm từ thủy sản giảm 16,92%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ giảm 14,33%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 27,69%;…  - Chỉ số tồn kho tháng 4/2022 so với tháng trước tăng 12,6% và so với cùng kỳ giảm 23,4%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so với cùng kỳ là: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 19,4%, trong đó sản xuất thức ăn cho gia súc, gia cầm và thuỷ sản tăng 27,3%; sản xuất đồ uống tăng 94,4%, trong đó sản xuất bia tăng 94,4%; sản xuất da tăng 3%, trong đó sản xuất giày dép tăng 0,9%; sản xuất kim loại tăng 103%; sản xuất thiết bị điện tăng 69,9%;…Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tồn kho giảm so cùng kỳ là: dệt giảm 23,8%, trong đó sản xuất hàng may sẳn giảm 26,4%; sản xuất trang phục giảm 87,1%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 0,1%;…  * Tình hình thu hút đầu tư và phát triển các khu - cụm công nghiệp:  - Khu công nghiệp: đến nay tỉnh đã được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương quy hoạch 7 khu công nghiệp với tổng diện tích 2.083,5 ha; trong đó có 4 khu công nghiệp đi vào hoạt động. Trong tháng, Ban Quản lý các khu công nghiệp đã cấp mới giấy chứng nhận đầu tư cho 02 dự án FDI, tổng vốn đầu tư đăng ký 19,5 triệu USD, diện tích đất cho thuê thêm là 4,12 ha điều chỉnh 09 giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho các công ty, trong đó có 01 lượt dự án điều chỉnh tăng vốn đầu tư với tổng vốn đầu tư tăng thêm là 33 triệu USD. Các dự án đăng ký điều chỉnh chủ yếu như: tăng vốn đầu tư, quy mô, diện tích mặt đất, tiến độ thực hiện dự án...  Đến cuối tháng 4/2022, tổng số dự án đầu tư tại các khu công nghiệp là 107 dự án (trong đó có 78 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài) với tổng vốn đầu tư là 2,3 Tỷ USD và 4.575,8 tỷ đồng. Diện tích cho thuê của các doanh nghiệp đạt 521,8/770,1 ha, chiếm tỷ lệ 67,7% diện tích các khu công nghiệp.   - Cụm công nghiệp: trên địa bàn tỉnh có 27 cụm công nghiệp được quy hoạch; trong đó có 4 cụm công nghiệp đang hoạt động. Trong tháng không thu hút dự án đầu tư mới. Tổng số dự án đầu tư tại các cụm công nghiệp hiện nay là 79 dự án (trong đó: có 6 dự án đầu tư nước ngoài) với tổng vốn đầu tư đăng ký là 0,1 tỷ USD và 2.306,2 tỷ đồng, diện tích thuê đất là 89,7/120,6 ha, tỷ lệ lắp đầy đạt 74,5%.  III. ĐẦU TƯ - XÂY DỰNG  Tập trung điều kiện đẩy nhanh tiến độ thi công đối với các công trình chuyển tiếp, đồng thời hoàn chỉnh hồ sơ, đấu thầu đưa vào chuẩn bị khởi động xây dựng các công trình mới, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công kịp thời, xem đây là nguồn lực quan trọng để khôi phục kinh tế xã hội sau đại dịch, nỗ lực phấn đấu cao nhất thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội năm 2022. Tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý thực hiện trong tháng là 321,1 tỷ đồng, tăng 19,9% so cùng kỳ. Bốn tháng đầu năm 2022 thực hiện 922,5 tỷ đồng, đạt 23,8% kế hoạch, tăng 11,2% so cùng kỳ. Ủy ban Nhân dân tỉnh chỉ đạo các sở, ban, ngành tỉnh và địa phương nâng cao trách nhiệm trong quản lý đầu tư xây dựng công trình cũng như đẩy mạnh huy động các nguồn lực của các thành phần kinh tế cho đầu tư phát triển.  Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh thực hiện 723,8 tỷ đồng, đạt 24,1% kế hoạch, tăng 12,4% so cùng kỳ, chiếm 78,5% tổng số; trong đó: vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 141,4 tỷ đồng, tăng 25,5%, vốn xổ số kiến thiết thực hiện 332,4 tỷ đồng, tăng 10,9% so cùng kỳ...  Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp huyện thực hiện 166,9 tỷ đồng, đạt 32,2% kế hoạch, tăng 5,5% so cùng kỳ, chiếm 18,1% tổng số; trong đó: vốn tỉnh hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 63,6 tỷ đồng, giảm 6,6% so cùng kỳ...  Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp xã thực hiện 31,8 tỷ đồng, đạt 8,9% kế hoạch, tăng 16,3% so cùng kỳ, chiếm 3,4% tổng số; trong đó: vốn huyện hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 16,2 tỷ đồng, tăng 25,7% so cùng kỳ...  IV. THƯƠNG MẠI - GIÁ CẢ - DỊCH VỤ  1. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng:  Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trong tháng thực hiện 6.345 tỷ đồng, tăng 0,4% so tháng trước và tăng 13,8% so cùng kỳ do trong tháng có các ngày nghỉ như: Giỗ Tổ Hùng vương, 30/4; một số hoạt động hội chợ, triển lãm được tổ chức trong tháng (tại thành phố Mỹ Tho, huyện Tân Phước, huyện Chợ Gạo) góp phần sôi động thị trường mua sắm, nên nhu cầu một số nhóm hàng chiếm tỉ trọng dự kiến tăng tác động đến doanh thu. Bốn tháng đầu năm 2022, tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thực hiện 25.560 tỷ đồng, đạt 36% kế hoạch, tăng 10,4% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 21.644 tỷ đồng, tăng 17%; lưu trú 13 tỷ đồng, tăng 0,1%; ăn uống 1.538 tỷ đồng, giảm 30,1%; du lịch lữ hành 5 tỷ đồng, giảm 6,1%; dịch vụ tiêu dùng khác 2.360 tỷ đồng, giảm 3,3% so cùng kỳ.  2. Xuất - Nhập khẩu:  a. Xuất khẩu:  Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng thực hiện 412 triệu USD, tăng 46% so tháng trước; trong đó: kinh tế ngoài nhà nước 86 triệu USD, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 326 triệu USD. Bốn tháng xuất khẩu 1.421 triệu USD, đạt 42,4% kế hoạch, tăng 31,9% so cùng kỳ; trong đó: kinh tế nhà nước 3 triệu USD, giảm 8,3%; kinh tế ngoài nhà nước 288 triệu USD, tăng 81,3%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 1.130 triệu USD, tăng 23,4% so cùng kỳ.  Tình hình xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của tỉnh như sau:  - Thủy sản: ước tính tháng 4/2022 xuất 16.232 tấn với trị giá xuất đạt 49,8 triệu USD. Bốn tháng xuất 48.506 tấn, tăng 47,9%, về trị giá 157,5 triệu USD, đạt 49,2% kế hoạch, tăng 120,4% so cùng kỳ.  Mặt hàng thủy sản xuất khẩu chủ yếu là cá tra phi lê (chiếm 88%), còn lại là các thủy sản khác như nghêu, sò, mực, thủy sản đóng hộp.... trong đó giá cá tra xuất khẩu của các doanh nghiệp trong tỉnh tăng hơn 18% so với cùng kỳ và tăng ở hầu hết thị trường. Dự báo Trung Quốc có thể vẫn giữ vững vị trí là thị trường nhập khẩu lớn nhất của cá tra của tỉnh. Tuy nhiên đối với thị trường châu Âu và Anh, hiện giá cước vận chuyển tăng đã làm giá cá tra tăng, do đó xuất khẩu qua thị trường này sẽ khó có đột biến tăng trưởng.  - Gạo: ước tính tháng 4/2022 xuất 7.804 tấn với giá trị đạt 3,9 triệu USD. Bốn tháng xuất 31.076 tấn, giảm 16,1%; về trị giá 15,4 triệu USD, đạt 11% kế hoạch, giảm 25,7% so cùng kỳ.  Trong quý I/2022 giá gạo xuất khẩu trung bình giảm hơn 3,6% so với cùng kỳ năm trước, do giá vận tải cũng như chi phí thuê container rỗng tăng cao, ảnh hưởng đến đối tác, nên doanh nghiệp chủ động giảm giá để chia sẻ khó khăn. Trung Quốc là thị trường bền vững, truyền thống, dẫn đầu về nhập khẩu gạo của tỉnh, chiếm hơn 43% trong tổng trị giá xuất khẩu gạo của tỉnh; kế tiếp là thị trường Philippines chiếm hơn 27%. Ngoài ra còn xuất qua một số thị trường khác như: Hồng Kông, Malaysia, Hoa Kỳ, các nước châu Phi...  - Hàng dệt, may: ước tính tháng 4/2022 xuất 2.500 ngàn sản phẩm với giá trị 35,3 triệu USD. Bốn tháng xuất 30.325 ngàn sản phẩm, giảm 40,6%, về giá trị 154,7 triệu USD, đạt 25,8% kế hoạch, giảm 1,2% so cùng kỳ.  Hiện nay, một số doanh nghiệp dệt may lớn của Việt Nam cho biết đều có đơn hàng cho đến quý 2 và quý 3. Tận dụng những ưu đãi về thuế quan từ Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) và Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Anh quốc (UKVFTA) mang lại, năm 2022, các doanh nghiệp này cũng sẽ tăng tốc đẩy mạnh tiếp cận thị trường châu Âu. Ngoài ra, mặc dù giá trị xuất nhập khẩu Nga và Ucraina rất nhỏ (cả hai thị trường này chỉ chiếm khoảng trên 1,2% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam năm 2021), tuy nhiên xung đột 2 nước này hiện nay cũng đang có những tác động gián tiếp đến ngành dệt may Việt Nam. Lệnh trừng phạt của Mỹ và phương Tây lên Nga khiến các đơn hàng của một số doanh nghiệp dệt may có đối tác tại Nga đang bị ngưng trệ, chưa thể xuất được. Hệ thống thanh toán quốc tế SWIFT cũng đã ngắt nối tới thị trường Nga. Do vậy, nhiều ngân hàng cũng không thể thanh toán hợp đồng của các doanh nghiệp có làm ăn với thị trường Nga thời gian tới.  - Kim loại thường và sản phẩm (kể cả đồng): ước tính tháng 4/2022 xuất 8.823 tấn với giá trị 100,4 triệu USD. Bốn tháng xuất 33.463 tấn, giảm 0,6%, về giá trị 369,7 triệu USD, tăng 26,1% so cùng kỳ.  Ngoài các mặt hàng chủ yếu, trị giá xuất khẩu một số mặt hàng trong 4 tháng đầu năm 2022 như: giày dép các loại 238,6 triệu USD, tăng 18,3%; túi xách, ví, vali, mũ và ô dù 112,3 triệu USD, tăng 41%; sản phẩm từ chất dẻo 120 triệu USD, tăng 81,5% ... so cùng kỳ.  2. Nhập khẩu:  Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa trong tháng 4/2022 là 195,8 triệu USD. Bốn tháng, kim ngạch nhập khẩu 767,8 triệu USD, đạt 40,4% kế hoạch, tăng 4,8% so cùng kỳ; trong đó:kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài nhập 736,2 triệu USD, tăng 5,7% so cùng kỳ. Nguyên liệu nhập khẩu chủ yếu các mặt hàng như nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày 176,3 triệu USD, tăng 51%; kim loại thường khác 299,3 triệu USD, giảm 10,6%; vải các loại 64,9 triệu USD, giảm 7,1% so cùng kỳ...  3. Chỉ số giá:  Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4/2022 tăng 0,47% so tháng 3/2022 (thành thị tăng 0,38%, nông thôn tăng 0,49%); so cùng kỳ tăng 3,5%.  So với tháng 3/2022, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 09 nhóm tăng: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,47%; Đồ uống và thuốc lá tăng 0,74%; May mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,51%; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,26%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,31%; Thuốc và dịch vụ y tết tăng 0,01%; Giáo dục tăng 0,03%; Văn hoá, giải trí, du lịch tăng 0,02% và nhóm Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,39%. Có 02 nhóm giảm: Giao thông giảm 1% và nhóm Bưu chính viễn thông giảm 0,08%.  Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4/2022 tăng so tháng 3/2022 do:  - Tình hình dịch bệnh COVID-19 được kiểm soát tốt, các trường học, công ty, cơ sở sản xuất kinh doanh và các khu vui chơi giải trí...bắt đầu phục hồi, các bếp ăn tập thể hoạt động trở lại, tác động giá thực phẩm tươi sống tăng nhẹ so với tháng trước như: thịt lợn tăng 0,25%, thịt bò tăng 0,46%, thịt gia cầm tươi sống tăng 1,37%, trứng các loại tăng 3,95%, thuỷ sản chế biến tăng 1,22%, rau tươi, khô và chế biến tăng 0,01%...tác động đến nhóm thực phẩm tăng 0,23%, làm cho CPI chung tăng 0,05 điểm phần trăm.  - Đang trong mùa khô, thuận lợi cho ngành xây dựng hoạt động; mặc khác do giá xăng dầu duy trì ở mức cao, dẫn đến chi phí khai thác, vận chuyển tăng nên giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở chính trong tháng 04/2022 (sắt, thép, xi măng, cát, đá, gạch xây) tăng 1,96%.  - Giá gas tăng 3,13%, tương ứng tăng 14.000 đồng/bình 12 kg màu xám vào ngày 01/4/2022. Cùng với đó, giá dầu hỏa bình quân trong tháng 04/2022 tăng 7,28%, tương ứng tăng 1.580 đồng/lít.  - Dịch bệnh Covid -19 được kiểm soát, đa số các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh đang bước vào giai đoạn hoạt động ổn định, dẫn đến nhu cầu nhà trọ để ở tăng, tác động giá cho thuê tăng 2,06%.  Bên cạnh đó, một số mặt hàng có chỉ số giá giảm đã kìm hãm tốc độ tăng CPI:  - Trong tháng, giá xăng dầu điều chỉnh 03 lần, vào các ngày: 01, 12 và ngày 21/4/2022, tính chung: giá xăng A95-III giảm 1.200 đồng/lít, xăng E5 sinh học giảm 1.200 đồng/lít, riêng dầu Diezen 0,05S tăng 1.720 đồng/lít, tác động chỉ số giá nhóm nhiên liệu giảm 2,26%, góp phần kềm hãm mức tăng CPI chung khoảng 0,1 điểm phần trăm.  - Giá điện sinh hoạt giảm 1,56% so với tháng trước, nguyên nhân do trong tháng ngành Điện lực thường xuyên (cúp điện) để sửa chữa bảo trì mạng lưới điện trên hệ thống.  Giá vàng bình quân trong tháng giảm 1,15%, tác động đến giá mặt hàng trang sức bằng vàng (nhẫn, dây chuyền) giảm 0,28%.  Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 4 tháng năm 2022 so cùng kỳ tăng 2,98%; một số nhóm hàng có giá tăng nhiều trong 4 tháng năm 2022 so cùng kỳ như: nhóm Giao thông 20,38%; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng 5,11%; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 2,72%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,64%; thiết bị và đồ dùng gia đình 1,70%; may mặc, mũ nón, giầy dép 1,58%; …  Chỉ số giá vàng 24 kara Ngọc Thẩm trong tháng 4/2022 giảm 1,15% so tháng trước, giá bình quân tháng 4/2022 là 5.497 ngàn đồng/chỉ, tăng 230 ngàn đồng/chỉ so cùng kỳ.  Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng 4/2022 tăng 0,14% so tháng trước, giá bình quân 23.020 đồng/USD, giảm 147 đồng/USD so cùng kỳ.  Dự báo trong tháng 5/2022 giá gạo sẽ tăng, do xuất khẩu thuận lợi; giá rau xanh sẽ tăng nhẹ do mùa nắng nóng kéo dài, không thuận lợi cho việc gieo trồng; nhóm hàng thực phẩm tươi sống như: thịt lợn, thịt bò, gia cầm, thuỷ sản giá tăng nhẹ do sức mua tăng lên (dịp nghỉ 04 ngày lễ 30/4 -01/5). Với các yếu tố khác không đổi, dự báo chỉ số giá tiêu dùng trong tháng 5/2022 giá tăng từ 0,3% đến 0,7% so tháng trước.  4. Du lịch:  Khách du lịch đến trong tháng 4/2022 được 48,4 ngàn lượt khách, tăng 11,8% so tháng trước và giảm 0,4% so cùng kỳ; trong đó: khách du lịch quốc tế 0,8 ngàn lượt khách, tăng 16,2% so tháng trước. Doanh thu lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ tiêu dùng khác trong tháng 4 đạt 987 tỷ đồng, tăng 1,7% so tháng trước và giảm 15,4 so cùng kỳ. Trong tháng có các ngày nghỉ Lễ như Giỗ Tổ Hùng Vương và ngày Giải phóng miền Nam 30/4 nên hoạt động lưu trú tăng. Ngoài ra theo phương án số 121/PA-UBND ngày 14/4/2022 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang về việc ban hành phương án mở cửa lại hoạt động du lịch trong điều kiện bình thường mới trên địa bàn tỉnh Tiền Giang.  Tính chung bốn tháng đầu năm 2022, lượt khách du lịch đến Tiền Giang là 147 ngàn lượt khách, đạt 16,4% kế hoạch, giảm 26,2% so cùng kỳ; trong đó: khách quốc tế 3,1 ngàn lượt khách, đạt 3,1% kế hoạch, giảm 4,4% so cùng kỳ. Tổng doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, dịch vụ lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch đạt 3.915 tỷ đồng, giảm 16% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu dịch vụ ăn uống chiếm tỷ trọng 39,3%, ước đạt 1.538 tỷ đồng, giảm 30,1%, lưu trú đạt 13 tỷ đồng, tăng 0,1% so cùng kỳ...  5. Vận tải:  Trong tháng tiếp tục triển khai các chương trình, kế hoạch hành động, các Nghị quyết của Đảng, Chính phủ, đặc biệt là xây dựng các kế hoạch, ban hành các văn bản để kịp thời chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách. Triển khai kế hoạch quản lý, bảo trì hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông; đẩy mạnh cải cách hành chính, giải quyết; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, siết chặt kỷ cương, trật tự trong công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông; tăng cường quản lý các bến, bãi đỗ xe, bến thủy nội địa, bến khách ngang sông; thường xuyên kiểm tra kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, đường thủy nhằm khắc phục kịp thời các hư hỏng, bổ sung các hạng mục an toàn giao thông phục vụ nhu cầu đi lại của người dân.  Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trong tháng thực hiện 180 tỷ đồng, tăng 4,4% so tháng trước và tăng 4,6% so cùng kỳ. Bốn tháng thực hiện 645 tỷ đồng, giảm 4,4% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 154 tỷ đồng, giảm 21,8%; doanh thu vận tải hàng hóa thực hiện 422 tỷ đồng,tăng 2,7% so cùng kỳ. Doanh thu vận tải đường bộ thực hiện 284 tỷ đồng, giảm 18%; doanh thu vận tải đường thủy thực hiện 291 tỷ đồng, tăng 11,7 %; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 69 tỷ đồng, tăng 3,7% so cùng kỳ.  Vận tải hành khách trong tháng đạt 2.849 ngàn hành khách, tăng 4,7% so tháng trước và tăng 1% so cùng kỳ; luân chuyển 42.923 ngàn hành khách.km, tăng 5% so tháng trước và giảm 20% so cùng kỳ. Bốn tháng, vận chuyển 9.831 ngàn hành khách, giảm 11,7% so cùng kỳ; luân chuyển 142.217 ngàn hành khách.km, giảm 33,8% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 3.980 ngàn hành khách, giảm 25,4% và luân chuyển 134.365 ngàn hành khách.km, giảm 35,1% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 5.851 ngàn hành khách,tăng 0,9% và luân chuyển 7.852 ngàn hành khách.km, giảm 2,4% so cùng kỳ.  Vận tải hàng hóa trong tháng đạt 1.121 ngàn tấn, tăng 4,4% so tháng trước và tăng 11,2% so cùng kỳ; luân chuyển 145.743 ngàn tấn.km, tăng 4,4% so tháng trước và tăng 14,4% so cùng kỳ. Bốn tháng, vận tải 4.086 ngàn tấn hàng hóa, tăng 6,2% so cùng kỳ; luân chuyển 531.263 ngàn tấn.km, tăng 10,1% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 932 ngàn tấn, giảm 5,1% và luân chuyển 99.442 ngàn tấn.km, giảm 2,4% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 3.154 ngàn tấn, tăng 10% và luân chuyển 431.821 ngàn tấn.km, tăng 13,4% so cùng kỳ.  * Công tác quản lý phương tiện giao thông:                        Trong tháng đăng ký mới: 6.172 chiếc mô tô xe máy, 308 chiếc xe ô tô, 11 chiếc xe đạp điện và 5 chiếc xe khác. Tổng số xe đang quản lý trên địa bàn tỉnh 1.390.143 chiếc, trong đó mô tô xe máy: 1.345.862 chiếc, 43.385 xe ô tô, 155 xe ba bánh, 251 chiếc xe đạp điện và 490 xe khác.  6. Bưu chính viễn thông:  Doanh thu trong tháng 4/2022 đạt 278 tỷ đồng, tăng 0,6% so với tháng trước và tăng 5% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính đạt 26 tỷ đồng, tăng 3,1% và viễn thông 251 tỷ đồng, tăng 0,3% so tháng trước. Bốn tháng doanh thu dịch vụ bưu chính, viễn thông đạt 1.091 tỷ đồng, tăng 4,5% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính đạt 102 tỷ đồng, tăng 13,7% và viễn thông 989 tỷ đồng, tăng 4,1% so cùng kỳ.  V. TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG  1. Tài chính:  Tổng thu ngân sách nhà nước trong tháng thực hiện 1.127 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn 790 tỷ đồng, thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 245 tỷ đồng. Bốn tháng, thu 5.907 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn thực hiện 3.315 tỷ đồng, đạt 37,6% dự toán và giảm 11,8% so cùng kỳ; thu nội địa 3.237 tỷ đồng, đạt 38% dự toán, giảm 12,2% so cùng kỳ (trong thu ngân sách trên địa bàn: thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 957 tỷ đồng, đạt 34,8% dự toán, giảm 4,2% so cùng kỳ; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 465 tỷ đồng, đạt 33,2% dự toán, giảm 21,4% so cùng kỳ, thu từ hoạt động xổ số kiến thiết 538 tỷ đồng, đạt 35% dự toán, giảm 13,7% so cùng kỳ...  Tổng chi ngân sách nhà nước trong tháng 1.035 tỷ đồng; trong đó: chi đầu tư phát triển 320 tỷ đồng. Bốn tháng, chi 4.797 tỷ đồng, đạt 39% dự toán, tăng 1,8% so cùng kỳ; trong đó: chi đầu tư phát triển 1.306 tỷ đồng, đạt 33,1% dự toán, tăng 2.2% so cùng kỳ; chi hành chính sự nghiệp 2.358 tỷ đồng, đạt 31,4% dự toán và tăng 17,5% so cùng kỳ.  2. Ngân hàng:  Mặt bằng lãi suất cho vay trên địa bàn ổn định, góp phần hỗ trợ tích cực cho các doanh nghiệp tiết kiệm chi phí khi vay vốn ngân hàng để sản xuất kinh doanh. Lãi suất cho vay VND phổ biến ở mức trên 4,5%-9%/năm đối với ngắn hạn, đối với trung dài hạn trên 11%-13%/năm. Lãi suất cho vay USD phổ biến ở mức 3%-5,5%/năm. Đặc biệt thực hiện chỉ đạo của NHNN về tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, một số chi nhánh đã triển khai chính sách về miễn, giảm lãi vay, cho vay mới.  Đến cuối tháng 3/2022, vốn huy động đạt 82.317 tỷ đồng, tăng 3,56% so với cuối năm 2021. Ước đến cuối tháng 4/2022, vốn huy động đạt 82.518 tỷ đồng, tăng 3,81% so với cuối năm 2021.  Tổng dư nợ toàn tỉnh đến cuối tháng 3 đạt 78.049 tỷ đồng, tăng 8,56% so với cuối năm 2021 (ngắn hạn chiếm 63%, trung dài hạn chiếm 37%). Ước đến cuối tháng 4/2022, dư nợ toàn tỉnh thực hiện 78.247 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 8,84% so với cuối năm 2021. Nhìn chung hoạt động cho vay những tháng đầu năm đạt mức tăng trưởng khá tốt, điều này có ý nghĩa rất lớn trong việc hỗ trợ phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh. Cơ cấu tín dụng chuyển dịch theo hướng tích cực tập trung vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh nhất là lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ. Kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, tăng cường quản lý rủi ro đối với cho vay phục vụ nhu cầu đời sống, tín dụng tiêu dùng. Tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng, góp phần hạn chế tín dụng đen.  Nợ xấu: cuối tháng 3/2022, số dư là 752 tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu 0,96%, giảm 0,09% so với cuối năm 2021. Ước đến cuối tháng 4/2022, nợ xấu là 769 tỷ đồng, tỷ lệ 0,98%, giảm 0,07% so với cuối năm 2021.Tỷ lệ nợ xấu ở mức thấp, nằm trong sự kiểm soát, có chuyển biến tích cực theo chiều hướng giảm.  VI. KHOA HỌC CÔNG NGHỆ  Trong tháng, Hội đồng tư vấn tuyển chọn đánh giá hồ sơ tuyển chọn, thẩm định nội dung 2 nhiệm vụ khoa học và công nghệ (KH và CN) cấp cơ sở; Nghiệm thu giai đoạn 02 nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh; Nghiệm thu kết thúc 02 nhiệm vụ cấp cơ sở; trình Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định công nhận 01 nhiệm vụ cấp tỉnh; cấp 01 giấy chứng nhận đăng ký kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN. Đến tháng 4/2022, thẩm định nội dung 03 nhiệm vụ cấp cơ sở. Triển khai 03 nhiệm vụ (trong đó 02 nhiệm vụ cấp tỉnh, 01 cấp cơ sở); nghiệm thu giai đoạn 05 nhiệm vụ trong đó, 03 nhiệm vụ cấp tỉnh, 02 cấp cơ sở; nghiệm thu kết thúc 03 nhiệm vụ, trong đó 01 nhiệm vụ cấp tỉnh, 02 cấp cơ sở; Quyết định công nhận 11 nhiệm vụ , trong đó 08 cấp tỉnh, 03 cấp cơ sở; Gia hạn 01 nhiệm vụ cấp tỉnh.  VII. CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI  1. Lao động việc làm:  Trong tháng tư vấn cho 2.417 lượt lao động, giảm 11,3% so với cùng kỳ, trong đó: tư vấn nghề cho 31 lượt lao động, tư vấn việc làm 254 lượt lao động, tư vấn việc làm cho 2.048 lượt lao động thất nghiệp, tư vấn pháp luật lao động và tư vấn khác cho 84 lượt lao động; giới thiệu việc làm cho 236 lượt lao động, tăng 14% so với cùng kỳ; đã giới thiệu cho 59 lao động có được việc làm ổn định, giảm 16,9% so với cùng kỳ. Có 04 phiên giao dịch việc làm được tổ chức, tăng 03 phiên so với cùng kỳ, với sự tham gia của 15 doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng 4.481 lao động; Kết quả đã thu hút được 582 người lao động tham gia, qua đó có 582 người lao động được tư vấn, 16 người lao động tham gia phỏng vấn, 09 người lao động được tuyển dụng trực tiếp và nhận hồ sơ hẹn phỏng vấn tại doanh nghiệp, 02 người lao động được giới thiệu đến doanh nghiệp phỏng vấn. Công tác đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng: tư vấn cho 88 lượt lao động, giảm 7,4% so với cùng kỳ; có 04 lao động đăng ký tham gia đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, tương đương so với cùng kỳ năm 2021; có 22 lao động xuất cảnh chính thức, trong đó xuất cảnh sang Nhật Bản 21 người và Đài Loan 01 người, tăng 17 lao động xuất cảnh so với cùng kỳ. Ngoài ra, tiếp nhận 2.371 người lao động đăng ký hưởng trợ cấp thất nghiệp, tăng 39,9% so với cùng kỳ; 2.442 người lao động được hưởng trợ cấp thất nghiệp, tăng 207,6% so với cùng kỳ, với tổng số tiền chi trả tương đương 48,1 tỷ đồng; có 12.507 lượt lao động thất nghiệp được tư vấn, giới thiệu việc làm, tăng 10.821 lượt lao động so với cùng kỳ.  2. Đời sống dân cư và an sinh xã hội:  Trong tháng 4/2022 thực hiện việc hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19 theo Nghị quyết số 126/NQ-CP ngày 08/10/2021 sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 01/7/2021, Quyết định số 33/2021/QĐ-TTg ngày 06/11/2021 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg ngày 07/7/2021: Tiếp tục tập trung thẩm định hồ sơ đề nghị hỗ trợ 412 người lao động tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động của 02 doanh nghiệp với số tiền đề nghị là 1,6 tỷ đồng; 10 người lao động chấm dứt hợp đồng lao động nhưng không đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp với số tiền đề nghị là 42,1 triệu đồng. Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành quyết định phê duyệt danh sách và kinh phí hỗ trợ với 1.839 người lao động tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, người lao động nghỉ việc không hưởng lương của 40 lượt doanh nghiệp, đơn vị với số tiền gần 7,2 tỷ đồng; 10.518 người lao động ngừng việc của 02 lượt doanh nghiệp, đơn vị với số tiền trên 14 tỷ đồng. Bên cạnh đó, Ủy ban nhân dân cấp huyện đã chi hỗ trợ 1.789 người lao động tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, người lao động nghỉ việc không hưởng lương của 34 lượt doanh nghiệp, đơn vị với số tiền là 6,96 tỷ đồng; 11.916 người lao động ngừng việc của 26 lượt doanh nghiệp, đơn vị với số tiền trên 15,9 tỷ đồng.  3. Hoạt động giáo dục:  Trong tháng, ngành Giáo dục và Đào tạo đã thông báo kết quả kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia THPT năm học 2021-2022; trong đó Tiền Giang đạt 09 giải gồm 01 giải Nhì (môn Sinh học), 02 giải Ba (môn Ngữ Văn), 06 giải Khuyến khích (Môn Sinh học, Hóa học, Tiếng Anh, Toán); xếp hạng 6/13 các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long, hạng 55/70 đơn vị đăng ký dự thi toàn quốc. Tổ chức phúc khảo bài thi kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh THCS khóa ngày 22/3/2022. Tham dự tập huấn tổ chức khảo sát chính thức PISA chu kỳ 2022 tại TP.HCM vào các ngày 7,8,9/4/2022.  4. Hoạt động y tế:  Covid – 19: Ngày 13/04/2022 Sở Y tế đã ban hành quyết định số 941/QĐ-SYT công bố cấp độ dịch Covid-19 trên địa bàn tỉnh Tiền Giang (tuần đánh giá 07 – 13/04/2022). Theo đó, toàn tỉnh Tiền Giang thuộc cấp độ 1: nguy cơ thấp (bình thường mới); 11/11 huyện, thị xã, thành phố thuộc cấp độ 1.  Trong tháng có 08/44 bệnh truyền nhiễm được ghi nhận. So với cùng kỳ về số mắc, có 02 bệnh tăng (Viêm gan vi rút khác, Bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Covid-19 gây ra); 13 bệnh giảm (lao phổi, quai bị, Rubella, sởi, sốt xuất huyết, tay chân miệng, thương hàn, thủy đậu, tiêu chảy, uốn ván khác, viêm gan siêu vi B, viêm gan siêu vi C, Viêm não vi rút khác); 29 bệnh tương đương và không xảy ra ca mắc; Phòng chống bệnh Sốt xuất huyết ghi nhận 73 ca mắc, cộng dồn số ca mắc 236 ca giảm 73,4% so với cùng kỳ, không có tử vong do sốt xuất huyết; Phòng chống HIV/AIDS ghi nhận 6.131 người nhiễm HIV; 1.810 người chuyển sang AIDS; 1.235 người tử vong do AIDS; An toàn thực phẩm: Không ghi nhận ngộ độc thực phẩm trên địa bàn; Công tác hoạt động khám chữa bệnh so với cùng kỳ: tổng số lần khám bệnh 296.631 lượt người, giảm 33,5%; tổng số người điều trị nội trú 12.487 lượt người giảm 32,9%; công suất sử dụng giường bệnh bình quân trong tháng đạt 58,6%.  5. Hoạt động văn hóa - thể thao:  Tổ chức lớp tập huấn đờn ca tài tử tại huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang với 26 học viên theo Đề án “Bảo tồn, phát huy nghệ thuật Đờn ca tài tử tỉnh Tiền Giang giai đoạn 2021 - 2025”. Tham gia Liên hoan Đờn ca tài tử toàn quốc lần thứ 3 tại thành phố Cần Thơ, đạt huy chương vàng toàn đoàn (với 3 tiết mục huy chương vàng và 2 tiết mục huy chương Bạc). Tổ chức sinh hoạt đờn ca tài tử tại rạp hát Thầy Năm Tú theo Đề án “Bảo tồn, phát huy nghệ thuật Đờn ca tài tử tỉnh Tiền Giang giai đoạn 2021 - 2025”.  Hoạt động bảo tàng: tổ chức Lễ Giỗ Quốc Tổ Hùng Vương năm 2022; kết hợp trao Quyết định của Thủ tướng Chính phủ công nhận bảo vật quốc gia đối với 18 hiện vật vàng lá chạm khắc hình voi văn hóa Óc Eo và Quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh công nhận di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh đối với nhà trung bày số 1 – Bảo tàng tỉnh. Tổ chức gói và nấu bánh ít; thực hiện chưng nghi và làm cổng nghệ thuật; tổ chức Hội thi Hoa lan và trưng bày Bonsai; trưng bày, triển lãm chuyên đề “Di sản văn hóa Việt Nam; chuyên đề “Đảng Cộng sản Việt Nam - 92 năm móc son chói lọi”, và chương trình đờn ca tải tử. Trong tháng, Bảo tàng tỉnh và 4 di tích trực thuộc đã đón 3.150 lượt khách, thu bán vé được 160 vé tham quan, sưu tầm được 20 hình ảnh, tư liệu, hiện vật.  Hoạt động văn hóa nghệ thuật: Thực hiện trang trí 30 ụ cờ, 20 pano, 40 băng-rôn, 170 cờ khẩu hiệu, 05 cuộc xe loa tuyên truyền trên các tuyến đường chính trên địa bàn thành phố Mỹ Tho và khu vực phục vụ hành chính công của tỉnh. Thực hiện 20 buổi chiếu phim lưu động, 08 suất nhạc nước tại quảng trường Hùng Vương. Biểu diễn tuyên truyền phục vụ nhân dân về An toàn giao thông; phòng, chống dịch Covid – 19 từ 01/04 đến 20/4/2022. Tổ chức hội thi hoa lan Giỗ Quốc Tổ Hùng Vương năm 2022. Hướng dẫn Trung tâm Văn hóa, Thể thao và Truyền thanh cấp huyện thực hiện công tác tuyên truyền thuộc địa bàn quản lý.  Hoạt động thư viện: tổ chức Ngày sách Việt Nam năm 2022 và tổ chức Ngày hội đọc sách tại một số địa phương và đơn vị trên địa bàn tỉnh. Trong tháng, Thư viện tỉnh đã phục vụ 1.738 lượt bạn đọc, với 9.824 lượt sách ra lưu hành với các thể loại. Hệ thống thư viện huyện, thư viện xã đã tiếp được 4.653 lượt bạn đọc, với 14.731 lượt sách báo lưu hành.  Hoạt động thể dục, thể thao: Ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Trung tâm Doping và Y học thể thao tổ chức thành công lớp tập huấn phòng, chống Doping trong thể thao năm 2022, từ ngày 21/03 – 24/03/2022; Tổ chức thành công giải Bóng đá giao lưu Kỷ niệm 76 năm Ngày thể thao Việt Nam vào ngày 27/3/2022. Tổ chức thành công Giải vô địch Boxing các đội mạnh toàn quốc năm 2022, từ ngày 22/03 – 31/03/2022. Đội Boxing Tiền Giang đạt 01 Huy chương Vàng, 03 Huy chương Bạc, 04 Huy chương Đồng. Đội Vovinam tham dự giải vô địch các đội mạnh Vovinam toàn quốc năm 2022, từ ngày 14/3 – 24/3/2022 tại Quảng Ngãi. Kết quả đạt 02 Huy chương Bạc và 05 Huy chương Đồng. Đội Muay tham dự giải vô địch các CLB Muay quốc gia năm 2022, từ ngày 18/3 – 30/3/2022 tại Khánh Hòa. Kết quả đạt 01 Huy chương Vàng, 03 Huy chương Đồng. Cử HLV, VĐV tham dự giải vô địch Taekwondo Đông Nám Á lần thứ 15 năm 2022 tại Việt Nam, từ ngày 28/3 – 04/4/2022. Kết quả đạt 03 Huy chương Vàng, 02 Huy chương Đồng. Đội Điền kinh tham dự giải Điền kinh Cúp Tốc độ Thống nhất TP. HCM năm 2022, từ ngày 04/4 – 12/4/2022 tại TP. Hồ Chí Minh. Kết quả đạt 05 Huy chương Vàng.  6. Tình hình trật tự an toàn xã hội (Theo báo cáo ngành Công an):  Trong tháng 4/2022, tội phạm trật tự xã hội trên địa bàn tỉnh ghi nhận 42 vụ, giảm 12,5% so với tháng trước, làm 12 người bị thương, tài sản thiệt hại khoảng 951 triệu đồng. Đồng thời phát hiện, xử lý 27 tụ điểm cờ bạc với 124 đối tượng liên quan; hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy ghi nhận 04 vụ với 04 đối tượng và xử lý vi phạm hành chính 56 đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy; vi phạm pháp luật về kinh tế ghi nhận 17 vụ với 18 đối tượng.  7. Trật tự an toàn giao thông (Theo báo cáo ngành Công an):  Tai nạn giao thông đường bộ: Tai nạn giao thông trong tháng xảy ra 26 vụ giảm 28 vụ so tháng trước và giảm 30 vụ so cùng kỳ, làm chết 22 người giảm 17 người so tháng trước và giảm 4 người so cùng kỳ, bị thương 5 người giảm 18 người so tháng trước và giảm 39 người so cùng kỳ. Các nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông chủ yếu vẫn do ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông như: uống rượu say, điều khiển xe khi có rượu bia, phóng nhanh vược ẩu, không làm chủ tốc độ; không đi đúng phần đường, làn đường; không nhường đường, vượt đèn đỏ, thiếu quan sát… Vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ trong tháng xảy ra 2.529 vụ tăng 589 vụ so tháng trước và giảm 328 vụ so cùng kỳ. Chủ yếu các vi phạm nhiều như: không giấy phép lái xe, chạy quá tốc độ qui định, không đội mũ bảo hiểm, đi sai làn đường, đậu đỗ không đúng qui định, uống rượu điều khiển phương tiện, thiết bị an toàn không đảm bảo,... Đã xử lý tạm giữ giấy tờ và phương tiện 2.529 vụ, tước giấy phép lái xe 90 vụ, phạt tiền 417 vụ với số tiền phạt trên 1.989 triệu đồng.  Tai nạn giao thông đường thủy: Trong tháng xảy ra 01 vụ, tương đương so tháng trước tương đương và tăng 01 vụ so cùng kỳ năm trước.Vi phạm trật tự an toàn giao thông đường thủy trong tháng xảy ra 511 vụ tăng 336 vụ so tháng trước và giảm 776 vụ so cùng kỳ; trong đó không bằng cấp chuyên môn 16 vụ, chở quá vạch mớn nước an toàn 453 vụ và vi phạm khác 42 vụ. Đã xử lý vi phạm: Lập biên bản tạm giữ giấy tờ 511 vụ và phạt tiền 511 vụ với số tiền phạt: 535,1 triệu đồng.  8. Tình hình cháy nổ, môi trường:  Trong tháng 4/2022 toàn tỉnh không ghi nhận cháy, nổ; lũy kế từ đầu năm 2022 ghi nhận 5 vụ cháy với số tiền thiệt hại trên 3 tỷ đồng. Không xảy ra vụ vi phạm về môi trường trên địa bàn tỉnh; lũy kế từ đầu năm ghi nhận 9 vụ với số tiền phạt gần 1,7 tỷ đồng.