0273.3 872582 | dongthap@nso.gov.vn

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Tháp tháng 11 năm 2025

03/12/2025 15:54

Trong tháng, tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh tiếp tục tăng trưởng. Hoạt động sản xuất kinh doanh của các ngành, lĩnh vực đạt được nhiều kết quả khả quan tích cực. Kết quả thực hiện trên các lĩnh vực như sau:

I. SẢN XUẤT NÔNG LÂM NGHIỆP VÀ THỦY SẢN

Trong tháng, thời tiết nhìn chung thuận lợi, cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt. Tình hình sâu bệnh duy trì ở mức thấp đến trung bình nhờ công tác dự báo và hướng dẫn phòng trừ kịp thời, dịch bệnh trên đàn vật nuôi được kiểm soát chặt chẽ. Hoạt động nuôi trồng thủy sản tiếp tục đạt kết quả tích cực. Tuy nhiên thời điểm đầu tháng 11 triều cường dân cao, đỉnh lũ cao hơn các năm trước, gây ngập lụt ở một số nơi của một số địa phương vùng đầu nguồn ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt của người dân.

1. Nông nghiệp

Cây lương thực có hạt: diện tích gieo sạ năm 2025 ước đạt 618.752 ha, giảm 0,8% so cùng kỳ; trong đó: cây lúa gieo sạ 611.652 ha, giảm 0,8%.

- Cây lúa:

+ Vụ Đông xuân 2024 - 2025: diện tích gieo trồng chính thức 229.680 ha, giảm 1,7% so cùng kỳ. Thu hoạch 100% diện tích, năng suất thu hoạch bình quân đạt 71,9 tạ/ha với sản lượng thu hoạch 1.651.864 tấn, giảm 1,5% so cùng kỳ.

+ Vụ Hè thu 2025: diện tích gieo trồng chính thức 244.290 ha, giảm 2,1% so cùng kỳ. Thu hoạch 100% diện tích, năng suất bình quân đạt 65,2 tạ/ha với sản lượng thu hoạch 1.592.801 tấn, giảm 0,1% so cùng kỳ.

+ Vụ Thu đông 2025: diện tích gieo sạ ước đạt 137.682 ha, tăng 3,6% so cùng kỳ.

- Cây ngô:

Diện tích gieo trồng cả năm 2025 ước đạt 7.100 ha, giảm 1,9%, tương ứng giảm 135,2 ha. Năng suất thu hoạch bình quân ước đạt 69,8 tạ/ha, giảm 4,7%, tương ứng giảm 3,4 tạ/ha. Sản lượng thu hoạch ước đạt 49.524 tấn, giảm 6,4%, tương ứng giảm 3.405 tấn.

Hiện nay nông dân trong tỉnh đã gieo trồng cây ngô vụ Đông xuân 2025-2026, diện tích gieo trồng tính đến 20/11/2025 ước đạt 1.044 ha, giảm 2,5%, tương ứng giảm 26,5 ha (số liệu được tính cho kỳ sản xuất năm 2026).

Hình 1. Diện tích gieo trồng lúa gieo trồng qua 2 năm

- Cây rau đậu các loại:

Diện tích gieo trồng cả năm 2025 ước đạt 56.231 ha, tăng 0,2% so cùng kỳ; Sản lượng thu hoạch 1.570.351 tấn, tăng 20,9% so cùng kỳ. Trong đó, rau các loại gieo trồng ước đạt 55.848 ha, tăng 0,3% so cùng kỳ; sản lượng thu hoạch ước đạt 1.569.223 tấn, tăng 20,9% so cùng kỳ.

Hiện nay nông dân đã gieo trồng vụ đông xuân 2025-2026, diện tích gieo trồng tính đến 20/11/2025 ước đạt 8.852 ha, giảm 2,1% so cùng kỳ (số liệu được tính cho kỳ sản xuất năm 2026); trong đó: rau các loại 8.802 ha, giảm 1,9% so cùng kỳ. Tận dụng nguồn đất đai màu mỡ, nông dân tranh thủ thời gian, thời tiết thuận lợi trồng xen canh, trồng gối vụ các loại rau, củ, quả có giá trị kinh tế cao, dễ tiêu thụ như: rau muống, bầu, mướp, bí xanh, mướp đắng, dưa leo, cải các loại, hành lá, dưa hấu và các loại rau cải ngắn ngày khác...

- Chăn nuôi: ước thời điểm 30/11/2025 tổng đàn gian súc, gia cầm của tỉnh như sau: đàn trâu 3,1 nghìn con, tăng 4,3% so cùng kỳ; đàn bò 159,1 nghìn con, giảm 0,9%; đàn lợn 450,1 nghìn con, tăng 4,7%; đàn gia cầm 24,5 triệu con, giảm 2,2%. Đàn trâu tăng nhờ nguồn thức ăn tại chỗ dồi dào, giúp giảm chi phí và duy trì đàn ổn định. Ngược lại, chăn nuôi bò giảm do chi phí cao, hiệu quả thấp, làm nhiều hộ cắt giảm số lượng nuôi hoặc chuyển sang trồng trọt. Đàn lợn tiếp tục tăng, chủ yếu ở các gia trại và trang trại, nhờ kiểm soát dịch bệnh tốt, tạo điều kiện cho người dân yên tâm tái đàn. Mặc dù giảm so với năm trước, đàn gia cầm đang phục hồi dần nhờ dịch bệnh được kiểm soát, chi phí thức ăn ổn định, nhu cầu thị trường cải thiện.

*Tình hình dịch bệnh trên vật nuôi: theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đồng Tháp

Gia cầm: Bệnh cúm gia cầm trong tháng không phát sinh. Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh có 03 hộ có gia cầm nhiễm vi rút cúm A/H5N1 với số lượng 6.161 con (tổng đàn 7.200 con) tại 02 xã (Phú Thành và Tân Phước 3). Đã tiêu hủy toàn bộ số gia cầm 7.200 con.

Gia súc:

Bệnh dịch tả lợn Châu Phi: trong tháng phát sinh 17 hộ với số lợn bệnh 31 con (tổng đàn 809 con). Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh xảy ra 41 hộ có 658 con lợn bệnh (tổng đàn 1.456 con) tại 24 xã, phường (Vĩnh Bình, Bình Ninh, Vĩnh Hựu, Tân Phước 3, Hội Cư, Bình Trưng, Long Định, Tân Phú, Kim Sơn, Mỹ Tịnh An, Hậu Mỹ, Mỹ Thành, Lương Hoà Lạc, Tân Hồng, Thạnh Phú, Phường Trung An, Thanh Bình, Chợ Gạo, Mỹ Thiện, Hiệp Đức, Long Hưng, Phú Thọ, Tân Thới và Cái Bè). Đã tiêu hủy 1.232 con (khối lượng 52.055,5 kg).

Bệnh viêm da nổi cục: trong tháng không phát sinh. Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh xảy ra 03 hộ tại 03 xã (Hậu Mỹ, Tân Thuận Bình, Chợ Gạo) với 04 con bò có dấu hiệu bệnh (tổng đàn 18 con). Đã tiêu hủy 01 con bò (khối lượng 215 kg).

Bệnh lở mồm long móng: trong tháng không phát sinh. Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh xảy ra 01 con lợn bệnh tại cơ sở giết mổ ở xã Hậu Mỹ. Đã tiêu hủy lợn bệnh (khối lượng 110 kg).

Hình 2. Chăn nuôi tại thời điểm 30/11/2025

2. Lâm nghiệp:

Tổng diện tích rừng trên địa bàn tỉnh là 6.999,6 ha (không bao gồm diện tích rừng thuộc đất an ninh quốc phòng); trong đó, diện tích rừng đặc dụng 2.717,6 ha; rừng phòng hộ 2.244,3 ha và rừng sản xuất 2.037,7 ha.

Trong tháng, toàn tỉnh thực hiện trồng mới được 47,0 ngàn cây phân tán. Nâng tổng số cây phân tán trồng được 848,0 ngàn cây các loại, giảm 0,1% so cùng kỳ.

3. Thủy hải sản:

Diện tích thả nuôi thâm canh trong tháng ước đạt 819 ha. Tổng diện tích thả nuôi thâm canh 11 tháng ước đạt 7.098 ha, tăng 1,8% so cùng kỳ chủ yếu là diện tích nuôi cá tra do giá xuất khẩu cá tra tương đối ổn định nên doanh nghiệp tăng diện tích nuôi (cá tra 2.834 ha tăng 8,1%), ngược lại tôm thẻ chân trắng 3.939 ha (giảm 1,1%).

Sản lượng thủy sản nuôi trong tháng ước đạt 132.602 tấn. Tính chung 11 tháng năm 2025, thu hoạch ước đạt 839.943 tấn, tăng 4,4% so cùng kỳ, tương ứng tăng 35.095 tấn, trong đó: sản lượng cá đạt 768.285 tấn (tăng 4,6%); sản lượng tôm đạt 43.048 tấn (tăng 11,7%);…. Sản lượng tăng chủ yếu nhờ thời tiết thuận lợi, tình hình dịch bệnh được kiểm soát, giúp năng suất nuôi đạt cao.

Sản lượng thủy sản khai thác biển trong tháng ước đạt 9.826 tấn. Tính chung 11 tháng năm 2025, thu hoạch ước đạt 106.887 tấn, tăng 14,5% so cùng kỳ, tương ứng tăng 13.553 tấn, trong đó: cá đạt 72.155 tấn (tăng 5,0%); tôm đạt 3.034 tấn (tăng 13,2%);…. Sản lượng khai thác tăng nhờ nguồn lợi thủy sản xuất hiện nhiều tại ngư trường, thời tiết thuận lợi, giúp ngư dân khai thác hiệu quả hơn so với cùng kỳ.

II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP

Trong tháng 11/2025, hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh duy trì đà tăng trưởng ổn định. Các doanh nghiệp công nghiệp chủ động thích ứng thị trường, mở rộng sản xuất và nâng cao năng suất. Một số ngành chế biến, chế tạo, sản xuất (thực phẩm, trang phục, giấy, kim loại) ghi nhận mức tăng khá so với cùng kỳ. Tuy còn khó khăn về tiêu thụ và chi phí đầu vào, nhưng nhìn chung sản xuất công nghiệp vẫn phục hồi tích cực, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương.

Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 11/2025 tăng 2,25% so với tháng trước và tăng 16,88% so cùng kỳ (ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 18,61%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 2,46%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng giảm 0,21% và ngành khai khoáng giảm 70,56% so cùng kỳ). Ngành chủ lực là sản xuất chế biến thực phẩm tăng 16,70%. Bên cạnh đó, một số ngành có chỉ số sản xuất tăng cao so cùng kỳ như: sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 33,3%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 53,47%; sản xuất đồ uống tăng 46,81%; sản xuất kim loại tăng 42,08%; sản xuất trang phục tăng 28,35%. Ở chiều ngược lại, một số ngành giảm so cùng kỳ như: khai khoáng khác giảm 70,56%; sản xuất sản phẩm thuốc lá giảm 34,10%; sản xuất xe có động cơ giảm 16,80%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 61,16%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 11,08%;...

Tính chung 11 tháng đầu năm chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 13,19% so cùng kỳ; trong đó: khai khoáng giảm 33,73% (do trong 6 tháng cuối năm 2025 nhiều công trình qua giai đoạn sử dụng cát nền, nhu cầu sử dụng cát giảm; một số doanh nghiệp đã hết hạn cấp phép, hiện đang làm thủ tục cấp phép khai thác tiếp, nên số liệu giảm so cùng kỳ); ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 14,15%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 2,66%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,0%.

Hình 3. Chỉ số sản xuất công nghiệp 11 tháng năm 2025

Chỉ số sản xuất sản phẩm trong 11 tháng so cùng kỳ như sau:

- Có 71/119 sản phẩm tăng: Phi lê đông lạnh tăng 6,3%; Quả và hạt ướp lạnh tăng 66,7%; Gạo đã xát toàn bộ hoặc sơ bộ tăng 5,2%; Bánh làm từ bột khác bảo quản được tăng 23,2%; Thức ăn gia cầm tăng 27,0%; Thức ăn thủy sản tăng 16,2%; Bia đóng lon tăng 23,8%; Bộ com lê, quần áo người lớn dệt kim hoặc đan móc tăng 3,0%; Gỗ cưa xẻ tăng 28,2%; Thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh dạng lỏng tăng 44,3%; Thùng, bể chứa dung tích trên 300 lít bằng plastic tăng 16,3%; Cấu kiện làm sẵn bằng xi măng, bê tông cho xây dựng tăng 15,8%; Bê tông tươi tăng 8,3%; Ống và ống dẫn bằng đồng tăng 5,9%; Dịch vụ sản xuất thiết bị điện chiếu sáng tăng 54,5%; Tàu thuyền lớn chuyên chở người và hàng hóa có động cơ đẩy tăng 15,8%; Điện mặt trời tăng 5,8%; Dịch vụ thu gom rác thải không độc hại có thể tái chế tăng 13,3% so cùng kỳ; ...

- Có 47/119 sản phẩm giảm: Cát đen giảm 33,7%; Miến, hủ tiếu, bánh đa khô giảm 2,2%; Thuốc lá có đầu lọc giảm 14,2%; Thức ăn gia súc giảm 1,4%; Bộ com lê, quần áo người lớn không dệt kim hoặc đan móc giảm 25,5%; Giày, dép thể thao có đế ngoài và mũ giày bằng cao su và plastic giảm 1,6%; Thuốc và dược phẩm dạng viên giảm 10,0%; Thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh dạng bột/cốm giảm 34,9%; Tàu chở khách trọng tải 26 đến 500 tấn giảm 21,2%; Điện gió giảm 5,5% so cùng kỳ; ...

* Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo:

Hoạt động sản xuất công nghiệp của tỉnh Đồng Tháp tiếp tục duy trì, ổn định nên tình hình sản xuất, tiêu thụ của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh trong tháng 11 năm 2025 tăng so với cùng kỳ: Chỉ số tiêu thụ so với tháng trước giảm 0,16%, so với cùng kỳ tăng 8,61% (lũy kế 11 tháng tăng 10,59%); Chỉ số tồn kho so với tháng trước tăng 8,36%, so với cùng kỳ tăng mạnh 19,59%. Cụ thể tình hình tiêu thụ và tồn kho một số sản phẩm như sau:

- Nhóm có nhu cầu tiêu thụ tăng, lượng tồn kho giảm gồm:

+ Giấy và sản phẩm từ giấy: chỉ số tiêu thụ tăng 21,76%, chỉ số tồn kho giảm mạnh (giảm 28,97%);

+ Dệt: tiêu thụ tăng 14,20%, tồn kho giảm sâu 66,54% (do doanh nghiệp chủ động đa dạng hóa thị trường, đổi mới công nghệ, cùng với sự phục hồi nhu cầu từ các thị trường lớn);

+ In, sao chép bản ghi: tiêu thụ tăng 59,91%, tồn kho giảm 31,50%.

- Nhóm có chỉ số tiêu thụ giảm nhưng tồn kho tăng:

+ Thuốc, hoá dược và dược liệu: tiêu thụ giảm 18,63%, nhưng tồn kho lại tăng 18,51%;

+ Sản phẩm thuốc lá: tiêu thụ giảm 17,14%, tồn kho tăng 9,49%;

+ Da và các sản phẩm liên quan: tiêu thụ giảm 4,21%, nhưng tồn kho tăng cao 49,56%.

- Nhóm có chỉ số tiêu thụ và tồn kho tăng (do nhu cầu tiêu thụ tăng, doanh nghiệp tăng tồn kho để chủ động nguồn cung):

+ Sản xuất kim loại: tiêu thụ tăng 36,18%, tồn kho tăng đến 120,69%;

+ Sản xuất trang phục: tiêu thụ tăng 22,04%, tồn kho tăng 47,03%;

+ Chế biến thực phẩm: tiêu thụ tăng 2,24% và tồn kho tăng ở mức trung bình 10,8%.

- Nhóm có chỉ số tiêu thụ và tồn kho giảm: Cao su và plastic: cả tiêu thụ và tồn kho đều giảm (lần lượt giảm 2,91% và 18,79%), cho thấy cầu giảm, doanh nghiệp đang thu hẹp quy mô sản xuất.

III. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP: (Theo báo cáo của Sở Tài Chính)

Doanh nghiệp (DN) thành lập mới: Trong tháng 11, có 272 DN thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 936,7 tỷ đồng. Lũy kế 11 tháng đầu năm 2025, có 2.413 DN thành lập mới, tăng 69,2% so với cùng kỳ năm 2024 và đạt 134% so kế hoạch phát triển DN năm 2025 (kế hoạch 1.800 DN); với tổng vốn đăng ký là 14.177,2 tỷ đồng, tăng 60,4% so với cùng kỳ năm 2024.

Giải thể, tạm ngừng hoạt động, tái hoạt động: Trong tháng, có 44 DN giải thể, 30 DN tạm ngừng hoạt động, 17 DN hoạt động trở lại. Lũy kế từ đầu năm 2025, có 403 DN giải thể (tăng 36,1%), 775 DN tạm ngừng hoạt động (tăng 10,9%), 382 DN hoạt động trở lại (tăng 24,8% so với cùng kỳ năm 2024).

IV. ĐẦU TƯ - XÂY DỰNG

Tình hình thực hiện vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tiếp tục được lãnh đạo tỉnh quan tâm chỉ đạo quyết liệt. Mặc dù gặp nhiều khó khăn như thời tiết mưa bão, công tác giải phóng mặt bằng còn chậm, khan hiếm nguồn cung vật liệu xây dựng, nhưng các sở, ban, ngành được giao nhiệm vụ đã nỗ lực duy trì tiến độ và đẩy nhanh thực hiện kế hoạch đầu tư công trên địa bàn.

Tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trong tháng là 1.630 tỷ đồng, tăng 14,6% so cùng kỳ. Tính chung 11 tháng đầu năm 2025 ước thực hiện 14.406 tỷ đồng, đạt 87,9% kế hoạch, tăng 31,2% so cùng kỳ. Chia ra:

- Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh thực hiện 14.161 tỷ đồng, bằng 88,2% kế hoạch và tăng 30,6% so cùng kỳ, chiếm 98,3% tổng số. Trong đó: vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu: 4.774 tỷ đồng, tăng 42,9%; vốn xổ số kiến thiết: 3.347 tỷ đồng, tăng 4,7% so cùng kỳ. Các ngành các cấp phối hợp với các chủ đầu tư khắc phục khó khăn đẩy nhanh tiến độ thực hiện công trình nhằm đạt kế hoạch đề ra, nhiều công trình đã hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng, các công trình còn lại thi công đúng theo tiến độ đề ra.

- Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp xã thực hiện 245 tỷ đồng, bằng 74,6% kế hoạch và tăng 81,5% so cùng kỳ; trong đó: vốn cân đối ngân sách cấp xã 54 tỷ đồng, tăng 7,9 lần so cùng kỳ. Nguồn vốn ngân sách cấp xã ưu tiên bố trí các dự án khởi công mới thuộc lĩnh vực giao thông, phòng, chống thiên tai, xử lý sạt lở bờ sông, bờ biển, biến đổi khí hậu, giáo dục, y tế.

Tình hình thu hút đầu tư nước ngoài: Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh thu hút 51 dự án đầu tư mới, trong đó có 13 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với vốn đầu tư 171 triệu USD và 38 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư đăng ký là 17 nghìn tỷ đồng.

Công tác giải ngân vốn đầu tư công: Theo số liệu của Sở Tài chính, ước tính đến cuối tháng 11/2025, lũy kế giá trị giải ngân nguồn vốn đầu tư công đạt 8.777 tỷ đồng và đạt 53,5% so với kế hoạch (16.393 tỷ đồng).

V. THƯƠNG MẠI - GIÁ CẢ - DỊCH VỤ

1. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng:

Nhìn chung, hoạt động thương mại dịch vụ tiếp tục tăng trưởng, hàng hoá cung ứng đồi dào, hoạt trao đổi mua bán khá sôi động, nhất là các mặt hàng nhóm lương thực, thực phẩm, hàng may mặc... có mức tăng khá cao đã đáp ứng nhu cầu mua sắm của người dân. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trong tháng thực hiện 21.278 tỷ đồng, tăng 1,3% so tháng trước và tăng 11% so cùng kỳ. Mười một tháng năm 2025, tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thực hiện 227.022 tỷ đồng, tăng 9,2% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 176.280 tỷ đồng, tăng 8,2%; lưu trú 795 tỷ đồng, tăng 14,5%; ăn uống 29.405 tỷ đồng, tăng 14,2%; du lịch lữ hành 387 tỷ đồng, tăng 32,3%; dịch vụ tiêu dùng khác 20.155 tỷ đồng, tăng 11,1% so cùng kỳ.

Hình 4. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng

2. Xuất - Nhập khẩu (Theo báo cáo Sở Công Thương)

a. Xuất khẩu:

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng ước thực hiện 810 triệu USD, tăng 1,1% so tháng trước và tăng 11% so cùng kỳ. Mười một tháng ước tính xuất khẩu 8.631 triệu USD, đạt 93,8% kế hoạch, tăng 3,9% so cùng kỳ.

b. Nhập khẩu:

Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 11/2025 ước đạt 400 triệu USD, tăng 0,9% so tháng trước và bằng 85,5% so cùng kỳ. Mười một tháng ước đạt 4.466 triệu USD, đạt 100,8% kế hoạch và tăng 11,1% so với cùng kỳ.

3. Chỉ số giá:

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 11/2025 tăng 0,47% (thành thị tăng 0,62%, nông thôn tăng 0,42%) so tháng 10/2025, tăng 3,05% so tháng 11/2024. Bình quân 11 tháng năm 2025 tăng 2,35% so cùng kỳ năm trước.

So với tháng 10/2025, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 07 nhóm tăng: Giao thông tăng 0,86%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,73%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,62%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,27%; may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,07%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,06%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%. Có 03 nhóm giảm: thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,02%; bưu chính viễn thông giảm 0,05%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,07%. Riêng nhóm hàng giáo dục chỉ số ổn định so với tháng trước.

Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 11 tháng năm 2025 so cùng kỳ tăng 2,35%; một số nhóm hàng có chỉ số tăng như: thuốc và dịch vụ y tế tăng 11,92%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 6,25%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,94%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,63%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,73% so với cùng kỳ … Có hai nhóm giảm: nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,02% và nhóm giao thông giảm 3,08% so cùng kỳ.

Chỉ số giá vàng trong tháng 11/2025 tăng 0,2% so tháng trước, tăng 59,3% so với cùng kỳ. Bình quân 11 tháng đầu năm 2025 so với cùng kỳ tăng 48,26%.

Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng 11/2025 tăng 1,33% so tháng trước và tăng 4,87% so với cùng kỳ. Bình quân 11 tháng năm 2025 so với cùng kỳ tăng 4,34%.

 4. Vận tải:

Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trong tháng thực hiện 654 tỷ đồng, tăng 1,9% so tháng trước và tăng 14,3% so cùng kỳ. Mười một tháng thực hiện 6.990 tỷ đồng, tăng 13,2% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 2.274 tỷ đồng, tăng 14,3%; doanh thu vận tải hàng hóa thực hiện 3.471 tỷ đồng, tăng 12,1% so cùng kỳ. Doanh thu vận tải đường bộ thực hiện 3.301 tỷ đồng, tăng 15,1%; doanh thu vận tải đường thủy thực hiện 2.244 tỷ đồng, tăng 9,5%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 714 tỷ đồng, tăng 14,1% so cùng kỳ.

Vận tải hành khách trong tháng đạt 6.006 ngàn hành khách, tăng 3,3% so tháng trước và tăng 4,7% so cùng kỳ; luân chuyển 289.614 ngàn hành khách.km, tăng 1% so tháng trước và tăng 52,8% so cùng kỳ. Mười một tháng, vận chuyển 65.264 ngàn hành khách, tăng 9,3% so cùng kỳ; luân chuyển 2.577.171 ngàn hành khách.km, tăng 31,5% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 21.094 ngàn hành khách, tăng 22,1% và luân chuyển 2.556.663 ngàn hành khách.km, tăng 32,1% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 44.170 ngàn hành khách, tăng 4,1% và luân chuyển 20.508 ngàn hành khách.km, bằng 83,9% so cùng kỳ.

Vận tải hàng hóa trong tháng đạt 2.191 ngàn tấn, bằng 99,1% so tháng trước và giảm 3,5% so cùng kỳ; luân chuyển 4.721.014 ngàn tấn.km, tăng 2,1% so tháng trước và bằng 89,3% so cùng kỳ. Mười một tháng, vận tải 25.531 ngàn tấn hàng hóa, tăng 6,8% so cùng kỳ; luân chuyển 4.721.014 ngàn tấn.km, tăng 1,1% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 6.154 ngàn tấn, tăng 21,8% và luân chuyển 859.805 ngàn tấn.km, bằng 82,3% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 19.377 ngàn tấn, tăng 2,8% và luân chuyển 3.861.209 ngàn tấn.km, tăng 6,5% so cùng kỳ.

5. Bưu chính viễn thông:

Doanh thu trong tháng 11/2025 đạt 523 tỷ đồng, tăng 1,5% so tháng trước. Mười một tháng doanh thu dịch vụ bưu chính, viễn thông đạt 5.642 tỷ đồng, tăng 10,2% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính đạt 528 tỷ đồng, tăng 11,1% và viễn thông 5.115 tỷ đồng, tăng 10,1% so cùng kỳ.

Đến cuối tháng 11 năm 2025 tổng số thuê bao điện thoại có trên mạng (bao gồm: hữu tuyến, vô tuyến, trả trước, trả sau) ước tính 3.907.874 thuê bao. Thuê bao điện thoại bình quân đạt 114,8 thuê bao/100 dân. Số thuê bao điện thoại di động có sử dụng Internet (3G, 4G) đến cuối tháng 11 là: 3.264.599 thuê bao. Tổng số thuê bao Internet trên mạng là 4.095.165 thuê bao (bao gồm: băng rộng di động 3G, 4G; MyTV và Cáp; băng rộng cố định FTTH, xDSL, Leased-line, CATV), mật độ Internet bình quân ước đạt 120,3 thuê bao/100 dân.

VI. TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG

1. Tài chính:

Tổng thu ngân sách nhà nước tháng 11/2025 thực hiện 2.549 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn 1.618 tỷ đồng; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 262 tỷ đồng. Mười một tháng, thu 57.012 tỷ đồng; trong đó, thu ngân sách trên địa bàn thực hiện 22.133 tỷ đồng, đạt 107% dự toán và tăng 14,1% so cùng kỳ; thu nội địa 21.273 tỷ đồng, đạt 107,1% dự toán, tăng 14,2% so cùng kỳ. (trong thu ngân sách trên địa bàn: thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 3.599 tỷ đồng, tăng 32,1% dự toán, tăng 12,8% so cùng kỳ; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 4.636 tỷ đồng, tăng 58,8% dự toán và tăng 51,5% so cùng kỳ...).

Tổng chi ngân sách nhà nước trong tháng 3.628 tỷ đồng; trong đó: chi đầu tư phát triển 1.400 tỷ đồng; chi hành chính sự nghiệp 2.137 tỷ đồng. Mười một tháng, chi 36.974 tỷ đồng, đạt 84,4% dự toán và tăng 22,7% so cùng kỳ; trong đó: chi đầu tư phát triển 11.644 tỷ đồng, đạt 105,1% dự toán và bằng 92,3% so cùng kỳ; chi hành chính sự nghiệp 22.047 tỷ đồng, đạt 99,4% dự toán và tăng 42,2% so cùng kỳ.

2. Ngân hàng:

Hoạt động tiền tệ, ngân hàng, ngoại hối thực hiện theo chỉ đạo của Ngân hàng nhà nước (NHNN) đồng thời bám sát định hướng phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại địa phương. Mặt bằng lãi suất ổn định và có xu hướng giảm, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận vốn vay.

Lãi suất huy động: Hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn chấp hành tốt các quy định về lãi suất huy động theo quy định của NHNN Việt Nam.

Lãi suất cho vay: Bằng Việt Nam đồng đến cuối tháng 9/2025, lãi suất cho vay bình quân chung là 7,41%/năm, giảm 0,53%/năm. Bằng USD lãi suất cho vay bình quân là 3,82%/năm, giảm 0,24%/năm so với cuối năm 2024. Đến cuối tháng 10/2025, vốn huy động đạt 199.493 tỷ, tăng 9,54% so với cuối năm 2024, tổng dư nợ cho vay của các TCTD trong tỉnh đạt 237.743 tỷ, tăng 5,62% so với cuối năm 2024. Ước đến cuối tháng 12/2025, nguồn vốn huy động đạt 203.874tỷ, tăng 11,94% so với cuối năm 2024; tổng dư nợ đạt 247.613 tỷ, tăng 10%.

Nợ xấu: đến cuối tháng 9/2025 nợ xấu đạt 6.451 tỷ đồng, tăng 3.159 tỷ đồng; tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là 2,74%, tăng 1,26% so với cuối năm 2024. Ước đến cuối tháng 12/2025 tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ dưới 3%.

Quỹ tín dụng nhân dân: Tháng 10/2025 dư nợ đạt 237.743 tỷ đồng, tăng 12.641 tỷ, tăng 5,62% so với cuối năm 2024 và tỷ lệ nợ xấu là 2,74%. Ước thực hiện tháng 12/2025, đạt 247.613 tỷ đồng, tăng 10% so với cuối năm 2024.

VII. KHOA HỌC CÔNG NGHỆ

Trong tháng, Hội đồng tư vấn tuyển chọn thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ thẩm định kinh phí 01 nhiệm vụ cấp tỉnh; nghiệm thu kết quả thực hiện 03 nhiệm vụ cấp tỉnh; kiểm tra, đánh giá tiến độ thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ: 06 cấp tỉnh, 01 cấp cơ sở. Tuyển chọn thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ đến nay tổng cộng 11 nhiệm vụ cấp tỉnh; Quyết định phê duyệt triển khai 14 nhiệm vụ cấp tỉnh, 01 nhiệm vụ cấp cơ sở; Thẩm định các kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ không sử dụng ngân sách nhà nước 01 nhiệm vụ. Đến hết tháng 11/2025 thẩm định kinh phí 14 nhiệm vụ cấp tỉnh; Nghiệm thu kết quả thực hiện 22 nhiệm vụ cấp tỉnh, 12 nhiệm vụ cấp cơ sở; Kiểm tra, đánh giá tiến độ thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ: 06 cấp tỉnh, 01 cấp cơ sở. Tuyển chọn thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ đến nay tổng cộng 11 nhiệm vụ cấp tỉnh; Quyết định phê duyệt triển khai 14 nhiệm vụ cấp tỉnh, 01 nhiệm vụ cấp cơ sở; Thẩm định các kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ không sử dụng ngân sách nhà nước 01 nhiệm vụ.

VIII. CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Lao động việc làm:

Trong tháng, toàn tỉnh đã giải quyết việc làm cho 5.965 lao động, trong đó có 325 lao động xuất cảnh làm việc ở nước ngoài. Tính từ đầu năm đến nay, tổng số lao động được giải quyết việc làm đạt 55.125 người, đạt 110% so với kế hoạch; riêng lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài là 2.610 người, đạt 102% so với kế hoạch, trong đó Nhật Bản: 1.792 người, Hàn Quốc: 598 người, Đài Loan: 211 người,....

Về trợ cấp thất nghiệp, trong tháng có 2.034 lao động được hưởng trợ cấp. Từ đầu năm đến nay, có 22.726 lao động được giải quyết chế độ trợ cấp thất nghiệp, với tổng kinh phí chi trả trên 409,9 tỷ đồng, góp phần hỗ trợ kịp thời đời sống, giúp người lao động ổn định trong giai đoạn tìm kiếm việc làm mới.

Các hoạt động kết nối cung – cầu lao động tiếp tục được chú trọng. Trong tháng, tổ chức 22 phiên giao dịch việc làm, với sự tham gia của 228 lượt doanh nghiệp, thu hút hơn 6.463 lượt người tham gia và 1.473 lao động được kết nối. Các phiên giao dịch đã tạo cơ hội thuận lợi để doanh nghiệp tuyển dụng nhân lực, đồng thời mở rộng cơ hội việc làm, học nghề và đi làm việc ở nước ngoài cho người lao động.

2. Chính sách xã hội:

Trong tháng, các chế độ, chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng được thực hiện kịp thời, đúng quy định. Toàn tỉnh đã giải quyết trợ cấp một lần cho 80 trường hợp thân nhân thờ cúng và chuyển thờ cúng liệt sĩ; trợ cấp hàng tháng cho 04 người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, đồng thời thực hiện trợ cấp tuất cho 05 trường hợp. Bên cạnh đó, chi trả trợ cấp mai táng phí cho 115 trường hợp và cấp lại 22 giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh.

3. Hoạt động giáo dục:

Trong tháng, ngành Giáo dục tiếp tục đạt nhiều kết quả tích cực, đặc biệt là các hoạt động chào mừng Ngày Nhà giáo Việt Nam 20 tháng 11. Thực hiện công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, kiểm định chất lượng giáo dục và chuẩn bị cho các kỳ tuyển sinh, kỳ thi quan trọng trong năm 2026.

4. Hoạt động y tế:

Trong tháng có 15/44 bệnh truyền nhiễm được ghi nhận. Cộng dồn số ca mắc có 10 bệnh tăng so cùng kỳ (Rubella, Sốt xuất huyết Dengue, Sởi, Ho gà, Thương hàn, Cúm, Lỵ trực trùng, Quai bị, Thủy đậu, Viêm gan vi rút khác); 13 bệnh giảm so cùng kỳ (Bệnh do liên cầu lợn ở người, Tay - chân - miệng, Liệt mềm cấp nghi bại liệt, Lao phổi, Uốn ván khác, Viêm gan vi rút A, Viêm gan vi rút B, Viêm gan vi rút C, Viêm não Nhật Bản, Bệnh do vi rút Adeno, Lỵ amíp, Tiêu chảy, Bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona); 21 bệnh tương đương hoặc không xảy ra ca mắc.

Các bệnh truyền nhiễm ghi nhận trong tháng: bệnh Sốt - xuất - huyết ghi nhận 1.598 ca (01 ca tử vong); bệnh Tay - chân - miệng ghi nhận 1.502 ca. Tính từ đầu năm đến nay, bệnh Sốt - xuất - huyết ghi nhận 6.729 ca, tăng 38,0% so cùng kỳ (01 ca tử vong, tương đương so cùng kỳ); bệnh Tay - chân - miệng ghi nhận 5.872 ca, giảm 45,4%.

Phòng chống HIV/AIDS: hiện nay, toàn tỉnh ghi nhận 15.876 người nhiễm HIV; 5.051 người chuyển sang AIDS; tử vong do AIDS: 3.896 người.

Tình hình khám chữa bệnh: khám chữa bệnh trong tháng cho 773.176 lượt người; trong đó, số người điều trị nội trú là 52.222 lượt người. Cộng dồn từ đầu năm đến nay, đã khám chữa bệnh cho 7.400.451 lượt người, giảm 1,8%; trong đó, số người điều trị nội trú là 435.247 lượt người, tăng 2,4%.

Trong tháng xảy ra 01 vụ ngộ độc thực phẩm tại chi nhánh Công ty TNHH may Túi xách Thái Dương Phường An Thạnh với 19 người mắc, không có ca tử vong.

5. Hoạt động văn hóa - thể thao:

a. Hoạt động văn hóa nghệ thuật:

trong tháng, các hoạt động văn hóa, nghệ thuật được tổ chức sôi nổi, góp phần tuyên truyền, giáo dục truyền thống cách mạng và bảo tồn giá trị văn hóa địa phương. Tổ chức chương trình nghệ thuật: Họp mặt 95 năm thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (20/10/1930 – 20/10/2025) và 15 năm ngày Phụ nữ Việt Nam (20/10/2010 – 20/10/2025), biểu dương các tập thể, cá nhân tiêu biểu năm 2025 tại Trường Chính trị tỉnh; Đại hội Thi đua yêu nước tỉnh Đồng Tháp lần thứ 1, giai đoạn 2025 – 2030; Cầu truyền hình “Đường lên đỉnh Olympia” Điểm cầu Đồng Tháp tại Công viên Lạc Hồng.

b. Hoạt động thư viện:

trong tháng, hệ thống thư viện trong tỉnh phục vụ hiệu quả nhu cầu đọc và tra cứu tài liệu của người dân, thu hút 56.180 lượt người với 177.501 lượt tài liệu được phục vụ, đồng thời có 359.274 lượt truy cập trên các kênh thông tin thư viện.

c. Hoạt động bảo tàng: trong tháng, công tác trưng bày, giới thiệu hiện vật và phục vụ khách tham quan được duy trì thường xuyên. Nhiều chuyên đề trưng bày được tổ chức tại Khu di tích Mộ cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, như “Ân tình xứ Nghệ”, “Hồ Chí Minh – những nét phác họa chân dung”... Khu trưng bày ngoài trời với các hiện vật lớn tiếp tục thu hút đông đảo khách tham quan.

d. Hoạt động thể dục, thể thao: thể thao Đồng Tháp tham dự tham gia thi đấu 09 giải thể thao đạt 30 huy chương các loại (5 HCV, 13 HCB, 12 HCĐ). Luỹ kế 11 tháng, có 64 vận động viên ở các môn Bắn cung, Bơi lội, Canoeing, Cầu mây, Điền kinh, Judo, Karate, Kickboxing, Boxing, Kurash, Taekwondo và Xe đạp được triệu tập vào các đội tuyển quốc gia thi đấu các giải quốc tế. Tổng thành tích tham gia thi đấu 96 giải thể thao quốc gia, quốc tế đạt 605 huy chương quốc gia các loại (131 HCV, 182 HCB, 292 HCĐ); 58 huy chương quốc tế các loại (35 HCV, 13 HCB, 10 HCĐ).

6. Tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội (Theo báo cáo của ngành công an):

Trong tháng xảy ra 99 vụ phạm tội về trật tự xã hội, giảm 19 vụ so cùng kỳ. Hậu quả là 03 người chết, 36 người bị thương, tài sản thiệt hại khoảng 05 tỷ đồng. Cơ quan chức năng đã điều tra, khám phá 89 vụ (đạt tỷ lệ 89,9%), bắt giữ và xử lý 204 đối tượng. Tính từ đầu năm đến nay, tổng số vụ phạm tội là 1.156, giảm 37,7%. Vụ việc đã làm 40 người chết, 381 người bị thương, tổng giá trị tài sản thiệt hại khoảng 522 tỷ đồng. Đã điều tra, khám phá được 975 vụ (đạt tỷ lệ 84,3%), xử lý 1.824 đối tượng.

Về tội phạm ma túy trong tháng, lực lượng chức năng đã phát hiện và xử lý 66 vụ với 97 đối tượng.

7. Trật tự an toàn giao thông (theo báo cáo ngành công an tỉnh, số liệu tính từ ngày 15/10/2025 đến 14/11/2025):

Tai nạn giao thông đường bộ: trong tháng, xảy ra 38 vụ, giảm 10 vụ so tháng trước và giảm 42 vụ so cùng kỳ. Hậu quả làm chết 28 người (giảm 10 người so tháng trước, giảm 18 người so cùng kỳ) và 22 người bị thương (tăng 06 người so tháng trước, giảm 26 người so cùng kỳ). Lũy kế từ đầu năm đến kỳ báo cáo, toàn tỉnh đã xảy ra 523 vụ, giảm 102 vụ so với cùng kỳ; làm chết 385 người (giảm 54 người) và làm bị thương 247 người (giảm 83 người). Các nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông chủ yếu vẫn do ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông như: uống rượu say, điều khiển xe khi có rượu bia, phóng nhanh vược ẩu, không làm chủ tốc độ; không đi đúng phần đường, làn đường; không nhường đường, vượt đèn đỏ, thiếu quan sát…

Tai nạn giao thông đường thủy: trong tháng xảy ra 01 vụ. Lũy kế từ đầu năm đến kỳ báo cáo là 02 vụ (giảm 01 vụ), làm chết 01 người (tương đương so cùng kỳ).

8. Tình hình cháy nổ, môi trường và thiên tai:

Cháy, nổ: trong tháng, trên địa bàn tỉnh xảy ra 02 vụ cháy, gây thiệt hại tài sản khoảng 1,2 tỷ đồng. Tính từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh ghi nhận tổng cộng 24 vụ cháy, giảm 02 vụ so với cùng kỳ, số người tử vong do cháy là 05 người và tổng thiệt hại tài sản khoảng 276,4 tỷ đồng.

Lĩnh vực môi trường trên địa bàn tỉnh trong tháng xảy ra 05 vụ vi phạm. Từ đầu năm đến nay, xảy ra 55 vụ vi phạm môi trường (tăng 37 vụ), đã xử lý 50 vụ (tăng 33 vụ) với số tiền xử phạt khoảng 1,5 tỷ đồng.

Trong tháng, trên địa bàn tỉnh xảy ra 04 vụ thiên tai với tổng thiệt hại ước khoảng 45,8 tỷ đồng. Trong đó, lũ kết hợp triều cường gây thiệt hại 86 ha lúa, 22 ha hoa màu, nhiều diện tích cây lâu năm, cùng nhiều tuyến đường nông thôn, trụ điện và đê bao bị hư hỏng; một số khu dân cư vùng trũng ngập sâu, ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt, thiệt hại ước tính 45,2 tỷ đồng. Thiên tai do mưa giông, lốc làm sập 01 căn nhà, tốc mái 06 căn với thiệt hại ước tính 61 triệu đồng. Ngoài ra, 2 vụ sạt lở – sụt lún bờ sông Tiền với chiều dài khoảng 50m, lấn sâu vào đất liền khoảng 30m, làm 04 căn nhà sụp xuống sông, thiệt hại ban đầu ước tính 510 triệu đồng. Cộng dồn từ đầu năm, toàn tỉnh xảy ra 52 vụ thiệt hại thiên tai, làm chết 02 người, bị thương 22 người, sập 106 căn nhà, tốc mái 738 căn, 428,5 ha lúa bị thiệt hại, 39,8 ha hoa màu bị hư,…. Tổng giá trị thiệt hại ước tính khoảng 131 tỷ đồng.