Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Tháp 9 tháng đầu năm 2025
Tình hình kinh tế - chính trị thế giới diễn biến phức tạp; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gây gắt hơn; xung đột Nga - Ucraina kéo dài, chính sách thắt chặt tiền tệ của các nước; chính sách bảo hộ thương mại của Hoa Kỳ tiếp tục gia tăng… đã làm ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp của Việt Nam nói chung và tỉnh Đồng Tháp nói riêng.
Trong những tháng đầu năm 2025 Đảng bộ, chính quyền các cấp trên địa bàn tỉnh tập trung sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống chính trị theo Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban chấp hành Trung ương khóa XII. Đảng bộ, chính quyền các cấp trên địa bàn tỉnh tập trung lãnh đạo Đại hội Đảng bộ cấp xã, phường. Sắp xếp tổ chức bộ máy đơn vị hành chính và tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp hoạt động hiệu lực, hiệu quả phấn đấu thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra trong năm 2025. Với sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị, kinh tế - xã hội của tỉnh tiếp tục phát triển, hầu hết các chỉ tiêu đều tăng so cùng kỳ. Kết quả thực hiện trên các lĩnh vực như sau:
I. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊU KINH TẾ
1. Tăng trưởng kinh tế (GRDP):
Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) 9 tháng đầu năm 2025 ước đạt 108.232 tỷ đồng (giá so sánh năm 2010); quý I tăng 6,85%, quý II tăng 7,33%, quý III tăng 6,81%; tính chung 9 tháng tăng 6,98% (Tiền Giang tăng 7,43%, Đồng Tháp cũ tăng 6,50%); khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,19%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,52%, khu vực dịch vụ tăng 7,26% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 5,48% so cùng kỳ. Trong 6,98% tăng trưởng thì khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản đóng góp 1,44%, khu vực công nghiệp và xây dựng đóng góp 2,85%, khu vực dịch vụ đóng góp 2,37% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đóng góp 0,32%. GRDP nếu tính theo giá hiện hành đạt 210.027 tỷ đồng.

Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản: 9 tháng đầu năm 2025 tăng 4,19% so với 9 tháng đầu năm 2024; trong đó nông nghiệp tăng 4,15%. Sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh trong 9 tháng đầu năm 2025, thuận lợi hơn các năm trước, không chịu tác động nhiều của hạn mặn. Sản lượng các loại rau màu, cây ăn quả đều tăng so với cùng kỳ. Các vườn cây ăn trái bị thiệt hại do hạn mặn năm 2020 gây ra đã được nông dân chăm sóc, trồng mới đến nay đã cho sản phẩm, góp phần làm cho nông nghiệp của tỉnh tăng. Tuy nhiên những tháng đầu năm xuất khẩu nông sản gặp khó khăn, giá một số sản phẩm nông nghiệp như: lúa, mít, sầu riêng … thấp hơn so cùng kỳ, ảnh hưởng đến thu nhập của nông dân.
Lĩnh vực chăn nuôi, dịch bệnh còn xảy ra ở một số địa phương, gây tâm lý lo lắng cho người nuôi; giá cả lên xuống thất thường, nông dân khó dự báo trong sản xuất; nhìn chung trong 9 tháng đầu năm giá bán các sản phẩm chăn nuôi bình quân có cao hơn cùng kỳ, giá lợn hơi trong 6 tháng đầu năm tăng mạnh, giao động từ 7 - 8,2 triệu đồng/tạ, sau đó giảm xuống, đến thời điểm tháng 9 giao động ở mức 5,5 -5,8 đồng/tạ, nông dân vẫn có lãi nhưng không nhiều. Do giá tăng cao ở những tháng đầu năm, nông dân mở rộng đầu tư sản xuất nên tổng đàn gia súc, gia cầm ở thời điểm tháng 6 đều tăng so cùng kỳ. Nhưng đến thời điểm hiện tại tổng đàn gia súc, gia cầm giảm, chỉ còn đàn lợn tăng 0,5% so cùng kỳ.
Ngành thủy sản tăng 4,42% so cùng kỳ, sản lượng nuôi trồng và khai thác đều tăng. Thời tiết trong 9 tháng đầu năm thuận lợi, ít ảnh hưởng bởi bão và áp thấp nhiệt đới, tạo điều kiện cho tàu cá hoạt động hiệu quả; thủy sản nuôi sinh trưởng tốt, ít dịch bệnh, cho năng suất cao. Mặt khác mô hình nuôi hàu tại vùng ven biển thuộc các xã khu vực Gò Công thả nuôi năm 2023 đến nay đã thu hoạch, góp phần làm cho ngành thuỷ sản của tỉnh tăng.
Khu vực công nghiệp - xây dựng: tăng 10,52% so với 9 tháng đầu năm 2024; trong đó công nghiệp tăng 10,23% (cùng kỳ tăng 12,17%). Sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh trong 9 tháng đầu năm có mức tăng thấp hơn cùng kỳ nhưng duy trì tốc độ tăng ổn định ở các quý (quý I tăng 11,52%, quý II tăng 9,22%, quý III tăng 10,07%). Theo dự báo có thể trong quý IV tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp sẽ chậm lại, do tác động của chính sách thương mại, áp thuế đối ứng của các nước, đơn hàng giảm, sản xuất hàng xuất khẩu khó khăn hơn, nhu cầu của thế giới giảm. Một số ngành có chỉ số sản xuất tăng cao trong 9 tháng đầu năm như: Sản xuất trang phục tăng 39,85%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 86,23%; sản xuất kim loại tăng 22,2%; sản xuất thiết bị điện tăng 20,82%, …Bên cạnh đó cũng có một số ngành có chỉ số sản xuất giảm so cùng kỳ do gặp khó khăn trong tìm kiếm thị trường tiêu thụ như: sản xuất da và các sản phẩm có liên quan bằng 92,86%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu bằng 84,84%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẳn bằng 78,97%; sản xuất xe có động bằng 54,73…
Ngành xây dựng tăng 11,96%, là một trong những ngành có tốc độ tăng trưởng tốt nhất trong 9 tháng đầu năm 2025. Tình hình sản xuất của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh từng bước khôi phục, ổn định trở lại sau dịch covid – 19 nên mở rộng qui mô đầu tư cho sản xuất. Năm 2025 là năm cuối của nhiệm kỳ Đại hội đảng các cấp giai đoạn 2020 - 2025, lãnh các đạo địa phương, các ngành các cấp tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt trong việc đẩy nhanh tiến độ đầu tư công và các công trình chào mừng Đại hội. Việc sáp nhập xã, phường, tỉnh theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đi vào hoạt động từ ngày 01/7/2025, nhu cầu sữa chữa nâng cấp các trụ sở làm việc của các cơ quan cũng góp phần tăng trưởng ngành xây dựng. Hiện tại trên địa bàn tỉnh có nhiều công trình trọng điểm của trung ương đang được triển khai đã góp phần làm cho hoạt động xây dựng trên địa bàn tỉnh tăng khá so cùng kỳ.
Khu vực dịch vụ: tăng 7,26% so cùng kỳ. Sau thời gian dài chịu ảnh hưởng của dịch Covid-19, tác động của suy giảm kinh tế thế giới, kinh tế của tỉnh dần hồi phục; công nhân có việc làm ổn định, thu nhập tăng, làm cho hầu hết các ngành trong khu vực này tăng so với cùng kỳ. Tuy nhiên tốc độ tăng của khu vực này có xu hướng chậm lại (quý I tăng 7,98%, quý II tăng 7,53%, quý III tăng 6,33%). Việc tăng lương cơ sở từ ngày 01/7/2024, làm cho thu nhập của người lao động tăng, kéo theo tiêu dùng, mua sắm của người dân bắt đầu tăng cao từ quý III/2024, do đó trong 6 tháng đầu năm 2025 tốc độ tăng trưởng của khu vực này tăng cao so cùng kỳ, đến quý III có xu hướng bảo hoà. Nhìn chung các hoạt động thương mại và dịch vụ trên địa bàn tỉnh diễn ra khá sôi động; các hoạt động hội chợ, triển lãm, sự kiện, lễ hội … thường xuyên được tổ chức để kích cầu tiêu dùng. Một số ngành tăng khá như: Dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 8,05%; hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 16,93%; hoạt động của Đảng cộng sản, tổ chức chính trị - xã hội, quản lý nhà nước, an ninh quốc phòng tăng 10,92%; Hoạt động vận tải kho bãi tăng 13,13% so với cùng kỳ... Thực hiện Nghị định 168/2024/NĐ-CP ngày 26/12/2024 quy định xử phạt vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông trong lĩnh vực giao thông đường bộ; trừ điểm, phục hồi điểm giấy phép lái xe; người dân đã ý thức hơn khi tham giao thông, nên nhu cầu sử phương tiện vận tải công cộng tăng, đã thúc đẩy dịch vụ vận tải đường bộ trên địa bàn tỉnh tăng. Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 5,48% so 9 tháng đầu năm 2024.
Cơ cấu kinh tế: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 34,7% (cùng kỳ 36,6%); khu vực công nghiệp, xây dựng chiếm 25,6% (cùng kỳ 24,1%); khu vực dịch vụ chiếm 34,1% (cùng kỳ 33,6%); thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 5,6%, (cùng kỳ 5,7%).
2. Tài chính - Ngân hàng:
a. Tài chính:
Thu ngân sách nhà nước: 9 tháng đầu năm 2025 ước thu được 46.551 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn thực hiện 18.393 tỷ đồng, đạt 88,9% dự toán, tăng 15,2% so cùng kỳ; thu nội địa 17.739 tỷ đồng, đạt 89,3% dự toán, tăng 15,8% so cùng kỳ. Các khoản thu chủ yếu như sau:
- Thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 2.832 tỷ đồng, đạt 103,9% dự toán, tăng 14,3% so cùng kỳ.
- Thu từ hoạt động xổ số kiến thiết 3.836 tỷ đồng, đạt 92,4% dự toán, tăng 22,3% so cùng kỳ.
- Thu thuế công thương nghiệp ngoài quốc doanh 3.363 tỷ đồng đạt 115,2% dự toán, tăng 31,2% so cùng kỳ.
Chi ngân sách nhà nước: Tổng chi ngân sách 9 tháng đầu năm 2025 là 32.665 tỷ đồng, tăng 29,5% so cùng kỳ, trong đó: chi đầu tư phát triển 10.439 tỷ đồng, đạt 94,2% dự toán, bằng 84,7%; chi hành chính sự nghiệp 21.220 tỷ đồng, đạt 95,7% dự toán và tăng 72,7% so cùng kỳ.
b. Ngân hàng:
Kinh tế toàn cầu diễn biến phức tạp, rủi ro bất ổn thị trường tài chính tăng cao, nhiều quốc gia tiếp tục tăng lãi suất để kiềm chế lạm phát. Các ngân hàng trên địa bàn tỉnh tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chắc chắn, linh hoạt, chủ động, kịp thời, hiệu quả.
Đến cuối tháng 8/2025, vốn huy động đạt 193.844 tỷ đồng, tăng 6,44% so với cuối năm 2024; tổng dư nợ cho vay thực hiện là 234.730 tỷ đồng, tăng 4,28% so với cuối năm 2024. Ước tính đến cuối tháng 9/2025, nguồn vốn huy động đạt 194.708 tỷ đồng, tăng 6,91% so với cuối năm 2024; tổng dư nợ cho vay đạt 236.346 tỷ, tăng 4,99% so với cuối năm 2024.
Nợ xấu: đến cuối tháng 8/2025 là 5.692 tỷ đồng, tỷ lệ 2,49%, tăng 1,01% so với cuối năm 2024. Ước đến cuối tháng 9/2025, nợ xấu là 5.542 tỷ, tỷ lệ nợ xấu 2,34%, tăng 0,86% so với cuối năm 2024.
Quỹ tín dụng nhân dân:Hệ thống quỹ tín dụng nhân dân trên địa bàn hoạt động ổn định, sát với mục tiêu góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội. Đến cuối 8/2025, tổng nguồn vốn huy động 2.823 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 7,29% so với cuối năm 2024. Dư nợ cho vay đạt 2.340 tỷ đồng, tỷ lệ giảm 1,17% so với cuối năm 2024. Tỷ lệ nợ xấu 0,59% so với cuối năm 2024.
3. Giá cả, lạm phát:
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9/2025 tăng 0,29% so tháng 8/2025 (khu vực thành thị tăng 0,41%, nông thôn tăng 0,26%); so cùng kỳ tăng 2,59%.
So với tháng 8/2025, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 11 nhóm tăng: hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,17% (lương thực tăng 0,08%, thực phẩm tăng 0,22%, ăn uống ngoài gia đình tăng 0,1%); đồ uống và thuốc lá tăng 0,14%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,3%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,41%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,1%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%; giao thông tăng 0,78%; bưu chính viễn thông tăng 0,1%; giáo dục tăng 0,73%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,01% và nhóm hàng hóa dịch vụ khác tăng 0,45%.
Chỉ số giá tiêu dùng bình quân quý III năm 2025 so cùng kỳ tăng 2,27%; một số nhóm hàng có chỉ số giá tăng nhiều trong quý như: thuốc và dịch vụ y tế tăng 11,91%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 4,69%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,33%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,29%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 11,91%;... Chỉ riêng nhóm giao thông giảm 2,04% so cùng kỳ.
Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 9 tháng năm 2025 so cùng kỳ tăng 2,22%; Chỉ số giá tiêu dùng 9 tháng đầu năm 2025 tăng chủ yếu ở một số nhóm hàng như: thuốc và dịch vụ y tế tăng 11,91%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 6,85%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,61%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,70%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,72% so với cùng kỳ … Chỉ riêng nhóm giao thông giảm 3,84% so cùng kỳ.
Chỉ số giá vàng 24 kara Ngọc Thẩm trong tháng 9/2025 tăng 7,29% so tháng trước, tăng 43,37% so với tháng 12/2024, tăng 55,79% so với cùng kỳ.
Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng 09/2025 tăng 0,7% so tháng trước, tăng 3,85% so với tháng 12/2024 và tăng 6,99% so với cùng kỳ.
4. Đầu tư và Xây dựng:
Vốn đầu tư toàn xã hội quý III/2025, ước thực hiện được 23.531 tỷ đồng, tăng 13,3% so cùng kỳ; trong đó: vốn đầu tư ngoài nhà nước 13.656 tỷ đồng, tăng 7,4% và chiếm 58%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 1.745 tỷ đồng, tăng 31,4% và chiếm 7,4%; vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước 8.130 tỷ đồng, tăng 20,9% và chiếm 34,6%.
Chín tháng đầu năm 2025, vốn đầu tư toàn xã hội ước thực hiện 59.469 tỷ đồng, đạt 67% kế hoạch, tăng 12,6% so cùng kỳ; trong đó: vốn đầu tư của dân cư và tư nhân 36.358 tỷ đồng, tăng 11,6%, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 4.496 tỷ đồng, tăng 28,9%, vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước 18.615 tỷ đồng, tăng 11,4% so cùng kỳ.

Hình 1. Vốn đầu tư toàn xã hội 9 tháng năm 2025
Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý quý III/2025 là 5.065 tỷ đồng, tăng 58,2% so cùng kỳ; gồm có: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 4.960 tỷ đồng, tăng 57% và vốn ngân sách nhà nước cấp xã 105 tỷ đồng, tăng 1,5 lần so cùng kỳ.
Ước 9 tháng đầu năm 2025, vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý là 11.171 tỷ đồng, đạt 63,6% kế hoạch, tăng 33,2% so cùng kỳ; gồm có: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 10.997 tỷ đồng, tăng 32,8% và vốn ngân sách nhà nước cấp xã 174 tỷ đồng, tăng 62,4% so cùng kỳ.
Kết quả thực hiện một số dự án trọng điểm từ nguồn vốn ngân sách trên địa bàn tỉnh[1].
5. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp: (Theo báo cáo của Sở Tài Chính)
Tính đến hết tháng 9/2025 trên địa bàn tỉnh có 1.928 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, đạt 107,1% kế hoạch và tăng 72% so với cùng kỳ; tổng vốn đăng ký là 12.516,9 tỷ đồng, tăng 67,4% so với cùng kỳ; vốn đăng ký bình quân một doạnh nghiệp là 6,5 tỷ đồng/doanh nghiệp. Thành lập đơn vị trực thuộc doanh nghiệp có 1.320 đơn vị thành lập mới, tăng 47,3% so với cùng kỳ. Tạm ngừng hoạt động 679 doanh nghiệp tăng 8,3%; có 304 doanh nghiệp hoàn tất giải thể, tăng 28,8% so với cùng kỳ. Bên cạnh đó có 340 doanh nghiệp hoạt động trở lại, tăng 28,3% so với cùng kỳ.
6. Sản xuất nông - lâm nghiệp và thủy sản:
a. Nông nghiệp [2]
Cây lương thực có hạt: diện tích gieo trồng cộng dồn từ đầu vụ sản xuất ước đạt 591.032 ha, giảm 4,0% so cùng kỳ, tương ứng giảm 24.866 ha; sản lượng ước đạt 3.316.832 tấn, tăng 0,1%, tương ứng tăng 3.093 tấn. Trong đó cây lúa gieo sạ ước đạt 584.960 ha, giảm 4,0% so cùng kỳ; sản lượng thu hoạch ước đạt 3.274.775 tấn, tăng 0,1%, cụ thể:
- Cây lúa:
+ Vụ Đông xuân 2024 - 2025: diện tích gieo trồng chính thức 229.680 ha, giảm 1,7% so cùng kỳ, tương ứng giảm 4.087 ha do chuyển đổi sang cây lâu năm 3.591 ha, không sản xuất 425 ha, cây hàng năm khác 147 ha, đất phi nông nghiệp là 44 ha, nuôi trồng thủy sản 33 ha và tăng 153 ha từ diện tích cây hằng năm khác. Thu hoạch 100% diện tích với năng suất thu hoạch bình quân đạt 71,9 tạ/ha, tăng 0,3% so cùng kỳ, tương ứng tăng 0,2 tạ/ha; sản lượng thu hoạch 1.651.864 tấn, giảm 1,5% so cùng kỳ, tương ứng giảm 24.518 tấn. Nguyên nhân do diện tích gieo trồng giảm.
+ Vụ Hè thu: đến ngày 20/9, diện tích gieo trồng của vụ sơ bộ đạt 244.290 ha, giảm 2,1% so cùng kỳ, tương ứng giảm 5.334 ha; thu hoạch 242.303 ha, chiếm 99,2% diện tích gieo trồng; sản lượng thu hoạch ước đạt 1.622.911 tấn, tăng 1,8% so cùng kỳ với năng suất thu hoạch bình quân ước đạt 67 tạ/ha. Diện tích gieo trồng giảm do chuyển đổi sang đất trồng cây lâu năm là 3.232 ha, thời tiết, bỏ vụ là 1.596 ha, nuôi trồng thủy sản là 500 ha, cây hàng năm khác là 369 ha, đất phi nông nghiệp là 123 ha và tăng 486 ha từ diện tích cây hàng năm khác.
+ Vụ Thu Đông: đến ngày 20/9, diện tích gieo trồng của vụ ước đạt 110.990 ha, giảm 12% so cùng kỳ, diện tích xuống giống chủ yếu ở Tháp Mười, Cao Lãnh, Tam Nông, Lấp Vò... trà lúa đang giai đoạn mạ - đẻ nhánh.

Hình 2. Diện tích gieo trồng lúa và hoa màu tính đến 20/9/2025
- Cây ngô: diện tích gieo trồng cộng dồn từ đầu vụ sản xuất là 6.072 ha, giảm 5,5%, tương ứng giảm 350 ha. Sản lượng thu hoạch ước đạt 42.057 tấn, giảm 2,5% so cùng kỳ, tương ứng giảm 1.069 tấn. Ngô là cây trồng ngắn ngày, kỹ thuật canh tác đơn giản, dễ chăm sóc và có thể sản xuất nhiều vụ trong năm. Ngoài giá trị kinh tế từ việc bán trái, cây ngô còn mang lại lợi ích từ phụ phẩm: thân, lá sau thu hoạch là nguồn thức ăn giàu dinh dưỡng cho gia súc (trâu, bò…), góp phần giảm chi phí chăn nuôi và nâng cao hiệu quả kinh tế hộ gia đình.
- Cây rau đậu các loại: diện tích gieo trồng cộng dồn từ đầu vụ sản xuất ước đạt 64.269 ha, tăng 2,3% so cùng kỳ; trong đó: rau các loại 63.912 ha, tăng 2,3% so cùng kỳ. Sản lượng thu hoạch ước đạt 996.414 tấn, tăng 10,1% so cùng kỳ; trong đó: rau các loại ước đạt 995.482 tấn, tăng 10,1% so cùng kỳ. Diện tích rau màu tăng chủ yếu do nông dân chuyển đổi từ đất trồng cây kém hiệu quả, đặc biệt là những diện tích không đủ điều kiện sản xuất lúa sang trồng rau màu. Tận dụng lợi thế đất đai màu mỡ, thời tiết thuận lợi, bà con đã linh hoạt áp dụng mô hình xen canh, gối vụ với nhiều loại rau, củ, quả có giá trị kinh tế cao, dễ tiêu thụ như: rau muống, bầu, mướp, bí xanh, khổ qua, dưa leo, các loại cải, hành lá, dưa hấu và các loại rau ngắn ngày khác. Công tác sản xuất và tiêu thụ nông sản ngày càng được chú trọng, sản phẩm chủ yếu được tiêu thụ thông qua thương lái, bên cạnh đó một số hợp tác xã đã liên kết với hệ thống bán lẻ hiện đại (chuỗi Bách Hóa Xanh) để cung ứng rau sạch với giá bán ổn định, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế cho nông dân.
Cây lâu năm: trong 9 tháng năm 2025, các loại cây lâu năm trên địa bàn tỉnh tiếp tục phát triển ổn định, xu hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng ngày càng rõ nét. Nhiều địa phương đã thực hiện chuyển đổi diện tích đất lúa, đất màu kém hiệu quả sang trồng cây ăn quả như sầu riêng, mít Thái, thanh long, dừa…, làm cho diện tích cây ăn quả của tỉnh không ngừng gia tăng. Nhiều loại cây ăn quả chủ lực đã được xây dựng thương hiệu và khẳng định vị thế trên thị trường trong nước cũng như xuất khẩu sang nhiều quốc gia, điển hình như sầu riêng, thanh long, vú sữa, xoài cát Hòa Lộc… Đây là hướng đi phù hợp, góp phần nâng cao giá trị kinh tế và cải thiện thu nhập cho nông dân.
Tổng diện tích gieo trồng cây lâu năm trên toàn tỉnh ước đạt 160.997 ha, đạt 101,6% kế hoạch năm, tăng 3,7% so với cùng kỳ (tương ứng tăng 5.695 ha). Trong đó, diện tích cây ăn quả ước đạt 134.128 ha, chiếm 83,3% tổng diện tích cây lâu năm, tăng 3,2% so cùng kỳ.
Tổng sản lượng thu hoạch cây lâu năm toàn tỉnh ước đạt 2.056.625 tấn, đạt 75,5% kế hoạch năm, tăng 4,8% so với cùng kỳ (tương ứng tăng 93.434 tấn). Trong đó, tổng sản lượng thu hoạch cây ăn quả ước đạt 1.836.487 tấn, tăng 5,0% so cùng kỳ. Sự gia tăng sản lượng này phản ánh hiệu quả của việc mở rộng diện tích, cải thiện kỹ thuật canh tác và đầu tư thâm canh ngày càng cao của người dân.
Chăn nuôi: ước thời điểm 30/9/2025 tổng đàn gian súc, gia cầm của tỉnh như sau: đàn trâu hiện có 3,2 nghìn con, giảm 1,2% so cùng kỳ; đàn bò hiện có 153,8 nghìn con, giảm 4,4%; đàn lợn có 435,7 nghìn con, tăng 0,5%; đàn gia cầm có 23,3 triệu con, giảm 5,7%. Đàn trâu tiếp tục giảm do hiệu quả kinh tế thấp, giá bán không ổn định, thời gian nuôi kéo dài, khiến người dân chuyển sang các mô hình chăn nuôi khác có giá trị kinh tế cao hơn. Đàn bò cũng giảm chủ yếu vì chi phí đầu vào tăng trong khi giá bán đầu ra bấp bênh, nhiều hộ phải thu hẹp quy mô hoặc ngừng nuôi để hạn chế rủi ro. Ngược lại, đàn lợn tăng nhẹ nhờ người chăn nuôi đầu tư vào mô hình trang trại quy mô lớn, áp dụng tiến bộ kỹ thuật và quy trình an toàn sinh học, qua đó nâng cao năng suất, hiệu quả sản xuất và kiểm soát dịch bệnh. Tổng đàn gia cầm giảm so với cùng kỳ, chủ yếu do đàn vịt giảm vì đã đến kỳ xuất bán vịt thịt chạy đồng, trong khi người nuôi chưa tái đàn. Tuy nhiên, đàn gà tăng mạnh, góp phần ổn định nguồn cung thịt và trứng gia cầm trên thị trường, không gây biến động lớn về giá cả.
*Tình hình dịch bệnh trên vật nuôi (Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đồng Tháp):
Gia cầm:
Bệnh cúm gia cầm: trong tháng không phát sinh. Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh xảy ra 03 hộ có cầm nhiễm vi rút cúm A/H5N1 với số lượng 6.161 con (tổng đàn 7.200 con) tại 02 xã (Phú Thành và Tân Phước 3). Đã tiêu hủy toàn bộ số gia cầm 7.200 con.
Gia súc:
Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: trong tháng phát sinh 1 hộ có lợn bệnh trên tổng đàn 72 con. Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh xảy ra 20 hộ nuôi có lợn mắc bệnh tại 13 xã (Vĩnh Bình, Bình Ninh, Vĩnh Hựu, Long Hưng, Tân Phước 3, Hội Cư, Bình Trưng, Long Định, Tân Phú, Kim Sơn, Mỹ Tịnh An, Mỹ Thành và Hậu Mỹ). Đã tiêu hủy 540 con (khối lượng khoảng 17.697 kg).
Bệnh viêm da nổi cục: trong tháng không phát sinh. Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh xảy ra 03 hộ tại 03 xã (Hậu Mỹ, Tân Thuận Bình, Chợ Gạo) với 04 con bò có dấu hiệu bệnh (tổng đàn 18 con). Đã tiêu hủy 01 con bò (khối lượng 215 kg).
Bệnh Lở mồm long móng: trong tháng không phát sinh. Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh xảy ra 01 con lợn bệnh tại cơ sở giết mổ ở xã Hậu Mỹ. Đã tiêu hủy lợn bệnh (khối lượng 110 kg).

Hình 3. Chăn nuôi tại thời điểm 30/9/2025
b. Lâm nghiệp:
Tổng diện tích đất có rừng trên địa bàn tỉnh hiện đạt 8.006,6 ha. Trong 9 tháng năm 2025, số cây phân tán được trồng mới ước đạt 751 nghìn cây, giảm 2,2% so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu do nhiều tuyến đường đã được trồng cây từ các năm trước, nên nhu cầu bổ sung cây mới không còn nhiều. Sản lượng gỗ khai thác ước đạt 131.160 m³, tăng 0,6% so với cùng kỳ; sản lượng củi khai thác ước đạt 303.089 ste, giảm 5,2% so với cùng kỳ năm trước.
c. Thủy hải sản:
Sản lượng thủy sản trong quý III/2025 ước đạt 250.072 tấn. Tính chung sản lượng thủy sản 9 tháng năm 2025 ước đạt 699.400 tấn, tăng 14,8% so cùng kỳ; trong đó: sản lượng thu hoạch từ nuôi 603.954 tấn, tăng 14,3%; sản lượng khai thác 95.446 tấn, tăng 17,9%. Kết quả khả quan này nhờ điều kiện thời tiết thuận lợi, ít chịu ảnh hưởng bởi bão và áp thấp nhiệt đới, tạo điều kiện cho tàu cá hoạt động hiệu quả; các ngư trường dồi dào nguồn lợi, thủy sản nuôi sinh trưởng tốt, ít dịch bệnh, năng suất cao.
d. Nông thôn mới:
Đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận tỉnh hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới năm 2024[3].
7. Sản xuất công nghiệp:
Chỉ số sản xuất công nghiệp quý III/2025 tăng 14,66% so với cùng kỳ, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,49%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 7,51%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,28%; riêng ngành khai khoáng bằng 54,34% so cùng kỳ.
Chỉ số sản xuất công nghiệp 9 tháng đầu năm 2025 tăng 13,29% so cùng kỳ; trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 14,11%; ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 3,8%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,04% so cùng kỳ; chỉ riêng ngành khai khoáng bằng 90,22% so cùng kỳ.
Sản phẩm sản xuất công nghiệp 9 tháng năm 2025: Có 76/115 sản phẩm tăng so cùng kỳ: giấy vệ sinh tăng 86,2%; dịch vụ sản xuất thiết bị điện chiếu sáng tăng 77%; thịt cá đông lạnh tăng 72,7%; quả và hạt ướp lạnh tăng 67,5%; bóng thể thao khác tăng 34,8%; thanh nhôm, que nhôm, nhôm ở dạng hình tăng 30,8%; máy thu hoạch khác chưa được phân vào đâu tăng 30,2%; cáp đồng trục và dây dẫn điện đồng trục khác tăng 29%; thức ăn cho gia cầm tăng 28,8%; thùng chứa, bể và các loại đồ chứa tương tự dung tích trên 300 lít bằng plastic tăng 26,9%; bánh làm từ bột khác bảo quản được tăng 23,5%; máy chế biến thịt gia súc hoặc gia cầm tăng 22,2%; bia đóng lon tăng 21,6%; thức ăn cho thủy sản tăng 14,4%; mỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền tăng 12,9%; … Có 39/115 sản phẩm giảm so cùng kỳ: bia hơi giảm 99,7%; máy gặt đập liên hợp giảm 83,3%; màn bằng vải khác giảm 64,5%; giày, dép không thấm nước có đế ngoài và mũ bằng cao su hay plastic giảm 37,8%; máy bừa, máy xới, máy cào, máy làm cỏ, máy cuốc giảm 36,4%; tấm giảm 35,9%; dịch vụ sản xuất giày, dép giảm 31,3%; thuốc cỏ cú đầu lọc giảm 23,5%; bia đóng chai giảm 16,9%; thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng viên giảm 14,6%; dịch vụ tiện các bộ phận kim loại giảm 11,4%; ba lô giảm 11,4%;….

Hình 4. Chỉ số sản xuất công nghiệp 9 tháng năm 2025
* Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo:
- Chỉ số tiêu thụ tháng 9/2025 so với tháng trước tăng 1,54% và tăng 9,05% so cùng kỳ. Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cộng dồn từ đầu năm đến cuối tháng 9 năm 2025 tăng 10,58%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao: sản xuất đồ uống tăng 2,07%, trong đó sản xuất bia tăng 2,11%; dệt tăng 14,31%; sản xuất trang phục tăng 24,63%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ tăng 7,5%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 86,41%; sản xuất kim loại tăng 32,83%; sản xuất thiết bị điện tăng 2,78%, trong đó sản xuất ,ô tơ, máy phát, biến thế điện, thiết bị phân phối và điều khiển điện tăng 11,29%;… Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm so cùng kỳ: sản xuất sản phẩm thuốc lá giảm 24,79%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu giảm 54,27%; sản xuất sản phẩm cao su và plastic giảm 21,03%; sản xuất xe có động cơ giảm 45,7%; …
- Chỉ số tồn kho tháng 9/2025 so với tháng trước tăng 4,32% so với tháng trước và tăng 4,37% so với cùng kỳ. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so với cùng kỳ: sản xuất trang phục tăng 18,08%; sản xuất da tăng 42,57%, trong đó sản xuất vali, túi xách… tăng 111,02% và sản xuất giày dép tăng 37,29%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng hơn 2 lần (tăng 212,26%); sản xuất kim loại tăng 28,39%;... Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tồn kho giảm: sản xuất đồ uống giảm 76,06%; dệt giảm 40,4%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 35,58%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẳn giảm 38%; sản xuất thiết bị điện giảm 19,55% so cùng kỳ…
8. Thương mại, dịch vụ:
a. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng:
Hoạt động kinh doanh trên địa bàn tỉnh diễn ra ổn định và tăng hơn so cùng kỳ, lượng hàng hóa dồi dào, các đơn vị kinh doanh chủ động dự trữ hàng hóa để phục vụ nhu cầu mua sắm của người dân trong các dịp lễ, Tết. Nắm bắt nhu cầu, sức mua của người tiêu dùng tăng mạnh vào các dịp lễ, nhiều hệ thống siêu thị và trung tâm thương mại đã tổ chức các chương trình khuyến mãi, giảm giá lớn nhằm tăng doanh số bán hàng cũng như phục vụ người tiêu dùng trong đợt nghỉ dài ngày.
Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng quý III/2025 thực hiện 61.781 tỷ đồng, tăng 9,5% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 47.715 tỷ đồng, tăng 8%; lưu trú 250 tỷ đồng, tăng 32,6%; ăn uống 8.172 tỷ đồng, tăng 17%; du lịch lữ hành 144 tỷ đồng, tăng 79,5%; dịch vụ tiêu dùng 5.500 tỷ đồng, tăng 10,4% so cùng kỳ
. Hoạt động mua bán trên địa bàn tỉnh tiếp tục diễn ra ổn định, các dịp Lễ Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh mùng 2/9, nhu cầu, sức mua của người tiêu dùng tăng mạnh trong đợt nghỉ dài ngày.
Chín tháng đầu năm 2025, tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng 184.849 tỷ đồng, tăng 9,3% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 143.756 tỷ đồng, tăng 8,4%; lưu trú, ăn uống 24.503 tỷ đồng, tăng 13,8%; du lịch lữ hành 326 tỷ đồng, tăng 34%; dịch vụ tiêu dùng khác 16.264 tỷ đồng, tăng 10,2% so cùng kỳ.

Hình 5. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng
b. Xuất - Nhập khẩu: (Theo báo cáo Sở Công Thương)
Kinh tế và chính trị thế giới diễn biến phức tạp, căng thẳng thương mại Mỹ - Trung và một số quốc gia khác có thể dẫn tới những xáo trộn lớn với thương mại toàn cầu. Hoạt động xuất khẩu của Tỉnh tiếp tục duy trì ổn định, tuy nhiên bức tranh chung vẫn tiềm ẩn nhiều khó khăn do tác động từ các yếu tố bên ngoài. Cụ thể như: Philippines thông báo tạm ngừng nhập khẩu gạo trong 60 ngày kể từ ngày 01/9/2025; chính sách bảo hộ thương mại của Hoa Kỳ, đặc biệt là áp mức thuế 20% đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam, đã làm cho đơn hàng của nhiều doanh nghiệp bị ảnh hưởng, gây áp lực lớn đến kim ngạch xuất khẩu của tỉnh trong những tháng còn lại của năm 2025.
a. Xuất khẩu:
Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng ước thực hiện 730 triệu USD, giảm 13,9% so tháng trước và giảm 10,8% so cùng kỳ. Chín tháng xuất khẩu ước tính 6.865 triệu USD, đạt 74,6% kế hoạch, tăng 1,1% so cùng kỳ.
b. Nhập khẩu:
Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 9/2025 ước đạt 360 triệu USD, giảm 15,9% so tháng trước và tăng 1,8% so cùng kỳ. Chín tháng ước đạt 3.676 triệu USD, đạt 82,9% kế hoạch và tăng 15,8% so với cùng kỳ.
Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu trong tổng kim ngạch nhập khẩu của tỉnh 9 tháng năm 2025 như: Kim loại thường khác (nguyên liệu đồng) ước đạt 1.012 triệu USD, tăng 2,6%; Sắt thép các loại ước đạt 334 triệu USD, bằng 86,2%; Nguyên phụ liệu dệt may, da giày, túi xách ước đạt 271 triệu USD, bằng 83,7%; Vải may mặc ước đạt 193 triệu USD, bằng 94,6%; Chất dẻo nguyên liệu ước đạt 141 triệu USD, bằng 70,6% so cùng kỳ;…
c. Vận tải:
Hiện nay tình hình hoạt động của các tuyến xe cố định trên địa bàn tỉnh tiếp tục được duy trì thông thoáng, đặc biệt các chủ cơ sở kinh doanh vận tải tự giác chấp hành tốt nội qui bến bãi, đã tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân đi lại và vận chuyển hàng hoá đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh...
Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải quý III/2025 thực hiện 1.929 tỷ đồng, tăng 14% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 635 tỷ đồng, tăng 14,7% so cùng kỳ; vận tải hàng hóa thực hiện 962 tỷ đồng, tăng 13,7% so cùng kỳ. Chín tháng đầu năm 2025, doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải thực hiện 5.723 tỷ đồng, tăng 13,8% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 1.861 tỷ đồng, tăng 13,7% so cùng kỳ; vận tải hàng hóa thực hiện 2.854 tỷ đồng, tăng 13,2% so cùng kỳ. Vận tải đường bộ thực hiện 2.670 tỷ đồng, tăng 14%; vận tải đường thủy thực hiện 2.045 tỷ đồng, tăng 12,6%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 584 tỷ đồng, tăng 14,3% so cùng kỳ.
Vận chuyển hành khách quý III/2025 đạt 18.267 ngàn hành khách, tăng 11,6% và luân chuyển 674.810 ngàn hành khách.km, tăng 10,7% so cùng kỳ;
trong đó: vận chuyển đường bộ 6.097 ngàn hành khách, tăng 14,5% và luân chuyển 669.031 ngàn hành khách.km, tăng 10,7% so cùng kỳ; vận chuyển đường thủy 12.170 ngàn hành khách, tăng 10,2% và luân chuyển 5.779 ngàn hành khách.km, tăng 7% so cùng kỳ. Chín tháng đầu năm 2025, vận chuyển hành khách đạt 54.012 ngàn hành khách, tăng 11,5% và luân chuyển 2.028.824 ngàn hành khách.km, tăng 27,8% so cùng kỳ, Trong đó: vận chuyển đường bộ 17.714 ngàn hành khách, tăng 26,6% và luân chuyển 2.011.460 ngàn hành khách.km, tăng 28,3% so cùng kỳ; vận chuyển đường thủy 36.298 ngàn hành khách, tăng 5,4% và luân chuyển 17.364 ngàn hành khách.km, bằng 88% so cùng kỳ.
Vận tải hàng hóa quý III/2025 đạt 7.052 ngàn tấn, tăng 12% và luân chuyển được 1.322.484 ngàn tấn.km, tăng 9,4% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ thực hiện 1.726 ngàn tấn,tăng 13% và luân chuyển được 237.515 ngàn tấn.km, tăng 2,4% so cùng kỳ; vận tải đường thủy thực hiện 5.326 ngàn tấn, tăng 11,7% và luân chuyển được 1.084.969 ngàn tấn.km, tăng 11,1% so cùng kỳ. Chín tháng đầu năm 2025, vận tải hàng hóa đạt 21.326 ngàn tấn, tăng 9,7% và luân chuyển 3.983.736 ngàn tấn.km, tăng 4,8% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ thực hiện 5.108 ngàn tấn, tăng 24,9% và luân chuyển được 716.357 ngàn tấn.km, bằng 84% so cùng kỳ; vận tải đường thủy thực hiện 16.218 ngàn tấn, tăng 5,6% và luân chuyển 3.267.379 ngàn tấn.km, tăng 10,8% so cùng kỳ.
* Phương tiện giao thông: Trong tháng đăng ký mới 4.315 chiếc mô tô xe máy và 455 chiếc xe ô tô. Tổng số xe đang quản lý trên địa bàn tỉnh là 3.079.233 chiếc, trong đó mô tô xe máy: 2.949.145 chiếc, 126.839 xe ô tô, 169 xe ba bánh, 666 xe đạp điện, 1.063 xe khác và 1.309 xe lam.
d. Du lịch:
Chín tháng đầu năm 2025, lượng khách du lịch đến tỉnh 2.879 ngàn lượt, tăng 5,4% so cùng kỳ; trong đó khách quốc tế 394 ngàn lượt, tăng 7,8% so cùng kỳ. Doanh thu hoạt động lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành 24.829 tỷ đồng, tăng 14% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống chiếm 97,6%.
e. Bưu chính - Viễn thông:
Doanh thu tháng 9 đạt 516,9 tỷ đồng, giảm 1,2% so tháng trước, do các nhà mạng đang siết chặc các thuê bao Sim rác; mặc khác nhiều nhà mạng cạnh tranh khuyến mãi dịp nghỉ lễ 02/9, dẫn đến doanh thu giảm; trong đó: doanh thu bưu chính 50,4 tỷ đồng, tương đương so tháng trước; viễn thông 466,5 tỷ đồng, giảm 1,35% so tháng trước. Cộng dồn 9 tháng doanh thu 4.603,6 tỷ đồng, tăng 4,9% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính 423,8 tỷ đồng, tăng 8,2% so cùng kỳ, doanh thu viễn thông 4.479,8 tỷ đồng, tăng 4,5% so cùng kỳ.
Tổng số thuê bao điện thoại có trên mạng ước tính đến cuối tháng 9 năm 2025 là 3.879.717 thuê bao, mật độ bình quân đạt 113,99 thuê bao/100 dân (chỉ tính hữu tuyến, vô tuyến, trả trước, trả sau). Số thuê bao điện thoại di động có sử dụng Internet (3G, 4G) đến cuối tháng 9 là: 3.213.908 thuê bao. Tổng số thuê bao Internet trên mạng ước tính đến cuối tháng 9 năm 2025 là 4.222.019 thuê bao (bao gồm: băng rộng di động 3G, 4G; MyTV và Cáp; băng rộng cố định FTTH, xDSL, Leased-line, CATV). Mật độ Internet bình quân ước đạt 124,04 thuê bao/100 dân. Các doanh nghiệp bưu chính, viễn thông trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì trên đà phát triển ổn định, không ngừng đầu tư nâng cấp phát triển mạng lưới, cung cấp nhiều loại hình dịch vụ phong phú, đa dạng để duy trì tốc độ phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng của khách hàng.
II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
1. Lao động, giải quyết việc làm:
a. Tư vấn và giới thiệu việc làm:
Trong 9 tháng, giải quyết việc làm cho 47.650 lao động đạt 95,3% kế hoạch (50.000 lao động); tổ chức 63 phiên giao dịch việc làm, ngày hội việc làm với 678 lượt doanh nghiệp tham gia, thu hút trên 15.000 lượt người tham gia, có trên 3.700 lao động được kết nối.
Công tác đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo hợp đồng đạt nhiều kết quả tích cực. Trong 9 tháng, có 1.727 lao động đi làm việc ở nước ngoài (Nhật Bản: 1.063 lao động; Hàn Quốc: 597 lao động; Đài Loan: 54 lao động; các nước khác 13 lao động), đạt 67,7% so với kế hoạch năm (2.550 lao động).
Về trợ cấp thất nghiệp trong 9 tháng, số người lao động đăng ký hưởng trợ cấp thất nghiệp 19.657 người, giảm 18% so với cùng kỳ. Có 18.685 người được hưởng trợ cấp thất nghiệp với số tiền tương ứng 393,9 tỷ đồng.
Cơ quan chức năng cũng đã kịp thời nắm bắt và xử lý các vấn đề liên quan đến quan hệ lao động. Cụ thể, ghi nhận 01 vụ ngừng việc tập thể với sự tham gia của 1.100 công nhân tại Công ty TNHH May mặc Ecotank (ấp Quý Trình, phường Nhị Quý), do phản ánh về chế độ tiền lương và các chính sách an sinh xã hội. Các ngành chức năng đã phối hợp với lãnh đạo công ty tổ chức đối thoại, giải quyết kịp thời các kiến nghị chính đáng, giúp công nhân ổn định tâm lý và trở lại làm việc bình thường.
b. Tình hình thiếu việc làm, thất nghiệp:
Theo kết quả sơ bộ cuộc điều tra lao động việc làm quý III năm 2025, tình hình lao động thiếu việc làm và thất nghiệp như sau:
Trong quý III/2025, tỷ lệ lao động thiếu việc làm toàn tỉnh là 3,56%, giảm 0,51 điểm phần trăm so với quý II và giảm 0,01 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2024 (3,57%). Tỷ lệ thiếu việc làm khu vực nông thôn là 3,19%, giảm 0,28 điểm phần trăm so quý trước và giảm 0,14 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước (3,33%). Trong khi đó, khu vực thành thị có tỷ lệ thiếu việc làm là 4,31%, giảm 0,94 điểm phần trăm so với quý trước, nhưng tăng 0,22 điểm phần trăm so cùng kỳ năm trước (4,09%). Đáng chú ý, lao động thiếu việc làm tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn, chiếm 60,36% tổng số lao động thiếu việc làm toàn tỉnh.
Tỷ lệ thất nghiệp quý III/2025 là 0,61%, giảm 0,39 điểm phần trăm so quý II và giảm 0,29 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2024 (0,90%). Xét theo khu vực, khu vực thành thị có tỷ lệ thất nghiệp là 0,87%, giảm 0,75 điểm phần trăm so quý trước và giảm 0,14 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước (1,01%). Khu vực nông thôn có tỷ lệ thất nghiệp 0,47%, giảm 0,21 điểm phần trăm so quý trước và giảm 0,38 điểm phần trăm so với cùng kỳ (0,85%). Lao động thất nghiệp ở khu vực nông thôn chiếm tỷ trọng 52,63% trong tổng số người thất nghiệp của tỉnh.
Tính chung 9 tháng năm 2025, tỷ lệ thiếu việc làm toàn tỉnh là 3,87%, tăng 0,26 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước (3,61%). Trong đó, khu vực thành thị là 4,71% (tăng 0,38 điểm phần trăm) và khu vực nông thôn là 3,47% (tăng 0,19 điểm phần trăm). Tỷ lệ thất nghiệp của tỉnh 9 tháng năm 2025 là 0,86%, giảm 0,09 điểm phần trăm so với cùng kỳ (0,95%); riêng khu vực thành thị là 1,36% (tăng 0,01 điểm phần trăm) và khu vực nông thôn là 0,62% (giảm 0,14 điểm phần trăm). Tỷ trọng lao động thất nghiệp ở khu vực thành thị chiếm 51,85% trong tổng số người thất nghiệp toàn tỉnh.
2. Đời sống dân cư và an sinh xã hội:
a. Đời sống dân cư:
Trong 9 tháng năm 2025, đời sống dân cư trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định, thu nhập và mức sống từng bước được cải thiện. Công tác an sinh xã hội và chăm sóc sức khỏe nhân dân tiếp tục được chú trọng; các chương trình y tế cộng đồng, phòng chống dịch bệnh được triển khai hiệu quả, đặc biệt bệnh sốt xuất huyết trong 9 tháng tăng 80,3% so với cùng kỳ nhưng đã được kiểm soát, không ghi nhận ca tử vong.
Tình hình biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp, hoàn lưu bão số 03 (WIPHA) đã gây thiệt hại về người và tài sản. Trong mùa khô 2024–2025, nhờ triển khai đồng bộ, kịp thời các giải pháp phòng, chống hạn mặn ngay từ đầu vụ, tỉnh đã bảo vệ hiệu quả diện tích sản xuất nông nghiệp và đảm bảo ổn định đời sống nhân dân. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản nhìn chung duy trì ổn định; các mặt hàng nông sản cơ bản đáp ứng nhu cầu thị trường trong và ngoài tỉnh. Tuy nhiên, trong 9 tháng qua, giá nông sản gặp nhiều khó khăn do nguồn cung dồi dào, đầu ra hạn chế; thời tiết mưa bão kéo dài trong quý III ảnh hưởng đến chất lượng và khâu vận chuyển. Bên cạnh đó, yêu cầu ngày càng khắt khe về tiêu chuẩn chất lượng, sự phụ thuộc vào một số thị trường nhập khẩu lớn (gạo, sầu riêng, mít, thanh long…) cùng với biến động thị trường trong và ngoài nước đã tác động đáng kể đến giá cả nông sản của tỉnh.
Hoạt động thương mại – dịch vụ tiếp tục ổn định và phát triển trên nhiều mặt. Chính sách giảm 2% thuế VAT đến hết năm 2026 đã góp phần kích thích tiêu dùng trong nước, thúc đẩy cầu nội địa. Trên địa bàn tỉnh, giao thương, buôn bán diễn ra sôi nổi; nguồn cung hàng hóa dồi dào, giá cả ít biến động, không xảy ra tình trạng khan hiếm. Đây là tín hiệu tích cực, tạo phấn khởi cho tiểu thương, doanh nghiệp bán lẻ và phân phối, đồng thời thúc đẩy tăng trưởng ngành thương mại – dịch vụ, tạo động lực cho những tháng cuối năm 2025.
Trong tháng 9 năm 2025, tổng số lao động làm việc tại các doanh nghiệp trong khu công nghiệp (KCN), khu kinh tế (KKT) đạt 107.598 người, trong đó có 1.371 lao động nước ngoài (chiếm 1,3%). Nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp trong khu đạt khoảng 4.296 lao động, tập trung nhiều tại các công ty như: Giày Apache Việt Nam, Freview Industrial (Việt Nam), Hansae TG, Goleader Việt Nam, Bestway Việt Nam, Đồng Iinhong Việt Nam, Topknit, Xuất Nhập Khẩu Cỏ May, Thực phẩm QVD Đồng Tháp, Liên Doanh Nghị Phong… Tuy nhiên, công tác kết nối cung – cầu lao động còn gặp khó khăn. Tại các KCN Long Giang và Tân Hương, nhu cầu tuyển dụng gần 5.000 lao động, chủ yếu là lao động phổ thông trong các ngành may mặc, giày da, điện tử, cơ khí, sản xuất lốp xe… do mở rộng sản xuất, trong khi nguồn cung trong tỉnh tăng không đáng kể, số người có nhu cầu tìm việc thấp, dẫn đến tình trạng thiếu hụt lao động cục bộ.
b. An sinh xã hội:
- Ngày 29/8/2025, Chính phủ ban hành Nghị quyết 263/NQ-CP năm 2025 về việc tặng quà nhân dân nhân dịp kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9. Theo đó, nội dung chính sách tặng quà cho nhân dân nhân dịp kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9 như sau:
+ Đối tượng: Công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam chưa xác định được quốc tịch nhưng đã được cấp giấy chứng nhận căn cước đang cư trú tại Việt Nam và đã được thu thập, cập nhật, cấp số định danh cá nhân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, được xác lập tại thời điểm hết ngày 30/8/2025.
+ Mức quà tặng: 100.000 đồng/người, bằng tiền.
- Tặng quà gia đình chính sách nhân dịp Tết Nguyên đán 2025 và kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2025). Nhân dịp Tết Nguyên đán Ất Tỵ năm 2025, tỉnh Đồng Tháp đã tổ chức thăm và tặng quà đối với người có công với cách mạng và thân nhân của họ từ các nguồn ngân sách nhà nước và kinh phí địa phương với 148.940 suất, với tổng số tiền trên 56,1 tỷ đồng. Ngày 23/4/2025 Chủ tịch nước ban hành Quyết định số 689/QĐ-CTN về việc tặng quà cho người có công với cách mạng nhân kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và 80 năm Ngày Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Địa phương tặng quà của Chủ tịch nước cho người có công đang hưởng trợ cấp hàng tháng và người thờ cúng liệt sĩ, số lượng 55.096 người, mỗi suất quà tiền mặt 500.000 đồng/người, với số tiền trên 27,5 tỷ đồng.
- Thăm, tặng quà gia đình chính sách nhân kỷ niệm 78 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947- 27/7/2025). Đồng Tháp đã tổ chức thăm và tặng quà đối với người có công với cách mạng và thân nhân của họ từ các nguồn ngân sách nhà nước và kinh phí vận động từ cộng đồng với tổng số 54.282 suất, với tổng số tiền trên 16,4 tỷ đồng.
- Nhà ở cho người có công:
+ Thực hiện Quyết định số 21/2024/QĐ-TTg ngày 22/11/2024 của Thủ tướng Chính phủ về mức hỗ trợ xây dựng mới hoặc cải tạo, sửa chữa nhà ở đối với người có công với cách mạng, thân nhân liệt sĩ và tỷ lệ phân bổ vốn hỗ trợ từ ngân sách trung ương, tỷ lệ đối ứng vốn hỗ trợ từ ngân sách địa phương, vốn xã hội hóa giai đoạn 2023-2025 và triển khai xoá nhà tạm, nhà dột nát trên địa bàn tỉnh đã hoàn thành hỗ trợ 741 căn nhà cho người có công với cách mạng (xây mới 240 căn, sửa chữa 501 căn).
+ Thực hiện công tác nhà ở người có công trên cơ sở Kế hoạch số 107/KH-UBND ngày 20/3/2025 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp (cũ) về thực hiện hỗ trợ an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp năm 2025 từ nguồn ngân sách, nguồn thu xổ số kiến thiết và nguồn tài trợ hợp pháp khác, tổng số nhà ở đã phân bổ về địa phương, hoàn thành và đã bàn giao là 605 căn (xây mới 207 căn; sữa chữa 398 căn).
+ Thực hiện Nghị quyết số 28/2021/NQ-HĐND ngày 08/12/2021 của Hội đồng nhân dân tỉnh Tiền Giang về việc quy định mức hỗ trợ kinh phí để xây dựng, sửa chữa nhà ở cho Người có công và thân nhân người có công với cách mạng trên địa bàn tỉnh Tiền Giang, giai đoạn 2022-2025, hoàn thành hỗ trợ nhà ở cho người có công và thân nhân người có công với cách mạng 1.206 căn (xây mới 258 căn, sửa chữa 948 căn).
3. Hoạt động giáo dục:
Trong 9 tháng năm 2025, ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh đã triển khai đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ trọng tâm, từ tổ chức Lễ khai giảng năm học mới, tổ chức các kỳ thi học sinh giỏi đến đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số.
Ngày 21/8/2025, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 509/QĐ-UBND về khung kế hoạch thời gian năm học 2025-2026 đối với giáo dục mầm non, phổ thông và thường xuyên. Theo đó, học sinh các khối lớp 1, 9 và 12 tựu trường từ ngày 22/8; các khối lớp còn lại tựu trường từ ngày 29/8; Lễ khai giảng chính thức diễn ra vào ngày 5/9/2025.
Tổ chức thành công Kỳ thi chọn đội tuyển học sinh giỏi dự thi cấp quốc gia (16-17/9/2025) tại Trường THPT Chuyên Nguyễn Quang Diêu và Trường THPT Chuyên Tiền Giang. Đồng thời, thành tích nổi bật của em Nguyễn Nhựt Lam, học sinh lớp 12, Trường THPT Cái Bè khi xuất sắc giành vòng nguyệt quế cuộc thi quý II Đường lên đỉnh Olympia năm 2025, qua đó góp mặt tại Chung kết năm (dự kiến diễn ra vào ngày 26/10/2025, phát sóng trực tiếp trên kênh VTV3), đã trở thành niềm tự hào của cá nhân em, nhà trường và tỉnh Đồng Tháp. Đây không chỉ là thành tích giáo dục mà còn là dấu ấn quảng bá hình ảnh “Đất Sen hồng” hiếu học, giàu truyền thống văn hóa – lịch sử đến bạn bè cả nước.
Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2025 trên địa bàn tỉnh có 33.666 thí sinh dự thi, trong đó 33.446 thí sinh đỗ tốt nghiệp, đạt tỷ lệ 99,35%.
Trường THPT Trương Định (tiền thân là Trường Trung học Gò Công), phường Long Thuận, tỉnh Đồng Tháp, đã long trọng tổ chức lễ kỷ niệm 70 năm thành lập vào ngày 27/9/2025. Buổi lễ thu hút sự tham dự của hàng ngàn thế hệ học sinh từ khắp mọi miền đất nước. Đặc biệt, buổi lễ vinh dự đón tiếp ông Nguyễn Trọng Nghĩa, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương; bà Trương Mỹ Hoa, nguyên Phó Chủ tịch nước; bà Nguyễn Thị Hoài Thu, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội; cùng lãnh đạo tỉnh, các thế hệ cán bộ, giáo viên và học sinh của trường.
4. Hoạt động y tế:
Hoạt động chăm sóc sức khỏe nhân dân trên địa bàn tỉnh trong 9 tháng năm 2025 được đảm bảo. Mạng lưới cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đủ năng lực cung ứng dịch vụ y tế có chất lượng đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân. Trong 9 tháng, trên địa bàn tỉnh ghi nhận 20 bệnh truyền nhiễm. So với cùng kỳ cộng dồn: có 11 bệnh tăng (Rubella, Sốt xuất huyết Dengue, Sởi, Tay - chân - miệng, Ho gà, Thương hàn, Bệnh do vi rút Adeno, Lỵ trực trùng, Quai bị, Thủy đậu, Viêm gan vi rút khác), có 11 bệnh giảm so cùng kỳ (Bệnh do liên cầu lợn ở người, Liệt mềm cấp nghi bại liệt, Lao phổi, Uốn ván khác, Viêm gan vi rút A, Viêm gan vi rút B, Viêm gan vi rút C, Cúm, Lỵ amíp, Tiêu chảy, Bệnh viêm đường hô hấp cấp) và 22 bệnh tương đương so cùng kỳ.
Các bệnh truyền nhiễm ghi nhận trong tháng 9: bệnh Sốt - xuất - huyết ghi nhận 1.143 ca; bệnh Tay - chân - miệng ghi nhận 553 ca. Tính từ đầu năm đến nay, bệnh Sốt - xuất - huyết ghi nhận 3.715 ca, tăng 80,3% so cùng kỳ; bệnh Tay - chân - miệng ghi nhận 3.678 ca, tăng 20,9%.
Phòng chống HIV/AIDS: toàn tỉnh có 15.785 người nhiễm HIV; 5.051 người chuyển sang AIDS; tử vong do AIDS: 3.874 người.
An toàn vệ sinh thực phẩm trong 9 tháng xảy ra 02 vụ với 56 người mắc ngộ độc thực phẩm, không có ca tử vong.
Tình hình khám chữa bệnh trong 9 tháng: tổng số lần khám bệnh 5.988.369 lượt người, giảm 1,1% so cùng kỳ; tổng số người điều trị nội trú 337.741 lượt người, tăng 1,4% so cùng kỳ.
5. Hoạt động văn hóa - thể thao:
Trong 9 tháng năm 2025, các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao trên địa bàn tỉnh diễn ra phong phú, sôi nổi, gắn liền với những sự kiện lịch sử, chính trị trọng đại của đất nước và địa phương.
a. Hoạt động văn hóa nghệ thuật:
Kỷ niệm 78 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ; 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công (19/8/1945 - 19/8/2025) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945 - 02/9/2025); 80 năm Ngày truyền thống Công an nhân dân Việt Nam và 20 năm Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc. Lễ giỗ Anh hùng dân tộc Trương Định, kỷ niệm 161 năm ngày ông tuẫn tiết (20/8/1864 - 20/8/2025). UBND phường Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp long trọng tổ chức lễ giỗ lần thứ 205 ông, bà Đỗ Công Tường – bậc tiền hiền có công khai khẩn đất hoang, lập chợ, đặt nền móng hình thành vùng đất Cao Lãnh ngày nay, diễn ra từ ngày 1 đến 3-8 (nhằm ngày 8, 9 và 10 tháng 6 âm lịch). Tổ chức chương trình nghệ thuật đặc sắc và màn bắn pháo hoa rực rỡ chào mừng 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 02/9 tại Quảng trường Hùng Vương (phường Đạo Thạnh) vào tổi ngày 02/9, mang đến cho người dân một không khí hào hùng, sôi động và đầy tự hào dân tộc.
b. Hoạt động thư viện:
Các hoạt động của hệ thống thư viện trên địa bàn tỉnh diễn ra sôi nổi, đa dạng, góp phần lan tỏa văn hóa đọc trong cộng đồng. Nổi bật là việc triển khai Cuộc thi “Bác Hồ trong trái tim tôi” (lần thứ 4) năm 2025, chương trình “Hè vui đọc sách” cùng với cuộc thi “Đọc sách cùng Xích Lô” được phát động trên toàn tỉnh, tạo sân chơi bổ ích, khuyến khích thói quen đọc sách, rèn luyện kỹ năng và bồi đắp tri thức cho các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thanh thiếu nhi. Các hoạt động thư viện như trưng bày, triển lãm tài liệu nhân kỷ niệm 80 năm Ngày Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thực hiện không gian trưng bày sách, báo, tài liệu và mô hình sách nghệ thuật tại Trung tâm Triển lãm Quốc gia Hà Nội, đồng thời phục vụ tại Thư viện tỉnh và các cơ sở lưu động tại các địa phương.
c. Hoạt động bảo tàng:
Công tác trưng bày và phục vụ khách tham quan được thực hiện với nhiều chuyên đề cố định và ngoài trời như: Lịch sử, văn hóa và xã hội Tiền Giang trước năm 1930; Lịch sử Tiền Giang từ khi có Đảng lãnh đạo; Lịch sử Khu 8; Văn hóa Óc Eo, nông nghiệp truyền thống; Thiên nhiên – đất nước – con người Đồng Tháp xưa; các chuyên đề về kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cùng trưng bày chuyên đề “Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo – Giai điệu và cuộc đời”; Triển lãm thành tựu kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Tháp tại Thành phố Hà Nội chủ đề “Tự hào truyền thống - Vững bước kiến tạo tương lai”; Triển lãm ảnh chủ đề “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý” tại Bảo tàng tỉnh (phường Cao Lãnh); Trưng bày, triển lãm ảnh các chuyên đề: “Hồ Chí Minh những nét phác họa chân dung”; “Ân tình xứ Nghệ”; “Khu di tích Xẻo Quít - Bảo tồn lịch sử, gìn giữ hồn quê” tại Khu di tích Nguyễn Sinh Sắc, Khu di tích Xẻo Quít; Triển lãm ảnh thành tựu quốc phòng, an ninh, kinh tế - xã hội và xây dựng Đảng kỷ niệm 80 năm Ngày Cách mạng Tháng Tám thành công và Ngày Quốc khánh Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Ngày truyền thống Lực lượng vũ trang tỉnh tại Bảo tàng tỉnh (phường Mỹ Tho).
d. Hoạt động thể dục, thể thao:
Tổ chức 06 giải cấp quốc gia trong 9 tháng qua: Giải Bơi - Lặn vô địch các nhóm tuổi Quốc gia; Cuộc đua xe đạp toàn quốc tranh Cúp Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ 37 – 2025; Giải vô địch Trẻ Roller Sports; Giải Petanque vô địch quốc gia năm 2025; Giải Vô địch Judo quốc gia năm 2025 và Giải vô địch Cầu mây trẻ quốc gia năm 2025. Thể thao thành tích cao đạt nhiều kết quả ấn tượng trong 9 tháng như: có 64 vận động viên ở các môn Bắn cung, Bơi lội, Canoeing, Cầu mây, Điền kinh, Judo, Karate, Kickboxing, Boxing, Kurash, Taekwondo và Xe đạp được triệu tập vào các đội tuyển quốc gia thi đấu các giải quốc tế; tham dự thi đấu trên 75 giải thể thao quốc gia, quốc tế đạt 507 huy chương quốc gia các loại (109 HCV, 152 HCB, 246 HCĐ); 56 huy chương quốc tế các loại (33 HCV, 13 HCB, 10 HCĐ).
6. Tình hình trật tự an toàn xã hội (theo báo cáo của ngành Công an):
Tình hình an ninh trật tự trong 9 tháng năm 2025 trên địa bàn tỉnh được đảm bảo. Ghi nhận 939 vụ, giảm 35,7% (giảm 522 vụ) so với cùng kỳ. Hậu quả làm chết 34 người; bị thương 299 người; tài sản thiệt hại khoảng 515,2 tỷ đồng. Cơ quan chức năng điều tra khám phá 773 vụ (đạt 82,3%); xử lý 1.411 đối tượng, đồng thời thu hồi tài sản trị giá khoảng 3,9 tỷ đồng.
Về tội phạm ma túy trong 9 tháng, lực lượng chức năng đã phát hiện và xử lý 264 vụ, 479 đối tượng có hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và xử lý hành chính 1.106 đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy.
7. Trật tự an toàn giao thông (theo báo cáo ngành công an tỉnh, số liệu tính từ ngày 15/8/2025 đến 14/9/2025):
Tai nạn giao thông đường bộ: trong tháng xảy ra 42 vụ, tăng 06 vụ so tháng trước và giảm 27 vụ so cùng kỳ; làm chết 38 người, tăng 06 người so tháng trước và giảm 14 người so cùng kỳ; bị thương 16 người, tăng 04 người so tháng trước và giảm 25 người so cùng kỳ. Nâng tổng số vụ từ đầu năm đến nay, xảy ra 437 vụ, giảm 59 vụ so cùng kỳ; làm 319 người chết, giảm 37 người so cùng kỳ và bị thương 209 người, giảm 49 người so cùng kỳ. Các nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông chủ yếu vẫn do ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông như: điều khiển xe khi có rượu bia, phóng nhanh vược ẩu, không làm chủ tốc độ; không đi đúng phần đường, làn đường; không nhường đường, vượt đèn đỏ, thiếu quan sát…
Tai nạn giao thông đường thủy: trong tháng không xảy ra. Tổng số vụ từ đầu năm đến nay là 01 vụ (không phát sinh người chết và bị thương), giảm 02 vụ, làm thiệt hại ước khoảng 0,4 tỷ đồng.
Tai nạn giao thông trong dịp Lễ 2/9 (tính từ ngày 30/8/2025 đến ngày 02/9/2025): xảy ra 10 vụ, tương đương so cùng kỳ; làm chết 09 người, tăng 02 người; số người bị thương 05 người, giảm 02 người.
8. Tình hình cháy nổ, môi trường và thiên tai:
Cháy, nổ: trong tháng, trên địa bàn tỉnh xảy ra 02 vụ cháy, gây thiệt hại tài sản khoảng 1,6 tỷ đồng. Cộng dông từ đầu năm, toàn tỉnh ghi nhận tổng cộng 19 vụ cháy, giảm 06 vụ so với cùng kỳ, số người tử vong do cháy là 05 người và tổng thiệt hại tài sản khoảng 275 tỷ đồng.
Môi trường: trong tháng đã xảy ra 04 vụ vi phạm. Cộng dồn từ đầu năm, toàn tỉnh xảy ra 46 vụ vi phạm môi trường, tăng 55,6% so với cùng kỳ. Tổng số tiền đã xử phạt hành chính trên 697 triệu đồng.
Thiên tai: tình hình biến đổi khí hậu trong 9 tháng diễn biến phức tạp. Đặc biệt do ảnh hưởng của hoàn lưu bão số 03 WIPHA đã gây thiệt hại lớn về người và tài sản. Cộng dồn từ đầu năm, toàn tỉnh xảy ra 24 cơn mưa giông, lốc xoáy, 11 vụ sạt lỡ, chịu ảnh hưởng của 03 cơn bão, làm chết 02 người, bị thương 21 người, sập 94 căn nhà, tốc mái 671 căn, 26,5 ha lúa bị thiệt hại, 8,3 hoa màu bị hư, hư hỏng 10 phòng học, 6 nhà kho và 34 trụ điện bị ngã đổ; gây thiệt hại 5,7 ha cây ăn trái, khoảng 3 tấn trái cây bị rụng hư. Tổng giá trị thiệt hại ước tính khoảng 42,5 tỷ đồng.
III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI QUÝ IV NĂM 2025
Trên cơ sở phát huy những kết quả đã đạt được trong những tháng đầu năm 2025 đồng thời khắc phục hạn chế, những việc chưa thực hiện được. Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh trong lãnh và chỉ đạo, các ngành, các cấp, địa phương chủ động đề ra các giải pháp, vượt qua khó khăn, thách thức, khai thác tốt những cơ hội để phục hồi, phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội,… phấn đấu thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra trong năm 2025 tăng trưởng (GRDP) từ 8% trở lên. Trong quý IV năm 2025 cần thực hiện một số giải pháp trọng tâm như sau:
Tiếp tục theo dõi tình hình khí tượng thủy văn (mưa, bão, áp thấp nhiệt đới,...); mực nước nội đồng và tình hình vận hành công trình phục vụ sản xuất các vùng dự án. Tình hình sản xuất vụ Hè Thu năm 2025, hướng dẫn lịch thời vụ, cơ cấu giống vụ lúa Đông xuân 2025 – 2026, tình hình sản xuất và thu hoạch các loại cây trồng; tình hình chăn nuôi và kiểm tra, giám sát dịch bệnh trên động vật nuôi và chủ động áp dụng các giải pháp phòng chống an toàn hiệu quả.
Hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất, chế biến để tăng khối lượng sản xuất và tiêu thụ. Có thể hướng dẫn, gợi ý cho doanh nghiệp chuyển đổi sản phẩm sang các phân khúc ngách (chế biến sâu, sản phẩm hữu cơ, ít phát thải) và mở rộng kho lạnh, logistics phục vụ xuất khẩu. Tăng cường kết nối giữa ngân hàng với doanh nghiệp, đảm bảo nguồn vốn tín dụng cho sản xuất kinh doanh.
Triển khai thực hiện đồng bộ, linh hoạt các chính sách về lãi suất, gói hỗ trợ lãi suất cho vay, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh; tập trung vốn vào các lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên; tiếp tục triển khai chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn. Tăng cường công tác kết nối ngân hàng - doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi trong vay vốn tín dụng ngân hàng cho doanh nghiệp và người dân.
Kiểm soát giá cả trên địa bàn thông qua các chương trình bình ổn giá của tỉnh, tăng cường kiểm tra giám sát và xử lý sai phạm pháp luật về giá.Thực hiện có hiệu quả các Chương trình xúc tiến thương mại, thúc đẩy phân phối hàng hóa qua nền tảng số, thương mại điện tử để mở rộng tiêu dùng nội địa; vận động người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam; đẩy mạnh phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, các ngành, lĩnh vực mới nổi, các mô hình kinh doanh mới, hiệu quả.
Tăng cường xúc tiến đầu tư, ưu tiên lựa chọn các dự án du lịch có chất lượng cao, thân thiện với môi trường và các điểm đến có tiềm năng phát triển du lịch gắn với quy hoạch phát triển du lịch của tỉnh. Đẩy mạnh chuyên nghiệp hóa hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch; tập trung xúc tiến quảng bá theo trọng điểm, phù hợp với định hướng phát triển sản phẩm, thương hiệu du lịch. Chú trọng chuyển đổi số trong ngành du lịch; số hóa các thông tin, tài liệu về điểm đến, hướng tới hình thành và phát triển hệ sinh thái du lịch thông minh.
Đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình trên địa bàn tỉnh; kiểm tra, giám sát trong quá trình thực hiện, nhằm đảm bảo tiến độ và hiệu quả theo kế hoạch đề ra. Tập trung hoàn thành hồ sơ cho các công trình còn lại theo danh mục năm 2025 để sớm triển khai thi công. Đẩy nhanh tiến độ giải ngân kịp thời vốn đầu tư công, kịp thời quyết toán các công trình hoàn thành đảm bảo đúng theo quy định. Tiếp tục phối hợp nhà đầu tư xử lý những khó khăn, vướng mắc, đẩy mạnh các giải pháp bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, hoàn thành công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường xuất khẩu. Tiếp tục phát triển xuất khẩu các mặt hàng có lợi thế; chuyển dần sang xuất khẩu sản phẩm chế biến sâu, phát triển xuất khẩu sản phẩm có chất lượng cao, có sức cạnh tranh và có thương hiệu mạnh.
Tăng cường công tác an ninh trật tự, an toàn xã hội, an ninh quốc phòng.
[1]
- Dự án thành phần 2 thuộc dự án Xây dựng công trình đường bộ cao tốc Cao Lãnh - An Hữu, giai đoạn 1. Tổng mức đầu tư: 3.856 tỷ đồng. Kế hoạch vốn giao năm 2025 là 860 tỷ đồng, giải ngân 9 tháng năm 2025 được 495 tỷ đồng, đạt 57,6% kế hoạch. Lũy kế giao vốn từ đầu dự án 1.976,5 tỷ đồng và giải ngân được 1.612 tỷ đồng đạt 81,5% kế hoạch vốn giao.
- Đường giao thông hai bên bờ sông Bảo Định, tổng mức đầu tư 1.999,9 tỷ đồng. Kế hoạch vốn giao năm 2025 là 642,4 tỷ đồng, Giải ngân 9 tháng năm 2025 được 254,2 tỷ đồng, đạt 39,6% kế hoạch năm. Giao vốn từ đầu dự án đến hết tháng 9 năm 2025 là 882,3 tỷ đồng và giải ngân được 494,1 tỷ đồng đạt 56% tổng mức đầu tư đươc giao.
- Dự án Trung tâm Văn hóa - Nghệ thuật và Hội chợ - Triển lãm tỉnh, tổng mức đầu tư: 149,9 tỷ đồng. Kế hoạch vốn giao năm 2025 là 139 tỷ đồng,
giải ngân chín tháng đầu năm 2025 đươc 89,7 tỷ đồn
đạt 64,5% kế hoạch. Lũy kế giao vốn từ đầu dự án đến nay là 141,5 tỷ đồng, giải ngân từ đầu dự án đến nay là 92,2 tỷ đồng, đạt 65% kế hoạch vốn giao từ đầu dự án.
[2]
Đầu vụ sản xuất từ ngày 01/10/2024 đến 20/9/2025.
[3]
- Tỉnh Tiền Giang được công nhận tại Quyết định số 1038/QĐ-TTg ngày 30/5/2025
- Tỉnh Đồng Tháp (cũ) được công nhận tại Quyết định số 1360/QĐ-TTg ngày 26/6/2025
Tập tin : web_solieu_uoc T9-2025.xlsx
Tin khác